1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp người cao tuổi bất hợp tác trong điều trị tại bệnh viện lão khoa trung ương hiện nay

101 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hành đề tài: “Ứng dụng Công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp người cao tuổi bất hợp tác trong điều trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương hiện nay”, tôi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN BÍCH HUYỀN

ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI CAO TUỔI BẤT HỢP TÁC

KHI ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN BÍCH HUYỀN

ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI CAO TUỔI BẤT HỢP TÁC

KHI ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Công tác xã hội ứng dụng

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS.Mai Thị Kim Thanh

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.Mai Thị Kim Thanh Các tài liệu trích dẫn, kết quả nêu trong khóa luận đều có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, khách quan

và chưa từng được ai công bố

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam kết này

Hà Nội, ngày……… tháng…… năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Bích Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hành đề tài: “Ứng dụng Công tác xã hội cá nhân

trong trợ giúp người cao tuổi bất hợp tác trong điều trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương hiện nay”, tôi đã nhận được nhiều sự ủng hộ, động viên và

giúp đỡ cũng như sự chỉ bảo tận tình, chu đáo từ phía giáo viên hướng dẫn, bạn bè và gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn TS.Mai Thị Kim Thanh Cô là người trực tiếp giảng dạy và cũng là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học, bộ môn Công tác xã hội – Trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi trang bị về kiến thức và kỹ năng, nguồn tài liệu để tôicó thể hoàn thành bài khóa luận của mình theo hướng thực hành CTXH chuyên nghiệp Xin trận trọng cảm ơn Ban Giám Đốc cũng như tập thể các cán bộ y tế của Bệnh viện Lão Khoa Trung ương, những người cao tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Lão khoa TW đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để phục vụ quá trình can thiệp

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như đây là lần đầu tiên tôithực hành với đề tài còn nhiều mới mẻ, chắc hẳn còn nhiều thiếu sót,tôirất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và những người quan tâm đến đề tài thực hành này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Hoàn cảnh gia đình 38 Bảng 2.2.Trình độ học vấn của người cao tuổi 40 Bảng 3.1: Quy trình hỗ trợ NCT BHT 60

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Khó khăn về mặt tinh thần của người bệnh cao tuổi 35 Biểu đồ 2.2: Những khó khăn về kinh tế của người bệnh cao tuổi 37 Biểu đồ 3.1: Mức độ hài lòng của NCT BHT về phương thức làm việc của NVCTXH 81 Biểu đồ 3.2: Mức độ hài lòng của người bệnh về các dịch vụ hỗ trợ 82

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

1 CTXH Công tác xã hội

2 NVCTXH Nhân viên công tác xã hội

4 BVLKTW Bệnh viện Lão khoa Trung ương

5 CSSK Chăm sóc sức khỏe

6 ASXH An sinh xã hội

7 CSNCT Chăm sóc người cao tuổi

Trang 8

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn vấn đề nghiên cứu 1

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của đề tài 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 7

6 Câu hỏi nghiên cứu 8

7 Giả thuyết nghiên cứu 8

8 Phương pháp thu thập thông tin 8

9 Bố cục của luận văn 13

PHẦN II: NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 14

1.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận 14

1.1.1.Cơ sở phương pháp luận 14

1.1.2 Các khái niệm công cụ 15

1.1.3 Lý thuyết tiếp cận 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1.Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi 25

1.2.2.Chính sách về người cao tuổi 26

1.2.3.Tình hình về người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay 30

1.2.4.Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ CHO NGƯỜI CAO TUỔI ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY 34

2.1 Những vấn đề của người cao tuổi đang gặp phải và nhu cầu của họ khi điều trị tại bệnh viện 34

Trang 9

2.2 Thực trạng hoạt động trợ giúp của NV CTXH cho người cao tuổi

hiện đang điều trị tại bệnh viện Lão khoa Trung ương 41

2.2.1 Những hoạt động trợ giúp 41

2.2.2 Những vấn đề NV CTXH đang gặp phải trong quá trình trợ giúp 50

2.3 Nhân tố cơ bản tác động tới NV CTXH trong quá trình trợ giúp 52

CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI CAO TUỔI BẤT HỢP TÁC TRONG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG 56

3.1 Hoạt động can thiệp 56

3.1.1.Quy trình thực hiện mô hình can thiệp cá nhân 61

3.2 Đánh giá kết quả ứng dụng mô hình CTXH cá nhân trong trợ giúp Người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Lão khoa TW 80

3.3 Bài học kinh nghiệm 82

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 10

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp

Người cao tuổi (NCT) là những người giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối các các giá trị truyền thống về đạo đức, lịch sử, văn hóa giữa các thời đại Theo báo cáo kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở 2019, ở Việt Nam dân số đã già hóa dân số hơn dân số thế giới khoảng 16 năm Như vậy tổng thời gian dân số Việt Nam già hóa nhanh so với mức chung của thế giới là khoảng 96 năm, vấn đề GHDS ở Việt Nam đang trở thành thách thức đối với nền kinh tế - XH Điều này đặt ra thách thức rất lớn cho Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề trong nhiều vấn đề liên quan tới NCT và đặc biệt là nhu cầu CSSK Đây là một đòi hỏi lớn về nguồn nhân lực trong việc hỗ trợ NCT - nhóm yếu thế trong XH hiện đại

Với chủ trương này, các BV trong cả nước, trong đó có BVLKTW - một trong những BV chuyên khoa hàng đầu về Lão khoa, tuyến cao nhất trong hệ thống thăm khám, điều trị và CSSK cho NCT tại Việt Nam cũng đang từng bước xây dựng cho mình một mô hình CTXH phù hợp với hoạt động thực tiễn dựa trên chức năng, nhiệm vụ, vai trò chung của ngành CTXH Tại đây các hoạt động CTXH cũng đã bắt đầu triển khai với sự tham gia từ nhiều nguồn nhân lực như: NVYT tế kiêm nhiệm, tình nguyện viên nhằm

hỗ trợ đội ngũ y, BS trong quá trình KCB, nhất là NBCT Sự xuất hiện của CTXH trong y tế là phương thức để họ tích cực tham gia giải quyết các vấn

đề liên quan đến sức khỏe bằng chính khả năng của mình với những phương pháp thích hợp

Tuy nhiên trên thực tế, những hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo cho việc CSSK cũng như quá trình KCB được thuận lợi như tư vấn, hướng dẫn, giáo dục cho NBCT, NNBN về điều trị bệnh, xử lý khủng hoảng… hay tham

Trang 11

vấn tâm lý, liên kết các dịch vụ xã hội cho NBCT là rất quan trọng nhưng bị

bỏ ngỏ hay có thực hiện nhưng còn mang tính hình thức, rời rạc, chưa có hệ thống rõ ràng Việc thiếu những thông tin cần thiết về dịch vụ KCB và nhu cầu được giải tỏa tâm lý không thoải mái vì nhiều lý do chưa được đáp ứng trong khi điều trị tại BV khiến cho NBCT rơi vào trạng thái hoang mang, lo lắng, không biết tìm đến bộ phận NVYT nào để được hỗ trợ dẫn tới tình trạng bất hợp tác - ảnh hưởng đến quá trình điều trị bệnh

Tất cả là những vấn đề trên đã gợi nên trong tôi ý tưởng nghiên cứu đề

tài: “Ứng dụng CTXH cá nhân trong trợ giúp NCT bất hợp tác trong điều trị tại BVLKTW hiện nay”

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Trên thế giới

Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng có nhiều nghiên cứu về

vấn đề NCT được triển khai từ những năm 1980 trở lại đây, như: “Chương

trình nghiên cứu về sức khỏe và các khía cạnh kinh tế, XH của sự già hóa dân cư” [27], do Tổ chức Y tế thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiến

hành đầu thập niên 80 của thế kỷ XX; “Sự phát triển chính sách địa phương

đối phó với sự già hóa dân cư” [55] do Hội đồng châu Á - Thái Bình Dương

tiến hành từ năm 1992 đến năm 1994 tại 6 nước, trong đó có Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra được xu hướng già hóa dân số và đề ra những định hướng về mặt chính sách cho vấn đề già hóa dân số

Nghiên cứu “Barriers to Health Care Access Among the Elderly and

Who Prerceives Them” [56](Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe NCT và

nhận thức về chúng” của Anntte L.Fitzpatrick, Neil R Powe, Lawton S Cooper, Diane G Ives và John A Robbins (Đại học Washington, Đại học John Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học California - Davis và Đại học Wake Forest) Kết quả nghiên cứu cho thấy, các rào cản chủ yếu như sự thiếu đáp ứng của BS đối với

Trang 12

này không chỉ khái quát thực trạng CSSK đối với NCT, những rào cản tác động đến việc NCT nhận được sự quan tâm, chăm sóc riêng ở nước Mỹ

Theo tác giả M.Nizamuddin trong Report prepared for the Asian

Population Conference - Pacific Fifth [57], Bangkok - Thái Lan

(11-14/12/2002), đã đề cập tới vấn đề GHDS và đề xuất những giải pháp cho tình hình GHDS tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương; Tuy nhiên việc thu xếp cùng chung sống với NCT đang ngày càng trở thành vấn đề khó khăn

Tại Hội nghị thế giới lần thứ 2 về già hóa[58]được tổ chức tại Madrid,

Tây Ban Nha (do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc triệu tập) năm 2002, trong đó điều 14 đã khẳng định vai trò của NCT trong đời sống, tầm quan trọng của cộng đồng, các cơ quan và tổ chức trong việc chăm sóc, hỗ trợ NCT; giúp NCT được tiếp cận các quyền bình đẳng trong CSSK, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần; nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có chính sách về chăm sóc, điều trị và trợ giúp NCT về mọi mặt

Theo tác giả John J.Macionis trong tác phẩm Sociology(2004) [59], tại Chương Lão hóa và người lớn tuổi cho biết kết quả nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Pháp (INED), thực hiện tại các nước thành viên Châu âu (EU) bao gồm Bồ Đào Nha, Cộng Hòa Séc, Hà Lan, Đức, Italia,… đã chỉ ra tình hình NCT ở phía nam EU thích sống với những người thân trong gia đình và các nước phía bắc EU thì tình trạng NCT sống tại các trung tâm dưỡng lão đang có xu hướng ngày càng tăng Từ kết quả nghiên cứu của INED cho thấy ngày càng có nhiều người trên 75 tuổi sống trong các cơ sở XH

Như vậy, có thể thấy chủ đề NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT nhận được rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu các vấn đề về NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT cũng rất phong phú: từ góc độ gia đình, xã hội; từ góc độ văn hóa, y tế cho đến góc độ dân số, kinh tế, quản lý… Điều này cho thấy vai trò, vị thế của NCT tại các nước trên thế giới rất được quan tâm, đề cao

Trang 13

2.2 Tại Việt Nam

Các cuộc điều tra nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những nội dung như: quy mô dân số NCT; cơ cấu dân số NCT; tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt, mức sống của NCT; CSSK NCT; phát huy vai trò của NCT Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng CSXH đối với NCT Đáng chú ý là các công trình sau đây:

Theo Bùi Thế Cường trong cuốn sách “ Trong miền an sinh xã hội –

những nghiên cứu về NCT Việt Nam” xuất bản năm 2005, nghiên cứu NCT

trong nghiên cứu xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970, các nhà y khoa

là những người đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu y học về NCT Năm 1970, thành lập chương trình Nghiên cứu Y học Tuổi già và mười năm sau trở thành

đơn vị nghiên cứu Y học Tuổi già của Bộ Y tế [15]

Từ năm 2000 trở đi cũng có nhiều nghiên cứu, bài viết về NCT được tiến hành, có thể kể đến: Năm 2001 Tổ chức Hỗ trợ quốc tế NCT (HAI) đã có cuộc nghiên cứu về “Hoàn cảnh của NCT nghèo Việt Nam” tại 5 điểm là khu

ổ chuột TP Hồ Chí Minh, một làng người H’mong tại tỉnh Lào Cai, một làng người Kh’me ở tỉnh Sóc Trăng, một làng người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận và một làng người Kinh ở tỉnh Phú Yên Nghiên cứu trình bày về những thông tin về hoàn cảnh của NCT nghèo, về những đóng góp chưa được biết đến của

họ và những mối quan tâm cũng như kinh nghiệm về nghèo khổ và bị phân biệt của họ

Vấn đề CSNCT tại các cơ sở CSNCT cũng được quan tâm:

Đề tài “Tìm hiểu mức độ trầm cảm ở NCT sống trong trung tâm bảo

trợ XH thành phố Đà Nẵng” của Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Thị Sánh

(2014) tập trung nghiên cứu về mức độ trầm cảm và những yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm ở NCT sống trong TTBTXH Đà Nẵng Nghiên cứu có ưu điểm

Trang 14

NCT Về phương pháp nghiên cứu, chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống và khảo sát ở một TTBTXH nên tính đại diện của mẫu chưa cao

Cùng nghiên cứu về vấn đề CSNCT, nhưng tác giả Nguyễn Xuân Thanh và Lindholm (2012) trong nghiên cứu “Has Vietnam health care funds for the poor policy favored the elderly poor?” chỉ tập trung vào quỹ CSSK NCT Kết quả nghiên cứu của đề tài có đóng góp tích cực cho chính sách NCT trong việc đưa ra những gợi ý chính sách về CSSK cho NCT

Đề tài “Nhu cầu quan hệ của NCT cô đơn, không nơi nương tựa tại

trung tâm bảo trợ xã hội và vai trò can thiệp của NVCTXH” của Mai Thị Kim

Thanh (2016) đã đề cập đến NCT cô đơn, không nơi nương tựa tại TTBTXH

IV, Ba Vì, Hà Nội được thu nhận và nuôi dưỡng, sống cách biệt về địa lí với gia đình, người thân và thế giới bên ngoài Đề tài nghiên cứu đưa ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp về vấn đề hạn chế các mối quan hệ ở NCT ở TTBTXH và đi vào đưa ra hướng giải quyết

Tác giả Ngô Ngọc Mị và cộng sự (năm 2014) nghiên cứu về nhu cầu

tinh thần của NCT với đề tài “Nhu cầu tinh thần của NCT tại các cơ sở xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh” Đề tài nêu nguyên nhân và thực trạng của vấn đề

đời sống tinh thần của NCT ở Việt Nam hiện nay tại hai mái ấm chùa Lâm Quang và nhà dưỡng lão Tân Thông Hội, bật lên được tâm lí, nhu cầu và sự đáp ứng từ XH ở NCT Kết quả nghiên cứu chưa có giá trị để khái quát, mở rộng ở các cơ sở khác, mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh vốn sôi động và đặc thù về vấn đề CSNCT

CTXH trong lĩnh vực BV tuy mới và không nhiều ở Việt Nam, nổi bật

là một số nghiên cứu sau đây:

Bài viết “Thực trạng triển khai hoạt động CTXH tại BV đa khoa tỉnh

Khánh Hoà năm 2014-2015” của tác giả Đoàn Thị Thuý Loan nhằm tìm hiểu

thực trạng triển khai hoạt động phòng CTXH và các điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động CTXH tại BV Các hạn chế cũng cho thấy cần

Trang 15

có những nỗ lực để cải thiện hoạt động CTXH trong BV như: BV cần bổ sung nhân lực có chuyên môn về CTXH, về pháp luật, về tâm lý học; triển khai kết nối BN, NNBN với các dịch vụ y tế sau khi xuất viện và cộng đồng; Bộ Y tế sớm ban hành hướng dẫn xây dựng đề án vị trí làm việc cho NVCTXH trong

ngành y tế đáp ứng theo mã ngạch viên chức CTXH

Tác giả Chu Dũng với bài “Mô hình CTXH BV do nhóm Happier thực

hiện” đã trình bày khái quát lại các hoạt động CTXH chính của nhóm Happier

tại BV Nhi đồng 1 như sinh hoạt chuyên đề với bệnh nhi; phụ huynh, người giám hộ BN; thăm hỏi, vãng gia các BN ở thành phố Hồ Chí Minh Với kết quả thu được, mô hình CTXH của nhóm Happier đã góp phần nâng cao vị thế cũng như khẳng định vai trò quan trọng của nghề CTXH, của NVCTXH trong

BV đồng thời đưa nghề đến gần với mọi người, nâng cao nhận thức của mọi

người, của XH về tầm quan trọng của CTXH với đời sống

Nguyễn Thị Minh với đề tài nghiên cứu “Mô hình CTXH trong BV từ

BV Nhi TW và BV Nội tiết TW” Kết quả của đề tài này, tác giả đã làm sáng tỏ

những vấn đề giữa lý luận và thực tiễn về Mô hình CTXH trong BV, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng và thực hiện Mô hình CTXH trong BV nói chung

và 2 BV trên nói riêng Điểm nổi bật của đề tài chính là đã nêu ra được những giải pháp nhằm xây dựng và thực hiện CTXH trong BV dựa vào những hoạt động CTXH trên thế giới từ trước đến nay và chính sách, pháp luật của Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chưa trình bày được một số Mô hình CTXH trong

BV cụ thể dù hiện nay ở các nước phát triển đã được đưa vào thực hiện

3 Ý nghĩa của đề tài

ngh a hoa học

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần luận giải, sáng tỏ và làm phong phú thêm lý luận cơ bản về một số khái niệm, một số lý thuyết như: Thuyết nhu cầu, thuyết vai trò, thuyết nhận thức hành vi và phương pháp

Trang 16

Nghiên cứu sẽ mở những hướng đi mới, tạo tiền đề cho những nghiên cứu sau này các hoạt động của NVCTXH trong lĩnh vực y tế nói chung và nhóm NCT nói riêng

ngh a th c tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp những người quản lý có cái nhìn khách quan

và vận dụng có hiệu quả kiến thức CTXH để xây dựng mô hình phù hợp với đối tượng cụ thể

Kết quả nghiên cứu cũng giúp NVCTXH, cũng như BV có cái nhìn rõ ràng hơn để quan tâm thấu đáo hơn tới tâm sinh lý của NCT, của gia đình NCT từ đó đưa có những trợ giúp cho họ được đúng và trúng hơn

Kết quả nghiên cứu còn góp phần làm phong phú thêm kho tài liệu tham khảo cho những người có nhu cầu tìm hiểu về nghề CTXH nói chung và CTXH trong BV nói riêng

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu thực trạng mà NCT BHT đang gặp phải tại BVLKTW để từ đó hỗ trợ nhóm đối tượng này thông qua phương pháp CTXH

cá nhân được hiệu quả hơn

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích thực trạng những nhu cầu, vấn đề và lý do gì khiến NCT BHT đang điều trị tại BVLKTW gặp phải, thực trạng hoạt động trợ giúp của NVCTXH cho nhóm đối tượng này

Đề xuất các giải pháp có tính khả thi dẫn tới hành động hợp tác cùng

BS trong quá trình điều trị của NCT thông qua phương pháp CTXH cá nhân

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Ứng dụng CTXH cá nhân trong trợ giúp NCT bất hợp tác đang điều trị tại BV

Trang 17

5.2 Khách thể nghiên cứu

 Bệnh nhân cao tuổi BHT đang điều trị nội trú tại BV

 NVCTXH, nhân viên y tế trong BVLKTW

5.3 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Các khoa điều trị nội trú - BVLKTW

Thời gian: Từ tháng 07/2019 - đến 04/2020

Phạm vi: Những người bệnh cao tuổi còn gọi là TC đang điều trị tại BV

không tự nguyện hợp tác trong quá trình điều trị

6.Câu hỏi nghiên cứu

 Thực trạng nhu cầu và vấn đề của NCT hiện đang điều trị tại BVLKTW hiện nay là gì?

 Hoạt động trợ giúp của NV CTXH trong quá trình trợ giúp NCT hiện đang điều trị tại BVLKTW hiện nay ra sao?

 Công tác trị liệu đối với NCT bất hợp tác trong điều trị diễn ra như thế nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

 NV CTXH chủ yếu chia sẻ thăm hỏi, động viên và hướng dẫn NCT phối hợp với phác đồ điều trị của BS, hướng dẫn và trợ giúp NCT đối diện trước hoàn cảnh khó khăn, tháo gỡ những nút thắt đang gặp phải và mở ra hướng đi mới, từ

đó giúp họ tự mình vượt lên tâm trạng, thoải mái về tinh thần và có ý chí vươn lên thoát khỏi bệnh lý, giúp quá trình điều trị diễn ra tốt hơn

 Tham vấn cá nhân để giúp cung cấp kiến thức, kỹ năng cho những NCT BHT có tâm thế, kiến thức và đủ tin tưởng vào chuyên môn của BS và tuân thủ theo đúng theo những gì BS yêu cầu là biện pháp đảm bảo cho quá trình điều trị đạt hiệu quả

8 Phương pháp thu thập thông tin

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Nghiên cứu được tiến hành bước đầu bằng việc thu thập và phân tích các

Trang 18

sóc, trợ giúp NCT Các thông tin được thu thập từ các nghiên cứu trong và ngoài nước; hệ thống sách - giáo trình, báo cáo khoa học, các bài viết trên tạp chí khoa học xã hội, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ; tài liệu hội thảo; các công trình, dự án nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu; Phân tích báo cáo đặc trưng về nhân khẩu học ở nhóm dân số cao tuổi, các tài liệu thống

kê, các viện nghiên cứu, các tổ chức XH dân sự, các nhà nghiên cứu… đã được công bố; nguồn tư liệu phục vụ đề tài còn bao gồm các tư liệu, tài liệu của Tổng cục Thống kê, Tổng cục DS-KHHGĐ; Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Y tế và các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước Đặc biệt là các thông tin về NCT

và điều trị, trợ giúp cho NCT thông qua các Báo cáo thường niên của BVLKTW

8 Phương pháp quan sát

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện phương pháp quan sát có tham dự, trực tiếp tham gia vào các hoạt động của NVCTXH trong trợ giúp NBCT, tiếp xúc, gặp gỡ trực tiếp họ và người nhà của họ tại khoa phòng những buổi NCT và đặc biệt ở đây là NCT bất hợp tác/TC của tôi đang trị liệu

Những nội dung quan sát, bao gồm: quan sát những hoạt động trợ giúp NBCT của NVCTXH qua việc tham gia vào những hoạt động tập thể, cá nhân hướng về tâm lý như các buổi sinh hoạt nhóm, trị liệu tâm lý nhóm, liệu pháp kích hoạt hành vi nhóm – diễn ra hàng ngày lúc 10h sáng (trừ ngày nghỉ), giới thiệu các buổi tư vấn (lý thuyết) cách dùng thuốc điều trị về những bệnh có liên quan đến những bệnh TC đang gặp phải, giới thiệu và hướng dẫn TC tủ sách trong bệnh viện – không gian văn hóa, những buổi trị liệu máy kích thích từ xuyên sọ…, thái độ của NVCTXH khi tiếp xúc với NBCT và người nhà của họ có ân cần, chu đáo hay không ? Quan sát thái độ,

cử chỉ của NVYT khi chăm sóc NBCT; Quan sát thái độ của các nhóm NBCT khi được hỏi về sự hài lòng đối với đội ngũ y tế và NVCTXH Những tình huống đáng quan sát nhất là những cảm xúc của NNBN khi chia sẻ về

Trang 19

những khó khăn họ gặp phải trong quá trình chăm sóc BN Những kết quả quan sát được sử dụng làm tăng thêm tính khách quan cho kết quả nghiên cứu của đề tài

Thông qua các nội dung quan sát trên, nghiên cứu này của chúng tôi có thể đánh giá được mức độ đáp ứng nhu cầu CSSK của NCT trong BV hiện nay Bên cạnh đó, những quan sát cũng góp phần làm sáng tỏ các kết quả nghiên cứu phỏng vấn sâu mà chúng tôi đã thu thập được

8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trong phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng với các câu hỏi mở Đây là phương pháp bổ trợ nhằm tìm hiểu sâu hơn về NCT đang điều trị trong BVLKW Kết quả phỏng vấn sâu được ghi âm và viết biên bản Sau đó kết quả phỏng vấn sâu được xử lý bằng cách gỡ băng ghi âm, kết hợp biên bản và phân tích theo từng chủ đề

 Đối tượng phỏng vấn sâu 20 trường hợp bao gồm: 03 NV CTXH, 03 cán

bộ y tế, 08 người cao tuổi, 04 người nhà NCT

 Nội dung phỏng vấn:

+ Nhu cầu và vấn đề mà NCT đang điều trị tại BVLKTW gặp phải

+ Về các hoạt động trợ giúp của NVCTXH cho NCT hiện đang điều trị tại BVLKTW, nhất là việc trợ giúp các đối tượng hưởng lợi; Cách thức tiếp cận NBCT của NVCTXH; Vai trò của NVCTXH trong thực hiện các vai trò trợ giúp NBCT, người nhà của NBCT, NVYT (vai trò hỗ trợ, vai trò môi giới và trung gian, vai trò biện hộ, vai trò giáo dục); Thái độ của những NBCT và người nhà của họ, cán bộ y tế đối với NVCTXH

+ Những lý do khiến NVCTXH gặp những khó khăn/thuận lợi trong quá trình trợ giúp, lý do khiến NCT BHT khi điều trị tại BV và giải pháp đưa ra của chính những NVCTXH để phát huy hiệu quả của mô hình CTXH tại BV Những nội dung này nhằm phục vụ cho phần nội dung chính của nghiên

Trang 20

nghiệp trong BV hiện nay Về giải pháp được đề xuất từ NVCTXH để chuyên nghiệp hóa đội ngũ này

8.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Trong nghiên cứu này, tôi tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi theo mẫu thiết

kế dành cho NBCT bao gồm: khảo sát nhu cầu của NBCT; đánh giá vai trò của đội ngũ NVCTXH trong BV qua việc đánh giá những dịch vụ hỗ trợ họ đang được hưởng, mức độ hài lòng với các dịch vụ đó; mong muốn, kỳ vọng của NBCT đối với đội ngũ NVCTXH hiện nay

Cơ cấu mẫu: 100 NBCT Mỗi khoa khảo sát 10 người

Cách chọn mẫu: Tiêu chí lựa chọn NBCT được tiến hành phỏng vấn là:

 Đã nhận được ít nhất một sự trợ giúp của NVCTXH tại BVLKTW trong quá trình điều trị

 Đang điều trị nội trú tại bệnh viện

Cách thức xây dựng bảng hỏi: từ việc xác định nội dung nghiên cứu gồm

bốn nội dung chính như:

 Nhu cầu của các nhóm đối tượng về vai trò của NVCTXH chuyên nghiệp trong BV

 Những kết quả thực hiện vai trò của NVCTXH tại bệnh viện

 Sự hài lòng của các nhóm đối tượng với việc thực hiện vai trò của NVCTXH

 Những giải pháp chuyên nghiệp hóa đội ngũ NVCTXH hiện nay

Nội dung bảng hỏi với NBCT được xác định dựa trên nhu cầu của chính

họ về hoạt động trợ giúp của NVCTXH trong BV, nhất là những NBCT BHT; kết quả thực hiện vai trò trợ giúp của NVCTXH đối với NBCT; mức độ hài lòng của NBCT về vai trò của NVCTXH tại BVLKTW

Kết quả thu được được xử lý bằng phần mềm SPSS 16 for Windows

Trang 21

8.5 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

Chúng tôi sử dụng phương pháp xin ý kiến của chuyên gia với mục đích tiếp thu những kinh nghiệm quý báu từ phía các chuyên gia nhằm tháo gỡ những vướng mắc và đưa ra những định hướng giải quyết cho NCT BHT và gia đình của họ trong việc lựa chọn biện pháp hay tự đề xuất biện pháp

8.6 Phương pháp thực hành

Với đặc thù nghiên cứu CTXH, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử

dụng phương pháp thực hành là phương pháp CTXH cá nhân

Điểm mạnh của phương pháp này:

- Giúp cho NCT/TC tin tưởng vào chuyên môn của BS, giảm dần dẫn tới biến mất tâm trạng BHT, từ đó tuân thủ dùng thuốc đúng theo đơn mà BS kê

trong quá trình điều trị

 TC được lựa chọn can thiệp là người không đủ tin tưởng vào chuyên môn của BS, được gia đình chuyển vào viện với tâm lý không muốn hợp tác với đội ngũ y, BS trong quá trình điều trị (kể cả với người nhà) Chỉ muốn xuất viện để tìm phương án điều trị khác, hoặc đến với BV khác to và nổi tiếng hơn ở HN Vì vậy, can thiệp 1 – 1 bước đầu tạo cho TC cảm giác an toàn, làm quen dần với người lạ NVCTXH phát huy tối đa đưọc khả năng tập trung của

TC, khuyến khích TC giao tiếp và hợp tác trong các hoạt động được triển khai

 Các hoạt động trong quá trình can thiệp dù có sự luân chuyển liên tục cũng không mất nhiều thời gian để ổn định, chỉ cần NVCTXH có kĩ năng thu hút

TC ở các hoạt động để lấp khoảng thời gian trống khi luân chuyển

 NVCTXH có thể kết hợp các nguồn lực khác nhau: Hội phụ nữ (nơi cư trú), gia đình, nơi ở… để tìm hiểu nan đề, nguyên nhân tác động để lên kế hoạch

trợ giúp tối đa, vận dụng các nguồn lực vào các giai đoạn của quá trình

Có thể nói, CTXH cá nhân là một phương pháp can thiệp của CTXH quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một TC cảm nghiệm Mục đích của

Trang 22

của chức năng XH của cá nhân và gia đình NVCTXH thực hiện điều này

bằng cách giúp TC tiếp cận các tài nguyên cần thiết Về nội tâm, về quan hệ

giữa người - người và kinh tế XH Phương pháp này tập trung vào các mối

liên hệ về tâm lý XH, bối cảnh XH trong đó vấn đề của cá nhân và gia đình

diễn ra và bị tác động

9 Bố cục của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Chương 2: Bức tranh chung về hoạt động trợ giúp của NVCTXH cho NCT đang

điều trị tại BVLKTW

Chương 3: Ứng dụng CTXH cá nhân trong thực tiễn tại BVLKTW.

Trang 23

PHẦN II: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

1.1.1 Cơ sở phương pháp luận

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản cho mọi khoa học nói chung và XH học nói riêng Để vận dụng tổng hợp những lý luận này, chúng tôi đã dựa trên những nguyên tắc quan trọng sau: Nguyên tắc lịch sử cụ thể; Nguyên tắc nhìn nhận trong mối quan hệ qua lại; Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Theo Marx, các bộ phận của XH không chỉ tác động qua lại với nhau mà còn mâu thuẫn, thậm chí đối kháng nhau Đó là nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển XH [Lê Ngọc Hùng,2011, tr 95]

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là phương pháp luận nhằm giải thích bản chất các các sự kiện, hiện tượng trong quá trình nghiên cứu nội dung của đề tài

Khi nghiên cứu trợ giúp NCT BHT khi điều trị tại BVLKTW hiện nay phải đặt trong văn hóa, điều kiện kinh tế XH cụ thể Chẳng hạn NCT BHT trong quá trình điều trị/TC có thể nhiều lý do như hoạt động truyền thông của

BV còn hạn chế, kinh tế gia đình eo hẹp không đủ để chi phí, nhận thức của

TC về bệnh tật và về BV nơi mình nằm điều trị còn hạn chế…

Dựa trên quan điểm Chủ nghĩa duy vật biện chứng là xem xét các hiện tượng XH trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau có quy luật giữa chúng Vận dụng trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét sự tác động của các NVCTXH tới nhận thức của NCT BHT khi điều trị tại BV trong mối quan hệ với các yếu

tố khác như khả năng nhận thức của NCT, trình độ của NVCTXH… Phương pháp luận ở đây là cách tiếp cận biện chứng cho rằng giữa sự hiểu biết để dẫn

Trang 24

pháp truyền tải của NVCTXH và khả năng nhận thức của NCT và ngược lại

Ở đây, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu mối quan hệ biện chứng này

Quá trình nhận thức không chỉ ở việc mô tả các hiện tượng bên ngoài

mà còn hướng đến việc nhận thức bản chất bên trong vấn đề Như vậy, luận văn sẽ có được cái nhìn đa chiều, nghiên cứu vấn đề đặc trưng mối liên hệ của phát triển XH

Các hái niệm công cụ

1.1.2.1 Khái niệm “Công tác xã hội”

Theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội quốc tế, Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp với mục đích tạo sự biến đổi xã hội cho toàn bộ

xã hội nói chung và cho từng cá nhân trong quá trình phát triển” (IFSW 1982)

Công tác xã hội là một lĩnh vực thực hành phát triển cao dựa trên những nguyên tắc và phương pháp đặc biệt với mục đích hỗ trợ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong việc xử lý các vấn đề xã hội – từ đó, công tác xã hội

có nhiệm vụ hoạt động vì hạnh phúc của con người và nâng cao phúc lợi xã hội (Cục bảo trợ xã hội, Báo cáo tình hình thực hiện Quyết định 32/2010/QĐ-TTg về Phát triển nghề CTXH tại Việt Nam, 8/2014)

1.1.2.2 Khái niệm “Công tác xã hội trong bệnh viện”

Trong TT 43/2015/TT-BYT “Quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của BV” của Bộ Y tế, CTXH BV được hiểu như sau: “CTXH trong BV là các hoạt động hỗ trợ NB/NNNB và các NVYT trong

BV nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình KCB” Mục đích của CTXH là hỗ trợ các nhóm đối tượng khắc phục những khó khăn về xã hội để đạt được hiệu quả CSSK tốt nhất NVCTXH trong BV là cầu nối để giải quyết các mâu thuẫn giữa NB-NVYT, giữa NB-

NB, NB-NNNB…”

Trang 25

1.1.2.3 Khái niệm “ Nhân viên công tác xã hội ”

Nhân viên công tác xã hội: là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về CTXH để sử dụng những kiến thức và kỹ năng của mình để: Giúp cho XH thấy rõ trách nhiệm của mình đối với sự phát triển chung của XH Giúp TC: Cung cấp các dịch vụ XH; Tăng cường khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề của mình; Tiếp cận các nguồn lực; Thiết lập những mối quan hệ thuân lợi giữa họ và môi trường của họ

NVCTXH theo IASW: “NVCTXH là người được đào tạo và trang bị

các kiến thức và kỹ năng trong CTXH, họ có nhiệm vụ: Trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó vấn đề trong cuộc sống, tạo

cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; Thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới CSXH các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”.[28]

NVXH trong nghiên cứu được chúng tôi sử dụng là những người được trải qua đào tạo các kỹ năng CTXH chuyên nghiệp Từ đó sử dụng các kiến thức, kỹ năng được học tiến hành hỗ trợ nhóm đối tượng yếu thế nhằm giúp

họ nâng cao năng lực, phục hồi các chức năng XH, nỗ lực trợ giúp các đối tượng thoát khỏi khó khăn bằng chính năng lực tiềm tàng của bản thân họ

1.1.2.4 Khái niệm “Người cao tuổi “

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT

Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa g n liền với

việc suy giảm các chức năng của cơ thể

Về mặt pháp luật: Luật NCT (2009), tại điều 2 quy định: NCT là tất cả

các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên [9]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới - WHO: NCT phải từ 70 tuổi trở lên

Trang 26

Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… do điều kiện phúc lợi XH và

y tế tốt, cùng với những thuận lợi khác về môi trường XH nên công dân có thể sống khoẻ mạnh và vẫn có đóng góp cho XH kể cả trong độ tuổi khá cao

Trong bối cảnh đó, độ tuổi được xem là “tuổi già” và gắn với nó là khái niệm

“NCT” có xu hướng cao hơn ở các nước đang phát triển Cụ thể, hầu hết các

nước châu Âu xem NCT là những người từ 65 tuổi trở lên, trong khi ở một số nước châu Phi độ tuổi được xem là NCT chỉ vào khoảng 50 đến 55 [16] Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống

y tế, CSSK tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Do

đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau

Theo quan điểm của CTXH [43]:Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH nhìn nhận về NCT như sau: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ XH sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của CTXH

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm về NCT được quy định tại Điều 2, Chương I, Luật NCT (2009): NCT là tất cả các công dân Việt Nam

từ 60 tuổi trở lên [9], để vận dụng vào đề tài nghiên cứu can thiệp NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ XH sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của CTXH

1.1.2.5 Khái niệm “Người cao tuổi bất hợp tác “

Theo Robert Axelrod và Robert O Keohane: Sự hợp tác không đồng nghĩa với sự hài hòa Nó diễn ra trong bối cảnh chứa đựng nhiều mâu thuẫn đối ngược và bổ sung nhau Sự bất hợp tác diễn ra khi các chủ thể không điều

Trang 27

chỉnh hành vi của họ trước các mong muốn thực tế hoặc dự đoán về mong muốn của những người khác [25]

Trong CTXH, theo Trần Đình Tuấn [47], thông thường khi đi tham vấn tâm lý, TC sẵn lòng hợp tác với người làm công tác tham vấn để tìm ra giải pháp cho vấn nạn của họ Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp TC không tự ý

đi tìm ý kiến tham vấn mà là bị bắt buộc

Như vậy khái niệm NCT bất hợp tác được chúng tôi sử dụng trong

nghiên cứu can thiệp là để chỉ những NCT không tự nguyện đến điều trị tại

BV, mà họ đến đây là do bị bắt buộc từ những người thân trong gia đình hoặc khi tham gia quá trình điều trị hoặc có nhiều bức xúc với cách làm việc, thái

độ của NVYT khiến họ phản cảm, gây nên tình trạng BHT

1.1.2.6 Khái niệm “Trợ giúp “

Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “Trợ giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho

đỡ khó khăn, thiếu thốn Ba thuật ngữ “hỗ trợ xã hội”, “bảo trợ xã hội” và “trợ giúp

xã hội” có nghĩa gần tương đồng nhau tuy nhiên trong các văn bản, sách báo và

giáo trình hiện nay phần lớn sử dụng thuật ngữ “trợ giúp xã hội” Các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội hiện hành sử dụng cụm từ “trợ giúp xã hội thường xuyên” thay cho “bảo trợ xã hội thường xuyên” hay “cứu tế xã hội thường

xuyên”.[26]Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam giải thích: trợ giúp là góp sức

hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công Như vậy, có nhiều cách gọi khác nhau về thuật ngữ này nhưng

cụm từ “trợ giúp” có nghĩa chung nhất, bao hàm nội dung sự “giúp đỡ, bảo

trợ, hỗ trợ” [27] Như vậy, Nếu xem xét về mức độ bao quát thì trợ giúp xã

hội có phạm trù rộng lớn, nó thể hiện được sự chia sẻ trách nhiệm của nhà nước, cộng đồng với con người thiếu may mắn

Khái niệm trợ giúp trong phạm vi đề tài được chúng tôi sử dụng như một

sự hỗ trợ, giúp đỡ những đối tượng có gặp khó khăn, cung cấp các cách thức và điều kiện cần thiết giúp giải quyết các vấn đề khó khăn cho đối tượng đó

Trang 28

Lý thuyết tiếp cận

1.1.3.1 Lý thuyết vai trò

Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm vai trò: Thuyết vai trò là một trong những lý thuyết tiếp cận để giải thích các vấn đề liên quan đến hành động và vai trò của cá nhân trong XH Vai trò của mỗi cá nhân còn tồn tại nhiều phương diện như: Vai trò ẩn, vai trò hiện, điều này lý giải rằng các vai trò này có thể ẩn hoặc hiện không biểu lộ ra bên ngoài hay dễ dàng nhìn nhận được kể cả người mang chính vai trò đó

Ngoài ra, mỗi một cá nhân còn có thể đóng nhiều vai trò khác nhau được xem là vai trò kép Đối với những cá nhân đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, họ có thể rất khó khăn khi phải hoàn thành các vai trò mà XH đang kì vọng ở họ Khi đó, cá nhân có thể gặp nhiều khó khăn dẫn đến sự xung đột trong vai trò Việc không hoặc chưa làm tốt những kì vọng mà XH đặt cho, các cá nhân sẽ rơi vào trạng thái căng thẳng để đối diện với những yêu cầu mà vai trò đó đã đặt ra cho cá nhân

Vận dụng lý thuyết vai trò trong giải thích các vấn đề về CTXH theo Helen Harris Perlman (1906-2004), lý thuyết vai trò góp phần giải thích tâm

lý và nhân cách con người trong XH Mỗi người luôn chiếm giữ một vị trí trong XH và tương ứng với điều đó là vai trò Một điều hiển nhiên, vai trò sẽ phản ánh chân dung của con người trong XH

Áp dụng lý thuyết vai trò vào đề tài nghiên cứu can thiệp:

Trong phạm vi đề tài, lý thuyết vai trò giải thích tầm quan trọng của việc áp dụng các trợ giúp XH đối với các nhóm đối tượng nhóm NCT Việc thực hiện các hoạt động xã hội sẽ giúp giảm bớt những khó khăn, cản trở trong quá trình điều trị bệnh của BN là NCT Để thực hiện được điều này, NVXH được đặt trong vai trò của một nhà trợ giúp XH, trực tiếp đến các TC trong BV NVXH có những hành vi như: Tìm hiểu nhu cầu, lượng giá, lên kế hoạch, tìm các nguồn trợ giúp từ cộng đồng, NVCTXH còn kết nối, tạo môi

Trang 29

trường sinh hoạt lành mạnh, còn tổ chức các buổi tập huấn, hướng dẫn NCT cách thức thực hiện lối sống lành mạnh, tuân thủ hướng dẫn điều trị của nhân viên y tế, hỗ trợ nhau, trò chuyện, sinh hoạt tập thể các thực hiện này giúp NCT của chính mình có cơ hội phục hồi các chức năng XH, phục hồi tâm lý – tinh thần, kết nối BN phối hợp với NVYT Tất cả những hành vi trên sẽ góp phần phản ánh vị trí của một NVXH trong môi trường BVLKTW Điều này góp phần nâng cao sự có mặt của ngành CTXH trong BV khi những trợ giúp

XH có khả năng cải thiện quá trình điều trị trong BV, căn bản điều này là vô

cùng thiết thực

Thuyết vai trò còn giải thích vấn đề xung đột vai trò của các NVCTXH Điều này giải thích cho trạng thái căng thẳng khi NVCTXH chưa hoặc hoàn thành nhiệm vụ không như mong đợi Họ gặp phải rất nhiều áp lực trong chính vai trò mà mình đang đảm nhận, giữa sự kì vọng đến từ phía lãnh đạo

và từ phía TC của chính họ Ngoài ra, khi làm việc với đối tượng NCT bất hợp tác hành vi của NVCTXH càng mang nhiều áp lực đặt ra trong việc giải quyết các vấn đề đến từ TC Việc không nhận được sự phối hợp từ phía nhóm người yếu thế, NVCTXH tiếp tục bị gánh nặng vai trò sức ép công việc khiến

họ không hoàn thành vai trò như kì vọng từ chính bản thân họ rơi vào trạng thái sợ hãi vai trò – những khó khăn có thể cảm nhận trong quá trình thực hiện vai trò

1.1.3.2 Lý thuyết nhận thức – hành vi

Đánh giá gần đây của Sheldon về trị liệu hành vi đã đưa ra những đóng góp về mặt nhận thức Theo ông một thành tố quan trọng trong trị liệu hành vi chính là việc lựa chọn các yếu tố tăng cường, thúc đẩy để củng cố hành vi Theo ông, lượng giá là một khía cạnh quan trọng trong cách tiếp cận hành vi- nhận thức Một chuổi hình thức lượng giá phù hợp sẽ gồm những nội dung sau:

 Đạt được sự mô tả những vấn đề từ những quan điểm khác nhau

Trang 30

 Tìm kiếm những hình thức khởi đầu của các vấn đề, chúng biến đổi ra sao

và tác động đến chúng ở những vấn đề gì?

 Xác định những khía cạnh khác nhau của các vấn đề và chúng phù hợp với nhau ra sao?

 Lượng giá về động cơ cho sự biến đổi

 Xác định những mô hình tư duy và những cảm xúc có trước, trong và sau những biến cố về hành vi của vấn đề

 Xác định những điểm mạnh trong và xung quanh thân chủ

Như vậy, ở đây, NV CTXH cần xác định, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới TC, các cán sự nên tập trung nhiều vào việc mô tả về hành vi hơn là phán xét về nó Những vấn đề nảy sinh trong và sau quá trình can thiệp cũng cần được đo lường bởi nhiều khi “giai đoạn đối lập” sẽ xuất hiện sau một giai đoạn can thiệp và việc can thiệp lại khởi động lại thêm lần nữa Trong quá trình trị liệu, các cán sự có thể chia làm hai nhóm để kiểm soát những phản ứng (gồm các hoạt động như mô hình hóa, đào tạo kỹ năng xã hội, sự quyết đoán…) và quản lý những vấn đề bất ngờ

 Sơ lược về Thuyết hành vi: S  R  B (S là tác nhân kích thích, R là phản ứng, B là hành vi) Thuyết cho rằng con người có phản ứng do có sự thay đổi của môi trường để thích nghi Như vậy, khi có 1 S sẽ xuất hiện nhiều R của con người, nhưng dần dần sẽ có 1 R có xu hướng lặp đi lặp lại do chúng ta được học hay được củng cố khi kết quả của phản ứng đó mang lại điều gì chúng ta mong đợi Như vậy theo thuyết này thì hành vi con người là do chúng ta tự học mà có và môi trường là yếu tố quyết định hành vi

Thuyết trị liệu nhận thức - hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức XH do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi XH

 Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có

Trang 31

những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi

 Quan điểm về nhận thức và hành vi: 2 quan điểm

+ Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức - hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy méo mó)

+ Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ và củng cố nhận thức

Theo quan điểm của lý thuyết nhận thức – hành vi, quy trình để phát sinh hành vi được lý thuyết nhận thức – hành vi chỉ ra theo trình tự như sau: Tác nhân kích thích tác động đến nhận thức, từ nhận thức sẽ sinh ra phản ứng của cá nhân và từ đó chúng ta sẽ nhận được kết quả hành vi từ nhận thức

Từ đó, hành vi của con người đều sinh ra từ việc tương tác với môi trường tương tác bên ngoài, quá trình học tập, trau dồi từ môi trường bên ngoài Con người hoàn toàn có thể học tập và tiếp nhận các hành vi khác nhau,

để thỏa mãn nhu cầu của chính cá nhân

Áp dụng thuyết nhận thức – hành vi trong ứng xử của NVCTXH đối với TC Ở đây NVCTXH sẽ giúp chính TC của mình thay đổi hành vi hoặc khôi phục hành vi để phù hợp với chuẩn mực xã hội Trong các trường hợp này, cá nhân sẽ được NVXH hướng dẫn cụ thể, đồng thời cải tạo môi trường xung quanh cá nhân, tạo điều kiện cho TC thực hiện các hành vi mong đợi, hòa nhập với mọi người trong môi trường xung quanh Theo đó, TC được khuyến khích bày tỏ vấn đề của bản thân chỉ ra vấn đề; NVXH sẽ lập kế hoạch, lượng giá và giải quyết vấn đề của TC; góp phần

Trang 32

vi – cảm xúc hợp lý Hình thức trị liệu nhận thức có liên quan đến niềm tin và ý thức của chính TC: Đầu tiên là xóa bỏ những cảm xúc tiêu cực về đội ngũ Y, BS, thiện cảm và hiểu đúng về họ, niềm tin vào bản thân, tiếp theo là suy nghĩ về cuộc sống xung quanh và cuối cùng là những chiến lược giải quyết các vấn đề đang diễn ra hằng ngày trong cuộc sống

Áp dụng lý thuyết nhận thức hành vi vào đề tài nghiên cứu can thiệp:

Trong nghiên cứu can thiệp, Lý thuyết nhận thức - hành vi góp phần giải thích rất nhiều các vấn đề đến nhóm đối tượng NCT - nhóm đối tượng có

sự thay đổi về tâm sinh lý sâu sắc Đặc biệt trong môi trường BV, NCT thường có những suy nghĩ và hành vi hoang mang lo lắng, dễ bị tiêu cực Đối với họ việc đối diện với căn bệnh và môi trường đặc thù của BV là một trong những nguyên nhân tác động xấu đến kinh tế gia đình, lòng tự tôn của chính bản thân khiến họ gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống Chính vì lẽ đó, NVCTXH có nhiệm vụ thực hiện giúp NCT/TC thay đổi nhận thức, thay đổi thái độ, thay đổi tâm lý của bản thân giúp họ có suy nghĩ lạc quan, tích cực hơn, từ đó dẫn tới có những thay đổi hành vi tích cực và có những hợp tác phối hợp điều trị cùng với NVYT trong quá trình tham gia trị liệu

1.1.3.3 Lý thuyết nhu cầu

Abraham Maslow (1908-1979) nhà khoa học đã xây dựng học thuyết

về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào

để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần (Nguyễn Trung Hải, 2018, Giáo trình Lý thuyết CTXH)

Lý thuyết nhu cầu giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ

tự phát sinh trước sau để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu con người từ thấp đến cao

Trang 33

Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con

người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một

môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp,

an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,… Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được

Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu, sự chấp nhận)

Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành

Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại Qua đó chúng ta thấy được sức mạnh

to lớn của nhu cầu được quan hệ và được thừa nhận trong sự phát triển của mỗi cá nhân

Trang 34

Nhu cầu được tôn trọng: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng

+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện

+ Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,…Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong

cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó; bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi

sử dụng lý thuyết nhu cầu nhằm phân tích được những nhu cầu thiết yếu của NBCT, chỉ ra được nhu cầu đó có thực sự cần thiết hay không và nhu cầu đó đang ở mức độ nào của thang nhu cầu; từ đó chỉ rõ mong muốn của NBCT BHT khi điều trị tại địa bàn nghiên cứu

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi

1.2.1.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước

Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư TW

đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “về CSNCT”, quy định: “Nhà nước cần dành

ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề CSNCT Trước hết cần quan tâm chăm sóc những NCT có công, cô đơn không nơi nương tựa,

Trang 35

tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng người già lang thang trên đường phố, ngõ xóm.”

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng (2001) đã nêu: “Đối với các

lão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những người cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới …”

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân

tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa đối với lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng CSXH Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn …”

Năm 2003, Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) của Đảng đề ra chủ

trương: “Xây dựng chính sách CSSK, quan tâm hơn đến NCT về y tế…” Đây

là Hội nghị của Đảng đề ra chủ trương nhằm xây dựng chính sách tốt nhằm quan tâm CSNCT

Như vậy, từ Chỉ thị 59/CT-TW, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số 12-TB/TW của Ban Bí thư TW Đảng đều khẳng định: NCT là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội

Vì thế, chăm sóc, trợ giúp và phát huy tốt vai trò NCT là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.2 Chính sách về người cao tuổi

1.2.2.1 Hệ thống luật pháp

Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc

tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” Hiến pháp năm 1959, Điều 32

ghi rõ: “Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật Mở rộng bảo hiểm xã

hội, bảo hiểm sức khỏe và cứu trợ xã hội”

Trang 36

Hiến pháp sửa đổi năm 2013 tại Khoản 3 Điều 37 và Khoản 2 Điều 59

đã đề cập đến: “Chăm sóc NCT và chính sách trợ giúp NCT” Trong bối cảnh

nhóm dân số cao tuổi đang tăng nhanh thì Đảng, Nhà nước đã kịp thời đưa ra những chính sách mới trong công tác chăm sóc, phụng dưỡng NCT

Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định:“Con có nghĩa

vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”

Luật Bảo vệ CSSK nhân dân đã dành một chương riêng: Bảo vệ sức

khoẻ NCT… trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định: “NCT… được

ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho

xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”

Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Người sử dụng lao động có

trách nhiệm quan tâm CSSK người lao động cao tuổi, không được sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ”

Điều 151 của Bộ luật Hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ

ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và

Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là

người già”

1.2.2.2 Hệ thống chính sách

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về CSNCT và

hỗ trợ hoạt động cho Hội NCT Việt Nam” Chỉ thị khẳng định: “Kính lão đắc

thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của NCT là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân Để phát huy truyền

Trang 37

thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và hỗ trợ hoạt động của Hội NCT, Thủ tướng đã Chỉ thị:

Về chăm sóc người cao tuổi

Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộc quyền thường xuyên quan tâm làm tốt công tác CSNCT, được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh tế - XH ngắn hạn và dài hạn của địa phương Trong chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư: Chỉ đạo các cơ quan văn hoá, thông tin, giáo dục và đào tạo đẩy mạnh công tác tuyên tryền, giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về ý thức, thái độ

và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kính trọng NCT

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế, XH và các chương trình quốc gia, cần chú ý bồi dưỡng và phát huy nguồn lực NCT Hàng năm cần dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy vai trò NCT và hỗ trợ Hội NCT

Đối với Hội Người cao tuổi

Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến

pháp và pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ về

kinh phí và điều kiện hoạt động

Đối với các Bộ, ngành

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý về mặt Nhà nước đối với Hội NCT có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn Hội hoạt động theo đúng đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước…

Các Bộ, ngành khi soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan đến chính sách đối với NCT cần tham khảo ý kiến của Hội NCT Việt Nam trước khi trình Chính phủ và Quốc hội

Trang 38

Chỉ thị cũng đã đề cập đến Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao… tạo điều kiện và phối hợp… chăm sóc và phát huy vai NCT

Nghị định số 30, Bộ LĐ-TB&XH ban hành Thông tư số 16/TT năm

2002 “hướng dẫn thực hiện điều của Nghị định số 30/CP của Chính phủ”

Nghị định số 121/CP của Chính phủ năm 2003 “Về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn” ghi rõ chế độ đối với Chủ tịch Hội NCT cấp xã

Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/2004/TT-BYThướng dẫn thực hiện công tác CSSK NCT trong đó quy định: NCT được CSSK ban đầu, được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế

độ CSSK cho NCT tại địa phương Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong CSSK NCT

NCT từ 90 tuổi trở lên được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế theo quy định tại Thông tư số 24/2003 ngày 6/11/2003 của Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội hướng dẫn thi hành Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20/10/2003 của Chính phủ Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, gia đình của NCT mua thẻ BHYT cho NCT

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 141, năm 2004 “Về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam”

Nghị định 67/CP, năm 2007 của Chính phủ “Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội”, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000 đồng/tháng

Luật NCT (2009) thể hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống

"uống nước nhớ nguồn" của XH Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc thọ, mừng thọ theo quy định, NCT sẽ được CSSK thông qua

Trang 39

việc định kì KCB tại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho người đủ 80 tuổi trở lên Các bệnh viện sẽ thành lập các khoa lão khoa hoặc dành một số giường

1.2.3 Tình hình về người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay

Năm 1995, tỷ lệ NCT trên toàn thế giới là 9% thì vào năm 2025 Quỹ dân số của Liên Hợp Quốc dự báo sẽ là 14% Ở Việt Nam, theo số liệu tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999, tỷ lệ NCT (60 tuổi trở lên) đã tăng từ 7,1% đến 7,25 và 8,2% trong tổng dân số, gần đến ngưỡng của GHDS mà thế giới quy định

Trong những thập kỷ qua, cơ cấu tuổi dân số Việt Nam biến động mạnh theo hướng: tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-59) tăng lên; và tỷ lệ người cao tuổi (từ 60 trở lên) cũng tăng nhanh, dân số cao tuổi tăng nhanh nhất so với tất cả các nhóm dân số khác trong giai đoạn này Đây chính là đặc điểm đầu tiên, nổi bật nhất của quá trình GHDS ở Việt Nam

Cục bảo trợ XH (2012) đưa ra các đặc điểm sinh học một cách chi tiết hơn Về tình trạng sức khỏe, NCT thường có những căn bệnh đặc thù của tuổi cao tuổi như tim mạch, huyết áp, xương khớp, hô hấp, răng miệng và tiêu hoá Đây là thông tin rất hữu ích trong việc phân biệt đối tượng NCT với các đối tượng thuộc các nhóm tuổi khác trong xã hội về mặt sinh học

Về đặc điểm tâm lý, NCT dễ chuyển từ trạng thái tích cực sang trạng thái tiêu cực, dễ rơi vào cảm giác cô đơn và cần được quan tâm chăm sóc nhiều hơn, dễ cảm thấy bất lực và tủi thân, nói nhiều hoặc trầm cảm, và sợ

Trang 40

phải đối mặt với cái chết, dễ thay đổi tính nết Sự thay đổi về tâm lý này khác nhau ở những giai đoạn tuổi tác khác nhau Cục Bảo trợ XH cho rằng NCT trải qua bốn giai đoạn như sau: Giai đoạn đầu bắt đầu từ 60-69 tuổi Giai đoạn giữa từ 70-79 tuổi Giai đoạn gần cuối từ 80-90 tuổi Giai đoạn cuối của NCT trên 90 tuổi Ở mỗi giai đoạn, NCT có những hạn chế về mặt sức khỏe và thay đổi về mặt tâm lý

1.2.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Về số lượng nhân sự cán bộ hiện đang công tác tại BVLKTW có tổng

469 nhân viên, bao gồm 120 BS, 200 điều đưỡng và 149 nhân viên các chuyên ngành khác

BVLKTW là tuyến cao nhất trong hệ thống thăm khám, điều trị và CSSK cho NCT tại Việt Nam BVLKTW trực thuộc Bộ Y tế, có chức năng:

- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng tuyến cuối cho NCT trong nước và người bệnh nước ngoài

- Đào tạo và tham gia đào tạo cán bộ y tế, chỉ đạo tuyến về lĩnh vực chuyên ngành lão khoa, tham gia phòng chống dịch bệnh theo nhiệm vụ được

Ngày đăng: 25/03/2021, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w