MỞ ĐẦU Cộng hợp độc tố miễn dịch Immunotoxin - ITs được xác định là những chất gây độc cho tế bào, được tạo ra để giết một cách chọn lọc quần thể tế bào mà ở đó có biểu hiện những kháng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN PHƯƠNG HOA
NGHIÊN CỨU THU NHẬN ĐỘC TỐ MIỄN DỊCH IMMUNOTOXIN ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ BIỂU HIỆN KHÁNG NGUYÊN HER2
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2010
Trang 2VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Nguyễn phương Hoa
NGHIÊN CỨU THU NHẬN ĐỘC TỐ MIÊN DỊCH IMMUNOTOXIN ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ BIỂU HIỆN KHÁNG NGUYÊN HER2
Ngành: Sinh học Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Quang Huấn
Hà Nội - 2010
Trang 31 Khái niêm, phân loại và ứng dụng của immunotoxin……….3
1.2 Tình hình ung thư vú (UTV) trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.2.1.Trên thế giới 4
1.2.2.Ở Việt Nam 4
1.3 Giới thiệu ung thư vú………5
1.3.1 Khái niệm chung về bệnh UTV 5
1.3.2 Nguyên nhân phát sinh ung thư vú 6
1.3.3 Các phương pháp chẩn đoán 7
1.3.4 Các phương pháp điều trị 9
1.4 Kháng nguyên Her2 đặc hiệu tế nào ung thư vú 10
1.4.1 Khái quát về kháng nguyên HER2 10
1.4.2 Cấu trúc HER2 11
1.4.2.1 Cấu trúc gen HER2 11
1.4.2.2 Cấu trúc protein HER2 11
1.4.2.3 Sự khuếch đại HER2 và cơ chế gây ung thư của HER2….13 1.5 Khái quát chung về kháng thể - Kháng thể đơn dòng 16
1.5.1 Cấu tạo chung của kháng thể 16
1.5.2 Kháng thể đơn dòng 17
1.5.3 Kháng thể đơn chuỗi - Mảnh kháng thể……… 17
1.5.4 Một số kháng thể đơn dòng sử dụng trong điều trị ung thư vú …19
1.5.5 Kháng thể kháng HER2 gắn Melitin………22
Chương 2- VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUError! Bookmark not defined 2.1 Vật liệu Error! Bookmark not defined 2.1.1 Sinh phẩm 23
2.1.2 Hoá chất Error! Bookmark not defined 2.1.3 Thiết bị Error! Bookmark not defined 2.2 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2.1 Phương pháp PCR……….24
2.2.2 Cắt bằng enzym giới hạn 26
2.2.3 Phương pháp thiết kế vector biểu hiện 26
2.2.4 Phương pháp biến nạp 29
2.2.5 Phương pháp biểu hiện protein tái tổ hợp 30
2.2.6 Phương pháp điện di protein trên gel polyacrylamide 31
2.2.7 Phương pháp tính sạch protein tái tổ hợp bằng cột ái lực Ni2+ 32
2.2.8 Phương pháp phân tích khối phổ 33
Chương 3- KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Thiết kế vector biểu hiện pET-21A(+)mang gen mã hoá độc tố miễn dịch
Trang 4tổ hợp……… 38
3.1.4 Xác định trình tự gen hermel ………Error! Bookmark not defined 3.2 Biểu hiện và tối ưu hoá biểu hiện gen hermel ……….Error! Bookmark not defined 3.2.1 Biến nạp plasmid tái tổ hợp pET-21A(+) vào tế bào E.coli BL21(DE3) Er ror! Bookmark not defined 3.2.2 Biểu hiện gen mã hoá độc tố miễn dịch đặc hiệu kháng nguyên HER2 trong tế bào E coli BL 21(DE3)……… 45
3.3 Ngiên cứu điều kiện biểu hiện gen mã hoá độc tố miễn dịch đặc hiệu kháng nguyên HER2 trong E coli 46
3.3.1.Ảnh hưởng của pH lên khả năng sinh tổng hợp độc tố miễn dịch herme 47
3.3.2 Ảnh hưởng của oxi lên khả năng biểu hiện của gen mã hoá độc tố miễn dịch đặc hiệu kháng nguyên HER2………48
3.3.3 Khảo sát nồng độ kháng sinh………50
3.3.4 khảo sát nhiệt độ nuôi cấy ……… Error! Bookmark not defined. 3.3.5 Ảnh hưởng của IPTG……….52
3.3.6 Khảo sát thời gian thu mẫu………54
3.3.7 Biểu hiện protein tái tổ hợp hermel ở các điều kiện thích hợp đã lựa chọn……….55
3.4 Tinh sach protein tái tổ hợp hermel, khẳng định bằng khối phổ và xác đinh hoạt tính……… 56
3.4.1 Tinh sạch protein tái tổ hợp HER2……… 56
3.4.2 Phân tích khối phổ protein tái tổ hợp……….57
3.4.3 Xác đinh hoạt tính của protein hermel……… 59 Kết luận và kiến nghị
……… Error! Bookmark not defined
Tài liệu tham khảo
………Error! Bookmark not defined
Trang 61 ADN Axit Deoxyribonucleic
tr×nh tù axit nucleic)
Trang 8MỞ ĐẦU
Cộng hợp độc tố miễn dịch (Immunotoxin - ITs) được xác định là những chất gây độc cho tế bào, được tạo ra để giết một cách chọn lọc quần thể tế bào mà ở đó có biểu hiện những kháng nguyên hoặc thụ thể bề mặt đặc hiệu
Phân tử độc tố miễn dịch ITs có tác dụng nhận biết và làm tan tế bào ung thư vú biểu hiện quá mức HER2 một yếu tố phát triển biểu mô biểu hiện mạnh ở 25-30% bệnh nhân ung thư vú
ITs được tạo ra bằng việc kết hợp giữa 2 yếu tố : (1) chất gây độc (toxins) có bản chất là protein và (2) tác nhân hướng đích theo các phương pháp hoá học (7) hoặc bằng công nghệ ADN tái tổ hợp
HER2 là một loại thụ thể thuộc họ các yếu tố phát triển biểu mô
(Human Epidermal growth Receptor, EGFR), có hoạt tính tyrosine kinase,
đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và biệt hoá tế bào Cho đến nay vẫn chưa tìm thấy ligand đặc hiệu của HER2; tuy nhiên nó có thể tạo dimer với bản thân nó hoặc với các thụ thể khác trong họ để hình thành đồng thụ thể (coreceptor) thúc đẩy các con đường truyền tín hiệu Sự khuếch đại gen HER2 trên nhiễm sắc thể 17 dẫn đến sự tăng biểu hiện thụ thể HER2 trên
bề mặt tế bào ung thư vú Biểu hiện quá mức HER2 có thể biến đổi tế bào thành dạng ác tính và làm tăng quá trình hình thành khối u Theo nhiều nghiên cứu gần đây, khoảng 25-30% bệnh nhân ung thư vú cho thấy có sự khuếch đại gen HER2 hoặc biểu hiện quá mức gen này trong các tế bào ung thư Tính chất này làm cho HER2 trở thành một đích hữu hiệu để chẩn đoán sớm cũng như đích tấn công của liệu pháp điều trị miễn dịch
Trang 9Ung thư vú hiện nay đang là một trong hai loại ung thư chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh ung thư ở nữ giới Điều trị ung thư vú cũng như nhiều loại ung thư khác theo các liệu pháp truyền thống như hoá trị liệu và xạ trị liệu mặc dù hiệu quả tiêu diệt khối u cao nhưng lại có một nhược điểm rất lớn, đó là tác dụng lên cả các cơ quan bình thường xung quanh (non-targeted effect) Mặt khác, các phương pháp này đa phần chỉ áp dụng đối với trường hợp các khối u đã phát triển và ở giai đoạn muộn nên có hiệu quả điều trị thấp Những nghiên cứu gần đây về các marker sinh học trong ung thư vú đã
mở ra một hướng điều trị mới, thông minh và đầy triển vọng, liệu pháp điều trị tấn công đích (targeted therapy), có thể loại bỏ gần như hoàn toàn nhược điểm của các liệu pháp truyền thống Một trong số thuốc có bản chất kháng thể đặc hiệu HER2 đã được FDA chấp thuận để điều trị cho các bệnh nhân ung thư vú dương tính với HER2 ở giai đoạn cuối là HERCEPTIN
Để góp phần nghiên cứu nhằm tạo các bộ kít chẩn đoán và các loại thuốc có hiệu quả điều trị cao đối với dạng ung thư vú dương tính với HER2
chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thu nhận độc tố miễn dịch immonotoxin định hướng ứng dụng điều trị ung thư vú biểu hiện kháng nguyên Her2’’
Trang 10
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Khái niệm, phân loại và ứng dụng Immunotoxin
Như đã nói ở trên, cộng hợp độc tố miễn dịch (Immunôtxin-IT) được xác định là những chất gây độc cho tế bào, được tạo ra để giết một cách chọn lọc quần thể tế bào mà ở đó biểu hiện những kháng nguyên hoặc receptor bề mặt đặc hiệu Những độc tố dạng này đang được nghiên cứu và chế tạo không chỉ trong trị liệu ung thư (5), mà còn được thử nghiệm trên các bệnh khác như GvHD (6), các bệnh tự miễn dịch và AIDS (7) Immunotoxin được tạo ra bằng việc kết hợp giữa hai yếu tố : chất gây độc (toxins) có bản chất là protein và (2) tác nhân hướng dích theo các phương pháp hoá học (9) hoặc công nghệ ADN tái tổ hợp (11) Cho tới nay các toxin thường hay được dùng nhất để chế tạo ITs là các protein từ vi khuẩn [pseudomonas exotoxin (PE) hay diptheria toxin (DT)] , hoặc từ thực vật [nhóm các protein bất hoạt riboxom (RIPs) như : Ricin, pokweet anti- viral protein (PAP) Saporin (SAP) ] Cả hai loại toxin này tác động lên tế bào theo cơ chế làm bất hoạt EP-2 (PE, DT) hay tác động lên điểm gắn của EP-2 (RIPs) trên tiểu phần riboxom 28S, làm ức chế quá trình sinh tổng hợp protein (17) Mặc dù các toxin kể trên có hoạt tính cao và chỉ bằng không đến 10 phân tử có thể giết chết một tế bào đích, việc kết hợp giữa chúng để tạo ra ITs còn mang lại giá trị sử dụng cao hơn nhiều.Các kết quả nghiên cứu cũng đã cho thấy ITs tạo ra bởi các toxin kể trên có khả năng ức chế tế bào ung thư mạnh và hiệu quả hơn
từ hàng trăm tới hàng nghìn lần do có tính hướng đích và tính chọn lọc
Độc tố Melitin là gì ?
Melitin là một loại protein hay chuỗi axit amin, thu hút rất mạnh đối với màng tế bào nên ngay khi tiếp xúc với bề mặt tế bào mục tiêu, nó nhanh
Trang 11chóng thấm vào qua những lỗ nhỏ để phá vỡ và tiêu diệt chúng, kết quả là các khối u ngừng phát triển hoặc thu nhỏ
1.2 TÌNH HÌNH UNG THƯ VÚ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.2.1 Trên thế giới
Theo Hiệp hội ung thư Mỹ, ung thư vú (UTV) là một trong số những bệnh gây ra tử vong ở phụ nữ trên toàn thế giới Mỗi năm, có khoảng 1,3 triệu người bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú và 465.000 người chết vì bệnh này
Tỷ lệ mắc ung thư vú có sự chênh lệch lớn giữa các nước, cao nhất ở Hoa Kỳ
và Bắc Âu, tỷ lệ mắc trung bình ở Nam Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ và thấp nhất ở châu Á Theo nghiên cứu của hiệp hội ung thư, tỉ lệ UTV ở Mỹ đã tăng từ 80/100.000 người trong năm 1975 lên 105/100.000 người trong năm 1985 và 178/100.000 người trong năm 1998 Theo Nazario và cs, tỉ lệ UTV ở Puerto Rico đã tăng từ 15,3/100.000 người trong giai đoạn 1960-1964 lên 43,3/100.000 người trong giai đoạn 1985-1989 Tại Vaud, Thụy Sĩ, tỉ lệ UTV
đã tăng từ 2,1/100.000 phụ nữ (1997-1979) lên 9,4/100.000 phụ nữ 1994) [16, 19]
(1992-Tỉ lệ UTV ở châu Á có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt ở Nhật Bản, Hồng Kông và Singapore, nơi có lối sống tây hóa Điều này cho thấy các yếu
tố môi trường, lối sống và đặc biệt là chế độ ăn uống đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh UTV
1.2.2 Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, ung thư vú là bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ Thống kê trung bình mỗi năm có 150.000 bệnh nhân ung thư mới được phát hiện, khoảng 75.000 người chết vì bệnh này và có đến 80% trường hợp chỉ phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn Theo điều tra ở Hà Nội năm 1998, tỉ
lệ số người mắc UTV là 20,3/100.000 người, năm 2000 là 17,4/100.000
Trang 12người, năm 2006 tỉ lệ tăng lên 40/100.000 người, còn ở thành phố Hồ Chí Minh là 20/100.000 người [3]
1.3 GIỚI THIỆU VỀ UNG THƢ VÚ
1.3.1 Khái niệm chung về ung thƣ vú
UTV là bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ, bệnh diễn biến chậm, khoảng 30% số bệnh nhân UTV tiến triển nhanh và dẫn đến tử vong trong vòng vài tháng Theo ước tính, từ khi tế bào hình thành khối u đến khi phát hiện được khối u từ 1 cm thì mất khoảng từ 7 đến 8 năm Nhưng khối u có kích thước từ 1 cm đến 2 cm thì mất thời gian trung bình chỉ khoảng 4 tháng Đây là thời gian cần có sự chữa trị sớm
Thường khi về già từ độ tuổi 40 trở đi, các tế bào bất thường dị dạng (abnormal cells) hay còn gọi là tế bào ung thư phát sinh từ biểu mô ống tuyến hay biểu mô của tiểu thùy Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư sẽ phát triển nhanh chóng trong vú, tạo thành một khối u ác tính
Trong quá trình phát triển, từ khối u đó cho ra những tế bào ung thư đi vào mạch bạch huyết, lan tới các hạch bạch huyết Có khi tế bào ung thư đi theo các mạch máu để xâm nhập các cơ quan nội tạng (gan, phổi, óc ) hay bộ xương, dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm chết người
Người phụ nữ trẻ cũng có thể bị ung thư vú, nhưng xuất độ (tần xuất,
độ xảy đến) thấp hơn nhiều so với người lớn tuổi Tuổi càng cao càng dễ bị ung thư đủ loại, trong đó có ung thư vú [4, 28, 29]
1.3.2 Nguyên nhân phát sinh ung thƣ vú
Cho đến nay, con người vẫn chưa biết rõ ràng các nguyên nhân gây ung thư vú, nhưng có những yếu tố nguy cơ đã được xác định làm tăng khả năng
bị ung thư vú
a Tiền sử gia đình
Trang 13Nguy cơ bị ung thư vú tăng từ 1,5 - 3 lần nếu người phụ nữ có mẹ hoặc chị em gái mắc bệnh này Đặc biệt khi mẹ hoặc chị em gái bị ung thư
vú cả hai bên ở tuổi tiền mãn kinh thì nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ có quan hệ gia đình này đạt tới mức gần như tuyệt đối Nguy cơ ung thư vú đối với con gái sẽ tăng từ 1,7 lần nếu người mẹ bị ung thư vú một bên, lên đến 3,28 lần nếu người mẹ bị ung thư vú cả hai bên
b Tiền sử sinh sản
Tuổi có kinh, tuổi mãn kinh và tiền sử mang thai là những yếu tố liên quan chặt chẽ với UTV Người ta đã chứng minh rằng ở những phụ nữ có kinh lần đầu sớm thì thường có hàm lượng estradiol cao hơn so với phụ nữ bình thường, hormon này đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển UTV Một số nghiên cứu bệnh chứng khác cứ chậm kinh lần đầu một năm thì nguy cơ phát triển UTV sẽ giảm 20% Mãn kinh muộn sau tuổi 55 và tổng thời gian có kinh nguyệt trong cuộc đời người phụ nữ cũng là những yếu tố quan trọng trong nguy cơ gây UTV Phụ nữ chưa mang thai có nguy
cơ mắc bệnh UTV cao gấp 1,4 lần so với phụ nữ có mang thai Sinh con sau 30 tuổi có nguy cơ bị UTV cao gấp 2-5 lần so với nhóm sinh con trước tuổi 19 [12, 14]
c Thuốc tránh thai và điều trị các hormon thay thế
Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa dùng thuốc tránh thai trong thời gian dài với UTV Nếu dùng thuốc tránh thai trên 8 năm, nguy
cơ mắc UTV tăng 1,7 lần, còn nếu dùng trên 10 năm thì nguy cơ tăng tới 4,1 lần Dùng hormon thay thế ở phụ nữ mãn kinh là an toàn khi dùng trong thời gian ngắn Nếu dùng với liều trung bình trong thời gian từ 10-20 năm nguy cơ mắc UTV tăng từ 1,5 - 2,0 lần [12, 21]
d Dinh dưỡng và rượu
Trang 14Thức ăn nhiều mỡ, cũng như rượu có thể làm gia tăng rủi ro mắc bệnh ung thư vú National Cancer Institute (Viện Ung Thư Quốc Gia) khuyến khích phụ nữ nên dùng thức ăn ít mỡ, tập thể dục đều đặn, và chỉ nên dùng rượu có chừng mực [8, 9, 17]
e Yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường như thực phẩm, thuốc reserpin, cafein, thuốc xịt tóc, sự tiếp xúc với tia bức xạ ion hóa từ nguồn tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm tăng nguy cơ phát triển UTV Gần đây, những nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa khói thuốc lá và sự gia tăng nguy cơ mắc UTV Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy các hợp chất hữu cơ chứa Clo như PCBs (polychlorinated biphenyls) cũng làm tăng nguy cơ mắc UTV [6]
1.3.3 Các phương pháp chẩn đoán
a Phương pháp vật lý: siêu âm, chụp cộng hưởng từ, chụp hình cắt lớp
phát xạ positron, chiếu xạ hình MIBI, chụp cắt lớp vi tính, nhiệt ký, chiếu sáng qua mô và chụp thấu quang
b Phương pháp giải phẫu bệnh lý: Sinh thiết, xét nghiệm giải phẫu
bệnh lý, chẩn đoán lâm sàng (kích thước u, hạch và di căn)
c Phương pháp hóa sinh và hóa sinh miễn dịch: nguyên lý của
phương pháp dựa trên cơ sở khi cơ thể có khối u, bản thân tế bào ung thư sẽ phát sinh ra những chất mới đặc hiệu, mà các chất này đóng vai trò như chất nhận biết cho các tế bào ung thư này Các chất này thường được gọi tên
“tumor marker” và được phát hiện bằng các phương pháp miễn dịch
Tumor marker (TM): TM của cơ thể có thể là những phân tử protein, axit nucleic, enzym, hormon hay một số tế bào đặc biệt trong cơ thể khi xuất hiện những TBUT Việc phát hiện những chất này được thực hiện bằng các
Trang 15phản ứng miễn dịch với kháng thể đặc hiệu, có độ nhạy cao Ví dụ, có thể dùng kháng thể đơn dòng để nhận biết CD33, CD20,…
d Phương pháp chẩn đoán thông qua một số gen đặc trưng: Sau đây
là một số gen đặc trưng được dùng để chẩn đoán bệnh UTV:
- Yếu tố phát triển mô HER2: Đây là phương pháp xác định sự khuếch
đại quá mức và biểu hiện quá mức của HER2 trong tế bào UTV HER2 là một thụ thể trên màng tế bào, có bản chất là một glycoprotein HER2 đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, biệt hóa, sự kết dính và sự chết của tế bào Cấu trúc, vai trò và chức năng của HER2 sẽ được trình bày chi tiết hơn ở phần sau
- Gen p53: đây là gen mã hóa cho phosphoprotein p53 của nhân, điều
hòa sự chết theo chương trình của tế bào (apoptosis) Thông thường p53 có thời gian bán hủy rất ngắn nên không thể phát hiện được bằng phương pháp hóa mô miễn dịch Trong tế bào ung thư, gen p53 đột biến làm kéo dài thời gian bán hủy của protein p53 nên có thể phát hiện bằng phương pháp hóa mô miễn dịch
- Gen telomerase: mã hóa cho ribonucleoprotein ADN polymerase, có
chức năng duy trì vùng telomersis của nhiểm sắc thể bị mất khi mỗi lần phân chia
- Gen CEA (carcinoembryonic antigen): mã hóa cho kháng nguyên bề
mặt của tế bào ung thư
- Gen cytokeratin 19 (CK19): dùng để chẩn đoán di căn ung thư vú, đạt tới 67%
- Gen TMS-1 (target of methylation-induced silencing) có chức năng
trong điều hòa quá trình chết theo chương trình
Trang 16- Gen BRCAI (breast cancer gene 1): Vào những năm đầu thập kỷ 90,
bằng việc nghiên cứu phân tích sự kết hợp một vị trí đặc hiệu ở nhóm nguy cơ
cao ung thư vú, người ta đã tìm thấy gen BRCAI BRCAI nằm trên một locus
nhỏ của nhiễm sắc thể 17 đôi 12 và 21 Phụ nữ bị đột biến trên BRCAI ước tính nguy cơ ung thư vú là 20% ở tuổi 40, 51% ở tuổi 50 và 81% ở tuổi 70
- Gen BRCAII (breast cancer gene 2): BRCA2 nằm trên nhiễm sắc thể
13, được phân lập vào năm 1995 Gen này nằm ngay cạnh gen nguyên bào võng mạc (RBI) BRCAII chiếm khoảng 35% đến 40% ung thư vú mang tính
di truyền và đã tìm thấy trong những gia đình bị ung thư vú, gặp cả ở nam và
nữ
- Gen BRCAIII (breast cancer gene 3): Trong số những gia đình có
nguy cơ cao bị ung thư vú, có khoảng 10.20% không thấy có mối liên quan
hoặc BRCAI hoặc BRCAII Giả thuyết có thể có một gen BRCAIII liên quan
đến ung thư vú Phân tích mối liên quan trong 8 gia đình đã cung cấp một số
dữ liệu bước đầu cho thấy có một gen thứ 3 liên quan đến ung thư vú
Ngoài ra, gần đây các nhà khoa học đang quan tâm nghiên cứu đến đột biến gen ti thể có liên quan tới chẩn đoán UTV
1.3.4 Các phương pháp điều trị
a) Hóa chất trị liệu: là phương pháp dùng hóa chất để tiêu diệt tế bào
ung thư vú như: adriamycin, cytoxan, taxol, taxotere, navelbine Mỗi loại lại
có cơ chế tác động riêng nhằm ngăn cản sự sinh sôi không kiểm soát của tế bào Ví dụ: adriamycin có tác dụng gắn vào chuỗi ADN làm cho tế bào không thể phân chia được trong khi taxol và taxotere thì gây độc tế bào ung thư bằng cách ức chế sự phân chia của tubulin
b) Hormon trị liệu: đây là phương pháp điều trị ung thư bằng cách
ngăn cản hay cho thêm kích thích tố vào cơ thể Rất nhiều trường hợp UTV
Trang 17phát triển dưới sự kích thích của các kích thích tố Nếu chế ngự được sự kích thích này, các tế bào ung thư có thể ngừng phát triển hay bị tiêu diệt Các biệt dược thông thường được dùng trong nhóm này gồm tamoxifen, toremifene, anastrozole, letrozole
c) Kháng thể đơn dòng: hiện nay trên thị trường đã có nhiều loại
kháng thể đơn dòng để phòng chống bệnh UTV như: muMAb, Herceptin, Lapatinib, immunoliposomes Các kháng thể đơn dòng sẽ được trình bày rõ hơn trong phần tiếp theo
1.4 KHÁNG NGUYÊN HER2 ĐẶC HIỆU TẾ BÀO UNG THƢ VÚ
1.4.1 Khái quát về kháng nguyên HER2
EGF (Epidermal growth factor) là một trong những yếu tố tăng trưởng được biết đến sớm nhất Stanley Cohen và cs tìm thấy yếu tố này lần đầu tiên vào năm 1962
Thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì – gọi là EGFR (epidermal growth factor receptor) nằm trên bề mặt tế bào Đây là một glycoprotein xuyên màng, phần nằm bên trong tế bào của thụ thể này gắn với một tyrosine kinaze Tyrosine kinaze này được hoạt hóa khi EGF đến gắn với thụ thể này Thụ thể này do một gen nằm trong tế bào quy định Sự khuếch đại của gen này sẽ làm thay đổi thụ thể này và có thể gây gia tăng nguy cơ ung thư ở súc vật thí nghiệm và ở người Gen quy định EGF và thụ thể EGFR đã được tìm thấy ở mô tuyến vú bình thường và nhiều loại mô khác, nó điều hòa sự phân bào, sự sống và sự biệt hóa của nhiều loại tế bào
Thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì cũng là một nhóm, gồm 4 loại thụ thể: EGFR hay HER-1, HER-2, HER-3 và HER-4 (Human Epidermal growth factor Receptor) Trong đó được biết đến và được nghiên cứu nhiều
Trang 18nhất là HER-2 Gen quy định thụ thể này nằm trên nhánh q của NST 17, mã hóa một thụ thể có chứa tyrosine kinse xuyên màng
1.4.2 Cấu trúc của HER2
1.4.2.1 Cấu trúc gen HER2
Gen HER2 được nghiên cứu phát hiện ra với tên HER-2 và eerG bởi hai nhóm nghiên cứu độc lập vào năm 1985 (Coussens et al., 1985; Semba et al., 1985) Tuy nhiên, các nghiên cứu sau đó cho thấy hai gen này
c-erbB-hoàn toàn giống nhau và thống nhất đặt tên gọi HER-2/neu (HER2) HER2
thuộc họ gen mã hóa các thụ thể sinh trưởng của các tế bào biểu bì HER (Human Epidermal Growth Factor Receptor) Nó còn có các tên gọi khác như
v-erb-b2, Neu, TKR1, NGL, HER2, nằm ở nhiễm sắc thể số 17, gần với tâm động, ở vị trí q11.2 - q12.0 HER2 là một gen tiền ung thư (proto-oncogen) có
chiều dài 30528 bp chứa 27 exon, tổng chiều dài các exon là 4477 bp trong đó exon dài nhất có 969 bp, exon ngắn nhất có chiều dài 48 bp, gen này có 3 bản sao tương đồng tương ứng với 3 allele B1( Ile-654/Ile655); allele B2 (Ile-654/Val-655); allele B3 (Val-654/Val-655)
Mặc dù kích thước gen HER2 trong hệ gen là rất lớn nhưng quá trình
hiệu chỉnh sau khi phiên mã tạo ra mARN trưởng thành với khoảng 1800 bp [1, 5, 18, 20, 22]
1.4.2.2 Cấu trúc protein HER2
Protein HER2 có khối lượng phân tử 185 kDa, gồm 3 phần chính:
+ Một vùng ngoại bào giàu Cystein có chứa phần đầu N của thụ thể Nằm ở vùng ngoại bào này là một vùng lớn có khả năng gắn kết với các yếu
tố tăng trưởng biểu mô
+ Vùng xuyên màng lipit
Trang 19+ Vùng nội bào có chứa đuôi C có mang các gốc tyrosine được phosphoryl hóa chịu trách nhiệm cho hoạt tính tyrosine kinase của thụ thể
Hình 1.1 Cấu trúc của protein HER2 [74]
Cấu trúc của HER2/neu: (1): Vùng ngoại bào gồm có 2 vùng liên kết với chất cảm ứng LD1, LD2 (Ligand binding regions); (2): Hai vùng giàu Cystein (CR1 và CR2); (3): Một vùng xuyên màng (TM – transmembrane); (4): Một vùng có hoạt tính tyrosine kinase (TK); (5): Một đuôi Cacboxyl (CT – Carboxyl terminal)
Thụ thể HER2 bao gồm phần ngoại bào khoảng 632 amino acid, vùng xuyên màng dài 22 amino acid và vùng tyrosine kinase nội bào được cấu trúc
từ 580 amino acid Vùng ngoại bào của HER2 gồm 4 tiểu vùng: Tiểu vùng I bao gồm các gốc amino acid từ vị trí số 1 đến vị trí 195 (SEQ1); tiểu vùng II
từ 196 319 (SEQ2); tiểu vùng III từ 320 488 (SEQ3); tiểu vùng IV từ 489
-630 (SEQ4) Thụ thể HER bình thường tồn tại ở trạng thái đơn phân bất hoạt
Sự hoạt hóa thụ thể xảy ra khi có ligand bám vào và làm hoạt hóa một dãy các quá trình dẫn đến sự nhị hợp giữa các thụ thể, và cuối cùng làm trung gian
Trang 20cho các quá trình sinh học như sự tăng trưởng và biệt hóa tế bào [7, 10, 11,
27]
1.4.2.3 Sự khuếch đại HER2 và cơ chế gây ung thƣ của HER2
Tất cả các tế bào biểu mô bình thường chứa đựng 2 bản sao của gen
HER2 và là mức thấp nhất của thụ thể HER2 trên bề mặt tế bào Trong một vài trường hợp, số lượng các bản sao của gen HER2 tăng lên dẫn đến sự phiên
mã ra mARN tăng, số lượng các thụ thể HER2 cũng tăng lên trên bề mặt tế
bào gọi là sự biểu hiện quá mức của gen HER2
Hình 1.2 Sự biểu hiện quá mức của HER2 trên bề mặt tế bào
Thụ thể HER2 không cần có các chất liên kết để hoạt hóa mà cấu trúc của nó luôn luôn trong trạng thái “mở”, bắt chước trạng thái liên kết với ligand, làm cho nó có khả năng bắt cặp hình thành trạng thái nhị hợp (dimer) với bản thân nó hoặc với các thành viên khác trong họ như HER1, HER3, HER4
Sự biểu hiện quá mức của HER2 là tác nhân làm tăng dimer hóa giữa HER2 với chính nó và các thụ thể khác (HER1, HER3) Đó cũng là những tín
Trang 21hiệu khởi đầu cho các con đường sinh ung thư khác nhau Dưới đây là một đề xuất của Moaser về con đường sinh ung thư do sự biểu hiện quá mức của HER2
Hình 1.3 Sự bất bình thường trong việc truyền tín hiệu do sự biểu hiện quá mức
của HER2
Sự biểu hiện quá mức của HER2 là nguyên nhân của sự tăng dimer hóa Tăng dimer HER2-EGFR dẫn tới sự tăng sinh và sự xâm lấn của tế bào Sự tăng dimer hóa đồng hình HER2 làm mất tính phân cực của tế bào Sự tăng dimer HER2-HER3 có ảnh hưởng tới sự tăng sinh, khả năng tồn tại, tính xâm lấn và chức năng trao đổi chất của tế bào Tăng sự biểu hiện quá mức của HER2 dẫn tới tăng cường độ truyền tín hiệu Một vài yếu tố phiên mã được cảm ứng trong những tế bào có sự biểu hiện quá mức HER2 là kết quả của những sự thay đổi biểu hiện gen
ở mức dư thừa
Feldman và cs (2007) đã đưa ra mô hình về con đường truyền tín hiệu của những thụ thể hoạt động này Ở trạng thái hoạt động nó kích thích con đường truyền tín hiệu phosphatidyl inositol 3′-kinase (PI3K) thông qua việc
Trang 22gắn tiểu phần p85 vào Akt, dẫn tới hoạt hóa Akt Akt làm bất hoạt các phân tử tiền apoptosis bao gồm Bad, caspase-9 và p53 Thêm vào đó, dưới tác động của Akt, các hoạt động chuyển hóa glucose, các kênh vận chuyển glucose (GLUT) (nhờ sự phosphoryl GSK3) và sự tổng hợp protein, chu trình phát triển của tế bào (thông qua sự phosphoryl hóa của protein p90RSK, p70S6K, mTOR) đều tăng lên là những nhân tố ngăn chặn quá trình apoptosis Hơn thế nữa, sự hoạt hóa các yếu tố phiên mã B (nuclear factor B) còn kích ứng sự biểu hiện của các gen anti-apoptosis thông qua các protein c-IAP1-2, TRAP 1-2, và A1/Bfl-1 Kết quả của sự tăng sinh này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới quá trình hình thành ung thư [13, 15]
Hình 1.4 Cơ chế gây ung thư của HER2
1.5 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHÁNG THỂ - KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG
1.5.1 Cấu tạo chung của kháng thể (Immunoglobulin)
Kháng thể (antibody) là các globulin có trong huyết thanh của động vật
và có khả năng liên kết đặc hiệu với kháng nguyên đã kích thích sinh ra nó
Trang 23Kháng thể theo định nghĩa trên đây được gọi là kháng thể miễn dịch
(Immunoglobulin, Kí hiệu là Ig)
Tất cả các kháng thể đều có cấu trúc giống nhau gồm một hay nhiều đơn
vị hợp thành Mỗi đơn vị là một phân tử protein chứa 4 chuỗi polypeptide, 2 chuỗi nặng (kí hiệu là H) và 2 chuỗi nhẹ (kí hiệu là L) Chuỗi nặng và chuỗi nhẹ được nối với nhau bằng 1 cầu disulfide, hai chuỗi nặng được nối với nhau bởi 2 cầu disulfide
Chuỗi nhẹ: Ở tất cả các lớp globulin miễn dịch đều có hai loại chuỗi
nhẹ, chuỗi nhẹ kapa (κ) và lambda (λ) Mỗi phân tử Ig chỉ chứa hoặc hai chuỗi nhẹ lambda hoặc hai chuỗi nhẹ kapa mà không bao giờ chứa cả hai loại Mỗi chuỗi nhẹ của Ig chứa hai vùng axit amin, một vùng có trật tự axit amin
có thể thay đổi gọi là vùng biến đổi có ki hiệu VL(variable) Vùng này nằm ở phía đầu amin (-NH2) của phân tử Vùng còn lại có trật tự axit amin không thay đổi gội là vùng hằng định kí hiệu CL(constant) Vùng này nằm ở phía đầu cacboxyl (-COOH)
Chuỗi nặng: có 5 loại chuỗi nặng là μ, γ, δ, α và ε ứng với 5 lớp kháng
thể là IgM, IgG, IgD, IgA và IgE Chuỗi nặng chứa 4 vùng axit amin, một vùng biến đổi và 3 vùng cố định Cũng tương tự như ở chuỗi nhẹ, vùng biến đổi của chuỗi nặng nằm ở phần đầu amin Vùng này có kí hiệu là VH Vùng
cố định nằm ở đầu cacboxyl Ba vùng cố định của chuỗi nặng được kí hiệu là
CH 1, CH 2, CH 3. Hai vùng biến đổi của chuỗi nặng và chuỗi nhẹ nằm kề nhau tạo thành vị trí kết hợp kháng nguyên hay paratop do vậy đảm bảo tính đa dạng của kháng thể [2]
Trang 24Hình 1.5 Sơ đồ cấu tạo của kháng thể
1.5.2 Kháng thể đơn dòng
Kháng thể đơn dòng là kháng thể được tạo ra từ một dòng tương bào biệt hóa từ lympho B ban đầu sau khi được kích thích bởi một quyết định kháng nguyên Kháng thể đơn dòng do quyết định kháng nguyên nào kích thích thì chỉ kết hợp đặc hiệu với quyết định kháng nguyên ấy mà thôi
1.5.3 Kháng thể đơn chuỗi – Mảnh kháng thể
Trong cấu tạo của bất kỳ một kháng thể tự nhiên nào đều có 4 vùng biến
đổi (V - Variable) Sự kết hợp giữa 1 vùng biến thiên trên chuỗi nặng (VH) và
1 vùng biến thiên trên chuỗi nhẹ (VL) tạo nên vị trí nhận diện kháng nguyên (paratope) Như vậy, mỗi immunoglobulin có hai vị trí gắn kháng nguyên Hai vị trí này giống nhau như đúc, qua đó một kháng thể có thể gắn được với
2 kháng nguyên giống nhau Hai "cánh tay" của chữ Y còn gọi là Fab (tức là
phần nhận biết kháng nguyên, F: fragment, ab: antigen binding) Vùng kháng
nguyên gắn vào kháng thể gọi là epitope
Trang 25Các kháng thể tự nhiên thường có kích thước lớn, khi có một tác nhân gây bệnh xâm nhập vào trong cơ thể, nó được tổng hợp chậm và do có kích thước lớn nên đôi khi nó được chuyển đến đích tác dụng chậm với tác nhân gây bệnh Với công nghệ ADN tái tổ hợp hiện nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu tạo ra các kháng thể tái tổ hợp, tối ưu hóa các kháng thể đó mà vẫn đảm bảo được tính đặc hiệu với kháng nguyên Cho đến nay đã có nhiều thế hệ kháng thể tái tổ hợp được sản xuất ra
Các phân tử kháng thể chứa các domain protein riêng biệt mà có thể phân tách bằng protease hoặc được tạo ra nhờ kỹ thuật tái tổ hợp Hai mảnh kháng thể được thiết kế gắn với kháng nguyên - Fab và Fv đã được tách dòng và bộc lộ trên phage Mảnh kháng thể lớn hơn - Fab gồm các phần VH
- CH và VL - CL liên kết với nhau bằng cầu disulfide, còn mảnh kháng thể nhỏ hơn Fv chỉ bao gồm vùng VH và VL
Hình 1.6 Sơ đồ cấu tạo của mảnh kháng thể đơn chuỗi
Dạng tái tổ hợp của Fv là mảnh biến đổi đơn chuỗi (scFv) Hai vùng biến đổi trong mảnh kháng thể tái tổ hợp đơn chuỗi (scFv) được nối với nhau bằng một đoạn peptide, thường gồm 15 axit amin có trình tự (Gly4Ser)3 và được biểu hiện như một chuỗi polypeptide đơn (Hình 6) Đoạn nối cho phép vùng biến đổi của chuỗi nặng (VH) kết hợp với vùng biến đổi của chuỗi nhẹ
Trang 26(VL) tạo thành phân tử đơn chuỗi Phân tử tái tổ hợp tạo ra vẫn bảo tồn hoạt tính nhận biết và liên kết đặc hiệu với kháng nguyên đích Đặc điểm của các mảnh kháng thể khác nhau được tóm tắt trong bảng số 1 [23, 24, 25]
1 Vùng VH và VL nối với nhau bằng
một linker dài 15 axit amin
Fv 25 kDa 1 Giữa VH và VL không có đoạn nối
(linker) Minibody 80 kDa 2 Một protein dung hợp ở trạng thái
nhị phân gồm 2 mảnh scFv-CH3 Fab 50 kDa 1 Gồm hai chuỗi: VH-CH1 và VL-CL
F(ab’)2 100 kDa 2 Gồm 2 phân tử Fab
IgG 150 kDa 2 Phân tử kháng thể mẹ gồm: 2
chuỗi nặng (VH-CH1-CH2-CH3) và
2 chuỗi nhẹ (VL-CL)
1.5.4 Một số kháng thể đơn dòng sử dụng trong điều trị ung thƣ vú
Hiện nay, sử dụng công nghệ ADN tái tổ hợp các nhà khoa học đã nghiên cứu để tạo ra các kháng thể đơn dòng tái tổ hợp đặc hiệu với HER2 giúp cho sự chẩn đoán và điều trị mang lại hiệu quả cao hơn trong UTV
Ở Việt Nam, các thuốc chữa ung thư có bản chất kháng thể đơn dòng cũng đã xuất hiện nhưng với giá thành rất cao, phạm vi áp dụng hẹp, không thể đáp ứng được nhu cầu chữa trị của bệnh nhân Do đó việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất các thuốc chữa trị ung thư bằng công nghệ ADN tái tổ hợp đang
Trang 27rất được quan tâm Đối với bệnh UTV dương tính với HER2 thì bước đầu tiên của quá trình là tách được toàn bộ gen HER2, sau đó có thể phát triển theo các hướng quan tâm như chế tạo thuốc hay tạo các kít chẩn đoán sớm Sau đây là một số loại kháng thể đang được sử dụng trong điều trị UTV dương tính với HER2:
- Kháng thể đơn dòng kháng HER2 từ bò (muMAb ): muMAb là kháng
thể đơn dòng tương tác với kháng nguyên HER2 nằm trên bề mặt của tế bào muMAb 4D5 đem lại hiệu quả mong muốn trong việc chống lại sự phân chia
của các dòng tế bào ung thư vú ở người in vitro có sự biểu hiện quá mức thụ
thể HER2 mà không ảnh hưởng đến các dòng tế bào không biểu hiện quá mức gen này Các thử nghiệm cận lâm sàng với muMAb 4D5 trên mẫu ghép UTV
và ung thư buồng trứng đã khẳng định tác dụng trị liệu của muMAb 4D5
- Trastuzumab (Tên thương mại: Herceptin) : được phát triển từ
muMAb 4D5, nhưng trastuzumab có khả năng gắn với domain trên bề mặt ngoài tế bào của HER2 với ái lực lớn gấp 3 lần so ái lực của muMAb 4D5 Trastuzumab giống muMAb 4D5 ở khả năng ngăn chặn sự lớn lên của khối u
in vitro, tuy nhiên không giống muMAb 4D5, nó còn có thể cảm ứng sự gây
độc tế bào phụ thuộc kháng thể đối với các dòng tế bào ung thư vú
Herceptin tác dụng theo 3 con đường khác nhau:
1 Ức chế sự phát triển của khối u
Herceptin liên kết với thụ thể protein HER2 trên bề mặt tế bào khối u HER2 với Herceptin gắn vào, được kéo lùi vào trong tế bào Khi HER2 không còn ở trên bề mặt tế bào thì chúng sẽ không thể tạo nên tín hiệu làm tăng trưởng
và phân chia tế bào
2 Làm tín hiệu cho hệ miễn dịch
Trang 28Herceptin gắn vào thụ thể HER2 trên bề mặt tế bào khối u Sau đó có một số tế bào trong hệ miễn dịch, có thể là các tế bào diệt tự nhiên (NK – Natural Killer), gắn với Herceptin Các tế bào NK có khả năng nhận ra các tế bào khối u đó là bất thường và giết chết các tế bào khối u
3 Tác động kết hợp với hoá trị liệu
Herceptin và hoá trị liệu tác động ở các con đường khác nhau, nhưng khi kết hợp cùng nhau, cả hai loại thuốc đó có thể hình thành nên một sự cộng tác Ví dụ, khi Herceptin được sử dụng với hoá trị liệu mà tấn công và phá huỷ ADN trong nhân của các tế bào khối u, Herceptin ngăn chặn không cho tế bào sửa chữa chúng Do đó sự sửa chữa không được thực hiện và dẫn đến tế bào sẽ bị chết Điều này làm chậm lại quá trình sinh trưởng của khối u Herceptin cũng tác động kết hợp với các loại thuốc hoá trị liệu khác
và hoạt động theo các con đường khác nhau, tuy nhiên các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết chính xác được quá trình đó xảy ra như thế nào [26]
Hình 1.7 Cơ chế tác động của Herceptin đối với tế bào UTV
Herceptin (Tratuzumab) gắn kết với vùng ngoại bào của thụ thể HER2 trên bề mặt
tế bào ung thư vú, ức chế sự phân cắt vùng này để tương tác với các thụ thể khác trong
Trang 29họ HER, làm cảm ứng sự chết theo chương trình của tế bào ung thư, giảm sự biệt hóa tế
bào, làm giảm sự biểu hiện của HER2…
Herceptin đã được FDA chấp thuận (1998) sử dụng lần đầu tiên kết hợp
với paclitaxel trong việc điều trị UTV di căn dương tính với sự biểu hiện quá
mức thụ thể HER2
1.5.5 Kháng thể kháng HER2 gắn Melitin
Một trong những liệu pháp mới đang được quan tâm là sự kết hợp giữa
phân tử kháng thể hướng đích điều trị với phân tử gây độc tế bào Độc tố
miễn dịch (Its) kết quả của sự kết hợp này đang được hi vọng là sẽ mang lại
hiệu quả cao hơn Với hướng phát triển đó, chúng tôi đã lựa chọn Melitin để
tạo phân tử đọc Its sử dụng trong điều trị ung thư vú Melitin là một peptide
gồm 26amino axid, chiếm 50% trọng lượng khô của lọc độc ong, có khả năng
phá huỷ tế bào do phá vỡ cấu trúc màng tế bào (8) Gen mã hoá độc tố miễn
dich được tạo ra bằng công nghệ gen bao gồm phần mã hoá kháng thể đơn
chuỗi đặc hiệu HER2 và phần mã hoá melitin (Lê Quang Huấn, 2004) (1)
Trang 30Chương II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vector biểu hiện pET21-a(+)
Các enzyme giới hạn EcoRI, và NotI,
Anti-HER2F: 5’- 3’
- Các hóa chất dùng trong điện di polyacrylamid: Acrylamid, Bis- acrylamid Tris-HCl, Glycerol, SDS, APS, temed, ……
- Chất cảm ứng IPTG
- Các hóa chất dùng để tinh sạch protein: Guanidinium lysis buffer, Denaturing binding buffer, Denaturing wash buffer, Native wash buffer, Native elution buffer
Môi trường
Trang 31- LB lỏng: trypton 1%, yeast extract 0.5%, NaCl 1%
- LB đặc: trypton 1%, yeast extract 0.5%, NaCl 1%, agar 1,5%
Môi trường được khử trùng ở 121o
C, 0,8 atm trong 30 phút
2.1.3 Thiết bị
Lò vi sóng (SamSung, Hàn Quốc) Tủ cấy vô trùng (Sanyo, Nhật) Máy li tâm (Eppendorf, Đức) Bộ điện di protein (Bio-Rad)
Máy đo pH (Metter, Thuỵ Sĩ) Máy Vortex (Rotolab OSI)
Máy soi gel (Pharmacia, Mỹ) Máy đọc trình tự (Mỹ)
Máy lắc ổn nhiệt 37o
C, 30oC, 28oC Bể ổn nhiệt (Teche, OSI) Cân phân tích 10-4 g (Mettler Toledo) Pipetman các loại (Gilson)
Cân điện 10-1
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 PCR
Kỹ thuật PCR được Karl Mullis và các cộng sự phát minh năm 1985
(giải Nobel hoá học năm 1993) Đây là kỹ thuật khuếch đại đặc hiệu in vitro
đoạn ADN nằm giữa hai đoạn trình tự ADN đã biết (đoạn mồi) PCR là một phản ứng sinh hóa phụ thuộc vào nhiệt độ, có sự tham gia của một loại
enzyme ADN polymerase chịu nhiệt và sử dụng nguyên lý như quá trình sao
chép ADN trong tự nhiên
Nguyên tắc: Dựa trên sự lai đặc hiệu giữa ADN mồi với ADN khuôn
theo nguyên tắc bổ sung và phản ứng kéo dài chuỗi của ADN polymerase trong ống nghiệm (in vitro) Do đó từ một đoạn gen đã biết trước ta có thể
tổng hợp nên số lượng lớn gen đó trong ống nghiệm
Trang 32Thành phần phản ứng, các điều kiện về nhiệt độ và thời gian của toàn
bộ quy trình như sau:
Thành phần Thể tích (l)
Dung dịch đệm 10X dNTPs (10nM) MgCl2 (25nM) BSA 1X
Primer F (10pM) Primer R (10pM) ADN mẫu
Taq ADN polymerase
H20 Tổng
2,5 2,5 2,5
4
1
1
2 0,3 9,2
25 Chương trình thực hiện phản ứng PCR
Trang 332.2.2 C¾t b»ng enzyme giíi h¹n
Thµnh phÇn hçn hîp ph¶n øng c¾t ADN plasmid b»ng enzyme giíi h¹n
EcoRI:
Thành phần Thể tích (l) Plasmid
C, 4h
Thµnh phÇn hçn hîp ph¶n øng c¾t ADN plasmid b»ng enzyme giíi h¹n
NotI:
Thành phần Thể tích (l) ADN/Plasmid
Dung dịch đệm 4 BSA
Ủ hỗn hợp 370C, thời gian 4h
2.2.3 Phương pháp thiết kế vector biểu hiện
Thiết kế vector mang gen hermel: Vector pET-21a(+) được cắt bằng
hai enzyme giới hạn tại hai vị trí nhận biết của enzyme giới hạn EcoRI và
Trang 34NotI, gen mã hoá độc tố miễn dịch hermel trong vector tách dòng TOPO PCR
2.1 cũng được cắt bằng hai enzyme trên Sản phẩm cắt được tinh sạch và điện
di trên gel agarose 0.8%, sau đó được gắn vào vector biểu hiện pET-21a(+)
Sản phẩm thôi gel được gắn vào vector pET21a(+) cũng đã được cắt
với 2 enzyme giới hạn EcoRI và NotI Các dòng tế bào có chứa vector tái tổ
hợp mang gen mã hoá độc tố miễn dịch được chọn lọc bằng cách so sánh kích thước tương đối của ADN plasmid cũng như kết quả cắt kiểm tra bằng các
enzyme giới hạn EcoRI và NotI
Kết quả này còn được khẳng định bởi việc xác định trình tự nucleotide
của gen hermel sau khi được gắn vào vector biểu hiện pET21a(+) tại các vị trí
nhận biết của enzyme giới hạn EcolRI và NotI Gen hermel chứa các vùng
chức năng cũng như mã mở đầu, mã kết thúc theo đúng thiết kế (xem phần
phân tích trình tự dưới đây) Trình tự gen hermel đã được đăng ký trong Ngân hàng gen quốc tế với mã số: AM402973 Plasmid chứa gen hermel sau khi
được xác định trình tự được tinh sạch và biến nạp vào E.coli chủng Rosetta để biểu hiện gen tái tổ hợp ở nhiệt độ 37o
C sau 4h cảm ứng với nồng độ 0.6 mM IPTG
Trang 35
Biến nạp
Biểu hiện
Tinh sạch
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt quá trình biểu hiện độc tố miễn dịch đặc hiệu kháng
nguyên Her2 trong E coli
Chú thích: Biến nạp: - Làm tế bào khả biến (chủng E coli BL 21 (DE 3 ))
- Biến nạp plasmid tái tổ hợp vào tế bào khả biến Biểu hiện: - Cảm ứng bằng IPTG
scFv đặc hiệu HER2