Kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 và 2009, nền kinh tế thế giới luôn biến động không ngừng, đối mặt với những khó khăn không thể lường trước được: giá vàng dao động mạnh chưa từng có và liên tiếp lập các đỉnh lịch sử, khủng hoảng nợ của Hy Lạp lan rộng ra khắp các nước châu Âu, giá nguyên vật liệu leo thang đặc biêt là giá dầu..Trong nước, đối mặt với bất ổn kinh tế vĩ mô là một thách thức lớn nhất. Ngoài tác động của biến động kinh tế thế giới, những khó khăn trong nước còn xuất phát từ những yếu kém nội tại của nền kinh tế giá cả tăng cao, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 và 11/2010 lần lượt là 1,9% , 2% và vượt lên trên 2% vào các tháng 2, 3/2011.Trong bối cảnh như vậy, chính sách tiền tệ (CSTT) thắt chặt đã được áp dụng kể từ ngày 5/11/2010 và được tăng cường với Nghị quyết 11 ngày 24/2/2011. Chính sách tiền tệ thắt chặt của NHNN đã đem lai những kết quả nhất định trong việc kiềm chế lạm phát và ổn định được tỷ giá góp phần ổn định nền kinh tế trong nước và cho tới nay NHNN vẫn duy trì thực hiện chính sách này. Để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong 2 năm 2011 và 9 tháng đầu năm 2012, NHNH đã sử dụng cả công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp can thiệp vào thị trường tiền tệ trong đó công cụ trực tiếp cũng đã mang lại những hiệu quả nhất định. I.Các công cụ chính sách tiền tệ trực tiếp Đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông( hoặc các mức lãi suất). Loại công cụ này được NHTW sử dụng dưới các hình thức: quy định hạn mức tín dụng, khống chế trực tiếp lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay, khống chế trực tiếp tỷ giá mua – bán ngoại tệ của các ngân hàng. 1.Hạn mức tín dụng - Khái niệm: Hạn mức tín dụng là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng ,lạm phát ...) sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định . - Cơ chế tác động: Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM. - Đặc điểm: Hạn mức tín dụng giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất
Trang 1trực tiếp của NHNN Việt Nam
từ năm 2011 đến nay
Kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 và 2009, nền kinh tế thế giới luôn biến động không ngừng, đối mặt với những khó khăn không thể lường trước được: giá vàng dao động mạnh chưa từng có và liên tiếp lập các đỉnh lịch
sử, khủng hoảng nợ của Hy Lạp lan rộng ra khắp các nước châu Âu, giá nguyên vật liệu leo thang đặc biêt là giá dầu Trong nước, đối mặt với bất ổn kinh tế vĩ
mô là một thách thức lớn nhất Ngoài tác động của biến động kinh tế thế giới, những khó khăn trong nước còn xuất phát từ những yếu kém nội tại của nền kinh tế giá cả tăng cao, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 và 11/2010 lần lượt
là 1,9% , 2% và vượt lên trên 2% vào các tháng 2, 3/2011.Trong bối cảnh như vậy, chính sách tiền tệ (CSTT) thắt chặt đã được áp dụng kể từ ngày 5/11/2010
và được tăng cường với Nghị quyết 11 ngày 24/2/2011 Chính sách tiền tệ thắt chặt của NHNN đã đem lai những kết quả nhất định trong việc kiềm chế lạm phát và ổn định được tỷ giá góp phần ổn định nền kinh tế trong nước và cho tới nay NHNN vẫn duy trì thực hiện chính sách này Để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong 2 năm 2011 và 9 tháng đầu năm 2012, NHNH đã sử dụng cả công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp can thiệp vào thị trường tiền tệ trong đó công cụ trực tiếp cũng đã mang lại những hiệu quả nhất định
I.Các công cụ chính sách tiền tệ trực tiếp
Đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông( hoặc các mức lãi suất) Loại công cụ này được NHTW sử dụng dưới các hình thức: quy định hạn mức tín dụng, khống chế trực tiếp lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay, khống chế trực tiếp tỷ giá mua – bán ngoại tệ của các ngân hàng
1.Hạn mức tín dụng
- Khái niệm: Hạn mức tín dụng là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của
các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định
ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô (tốc độ tăng trưởng ,lạm phát ) sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM
và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định
- Cơ chế tác động: Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với
lượng tiền cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM
- Đặc điểm: Hạn mức tín dụng giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng
tiền cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất
Trang 2thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế Song nhược điểm của nó rất lớn: triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế ,dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên
2 Lãi suất
- Khái niệm: NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất cho
vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đó ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản lý mức cung tiền của mình
- Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo
- Đặc điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của từng thời kỳ; điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện
để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.Song nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trng nền kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình
3 Tỷ giá
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ( mà đại diện là NHTW)
thông qua một chế độ tỷ giá nhất định( hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức nào cần thiêt phù hợp với mục tiêu chính sách kinh
tế quốc gia Chính sách tỷ giá có vai trò rất quan trọng Nó có thể được sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tăng công ăn việc làm tuy nhiên hiệu quả tác động của chính sách tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu là rõ ràng và nhanh chóng nhất
do vậy trong điều kiện mở cửa, hợp tác, hội nhập và tự do hóa thương mại, các quốc gia luôn sử dụng tỷ giá trước hết như là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của mình
II Thực trạng sử dụng công cụ trực tiếp từ năm 2011 đến nay
1.Hạn mức tín dụng
Năm 2011
Trong năm 2011 nhờ áp dụng các biện pháp mạnh tay, kiên quyết và linh hoạt của cơ quan điều hành, thị trường tiền tệ đã tương đối ổn định Tín dụng được kiểm soát chặt chẽ, tăng ở mức thấp, cơ cấu tín dụng chuyển theo hướng tích cực, tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu, giảm cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất Đến cuối năm 2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống tăng 12%, trong đó tín dụng Việt Nam đồng tăng
Trang 310,2%; tín dụng ngoại tệ tăng 18,7% Các biện pháp bình ổn thị trường ngoại hối đã góp phần cải thiện thanh khoản ngoại tệ, tái lập thế cân bằng trên thị trường ngoại hối cũng như thúc đẩy xuất khẩu Thêm vào đó, các mức lãi suất trên thị trường tiền tệ đã hợp lý hơn, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và chỉ đạo của Chính phủ Những nỗ lực chung của cả hệ thống ngân hàng đã góp phần làm giảm lạm phát trong cả năm 2011
Từ đầu năm 2011, hạn mức tăng trưởng tín dụng nói chung và giới hạn tỷ lệ
dư nợ cho vay phi sản xuất trong tổng đư nợ, trực tiếp là chứng khoán và bất động sản được đưa ra áp dụng Năm 2011, hệ thống ngân hàng đã phải "thắt lưng buộc bụng", kiềm chế tăng trưởng tín dụng ở mức thấp chưa từng có trong lịch sử phát triển ngành ngân hàng, dự kiến kết thúc năm 2011, chỉ từ 12 - 13%
so với trung bình của 5 năm gần đây là 33% và 10 năm là 29,4%.Theo đánh giá
từ chính NHNN, tổng phương tiện thanh toán năm 2011 ước tăng khoảng 10%, tín dụng tăng khoảng 12%, góp phần đưa lạm phát tăng chậm lại (từ tháng 8 đến nay, lạm phát tăng dưới 1%/tháng); đồng thời góp phần giảm mạnh nhập siêu, cải thiện đáng kể cán cân thanh toán quốc tế
Từ tháng 9-2011, trên cơ sở theo dõi sát diễn biến tín dụng của từng TCTD
và toàn hệ thống, NHNN đã có những điều chỉnh linh hoạt, cho phép một số TCTD được tăng trưởng vượt mức 20% trong năm 2011, cho phép loại bỏ một
số nhu cầu vay vốn ra khỏi phạm vi kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích
Cuối năm 2011, tổng dư nợ của toàn hệ thống là 2,63 triệu tỷ đồng, với tỷ lệ
nợ xấu 3,2% thì lượng vốn “khỏe” còn lại khoảng 2,55 triệu tỷ đồng Nhưng với
tỷ lệ nợ xấu lên tới 8,6% đến cuối tháng 3/2012 mà Ngân hàng Nhà nước công
bố, lượng vốn “khỏe” chỉ còn khoảng 2,41 triệu tỷ đồng… Nếu xét theo hướng này thì lượng vốn “khỏe” không những không tăng mà còn giảm đi
Tăng trưởng cung tiền mở rộng (M2), tổng tín dụng nội địa và
tổng huy động của nền kinh tế 2008-2011
đầu năm 2011
2011
Tăng trưởng cung tiền 20.31% 28.67% 33.3% 3.05% 10.88% Tăng trưởng tổng huy
động
Tăng trưởng tín dụng
nội địa
Tỉ lệ tổng tín dụng nội
địa trên tổng huy
động(LDR)
Trang 4Tốc độ tăng trưởng cung tiền mở rộng (M2) của cả năm 2011 chỉ khoảng 10,8%, so với mức tăng 33,3% năm 2010 và 29% năm 2009 Tuy nhiên, chính sách thắt chặt tiền tệ có phần tương đối mạnh tay trong nửa đầu 2011 Số liệu của IMF cho thấy, trong sáu tháng đầu năm 2011 tốc độ tăng M2 chỉ có 3,05%
Do cung tiền thắt chặt nên tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng bị giảm mạnh, chỉ ở mức 4,78% trong nửa đầu 2011 và ước khoảng 12% trong cả năm 2011, so với mức tăng 30,9% năm 2010 và 45,3% năm 2009 Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng huy động, chỉ khoảng 10% năm
2011 Chính vì thực tế này nên tỉ lệ tín dụng trên huy động (LDR) của toàn hệ thống vẫn ở mức rất cao, 110-115% Tỉ lệ này cao hơn rất nhiều các nước trong khu vực chẳng hạn Thái Lan (95,8%), Malaysia (79,3%), Indonesia (75,5%), Philippines (62,6%) Chênh lệch tín dụng - huy động không được cải thiện là nguyên nhân chính khiến mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục duy trì ở mức cao
trong cả năm 2011 và kéo sang cả năm 2012, bất chấp lạm phát giảm.
Năm 2012
Bước sang năm 2012, để bảo đảm tăng trưởng tín dụng đi đôi với an toàn, hiệu quả, NHNN đã phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo bốn nhóm TCTD, tiếp tục loại bỏ một số nhu cầu vay vốn ra khỏi phạm vi kiểm soát tỷ trọng dư
nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích
Trong bối cảnh các DN gặp khó khăn, dòng tiền ách tắc do chưa tiêu thụ được hàng hóa, hàng tồn kho tăng cao, NHNN đã chỉ đạo các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vốn vay, xem xét cho vay mới đối với các nhu cầu vốn vay có hiệu quả và bảo đảm khả năng trả nợ Đây là các giải pháp hết sức thiết thực của ngành ngân hàng nhằm chia sẻ khó khăn đối với cộng đồng
DN và nền kinh tế Nhờ thực hiện các biện pháp tín dụng, kết hợp với việc điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, tín dụng đã được kiểm soát ở mức thấp, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá Mặc dù tín dụng tăng
ở mức thấp nhưng cơ cấu tín dụng đã chuyển dịch tích cực theo đúng định hướng của Chính phủ Tăng trưởng tín dụng đối với các lĩnh vực này đều cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung cho nền kinh tế Năm 2011, tín dụng cho nền kinh tế tăng 14,4%, trong đó tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng 27,25%, xuất khẩu tăng 58% Trong sáu tháng đầu năm 2012, tín dụng cho nền kinh tế tăng 1,5%, trong đó tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng 8,5%, xuất khẩu tăng 6,59%
Năm 2012 được xem là năm nền tảng và quan trọng trong chiến lược phát triển giai đoạn 2011 – 2015 của Chính phủ Về chính sách tiền tệ, năm 2012, NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt với mục tiêu tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 15 – 17% và được phân bổ theo từng nhóm ngân hàng Mặc
dù chủ trương thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát, nhưng NHNN cũng đưa ra các giải pháp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, thành phần quan trọng mạng lại giá trị vật chất cho xã hội Theo đó, NHNN xác định 4 lĩnh vực được
ưu tiên hỗ trợ lãi suất, bao gồm: sản xuất nông nghiệp – nông thôn; sản xuất hàng xuất khẩu; công nghiệp phụ trợ; DN nhỏ và vừa Động thái gần đây nhất là
Trang 5việc NHNN đưa ra thông báo về việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/9/2010 của NHNN đối với một số tổ chức tín dụng, trong đó có Agribank, Ngân hàng TMCP Mê Kông… Đây là một trong những giải pháp nhằm giúp các tổ chức này có thể hỗ trợ DN sản xuất vay với mức lãi suất thấp hơn thị trường Tuy nhiên, với mức cho vay hiện nay của các ngân hàng thương mại (17 – 19%/năm đối với kinh doanh ngắn hạn và 20 – 25%/năm đối với kinh doanh trung và dài hạn), đây vẫn là mức cho vay quá cao
so với sức sản xuất chung của nền kinh tế
Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 8-10% cho năm 2012, NHNN tăng mạnh cung tiền ra nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm khoảng 200.000 tỷ đồng thông qua mua vào 9 tỷ USD Động thái này vừa giúp cân đối cán cân ngoại tệ
và ổn định tỷ giá hối đoái trong 6 tháng đầu năm, đồng thời gia tăng đáng kể thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thương mại NHNN cũng đưa ra đề án thành lập công ty mua bán nợ quốc gia để xử lý nợ xấu với quy mô dự kiến lên đến 100.000 tỷ đồng, mặc dù mục tiêu và tính khả thi của đề án này còn gây nhiều tranh cãi Với tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm chỉ đạt 0.76%, dư địa
để thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng vẫn còn nhiều Những chính sách này đang được kỳ vọng sẽ giải quyết được lượng vốn tồn đọng do nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó tạo nên dòng chảy vốn tín dụng mạnh mẽ hơn vào nền kinh tế đang thiếu vốn trầm trọng trong những tháng còn lại của năm 2012
Từ tháng 5/2012, tăng trưởng tín dụng đã bắt đầu dương nhẹ, đến hết tháng 7
đã tăng 1,02% so với cuối năm 2011.Bắt đầu từ quý III/2012 đến nay, tăng trưởng tín dụng đã khởi sắc, dù chưa thật rõ nét Tính đến ngày 30/9/2012, tăng trưởng tín dụng của toàn ngành mới đạt trên 2% Nếu loại trừ số liệu ảo cuối
Trang 6năm 2011, thì tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm đạt khoảng 4% Dự báo năm 2013, dù nền kinh tế trong nước và thế giới tiếp tục gặp khó khăn, song NHNN vẫn duy trì và kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống trong năm 2013 ở mức 15 - 17%
2.Lãi suất
Năm 2011
Đối với chính sách lãi suất, từ tháng 10-2011, các mức lãi suất điều hành đã được điều chỉnh tăng ở mức hợp lý (lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng lên 16%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu lên 13%/năm), phản ánh đúng vai trò của NHNN là người cho vay cuối cùng Lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với các mức lãi suất điều hành, lãi suất thị trường liên ngân hàng
và tình hình vốn khả dụng của hệ thống Trần lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam tiếp tục được duy trì ở mức 14%/năm nhưng đi đôi với việc tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm
Trong 6 tháng đầu năm 2011, thị trường tiền tệ có nhiều biến động dẫn đến lãi suất huy động, lãi suất cho vay diễn biến phức tạp NHNN quy định mức trần lãi suất huy động là 14%/năm đvị VND, nhưng các nhà băng vẫn “đi đêm” huy động với mức trượt từ 2%,5% để đảm bảo thanh khoản Mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn bằng VND từ 2- 3% lên đến 6- 12% trên năm Quản lý lãi suất đối với các NHTM chưa có hiệu quả, phát sinh nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề thanh khoản của các NHTM:
+Lãi suất huy động thực tế tại một số NHTM vượt quá trần lãi suất, gây nhiều ý kiến lo ngại về khả năng thanh khoản của một số NHTM
+Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn có xu hướng tăng cao: từ mức 2-3%/ năm lên 9-11% vào cuối tháng 3/2011, và có thể tiếp tục tăng Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn không ổn định, lãi suât tiền gửi không kỳ hạn tăng sẽ đe dọa thanh khoản của các Ngân hàng
+Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng nhìn chung tăng cao, cho thấy thanh khoản của các NHTM đang căng thẳng
Các mức lãi suất trên thị trường tiền tệ đã hợp lý hơn, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và chỉ đạo của Chính phủ Những nỗ lực chung của cả hệ thống ngân hàng đã góp phần làm giảm lạm phát trong cả năm 2011
Năm 2012
Bước sang năm 2012, ngay từ đầu năm NHNN đã định hướng giảm lãi suất trung bình 1%/năm mỗi quý Tuy nhiên, với diễn biến giảm nhanh của lạm phát
và thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện, NHNN đã điều chỉnh nhanh hơn dự kiến
Từ đầu năm đến nay, đã điều chỉnh giảm 5%/năm các mức lãi suất điều hành
và giảm 4%-5%/năm trần lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam Từ tháng
5-2012, NHNN quy định trần lãi suất cho vay đối với bốn lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DN nhỏ và vừa Mức trần lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh giảm phù hợp với trần lãi suất huy động,
Trang 7hiện ở mức 13%/năm Ngoài ra, để chia sẻ và tháo gỡ khó khăn cho DN và hộ dân, NHNN đã đề nghị các tổ chức tín dụng (TCTD) điều chỉnh giảm lãi suất đối với các khoản cho vay cũ về mức tối đa là 15%/năm Trên thực tế, lời hiệu triệu này đã được các TCTD đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ, chỉ trong vòng ba tuần tỷ trọng dư nợ cho vay có lãi suất hơn 15%/năm còn 29,1%, giảm khoảng 60% so với tỷ trọng trước ngày 15-7-2012 Đến nay, mặt bằng lãi suất huy động
và cho vay đã giảm về xấp xỉ mức lãi suất năm 2007, trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Lãi suất huy động giảm từ 3% đến 6%/năm, lãi suất cho vay giảm từ 5% đến 8%/năm so với đầu năm
2012, trong đó lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 10%-13%/ năm, lĩnh vực kinh doanh khác và tiêu dùng phổ biến 12%-15%/năm, các lĩnh vực không khuyến khích có lãi suất cao hơn nhưng cũng đã giảm so với trước đây Lãi suất cho vay giảm đã có tác động tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn, giảm áp lực chi phí vay vốn của các DN và hộ dân, qua đó hỗ trợ tăng tổng cầu của nền kinh tế Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh so với cuối năm 2011, nhờ biện pháp can thiệp hành chính hơn là sự điều chỉnh của thị trường tiền tệ Cụ thể, NHNN đã quy định trần lãi suất huy động với mức giảm dần từ 14% cuối năm 2011 đến mức 9% trong hiện tại, theo đó trần lãi suất cho vay không quá 3% trần lãi suất huy động tập trung cho một số đối tượng Trần lãi suất huy động kỳ hạn dài được gỡ bỏ nhằm tăng cường thanh khoản vốn trung dài hạn cho ngân hàng thương mại Đồng thời, NHNN cũng liên tục điều chỉnh giảm các lãi suất điều hành theo diễn biến chung của thị trường tiền tệ
Lãi suất cho vay phổ biến của TCTD đối với khách hàng
Nhóm
NHTM
hạn
NHTM
Nhà nước
VND:
- Sản xuất kinh doanh thông thường
- Phổ biến: 11-15
- Thấp nhất: 8,95
14,6-16,5
- Nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu
- Phổ biến: 10-13
- Thấp nhất: 8,95
14,6-16
NHTM
cổ phần
VND:
- Sản xuất kinh doanh thông thường
- Phổ biến: 12-15
- Thấp nhất: 12 16-17,5
- Nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu
- Phổ biến: 11-13
- Thấp nhất: 11
15-16,5
Trang 8Lãi suất bình quân thị trường liên ngân hàng
3.Tỷ giá
Năm 2011
Tỷ giá USD/VND năm 2011 đã có nhiều biến động trong những tháng đầu năm
và sau đó được duy trì khá ổn định trong suốt năm với mức điều chỉnh tăng giảm trong biên độ cho phép +/-1% Từ những tháng cuối năm 2010 tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do tăng mạnh và vượt xa khỏi tỷ giá chính thức khoảng 10% và dao động xung quanh mức 21.000 – 21.500 VND/USD Trước sức ép giảm giá của VND, ngay sau Tết âm lịch, vào ngày 11/2/2011, NHNN đã
ra thông báo tăng tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng lên mức 20.693 VND/USD và thu hẹp biên độ giao dịch từ +- 3% xuống +- 1% Đây là lần tăng
tỷ giá mạnh nhất kể từ năm 2008 với mức phá giá lên tới 9,3% Sau khi điều chỉnh cho đến gần hết quý II, tỷ giá liên ngân hàng luôn được duy trì ở mức cao
và có lúc lên tới 20.733 VND/ USD, còn trong quý III và giữa quý IV, tỷ giá được niêm yết chủ yếu ở dưới mức 20.300 VND/USD Tuy nhiên từ giữa tháng
10 đến kết thúc năm 2011, tỷ giá đã dần tăng lên trên mức 20.700 VND/USD và chốt năm ở mức 20.828 VND/USD Tính chung lại, đồng nội tệ vào cuối năm
đã giảm giá 0,65% kể từ lần điều chỉnh tỷ giá tháng 2/2011 và giảm 10% so với đồng USD vào thời điểm đầu năm Hơn nữa, khoảng cách giữa tỷ giá trong hệ thống ngân hàng và trên thị trường tự do không còn chênh lệch nhiều, đặc biệt
là với động thái quản lý mạnh tay của NHNN đối với thị trường ngoại hối tự do lẫn chính thức để điều hướng dòng ngoại tệ trong nước Có thể thấy, diễn biến
tỷ giá trong năm đã chịu nhiều áp lực từ tình hình tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đột biến trong các tháng đầu năm, từ diễn biến giá vàng và từ chủ trương hạ mức lãi suất đồng nội tệ của Chính phủ trong bối cảnh lạm phát vẫn ở mức cao
Trang 9Tỷ giá USD/VND liên ngân hàng năm 2011
Nguồn: NHNN và Phòng Phát triển, Ngân hàng Quân đội
Việc tỉ giá liên ngân hàng thực tế cuối năm 2011 chỉ tăng nhẹ so với cuối năm
2010 được xem là một thành công trong chính sách tiền tệ năm vừa qua của Chính phủ Nguyên nhân chính khiến cho tỉ giá bình ổn là do mức chênh lệch rất lớn giữa lãi suất huy động VND và USD Với mức lãi suất huy động VND thực
tế khoảng 16-19% trong hầu hết cả năm trong khi lãi suất USD chỉ ở mức 2-3% thì rõ ràng tính hấp dẫn của việc giữ ngoại tệ đã bị giảm đáng kể Một nguyên nhân khác khiến tỉ giá được duy trì ổn định là vì nhập siêu đã được kiểm soát tốt hơn so với các năm trước đó Trong năm 2011tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 96,3 tỉ USD, tăng 33,3% so với năm 2010, đây là mức xuất khẩu kỷ lục, cao nhất từ trước tới nay Con số này vượt tới 20,4% so với mục tiêu của năm 2011 là 80 tỉ USD Trong khi đó, tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm
2011 đạt 105,8 tỉ USD, tăng 24,7% so với năm trước Cũng giống như xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu đã vượt 11,1% so với mục tiêu của năm 2011 là 94 tỉ USD Như vậy, mức nhập siêu của năm 2011 ước tính đạt 9,5 tỉ USD, giảm gần 25% so với năm trước và bằng 9,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Mức nhập siêu của năm 2011 là mức thấp nhất trong vòng năm năm qua và là năm có tỉ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu thấp nhất kể từ năm 2002 Đáng chú ý là trong năm qua, có hai tháng xuất siêu là tháng 6 và tháng 7 do xuất khẩu vàng và các loại kim loại quý khác Mặc dù mục tiêu bình ổn tỉ giá đã đạt được trong năm
2011 nhưng vẫn còn hiện tượng tỉ giá liên ngân hàng vượt trần trong hầu hết thời gian năm 2011 Ngoài ra, thị trường vàng vẫn chưa thực sự được tổ chức tốt Giá vàng trong nước thường xuyên cao hơn giá vàng thế giới Sự chênh lệch này đã
Trang 10kích thích nhập lậu vàng, khiến cho tỉ giá tự do nhiều khi vượt xa tỉ giá liên ngân hàng, tác động xấu đến việc điều hành tỉ giá của NHNN
Năm 2012
NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt trên cơ sở bám sát cung - cầu ngoại tệ, kết hợp với việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, quy định trần lãi suất huy động đối với USD, thu hẹp đối tượng cho vay ngoại tệ, thực hiện nhiều biện pháp về quản lý ngoại hối kết hợp với việc ban hành chế tài và xử lý nghiêm hành vi vi phạm về hoạt động ngoại hối Nhờ vậy, thanh khoản ngoại tệ của hệ thống được cải thiện, thị trường ngoại hối chuyển biến tích cực
Nếu như trước đây, tỷ giá biến động thất thường, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do ở mức cao (có thời điểm chênh lệch đến 8-10%), thì trong bảy tháng đầu năm 2012, tỷ giá ổn định, thị trường ngoại tệ tự do hầu như không hoạt động Các TCTD nhìn chung đã chấp hành các quy định về mua bán ngoại tệ, tâm lý thị trường ổn định hơn, các nhu cầu ngoại tệ cấp thiết đã được bảo đảm
Tốc độ tăng giảm giá USD trong 7 tháng đầu năm 2012
Nguồn số liệu: TTCK
Sự ổn định của tỷ giá do nhiều nguyên nhân, trong đó, quan trọng nhất là do nhập siêu giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2011 cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về
tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu (theo Tổng cục Hải quan, từ đầu năm đến ngày 15/7 chỉ ở mức 423 triệu USD) Lượng vốn FDI thực hiện chỉ giảm rất nhẹ (0,8%); lượng vốn ODA giải ngân lại tăng khá; lượng ngoại hối vào cùng với khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao Tình trạng mua bán ngoại
tệ trên thị trường tự do để nhập lậu vàng gần như không còn, nên sức ép tỷ giá
từ tình trạng trên bị triệt tiêu… Cán cân tổng thể tiếp tục đạt trạng thái thặng dư Bên cạnh đó, chính sách lãi suất đã hỗ trợ cho giá trị của đồng nội tệ, góp phần làm ổn định tỷ giá Trong khi lãi suất gửi đồng nội tệ trong nhiều tháng liền ở mức 2 chữ số (gần đây mới khống chế ở mức 9%/năm đối với kỳ hạn dưới 1 năm, còn kỳ hạn từ 1 năm trở lên vẫn ở mức 11- 12%/năm), thì lãi suất gửi