1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng đạo đức của john stuart mill và giá trị hiện thời của nó

116 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách phản ánh giá trị phổ biến và khách quan, không chỉ là mô tả, định hướng hành động của con người mà còn đi tìm và trình bày các nguyên tắc đầu tiên, cơ bản của hành động đó, v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƯƠNG HỒNG NGỌC

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN STUART MILL

VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỜI CỦA NÓ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƯƠNG HỒNG NGỌC

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN STUART MILL

VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỜI CỦA NÓ

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 822900101

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hải Hoàng

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài “tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill và giá trị hiện thời của nó” là công trình nghiên cứu cá nhân của tôi trong thời gian qua Kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất

kỳ hình thức nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này.”

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

“Lời đầu tiên, xin trân trọng cảm ơn Thầy đã hướng dẫn tôi là TS Nguyễn Hải Hoàng, thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập cũng như trong việc hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô thuộc khoa Triết học trường Đại Học Khoa học xã hội và Nhân văn đã tận tình giảng dạy cho tôi trong thời gian học tập

Xin cảm ơn các thầy cô trong hội đồng bảo vệ luận văn đã đọc luận văn

và cho tôi những nhận xét quý báu, chỉnh sửa những sai sót của tôi trong bản thảo luận văn

Xin chân thành cảm ơn!”

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 14

6 Đóng góp mới của luận văn 15

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 15

8 Kết cấu của luận văn 15

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA JONH STUART MILL 16

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill 16

1.2 Những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill 20

1.2.1 Thuyết khoái lạc của Epicurus (341-271 TCN) 20

1.2.2 Lý thuyết về mệnh lệnh tuyệt đối của I.Kant (1724 - 1804) 27

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của John Stuart Mill 47

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA JONH STUART MILL VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỜI CỦA NÓ 55

2.1 Nội dung cơ bản tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill 55

2.1.1 Cơ sở xuất phát điểm tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill 55

2.1.2 Một số phạm trù đạo đức cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Mill 61

2.2 Giá trị, hạn chế cơ bản trong tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill và ý nghĩa hiện thời của nó 80

2.2.1 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill 80

2.3 Một số gợi mở cho Việt Nam trong quá trình phòng chống suy thoái, xuống cấp của đạo đức hiện nay 96

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đạo đức là thước đo phản ánh tồn tại người, lịch sử hình thành và phát triển đạo đức gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người Phản ánh những quan hệ chủ yếu của đời sống xã hội và là hình thái giá trị tinh thần cơ bản của con người và xã hội, là yếu tố cốt lõi của tính cách con người, đạo đức đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội

và đời sống của mỗi con người, điều này đã được thể hiện rõ trong sự khái quát của I Kant - nhà triết học cổ điển Đức khi chỉ ra rằng: trong thế giới của sự nhận thức lý thuyết thì Tôi có thể biết gì? Còn trong thế giới hành động thì Tôi phải làm gì? Với tư cách phản ánh giá trị phổ biến và khách quan, không chỉ là mô tả, định hướng hành động của con người mà còn đi tìm và trình bày các nguyên tắc đầu tiên, cơ bản của hành động đó, vì vậy triết học đạo đức ngay từ sớm đã khẳng định vị trí quan trọng của mình trong dòng chảy của lịch sử triết học và đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu ngay từ giai đoạn đầu của sự hình thành tư tưởng triết học của nhân loại Trong hệ thống tư tưởng đạo đức học phương Tây hiện đại, tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill (1806 - 1873), một nhà triết học người Anh đã

có ảnh hưởng không nhỏ đến tới tư tưởng phương Tây thế kỷ XX và hiện nay Chẳng hạn, theo nhận định của Henry Sidgwick (1838 - 1900), nhà triết học theo thuyết công lợi đã nhận xét rằng: trong khoảng thời gian 1860

- 1865, tư tưởng của J.S Mill đã lan tỏa và thống trị toàn nước Anh - điều

mà rất ít người có thể làm được Bốn thập kỷ sau ngày mất của J.S Mill Cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour (1848 - 1930) đánh giá tầm ảnh hưởng của J.S Mill tại các trường đại học của Anh có thể so sánh với Hegel ở Đức

và Aristotle thời cổ đại Nhà xã hội học người Đức Leopold Von Wiese (1876 - 1969) đã nhận định: “Trong lịch sử Âu Châu hiện đại chỉ có một số

Trang 7

ít các học giả được nhiều ngành khoa học xem trọng như trượng hợp của Mill” Người ta biết đến John Stuart Mill không chỉ như một nhà triết học thực chứng, mà còn là nhà lôgic học, nhà kinh tế học, nhà chính luận và nhà

xã hội học với các tác phẩm được nhiều người biết đến như: Hệ thống

lôgích (1843), Các ngu n về inh tế ch nh trị h c (1848), Bàn về tự do

(1859), Ch nh thể đại diện (1861), Thu ết công ợi (1863), A.Comte và chủ

nghĩa thực chứng (1865), Bàn về tôn giáo (1874, in sau khi ông mất) v.v

Tư tưởng của ông mang đậm dấu ấn duy lý của văn hoá phương Tây, tôn sùng chân lý như giá trị tối thượng mà trí tuệ con người khát khao hướng tới Giới học thuật ngày nay vẫn còn nhắc tới tên tuổi của J.S Mill vì những đóng góp đặc sắc trong lĩnh vực tư tưởng Ông được xem như một triết gia can đảm dám dấn thân vào những vấn đề nhạy cảm của thời đại Ông được coi là người tiên phong trong lĩnh vực đấu tranh cho tự do, dân chủ, bình đẳng của nhân dân Anh quốc; “lý tưởng của ông là đem lại sự tự do cho từng người để có được sự phồn vinh của tất cả mọi người và cuối cùng là nhằm có được sự tiến bộ xã hội”[35, tr.10] Đặc biệt với việc tiếp tục ủng hộ thuyết công lợi của Jeremy Bentham (1748-1832), J.S.Mill đã có những tuyên

bố về đạo đức học Vậy những tư tưởng đạo đức của J.S.Mill nói riêng và của thuyết công lợi nói chung là gì? Những giá trị cũng như những hạn chế của nó? Liệu Việt Nam chúng ta trong quá trình tìm kiếm hệ giải pháp để xây dựng nền đạo đức mới có kế thừa được gì từ nó với tư cách là tiền đề, cơ sở lý luận hoặc phản tiền đề, hoặc gợi mở cho chúng ta điều gì? để trả lời những vấn đề này đòi hỏi chúng ta cần có những công trình nghiên cứu nhất định Việt Nam đã trải qua hơn 30 năm đổi mới, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã tạo dựng được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực, tạo dựng thế và lực mới cho người dân cũng như đất nước Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được vận hành trong đời sống kinh tế - xã hội đã tỏ rõ tính hiệu quả và sự hợp lý của

Trang 8

nó, đồng thời tự bản thân nó cũng đòi hỏi một nền đạo đức mới tương thích Do đó, cùng với nhiệm vụ xây dựng kinh tế thị trường, việc chủ động xây dựng nền đạo đức mới là một nội dung, phương diện của sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay Tuy nhiên, trong thời gian qua, những nỗ lực của chúng ta nhằm thực hiện nhiệm vụ này vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn Mặc dù “nhiều nét mới trong giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước được hình thành Tính năng động và tính tích cực của công dân được phát huy, sở trường và năng lực của cá nhân được khuyến khích”[11, tr.42], nhưng “tình trạng suy thoái xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ”[12, tr.172,173] Chính vì vậy, một trong các nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 -2010 là “tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng văn hóa, đạo đức và lối sống”[12, tr.172,173] và trong báo cáo chính trị trình đại hội XII của Đảng trong nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa con người giai đoạn 2016-2021 đã xác định cần “có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội”[13, tr.127] Để tạo bước chuyển mạnh mẽ trong việc xây dựng đạo đức một mặt, cần phân tích một cách khách quan sự biến động của đạo đức trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, từ

đó xác định được những khâu, những vấn đề chủ yếu nhất cần giải quyết; mặt khác, triết học và triết học đạo đức với chức năng định hướng giá trị cho con người và xã hội, thực hiện sự phản tư đối với hệ thống giá trị văn hóa tinh thần đang tồn tại, phê phán những giá trị lỗi thời và xây dựng, luận chứng cho những giá trị mới, phù hợp với bối cảnh lịch sử hiện tồn, cho nên việc nghiên cứu thực chất nội dung các học thuyết đạo đức học nói chung và đạo đức học phương Tây hiện đại nói riêng, từ đó phân tích, nhận diện những vấn đề gợi mởi, lưu ý cũng như đặt ra đối với Việt Nam có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp những cơ sở lý luận

Trang 9

khoa học để đưa ra các giải pháp ứng xử nhằm xây dựng thành công nền đạo đức và con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Chính vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu “tư tưởng đạo đức của đạo đức của

John Stuart Mill” từ đó chỉ rõ “ý nghĩa hiện thời của nó” có giá trị lý luận

và thực tiễn nhất định, đặc biệt đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng nền đạo đức mới ở hiện nay Hơn nữa là học viên cao học chuyên ngành Triết, việc lựa chọn vấn đề này làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình là mong muốn của cá nhân tác giả, không chỉ mong muốn làm phong phú thêm tri thức của bản thân, tác giả còn hi vọng đây là một trong những con đường để tác giả tiếp cận được văn hóa, con người phương Tây một đối tác không thể bỏ trong quan hệ đối ngoại trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Với những nghiên cứu và tư tưởng của mình trải nhiều trên lĩnh vực, John Stuart Mill được coi là một nhân vật mà tư tưởng của ông đã để lại dấu

ấn nhất định trong lịch sử tư tưởng phương Tây Do đó, tư tưởng và tác phẩm của ông đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, trong đó có Việt Nam

- Một số nghiên cứu về John Stuart Mill ở nước ngoài

Với những di sản về tư tưởng để lại, J.S Mill đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của giới học giả thế giới, đặc biệt là các học giả phương Tây Các

đề tài nghiên cứu về J.S Mill tập trung phân tích tư tưởng chính trị của ông, đặt nó trong mối quan hệ với dòng chảy tư tưởng triết học chính trị phương Tây thời kỳ cổ đại, cận đại và hiện đại để đánh giá những giá trị, điểm tiến bộ

và hạn chế trong hệ thống tư tưởng của ông J.S Mill (1806-1873) là nhà tư tưởng nổi tiếng người Anh ở thế kỷ XIX và có ảnh hưởng sâu rộng đối với triết học chính trị phương Tây cận - hiện đại Do vậy, các học giả ở nhiều quốc gia đã nghiên cứu về nội dung tư tưởng chính trị của ông với những công trình có giá trị nhất định Trong đó, phải kể đến những tác phẩm sau:

Trang 10

Luận án Tiến sỹ của John Mercel Robson (Đại học Toronto, Tháng 12, 1956) với đề tài “The social and political thought of J.S.Mill” (Tư tưởng chính trị - xã hội của J.S.Mill) đề cập quan niệm của Mill về Chính phủ song còn rất hạn chế Tác giả chủ yếu đi phân tích những tư tưởng chính trị xã hội nói chung của Mill như Đạo đức học, Phương pháp khoa học hay một số vấn

đề xã hội khác

Cuốn “Mill on Democracy: From the Athenian Polis to Representative Government” (Tạm dịch: Mill bàn về Dân chủ: Từ thành bang Athen đến Chính thể Đại diện) của Nadia Urbinati, giáo sư chuyên nghiên cứu về Lý thuyết chính trị và lịch sử Hy Lạp thuộc Khoa Khoa học Chính trị của Đại học Columbia, Hoa Kỳ Công trình khoa học này được xem là nghiên cứu đầu tiên mang lại những kiến thức sâu rộng về lý thuyết Dân chủ của Mill Cuốn "Great political thinkers" (Tạm dịch: Những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại) của William Thomas (Oxford University Press, New York, 1992) là công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị về 4 nhà tư tưởng gồm Niccolo Machiavelli, Thomas Hobbes, John Stuart Mill và Karl Marx Trong công trình này, William Thomas nghiên cứu về J.S.Mill theo từng luận điểm: tuổi thơ, nền giáo dục sớm, kinh tế chính trị học J.S.Mill được đánh giá như một nhân vật quan trọng của lịch sử tư tưởng thế kỷ XIX, một nhà tư tưởng tiêu biểu của thời đại

Bộ sách Sổ tay Cambridge về triết h c do nhà xuất bản Đại học

Cambridge Anh quốc phát hành Loạt sách này giới thiệu chi tiết về các tác giả, nhà tư tưởng, nghệ sĩ, chủ đề và giai đoạn triết học khác nhau Mỗi một tập bao gồm những bài viết của những học giả hàng đầu nên đó là tập hợp các quan điểm khác nhau chứ không phải là ý kiến của một tác giả duy nhất

Bộ sách này có hai cuốn đề cập đến thuyết công lợi của John Stuart Mill

Năm 1998, ấn phẩm Sổ tay Cambridge về Mill do John Skorupski làm

chủ biên với sự cộng tác của các học giả nổi tiếng khác được phát hành

Herny R West, biên tập viên tại tạp chí Triết h c Quốc tế, đã nhận xét

Trang 11

cuốn sách này là “bộ sưu tập” những bài viết độc đáo này về triết học của John Stuart Mill Đây là công trình toàn diện và đáng tin cậy nhất từ trước tới nay nghiên cứu về tư tưởng triết học của John Stuart Mill Năm 2014, Nhà

xuất bản Cambridge tiếp tục phát hành cuốn sổ tay thứ hai: Sổ tay Cambridge

về Thuyết công lợi do Ben Eggleston và Dale Miller đồng chủ biên Các bài

viết tập hợp trong cuốn sách này được đánh giá là nguồn tư liệu quan trọng cho các nghiên cứu về triết học đạo đức, triết học chính trị, lý luận chính trị và lịch sử tư tưởng Tập sách này gồm 4 nội dung chính như sau: Nguồn gốc và

sự phát triển của chủ nghĩa công lợi thông qua các tác phẩm của Jeremy Bentham, John Stuart Mill, Henry Sidgwich và một số người khác; Các vấn đề trong việc xây dựng thuyết công lợi; Chủ nghĩa công lợi được xem xét trong mối quan hệ với triết học Kant về đức hạnh đạo đức và về khả năng xung đột giữa thuyết công lợi và thuyết công bằng; Nghiên cứu những tác động của thuyết công lợi trong bối cảnh hiện đại bằng cách xem xét những tác động thực tế của nó đối với những vấn đề đương đại đang gây tranh cãi như xung đột quân sự và sự nóng lên toàn cầu

Cuốn sách “Tư tưởng chính trị của J.S Mil ” được nhà xuất bản Đại

học Cambridge xuất bản năm 2007 của hai tác giả Nadia Urbinati và Alex Zakaras đã đưa ra một cách đánh giá lại (theo cách diễn đạt của các tác giả) về giá trị trong tư tưởng chính trị Mill Trong cuốn này, các tác giả cố gắng liệt kê những bài viết đề cao giá trị triết học chính trị của Mill, từ đó các tác giả đưa ra nhận định riêng của mình về sức hấp dẫn của những ý tưởng đặc sắc trong tư tưởng J.S Mill

Một loạt những cuốn sách nghiên cứu về thuyết công lợi do nhà xuất

bản Cambridge University xuất bản như: Giới thiệu về đạo đức h c công

lợi của Mill của tác giả Henry R West trong đó có rất nhiều phân tích thú vị

về John Stuart Mill và thuyết công lợi của ông; Chủ nghĩa công lợi và hơn

thế nữa do Amartya Sen và Bernard Williams biên tập; Chủ nghĩa công

Trang 12

lợi: ủng hộ và phản đối của hai tác giả J.J.C Smart và Bernard Williams; tác

giả D Weinstein với tác phẩm Chủ nghĩa công lợi và chủ nghĩa tự do

mới (Bối cảnh tư tưởng) Đầu năm 2014, John Perry - Giảng viên trường

St Andrews, Scotland đã xuất bản cuốn Chúa, điều thiện và thuyết công

lợi-từ viễn cảnh của Peter Singer Điều đó cho thấy thuyết công lợi mà

J.Bentham và J.S.Mill theo đuổi, trong thời đại ngày nay vẫn có những ảnh hưởng nhất định và thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu

Một số bài báo nghiên cứu về tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill

như: Triết h c đạo đức của John Stuart Mill do Mark Philop Strasser công

bố năm 1991; bài báo Thảo luận về thuyết công lợi của Mill của David O

Brink đăng trên báo Triết học và công luận số 21 in năm 1992, và cũng kể

đến cuốn sách Giới thiệu về triết h c chính trị xuất bản năm 2003 của các

tác giả Robinson, Dave và Groves, Judy Năm 2008, Daniel Jacobson của đại học Bowling Green State, bang Ohio, Hoa Kỳ đã công bố một bài báo

trên tạp chí Triết học với tên gọi: Chủ nghĩa công lợi không theo thuyết hậu

quả đạo đ ức: trường hợp của John Stuart Mill Trong bài này, tác giả đã

phân tích và khẳng định John Stuart Mill là người theo thuyết công lợi, nhưng không phải là người theo chủ nghĩa hậu quả đạo đức (consequentialism) - học thuyết coi kết quả của hành động là cơ sở cuối cùng

để đánh giá một hành vi là đúng hay sai, có đạo đức hay không

Thuyết công lợi của John Stuart Mill xuất hiện trong hầu hết các cuốn sách nhập môn về triết học phương Tây hiện đại, triết học đạo đức và được giảng dạy nhiều tại các trường đại học hàng đầu trên thế giới với các giảng viên danh tiếng như giáo sư Ian Shapiro và giáo sư Szelenyi của trung tâm nghiên cứu MacMillan, Đại học Yale; giáo sư Michael Sandel

của Đại học Harvard Năm 2013, tác phẩm “Phải trái đúng sai” (Justice -

What’s the right thing to do?) của giáo sư Michael Sandel (đã được dịch sang

tiếng Việt bởi Hồ Đắc Phương và do nhà xuất bản Trẻ phát hành) Trong tác

Trang 13

phẩm này, nguyên tắc hạnh phúc tối đa của Thuyết công lợi được Michael Sandel đề cập trong phần đầu của cuốn sách Sandel đã phân tích, đánh giá các giải quyết các vấn đề đạo đức gây tranh cãi trong thực tiễn theo quan điểm của Thuyết công lợi Từ đó, Sandel chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm riêng trong Thuyết công lợi về đạo đức của Jeremy Bentham và John Stuart Mill

Là đại biểu của chủ nghĩa công lợi nói chung và thuyết công lợi nói riêng, John Stuart Mill đã thu hút sự quan tâm, tranh luận, nghiên cứu nhiều

và có ảnh hưởng nhất định đến đời sống chính trị, xã hội nước Anh nói riêng

và phương Tây nói chung, tư tưởng đạo đức được xây dựng trên nền tảng thuyết công lợi đã có những sự phù hợp nhất định mặc dầu còn nhiều tranh cãi, và điều này chứng tỏ tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill vẫn còn mang tính thời sự và tiếp tục thu hút sự quan tâm nghiên cứu

- Những nghiên cứu về John Stuart Mill ở trong nước

Về ĩnh vực dịch thuật, tác phẩm “Bàn về tự do” của John Stuart Mill

được dịch bởi Nguyễn Văn Trọng và xuất bản lần đầu vào năm 2004, đến năm 2007, dịch giả này tiếp tục giới thiệu tới độc giả trong nước tác phẩm

“Ch nh thể đại diện” với sự hiệu đính của Bùi Văn Nam Sơn Năm 2019,

dịch giả Đặng Đức Hiệp đã chuyển thể tác phẩm Thuyết công lợi của John Stuart Mill sang tiếng Việt và được Nhà xuất bản Văn hóa - Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh xuất bản Có thể nói rằng với bộ ba tác phẩm gốc của John Stuart Mill được dịch ra tiếng Việt đã cho phép những người quan tâm và nghiên cứu ở Việt Nam có cơ hội tiếp cận được tư tưởng gốc về chính trị, đạo đức của John Stuart Mill, từ đó phục vụ có hiệu quả cho quá trình nghiên cứu của mình

Về các công trình nghiên cứu, luận văn, uận án, bài báo

Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hải Hoàng viết với đề tài Quan điểm

về tự do trong Bàn về tự do của John Stuart Mill, năm 2008 Luận văn chỉ

tập trung nghiên cứu quan điểm của John Stuart Mill về tự do Tuy nhiên,

Trang 14

trong quá trình phân tích về vấn đề tự do của Mill, tác giả cũng đã tiếp cận

và giới thiệu khái quát về nguyên tắc công lợi, cơ sở cho việc hình thành quan điểm tự do cũng như quan điểm về đạo đức của John Stuart Mill

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thùy Linh viết bằng

tiếng Anh có tên: John Stuart Mil ’s socio - political philosophical thought

(Tư tưởng triết h c chính trị - xã hội của John Stuart Mill), năm 2010

Trong khóa luận của mình, tác giả cũng đã trình bày nguyên tắc công lợi và nguyên tắc tự do với tư cách là cơ sở, điểm xuất phát trong tư tưởng của Mill

để từ đó trình bày quan điểm về giáo dục, quan điểm về nền dân chủ, đã nêu được những tư tưởng cơ bản về triết học chính trị và đạo đức xã hội

của John Stuarl Mill trong tác phẩm Bàn về tự do và chỉ ra một số giá trị

và hạn chế chính của ông trong tác phẩm

Luận án Tiến sĩ Triết học của Ngô Thị Như (Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân Văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2012) với tên đề

tài: “Triết h c chính trị của J.S Mill - Giá trị và bài h c lịch sử”, trình bày

một cách hệ thống triết học chính trị J.S.Mill và chỉ ra những nội dung cơ bản trong triết học chính trị của ông Luận án cũng phân tích và rút ra những giá trị, bài học lịch sử của triết học chính trị J.S.Mill trong vấn đề tự do cá nhân, quyền lực nhà nước, dân chủ, bầu cử, giáo dục và giải phóng phụ nữ, qua đó chỉ rõ những hạn chế của triết học chính trị J.S.Mill thể hiện ở tính chủ quan, thiếu nhất quán và thiếu một cơ sở thực tiễn thể hiện ở quan điểm

về vai trò của quần chúng nhân dân Trên cơ sở phân tích tư tưởng chính trị của J.S.Mill, tác giả đã tiếp cận và phân tích nguyên tắc công lợi như là nền tảng

cơ sở để đảm bảo tự do và dân chủ

Luận văn thạc sĩ chính trị học của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) với tên đề

tài: “Tư tưởng chính trị của John Stuart Mi ”, tác giả cũng tập trung đi sâu

vào nghiên cứu, phân tích nội dung tư tưởng chính trị của J.S.Mill như tư

Trang 15

tưởng tự do, bình đẳng của phụ nữ, dân chủ, quyền bầu cử, tiêu chuẩn đánh giá thể chế chính trị, từ đó chỉ ra những giá trị và hạn chế và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu này của tác giả được nhìn nhận từ khía cạnh của chính trị học

Luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Ánh Hồng Minh (Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) với tên đề tài: “Tư

tưởng đạo đức của John Stuart Mill trong tác phẩm Thuyết công lợi” Trong

luận văn này, tác giả đã đi sâu phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội, tền

đề tư tưởng cho việc hình thành tư tưởng đạo đức của J.S.Mill, tác giả làm rõ những quan niệm đạo đức cơ bản của J.S.Mill trong tác phẩm “chủ nghĩa công lợi” và đánh giá về tư tưởng đạo đức của J.S.Mill thông qua tác phẩm thuyết công lợi Đây là một trong số ít công trình nghiên cứu trực tiếp đến tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill và là nguồn tư liệu tham khảo quý giá để tiếp tục nghiên cứu làm rõ thêm những nội hàm trong tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill sau này

Bài báo Chủ nghĩa vị lợi nhìn từ góc độ đạo đức h c của tác giả Đỗ Minh Hợp và Trần Thanh Giang Tạp chí Khoa h c Đại h c Quốc gia Hà Nội, Khoa

h c Xã hội và Nhân văn số 26, năm 2010 Bàn về góc độ đạo đức của chủ nghĩa

công lợi qua hai triết gia chính là Jeremy Bentham và John Stuart Mill, trên cơ

sở phản đối chủ nghĩa công lợi gay gắt của J Moore các tác giả đi đến kết luận, cần chỉ ra sự cần thiết phải đánh giá đúng chủ nghĩa công lợi cả về hạn chế lẫn

ưu điểm của nó

Bên cạnh đó, một số nội dung tư tưởng cơ bản của John Stuart Mill cũng được trình bày trong một số cuốn giáo trình về Triết học phương Tây hiện đại Tuy nhiên, các công trình này tập trung vào trình bày khái quát nội dung tư tưởng triết học của John Stuart Mill chứ chưa đi sâu vào khai thác tư tưởng đạo đức của ông

Đề tài "Tư tưởng chính trị phương Tây cận, hiện đại" do Ngô Huy

Trang 16

Đức, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ nhiệm là đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng chính trị Đề tài dành chương II để nghiên cứu về các tư tưởng của Mandison và Mill, trong đó, tư tưởng chính trị của J.S.Mill được để cập thông qua các luận đề như quan niệm về con người chính trị, quan niệm về thể chế chính trị, mối quan hệ giữa con người chính trị và thể chế chính trị

Nhìn chung, các công trình nói trên đều nghiên cứu về tư tưởng của John Stuart Mill ở nhiều khía cạnh khác nhau, có nội dung khác nhau Các công trình nghiên cứu đã tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích tư tưởng về nguyên tắc tự do và nguyên tắc công lợi như là cơ sở, nền tảng xác định quyền con người, quyền lực của nhà nước, phẩm chất đạo đức của con người, từ đó đi đến đánh giá đóng góp và hạn chế trong tư tưởng của ông Như vậy, với nguyên tắc công lợi, nguyên tắc tự do làm điểm xuất phát để xây dựng những tư tưởng về chính trị, đạo đức Những tư tưởng này của Mill đã

có sự ảnh hưởng nhất định đối với lịch sử phát triển tư tưởng phương Tây và đã được quan tâm, nghiên cứu trên nhiều khía cạnh và bình diện Tuy nhiên, không phải vì thế mà những nghiên cứu về ông sẽ giảm đi mà ngược lại Điều này đã được chứng minh khi giáo sư triết học Michael Sandel của Đại học Harvard trong những năm gần đây, trong các bài giảng về công lý, về giá trị đã tiếp tục thổi bùng tư tưởng của chủ nghĩa công lợi nói chung và của J.S.Mill nói riêng

và thu hút được sự quan tâm cũng như tranh luận của giới trẻ nước Mỹ Ở Việt Nam, trong những năm gần đây khi mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được vận hành trong nền kinh tế - xã hội, việc đề cao lợi ích kinh

tế và tiêu chuẩn lợi ích của kinh tế được xem xét, vận dụng và đánh giá trong các quyết định và mối quan hệ xã hội thì việc tiếp tục nghiên cứu tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill tiếp tục là cần thiết qua đó góp phần phản biện tư duy một chiều trong sự phát triển kinh tế - xã hội, và góp phần thực hành quan điểm phát triển bền vững đã được Đảng và Nhà nước ta quán triệt, đồng thời cũng qua đó góp phần xây dựng nền đạo đức mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong

Trang 17

giai đoạn hiện nay và mai sau

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đ ch nghi n cứu

Trên cơ sở trình bày, phân tích những tư tưởng cơ bản của John Stuart Mill

về đạo đức, từ đó khẳng định giá trị hiện thời của nó và gợi mở cho Việt Nam một số ý nghĩa nhất định trong quá trình xây dựng đạo đức mới trong giai đoạn hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, luận giải những điều kiện và tiền đề cho sự hình thành tư tưởng

đạo đức của J.S.Mill

Thứ hai, phân tích những quan niệm cơ bản về đạo đức của J.S.Mill, trên

cơ sở đó bước đầu đưa ra những đánh giá về tư tưởng đạo đức của J.S.Mill và chỉ rõ giá trị hiện thời của nó cũng như phác thảo gợi ý nhất định đối với quá trình xây dựng đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng đạo đức cơ bản của John Stuart Mill

* Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn khảo sát của luận văn là tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill

trong các tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Việt bao gồm: Bàn về tự

do, Chính thể đại diện và Thuyết công lợi

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của của chủ nghĩa Mác - Lênin và những quan điểm của Đảng cộng sản Việt

Trang 18

Nam về tư tưởng

* Phương pháp nghi n cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hóa, phương pháp lôgíc và lịch sử, phương pháp văn bản học…

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn tiến hành luận giải một cách có căn cứ, mang tính hệ thống và khách quan, bước đầu góp phần làm sáng tỏ những tư tưởng đạo đức cơ bản của John Stuatr Mill, đặc biệt từ sự phân tích đó, luận văn nêu ra một số vấn đề đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng đạo đức mới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

* Ý nghĩa uận

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill, từ đó một mặt làm rõ những tư tưởng đạo đức cơ bản của John Stuart Mill, một trong các đại biểu tiêu biểu của Chủ nghĩa công lợi trong triết học, mặt khác góp phần bổ sung, làm rõ tính phong phú, đa dạng trong hệ thống

lý luận về đạo đức học phương Tây hiện đại

8 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu

tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết

Trang 19

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC

CỦA JONH STUART MILL 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill

“Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều

là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”[34; tr.137] Do đó, khi tìm hiểu về những tư tưởng đạo đức của J.S.Mill đòi hỏi chúng ta cần phải khảo cứu về đặc điểm kinh tế, xã hội mà ông đã trải nghiệm

Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa, từ cuối thế kỉ XV, đầu thế kỉ XVI, các ngành công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu, đặc biệt là ở Anh Nhu cầu mở rộng sản xuất hàng hóa và mở rộng thị trường đã tạo động lực to lớn cho các ngành khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu, nhiều phát minh vĩ đại trong sản xuất đã ra đời như: phát minh ra Thoi bay của John Kay năm 1733, máy hơi nước của James Watt năm 1784, hay lò luyện thép của Henry Bessemer năm 1875, xe lửa chạy bằng hơi nước năm 1804, thậm chí, năm 1851, Anh đã tổ chức một cuộc triển lãm

để bố cáo với thế giới về sự phát triển mạnh mẽ trong kĩ thuật cũng như kinh

tế của mình Với những phát minh mang tính đột phá về kỹ thuật mới trong sản xuất đã thúc đẩy năng suất lao động lên cao, tạo sự chuyển dịch mạnh mẽ

và thay đổi về chất của lực lượng sản xuất; lực lượng sản xuất mới được xác lập và nhanh chóng lan tỏa từ Anh sang các nước khác ở Tây Âu, tạo điều kiện cho cuộc cách mạng trong lĩnh vực quan hệ sản xuất - một kiểu quan hệ sản xuất mới ra đời thay thế quan hệ sản xuất phong kiến đã trở nên lỗi thời, lạc hậu so với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất của cuộc đại cách mạng công nghiệp Trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp, phương thức sản xuất tư bản đã nhanh chóng chiếm ưu thế và thay thế phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu, thống lĩnh toàn Châu Âu

Trang 20

Cuộc cách mạng tư sản thắng lợi đã đập tan xiềng xích buộc con người của chế độ phong kiến độc tài, tạo ra sự chuyển mình mạnh mẽ trong toàn xã hội không chỉ ở những mặt căn bản như kinh tế, chính trị mà cả trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng Những giá trị văn hóa mới ra đời, đồng thời có sự phục hưng mạnh mẽ của những giá trị văn hóa tư tưởng cổ đại sau hàng trăm năm bị

áp bức bởi những tư tưởng duy tâm tôn giáo với mục đích chi phối con người của xã hội phong kiến

Giai cấp tư sản ngay từ khi ra đời đã thu hút mạnh mẽ lực lượng tham gia “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” được coi là giá trị đích thực của sự tồn tại, là mục tiêu hướng tới của toàn xã hội đã trở thành cực nam châm để giai cấp tư sản thu hút sự hưởng ứng và ủng hộ từ tất cảc các lực lượng quần chúng Lần đầu tiên những con người cùng khổ bị áp bức bởi phong kiến được nghe tới những cụm từ này, họ biết đấu tranh vì cuộc sống của mình chứ không phải đặt cuộc sống của mình vào tay thần thánh hay nhà vua như trước kia nữa Đây cũng chính là hệ giá trị xuất phát điểm để từ đó, giai cấp tư sản thực hiện xây dựng lên những hệ giá trị tư tưởng khác tiêu biểu cho thời đại mới, thay thế những giá trị của hệ tư tưởng phong kiến nhằm thực hiện cuộc cách mạng tiếp theo trên bình diện tư tưởng Nếu như ở thời kỳ phong kiến, tư tưởng con người bị kiềm chế, chịu sự thống trị của xã hội phong kiến, của những tư tưởng duy tâm tôn giáo thì nay đã có những biến đổi mạnh mẽ Sau hàng trăm năm con người bị đè nén về mặt tư tưởng, lần đầu tiên, con người được tiếp cận với những khái niệm như tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ Những học thuyết về chính trị, về tự do của con người và những qui chuẩn đạo đức của xã hội mới lần lượt được ra đời và còn giữ nguyên giá trị cho đến thời hiện đại Một trong những biểu hiện rõ nét về sự chuyển biến trên bình diện tư

tưởng là phong trào triết học khai sáng, các đại biểu như G.Locke J Rousseau, P.Bacon, R Descartes, đã manh nha từ thế kỉ XVII nhưng phải

đến thế kỉ XVIII, giai đoạn của I.Kant, triết học khai sáng nói riêng và luồng

Trang 21

tư tưởng mới nói chung mới được hình thành rõ nét Triết học khai sáng theo quan điểm của I.Kant là sự giải thoát con người ra khỏi tình trạng chưa trưởng thành mà chính con người tạo ra cho mình Sự chưa trưởng thành này được đánh giá qua việc con người phải dựa vào sự dẫn dắt của một chủ thể khác chứ không phải dựa vào lý trí của chính mình Điều này không phải do con người thiếu lý trí mà do con người thiếu sự can đảm, không dám sử dụng lý trí của chính mình nên đã để kẻ khác lợi dụng, dẫn dắt và chi phối một cách mù quáng Nhận thức rõ sự u mê và thiếu can đảm của con người trong xã hội phong kiến, các nhà triết học khai sáng đã đưa ra lời kêu gọi con người hãy dám tìm hiểu, dám biết và dám sử dụng lý trí của mình để quyết định cuộc sống của mình Phong trào khai sáng và tư tưởng của các triết gia theo trường phái khai sáng vẫn đã và đang có sức ảnh hưởng quan trọng tới tư tưởng nhân loại Ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, phong trào khai sáng vẫn tiếp tục được nhân rộng và là vũ khí quan trọng giúp chống lại chủ nghĩa phong kiến mông muội, tối tăm và chế độ thần quyền trên bình diện tư tưởng Một số luận điểm của các nhà khai sáng vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay như: Lý tính được coi là khả năng quan trọng nhất của con người, nhờ có nó mà con người nhận biết được điều gì là đúng đắn, từ đó đưa ra quyết định về hành động của bản thân; Hoặc niềm tin của con người mang tính chủ quan, xuất phát từ mỗi

cá nhân, cụ thể hơn là từ lý tính của mỗi cá nhân Niềm tin không có tính truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác, không thể dùng chức sắc hay uy quyền để bắt ép và càng không dựa trên tôn giáo hay kinh nghiệm của con người “Tất cả mọi người trong xã hội đều có quyền bình đẳng về khía cạnh lý lẽ so với các cá nhân hay với một tổ chức, mọi người đều có quyền có

lý lẽ của cá nhân mình, không ai có quyền xâm phạm hay tước đoạt quyền đưa

ra lý lẽ cá nhân của người khác Từ đó, con người trong xã hội cần xây dựng

và bảo vệ quyền bình đẳng, tự do cá nhân của mình cũng như quyền bình đẳng trước pháp luật”

Trang 22

Một trong những giá trị chủ đạo của tư tưởng thời kì này là tư tưởng về

sự tự do cá nhân, những giá trị đạo đức được xây dựng trên tinh thần mới, tinh thần của con người dân chủ Chính bối cảnh chính trị nước Anh này đã tác động không nhỏ đến sự hình thành tư tưởng của J.S.Mill, khiến ông phát hiện

và có những đóng góp nhất định bằng việc đưa ra được nhiều tư tưởng quí báu

và mang ý nghĩa cấp thiết cho xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực đạo đức, chính trị Sinh ra ở thế kỷ XIX, đây là giai đoạn nước Anh hưng thịnh nhất, chủ nghĩa tư bản đã đem lại nguồn lợi to lớn cho nước Anh, nhưng J.S.Mill đã sớm nhận thấy mặt trái của chủ nghĩa tư bản Với một xã hội vị lợi nhuận, vị đồng tiền bấy giờ, phù hợp với thuyết công lợi đơn thuần của Bentham Với châm ngôn: “Giảm bất hạnh tăng lợi ích” giới cầm quyền đã lợi dụng điều đó để lái sang hướng khác, nhằm phục vụ mục đích của mình J.S.Mill mong muốn khắc phục hạn chế của thuyết công lợi và mang lại tính nhân văn cho nó

Thêm vào đó, nhờ cuộc phát kiến địa lý vĩ đại tìm ra châu Mỹ của Colombus mà làn sóng di dân trên thế giới diễn ra mạnh mẽ Lúc này, nhà nước Anh đã nắm bắt cơ hội, thúc đẩy ngành nghề công nghiệp đóng tàu, hàng loạt con tàu bằng kim loại ra đời thay thế cho tàu gỗ trước đó Với sự phát triển của nghành công nghiệp tàu thủy, nước Anh thâu tóm gần như toàn bộ việc giao thông vận tải trên biển, hoạt động giao thương, buôn bán trên thế giới diễn ra náo nhiệt hơn bao giờ hết Nhờ sự đón đầu và tiềm lực kinh tế của mình, nước Anh đã vươn lên trở thành quốc gia sở hữu nhiều thuộc địa lớn nhất thế giới Thuộc địa của Anh trải dài cả ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ,

mở ra giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thực dân ở Anh Trong giai đoạn đó, chính những mâu thuẫn giai cấp cũng ảnh hưởng đến quá trình hình thành tư tưởng J.S.Mill, bằng chứng cho điều đó là những đoạn ông viết về công lý, sự bất công và những người cộng sản trong các tác phẩm của mình

Trang 23

1.2 Những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của John Stuart Mill

1.2.1 Thuyết khoái lạc của Epicurus (341-271 TCN)

Chủ nghĩa khoái lạc là một trong những khuynh hướng triết học duy vật

Hi Lạp thời kỳ hậu Socrates, xem khoái lạc là mục đích của cuộc đời Có rất nhiều người hiểu sai về từ khoái lạc, khi nhắc tới hai từ “khoái lạc” người ta thường hình dung tới một lối sống phóng túng, đời sống thiếu lành mạnh và có phần trụy lạc, thả tâm trí và sức lực vào những thú vui nhục dục không màng tới thực tại Tư tưởng đó là hoàn toàn sai và có phần phiến diện Học thuyết khoái lạc của Epicurus lại hoàn toàn ngược lại, đó là một học thuyết hướng về những tư tưởng cao đẹp của các bậc hiền triết và hoàn toàn với mục đích đúng đắn, hướng con người ta tới cái chân - thiện - mỹ và hoàn thiện đời sống

Học thuyết khoái lạc được bắt nguồn từ một môn đệ của Socrates có tên Aristippus (khoảng 430 -350 TCN) sáng lập ra, theo đó sự thỏa mãn những dục vọng trực tiếp của cá nhân, không cần quan tâm đến người khác, được coi

là mục đích tối cao; những khoái cảm xác thịt, theo phái này còn đáng giá hơn những niềm vui trí tuệ hư ảo và phức tạp Ông muốn đưa nguyên tắc của thầy mình đến gần với đời sống con người và phổ cập nguyên tắc: coi hạnh phúc là cái đích chung của toàn nhân loại Hạnh phúc trong thuyết khoái lạc có điểm đặc biệt, không giống các học thuyết khác Hạnh phúc không giống như Platon

mô tả là: “cái hoan lạc được chiêm ngưỡng và kết hợp cùng cái chân - thiện - mỹ”[5, tr.105] Hạnh phúc cũng không đơn thuần là sự bình yên trong tâm hồn, thanh thản trong cuộc sống như quan điểm của phái Khắc Kỷ Hạnh phúc

ở đây chính là một sự cảm nhận ngắn ngủi trong giây phút hiện tại Hạnh phúc chính là khoái lạc thể chất, là sự thỏa mãn của con người khi thể chất hoặc tinh thần đưa ra những đòi hỏi cụ thể Hạnh phúc theo thuyết khoái lạc không bao giờ đạt tới sự phóng túng, trụy lạc vì ở đó con người vẫn phải giữ sự tự do, tỉnh táo của tâm hồn Chỉ người nào không giữ được sự tự do tâm hồn, dẫn đến

Trang 24

bị những ham muốn cá nhân điều khiển và chi phối mới trở thành nô lệ của khoái lạc Sự độc lập và táo bạo về tư tưởng làm nên sự tự do cho tâm hồn Giá trị của hành động là do kết quả của nó qui định chứ không phải ở ý hướng hoặc giá trị tinh thần nào khác Tuy nhiên, do nhấn mạnh và gắn khoái lạc với việc đạt được, thỏa mãn những nhu cầu của thể xác đã làm cho chủ nghĩa khoái lạc của Aristippus mang tính quá khích, thể hiện khuynh hướng chủ nghĩa khoái lạc tầm thường, vị kỷ

Chủ nghĩa khoái lạc phát triển đến giai đoạn Epicurus (341-271 TCN) đã

có sự thay đổi về chất, gắn với phái triết học do Epicurus sáng lập, được gọi là chủ nghĩa khoái lạc lý tính, đề cao những phẩm hạnh như tính tự chủ và sự cẩn trọng và sẽ là không tốt nếu làm điều gì đó để có được khoái cảm nhất thời nhưng lại gây ra hậu quả xấu cho tương lai Có thể khẳng định: Epicurus chính

là người có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc phát triển về chất qua đó phổ biến tư tưởng của học thuyết khoái lạc Ông là người đã dung hòa được tất cả những quan niệm của các bậc tiền bối về khoái lạc và đưa khoái lạc trở thành một hệ thống tư tưởng, luận điểm Epicurus cho rằng cả thể xác và linh hồn của con người đều là do sự cấu tạo một cách tình cờ của các nguyên tử tạo thành Đây là một quan điểm mang tính duy vật đậm nét Từ đó, ông dẫn giải hạnh phúc của con người hay các sinh vật khác chính là sự thỏa mãn, từ sự thỏa mãn nơi thân xác sẽ dẫn tới cái khoái lạc Epicurus đưa ra khẩu hiệu: Tìm khoái lạc và tránh đau khổ, đây cũng là tiêu chí đánh giá hoạt động và mục đích hướng tới của thuyết khoái lạc Theo ông, nỗi đau khổ phần lớn đến từ tinh thần, tâm hồn của mỗi con người Con người có rất nhiều nỗi sợ hãi vô ích như sợ chết, sợ thần linh, sợ số mệnh, và chính những nỗi sợ vô ích này là nguyên nhân đem tới khổ đau, từ đó chúng ta cần tiêu diệt, hóa giải chúng Nói như vậy không có nghĩa thuyết khoái lạc là thuyết vô thần, phủ nhận sự tồn tại của thần thánh Quan điểm của Epicurus là thần thánh dù có tồn tại hay không cũng không ảnh hưởng tới đời sống của con người Số mệnh cũng là thứ

Trang 25

không đáng bận tâm vì theo ông mọi sự gặp gỡ đều do sự tình cờ tác động Sau cùng khi nói tới sự chết, Epicurus có nói “Sự chết chỉ là một ảo ảnh, vì nó không là gì cả khi còn sự sống, mà lúc nói tới thì linh hồn đã tiêu tan rồi: vậy

nó chả làm gì được ai, sống cũng như chết Vì vậy, không nên sợ những điều

vô ích, nó sẽ làm giảm sự hạnh phúc của con người Trong quan niệm về những nỗi đau đớn của thể xác, nếu người theo phái khắc kỷ phủ nhận tác hại của nó thì những người theo thuyết khoái lạc lại hoàn toàn công nhận nó Cách tốt nhất để vượt qua những đau đớn về thể xác là tưởng tượng ra những khoái lạc đã từng diễn ra trước đó hoặc những khoái lạc sẽ tới sau khi sự khổ đau này kết thúc Epicurus có tư tưởng rất lạc quan về vấn đề này, ông khuyên con người ta rằng sự đau đớn mạnh thì mau qua còn sự đau đớn nhẹ thì dễ dàng chịu đựng Epicurus đã dùng chính cuộc đời của ông để minh chứng cho tôn chỉ của mình: khi ông mắc căn bệnh sỏi thận trong thận vô cùng đau đớn, ông vẫn luôn mỉm cười, nhớ lại những ngày tháng sống êm đềm bên cạnh những người thân yêu và nói rằng mình đã trải qua một ngày sung sướng

Epicurus lấy lý tưởng của Democrite về một cuộc sống thanh thản là sự tốt lành tối ưu, ông dẫn theo lập luận của Eudoxus coi sự thôi thúc tự nhiên đi tìm lạc thú của mọi loài là thiện hảo, và phân biệt hai loại lạc thú, lạc thú được nghiệm thấy khi một cơ thể cảm thấy hạnh phúc từ một sự thiếu hụt được đáp ứng, và một loại nghiệm thấy khi cơ thể ở trong trạng thái ổn định, không bị chi phối bởi đau khổ hay phiền hà; loại sau được coi là tối ưu

Như vậy, đối với khoái lạc, Epicurus đã nhấn mạnh vào sự phân biệt những loại lạc thú khác nhau để hướng dẫn con người đạt được đời sống hạnh phúc nhất, từ đó ông đã phân loại khoái lạc thành hai dạng: thứ nhất là khoái lạc động - bản chất của nó là sự tiêu khiển, vui vẻ, náo động, làm thỏa mãn những ham muốn của cơ thể như đói được ăn, khát được uống nước; thứ hai là khoái lạc tĩnh - bản chất của nó là cơ thể khỏe mạnh và tinh thần vô ưu, trong trạng thái bình lặng không có đòi hỏi gì, và khoái lạc thứ hai mới thực sự đem

Trang 26

lại cho con người hạnh phúc, là tự do Khoái lạc động chóng đến, chóng đi, khi

nó xuất hiện sẽ rất mãnh liệt đòi hỏi được đáp ứng, đôi lúc còn đem tới sự chán trường, mệt mỏi cho con người Trái lại, khoái lạc tĩnh thường lâu bền hơn và thường không mang lại đau khổ hay cảm xúc quá mãnh liệt cho con người Khoái lạc tĩnh là thứ khó đạt được hơn và cũng là thứ đáng được khao khát hơn, đời sống lí tưởng là đời sống có càng nhiều giây phút tận hưởng loại khoái lạc này càng tốt và kiểm soát tốt khoái lạc động, làm sao cho thân xác không đòi hỏi quá đáng và cũng không gây ra sự chán chường, mỏi mệt cho bản thân là được

Từ hai dạng khoái lạc này mà làm xuất hiện quan niệm về hạnh phúc, Epicurus hướng con người tới khoái lạc tinh thần để có tự do, hạnh phúc trên

cơ sở bền vững nhất Epicurus không phủ nhận khoái lạc động, nhưng ông không coi đó là mục đích của cuộc sống đạo đức và J.S.Mill đã kế thừa tư tưởng này của Epicurus để xây dựng tư tưởng đạo đức học công lợi của mình Epicurus đề cao sự khoái lạc thể xác và khoái lạc tinh thần, tuy nhiên ông cho rằng khoái lạc tinh thần là thứ dành cho người trí thức Thuyết khoái lạc của Epicurus thường bị hiểu lầm là khuyên con người ta nên sống phóng túng, chiều chuộng khoái lạc thể xác, những sở thích tầm thường của mình Tuy nhiên, bản thân học thuyết của Epicurus cũng đánh giá cao vai trò của khoái lạc tinh thần, chỉ có điều ông phân biệt khoái lạc tinh thần chỉ dành cho người trí thức chứ không phải tất cả mọi người Đặc biệt, ông cũng khuyên con người ta nên hưởng thụ khoái lạc thể xác ở mức vừa phải

Epicurus đề cao niềm vui tinh thần hơn là niềm vui cảm tính Ông răn dạy con người cần phải có lòng hảo tâm và cư xử tế nhị, chừng mực với những người xung quanh Ông đặc biệt đề cao tình bạn vì cho rằng đó là thứ làm đẹp cho cuộc sống mỗi người Ông đặc biệt ủng hộ những cuộc đấu tranh chống lại mê tín dị đoan, chống lại tôn giáo vì theo ông đó là thứ tước đi sự thanh thản, bình yên nơi tâm hồn mỗi người Nó gieo giắc nỗi sợ hãi về cái

Trang 27

chết, sự trừng phạt từ đấng siêu nhiên, cuộc sống hư ảo không có thực như cõi niết bàn, thiên đàng Lý tưởng đạo đức của ông có cơ sở từ sự tự thưởng thức bản thân mình, vì vậy nó mang màu sắc vị kỷ Epicurus và học thuyết khoái lạc của mình ủng hộ việc con người dám sống, sống hết mình một cách lành mạnh và nhờ sự phấn chấn đó để thoát khỏi những điều tiêu cực

mà con người gặp phải trong cuộc sống Điều này đã giúp con người có cái nhìn tích cực, thêm yêu đời và sử dụng quỹ thời gian của mình một cách thiết thực và hiệu quả Sự khoái lạc theo quan niệm của Epicurus không phải những thú vui nhất thời, vụn vặt mà là thứ vui dài lâu, thậm trí kéo dài suốt đời Nó không chỉ là thú vui thân xác mà còn bao gồm cả thú vui tâm hồn; đối với Ông: “Khoái lạc lớn nhất là ở cuộc sống bình dị và điều độ, tiêu dao với bạn bè và cùng đàm luận triết học với họ”[29, tr.57] Để có thể hiện thực hóa lý tưởng này, Epicurus cho rằng con người cần có sự khôn ngoan, sự tiết

Bên cạnh khôn ngoan, con người còn cần tiết lộ, đức tính này sẽ giúp con người tiết chế những nhu cầu tự nhiên của thân xác và tinh thần khỏe mạnh

Sự tiết lộ là luôn giữ cho nó ở trạng thái vừa đủ thỏa mãn, không để nó đói khát, khao khát nhưng cũng không để nó phung phí, vô độ, rơi vào cảnh “ăn

no dửng mỡ” Điều này cũng giúp con người dễ thỏa mãn với cuộc sống thực tại, vui sống thanh đạm, bình tĩnh

Sự công bình trong học thuyết của Epicurus để giúp con người tránh làm những việc có hại cho người khác, tránh được những việc kiện tụng, lôi thôi hay tranh chấp, thù oán trong đời sống Nhờ đó con người giữ được sự bình yên trong tâm hồn và an vui trong cuộc sống

Trang 28

Cuối cùng ông cho rằng con người cần tình bạn, tình bạn giúp con người vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, tận hưởng cuộc đời yên vui và tạm quên đi cảnh khổ Có thể thấy, Epicurus rất coi trọng và đề cao tình bạn Minh chứng rõ nét nhất là chính cuộc đời ông, khi ông chuẩn bị lìa đời, ông viết rằng chính tình bạn và sự hồi tưởng về những tháng ngày hạnh phúc bên cạnh bằng hữu đã giúp ông vượt qua đau đớn thể xác

Học thuyết của Epicurus không phải là cái gì xa lạ, nó hoàn toàn tương xứng với trình độ phát triển của xã hội thời đó Mục đích của nó là chống lại chủ nghĩa duy tâm, những ý đồ làm “ngu dân” bằng tôn giáo của giới cầm quyền Bản chất học thuyết này ra đời trước hết là đáp ứng nhu cầu của giai cấp chủ nô - những người tự do trong xã hội phong kiến Có thể thấy, tính phân biệt giai cấp tương đối rõ trong học thuyết này, vì vậy đến giai đoạn xã hội hiện đại nó không thực sự có chỗ đứng vững chắc

Với những quan niệm về đạo đức như vậy, có thể thấy tư tưởng đạo đức học của Epicurus thể hiện sự vô thần rõ nét: “Epicurus là người hùng đầu tiên

đã đạp đổ thánh thần và chà đạp lên tôn giáo Vì vậy, mà tất cả những đức cha nhà thờ, từ Plutaco đến Lutho đều coi Epicurus là nhà triết học vô thần cực điểm và không thể chấp nhận được”[46, tr.186]

Thuyết khoái lạc hay thuyết khắc kỷ đều giống nhau ở chỗ đều giữ được

sự thanh tịnh và bình yên nơi nội tâm Khác biệt là người khắc kỷ không trốn tránh đau khổ cũng không cần đến khoái lạc Họ coi hai điều đó là tất nhiên và không cái nào có giá trị hơn cái nào, điều quan trọng là họ vẫn giữ được sự bình tĩnh bên trong Khác với phái khắc kỷ, những người theo thuyết khoái lạc lại có xu hướng không “mặc kệ” những nỗi đau khổ, họ tìm cách trốn tránh hoặc diệt trừ nó và đồng thời không để tâm hồn bị lũng loạn bởi khoái lạc Dù

có sự khác nhau trong phương thức, nhưng cả phái khắc kỷ và thuyết khoái lạc đều có một điểm yếu là sự ích kỷ Họ đều nêu cao tiêu chỉ sống là không làm hại ai, không liên lụy ai, cố gắng giữ tâm hồn bình thản, trong sạch Nhưng

Trang 29

điều đó là chưa đủ, nhất là trong xã hội ngày nay, nơi con người còn đầy rẫy khổ đau và cần được cảm thông, chia sẻ Con người chúng ta cần phải vượt qua bản ngã của mình mà suy nghĩ cho những người khác, cho cả cộng đồng Chúng ta cần đem sức lực của mình ra cống hiến cho cộng đồng, hành động cũng phải suy xét đến lợi ích cộng đồng chứ không phải chỉ suy tính đến bản thân hoặc một nhóm bằng hữu nhỏ của mình Nếu chỉ dừng lại ở thuyết khoái lạc, chỉ coi trọng sự nuông chiều bản thân thì đến một lúc nào đó, sự ích kỷ sẽ nảy nở thêm và thậm trí tới khi quá độ, nó sẽ làm hại tới người khác và chính bản thân mình

Có thể nói, Epicurus đã xây dựng nên học thuyết đạo đức mang đậm màu sắc cá nhân, “hình thành một triết học đạo đức cá nhân”[51, tr.97] vì trước hết mối bận tâm của ông là khoái lạc cá nhân chứ không phải con người xã hội Điều này khác so với đạo đức học của J.S.Mill khi ông tập trung đề cập đến đạo đức con người với tư cách xã hội Epicurus chỉ nhìn nhận xã hội với chức năng dân sự - đó là chức năng ngăn chặn những người khác làm thiệt hại cho

cá nhân Đạo đức học Epicurus đạt được sự tiến bộ so với những tư tưởng của thời đại đó Nó cho con người thấy cần phải có sự hưởng thụ nhưng là sự hưởng thụ cao đẹp, cần phải hưởng thụ những điều được coi là hạnh phúc cả

về vật chất lẫn tinh thần Sự yêu đời, niềm lạc quan và đầy hãnh diện về phẩm giá của con người chính là điểm làm nên sự khác biệt cho đạo đức học của Epicurus, chính điều này góp phần có thể gọi triết học của Epicurus là một phong cách sống, một dạng thế giới quan chứ không chỉ dừng lại ở triết học thuần túy

Chủ nghĩa khoái lạc lý tính của Epicurus đã được Jeremy Bentham (1748

- 1832) và sau này J.S.Mill kế thừa nhằm đề xuất chủ nghĩa khoái lạc phổ quát hay còn được gọi là chủ nghĩa công lợi Nguyên tắc công lợi giống như một loại khoái lạc tĩnh, giúp con người đạt được khoái lạc về tinh thần Theo Epicurus bất kỳ khoái lạc nào cũng là hạnh phúc nhưng không phải khoái lạc

Trang 30

nào cũng cần theo đuổi Trong hai dạng khoái lạc là khoái lạc tĩnh và khoái lạc động, thì ông không khuyến khích con người theo đuổi khoái lạc động vì với ông, sự bình yên trong tâm hồn, sự thanh thản mới là cái con người cần hướng tới và J.S.Mill đã kế thừa quan điểm này trong việc luận giải về nguyên tắc công lợi đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất nhưng đó không chỉ là hạnh phúc khi đạt được những khoái lạc về thể chất mà quan trọng là hạnh phúc được đem lại trên cơ sở khoái lạc của tinh thần mà mỗi con người đạt được J.S.Mill tiếp thu quan điểm của Epicurus, tuy nhiên có điểm khác biệt là nếu Epicurus cho rằng muốn đạt đến sự tự do, con người nên lảng tránh khỏi xã hội và tìm tự do riêng mình thì J.S.Mill lại cho rằng sự tự do của con người nằm chính trong xã hội

Hạn chế lớn nhất trong tư tưởng của Epicurus là ở chỗ những nguyên tắc mà ông đưa ra là nguyên tắc tĩnh, không có sự biến động Học thuyết của ông mang đậm màu sắc cá nhân Thuyết khoái lạc của ông xa rời xã hội và mang nặng màu sắc tự nhiên chủ nghĩa Sau khi đọc và tiếp nhận những giá trị tích cực trong thuyết khoái lạc của Epicurus, J.S.Mill đã khắc phục và đưa ra một học thuyết hoàn thiện hơn, có sự vận động linh hoạt và gần gũi với đời sống xã hội hơn

1.2.2 Lý thuyết về mệnh lệnh tuyệt đối của I.Kant (1724 - 1804)

Với những tư tưởng triết học của mình, Immanuel Kant được coi là người

đã sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức và phép biện chứng tiên nghiệm và là

một trong những nhà triết học vĩ đại nhất từ trước tới nay Hệ thống triết học của I.Kant có thể khái quát và được thể hiện ở ba câu hỏi lớn mà sinh thời ông

đã đặt ra, đó là: Tôi có thể biết gì? Tôi phải làm gì? Tôi có quyền hi vọng gì? Theo đó, Tôi có thể biết gì? phản ánh triết học lý luận của I.Kant với nội dung hướng tới việc xác định năng lực nhận thức của con người; Tôi phải làm gì? và Tôi có quyền hi vọng gì? phản ánh triết học thực tiễn của I.Kant, hướng tới nghiên cứu các nguyên lý hoạt động thực tiễn của con người trong xã hội để

Trang 31

rồi tất cả tập trung lại làm rõ câu hỏi: Con người là gì? Do đó, “có thể nói tất

cả triết học của Kant là vấn đề con người, ông muốn giúp con người nhận ra địa vị cùng cách sống xứng đáng với bản chất của mình tức là sống theo lý trí Bởi chỉ có lý trí mới giúp con người nhận ra được giá trị cao siêu và đích thực của con người tự do mà thôi”[53, tr.69]

Triết học I.Kant thấm đượm tính nhân văn Tính nhân văn đó biểu hiện sâu sắc nhất trong học thuyết của ông về đạo đức được tập trung trong nguyên tắc tối cao là “mệnh lệnh tuyệt đối” Mệnh lệnh này đòi hỏi con người phải tự

ý thức về mình, phải tự xem xét bản thân mình, tự tìm kiếm trong tâm hồn mình, trong lương tâm của mình một sức mạnh đạo đức để có thể thực hiện những hành động sao cho phù hợp với các quy tắc đạo đức phổ biến và tiến dần tới các quy tắc đạo đức phổ biến đó Quan niệm về đạo đức của I.Kant hoàn toàn đối lập với quan niệm ích kỷ, vụ lợi, thực dụng, hẹp hòi Nó hướng tới những giá trị chung toàn nhân loại, thể hiện khát vọng của con người hướng tới cái thiện, tới hạnh phúc cho mọi người Muốn đạt được những điều

đó thì không những đòi hỏi mọi người phải thực hành đạo đức, phải có hành động đạo đức phù hợp với những đòi hỏi phổ biến của quy luật đạo đức, phải

có lòng tin đạo đức mà còn phải có tình cảm đạo đức

Mệnh lệnh tuyệt đối được I.Kant cho là nguyên tắc tối hậu, cơ sở nền tảng, xuất phát điểm để xây dựng đạo đức, nó chứa đựng sự đánh giá và kiểm soát hành vi đạo đức của con người Thông qua mệnh lệnh tuyệt đối đã hình thành giá trị đạo đức bản thân cũng như đạo đức phổ quát của mọi người, nó trở thành quy luật đạo đức và đòi hỏi các chủ thể phải thực hiện bởi chính nhu cầu của chính bản thân chủ thể với tư cách là một con người Nếu như theo I.Kant, hành động phải thực hiện vì lợi ích của quy tắc đạo đức của mệnh lệnh tuyệt đối, thì John Stuart Mill coi hành động đạo đức là vì nó có lợi ích mang lại hạnh phúc nhiều nhất cho số đông lớn nhất Như vậy J.S.Mill đã trên cơ sở phê phán, đối lập với nguyên tắc tối hậu mệnh lệnh tuyết đối của I.Kant để xây

Trang 32

dựng nguyên tắc tối hậu, điểm xuất phát của mình, để xây dựng hệ thống đạo

đức Dù rằng học thuyết về đạo đức của hai ông không có sự tương đồng hay

thậm trí là đối lập nhau nhưng không thể phủ nhận vai trò của Kant trong sự gợi mở tư tưởng đạo đức của J.S.Mill sau này Sở dĩ J.S.Mill không hoàn toàn thỏa mãn với đạo đức học của I.Kant nói riêng và chủ nghĩa siêu nghiệm của I.Kant nói chung vì ông ủng hộ chủ nghĩa duy nghiệm Trái với quan điểm tư tưởng này của J.S.Mill, Kant khẳng định lý trí có thể thuyết phục ý chí làm việc gì đó chứ không cần đến sự kích thích từ những yếu tố mang tính kinh nghiệm Chống lại tư tưởng đề cao kinh nghiệm trong vấn đề đạo đức, ông cho rằng những châm ngôn mà ta đúc rút được từ thực tiễn để điều chỉnh hành vi của mình giống như những lời khuyên chứ không có tính cưỡng bức như mệnh lệnh buộc phải tuân theo

Mệnh lệnh tuyệt đối cũng được I.Kant coi là luật đạo đức của mỗi cá nhân và đạo đức này không được tách rời, đối lập hay đi ngược lại qui luật của đạo đức phổ quát Mệnh lệnh tuyệt đối có giá trị tiên nghiệm, nó yêu cầu con người hành xử phải mang tính khách quan, không được chỉ quan tâm tới mục đích của cá nhân mình Từ mệnh lệnh tuyệt đối đã đòi hỏi đạo đức con người phải được thực hiện và đề xuất ra bởi ý chí của bản thân nó Qui luật đạo đức lúc này lại trở thành sự đòi hỏi mang tính tự thân, từ nhu cầu của chủ thể mà hành vi đạo đức ra đời Để một mệnh lệnh trở thành mệnh lệnh tuyệt đối, ông

đã chỉ ra ba điều kiện, bao gồm: Một là, mệnh lệnh đó không được liên quan

đến mặt vật chất của ý chí tức là mệnh lệnh đó không trực tiếp có quan hệ với

các hành vi mà quan hệ với ý chí dưới dạng hình thức Hai là, luôn tồn tại một thứ gì đó trong thực tế với mục đích tự thân Ba là, cội nguồn của mệnh lệnh

phải nằm trong chính chủ thể đó chứ không phải nằm ngoài chủ thể Đồng thời

I.Kant cũng chỉ ra ba hình thức của mệnh lệnh tuyệt đối, đó là: Thứ nhất, cần

phải hành động theo một quy tắc nhất định và qui tắc đó có thể trở thành quy

tắc phổ biển rộng rãi cho mọi người Thứ hai, hãy đặt nhân loại là mục đích

Trang 33

chứ không phải phương tiện, hãy hành động không chỉ nhân danh bản thân

mình mà còn nhân danh người khác nữa Thứ ba, mệnh lệnh tuyệt đối đề cao

khả năng của ý chí, coi ý chí có khả năng xác lập nguyên tắc phổ biến và ý chí của mỗi thực thể đều có lý tính Nhà nghiên cứu E.Kassirer đã từng đưa ra nhân định: Mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức của Kant cũng chính là mệnh lệnh đạo đức, các chuẩn mực đạo đức không phụ thuộc vào bất cứ điều kiện thực tế nào nhằm bộc lộ ý chí của con người Nếu mệnh lệnh giả thuyết giống như một hình thức bộc lộ ý chí căn cứ vào mong muốn bên trong con người thì mệnh lệnh tuyệt đối lại hoàn toàn khác: “Mệnh lệnh tuyệt đối biểu hiện sự sáng tạo chuẩn mực thuần túy của lý tính đạo đức”[37, tr.8]

Có thể thấy, tư tưởng của I.Kant khác nhau “một trời một vực” với nhiều nhà tư tưởng trước đó Một bên cho rằng mọi hoạt động diễn ra đều tuân theo qui luật tự nhiên, còn I.Kant cho rằng mọi hành động dựa trên ý thức, nhận định của bản thân mình về những qui luật, ông gọi đó là khả năng tự ý thức về hành vi của chính mình hoặc có “khả năng hành động theo những biểu tượng mình có về những định luật”[15, tr.204] I.Kant cho rằng đặc tính của hành vi đạo đức là hành vi siêu hình ở chỗ bản thân con người ý thức được rằng việc nào là việc mình phải làm dù nó chưa xảy ra Theo ông, sự cưỡng bách của đạo đức hoàn toàn khác với những cưỡng bách đến từ qui luật tự nhiên Nếu

ở tự nhiên con người buộc phải tuân theo quy luật nó đề ra thì với phạm vi của đạo đức, con người được tự quyết định bằng lý trí của mình Ông kiên định với lập luận vạn vật trong vũ trụ tồn tại thực như những hiện tượng, chúng bị chi phối bởi quyền luật định về nhân quả Con người một mặt cũng như các loài động vật khác, cũng nằm trong sự biến đổi của các hiện tượng nhưng con người khác với các động vật khác vì nó là một hữu thể có lý trí Theo ông con người chính là một “vật tự thân”, con người độc lập, có thể sinh hoạt tự do ngoài cả lĩnh vực hiện tượng Kant nhận định: “Tất cả các sự vật trong thiên nhiên đều hành động theo những qui luật Chỉ mình hữu thể

Trang 34

có lý trí là có khả năng hành động theo những biểu tượng nó có về những định luật, nghĩa là hành động theo những nguyên tắc: cho nên chỉ mình hữu thể này có tự do”[15, tr.204]

Trong đạo đức học của I.Kant có hai mệnh đề là mệnh lệnh tuyệt đối và mệnh lệnh giả Với quan điểm: con người hãy hành động sao cho ý chí của bản thân cũng có thể được ban bố như một qui luật phổ biến cho mọi người, mệnh lệnh tuyệt đối qui định đạo đức của bản thân mỗi người phải phù hợp với luật đạo đức phổ quát Mệnh lệnh tuyệt đối liên quan đến kết quả, phương tiện để đạt được kết quả ấy (còn gọi là tính tất liệu) Mệnh lệnh tuyệt đối qui định ý chí có tương ứng với kết quả hay không? Hay nói cách khác, nó chính

là sự cưỡng bức từ bên trong mỗi con người Có một sự khác biệt rất lớn giữa hai dạng mệnh lệnh này: với mệnh lệnh giả thiết ta có thể lựa chọn tuân theo hoặc không Ví dụ như nếu Anh muốn giàu có anh hãy làm việc này hoặc nếu Anh làm việc này anh sẽ nhận được lợi ích kia Điều đó khiến chúng ta có thể dùng lý trí để đưa ra lựa chọn có tuân theo hay không Ngược lại, mệnh lệnh tuyệt đối sẽ yêu cầu chúng ta làm một việc gì đó mang tính bắt buộc, cưỡng ép

và không đi kèm điều kiện ta sẽ nhận được lợi ích gì từ hành động đó

Vấn đề nổi cộm trong đạo đức học của I.Kant là: “Làm sao lại có thể có những mệnh lệnh tuyệt đối như thế trong lãnh vực đạo đức?”[15, tr.206 - 207] Ông lí giải vấn đề này bằng cách giải thích vì sao những mệnh lệnh đó lại có quyền cưỡng bách ý chí con người một cách tuyệt đối trong vấn đề đạo đức như vậy Lời giải của I.Kant được tìm thấy khi ông trình bày về ba mệnh lệnh

về những luật lệ của sự khôn khéo cùng với những khuyến dụ của khôn ngoan

và cuối cùng là những lệnh truyền của đạo đức

Mệnh lệnh tuyệt đối của I.Kant yêu cầu ý chí và lí trí phải có sự thống nhất, đạo đức chỉ được thực hiện khi bản thân mình mong muốn điều đó, qui luật đạo đức xuất phát từ tự thân, hành vi đạo đức là do nhu cầu con người mong muốn điều đó

Trang 35

I.Kant cho rằng đạo đức học cần được nhìn nhận như một môn khoa học, tồn tại độc lập và có tính chính xác cao Chân lý trong đạo đức học cần phải được chứng thực chứ không dựa vào kinh nghiệm hay niềm tin tôn giáo Qui chuẩn đạo đức là chung cho toàn nhân loại chứ không phải mỗi tôn giáo lại có một quan điểm đạo đức khác nhau hay đạo đức cũng có sự đa dạng như tôn giáo Ông cho rằng việc “xây dựng đạo đức học theo khuôn mẫu của khoa học

có nghĩa là xây dựng học thuyết về đạo đức chung nhân loại, phổ biến.”[39, tr.157] Một lần nữa I.Kant đề cao lý tính, đạo đức học chỉ được soi sáng bởi

lý tính của con người Ông phê phán và chống lại những học thuyết cho rằng đạo đức xây dựng bên ngoài con người, phủ nhận những nguyên tắc đạo đức xây dựng không dựa trên ý chí thuần túy về đạo đức của con người Ông lên

án việc con người quyết định hành động đạo đức vì bị bắt phải làm vậy hoặc vì thể chế của nhà nước, đoàn thể họ đang sống yêu cầu làm vậy Ông chống lại

cả những học thuyết làm điều đạo đức vì lợi ích hoặc hạnh phúc, đây cũng là điểm đối đầu trong tư tưởng đạo đức của I.Kant và của J.S.Mill Những học thuyết đề cao cảm giác, coi việc đạo đức là việc tự nhiên xuất phát từ cảm xúc con người cũng không nằm ngoài vòng lên án của I.Kant Bên cạnh đó, ông còn bác bỏ hhững học thuyết đạo đức cho rằng con người hành động đạo đức

vì hướng tới một mục đích tốt lành hoặc làm vì đấng Thiên Chúa truyền họ làm như vậy

Có thể thấy, đạo đức học của I.Kant mang đậm phong cách của chủ nghĩa duy lý còn J.S.Mill lại đại diện cho chủ nghĩa kinh nghiệm Điểm chung của hai trường phái này là đều xây dựng tư tưởng triết học, đạo đức học dựa trên mối liên hệ giữa chủ thể và khách thể Song, sự bất đồng xảy đến khi họ đề cập đến vấn đề nguồn gốc và mục đích của hành vi đạo đức Điểm khác biệt

cơ bản trong học thuyết đạo đức của J.S.Mill và đạo đức học của I.Kant là: Với Kant, mục đích của hoạt động là thực hiện vì lợi ích của qui tắc đạo đức còn ở Mill, hoạt động được đề cao thực hiện vì lợi ích số đông

Trang 36

Đặc biệt, Kant cũng dành ngòi bút của mình để đả phá tư tưởng của Epicurus trong vấn đề nhìn nhận hạnh phúc và đạo đức Ông cho rằng: “Lấy hạnh phúc cá nhân làm nguyên tắc đạo đức là đi trái ngược hẳn với nguyên tắc đạo đức”[15, tr.238] Ông chống lại quan điểm khi cho rằng hành động đạo đức nhằm mục đích hạnh phúc hay lợi ích cá nhân Giả dụ như chúng ta có một người bạn thân rất tốt bụng, một ngày anh ta thú nhận rằng đã làm chứng dối cho một kẻ ác với mục đích bảo vệ chính bản thân anh ta Ngay sau đó, anh ta kể cho bạn nghe những mưu kế để che dấu việc này Theo quan điểm của I.Kant, đó là một việc “đáng kinh tởm”, khi một người không còn hành động ngay thẳng, thậm trí còn đưa ra những luận điệu xảo trá nhằm che dấu cho tội ác của mình Kant thể hiện quan điểm rất rõ ràng và không khoan nhượng về vấn đề này: “Nguyên tắc hạnh phúc có thể cho ta những châm ngôn nhưng châm ngôn của nó không bao giờ thành quy luật cho ý chí, cho dù hạnh phúc nói đây là hạnh phúc của mọi người”[15, tr.239] Ông cho rằng con người chỉ có thể nhận biết hạnh phúc dựa vào những dữ kiện kinh nghiệm của mình và thông qua cảm tưởng của chính mình để đưa ra phán quyết cho hành động Vì vậy, nếu hành động dựa vào kinh nghiệm ta chỉ có thể đưa ra những luật lệ phổ quát, không bao giờ là những luật lệ mang tính tổng quát sâu rộng Thông thường, các nhà triết học khi bàn về vấn đề đạo đức sẽ đề cập đến mối quan hệ giữa nó và chính trị, Kant cũng không ngoại lệ Ông trình bày về

sự thưởng phạt trong pháp luật và mối quan hệ của nó với đạo đức mỗi người

và cho rằng để đảm bảo trật tự cho xã hội, mỗi cộng đồng khác nhau cần phải

có những quy định về hành xử một cách cụ thể, các thành viên trong cộng đồng cần tuân thủ chặt chẽ điều này Thật ra, trong xã hội có không ít người tự cho mình là đạo đức nhưng lại làm những việc như trốn thuế, nhận hối lộ hoặc buôn lậu Họ cho rằng nếu đã có công ước rõ ràng về việc luận tội và định tội,

họ sẵn sàng chịu phạt về những hành vi của mình và khi đã chịu phạt xong, họ không cảm thấy ăn năn hay tội tình gì nữa Vậy là từ mục đích muốn giữ đạo

Trang 37

đức cho con người, những hình phạt vô tình đưa con người đến chỗ mất lương tâm, đầy mưu mô và tính toán Vì vậy, I.Kant cho rằng hành xử đạo đức phải xuất phát từ lương tâm, không xuất phát từ lợi ích cá nhân

Mặc dù mang trong mình những tư tưởng vượt thời gian, những cống hiến to lớn về đạo đức học, nhưng I.Kant cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định Đầu tiên, chúng ta nhận thấy tính khoa học vốn có của một học thuyết thực sự đầy đủ trong đạo đức học của I.Kant; việc ông đặt lý luận cao hơn kinh nghiệm đã làm lu mờ đi mối quan hệ giữa chúng và “coi thường” những tri thức kinh nghiệm của con người Ông luôn nhấn mạnh rằng mọi lý thuyết đều là sản phẩm của lý tính chứ không phải kinh nghiệm, có lẽ do sự ảnh hưởng sâu sắc từ tư duy toán học, vật lý học của ông Dường như ông quên mất rằng, trong lĩnh vực đạo đức học, việc công nhận tính hợp lý của các định luật lý thuyết không có nghĩa là phủ nhận mối quan hệ của nó với tri thức kinh nghiệm Trên thực tế, kể cả những định luật vật lý học cũng phải dựa vào tri thức kinh nghiệm để tìm ra, vậy định luật đạo đức học không thể tách rời hoàn toàn với tri thức kinh nghiệm Kant mong muốn định luật phải nắm bắt

và xác định được mọi hiện tượng của cảm tính, của kinh nghiệm nhưng bản thân ông và học thuyết của mình cũng chưa làm được điều đó Kant sai lầm ở chỗ ông cho rằng toàn bộ lĩnh vực đạo đức cần phục tùng một nguyên tắc đạo đức nhất định và đó là mệnh lệnh tuyệt đối: “Hãy hành động như mỗi người cần phải hành động” Nhưng thực chất, mỗi người lại có cách hành động khác nhau và họ hành động dựa vào những giá trị của mình Không thể qui hệ thống giá trị về một nguyên tắc đạo đức cụ thể, sẽ không thể và không có nguyên tắc đạo đức tuyệt đối

Bên cạnh đó, đạo đức học của I.Kant còn rất xa lạ với tính tương đối Ông cho rằng việc thừa nhận tính tương đối của những giá trị là quan điểm của chủ nghĩa hư vô Điều đó hoàn toàn không phải, I.Kant đang mải miết cố gắng tìm ra các định luật tuyệt đối và không thừa nhận tính tương đối trong lĩnh vực

Trang 38

đạo đức học mà thôi Những người có quan điểm tin vào tính tương đối của các định luật sẵn sàng có thể bác bỏ định luật nếu họ làm sáng tỏ được tính vô dụng của chúng chứ không quả quyết định luật là tuyệt đối Điều này không chỉ đúng trong vật lý học mà còn đúng trong lĩnh vực đạo đức học Ông đưa ra quan niệm về bổn phận của con người trong xã hội, ông cho rằng đó là việc mỗi người chấp nhận và tuân theo giá trị xác định của mình, sự tuân thủ mang tính tự nguyện, không cưỡng ép; “I.Kant không gắn giá trị đạo đức với hạnh phúc, tức là sự thỏa mãn các nhu cầu hưởng thụ cá nhân, với ông, hành vi đạo đức là hành vi thực hiện bổn phận vì bổn phận”[40, tr.43], từ đây I.Kant đã hướng tới xây dựng nền đạo đức bổn phận cho nhân loại Trong đạo đức học hiện đại, bổn phận của con người đơn giản là sự qui định về mặt giá trị của mỗi người, nó đòi hỏi còn người ngày càng hoàn thiện bản thân về mặt đạo đức và nhân cách Có thể thấy, đạo đức học của Kant đã không nhận thấy một

sự thật hiển nhiên là “những qui tắc đạo đức đảm bảo nhân tính cho mỗi hành

vi cũng mang tính tương đối”[37, tr.141] Đúng là nhân tính biểu thị bản chất loài người nhưng nó không phải một hằng số, nó cũng có tính tương đối và có thể thay đổi tùy hoàn cảnh, tùy trường hợp

Nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong đạo đức học của I.Kant là do ông không đề cập đến bản thể luận văn hóa - được coi là cơ sở lí thuyết của đạo đức học Văn hóa xã hội là cái làm sáng tỏ và làm tách biệt đạo đức học như một lĩnh vực của tính chủ quan con người, nó vốn là cơ sở bản thể của chủ thể nhưng cũng là đối tượng của nhận thức Tính chủ quan của con người tồn tại rất khác biệt, nó càng không bị nắm bắt, chi phối như một đối tượng của nhận thức Thực tại luôn hiện diện trong mỗi hành vi của con người và không thể tách rời hành vi con người Nó cởi mở với mọi phương pháp thực tồn và mọi hình thức nhưng hoàn toàn không do những hình thức và phương pháp này qui định hay định trước Từ đó, ta thấy I.Kant còn thiếu sót khi cho rằng tính chủ quan người giống như một bộ phận của thế giới và được giải thích thông qua

Trang 39

bản thân thế giới Ông đã mạnh mẽ bác bỏ quan điểm của một số nhà triết học khác cho rằng triết học đạo đức giống một môn khoa học phổ quát, nghiên cứu một cách khách quan về thế giới I.Kant cho rằng “thật nhảm nhí” khi triết học đạo đức lại được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm của con người theo phương pháp qui nạp, nó không có khả năng thâm nhập vào đời sống tinh thần trên khía cạnh đặc thù Có thể thấy, ông vẫn theo xu hướng xây dựng đạo đức học giống như toán học nên đạo đức học của ông mang đậm phong cách của khoa học tự nhiên, hạ thấp phần kinh nghiệm con người Điều ông cần là hướng cái nhìn của mình vào văn hóa, vào truyền thống để thấu hiểu bản thân chủ thể và thấy được tính chủ quan của con người đang được hiện thực hóa thông qua những hành vi đạo đức Đạo đức học của I.Kant có phần xa rời, thiếu gần gũi với cuộc sống hiện thực Ông hiểu thực tiễn gồm hoạt động chính trị, pháp quyền, hoạt động đạo đức, văn hóa chứ không phải toàn bộ đời sống vật chất của con người nhằm cải tạo xã hội nên đạo đức học của ông phần nhiều mang tính lý tưởng

I.Kant nhìn nhận sự tiến hóa và phát triển của triết học đạo đức qua lăng kính duy lý của khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy kĩ thuật Tuy nhiên, kỹ thuật phát triển không có nghĩa là văn hóa, đạo đức phát triển theo Trái lại, cuộc sống ngày càng tiện nghi không giải quyết được các vấn đề về tinh thần của con người mà nó còn làm nảy sinh thêm rất nhiều vấn đề trong đời sống tinh thần của họ Vì vậy, để làm nhẹ đi đời sống tinh thần trong xã hội, triết học đạo đức đặt ra vấn đề cần nâng cao sự ý thức tự giác, có mục đích sống rõ ràng của con người Điều này, nhằm bảo vệ một số giá trị mang tính bất biến trong tồn tại người như lòng nhân ái, sự đồng cảm, bổn phận, tình yêu, công lý,…chứ không đơn thuần là những giá trị gắn liền với khoa học kĩ thuật

Có thể thấy, J.S.Mill đã tiếp nối chủ nghĩa kinh nghiệm Trên cơ sở thấy được hạn chế của I.Kant trong quan niệm về đạo đức khi xây dựng nền đạo đức học bổn phận, nền đạo đức hướng tới xây dựng những nguyên tắc tối cao

Trang 40

của nền đạo đức phổ quát nhưng giá trị đạo đức lại phải được giả định quan hệ không vụ lợi với thực tại, J.S.Mill đã trình bày và phát triển tư tưởng đạo đức của mình cũng như của chủ nghĩa công lợi Nếu như I.Kant cho rằng hành động phải thực hiện vì lợi ích của quy tắc đạo đức thì với J.S.Mill, hoạt động lợi ích mang lại hạnh phúc nhiều nhất cho số đông lại là đạo đức; J.S.Mill nhìn nhận đạo đức với góc độ thực hành xã hội, không phải sự tự quyết, tự trị bởi lí tính giống với I.Kant Với J.S.Mill: A có thể là điều đúng phải làm với Jeremy nhưng về phương diện đạo đức Jeremy không bắt buộc phải làm điều A Nghĩa

vụ đạo đức của chúng ta là từ phần chính đáng của qui tắc luân lý xã hội chúng

ta Nhiệm vụ của triết học luân lý là: đưa những qui tắc đạo đức của một xã hội trở nên tốt đẹp hơn phù hợp với nguyên tắc công lợi

Đặc biệt, với tư cách là thế hệ thứ hai của chủ nghĩa công lợi, J.S.Mill đã

có cơ hội trải nghiệm sự phản đối của I.Kant đối với những tư tưởng đạo đức công lợi được đề xuất bởi J.Bentham, để rồi từ đó, bản thân ông thấy được những hạn chế cần bổ khuyết trong tư tưởng đạo đức học công lợi của J.Bentham và hoàn thiện những tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa công lợi dưới

thời của mình Năm 1785, I.Kant xuất bản tác phẩm “Nền tảng si u hình đạo

đức”, tác phẩm đầu tiên trong loạt sách về triết học đạo đức của của ông; điều

này đã châm ngòi cho một chiến dịch phê bình nặng nề chủ nghĩa vị lợi của

J.Bentham được tuyên bố trong “Ngu n tắc của đạo đức và pháp luật” xuất bản năm 1780 Thông qua “Nền tảng si u hình đạo đức” I.Kant nhấn mạnh

đạo đức không phải là sự tối đa hóa hạnh phúc hay mục tiêu nào khác mà là sự tôn trọng con người như những mục đích tự thân I.Kant bác bỏ thuyết vị lợi, ông cho rằng bằng cách xác định quyền dựa trên những tính toán về điều gì sẽ tạo ra hạnh phúc lớn nhất khiến quyền dễ bị xâm hại Đạo đức không thể dựa trên những yếu tố đơn thuần mang tính kinh nghiệm, vì những yếu tố này liên tục biến đổi và lệ thuộc, do đó chúng khó có thể làm cơ sở cho nguyên tắc đạo đức phổ quát Theo I.Kant “nguyên tắc hạnh phúc của thuyết vị lợi chẳng góp

Ngày đăng: 25/03/2021, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w