1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kỹ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý cho học sinh lớp 12 thpt

133 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 882,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của việc rèn luyện kĩ năng lập ý góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả làm văn kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí; để góp phần khắc phục các khó khăn trên

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-*** -

Trần Thị Tuyến

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ CHO HỌC SINH

LỚP 12 THPT

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-*** -

Trần Thị Tuyến

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ CHO HỌC SINH

LỚP 12 THPT

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn – Tiếng việt

Mã số: 60.14.10

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê A

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong nhà trường, việc rèn luyện viết kiểu bài nghị luận xã hội

là yêu cầu rất trọng yếu trong quá trình học tập Nghị luận xã hội kiểm tra được kiến thức tổng hợp của HS về tri thức văn học, tri thức xã hội và đời sống; rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt giúp đắc lực vào việc phát triển tư duy khoa học, tư duy lí luận ở HS Do vậy, để HS phổ thông tạo được những văn bản hay, đầy sáng tạo thì việc dạy các em có khả năng sử dụng thành thạo và hiệu quả các kĩ năng làm từng kiểu bài NLXH là hết sức cần thiết Trong đó có kĩ năng làm kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.2 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là dạng văn bản có từ lâu trong

chương trình Tập làm văn THCS và THPT Đề tài nghị luận là các vấn đề thuộc phạm trù tư tưởng, đạo lí, quan điểm đạo đức, lối sống Rèn luyện kĩ năng tạo lập dạng văn bản này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình học tập trưởng thành, hoàn thiện nhân cách của từng em HS; tạo ý thức cho HS thường xuyên quan tâm đến các vấn đề trong đời sống xã hội; có khả năng nhạy bén trước những vấn đề của cuộc sống; có khả năng nhận thức,có quan điểm sống và khả năng đánh giá đúng đắn trước các vấn đề, các hiện tượng trong đời sống

1.3 Trong dạy học làm văn NLXH nói chung và dạy học kiểu bài NL

về một tư tưởng, đạo lí nói riêng, kĩ năng lập ý là kĩ năng cơ bản và quan trọng cần rèn luyện cho HS Bởi lẽ, bài văn NL của các em chỉ có chất lượng khi bài văn ấy có được hai yếu tố sau đây:

- Thứ nhất: Bài viết phải có ý

- Thứ hai: Người viết phải biết diễn đạt những ý đã xác định thành văn, trình bày thành bài văn hoàn chỉnh

Trang 4

2

Bởi lẽ, ý nghiêng về việc tác động vào lý trí, vào nhận thức, văn thiên

về việc tác động vào tình cảm Ý thỏa mãn nhu cầu hiểu, văn đáp ứng nhu cầu cảm Ý và văn gắn kết với nhau, tạo nên khoái cảm cho người đọc trong việc thưởng thức bài văn

Muốn có được ý hay HS (người tạo lập văn bản) phải suy nghĩ, động não, tìm ra các ý rồi phải lựa chọn, sắp xếp chúng một cách hợp lí để làm sáng tỏ và nổi bật vấn đề cần NL Vì thế, rèn kĩ năng lập ý cho HS cũng chính

là góp phần hình thành đầu óc thiết kế, một thứ lao động có ý thức, vốn là đặc trưng lao động người

1.4 Vấn đề rèn luyện kĩ năng lập ý đã được quan tâm từ khá lâu, tuy

vậy vẫn chưa được giải quyết trọn vẹn Thực tế quá trình dạy và học văn NLXH - kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí - cả GV và HS đều gặp không ít những khó khăn, lúng túng

Về phía người dạy, các GV văn đều nhận thấy NL về một tư tưởng, đạo

lí là kiểu bài tương đối khô, không giàu chất văn chương nghệ thuật như văn miêu tả, văn biểu cảm hay NLVH…; ít tài liệu tham khảo; HS ít hứng thú với

đề văn NLXH nói chung và NL về một tư tưởng, đạo lí nói riêng

Về phía người học, HS thường có cảm giác thấy ngại ngùng, lúng túng

và bối rối trước các đề bài làm văn NLXH; các em khó kiếm tài liệu tham khảo cho dạng bài này; hơn nữa, vốn sống, vốn trải nghiệm của HS chưa nhiều, phần lớn các HS đều ít hứng thú với những đề văn đặt ra những vấn đề mang tính chất răn dạy, giáo huấn, nhất là những vấn đề tư tưởng, đạo lí vốn

có sẵn trong cuộc sống của chúng ta

1.5 Thực tế khảo sát cho thấy một trong những khó khăn lúng túng nhất

đối với học sinh khi viết bài NLXH nói chung và NL về một tư tưởng, đạo lí nói riêng là làm thế nào để có ý và sắp xếp các ý ấy thành một dàn bài hợp lí Nghĩa là khâu lập ý là khâu HS kém nhất khi làm bài Việc khảo sát thực tế

Trang 5

3

cũng cho thấy, phần lớn bài làm của HS thường không có ý, thiếu ý, trùng ý, lạc ý, ý lộn xộn, thậm chí không biết lập ý, làm dàn ý Luận văn này cố gắng góp phần hoàn chỉnh và đề xuất những hình thức rèn kĩ năng lập ý cho HS ở loại bài NL về một tư tưởng, đạo lí Tỉ lệ mắc lỗi về lập ý trong bài làm của HS nhiều hơn so với các lỗi khác Do đó, việc rèn luyện kĩ năng lập ý cho kiểu bài này là hết sức cần thiết trong hoạt động dạy học làm văn NLXH hiện nay

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của việc rèn luyện kĩ năng lập ý góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả làm văn kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí; để góp phần khắc phục các khó khăn trên đối với cả người dạy và người học, chúng

tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình là: "Rèn kĩ năng lập ý ở

kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí cho học sinh lớp 12 THPT"

2 Lịch sử vấn đề

Văn NL nói chung và NL về một tư tưởng, đạo lí nói riêng là một thể văn ra đời từ rất lâu Cội nguồn của văn NL là từ đất nước Trung Hoa, dưới thời Khổng Tử (551-479 TCN) Ở Việt Nam, kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí đã được hình thành từ xa xưa cùng với sự phát triển của tư tưởng và văn hoá giáo dục của dân tộc Việt Nam Cùng với sự hình thành của thể văn

NL, nó đã trở thành một phương tiện đắc lực trong quá trình phát triển ấy của đất nước

Trong nhà trường Việt Nam, dạy học văn NL về một tư tưởng, đạo lí có một bề dày lịch sử Trước khi khảo sát lịch sử của vấn đề rèn kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí, chúng tôi điểm qua lịch sử của việc dạy học kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí ở nhà trường phổ thông

2.1 Về dạy học văn NL về một tư tưởng, đạo lí ở nhà trường phổ thông

Trong nhà trường phổ thông, văn NL có lịch sử lâu đời Tuy nhiên, sự phân chia rạch ròi NLXH thành các kiểu bài cụ thể (như NL về một tư tưởng, đạo lí hay NL về một hiện tượng đời sống) thì gần đây mới có Nếu như trong

Trang 6

Có tài liệu còn đưa thêm kiểu bài thứ ba nữa là: NL về một vấn đề xã hội đặt

ra trong tác phẩm văn học (theo Đỗ Ngọc Thống trong cuốn "Dạy và học văn

nghị luận xã hội") Trong các kiểu bài trên thì NL về một tư tưởng, đạo lí là

một kiểu bài rất quen thuộc từ xưa đến nay

Dưới thời phong kiến, chúng ta có thể nhận ra bóng dáng của kiểu bài

NL về một tư tưởng, đạo lí trong thể văn là văn sách Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa văn sách là "một loại văn thuộc thể nghị luận, chủ yếu trong

nhà trường, trong thi cử thời phong kiến nhằm trình bày, biện luận, thuyết giải những câu hỏi trong đề ra" [37, 419] Có hai loại văn sách là văn sách

mục và văn sách đạo được dùng phổ biến trong các kì thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình Ở đó, các thí sinh - các sĩ tử, nho sinh - phải bàn luận về một vấn đề nhất định Thông qua đó, các thí sinh giỏi còn bộc lộ khả năng lập luận và diễn đạt của mình khi tạo ra được một hệ thống hợp lí và xây dựng bố cục bài

văn phù hợp với đặc điểm của thể loại văn sách Đó là trường hợp mà đề văn

có các câu hỏi lộn xộn, lắt léo để thử tài suy luận và hệ thống hoá của thí sinh

Đến thời Pháp thuộc và thời kì sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,

NL về tư tưởng, đạo lí nằm trong nhóm bài NL luân lí Theo các nhà nghiên cứu Thẩm Thệ Hà, Nghiêm Toản…, NL luân lí gồm: chứng minh một chân lí, giải thích một danh ngôn, đánh giá một tư tưởng hay bình phẩm một câu tục ngữ, ca dao

Tiếp theo là chương trình làm văn CCGD Ở đây, HS được rèn luyện

rất nhiều về kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí đối với các đề bài yêu cầu giải thích, chứng minh, bình luận về các vấn đề chính trị, xã hội hay tư tưởng,

Trang 7

5

đạo đức Các đề văn sau đây rất quen thuộc với bao thế hệ HS và nó xuất hiện nhiều lần trong các đề bài kiểm tra và luyện tập của phân môn làm văn Ví dụ:

Tục ngữ có câu "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn"

Anh (chị) thấy nhận xét trên có đúng không? Hãy chứng minh?

(Đề bài bài làm văn số 1 - SGK Làm văn 10)

- "Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông" (Nguyễn Bá Học)

Anh (chị) hãy giải thích và bình luận ý kiến trên

(Đề 2, bài bài làm văn số 2 - SGK Làm văn 10, Tr.49)

Hiện nay, chương trình làm văn của SGK Ngữ văn hiện hành luôn đan xen giữa các kiểu bài NLXH Có khi là NL về một tư tưởng, đạo lí, có khi là

NL về một hiện tượng đời sống…

Sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 2, học sinh THCS bắt đầu được làm

quen, tìm hiểu một cách khái quát về văn NL qua các bài học: đặc điểm văn NL; đề văn NL và việc lập ý cho bài văn NL; bố cục và phương pháp lập luận trong văn NL; rèn luyện thao tác lập luận chứng minh, giải thích (SGK còn gọi thao tác lập luận là phương pháp lập luận) Bước đầu, các em được rèn luyện các kiểu bài NL, vận dụng các thao tác lập luận đơn giản nhưng chưa được phân biệt rạch ròi giữa các kiểu bài NL như cách gọi tên theo tiêu chí nội dung bên trên

Nếu như HS lớp 7 chỉ mới được làm quen với văn NL thì lên lớp 9,

chương trình Ngữ văn 9 đi vào cụ thể các kiểu bài NLXH Đó là các bài học ở

sách giáo khoa, tập 2 NL về một vấn đề tư tưởng, đạo lí; cách làm bài NL về một vấn đề tư tưởng, đạo lí Qua đó các em HS hiểu được thế nào là NL về một tư tưởng, đạo lí, các yêu cầu về nội dung và yêu cầu về hình thức của kiểu bài qua việc thực hành luyện tập làm các đề bài cụ thể

Trang 8

6

Ngữ văn 10, tập 2 tiếp tục rèn luyện kĩ năng viết kiểu bài NLXH qua

các tiết: Lập dàn ý cho bài văn NL; Lập luận trong văn NL: luyện tập viết

đoạn văn NL Ngữ văn 11, tập 1, HS viết bài viết số 1 để ôn tập, kiểm tra về

văn NL về một tư tưởng, đạo lí và NL về hiện tượng đời sống Lên đến lớp

12, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 1 có bài học về NL tư tưởng,

đạo lí song song với bài học NL về hiện tượng đời sống SGK cũng đã tổng kết và đưa ra bố cục về mặt nội dung bài NL về một tư tưởng, đạo lí cho HS

làm theo (Phần Ghi nhớ, trang 21) Còn SGK Ngữ văn phổ thông (bộ nâng

cao do Đỗ Ngọc Thống chủ biên phần làm văn) chú ý cả hai kiểu bài trên của

NLXH Đồng thời cũng rèn luyện cho HS nâng cao kĩ năng làm văn NL thông qua kiểu bài thứ ba là NL về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học

Ngoài ra, trong cuốn "Thực hành làm văn 12", các tác giả đã hệ thống một

số dạng đề NL về một tư tưởng, đạo lí căn cứ vào đề tài NL Cụ thể như sau:

- Nghị luận về quan điểm đạo đức, lối sống

- Nghị luận về một quan niệm, một quan điểm về các vấn đề văn hoá, giáo dục, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng…

- Nghị luận về phương pháp tư tưởng

2.2 Về dạy học rèn kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí

NLXH là loại văn có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi con người và cũng là loại văn có lịch sử lâu đời Thế nhưng nếu chỉ tính riêng nhưng bài nghiên cứu, những tài liệu dạy học rèn kĩ năng lập ý cho loại bài NLXH và NL về một tư tưởng, đạo lí nói riêng thì không phong phú.Trong thực tế kĩ năng lập ý bao giờ cũng chỉ được trình bày trong phần kĩ năng làm văn nói chung Vì thế nhìn lại lịch sử vấn đề này chỉ có thể xem xét kĩ năng lập ý nói chung, từ đó tách ra cho loại bài NLXH, trong đó có kiểu bài NL về

Trang 9

7

một tư tưởng, đạo lí Để luyện kĩ năng lập ý cho HS, các tài liệu thường đi theo ba hướng sau:

- Rèn luyện lập ý bằng việc cho dàn bài mẫu

- Rèn luyện lập ý có chú ý đến lí thuyết lập ý nói chung

- Rèn luyện kĩ năng lập ý được chú ý nhưng chủ yếu ở loại bài NLVH Kiểu dạy học rèn luyện kĩ năng lập ý bằng việc cho dàn bài mẫu bắt đầu xuất hiện trong nhà trường phổ thông dưới thời phong kiến, thời Pháp thuộc Tài liệu làm văn thời kì này không có nhiều và lí thuyết làm văn chưa hoặc không được chú ý Việc dạy lập ý ở thời kì này cũng chủ yếu là cung cấp bài mẫu, người học cứ theo đó mà làm, mà luyện tập

Với yêu cầu đổi mới việc dạy và học văn trên tất cả các bình diện, trong

đó có phần làm văn (trước đây gọi là phân môn làm văn), từ năm 1945 trở đi, các tác giả, các nhà nghiên cứu cố gắng đi tìm và xác lập cho làm văn những

cơ sở lí luận Biểu hiện ở việc các đề đưa ra phân tích (chủ yếu là nghị luận văn học) và ở một vài kiểu bài (nghị luận văn học), các soạn giả đã có mục định hướng - lập ý Tất nhiên không thể tránh được những nhược điểm nhất định, nhưng những cuốn tài liệu này ở giai đoạn CCGD đã được viết theo tinh

thần ấy Cuốn giáo trình Làm văn ( Đình Cao-Lê A) đã vận dụng những thành

tựu nghiên cứu của lí thuyết họat động lời nói và lí luận dạy tiếng, lí luận dạy đại học vào soi sáng cho các vấn đề của làm văn nói chung cũng như kĩ năng lập ý nói riêng Kĩ năng này được các tác giả trình bày trong phần kĩ năng xây dựng luận điểm và lập chương trình biểu đạt Nhìn chung cách xây dựng luận điểm ở đây được triển khai qui mô lớn, khoa học hơn, tuy vậy vẫn thấy rất lúng túng nếu đem cách xây dựng luận điểm ở đây vận dụng vào để giải quyết một đề NLVH nhất là loại phân tích, bình giảng tác phẩm văn học

Song song với việc cải tiến vấn đề dạy học – làm văn bậc đại học, ở cấp

PTTH đã tiến hành triển khai sách CCGD Với hai bộ sách Làm văn, một do

Trang 10

8

trường ĐHSP Hà Nội biên soạn (gọi tắt là Trường) và một do Hội nghiên cứu

và giảng dạy văn học TP Hồ Chí Minh biên soạn (gọi tắt là Hội ), kĩ năng lập

ý đã được đề cập đến nhiều hơn, cụ thể hơn, nhất là sách Trường Hai bộ sách này mỗi cuốn đều có những ưu điểm và những hạn chế nhất định về việc rèn

luyện kĩ năng lập ý Cùng với bộ SGK Làm văn cho HS, Bộ Giáo dục và Đào tạo còn cho ra hàng loạt loại sách khác kèm theo như sách giáo viên, hướng dẫn dạy các bài trong SGK học sinh; sách bồi dưỡng giáo viên dạy môn làm văn do trường ĐHSP Hà Nội biên soạn; tài liệu bồi dưỡng dạy sách giáo khoa

CCGD môn Làm văn do Vụ giáo viên biên soạn; sách Làm văn 12 của Trần

Thanh Đạm (chủ biên) (1992) [34], sách Dàn bài làm văn 12 của Trần Thanh

Đạm (chủ biên) (1992) [35]… nhưng tất cả cũng chỉ chú trọng đến NLVH Mặc dù các tài liệu trên nhằm mở rộng, nâng cao và rèn luyện nội dung cũng như phương pháp dạy và học phần làm văn, thế nhưng các tài liệu ấy cũng chỉ xoay quanh những gì SGK Làm văn của HS đã đề cập Kĩ năng lập ý tiếp tục được lưu và đề cập đến trong phần lập dàn ý nói chung cho văn NL Tuy nhiên đó cũng chỉ là những hướng dẫn còn rất khái quát Phần NLVH sách đưa ra 4 kiểu bài nhưng không đề cập đến kĩ năng lập ý cho từng kiểu bài

Ngoài ra, chúng ta còn có thể đề cập đến cuốn sách Làm văn 12 do

nhóm tác giả Trần Đình Sử - Phan Trọng Luận - Nguyễn Minh Thuyết biên soạn [24] Cuốn sách đã dành riêng chương đầu tiên (từ trang 3 đến trang 52)

để trình bày về kĩ năng làm văn NL Và ở chương này, Nguyễn Minh Thuyết

đã trình bày một cách khá chi tiết và hệ thống về việc lập cho bài văn NL với những chỉ dẫn cụ thể về các bước lập ý, các bước lập dàn bài cho bài văn NL nói chung và NLVH nói riêng

Như vậy, có thể thấy rõ, kĩ năng lập ý nói riêng và kĩ năng làm văn nói chung chủ yếu đã được đề cập ở các tài liệu dạy học trong nhà trường (từ phổ

Trang 11

9

thông đến đại học) Ngoài ra trên một số tạp chí chuyên ngành đã đăng tải ít nhiều các bài nghiên cứu về vấn đề rèn luyện kĩ năng làm văn nói chung

Tuy vậy không có tài liệu nào bàn bạc riêng về kĩ năng lập ý đặc biệt là

kĩ năng lập ý cho NLXH và NL về một tư tưởng, đạo lí mà chủ yếu đưa ra những vấn đề kĩ năng làm văn NL nói chung

* Rèn luyện kỹ năng lập ý ở loại bài NLXH

Hầu hết những tài liệu ở giai đoạn này đều đề cập đến kĩ năng lập ý cho bài NLXH một cách rất chung chung, chưa đi vào những dẫn dắt cụ thể

Ở cuốn Làm văn của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống-Nguyễn Thành

Thi-Phạm Minh Diệu (2008) [53], nhóm tác giả của quyển sách này đã dành riêng chương thứ 4 gồm 48 trang để bàn về văn NL Trong 48 trang ấy, nhóm tác giả chỉ đề cập đến việc lập ý cho bài văn NLXH trong 3 trang với 2 bước sau:

Bước 1: Dựa vào yêu cầu và chỉ dẫn của đề để tìm ra vấn đề trọng tâm

và các ý lớn mà bài viết cần làm sáng tỏ

Bước 2: Tìm ý nhỏ bằng cách đặt ra các câu hỏi, vận dụng những hiểu biết về văn học và cuộc sống, xã hội để trả lời các câu hỏi đó

Trong cuốn Làm văn (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS) [5], tác giả

Lê A đã đề cập khá chi tiết đến kĩ năng lập ý ở bài văn NL Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được các bước và thao tác lập ý dành riêng cho NLXH mà chỉ có các bước và thao tác lập ý được dùng chung cho cả NLVH và NLXH

Đề cập đến vấn đề lập ý trong bài văn NLXH một cách chỉn chu có thể

kể đến cuốn sách Làm văn 11 do Trần Thanh Đạm chủ biên [33] Tác giả đã

đưa ra 2 bước lập ý:

(1) Tìm hiểu đề bài với các thao tác cụ thể sau:

- Đọc kỹ và phát hiện các yêu cầu của đề bài

- Xác định thể loại

- Xác định phạm vi tư liệu

Trang 12

1 Kĩ năng lập ý cho loại bài NLXH nói chung và NL về một tư tưởng, đạo lí nói riêng là một kĩ năng rất cơ bản, thiết yếu đối với HS

Chính vì thế mà kĩ năng này được đề cập tới rất sớm và cũng là kĩ năng được nhiều sách chú ý tới

2 Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, kĩ năng này phần lớn chỉ được đề cập đến ở loại đề NLVH Hầu hết các tài liệu chưa vận dụng kĩ năng lập ý nói chung vào từng kiểu bài của NLXH để luyện tập cho HS, trong khi NLXH là loại bài thể hiện rõ nhất năng lực của HS

3 Một số tài liệu đề cập đến kĩ năng này (chủ yếu là sách CCGD) ở loại bài NLXH, nhưng các dạng đề đưa ra phân tích, minh họa cho phần lí thuyết của kĩ năng này hầu hết là các đề rõ ý, dễ khai thác và chưa bao quát hết được những dạng bài tiêu biểu của loại NLXH như NL về một tư tưởng, đạo lí và NL về một hiện tượng đời sống

4 Kĩ năng lập ý có liên quan nhiều đến các vấn đề của lí thuyết làm văn, nhưng bản thân các vấn đề lí thuyết ấy cũng chưa được giải quyết trọn vẹn Vì

Trang 13

6 Nhìn chung, HS phổ thông đã được làm quen, tìm hiểu, rèn luyện kĩ năng làm kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí từ cấp THCS (lớp 7) lên cấp THPT (lớp 12) Tuy nhiên, các bài học mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức khái quát Các kĩ năng chỉ được thực hành luyện tập chung vì thời gian trên lớp có hạn Hơn nữa, làm kiểu bài NL về tư tưởng, đạo lí vốn rất dễ rơi vào sáo rỗng, giáo điều mà lại thiếu trọng tâm và hay mắc lỗi khi xây dựng luận điểm, luận cứ, luận chứng (tức lỗi về lập ý) Vì vậy khi lựa chọn nghiên cứu đề tài này, chúng tôi kế thừa và tiếp thu tinh thần và phương hướng của các nhà nghiên cứu đi trước Tuy nhiên, do phạm vi các bài viết và các công trình nghiên cứu ấy rất rộng, các tác giả chưa có điều kiện bàn sâu và cụ thể

về phương pháp rèn luyện các kĩ năng nói chung và kĩ năng lập ý nói riêng cũng như phương pháp dạy học cho từng kiểu bài NLXH

Cũng chính từ việc tiếp nhận đó, chúng tôi muốn đề xuất những phương pháp, biện pháp dạy học rèn kĩ năng lập ý cụ thể cho GV và HS khi đối diện với các đề bài làm văn thuộc kiểu NL về một tư tưởng, đạo lí Đó chính là nhiệm vụ giải quyết các luận văn này

Trang 14

12

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của luận văn là:

Thứ nhất, trên cơ sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu, luận văn tổng kết cơ

sở lí thuyết và thực tiễn của việc dạy học rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Thứ hai, đề xuất nội dung và biện pháp rèn luyện kĩ năng lập ý cho HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí cho

HS lớp 12 THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở khoa học của việc rèn kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

- Đề xuất nội dung và biện pháp rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí cho học sinh

- Tổ chức thể nghiệm sư phạm để điều chỉnh và đánh giá hiệu quả cũng như khả năng thực thi của những giải pháp được đề xuất trong luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình dạy và học văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Đặc biệt lưu ý đến quá trình lập ý cho kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chú trọng nghiên cứu quá trình dạy học kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí cho HS lớp 12 THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 15

13

5.1 Phương pháp nghiên cứu tiếp thu lí thuyết

Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tiếp thu lí thuyết để thu thập tư liệu, nghiên cứu lịch sử vấn đề, tiếp thu các kết quả nghiên cứu của những người đi trước, nghiên cứu các tài liệu lí luận liên quan đến dạy và học NLXH nói chung, đặc biệt là dạy và học kiểu bài làm văn NL về một tư tưởng, đạo lí

5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Điều tra, thăm dò ý kiến GV và HS về thuận lợi và khó khăn khi dạy học rèn luyện kĩ năng lập ý cho việc viết bài văn NL về một tư tưởng, đạo lí;

về hứng thú của học sinh và hiệu quả giờ học, kết quả bài viết của HS về bài học này

5.3 Phương pháp chuyên gia

Chúng tôi sử dụng phương pháp chuyên gia để thực hiện hai việc sau: Thứ nhất, dự giờ, khảo sát giáo án, làm phiếu điều tra ở lớp 12 THPT Thứ hai, gặp gỡ, trao đổi, mạn đàm, xin ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu như các thầy cô giáo có kinh nghiệm trong giảng dạy, các nhà nghiên cứu lớn về cùng đề tài của luận văn

5.4 Phương pháp thể nghiệm sư phạm

Phương pháp này có vị trí quan trọng với khoa học giáo dục và công tác nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành thiết kế giáo án thể nghiệm cho bài học thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn nhằm xác định tính đúng đắn, khả thi của đề xuất nêu ra trong luận văn này

6 Bố cục của luận văn

Từ việc xác định mục đích, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, chúng tôi xây dựng cấu trúc của luận văn như sau:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo và phụ lục, phần nội dung gồm ba chương:

Trang 16

14

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài

nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Chương này tập trung trình bày cơ sở lí thuyết, cơ sở khoa học về kĩ năng làm văn nghị luận và kĩ năng làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghiên cứu bản chất tâm lí của việc hình thành các kĩ năng đặc biệt là kĩ năng lập ý và khảo sát thực trạng dạy và học lập ý ở kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong nhà trường phổ thông hiện nay

Chương 2: Tổ chức rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một

tư tưởng, đạo lí cho học sinh lớp 12 THPT

Trong chương này, chúng tôi tập trung vào việc cung cấp tri thức về cách thức, qui trình lập ý cho HS, xây dựng hệ thống bài tập trong việc tổ chức rèn luyện một trong nhiều kĩ năng khi triển khai làm bài văn NL về một tư tưởng, đạo lí qua hệ thống các nhóm bài tập Đó là kĩ năng lập ý - một kĩ năng quan trọng và có mối quan hệ mật thiết, qua lại với các kĩ năng nghị luận còn lại Qua đó, chúng tôi đưa ra phương hướng vận dụng hệ thống bài tập một cách cụ thể, chi tiết trong các tiết làm văn nhằm rèn luyện kĩ năng lập ý

Chương 3: Thể nghiệm sư phạm

Chương này nhằm kiểm tra, đánh giá khả năng thực thi, hiệu quả của

đề xuất trong luận văn với các bước:

- Thiết kế ba giáo án thể nghiệm cho bài học trong phạm vi nghiên cứu (gồm giáo án dạy bài lí thuyết nghị luận về một tư tưởng, đạo lí - Ngữ văn 12, tập 1), giáo án viết bài số 1 ( 2 tiết ), giáo án trả bài làm văn số 1 (chủ yếu nhằm thực hành rèn luyện kĩ năng lập ý)

- Tổ chức thể nghiệm

- Đánh giá kết quả thể nghiệm

Trang 17

15

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý

Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

1.1 Nghị luận xã hội và kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.1.1 Nghị luận xã hội và các kiểu bài nghị luận xã hội

1.1.1.1 Nghị luận xã hội

Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái

độ, quan điểm của người viết (người nói) bằng cách dùng lý lẽ, dẫn chứng và

cả những ý kiến bàn bạc mở rộng với một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng tình

và hành động theo những điều mà người viết (người nói) đề xuất

NLXH là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục đích cuối cùng của

nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội

Theo tác giả Hoàng Lân, NLXH bàn đến mối quan hệ giữa con người với con người Những lời bàn này góp phần làm cho đời sống tinh thần của con người thêm phong phú, tạo cho mỗi người ý thức chăm sóc cuộc sống tinh thần của bản thân mình và xây dựng cho mối quan hệ trong xã hội, trong cộng đồng mỗi này một văn minh, tốt đẹp hơn” [20,40]

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu , Lê A thì: NLXH lấy đề tài từ các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng, sai, tốt, xấu, phải, trái của vấn đề được nêu ra Nội dung ấy thường được cô đúc trong các câu tục ngữ, danh ngôn hoặc một lời nhận xét khái quát nào đấy Các vấn đề đặt ra trong NLXH thường rất rộng: là những quan niệm đối

Trang 18

16

nhân xử thế cách sống hay nói cách khác đó là mối quan hệ giữa con người với con người Có thể vấn đề đặt ra cũng có thể rất hẹp như: nên tập thể dục buổi sáng như thế nào, học sinh cần đi học đúng giờ…[29,32]

Nói chung NLXH là dùng lí lẽ, dẫn chứng bàn bạc về các vấn đề xã hội, chính trị, đạo đức để chỉ ra các mặt trái - phải, đúng - sai, tốt - xấu của những vấn đề ấy Trong nhà trường THPT thì NLXH thường xoay quanh các vấn đề

về tư tưởng, đạo đức, lối sống gần gũi với tuổi trẻ hay bày tỏ ý kiến, suy nghĩ

về một hiện tượng tốt hoặc xấu trong đời sống xã hội Và, trong những bài văn nghị luận ở nhà trường các em cần phát biểu những suy nghĩ nghiêm túc, chín chắn của mình về một vấn đề có ý nghĩa xã hội đặt ra cho mình, lứa tuổi mình, không thể phát biểu tùy tiện như trong sinh hoạt hàng ngày

1.1.1.2 Các kiểu bài nghị luận xã hội

Về nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông có các kiểu bài chính sau:

- Bàn về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua những nhận xét, phán đoán về tinh thần, tình cảm, tư tưởng, đạo lí, lối sống…

- Bàn về một hiện tượng, con người, sự việc có thật trong cuộc sống ở mọi phương tiện, mọi khía cạnh của nó

- Bàn về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học

1.1.2 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.1.2.1 Thế nào là nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ?

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là một hình thức NLXH được học ở chương trình Ngữ văn THCS và THPT

Sách giáo khoa Ngữ văn 9 (tập 2) đưa ra khái niệm như sau: "Nghị luận

về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo lí, lối sống,… của con người" [12,36]

Trang 19

17

Trong cuốn "Dạy và học nghị luận xã hội", các tác giả cũng nêu lên đặc điểm của dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí như sau: "Đối với học sinh

trong nhà trường phổ thông, do tâm lí, lứa tuổi, tầm nhận thức nên những vấn

đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với cuộc sống hàng ngày như tình cảm quê hương, gia đình, bạn bè, ý thức trách nhiệm, tinh thần học tập, phương pháp nhận thức…

Những vấn đề này có thể đặt ra một cách trực tiếp, nhưng thường là được gợi mở qua một câu danh ngôn (tục ngữ, ca dao, câu nói của các bậc hiền triết, các lãnh tụ, các nhà văn hoá, khoa học, nhà văn nổi tiếng…)"

1.1.2.2 Các yêu cầu về nội dung và hình thức của kiểu bài nghị luận về một

tư tưởng, đạo lí

* Yêu cầu về nội dung:

"Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận này là phải làm sáng tỏ các vấn

đề tư tưởng, đạo lí bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích,… để chỉ ra chỗ đúng hay chỗ sai của một tư tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng của người viết" [14, 36]

Trang 20

18

Lên lớp 12, học sinh được ghi nhớ một số nội dung quan trọng sau khi làm kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí:

- Thứ nhất, giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

- Thứ hai, phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch

có liên quan đến vấn đề bàn luận

- Thứ ba, nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí

1.1.2.3 Cách làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là một kiểu văn bản có phạm vi đề tài rất rộng Đó có thể là một quan điểm, đạo đức, lối sống Đã có thể là một quan điểm về các vấn đề văn hoá, giáo dục, dân tộc,tôn giáo, tín ngưỡng Đó còn là vấn đề phương pháp tư tưởng…vì vậy, cách làm văn nghị luận về một

tư tưởng đạo lí vừa phải tuân thủ các yêu cầu chung của bài văn nghị luận vừa phải tuân thủ các yêu cầu riêng đối với kiểu bài

Các tác giả cuốn "Dạy và học nghị luận xã hội" đã chỉ ra và phân tích

chi tiết, cách làm kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Trước hết người làm văn kiểu bài này cần phải đặt và trả lời các câu hỏi như:

- Nó là gì?

- Nó như thế nào?

- Vì sao lại như thế?

Trang 21

19

- Được thể hiện trong cuộc sống và văn học ra sao?

- Như thế thì có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người, với bản thân? Nhận xét:

Nhìn chung, dù cụ thể, chi tiết hay khái quát, chung chung các tác giả của những cuốn tài liệu nêu trên đã cung cấp cho độc giả những định hướng

cơ bản khi triển khai một bài văn NL về một tư tưởng, đạo lí Tuy nhiên, người viết văn cũng cần phải phân biệt rõ ràng kiểu bài này với các kiểu bài khác của NLXH Chẳng hạn, NL về một sự việc, hiện tượng đời sống thì xuất phát từ một sự việc, hiện tượng mà nêu ra vấn đề Còn NL về một tư tưởng, đạo lí thì xuất phát từ một vấn đề, một tư tưởng mà bàn bạc về vai trò, ý nghĩa của nó trong đời sống

Đồng thời, trong dạy học, GV phải nhấn mạnh làm sao để HS thấy được rằng để làm được một bài văn NL về tư tưởng, đạo lí đúng, hay, sâu sắc thì người viết (các em học sinh) phải biết cách lập luận sao cho mối liên

hệ logic giữa luận điểm với lí lẽ, dẫn chứng sao cho phù hợp và thuyết phục nhất Đặc biệt, để viết tốt kiểu bài làm văn này, đòi hỏi người viết phải bày tỏ được tư tưởng của mình Tư tưởng ấy phải phù hợp với đạo lí, lẽ phải, thể hiện trách nhiệm của người viết đối với đất nước, gia đình, xã hội, con người

Tư tưởng ấy phải dựa trên tiêu chuẩn là quan niệm đạo đức truyền thống của dân tộc, những lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng Tư tưởng ấy phải thể hiện được nhiệt tình xây dựng, vun đắp cho xã hội ngày một tốt đẹp Tư tưởng ấy phải có cơ sở khách quan và có ý nghĩa thực tiễn Đối với học sinh,

tư tưởng ấy phải chân thật, tự nhiên không phải là tư tưởng sao chép trong tài liệu, với những sáo ngữ cũ mòn…Có như thế thì vấn đề tư tưởng, đạo lí mới được đánh giá một cách khách quan và toàn diện Đồng thời người viết cũng cần khéo léo kết hợp lí lẽ và dẫn chứng và luôn chú ý chọn những dẫn chứng

Trang 22

20

tiêu biểu, có sức thuyết phục cao để bài văn càng cụ thể, sinh động và sức thuyết phục càng lớn

1.2 Ý và kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.2.1 Ý trong văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.2.1.1 Quan niệm về ý trong bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí

Kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí là phân tích, bàn bạc xoay quanh

một tư tưởng, đạo lí mà người ta nêu ra trong đề bài bằng một hệ thống lập luận, gồm có:

- Hệ thống luận điểm (luận điểm chính, luận điểm phụ), luận cứ (lí

lẽ và dẫn chứng) làm sáng tỏ cho luận đề (tức vấn đề nghị luận bao trùm toàn bài)

- Hệ thống luận điểm lớn làm sáng tỏ cho luận đề thường là:

+ Giải thích khái niệm, nội dung của tư tưởng, đạo lí nêu trong đề bài + Phân tích, đánh giá các mặt, các khía cạnh biểu hiện của vấn đề tư tưởng, đạo lí đó như: đúng - sai, tốt - xấu, phải - trái, tích cực – tiêu cực, đóng góp - hạn chế

+ Rút ra bài học trong cuộc sống từ tư tưởng, đạo lí đó về tư tưởng và hành động

Ví dụ:

Đề bài: Nhà văn L Tônxtôi nói " Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng trong cuộc sống con người'' (Ngữ văn 12, tập một, tr 22)

Với đề bài trên, hệ thống ý có thể được sắp xếp như sau:

* Giải thích ý kiến của L.Tôn-xtôi:

- Lí tưởng là gì?

- Cuộc sống là gì?

- Ý nghĩa câu nói của L.Tôn-xtôi

Trang 23

21

* Khẳng định vai trò quan trọng của lí tưởng trong cuộc sống con người

- Lí tưởng - mục đích sống cao đẹp, làm nên ý nghĩa cho cuộc sống của con người Con người khác biệt với mọi sinh vật ở điểm này

- Lí tưởng soi sáng hành trình cuộc đời mỗi con người (dẫn dắt sự nghiệp đi đến thành công)

- Trên thực tế đã có bao con người dưới ánh sáng của lí tưởng đã thành công trong sự nghiệp, làm giàu ý nghĩa cho cuộc sống (dẫn chứng thực tế)

* Bàn bạc mở rộng, rút ra bài học:

- Sự lựa chọn lí tưởng của bản thân có một ý nghĩa rất quan trọng

- Sự phấn đấu cho lí tưởng phải bắt đầu từ những công việc nhỏ nhất, phải thường xuyên liên tục và trải qua nhiều thử thách

- Phê phán lối sống thiếu lí tưởng và nêu lên hậu quả của lối sống đó

- Liên hệ thực tế về vấn đề lí tưởng của thanh niên học sinh trong cuộc sống hiện nay

1.2.1.2 Mô hình ý trong kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

a Mô hình ý bài văn nghị luận

Mô hình ý là kết quả của quá trình lập ý Hiện nay, trong các tài liệu dạy học làm văn thường yêu cầu học sinh xây dựng một dàn ý ở hai mức độ

đó là dàn ý đại cương và dàn ý chi tiết Muốn lập được dàn ý thì HS trước hết phải biết lập ý Để lập được ý thì HS phải nắm được mô hình ý chung của bài văn NLXH và mô hình ý của kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí Dàn ý đại cương là dàn ý bao gồm luận đề và các luận điểm (tức là những ý chính yếu nhất của bài văn) Dàn ý chi tiết là dàn ý bao gồm luận đề, các luận điểm, các luận cứ (các lí lẽ và dẫn chứng) Đây là loại dàn ý triển khai tiếp tục các ý chính của dàn ý đại cương thành những ý chi tiết hơn, phong phú hơn, có thể dẫn ra các dẫn chứng các lí lẽ cụ thể…

Trang 24

Làm sáng tỏ cho LUẬN ĐIỂM 2

Làm sáng tỏ cho LUẬN ĐIỂM …

Luận cứ 1

Luận cứ 2

Trang 25

23

Với mô hình này, chúng ta sẽ dễ dàng có được cái nhìn tổng quát nhất

về 3 phần cơ bản, những yếu tố cơ bản cũng như mối liên hệ qua lại giữa những phần, những yếu tố này trong một mô hình của một dàn ý hoàn chỉnh Với đề tài này, chúng tôi chỉ chú trọng hướng dẫn, rèn luyện cho HS kĩ năng lập hệ thống luận điểm, luận cứ cho phần thân bài của bài văn Từ đó giúp cho người dạy và người học thực hiện việc lập dàn ý tốt hơn, đồng thời cũng giúp cho việc làm bài làm văn NLXH đạt hiệu quả tốt nhất

b Mô hình ý trong kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí

Dựa vào mô hình ý chung cho kiểu bài NLXH, dựa vào những tri thức, kiến thức lĩnh hội từ các thành tựu nghiên cứu đã có, dựa vào những vấn đề đặt ra qua thực tế khảo sát quá trình dạy học văn NL về một tư tưởng, đạo lí

và dựa vào kinh nghiệm, trải nghiệm của cá nhân, chúng tôi mạnh dạn đưa ra

mô hình lập ý cho bài văn NL về một tư tưởng, đạo lí như sau:

LUẬN ĐỀ = TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ CẦN NL

Giải thích, cắt

nghĩa khái niệm,

nội dung của

TTĐL nêu trong

đề bài

Phân tích, đánh giá các mặt, các khía cạnh của TTĐL

Rút ra bài học trong cuộc sống từ TTĐL

Phải trái

Tích cực, tiêu cực

Tốt xấu

Về tư tưởng

Về hành động

Ý kiến, trích dẫn

Trang 26

24

* Lưu ý: Trên đây chỉ là gợi ý về mô hình ý trong kiểu bài NL về một tư

tưởng, đạo lí Trong quá trình dạy học phần làm văn, GV và HS cần linh hoạt trong cách vận dụng mô hình này sao cho hợp lí, phù hợp và có hiệu quả

1.2.2 Kĩ năng lập ý trong kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí

1.2.2.1 Quan niệm về kĩ năng lập ý trong kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí

Nhìn chung khái niệm ý trong bài văn nghị luận được hiểu khá thống nhất Ý, đó là những những nội dung chính tạo nên nội dung cơ bản của một bài viết Và nếu quan niệm ý là những nội dung chính cần trình bày trong bài văn thì lập ý là một quá trình suy nghĩ (có ý thức) nhằm định ra các nội dung

cơ bản của bài viết trước khi diễn đạt thành văn Như vậy ý là kết quả của những dự định sẽ trình bày ra bằng lời được hình thành trong quá trình tư duy

có định hướng Vì thế lập ý là định ra trong đầu óc những nội dung chính, những ý cơ bản sẽ được thể hiện ra bằng lời (bằng chữ) theo một trình tự hợp

lí, là giai đoạn tiền văn bản

Như trên đã trình bày, muốn viết được bài văn NL về một tư tưởng, đạo

lí, cần có các kĩ năng cơ bản sau:

1 Kĩ năng phân tích, tìm hiểu đề - xác lập yêu cầu của đề

2 Kĩ năng lập ý

3 Kĩ năng lập dàn ý

4 Kĩ năng diễn đạt, trình bày

5 Kĩ năng kiểm tra và hoàn chỉnh bài viết

Như vậy, kĩ năng lập ý là kĩ năng thứ hai, thực hiện sau khi kĩ năng thứ nhất đã hoàn thành Kĩ năng lập ý cũng là cơ sở, là điều kiện để thực hiện kĩ năng thứ 3 - lập dàn ý Nếu như bài văn mà chưa có ý - người viết chưa tìm và chọn được ý thì dù kĩ năng diễn đạt trình bày và kĩ năng kiểm tra hoàn chỉnh bài viết có tốt đến đâu đi chăng nữa, bài văn ấy vẫn chưa thành công, chưa có chất lượng Mặt khác, kĩ năng phân tích đề - xác lập yêu cầu của đề được thể

Trang 27

25

hiện trước kĩ năng lập ý cùng nhằm mục đích chính là hệ thống ý (luận điểm) được lập sau đó không sai hướng so với luận đề (vấn đề nghị luận, yêu cầu của đề bài Do vậy có thể nói, kĩ năng lập ý là kĩ năng trung tâm, kĩ năng cơ bản, kĩ năng quan trọng và thiết yếu nhất trong hệ thống các kĩ năng cần thiết khi làm văn nghị luận

''Về nội dung, bài văn nghị luận với tư cách là một văn bản trước hết phải có một chủ đề thống nhất Chủ đề của văn bản nghị luận cũng chính là luận đề tức phán đoán hạt nhân có tính chất khái quát, bao trùm nhất đó là vấn đề cốt lõi được đem ra bàn luận (theo yêu cầu của của đề bài) đó cũng chính là tư tưởng thống soái, tư tưởng chủ đạo xuyên thấm toàn văn bản"[26,140]

Trong các bài văn nghị luận, nhất là NLXH, NL về một tư tưởng đạo lí, vấn đề nghị luận hay luận đề (tư tưởng, đạo lí) phải luôn phù hợp với hiện thực khách quan, phù hợp với chân lí - tức là có tính chân thực, tính đúng đắn Muốn thể hiện tính đúng đắn thì luận đề phải được chứng minh rõ ràng Bởi

lẽ luận đề mà không chân thực, không đúng đắn thì không thể chứng minh được… Do đó, khâu lập ý có vai trò hết sức quan trọng là làm cho luận đề được sáng tỏ, tường minh, có đầy đủ sức thuyết phục Người viết văn bản, tạo lập bài văn phải có kĩ năng lập ý tốt để khai triển, mở rộng, cụ thể hoá cái phán đoán có tính khái quát cao đó bằng những phán đoán ít khái quát hơn tức

là hệ thống luận điểm, hệ thống ý

Đối với HS THPT lập ý cho bài văn là một quá trình suy nghĩ trong một tình huống có vấn đề (đề văn tạo nên tình huống có vấn đề này) nhằm đưa ra, lựa chọn và sắp xếp hệ thống ý, những nội dung chính, những ý cơ bản mà HS dự định sẽ triển khai trong phần thân bài của bài văn Việc lập ý giúp cho HS bao quát được những nội dung chủ yếu, những ý cơ bản cần triển khai cũng như xác định được phạm vi NL và mức độ triển khai các ý cơ bản

Trang 28

Theo "Làm văn 12" (sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000) thì "lập ý là định

ra nội dung cần trình bày trong bài văn" [24,3] "Lập ý là xác lập những ý lớn cần giải quyết đối với đề bài sau khi đã xác định được phương hướng, các khái niệm và các vấn đề then chốt” [29,21]

Như vậy, kĩ năng lập ý là kĩ năng tìm ý và chọn ý, sắp xếp ý Tìm ý là xác lập các ý lớn, ý nhỏ; chọn ý là lựa chọn những ý trọng tâm, ý cơ bản phục

vụ cho việc triển khai, giải quyết yêu cầu của đề bài; sắp xếp ý là việc đưa các

ý lớn, ý nhỏ, luận điểm chính, luận điểm phụ và các luận cứ vừa tìm được vào một trật tự (trên - dưới; trước – sau) sao cho hợp lí Đây là một kĩ năng cơ bản

và thiết yếu đối với học sinh, là kĩ năng đã được các sách đề cập đến từ lâu Chúng ta có thể điểm qua một số đầu sách như:

Cuốn giáo trình "Làm văn" của Đình Cao - Lê A (1989) Ở đây, các tác

giả của cuốn giáo trình đã vận dụng những thành tựu nghiên cứu của lí thuyết hoạt động lời nói và lí luận dạy tiếng, lí luận dạy đại học vào soi sáng cho các vấn đề của làm văn nói chung cũng như kĩ năng lập ý nói riêng Kĩ năng này được các tác giả trình bày trong phần kĩ năng xây dựng luận điểm và lập

chương trình biểu đạt Theo các tác giả trên thì "Luận đề là ý tổng quát, ý bao

trùm, ý cốt lõi, ý trung tâm của toàn bài, còn luận điểm là những ý lớn, ý chính, ý mấu chốt, là những trọng điểm của bài văn Vậy xây dựng luận điểm chính là hình thành và sắp xếp những ý lớn, ý chính của bài văn" [26,141]

Cuốn giáo trình đã đưa ra hai cách để xây dựng luận điểm Đó là:

Trang 29

27

- Triệt để khai thác đề bài và đặt câu hỏi để suy nghĩ, hình thành luận điểm (1);

- Dựa vào cách lập luận để xác lập luận điểm (2)

Cuốn tài liệu cũng nhấn mạnh và lưu ý đối với học sinh, sinh viên độc giả… khi xây dựng luận điểm (xác lập hệ thống ý lớn) phải đảm bảo ba yêu cầu: luận điểm phải được tổ chức hợp lôgic và có tính hệ thống; Luận điểm phải cân đối hài hoà; Luận điểm phải có tính mục đích cao Ngoài ra, giáo trình đề cập tới cách triển khai và trình bày luận điểm nhưng chỉ chung chung

và được minh hoạ bằng các đề bài NLVH

Như vậy, xây dựng luận điểm và triển khai luận điểm theo cách gọi quen thuộc là tìm ý và phát triển ý Khi đã hoàn thành hai khâu này thực chất

là ta đã bước đầu thực hiện việc lập chương trình biểu đạt và chuẩn bị cơ sở quan trọng cho việc lập dàn ý kết cấu của văn bản

1.2.2.2 Quan hệ giữa kĩ năng lập ý với các kĩ năng khác trong quá trình làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Có thể nói trong hệ thống 5 kĩ năng làm văn NLXH đã nêu ở trên, kĩ năng lập ý là một khâu trong quá trình viết bài văn Lập ý là kĩ năng thứ hai, hành động thứ hai Lập ý có mối quan hệ và có ảnh hưởng tới tất cả các kĩ năng còn lại

a Quan hệ với kĩ năng phân tích đề, xác đình yêu cầu của đề

Đối với kĩ năng phân tích đề - xác lập yêu cầu của đề, kĩ năng lập ý sử dụng kết quả từ việc phân tích đề và có vai trò làm rõ vấn đề tư tưởng, đạo lí cần NL Nó làm sáng rõ luận đề của bài văn bằng hệ thống ý, hệ thống luận điểm được xác lập

Ví dụ: Có đề bài: ''Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới''

(M.Gor-ki)

Trang 30

28

Bước 1: Phân tích đề, xác lập yêu cầu của đề:

- Nhận diện đề: Đề mở, đề tự do

- Gạch chân những từ ngữ quan trọng: Sách; chân trời mới…

- Dự kiến thao tác NL chính trong bài: Giải thích, chứng minh, bình luận

- Nguồn tư liệu để dẫn chứng: Thực tế cuộc sống, việc thực, người thực được lưu lại qua sách vở

- Luận đề, vấn đề tư tưởng, đạo lí cần NL: Vai trò và tác dụng to lớn của sách trong đời sống

Bước 2: Lập ý :

Từ kết quả phân tích đề, từ luận đề vừa tìm được, có thể tìm được một

số ý lớn, luận điểm lớn để làm rõ cho vấn đề vai trò và tác dụng to lớn của

sách trong đời sống như sau:

- Câu nói của M Gor-ki được hiểu như thế nào? Sách là gì ? Chân trời mới là như thế nào ?

- Sách mở rộng những chân trời mới là như thế nào ?

- Vì sao ta cần phải đọc sách ?

- Ý nghĩa của câu nói ?

b Quan hệ với kĩ năng lập dàn ý

Dàn bài là việc sắp xếp hệ thống ý, hệ thống luận điểm thành một chỉnh thể logic về nội dung và dưới hình thức bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài Vậy nên muốn lập được dàn ý thì điều kiện trước hết là phải có hệ thống

ý Tức là kĩ năng lập dàn ý chỉ được thực hiện sau khi đã tìm được ý và đã chọn, đã xác định được ý trọng tâm, ý cần thiết và quan trọng, loại bỏ những ý không trọng tâm, ý phụ, ý không quan trọng để sắp xếp đưa vào dàn ý

Ví dụ: Với các đề bài trên, các ý tìm được có thể được sắp xếp theo một dàn ý như sau:

Trang 31

29

1 Mở bài:

- Giới thiệu khái quát vai trò và tác dụng của sách trong cuộc sống

- Trích dẫn câu nói của M.Gorki

2 Thân bài:

* Ý lớn 1: giải thích ý nghĩa của câu nói :

- Sách là gì?

+ Là kho tri thức: - Về kinh nghiệm sản xuất

- Về đời sống con người

- Về thế giới tự nhiên

+ Là sản phẩm tinh thần: - Sản phẩm của văn minh nhân loại

- Kết quả của lao động trí tuệ

+ Là người bạn tâm tình gần gũi: - Giúp ta hiểu biết về lẽ phải

- Làm cho cuộc sống tinh thần phong phú

- Chân trời mới là gì? => Là tri thức mà hiểu biết của con người chưa đạt tới

* Ý lớn 2 :

Sách mở rộng những chân trời mới

Sách giúp ta hiểu biết những kiến thức - Về khoa học xã hội

- Về khoa học tự nhiên

* Ý lớn 3: Vì sao ta cần phải đọc sách?

- Đọc sách có nội dung tốt: Góp phần nâng cao hiểu biết, khám phá chính bản thân, chắp cánh ước mơ khát vọng và sáng tạo Sách chia sẻ với chúng ta mọi kiến thức Sách dạy ta cảm nhận cuộc đời

- Đọc sách có nội dung không lành mạnh: Hiểu sai sự thật, nhìn nhận vấn đề lệch lạc tự hạ thấp nhân cách

* Ý lớn 4: Phải làm gì để thông qua sách có thể mở được chân trời mới?

- Tạo thói quen và duy trì hứng thú đọc sách

Trang 32

30

- Cần chọn sách tốt có giá trị khoa học và nhân văn

- Phê phán và lên án những sách có nội dung không lành mạnh

3 Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc đọc sách ( Lưu ý: đây chỉ là

một mô hình dàn ý Với mỗi dàn bài có thể có nhiều mô hình dàn ý khác nhau

mà vẫn đảm bảo được yêu cầu của bài)

c Quan hệ với kĩ năng diễn đạt, trình và kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài văn

Cả hai kĩ năng này khâu lập ý đều có ảnh hưởng Bởi lẽ, ý là nội dung Không có nội dung thì không thể trình bày và diễn đạt được Mà không có nội dung, không có diễn đạt thì không có gì để kiểm tra, sửa chữa, hoàn chỉnh bài viết Một bài văn, sản phẩm ngôn từ của HS, một văn bản NL về một tư tưởng, đạo lí chỉ có thể được diễn đạt và trình bày hay, mạch lạc, sáng rõ và sâu sắc khi ý được lập cũng đầu đủ, minh bạch, độc đáo, sâu sắc và đúng đắn Hơn nữa, khâu kiểm tra sửa chữa, hoàn chỉnh bài viết chỉ đạt được sự thành công tuyệt đối khi kĩ năng lập ý thành công Đôi khi, công đoạn cuối cùng là kiểm tra, đọc lại đi sửa chữa, hoàn thiện bài văn NL lại soi tỏ những khiếm khuyết về ý cần bổ sung, điều chỉnh Điều này cũng góp phần rút kinh nghiệm nâng cao kĩ năng làm văn NL của HS trong những bài viết tiếp theo

Như vậy, kĩ năng lập ý có mối quan hệ với tất cả các kĩ năng còn lại Kĩ năng lập ý cùng với cách lập luận là 2 yếu tố quyết định sự thành công của bài văn

Tóm lại, không ai có thể phủ nhận vai trò làm nền tảng, làm cơ sở nội dung văn bản của hệ thống ý, hệ thống luận điểm Có nhà nghiên cứu đã nói

một cách hình ảnh như sau: hệ thống ý trong bài văn "có thể ví như cái khung

cốt lõi của kiến trúc toà nhà, như cây cột sống của bộ xương một con người"

Hệ thống ý của bài văn mà không đúng đắn không chắc chắn thì toà nhà sẽ nhanh hỏng, thậm chí có thể bị đổ, bộ xương con người không đứng thẳng, tức không vững bền, chắc chắn được Trường hợp những bài nghị luận nêu

Trang 33

31

lên được luận đề mà không xây dựng được hệ thống ý (luận điểm) thì bị coi như là không xử lí, không giải quyết nổi vấn đề, những bài làm như thế thực chất là chưa có nội dung Thực tế cho thấy, những bài văn nghị luận của HS

bị điểm yếu kém hầu hết là những bài có ý tứ nghèo nàn, hời hợt, là những bài hầu như không có luận điểm hoặc luận điểm mờ nhạt không sáng rõ

Như vậy, khi xây dựng một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí cũng như các bài văn nghị luận khác, kĩ năng lập ý là kĩ năng quan trọng bậc nhất Vì vậy, việc rèn luyện cho học sinh THPT kĩ năng lập ý là cần thiết

1.2.2.3 Cơ sở tâm lí của việc hình thành kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí cho học sinh

Dạy học làm văn là rất quan trọng Bởi lẽ, chỉ thông qua việc kiểm tra học sinh viết một bài làm văn hoàn chỉnh thì GV mới đánh giá được một cách toàn diện trình độ nhận thức của em HS ấy về lĩnh vực văn Hơn nữa, làm văn

là phân môn có tính chất thực hành tổng hợp và sáng tạo, đi từ sự nhuần nhuyễn về lí thuyết đến sự nhuần nhuyễn về thực hành Trong quá trình ấy, việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học là hết sức cần thiết

Bàn về phương pháp hình thành kĩ năng làm kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí nói riêng và kĩ năng làm văn nói chung chúng ta không thể không xét đến mối tương quan của nó với thuyết tâm lí học hành vi và thuyết tâm lí học hoạt động

Trang 34

32

kiểu bài nghị luận về một TTĐL thực chất là quá trình tổ chức cho học sinh tích cực luyện tập nhiếu lần các thao tác lập ý cho bài văn nghị luận thông qua

hệ thống bài tập lập ý

* Lí thuyết hoạt động (hay lí thuyết tâm lí học hoạt động)

Nếu như hạn chế của lí thuyết hành vi ở việc mới chỉ dừng lại ở sự hình thành hành vi mới, và việc không đánh giá đúng được vai trò của kiến thức và quan niệm hoạt động của người ta là đơn lẻ, thì lí thuyết hoạt động lại khắc phục được những nhược điểm vừa nêu

Theo lí thuyết hoạt đông, dạy học là quá trình hoạt động trí óc Hoạt động ấy phải được tường minh hoá ra bên ngoài bằng các hành động, các thao tác Dạy học làm văn NL về một tư tưởng, đạo lí và dạy học rèn luyện kĩ năng lập ý là hoạt động hình thành phản xạ có điều kiện Muốn vậy phải tìm hoạt động sao cho chủ thể phải được hoạt động với những hành động, thao tác khác nhau một cách có mục đích, và phải được làm đi, làm lại nhiều lần Từ đó dần dần hình thành đường hằn trong vỏ não Học sinh càng được thực hành nhiều thao tác, nhiều lần và thực hành một cách tích cực thì đường hằn trong vỏ não càng sâu, càng rõ và việc hình thành kĩ năng học tập càng nhanh chóng

Chẳng hạn, việc hình thành kĩ năng lập ý trong nghị luận về một tư tưởng, đạo lí: yêu cầu là học sinh phải được thực hành và trải qua các hoạt động, hành động, thao tác trên nhiều đề, với nhiều bài tập, lặp lại nhiều lần, dần dần hình thành được kỹ năng lập ý Nghĩa là học sinh phải được làm nhiều lần, làm một cách có ý thức Phương tiện để làm là hệ thống bài tập Trong quá trình đó, các

em HS sẽ biết được ý nghĩa của việc lập ý, biết cách tư duy

Như vậy, việc hình thành kĩ năng và phương pháp hình thành kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có cơ sở khoa học và mang bản chất của một quá trình tâm lí Bản chất tâm lí của quá trình ấy là cơ sở đổi mới trong hoạt động dạy học Mà hạt nhân của đổi mới dạy học hiện nay là

Trang 35

33

tích cực hoá hoạt động học tập của HS- HS là chủ thể chủ động, tích cực, sáng tạo trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức Do vậy, lí thuyết tâm lí hoc thần kinh cao cấp của Páp-lốp, lí thuyết hành vi chủ quan của Skiner, lí thuyết hoạt động là cơ sở của việc rèn luyện các kĩ năng nói chung và kĩ năng lập ý nói riêng: bằng hoạt động tích cực chủ động có định hướng lập đi lập lại nhiều lần thông qua hệ thống bài tập thực hành như một phương tiện chủ yếu

1.3 Thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh ở kiểu bài nghị luận về một

tư tưởng, đạo lí

1.3.1 Về phía học sinh

1.3.1.1 Mục đích và phạm vi khảo sát

a Mục đích: Xác định năng lực lập ý của HS lớp 12 THPT đối với loại

bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

b Phạm vi khảo sát: Luận văn tiến hành khảo sát ở các trường có

trình độ học sinh từ trung bình đến khá giỏi trên địa bàn thị xã Sông Công và huyện Phổ Yên để có cái nhìn khách quan, chính xác và bao quát nhất về thực trạng lập ý cho bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí của học sinh

1.3.1.2 Cách khảo sát (phép đo)

Chúng tôi đã tiến hành 3 phép đo như sau:

a Cách thứ nhất: Cho một đề văn NL về một tư tưởng, đạo lí, yêu cầu

học sinh tìm các luận điểm chính trong thời gian 10 – 15 phút Qui định 10 –

15 phút theo chúng tôi, đó là thời gian cần thiết để HS lập ý trước khi bắt tay vào viết thành văn (bài làm văn thời gian từ 90 – 120 phút)

b Cách thứ hai: Ra một đề văn NL về một tư tưởng, đạo lí, yêu cầu

HS tìm hệ thống luận điểm và luận cứ

c Cách thứ ba: Ngoài hai phép đo cơ bản trên, chúng tôi cũng đã tiến

hành điều tra HS bằng phiếu khảo sát để xác định thực trạng lập ý của HS lớp

Trang 36

Bài tập: Hãy tìm các luận điểm chính cho bài viết theo đề bài sau :

“Anh/chị hãy giải thích và làm sáng tỏ ý nghĩa của câu ngạn ngữ Hy Lạp: Học

– hành có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào.”

Mục đích của phép đo này là để đánh giá kết quả đạt và không đạt yêu cầu về lập ý

Thống kê kết quả các loại lỗi về lập ý HS thường gặp:

- Trong quá trình tiến hành thực nghiệm và khảo sát, chúng tôi nhận thấy

ở hầu hết tất cả các bài làm của HS đều mắc nhiều loại lỗi khác nhau và trong

số lỗi đó có 1-2 lỗi tiêu biểu Hơn thế, bất kỳ lớp nào và trường nào được khảo sát ngay tại lớp hay cho về nhà làm cũng mắc phải các lỗi tương tự nhau

- Sau đây là bảng thống kê cụ thể:

Tổng

355 300 = 90,4% 135 = 38% 160 = 45,1% 162= 45,6% (Lưu ý: Một bài làm của HS có thể mắc nhiều loại lỗi khác nhau, cho nên chỉ tính từng loại lỗi so với tổng số bài)

Trang 37

35

b Phép đo 2

Ở phép đo 2, tổng số HS tham gia 206 em (nhưng làm tròn thành 200

bài để đo kết quả), thời gian làm thực nghiệm tháng 10 năm 2010

Bài tập:Anh/chị hãy giải thích và làm sáng tỏ ý nghĩa của ý kiến: Học

– hành cũng như việc chèo thuyền vượt thác

Tìm hệ thống luận điểm và luận cứ cho bài viết

Kết quả đo:

Kết quả tổng hợp (số HS đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu)

c.Phép đo 3

Ở phép đo 3 (phép đo bổ sung), tổng số HS tham gia là 525 em (số phiếu hợp lệ là 520 phiếu) Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn HS về thực trạng lập ý bằng phiếu với 5 câu hỏi , kết quả như sau:

Trang 38

36

Thống kê kết quả phiếu khảo sát HS:

phân môn nào là khó nhất?

nhất là khâu nào? (chỉ được trả lời 1 khâu)

Tổng số HS tham

Câu trả lời Lập ý, lập dàn ý

Trang 39

nào sau đây?

Tổng số HS tham gia trả

lời

520

Câu trả lời Chú ý nhiều đến việc

Trang 40

b Về thực trạng lập ý trong kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí của HS lớp 12 THPT

Có đến 40.2% HS ít khi lập ý, lập dàn ý và 27.7% HS không lập ý, l;ập dàn ý trước khi viết một bài làm văn trong khi số HS thường xuyên làm công đoạn này chỉ có 5.8% Đa số HS (40,6%) cho rằng khâu khó nhất khi làm một bài văn NLXH và NL về một tư tưởng, đạo lí là khâu lập ý Thậm chí, có đến 84% HS có cảm nhận rằng, phân môn làm văn là phân môn rất khó để tiếp thu

Trong quá trình học tập phân môn làm văn nói chung và kiểu bài NL về một tư tưởng, đạo lí nói riêng, 78.8% HS được khảo sát mong muốn giáo viên chú ý nhiều đến việc rèn khả năng lập ý của các em kết hợp với việc cung cấp, hướng dẫn cụ thể cách vận dụng kiến thức và cách làm một bài làm văn Đặc biệt, nếu có quyền được lựa chọn 1 trong 3 phân môn của bộ môn Ngữ văn để học thêm giờ thì có đến 61.7% HS chọn phân môn làm văn

Như vậy, qua điều tra, khảo sát bằng các phép đo, chúng tôi nhận thấy, trong làm văn NL về một tư tưởng, đạo lí, lập ý là khâu HS còn non yếu nhất hiện nay Trên cùng một bài làm HS thường mắc rất nhiều lỗi về lập ý Đây là một trong những khó khăn, lúng túng rất cần được quan tâm tháo gỡ khi học tập phần làm văn hiện nay

Ngày đăng: 25/03/2021, 12:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm