Tuy nhiên, công tác quản lý HSSV trong quá trình đào tạo nghề của Nhà trường còn tồn tại một số vấn đề như quá trình quản lí HSSV ở tập trung trong đào tạo nghề chưa đồng bộ từ mục tiêu,
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đức Trí
Thái Nguyên - năm 2012
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Trịnh Thị Lan Anh
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy - PGS TS Nguyễn Đức Trí, mặc dù thầy phải đối diện với căn bệnh hiểm nghèo, nhưng thầy đã cố gắng chiến thắng bệnh tật, tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh, gia đình, bạn bè, tập thể lớp Cao học quản
lý giáo dục - khóa 18 đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, vật chất, tinh thần trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Dù đã rất cố gắng, song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự chỉ dẫn của các nhà khoa học, các giáo sư, tiến
sĩ, các thầy giáo, cô giáo và toàn thể các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiên hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2012
TÁC GIẢ
Trịnh Thị Lan Anh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Bảng ký hiệu viết tắt vi
Danh mục các bảng, sơ đồ vii
më ®Çu 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 5
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6
6 Các phương pháp nghiên cứu 6
7 Đóng góp mới của luận văn 10
8 Cấu trúc luận văn 10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỌC SINH SINH VIÊN NỘI TRÚ 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2 giáo viên chủ nhiệm và công tác quản lý HSSV 17
1.3 Khái niệm nếp sống văn hoá của HSSV 19
1.3.1 Văn hoá 19
1.3.2 Nếp sống văn hóa 22
1.3.3 Một số khái niệm liên quan 24
1.4 Khái niệm sinh viên - học sinh 27
1.5 Quản lý Nếp sống văn hóa của HSSV ở KTX 30
1.5.1 NSVH của HSSV ở KTX biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử 31
1.5.2 Quản lý Nếp sống VH của HSSV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử 32
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.5.3 Nếp sống VH của HSSV ở KTX biểu hiện trong học tập 32
1.5.4 Quản lý Nếp sống VH của HSSV ở KTX trong học tập 33
1.5.5 Nếp sống VH của HSSV ở KTX biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân 33
1.5.6 Quản lý NSVH của HSSV ở KTX biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân 34
1.6 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý HSSV 35
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HSSV NỘI TRÚ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG CĐN MỎ HỒNG CẨM - QUẢNG NINH 37
2.1 Khái quát về trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh 37
2.1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm 37
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của trường 38
2.1.3 Hoạt động đào tạo 40
2.1.4 CSVC, thiết bị và chương trình, giáo trình, đồ dùng phương tiện dạy học 44
2.2 Thực trạng các biện pháp quản lý HSSV nội trú trong quá trình đào tạo nghề tại trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm - QN (PHĐT Cẩm Phả) 46
2.2.1 Tình hình KTX trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm 46
2.2.2 Thực trạng nếp sống văn hóa của HSSV ở nội trú 49
2.2.3 Những biểu hiện về NSVH của HSSV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử 51
2.2.4 Những biểu hiện về Nếp sống VH của HSSV ở KTX trong học tập 54
2.2.5 Những biểu hiện về NSVH của HSSV ở KTX trong sinh hoạt cá nhân 59
2.3 Thực trạng quản lý HSSV nội trú và NSVH tại trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh (Phân hiệu đào tạo Cẩm Phả) 65
2.3.1 Các chủ thể quản lý Nếp sống VH của HSSV ở KTX 65
2.3.2 Các hoạt động quản lý Nếp sống VH của HSSV ở KTX 70
2.3.3 Các nội dung, biện pháp quản lý NSVHcủa HSSV ở KTX hiện nay 77
2.4 Nguyên nhân của thực trạng quản lý NSVH của HSSV nội trú tại trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm 82
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
SINH VIÊN NỘI TRÚ TRƯỜNG CĐN MỎ HỒNG CẨM 88
3.1 Đề xuất các biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả công tác nếp sống văn hóa của HSSV nội trú trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm 88
3.1.1 Đối với lãnh đạo nhà trường 88
3.1.2 Đối với BQL kí túc xá trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm 90
3.1.3 Đối với các phòng, ban, khoa, tổ, GVCN, Đoàn TN của trường 96
3.2 Khảo sát sự cần thiết của các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của HSSV ở KTX 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa
viên, GVCN, cán bộ Đoàn TN, Hội SV
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Đánh giá mức độ hợp lý của việc sử dụng CSVC ở KTX 47 Bảng 2.2: Mức độ cần thiết xây dựng và sử dụng CSVC ở KTX 48 Bảng 2.3: Những biểu hiện NSVH của HSSV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử 51 Bảng 2.4: Những biểu hiện về NSVH của HSSV ở KTX trong học tập 55 Bảng 2.5: Những biểu hiện NSVH của HSSV ở KTX trong sinh hoạt cá nhân 59 Bảng 2.6: Đánh giá chung những biểu hiện NSVH của HSSV ở KTX trên các
mặt: giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân 64 Bảng 2.7: Các chủ thể quản lý tác động đến NSVH của HSSV ở KTX 65 Bảng 2.8: Tác động của hoạt động quản lý đến NSVH của HSSV ở KTX 70
hiện nay 78 Bảng 2.10: Nguyên nhân của thực trạng việc quản lý nếp sống văn hóa của
học sinh sinh viên nội trú ở KTX hiện nay 82
cho Ban QL KTX 89 Bảng 3.2: Sự cần thiết của các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác quản lý Nếp sống VH của HSSV ở KTX 101 Bảng 3.3: Sự cần thiết của các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác quản lý NSVH của HSSV ở KTX (khối CBGV) 102
Sơ đồ 3.1: Quan hệ giữa các nhóm biện pháp 100
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
tế, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động
Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ IX và kết luận Hội nghịlần thứ 6 của BCH Trung ương Đảng khoá IX nhấn mạnh: “ Phát triển giáo dục, đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để Phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [17, tr 40] Muốn cho sự nghiệp CNH-HĐH thành công, thì điều cốt lõi là phải phát huy tốt nhân tố con người Bởi lẽ con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, giáo dục là nhân tố chủ yếu để hình thành và Phát triển nhân cách con người, là chìa khoá mở cửa vào tương lai, là quốc sách hàng đầu của chiến lược Phát triển kinh tế xã hội Nhiệm vụ Phát triển nguồn nhân lực, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trong đó vai trò của các trường chuyên nghiệp, các cơ sở giáo dục đào tạo nghề là rất quan trọng
Cơ chế thị trường đã đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đang đặt ra rất nhiều thách thức đối với mọi vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo của Nhà
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trường, điều quan trọng là làm sao để đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng vừa theo kịp, vừa đón đầu, vừa đại trà, vừa mũi nhọn, đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế hội nhập, đủ sức và kịp thời chủ động thích ứng với thị trường lao động, thị trường chất xám, nhất là sức lao động có hàm lượng trí tuệ cao Đồng thời, phải hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với công tác giáo dục đào tạo nghề
1.2 Về mặt thực tiễn
Quảng Ninh là một tỉnh công nghiệp có tiềm năng kinh tế lớn nằm trong vùng tam giác trọng điểm kinh tế miền Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Do vậy tỉnh Quảng Ninh nói riêng và khu vực Đông Bắc Tổ Quốc nói chung có nhu cầu rất lớn về lực lượng người lao động có tay nghề, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng Quảng Ninh hiện có một
hệ thống đào tạo nghề nghiệp với 19 cơ sở đào tạo ĐH, CĐ, TCCN, TCN bao gồm 01 trường Đại học, 02 phân hiệu Đại học, 02 dự án Đại học, 06 trường Cao đẳng chuyên nghiệp, 02 trường Cao đẳng nghề, 02 trường TCCN, 04 trường Trung cấp nghề của Trung ương và điạ phương, 17 Trung tâm Hướng nghiệp, Giáo dục thường xuyên và các cơ sở dạy nghề tư nhân ở các huyện, thị xã, thành phố tham gia dạy nghề thuộc các lĩnh vực
Trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm là đơn vị trực thuộc tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, trường có trụ sở đóng tại thành phố Hạ Long
và 7 cơ sở đào tạo đóng trên địa bàn các huyện, thị xã trực thuộc tỉnh Quảng Ninh Các ngành nghề đào tạo của trường thuộc nhóm nghành khai thác mỏ hầm lò, xây dựng mỏ hầm lò Trong những năm gần đây, do tính chất xã hội hóa giáo dục; trước nhu cầu của cơ chế thị trường và xu thế phát triển của khoa học công nghiệp trong nước cũng như hội nhập quốc tế, Nhà trường đã xác định mục tiêu đào tạo trong chiến lược phát triển của mình để đưa trường
từ chỗ là một trường công lập chỉ đào tạo theo kế hoạch Nhà nước trong lĩnh
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vực khai thác mỏ và xây dựng mỏ trở thành một trường đa ngành, đa nghề Từ
đó từng bước chuyển mình để phù hợp với yêu cầu thực tế của xã hội
Những năm qua, mặc dù Trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm đã chú trọng, chủ động quan tâm đến việc duy trì, đảm bảo và nâng cao chất lượng HSSV trong đào tạo nghề Tuy nhiên, công tác quản lý HSSV trong quá trình đào tạo nghề của Nhà trường còn tồn tại một số vấn đề như quá trình quản lí HSSV ở tập trung trong đào tạo nghề chưa đồng bộ từ mục tiêu, nội dung chương trình, đội ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất còn bất cập, hạn chế nên chất lượng đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động đa dạng hiện nay của thị trường
Để nâng cao chất lượng giáo dục trong các cơ sở đào tạo nghề hiện nay nói chung và ở Trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm (Quảng Ninh) nói riêng cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Trong đó giải pháp quản lí HSSV, nhất trong quá trình đào tạo nghề là rất quan trọng, bởi quá trình đào tạo nghề với các khâu của nó nếu được quan tâm thực hiện một cách đồng bộ mới đem lại chất lượng, hiệu quả
Việc phân tích thực trạng quản lý HSSV ở Kí túc xá, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý và đề xuất một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cho Trường Cao đẳng nghề
Mỏ Hồng Cẩm trong giai đoạn hiện nay là một việc làm cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: "Quản lí học sinh nội
trú trong quá trình đào tạo nghề ở Truờng Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh" làm luận văn tốt nghiệp cao học của tôi
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý giáo dục xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử giáo dục và đào tạo tuy nhiên phải đến những năm 60 của thế kỷ XX, xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý đào tạo thực sự thu hút sự quan tâm của
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học sư phạm cả ở phương diện lý luận lẫn thực tiễn quản lý
Ở Liên xô cũ những đóng góp to lớn cho sự phát triển lý luận và thực tiễn giáo dục nói chung phải kể đến các nhà giáo dục học nổi tiếng như A.X Macarencô, P.P Blônski, V.A Xukhôlinxki, M.F Sabaeva, L.N Lutvin, M.I Kônđucôp, V.V Khuđôminski, L.X Vưgốtski và nhiều người khác Trong lĩnh vực quản lý đào tạo, vài thập kỷ gần đây ở nước ngoài cũng xuất hiện những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề quản lý đào tạo, quản lý sinh viên trong các nhà trường đại học Ví dụ như nghiên cứu về sự tương tác giữa người dạy
- người học và môi trường trong quá trình đào tạo của J.M Denomme và M Roy (2000), về sinh viên bỏ học của Sheldon (1982), Tinto (1987) và của nhà quản lý đại học Beguin (1991) Đặc biệt những nghiên cứu về sự hoà nhập của Corifin (1989) và nghiên cứu về vấn đề quản lý đào tạo, tự quản lý của sinh viên trong học tập ở Khoa Tâm lý sư phạm trường đại học Mons - Hainaut (Bỉ) đã có những đóng góp quan trọng cho lĩnh vực quản lý sinh viên trong các nhà trường hiện nay
Ở Việt Nam, các nhà giáo dục học, tâm lý học tiêu biểu như Nguyễn Lân, Hà Thế Ngữ, Phạm Minh Hạc, Đặng Vũ Hoạt … đã có những đóng góp trong lĩnh vực lý luận và thực tiễn giáo dục và dạy học trong các nhà trường
Từ khi có trường cán bộ quản lý giáo dục (nay là Học viện Quản lý giáo dục)
và sau đó là các khoa quản lý giáo dục của một số trường đại học sư phạm, khoa sư phạm Đại học quốc gia ra đời vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có sự quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận
Trong những nghiên cứu về lý luận quản lý giáo dục có sự đóng gop của các nhà nghiên cứu có tâm huyết như Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Khánh Bằng, Trần
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Kiểm, Trần Khánh Đức, Nguyễn Đức Trớ, Phan Văn Kha, Nguyễn Lộc,… Gần đây đã có nhà nghiên cứu đi sâu vào đổi mới tư duy quản lý giáo dục như tác giả Trần Kiểm (2005); Nguyên tắc quản lý chất lượng giáo dục của Đặng Thành Hưng (2004) Nhiều luận văn thạc sĩ của một số cơ sở đào tạo tuy đã giải quyết ở những khía cạnh khác nhau đến vấn đề thực tiễn quản lý giáo dục, các biện pháp quản lý trong nhiều lĩnh vực ở nhà trường phổ thông Đặc biệt đã có những nghiên cứu đi sâu vào lĩnh vực quản lý học sinh, sinh viên (Lưu Văn Liêm, 2004), Nguyễn Đức Trí - Giáo dục nghề nghiệp - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn - NXB Khoa học - kỹ thuật - 2010 Tuy nhiên qua theo dõi chúng tôi nhận thấy rằng lĩnh vực quản lý học sinh - sinh viên trong quá trình đào tạo ở các trường Cao đẳng nghề và Trung cấp nghề còn chưa được chú ý đúng mức
Ở hệ thống các trường Cao đẳng nghề và Trung cấp nghề trong hơn 10 năm trở lại đây đã có một số nghiên cứu về công tác đào tạo, công tác quản lý đào tạo và quản lý HSSV với mục đích góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công nhân lành nghề Tuy nhiên những nghiên cứu về biện pháp quản lý HSSV nội trú trong hệ thống các trường đào tạo nghề còn ít và chưa
có hệ thống Yêu cầu về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công nhân lành nghề ở nước ta hiện nay đang đòi hỏi phải có những nghiên cứu đầy đủ hơn về lĩnh vực quản lý đào tạo, quản lý HSSV
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá thực trạng, hiệu quả các biện pháp quản lý học sinh - sinh viên nội trú cũng như vai trò của người giáo viên chủ nhiệm trong việc thực hiện các biện pháp đó và nếp sống văn hóa của HSSV nội trú trong quá trình đào tạo, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý HSSV nội trú ở Trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý nếp sống văn hóa của HSSV đang ở nội trú tại kí túc
xá trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh (Phân hiệu đào tạo Cẩm Phả, gồm toàn bộ HSV của Khoa Hầm Lò 1)
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HSSV nội trú trong quá trình đào tạo ở trường Cao đẳng nghề
mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh (Phân hiệu đào tạo Cẩm Phả)
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Một là, nghiên cứu và khái quát những tài liệu lý luận có liên quan tới đối tượng nghiên cứu, làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ như: Giáo viên chủ nhiệm, Quản lý học sinh, Biện pháp quản lý học sinh, Nếp sống văn hóa,
Hai là, tiến hành điều tra và đánh giá thực trạng của các biện pháp quản
lý nếp sống văn hóa của HSSV ở trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh
Ba là, xây dựng các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác nếp sống văn hóa, làm rõ tính hiệu quả của những biện pháp đã đề ra
6 Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Các quan điểm phương pháp luận được vận dụng trong đề tài này là:
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc
Được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn của đề tài Yêu cầu của quan điểm này là
“xem xét đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển.”[41]
6.1.2 Quan điểm khách quan
Được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, giúp người nghiên cứu “đánh giá các sự vật, hiện tượng khách quan, không thiên
về tình cảm, định kiến, mà phải dựa trên các tư liệu, số liệu và bằng chứng cụ thể, đủ độ tin cậy” [41] về thực trạng công tác quản lý NSVH của HSSV ở trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh
6.1.3 Quan điểm lôgic - lịch sử
Giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh, tình hình cụ thể, trường hợp cụ thể của đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ của lực lượng quản lý giáo dục trong nhà trường, của hoàn cảnh xung quanh (gia đình, nhà trường, XH) để phục vụ cho việc quan sát, phỏng vấn, điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài
6.1.4 Quan điểm thực tiễn giáo dục
Sử dụng quan điểm thực tiễn giáo dục, bởi vì nó “vừa là điểm xuất phát của đề tài, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá, thừa nhận kết quả nghiên cứu của đề tài.” [41]
Thực tiễn trong những năm qua và cho đến hiện nay (3/2012), tại tỉnh Quảng Ninh và trường Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm chưa tìm thấy nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý NSVH của HSSV ở KTX Trong khi đó, việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý NSVH của HSSV ở KTX, tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
tác quản lý NSVH của HSSV ở KTX là cần thiết, phục vụ trực tiếp công tác quản
lý NSVH của HSSV ở KTX trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm trong tình hình mới
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc tài liệu, sách, báo, các báo cáo, tổng kết hoạt động của BQL KTX, các thông tin trên internet… để hệ thống hóa vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: thường xuyên tiến hành quan sát các hoạt
động của HS - SV ở KTX, các hoạt động của Ban quản lí KTX, cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên viên các phòng ban, GVCN, cán bộ Đoàn TN, Hội SV trong việc quản lý NSVH của HSSV ở KTX Mục đích nhằm thu thập thông tin ban đầu về đối tượng, khách thể nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp và ghi lại một số biểu hiện, những ưu điểm, những kinh nghiệm tốt, những nhược điểm, hạn chế của HSSV, cán bộ quản lý KTX
- Phương pháp phỏng vấn: tiến hành trao đổi trực tiếp với một bộ phận
HSSV ở KTX, các cán bộ quản lý và nhân viên KTX, chuyên viên các khoa, phòng, ban, tổ, giáo viên có liên quan đến công tác quản lý HSSV nội trú Nội dung phỏng vấn xoay quanh những vấn đề biểu hiện của HSSV trong giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân Mục đích phỏng vấn là để thu thập những thông tin cụ thể, sinh động và biết được một số biểu hiện NSVH của HSSV ở KTX trên một số mặt cần nghiên cứu để có cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý NSVH của HSSV ở KTX
- Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chính nhằm khảo sát biểu
hiện NSVH của HSSV ở KTX, thực trạng công tác quản lý HSSV ở KTX của giáo viên chủ nhiệm và những chủ thể, hoạt động, nội dung, biện pháp quản
lý NSVH của HSSV ở KTX Phiếu trưng cầu ý kiến là công cụ nghiên cứu chính của đề tài
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Việc xây dựng phiếu trưng cầu được tiến hành theo các giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Dựa vào những biểu hiện nếp sống HSSV trong thực tiễn
và cơ sở lý luận liên quan đến việc quản lý NSVH của HSSV, chúng tôi soạn thảo 2 phiếu trưng cầu dạng mở :
+ Phiếu thứ nhất: lấy ý kiến của 60 người gồm: cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, chuyên viên các phòng ban, khoa, tổ, GVCN một số lớp, cán bộ Đoàn TN, Hội SV của trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm (PH Cẩm Phả)
+ Phiếu thứ hai: lấy ý kiến của 500 HSSV thuộc khoa Hầm lò 1 (đang ở KTX trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh)
- Giai đoạn 2: Từ kết quả thăm dò nói trên, kết hợp với những cơ sở lý luận liên quan đến việc quản lý NSVH của HSSV, người nghiên cứu xây dựng phiếu trưng cầu chính thức gồm: Mẫu 1 (dành cho khối CBGV) có 11 câu hỏi và mẫu 2 (dành cho HSSV đang ở KTX) có 10 câu hỏi, câu hỏi của mẫu 1 và mẫu 2 giống nhau từ câu 1 đến câu 9, riêng câu 10 của 2 mẫu có khác nhau (Xin xem phần phục lục 1,2)
Chọn mẫu: Có một số phương pháp chọn mẫu thông dụng như: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu theo hệ thống, chọn mẫu tỉ lệ theo tầng lớp, chọn mẫu theo nhóm…
Đối với học sinh: 100% HSSV ở KTX đều là HSSV của khoa Hầm lò
1, học hệ Trung cấp nghề trong đó số lượng HSSV tốt nghiệp THPT (thời gian đào tạo 24 tháng) chiếm 90%, số lượng HS tốt nghiệp THCS (thời gian đào tạo 36 tháng) chiếm 10% do đó tôi đã sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản Lựa chọn 500 HS học hệ trung cấp nghề với thời gian đào tạo 24 tháng
Đối với CBGV: do số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý các khoa, phòng, ban, tổ, Đoàn TN, Hội HSSV, chuyên viên, GVCN của trường nhiều nên mỗi một đơn vị chúng tôi chỉ chọn mẫu ngẫu nhiên, riêng khoa Hầm lò 1 thì chọn hết, tổng cộng 60 người Gửi 60 phiếu, thu về 60 phiếu, số phiếu hợp lệ là 60 phiếu
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
+ Tính tần số, tỉ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn
+ Phân tích nội dung từ các số liệu đã thống kê, tổng hợp
7 Đóng góp mới của luận văn
- Về lý luận quản lý giáo dục: Góp phần bổ sung cho lý luận giáo dục
đào tạo nói chung và quản lý giáo dục nói riêng đối với đối tượng là học sinh
- sinh viên ở các trường cao đẳng nghề
- Về thực tiễn QLGD: Xây dựng một số các biện pháp quản lý HSSV
nội trú của GVCN và nếp sống văn hóa của HSSV ở KTX nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân lành nghề ở nước ta hiện nay
8 Cấu trúc luận văn
Dự kiến cấu trúc luận văn như sau:
Ngoài Phần mở đầu và Phần Kết luận và kiến nghị, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý HSSV nội trú
Chương 2: Thực trạng quản lý HSSV nội trú trong quá trình đào tạo
nghề ở trường CĐN mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh (phân hiệu Cẩm Phả)
Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác NSVH của HSSV nội trú trường CĐN mỏ Hồng Cẩm - Quảng Ninh (Phân
hiệu đào tạo Cẩm Phả)
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỌC SINH SINH VIÊN NỘI TRÚ 1.1 Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm quản lý:
- Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội, đặc biệt là từ khi con người biết tiến hành những hoạt động lao động chung
- Quản lý là một thuộc tính lịch sử, là nội tại của quá trình lao động, nó
là hiện tượng xã hội xuất hiện sớm ngay từ khi xuất hiện xã hội loài người Khi con người xuất hiện thì xuất hiện quản lý con người và quản lý xã hội
Theo K Marx: Bất kỳ một hoạt động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định sự quản lý Quản lý xác định sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ
cơ chế sản xuất khác với sự vận động riêng rẽ của nó
K Marx so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng với hệ thống nhạc công Trong đó nhạc trưởng là một chủ thể quản lý, nhạc công là những chủ thể bị quản lý Nhạc trưởng và nhạc công có quan hệ quản lý (quan hệ về công việc và quan hệ về con người) để đưa một sản phẩm “kép”, một sản phẩm siêu sản phẩm Đó là chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý đều phát triển (hoạt động tạo ra của chủ thể và sự phát triển của con người)
Những tư tưởng bàn về quản lý xã hội đã xuất hiện rất sớm ở cả Phương Đông lẫn Phương Tây song quản lý chỉ trở thành khoa học và được vận dụng và thực tiễn có tính chất phổ biến chỉ mới bắt đầu vào thập kỷ đầu của thế kỷ XX - (vào năm 1911 khi Taylor nhà tâm lý học, quản lý học người
Mỹ công bố tác phẩm nổi tiếng: Những nguyên lý quản lý khoa học)
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Cho đến nay trong các tài liệu chuyên ngành xuất hiện nhiều định nghĩa
về quản lý Các nhà lý luận quản lý phương Tây và các nước Đông Âu như Henri Fayon (1841-1925) hay F Redrich Taylor (1856 - 1915)… đã nghiên cứu khoa học về quản lý và coi đây là ngành mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển
xã hội Có thể dẫn ra một số như:
Theo F Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất Sau này ông Lerence chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh
Mỹ đã khái quát quan điểm của F Taylor và cho rằng: quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình
Cùng thời với F Taylor, nhà quản lý hành chính người Pháp là H Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó Theo H Fayon: quản
lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian tiền bạc vật chất và sự bất mãn
cá nhân ít nhất
Theo Paul Hersey và KenBlanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì: Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức
Ở Việt Nam tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong giáo trình “Quản lý kinh tế” cho rằng: Quản lý là tác động hướng đích của hệ thống chủ thể tới sự hoạt động của hệ thống đối tượng bằng một hệ thống các biện pháp, phương pháp
và các công cụ làm cho hoạt động của hệ thống bị quản lý đó vận hành đúng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
theo yêu cầu của các qui luật khách quan và phù hợp với định hướng và mục tiêu của hệ thống chủ thể quản lý
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng cần xem xét khái niệm quản lý ở hai góc độ: Chính trị - xã hội và hành động ở góc độ chính trị - xã hội quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động Còn ở góc độ hành động quản lý được hiểu là chỉ huy điều khiển, điều hành
Tuy tiếp cận ở những góc độ khác nhau về quản lý, song về cơ bản các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước đều có sự thống nhất chung về quản lý qua các đặc trưng sau đây:
* Quản lý là một khoa học
* Là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm phối hợp hành động để đạt được mục tiêu quản lý
* Quản lý là phương pháp chứ không phải là mục đích
* Quản lý là phải: xác định mục tiêu, xây dựng tổ chức, tạo động cơ, đo lường đánh giá thành tích, phát huy nhân tài (Theo Peter Druker)
Đề cập đến các nhiệm vụ của quản lý, nhà quản lý học người Mỹ được coi
là tiêu biểu nhất của thế kỷ XX Peter Druker cho rằng có các nhiệm vụ sau:
Xác định mục tiêu: đó là điều cần đạt được biểu hiện bằng định lượng hoặc định tính
yếu để ổn định, phát triển bộ máy
con người tiến bộ
Phát huy nhân lực vật lực, tài lực: đây là điều kiện cụ thể tạo nên sức mạnh nội lực, ngoại lực thúc đẩy tổ chức mình quản lý phát triển, đồng thời tránh được lãng phí, tiêu cực trong bộ máy
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ở Việt Nam theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì quản lý có những nhiệm vụ sau đây:
Xác định mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý
Chỉ đạo thực hiện
Quản lý tài chính, cơ sở vật chất
tình hình
Các nhà quản lý giáo dục ở các cấp cần xác định vai trò, chức năng quản lý Quản lý giáo dục phải căn cứ vào các chức năng nhiệm vụ trên để tác động đến bộ máy mà mình quản lý
- Khái niệm phương pháp quản lý
Trong các giáo trình về khoa học quản lý, khái niệm phương pháp quản
lý được hiểu là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Nếu so với nguyên tắc quản lý thì phương pháp quản lý là yếu tố linh hoạt được thay đổi theo tình huống và đối tượng quản lý
Đối tượng tác động của các phương pháp quản lý là những con người
xã hội, là một thực thể có cá tính, thói quen, tình cảm, nhân cách gắn với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể Mỗi phương pháp quản lý đặc trưng cho một thủ pháp để tạo động cơ và động lực thúc đẩy đối tượng quản lý
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Các phương pháp quản lý bao gồm:
@ Phương pháp thuyết phục:
Là phương pháp tác động vào nhận thức của con người bằng lý lẽ làm cho con người nhân thức đúng đắn và tự nguyên thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý từ đó có thái độ hành vi phù hợp với các yêu cầu đó
@ Phương pháp kinh tế:
Phương pháp kinh tế là sự tác động của nhà quản lý đến đối tượng quản
lý thông qua lợi ích kinh tế để kích thích tính tích cực của đối tượng quản lý Đặc điểm của phương pháp này là rất nhạy bén, linh hoạt, rộng khắp, nó có tác động đến lợi ích thiết thực của con người
@ Phương pháp hành chính - tổ chức:
Phương pháp này là phương pháp dùng cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức quyền lực hành chính Nhà nước Phương pháp này phát huy sức mạnh của tổ chức, xác lập trật tự, kỷ cương của bộ máy, thi hành công vụ nhanh chóng
@ Phương pháp Tâm lý - giáo dục:
Phương pháp này là phương pháp tác động đến đối tượng quản lý thông qua đời sống tâm lý cá nhân như tâm tư, tình cảm, nguyện vọng… của họ Đặc điểm của phương pháp này là: mang tính thuyết phục bằng lý trí, tình cảm của chủ thể quản lý, gây lòng tin và ý thức về vai trò của mỗi cá nhân trên cơ sở đề cao nhân cách
- Quản lý giáo dục, quản lý đào tạo
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều khiển, phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện quá trình GD - ĐT của nhà trường
theo yêu cầu phát triển của xã hội
Khi bàn về vấn đề này viện sĩ A Fanaxep đã phân chia xã hội thành ba lĩnh vực: lĩnh vực chính trị - xã hội, lĩnh vực văn hoá - tư tưởng, lĩnh vực kinh tế Như vậy quản lý giáo dục được xem là một bộ phận nằm trong quản lý văn hoá
tư tưởng
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo M.I Kônđakôv: Quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể, quản lý trên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo vận hành tối ưu của xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học thế hệ trẻ đang lớn lên [29, tr 94]
Trong cuốn Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận, K.Đ Minski viết: Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục XHCN cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của XHCN cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ em, thiếu niên và thanh niên
Theo GS Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [24 tr 34]
Dưới đây là mô hình về các nhiệm vụ của quản lý (theo Đặng Quốc Bảo)
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Quản lý giáo dục, quản lý đào tạo là một bộ phận của nền kinh tế xã hội, nó được cơ cấu thành hệ thống và một bộ phận kết cấu hạ tầng xã hội Do vậy quản lý giáo dục, quản lý đào tạo là một lĩnh vực quản lý kinh tế xã hội đặc biệt nhằm phát triển dân tộc, phát triển nguồn nhân lực, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
- Biện pháp quản lý
Khái niệm về biện pháp quản lý: Biện pháp quản lý chính là cách làm, cách tiến hành và giải quyết một công việc, vấn đề cụ thể Các nhà khoa học quan niệm biện pháp là yếu tố hợp thành phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp và trong tình huống cụ thể biện pháp và phương pháp có thể chuyển hoá cho nhau
Biện pháp quản lý chính là cách quản lý, cách giải quyết một hoặc những vấn đề liên quan đến quản lý
Như vậy biện pháp quản lý HSSV chính là cách giải quyết những vấn
đề liên quan đến việc tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động của HSSV và các công việc khác có liên quan nhằm đạt được mục tiêu quản lý đào tạo nâng cao chất lượng đào tạo
Hiểu được khái niệm quản lý, chức năng quản lý giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về công tác quản lý, đồng thời đây là cơ sở quan trọng để nắm được khái niệm quản lý trên một lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như vai trò quản lý HSSV nội trú của người GV chủ nhiệm, quản lý nếp sống văn hóa của HSSV nội trú
1.2 giáo viên chủ nhiệm và công tác quản lý HSSV
Giáo viên chủ nhiệm
Trong hệ thống tổ chức và quản lý HSSV người giáo viên chủ nhiệm có vị trí, vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa Ban chỉ đạo lớp học, Ban QLĐT muốn đến được người HSSV và trở thành hiện thực đều phải thông qua GVCN
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tổ chức và theo dõi quá trình học tập của HSSV:
- Phổ biến cho lớp chương trình, kế hoạch toàn khoá học, tiến độ giảng dạy và học tập của môn học, học kỳ, năm học
- Thông báo đặc điểm tình hình của lớp cho khoa trước khi bắt đầu môn học
- Đôn đốc khoa gửi kế hoạch giảng dạy về Ban quản lý đào tạo trước khi bắt đầu môn học Trường hợp thay đổi lịch lên lớp, thay đổi phân công giáo viên phải báo cáo với lãnh đạo Ban QLĐT trước khi công bố lịch lên lớp cho HSSV
- Theo sự chỉ đạo của Trưởng Ban QLĐT, tổ chức lớp học theo đúng tiến độ chương trình, kế hoạch đã được duyệt Quản lý chặt chẽ danh sách HSSV, sổ theo dõi giảng dạy, học tập của lớp mình phụ trách
- Theo dõi việc học tập của HSSV Thường xuyên phản ánh tình hình học tập, giảng dạy với lãnh đạo Ban QLĐT khoa nghề
- Nắm vững số HSSV vắng mặt trong giờ lên lớp, thảo luận Theo dõi tinh thần thái độ HSSV khi nghe giảng, nghiên cứu thực tế, thi hết môn, thực tập sản xuất và thi tốt nghiệp
- Giúp lãnh đạo Ban QLĐT tổ chức lấy ý kiến HSSV về nội dung phương pháp giảng dạy của giáo viên
- Tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy chế và quy định về đào tạo
- Coi thi hết môn, thi tốt nghiệp
- Báo cáo trung thực tình hình mọi mặt của lớp trong các giao Ban, báo cáo bằng văn bản tình hình lớp khi kết thúc năm học, khoá hoc
Tổ chức và theo dõi quá trình rèn luyện cho HSSV:
- Nắm vững tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng, đặc điểm mạnh, yếu của từng HSSV và tập thể lớp
- Căn cứ vào mục tiêu đào tạo và đặc điểm của lớp, cùng ban cán sự lớp
đề ra kế hoạch phấn đấu và biện pháp thực hiện trong từng học kỳ, năm học
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Thông qua việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ học tập, sinh hoạt chính trị, sinh hoạt Đoàn thanh niên và tiếp xúc cá nhân, giúp HSSV thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
- Tổ chức thực hiện việc sơ kết học kỳ, tổng kết khoá học, bình xét thi đua cuối khoá theo kế hoạch của lãnh đạo Ban quản lý đào tạo, khoa nghề
Công tác quản lý HSSV được xác định ở những nội dung sau:
- Tham gia tổ chức lớp học khi HSSV nhập học
- Tổ chức và quản lý các hoạt động học tập của HSSV
- Tổ chức và theo dõi quá trình rèn luyện của HSSV
- Tổ chức, theo dõi và đôn đốc các hoạt động khác như: nghiên cứu thực tế, hoạt động văn thể, hoạt động công ích xã hội của lớp, thực tập sản xuất
- Chỉ đạo và theo dõi công tác Đoàn, Đảng của các chi đoàn, chi bộ lớp
1.3 Khái niệm nếp sống văn hoá của HSSV
1.3.1 Văn hoá
Văn hoá do con người sáng tạo ra, đến lượt mình, con người lại trở thành một sản phẩm của văn hoá, của XH Để có một sự hài hoà giữa XH, văn hoá và con người, sự tồn tại của một cộng đồng, một dân tộc… buộc phải quy định ra những khuôn mẫu, tiêu chí văn hoá cho những con người trong cộng đồng, trong XH, trong một quốc gia Sự quy định ấy phải thể hiện bằng pháp
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
chế, bằng dư luận, bằng cách tạo nên những thói quen, phong tục tập quán, truyền thống…
Khái niệm văn hóa
Khái niệm văn hóa được nhiều người đề cập, vào năm 1994, trong công trình Văn hóa VN và cách tiếp cận mới, Phan Ngọc cho biết: “Một nhà dân tộc học Mỹ đã dẫn ngót bốn trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau”[13]; do vậy, trên thế giới hiện nay, có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các cơ quan nghiên cứu… đã nghiên cứu về văn hoá, bằng kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc của mình trên từng lĩnh vực, với cách tiếp cận khác nhau trên cương vị công tác của mình đã có những khái niệm về văn hoá như sau:
Ông Federico Mayor, cựu Tổng giám đốc UNESCO cho rằng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy
đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.”[19, tr.32]
Thập niên 40 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở vàcác phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.”[26, t.3, tr.431]
Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã kế thừa tư tưởng của Bác và cho rằng: “Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong một quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh các cộng đồng dân tộc, sức đề kháng
và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.”[15, tr.16]
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường thiên nhiên và XH của mình [36]
Có thể thấy sự phong phú trong cách sử dụng thuật ngữ, diễn đạt, với nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau đã dùng ở một sốđịnh nghĩa nêu trên, qua nghiên cứu chúng tôi nghĩ khái niệm văn hóa cũng có thể hiểu như sau : Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành theo thời gian qua sự tác động sáng tạo của con người vào tự nhiên, XH và vào chính con người để vươn tới sự hoàn thiện góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển không ngừng của đời sống XH loài người
Để hiểu rõ khái niệm văn hóa và phân biệt một khái niệm gần với khái niệm văn hóa (culture) đó là khái niệm văn minh (civilization); bởi lâu nay, không ít người vẫn sử dụng văn minh như một từ đồng nghĩa với văn hóa.“ Văn minh (văn nghĩa là vẻ đẹp, minh nghĩa là sáng) là khái niệm có nguồn gốc từ phương Tây chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, nó đặc trưng cho một thời đại và một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại.”[36, tr.25] Hai khái niệm văn hóa và văn minh “gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau song không đồng nhất”[36, tr.25]; trong khi văn hóa luôn luôn có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ cho biết trình độ phát triển của văn hóa; thực tế chứng minh như sau: nếu như vào thế kỷ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã từng là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỷ XX, đầu thế
kỷ XXI nó là biểu tượng của sự lạc hậu và nhường chỗ cho máy vi tính, máy
kỹ thuật số, phi thuyền bay vào vũ trụ Ở VN còn có các khái niệm: văn hiến, văn vật đó là những khái niệm bộ phận của văn hóa”[36, tr.26]; hai khái
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
niệm này khác với khái niệm văn hóa ởđộ bao quát các giá trị: “văn hiến là văn hóa thiên về các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóa thiên về các giá trị vật chất.”[36, tr.26]
chỉnh XH, giáo dục, giao tiếp.[36]
+ Chức năng tổ chức XH: “Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ
ổn định của XH, cung cấp cho XH mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và XH của mình.” [36, tr.21] Thể hiện của chức năng này, đó là: tận dụng môi trường (nếu tác động của môi trường là tích cực), đối phó môitrường (nếu tác động của môi trường là tiêu cực) và chủ động cải biến, sáng tạo ra môi trường
+ Chức năng điều chỉnh XH: Văn hóa định hướng các giá trị, xem xét, phân loại các giá trị, điều chỉnh các ứng xử của con người, “giúp cho XH duy trì trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường để tồn tại và phát triển.”[36, tr.23]
+ Chức năng giáo dục: Nhờ chức năng giáo dục mà truyền thống văn hóa được tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác
+ Chức năng giao tiếp : Văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng bởi văn hóa luôn gắn liền với con người và hoạt động của con người trong XH, thể hiện cụ thể: “giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau, giữa các nền văn hóa khác nhau trên thế giới.”[36, tr.24]
1.3.2 Nếp sống văn hóa
* Khái niệm nếp sống
Trong cuộc sống, những ý nghĩ, việc làm, sinh hoạt…được lặp đi, lặp lại hàng ngày, dần dần trở thành thói quen, thành một hệ thống tập quán tạo nên nếp sống Nói cách khác, Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ước đã trở thành thói quen trong các lĩnh vực của cuộc sống, ví dụ: trong sản xuất có cách thức trồng trọt, chăn nuôi, ; trong sinh hoạt có thói quen ăn, mặc, ở, giao tiếp ; trong đời sống XH có phong tục, tập quán, lễ nghi, pháp luật Nhờ có nếp s ống mà những kinh nghiệm quý báu của con người và XH được giữ gìn và phát triển và cũng nhờ có nếp sống mà con người và XH không cần phải đi đường vòng, không phải bắt đầu lại quá trình lịch sử mà
nhân loại đã trải qua
Trong từ điển Tiếng Việt [47, tr.644], nếp có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất: vệt hằn trên bề mặt nơi bị gấp lại của vải, lụa, da,v.v (quần áo còn nguyên nếp, nếp nhăn trên má); theo nghĩa thứ hai: Lối, cách sống, hoạt động
đã trở thành thói quen (nếp sống văn minh, thay đổi nếp suy nghĩ)
Một số tác giả đã có những khái niệm khác nhau về nếp sống như sau:
Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: Nếp sống là lối sống đã đi vào nề nếp được XH quy định bởi những pháp chế, tập tục hay luật lệ được dư luận đông đảo quần chúng của XH chấp nhận [44] Theo tác giả Lê Như Hoa: Nếp sống là những hành vi ứng xử của con người đã được lập đi, lập lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, thành phong tục được XH công nhận [30] Tác giả Thanh Lê cho rằng: Nếp sống là những quy ước được lập đi, lập lại và trở thành thói quen trong sinh hoạt, phong tục tập quán và hành vi đạo đức [23]
Qua tìm hiểu, nghiên cứu chúng tôi hiểu khái niệm nếp sống như sau: nếp sống là những biểu hiện hành vi ứng xử của con người trong các lĩnh vực của cuộc sống (sản xuất, sinh hoạt, đời sống XH, gia đình, ) đã được hình thành, trải nghiệm và ổn định theo thời gian
* Nếp sống văn hóa (NSVH)
Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn: NSVH tức là nếp sống phù hợp với văn
hoá của một XH, một dân tộc, một tộc người, một đất nước nhất định [44]
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tác giả Lê Như Hoa cho rằng: NSVH là sự biểu hiện văn hoá cụ thể của lối sống, là văn hoá ứng xử của con người đối với tự nhiên, XH và con người [30]
Trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, NSVH của một đơn vị, một lứa tuổi, một thế hệ … là một bộ phận của văn hoá dân tộc, NSVH ấy vừa mang tính phổ quát, vừa có tính dân tộc và phù hợp với xu thế chung của nhân loại, vừa mang nội dung của chế độ XH mà đất nước, dân tộc đó lựa chọn
Điều tất yếu và là nhân tố quan trọng quyết định trong việc xây dựng một NSVH của dân tộc VN đang trên chặng đường quá độ tiến tới một XH XHCN là: NSVH của con người VN nói chung, của TN nói riêng không chấp nhận lối sống lấy đồng tiền làm thước đo mọi giá trị con người, lấy sự cạnh tranh khônglành mạnh, lừa gạt, bịp bợm làm lẽ sống, lấy sự chà đạp lên danh
dự, phẩm giá người khác, mua quyền, bán chức làm phương tiện để vươn lên địa vị cao sang trong XH, lấy sự gian dối, cơ hội, thiếu trung thực để đạt được những gì mình mong muốn
Chúng tôi cho rằng: NSVH của HSSV là những biểu hiện hành vi ứng
xử của HSSV trong các hoạt động học tập, giao tiếp, hoạt động cá nhân, tập thể đã được hình thành, rèn luyện, ổn định theo thời gian, phù hợp với các quy định, văn hóa của nhà trường, phù hợp chuẩn mực đạo đức của XH và được cộng đồng chấp nhận
1.3.3 Một số khái niệm liên quan
Nếp sống, lối sống là những khái niệm gần gũi, liên quan đến nhau
nhưng không đồng nhất với nhau
Lối sống của một dân tộc, một đất nước bao hàm một nội dung gắn liền với những hình thức sinh hoạt của tất cả mọi người trong cộng đồng trải ra nhiều lĩnh vực hoạt động, đảm bảo các chuẩn mực văn hoá và do tính chất của
XH, của dân tộc, của đất nước quy định Trong từng giai đoạn lịch sử, bên
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cạnh lối sống chung mang dấu ấn của cả nước, cả dân tộc thì mỗi ngành, mỗi giới, mỗi thành phần giai cấp… thậm chí từng gia đình, từng cá nhân đều có lối sống riêng của mình Sự riêng biệt của những lối sống này chỉ có thể chấp nhận được một khi nó phù hợp với lối sống chung của cộng đồng, không
đi ngược với lợi ích của cộng đồng
Vì vậy, tùy theo cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã có những khái niệm về lối sống không hoàn toàn giống nhau:
Lối sống là toàn bộ những hình thức, hoạt động sinh sống tiêu biểu xuất hiện trong những quan hệ kinh tế - XH nhất định của các dân tộc, giai cấp, các nhóm XH, cá nhân trong sản xuất vật chất và tinh thần, trong phạm
vi XH - chính trị và riêng tư thường ngày, trong những mối quan hệ qua lại của mọi người và trong đời sống cá nhân.[32] Lối sống là một phạm trù XH học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm XH, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - XH nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan
hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa [19]
Có thể nói, lối sống là thước đo về trình độ dân trí, sinh hoạt vật chất
và tinh thần của con người và của XH, lối sống được thể hiện ở lẽ sống, nếp sống, mức sống Trên thực tế, có thể mức sống chưa cao nhưng nhờ có lẽ sống đẹp, nếp sống lành mạnh, con người có thể trở thành con người có văn hóa và XH không ngừng tiến bộ, phát triển
Lẽ sống là sự lựa chọn chủ quan của con người về một lối sống; nó luôn túc trực và sẵn sàng giải đáp mọi lúc mọi nơi cho con người về ý nghĩa
sự tồn tại hàng ngày của họ Trong hoàn cảnh dân tộc bị áp bức, nhân dân bị
nô dịch, nước nhà chưa thống nhất thì lẽ sống của con người phải là độc lập,
tự do; bên cạnh những anh hùng liệt sĩ chúng ta đã biết như: Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi,… thì hình ảnh liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, liệt sĩ
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm là những minh chứng cho lẽ sống cao quý ấy Còn trong hoàn cảnh khó khăn đang xây dựng đất nước như hiện nay, chúng ta không thể chấp nhận sự lười nhác, xa hoa, lãng phí, tham nhũng mà lẽ sống của con người VN có lương tâm đó là thực hiện theo như lời Bác Hồ dạy: “ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, biết làm giàu cho bản thân, gia đình
và XH, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh, văn minh
Mức sống là một chỉ báo về lối sống, nói lên trình độ sinh hoạt vật chất (ăn, ở, mặc,…) của con người từ mức thu nhập cá nhân và mức hưởng thụ phúc lợi XH (đi lại, học tập, sinh hoạt văn hóa, bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm XH,…) của cá nhân đó Mức sống được nâng cao là điều kiện vật chất cần thiết để con người có thể nâng cao sức khỏe, phát triển tài năng, tổ chức tốt cuộc sống gia đình nhằm đóng góp nhiều của cải vật chất, tinh thần cho XH
Do vậy, nâng cao mức sống là nhu cầu chính đáng và cũng là mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước ta và của mọi người Tuy nhiên, mức sống không thể đồng nhất với lối sống Tức là, mức sống có thể ngang nhau nhưng lối sống
có thể khác nhau, không phải mức sống được nâng cao thì mọi mặt của lối sống cũng đều tích cực, tốt đẹp; thực tế đã xảy ra, đó là có không ít người sống với một mức sống rất cao song họ lại làm những việc bị XH lên án, điển hình như một số quan chức PMU18 (Ban quản lý các Dự án thuộc Bộ Giao thông vận tải): ăn chơi trác tán, tham nhũng, bòn rút của công, đánh bạc, cố ý làm trái những quy định của pháp luật như vậy, mức sống của những người này rất cao song lối sống của họ lại tiêu cực, rất thấp về nhân phẩm Ngược lại, có những người sống trong cảnh nghèo túng, nhưng họ lại vượt mọi khó khăn, siêng năng, chịu khó, yêu thương gia đình, hàng xóm, bạn bè, chăm lolợi ích cho cộng đồng, thường xuyên nâng cao trình độ học vấn và rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt Như vậy, mức sống của họ thấp, song lối sống của họ rất đáng trân trọng
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nắm được bản chất của khái niệm lối sống, lẽ sống, mức sống sẽ giúp chúng ta có một thái độ đúng đắn trong việc không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân, đồng thời xây dựng một lối sống tốt đẹp và lẽ sống thật phù hợp ngay trong lúc đất nước đang chuyển mình thực hiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, mặt khác hiểu được khái niệm lối sống, lẽ sống, mức sống sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn khái niệm nếp sống, NSVH
1.4 Khái niệm sinh viên - học sinh
* Một số đặc điểm của HSSV VN
Thuật ngữ “Sinh viên ”có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Student, có nghĩa
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi khai thác và tìm kiếm tri
HS trường nghề xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau và là lực lượng đông đảo của XH, số lượng tăng dần theo xu hướng phát triển của XH,
họ đang theo học các ngành nghề khác nhau ở các trường CĐ nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề, các cơ sở dạy nghề công lập và dân lập; họ có khả năng tiếp thu tri thức khoa học, nhạy bén, năng động và tinh tế đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, XH, văn hóa nghệ thuật Đại bộ phận HS trường nghề trong
độ tuổi từ 16 đến 22 tuổi, một số ít trên 22 tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này khác với lứa tuổi HS THPT
Tâm sinh lý của HSSV tương đối phức tạp, qua nghiên cứu tìm hiểu,
có thể thấy HSSV có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Về thể chất: Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, thể lực dẻo dai, đã qua thời kỳ phát dục, cơ thể tương đối hoàn thiện và dồi dào sức sống Đây là thời kỳ HSSV có thểđạt được đỉnh cao về lĩnh vực TDTT Tuy nhiên, cũng có không ít HSSV không biết giữ gìn sức khỏe, phung phí sức lực vào những hoạt động không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và nhiệm vụ trọng tâm là học tập, rèn luyện của mình
+ Về hoạt động nhận thức: HSSV có khả năng chú ý cao, đặc biệt là sự chú ý có chủ định, sự quan sát mang tính mục đích rõ rệt Trí nhớ cũng phát triển tốt, ghi nhớ có ý nghĩa ngày càng chiếm ưu thế HSSV có khả năng tư duy lôgic, tư duy lý luận và có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo; tuy nhiên, HSSV còn chủ quan trong nhận thức hay nhận thức chưa đầy đủ, có tính hiếu kỳ, tò mò, đôi lúc cả tin do đó một bộ phận HSSV dễ đánh giá các hiện tượng đời sống XH một cách nông cạn và dễ có thái độ cực đoan đối với các sự việc xảy ra trong XH, thậm chí một số HSSV dễ bị kích động, lôi kéo vào những việc làm sai trái, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức XH dẫn đến việc vi phạm quy định, pháp luật của nhà nước
+ Về mặt tình cảm: ý thức đạo đức, tình cảm hình thành mạnh mẽ trong lứa tuổi này, thế giới nội tâm cũng trở nên đa dạng, phong phú và thường có những mâu thuẩn nội tại, HSSV có nhu cầu giao tiếp rộng, nhạy cảm và giàu cảm xúc, dễ rung động trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè, các sự kiện
XH, đặc biệt ở lứa tuổi này là xuất hiện tình yêu nam, nữ khác với các lứa tuổi khác; đa số là những mối tình đẹp; tuy vậy, trong nền kinh tế thị trường không ít HSSV đã bị ảnh hưởng mặt trái của nó cho nên xuất hiện những kiểu tình yêu buông thả, thực dụng, phóng túng, sống thử…
+ Về ý chí, tính cách: Nổi bật ở ý chí, tính cách của người HSSV là tính
tự lập, lòng tự trọng, có kế hoạch sống riêng của mình, độc lập trong phán đoán, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
lĩnh vực của cuộc sống, tích cực tham gia các hoạt động tập thể, công tác XH ; đặc biệt, phong cách sống, khả năng ứng xử, lựa chọn phương thức hành động hầu như ít giống với thế hệ đi trước, đây là thời kỳ HSSV có thể đạt được những đỉnh cao trên nhiều lĩnh vực khoa học, văn hóa, nghệ thuật ; bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng: khả năng tự ý thức của HSSV phát triển mạnh nhưng chưa chắc chắn; khả năng tự giáo dục của HSSV đã phát triển,
có khả năng tựđiều chỉnh hành vi, hứng thú, động cơ… song ít nhiều còn cực đoan trong việc đánh giá và tự khẳng định của bản thân
Có thể nói, lứa tuổi HSSV là thời kỳ phát triển tích cực nhất về thể chất, nhận thức, tình cảm, ý chí, tính cách là giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách; nhân cách của HSSV được hình thành và phát triển là nhờ phần lớn ở quá trình tự vận động và hoạt động tích cực của chính bản thân họ Điều đó kéo dài suốt cả cuộc đời song những năm tháng được sống, học tập, rèn luyện ở các trường ĐH, CĐ là thời kỳ hình thành và phát triển mạnh mẽ nhất về nhân cách của HSSV Chính vì vậy, nắm được đặc điểm tâm sinh lý của HSSV giúp cho các thầy, cô giáo có phương pháp truyền đạt các tri thức
cơ bản, khoa học, hiện đại, đồng thời giúp các nhà quản lý giáo dục định hướng, quản lý, rèn luyện NSVH, hình thành nhân cách HSSV phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH, góp phần thực hiện mục tiêu GD&ĐT tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
* Tình hình HS-SV các trường dạy nghề hiện nay
Trong nhà trường, HSSV là nhân vật trung tâm Đa số HSSV có ý thức chính trị tốt, quan tâm đến các vấn đề của XH, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo; hầu hết có lối sống lành mạnh, tích cực tham gia các hoạt động xã hội Trong điều kiện đất nước mở cửa, việc giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau của thế giới, đa số HSSV vẫn giữ được bản lĩnh, có nếp sống lành mạnh, có nhiều ước mơ, hoài bão cống
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hiến thật nhiều cho quê hương, đất nước, không bị kẻ xấu lợi dụng, kích động làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn XH Tuy nhiên, tình trạng đáng lo ngại hiện nay là còn một bộ phận HSSV thiếu trung thực trong học tập và thi cử; một số vi phạm nội quy, quy chế, có biểu hiện của lối sống hưởng thụ, đua đòi Tệ nạn XH, nhất là ma tuý, cờ bạc, mê tín, vi phạm pháp luật trong HSSV tuy ít nhưng chưa ngăn chặn được, gây nhiều lo lắng cho người thân, bạn bè và XH ….HSSV ít có điều kiện tham gia NCKH; năng lực
tự học, tự nghiên cứu, khả nănggiao tiếp và hợp tác trong công việc còn yếu; trình độ ngoại ngữ của HSSV tốt nghiệp ra trường chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và yêu cầu của cuộc sống
Phải nói rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn HSSV đến những điều không tốt, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH, nhưng trong hoàn cảnh hay điều kiện nào thì họ cũng cần được giúp đỡ, giáo dục, rèn luyện để tiến
bộ và có thể khẳng định mình, lấy lại được vị trí của mình trước bạn bè, trong gia đình và ngoài xã hội
1.5 Quản lý Nếp sống văn hóa của HSSV ở KTX
NSVH được truyền đạt lại và thay đổi có chọn lọc từ thế hệ này sang thế hệ khác và ngày càng được bổ sung phong phú thêm theo sự phát triển của
XH Trong nhà trường, các cán bộ, giáo viên của trường cũng đã kế thừa và phát huy truyền thống của các thế hệ trước, ngày một hoàn thiện NSVH để góp phần xây dựng đơn vị luôn vững mạnh về mọi mặt NSVH đã làm mọi người trong nhà trường đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau, kích thích sự năng động, sáng tạo của từng người, từng đơn vị phòng, ban, khoa, tổ, đoàn thể trong trường,
từ đó các công việc được thực hiện có chất lượng và hiệu quả hơn
Đối xử có văn hoá trong giao tiếp: sự tôn trọng những quy tắc sống tập thể, chia sẻ những khó khăn khi hoạn nạn, chúc mừng nhau khi gặp chuyện vui, Quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của từng thành viên trong tập thể
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mỗi người làm việc hết lòng vì nhau, vì tập thể Ngược lại, cả tập thể chăm lo đời sống cho từng cá nhân, từng gia đình để mang lại niềm vui, hạnh phúc chomọi người trong đơn vị Trong tập thể có sự học tập lẫn nhau, sự bắt chước lẫn nhau về tác phong quản lý, tác phong lao động, về các hành động tốt đẹp…
Cán bộ, giáo viên có tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực của bản thân, nâng cao trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ, cập nhật kiến thức để khỏi bị lạc hậu so với thời đại, thường xuyên tham gia Hội giảng, viết sáng kiến kinh nghiệm, tham gia NCKH; cập nhật phương pháp giảng dạy, các quan điểm mới trong kiểm tra, đánh giá HSSV, thường xuyên đọc sách, tra cứu thôngtin, cập nhật kiến thức từ Internet, sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại,… để đáp ứng tốt yêu cầu giảng dạy, giáo dục, phục vụ ngày càng cao của nhà trường
NSVH của HSSV có thể xem như phần thể hiện văn hoá của một trường học; có thể khẳng định rằng: một kết quả văn hoá, một NSVH nào đó trong XH được truyền thụ và phổ biến trong một đơn vị đều phải được thông qua các chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Một số biểu hiện NSVH của HSSV ở KTX trường CĐN Mỏ Hồng Cẩm trong một số lĩnh vực như: giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân
…cần được xây dựng, quản lý trong hiện tại và tương lai; cụ thể như sau:
1.5.1 NSVH của HSSV ở KTX biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử
Thực sự tôn trọng, lễ phép khi giao tiếp với cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường, người lớn tuổi
Có cử chỉ nhã nhặn, lịch sự khi giao tiếp với bạn bè, biết “cảm ơn”, “ xin lỗi” kịp thời, đúng lúc, đúng nơi Giữ đúng lời hứa, giờ hẹn với mọi người
Chú ý đến những người xung quanh, quan tâm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với người thân, đồng nghiệp, bạn bè, cộng đồng Sẵn sàng giúp đỡ và luôn khiêm tốn học hỏi mọi người
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Có thái độ bất bình trước những hành vi thiếu văn hóa, vi phạm NSVH của tập thể, của XH
Góp ý phê bình một cách tế nhị, khéo léo, tránh gây ức chế, xúc phạm người được góp ý phê bình Tôn trọng sở thích, cá tính của người khác nếu cá tính của họ không ảnh hưởng xấu đến những người xung quanh
Tôn trọng danh dự, nhân cách, lợi ích của mọi người, tổ chức, cộng đồng
Có lòng tự trọng, nhận trách nhiệm trong công việc và cuộc sống
Có lòng nhân hậu, thái độ lạc quan, yêu đời
1.5.2 Quản lý Nếp sống VH của HSSV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử
Quản lý NSVH của HSSV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử là :
- Quản lý hình thức, nội dung, biện pháp giáo dục HSSV thông qua các chức năng quản lý
- Quản lý sự phối hợp trong các hoạt động của BQL KTX với các đoàn thể, các phòng chức năng, các khoa, tổ, GVCN, chính quyền địa phương, gia đình HSSV nhằm nâng cao nhận thức về NSVH trong giao tiếp, ứng xử cho HSSV ở KTX
- Thường xuyên sử dụng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục kết hợp kiểm tra phát hiện, nhắc nhở, xử lý kịp thời những tiêu cực trong giao tiếp, ứng xử, đồng thời phát huy những điểm mạnh, nhân rộng các điển hình tiên tiến giúp HSSV suy ngẫm, học tập kinh nghiệm, nâng cao khả năng thích ứng, khéo léo, tế nhị trong giao tiếp, ứng xử
1.5.3 Nếp sống VH của HSSV ở KTX biểu hiện trong học tập
Tự giác, chăm chỉ học tập, rèn luyện kỹ năng xử lý, giải quyết những tình huống nghề nghiệp
Tìm tòi, học hỏi những phương pháp học tập tích cực phù hợp với bản thân, bậc học và ngành học Có thói quen tham khảo tài liệu, sách, báo… để cập nhật, bổ sung kiến thức