2.2.3 Ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục đối với hoạt động xã hội hóa giáo dục ở nước ta... Xuất phát từ những lý do trên, tác giả luận văn nhận thấ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUY ỄN HOÀNG DỊU
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG
ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH TRIẾT HỌC
Hà N ội - năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUY ỄN HOÀNG DỊU
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG
ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHOA HỌC
MÃ NGÀNH: 8229001.02
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Hằng
Hà N ội - năm 2019
Trang 3M ỤC LỤC
Trang
Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG GIÁO DỤC 8
1.1 Quan ni ệm về dân chủ và dân chủ trong giáo dục 8
1.1.1 Quan niệm về dân chủ 8 1.1.2 Quan niệm về dân chủ trong giáo dục 16
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, dân chủ trong giáo dục 22
1.2.1 Sự hình thành về tư tưởng dân chủ trong giáo dục của Hồ Chí Minh 22 1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục 30
Chương 2 Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN
CH Ủ TRONG GIÁO DỤC ĐỚI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
45
2.1 Th ực hiện dân chủ trong giáo dục ở các trường đại học ở Việt
Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
45
2.1.1 Tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ trong giáo dục
theo tư tưởng Hồ Chí Minh
2.2 Ý nghĩa của việc dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong
giáo d ục đối với sự phát triển giáo dục đại học ở nước ta hiện nay
66
2.2.1 Ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong
giáo dục đối với công tác đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nước ta
hiện nay
66
2.2.2 Ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp “ Học đi đôi với hành”, “ Gắn
lý luận với thực tiễn” trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 71
Trang 42.2.3 Ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong
giáo dục đối với hoạt động xã hội hóa giáo dục ở nước ta
Trang 6LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ tốt nghiệp “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục và ý nghĩa của nó đối với giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Thị Hằng Những phần sử dụng
tại liệu tham khảo được trích dẫn rõ ràng, trung thực Nếu có bất cứ sự gian dối tôi xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm và mọi kỷ luật của Khoa và Nhà trường
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Dịu
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ này là kết quả của sự cố gắng và nỗ lực hết sức của bản thân tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Có được kết quả này, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô, Ban chủ nhiệm khoa Triết học
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Vũ Thị Hằng – người hướng
dấn và giúp đỡ tận tình để tôi có thành quả luận văn này
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến gia đình, bạn bè trong thời gian qua đã động viên tôi
Do khả năng còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên bản thân luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, han chế Vì vậy, kính mong nhận được những góp ý từ quý
thầy cô, bạn bè để luận văn hoàn thiện hơn, cũng như rút kinh nghiệm ở những nghiên
cứu tiếp theo
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Họ viên
Nguyễn Hoàng Dịu
Trang 8chủ trong giáo dục, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng, kháng chiến và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đến thắng lợi, và đang tiếp tục soi sáng sự nghiệp đổi mới giáo dục của chúng ta ngày nay Trong bối cảnh thế giới ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhận thức đúng những vấn đề liên quan đến việc bảo
vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội và bảo đảm quyền con người
Ngày nay, với xu thế phát triển của nền tri thức, giáo dục góp phần nâng cao dân trí và tạo ra hệ thống giá trị xã hội mới Bởi, tri thức là sản phẩm của giáo dục, đồng thời cũng là tài sản quý giá nhất của con người và xã hội loài người Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội
ở mỗi quốc gia đang có xu hướng chuyển từ kinh tế sử dụng lao động chân tay sang nền kinh tế tri thức sử dụng nguồn trí tuệ nhân tạo là chính
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó Nhận thức được quy luật này, Đảng cộng sản Việt Nam luôn tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ giáo dục, từ đó ban hành chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển giáo dục nhằm phát huy năng lực nội sinh, rút ngắn
thời gian đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc khóa VII khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tiếp đó Nghị quyết 29 của Chính Phủ tiếp tục khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” Có thể thấy, giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và đầu tư
Để thực hiện mục tiêu Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại và xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trước tiên giáo dục bảo đảm dân chủ trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao – đó là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục đại học, chất lượng nguồn
Trang 92
nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Trong thời kỳ toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, giáo dục Việt Nam có nhiều cơ hội nhưng cũng đang đứng trước những thách thức nhất định Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tác động đã và đang làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội và càng đặt ra
những yêu cầu mới đối với nền giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng Giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội Tuy nhiên, giáo dục đại học nước ta hiện nay còn tồn tại
những hạn chế nhất định: chương trình đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu học tập
của người học, tình trạng gian lận điểm thi vẫn xảy ra, một bộ phận cán bộ giảng viên, cán bộ quản lý chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp
trồng người; chính sách thu hút những sinh viên giỏi, sinh viên là người dân tộc thiểu số, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn chưa thật sự đem lại hiệu quả; đào tạo chưa gắn liền với thực tiễn; tỷ lệ thất nghiệp vẫn xảy ra đối với một số sinh viên tốt nghiệp khá, giỏi; chính sách, cơ chế thu hút nhân tài vẫn còn nhiều bất cập; thực
hiện dân chủ trong giáo dục đại học chưa triệt để,…Tình trạng trên gây trở ngại không nhỏ đến chất lượng đầu ra của giáo dục đại học nước ta
Để khắc phục những hạn chế trên cần có cơ sở lý luận vũng chắc, không thể thiếu nghiên cứu thấu đáo và có hệ thống cả về cơ sở lý luận khoa học và cơ sở thực
tiễn, sự chỉ đạo nhất quán Cơ sở lý luận đúng đắn sẽ định hướng cho hoạt động giáo dục tránh khỏi tình trạng mò mẫm, tự phát Cơ sở lý luận càng đúng đắn, phù hợp thì càng có ý nghĩa to lớn làm cơ sở khoa học để xác định đường lối, chiến lược giáo dục cũng như các nội dung cụ thể, càng định hướng cho hoạt động giáo
dục một cách đúng đắn và hiệu quả Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục nói riêng luôn là cơ sở lý luận vững chắc để Đảng, Nhà nước ta, nhân dân ta tiến hành hiện thực hóa những mục tiêu phát triển giáo dục nước nhà
Do đó, cần nhận thức đầy đủ, vận dụng sáng tạo, triệt để những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, đặc biệt là tư tưởng về dân chủ trong giáo dục, từ
Trang 103
đó phát triển giáo dục đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay Đây cũng là mối quan tâm của các cấp, ngành, các nhà khoa học và toàn xã hội Xuất phát từ những lý do trên, tác giả luận văn nhận thấy rằng để thực hiện thành công chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục của nước ta hiện nay, cần nhận thấy được vai trò của dân chủ trong phát triển giáo dục, giáo dục đại học, qua đó nhận thức sâu sắc hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục và có sự vận dụng sáng tạo, có hiệu quả những tư tưởng đó vào nền giáo dục Việt Nam bối
cảnh mới Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục và ý nghĩa của nó đối với giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay”
làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên c ứu
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta nhiều tư tưởng quý báu về con người, về đạo đức, về giáo dục, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung, dân chủ trong giáo dục nói riêng Đã có nhiều công trình, sách, báo, tạp chí đề cập đến vấn đề này tiêu biểu như:
- Các công trình nghiên c ứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vận dụng nó trong s ự nghiệp đổi mới đất nước gồm có:
Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb Chính trị Quốc gia xuất
bản năm 2004 của tác giả Phạm Hồng Chương trình bày một cách có hệ thống
những luận điểm Hồ Chí Minh nói về dân chủ, từ đó phân tích tư tưởng dân chủ của Người đối với những lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đề xuất một số biện pháp trong việc nâng cao ý thức dân chủ của người dân
Tác phẩm Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, tác giả Phạm Văn Bình, Nxb
Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2007 của đi sâu phân tích phương pháp dân chủ
của Hồ Chí Minh từ nguồn gốc, các cách tiếp cận với phương pháp đó Qua đó nêu
ra cách mà Hồ Chí Minh vận dụng phương pháp dân chủ trong xây dựng Đảng cộng
sản và Nhà nước ta Ý nghĩa của nó trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của nước ta hiện nay
Trang 114
Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa dân chủ trong hoạt động chính
tr ị và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay, tác giả Nguyễn Thế Phúc, Nxb Chính trị
Quốc gia sự thật xuất bản năm 2014 nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề
lý luận về tư tưởng dân chủ và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, con đường và các nhân tố hình thành văn hóa dân chủ, đánh giá thực tiễn dân chủ trong văn hóa giáo
dục của nước ta hiện nay và đề xuất các phương hướng, giải pháp cơ bản trong việc nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh Với kết cấu ba chương, cuốn sách trình bày một cách khoa học, toàn diện những vấn đề cơ bản về
tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa dân chủ trong hoạt động chính trị, làm rõ và có
những đóng góp mới về sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
Những công trình kể trên chủ yếu nghiên cứu tư tưởng dân chủ của Hồ Chí
Minh trong lĩnh vực chính trị, đời sống xã hội thấy được vai trò quan trọng của nó đối với hệ thống chính trị, chính quyền trong bối cảnh nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Các công trình v ận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ đối với sự nghiệp giáo d ục gồm:
Tác phẩm Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục, tác giả
Võ Văn Lộc, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011 của Đây là chuyên khảo đầu tiên có tính hệ thống về dân chủ trong giáo dục của Hồ Chí Minh Tác giả đã bám sát vào hành trình của Hồ Chí Minh từ khi Người là nhà giáo Nguyễn Tất Thành đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, để thấy rằng Người luôn nhất quán phương châm “cách mạng là giáo dục và giáo dục là cách mạng” cả hai lĩnh vực này đều
phải thẫm nhuần tinh thần dân chủ Ngoài ra, cuốn sách còn khẳng định Hồ Chí Minh là người khai sáng nền dân chủ mới và nền giáo dục dân chủ mới ở Việt Nam, qua đó nêu bật nội dung chủ đạo của hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục
Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào giáo dục đại
h ọc nước ta hiện nay, Hoàng Anh (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm
2013 trình bày nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 12Tác phẩm Thực hiện dân chủ trong giáo dục đại học nước ta hiện nay, tác giả
Đồng Văn Quân, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2014 của chỉ ra tầm quan
trọng của việc áp dụng tính dân chủ trong nền giáo dục đại học hiện nay Hơn nữa, tác giả còn đưa ra được thực trạng của việc thực hiện dân chủ trong các trường đại
học ở nước ta Từ cái nhìn thực tế tác giả đã đưa ra những đề xuất trong việc nâng cao hơn nữa tính dân chủ trong các trường đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế
hiện nay
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn tiêu biểu như: Ngô Thị Huyền Trang với Thực hành dân chủ trong nhà trường đại học ở nước ta
hi ện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh
học, 2015 Cùng với nhiều bài báo, tạp chí khác như Vũ Ngọc Hải, Hệ thống giáo
d ục quốc dân hướng tới xây dựng xã hội học tập suốt đời ở nước ta Tạp chí Giáo
dục,(63), 7-2003; Võ Văn Lộc, Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong học tập,
Tạp chí giáo dục, (57), 5-2003
Nhìn chung các công trình kể trên đều tập trung nghiên cứu phân tích tầm quan trọng của dân chủ với giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh Từ vai trò quan trọng đó các tác giả đề xuất những giải pháp
từng bước nâng cao dân chủ trong giáo dục nước ta hiện nay
Kế thừa những thành quả mà các nhà khoa học đã đạt được, tác giả đi tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục, từ đó chỉ ra ý nghĩa của nó đối với giáo dục đại học ở nước ta hiện nay, nhằm thực hiện hiệu quả
Trang 136
tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục trong các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt trong điều kiện Luật Giáo dục đại học (sửa đổi, bổ sung) năm 2018 vừa có
hiệu lực vừa qua dưới góc độ tiếp cận của Chủ nghĩa xã hội khoa học
3 M ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu: Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục và ý
nghĩa của nó đối với sự phát triển của giáo dục đại học ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Nhi ệm vụ nghiên cứu:
+ Khảo cứu các bài viết của Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục, các bài chuyên khảo, nghiên cứu của một số học giả về vấn đề nêu trên Từ đó, luận văn làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục, đặc biệt là trong giáo dục đại học
+ Phân tích và đánh giá thực trạng việc thực hiện dân chủ trong giáo dục theo
tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học Việt Nam hiện nay
+ Chỉ rõ ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục đối với phát triển giáo dục đại học nước ta hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục và
ý nghĩa của nó đối với giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
- Ph ạm vi nghiên cứu:
Từ góc độ Chủ nghĩa xã hội khoa học, luận văn chủ yếu tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục, trong đó có dân chủ trong giáo dục đại học Từ đó chỉ ra ý nghĩa của nó trong việc thực hiện và phát huy dân chủ trong giáo dục đại học ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ
nghĩa xã hội khoa học, Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin , hệ
thống các quan điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh, văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam
về dân chủ trong giáo dục, các Chỉ thị, Nghị quyết, Luật Giáo dục đại học, các văn
Trang 147
bản của Bộ Giáo dục và đào tạo, một số công trình khoa học đã được công bố gắn
với điều kiện lịch sử cụ thể nước ta hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu cơ bản: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên
cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học, Chủ nghĩa DVBC và DVLS, đồng thời sử dụng các phương pháp logic lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sách,
6 Đóng góp của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn tiếp tục hệ thống một số tư liệu, nội dung chủ yếu
của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục, chỉ ra ý nghĩa của nó đối với giáo dục đại học ở Việt nam hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện dân chủ trong giáo dục đại học theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta giai đoạn thực hiện đổi
mới toàn diện, căn bản giáo dục, Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung) năm 2018
+ Luận văn có thể làm tư liệu nghiên cứu, giảng dạy và học tập theo tư tưởng
Hồ Chí Minh, theo chỉ thị số 23 – CT/TW ngày 27 tháng 03 năm 2003 của Ban bí thư Trung ương Đảng về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
7 K ết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
gồm 2 chương và 4 tiết
Trang 151.1.1.1.Dân ch ủ là một kết quả tiến hóa của lịch sử
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện bắt đầu từ thời Hy Lạp cổ đại Ph Hérodote (484 – 425 TCN) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này, khi ông nghiên cứu về các thể chế chính trị trong lịch sử
Theo ngôn ngữ người Hy Lạp cổ đại, dân chủ có nghĩa là Democratos (Demos = dân, cratos = quyền lực, tức là quyền lực của nhân dân) Trải qua sự phát triển của
xã hội loài người, khái niệm dân chủ ngày nay được mở rộng và hiểu với nhiều nghĩa khác nhau, dân chủ có thể được hiểu là một hình thức tổ chức, quản lý xã hội; là tính
chất của các mối quan hệ giữa các cộng đồng người; là một giá trị xã hội; một lý tưởng giải phóng con người đến với tự do và thực hiện quyền làm chủ xã hội, làm
chủ nhà nước và làm chủ chính bản thân mình; dân chủ còn là sản phẩm của nền văn minh; là tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội Dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội
gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người Giống như những hình thái ý thức xã hội khác, dân chủ cũng ra một sản phẩm do con người tạo ra
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, giai cấp chưa xuất hiện, chưa có khái
niệm dân chủ nhưng những hình thức dân chủ sơ khai đã được hình thành trong
những hình thức sinh hoạt cộng đồng Từ hình thức sinh hoạt đó, những thành viên trong cộng đồng được tự mình bầu ra người đứng đầu chăm lo cho những công việc chung của cả bộ tộc Mặt khác, cũng chính họ tự mình bãi nhiệm khi nhận thấy người đứng đầu đó không đủ năng lực lãnh đạo Các sinh hoạt dân chủ được tiến hành phổ biến, rộng rãi trong mọi thành viên: “Thị tộc có một hội đồng, tức là đại
hội dân chủ của toàn bộ các thành viên, trai cũng như gái, tất cả đều có quyền bầu
cử như nhau Hội đồng bầu ra và bãi miễn các tù trưởng và thủ lĩnh quân sự, và những người “bảo vệ tín ngưỡng” khác; Hội đồng quyết định nộp lễ vật để chuộc tội hay quyết định việc báo thù cho những người trong thị tộc bị giết hại; Hội đồng kết nạp
Trang 16sở hữu chung của thị tộc, bộ lạc, đặc biệt chưa có sự xuất hiện của nhà nước
Lực lượng sản xuất phát triển, của cải tạo ra ngày càng nhiều và rơi vào tay
của một số ít người nắm quyền lãnh đạo, đã tạo điều kiện cho chế độ tư hữu hình thành Khi xã hội có chế độ tư hữu, có giai cấp – chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời thay
thế cho hình thái ý thức xã hội cộng sản nguyên thủy, giai cấp chủ nô lập ra nhà nước, lấy tên là nhà nước dân chủ (ở Aten, Hy Lạp cổ đại, từ thế kỷ thứ VII đến VI TCN) – nhà nước dân chủ chủ nô thống trị đại đa số người lao động là giai cấp nô
lệ Nhà nước chủ nô là nhà nước chính thức sử dụng danh từ “dân chủ” Với nghĩa
“Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân” trong nhà nước dân chủ chủ nô, “dân”
được pháp luật quy định chỉ có hai giai cấp là giai cấp chủ nô, tăng lữ, thương gia,
một số tri thức và những người tự do, còn lại đại đa số nhân dân trở thành nô lệ Về
thực chất, đây là giai cấp tư hữu, áp bức bóc lột đầu tiên lập ra nhà nước và dùng quyền lực của nhà nước chiếm quyền lực thật sự của nhân dân lao động
Theo tiến trình phát triển của lịch sử, nền dân chủ của xã hội chiếm hữu nô lệ
là một bước phát triển lớn so với hình thức dân chủ sơ khai của xã hội công sản nguyên
thủy, nhưng thực chất nền dân chủ chủ nô chỉ là nền dân chủ của giai cấp thiểu số bóc lột, giai cấp chủ nô
Trang 17Sau khi Đế chế Tây La Mã sụp đổ, Châu Âu bước vào những ngày tăm tối, chiến tranh liên miên Trong những thập kỷ tiếp theo, Giáo hội Cơ Đốc giáo xuất
hiện thống trị toàn Châu Âu, đồng thời khởi xướng những cuộc thập tự chinh gây chiến tranh cho phương Đông Trong suốt một nghìn năm, Châu Âu bị bao trùm bởi các giáo lý Thần học của các tu sĩ mang nặng tư tưởng giáo điều và khắc kỷ Mọi
vấn đề của đời sống xã hội chỉ nhằm phục vụ cho Nhà Thờ, Giáo hội Sự ra đời của
phong trào văn hóa phục hưng (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI) tác động mạnh mẽ vào xã hội tăm tối của Châu Âu lúc đó Trong phong trào này có những nhà tư tưởng tiêu biểu như Nicolas Copernic (1473 – 1543), William Shakespeare (1564 – 1616), Các nhà tư tường này nêu cao tư tưởng tự do, dân chủ trong văn hóa,
chống chủ nghĩa kinh viện và sự thống trị của Thần học Đây là những tư tưởng mang tính nhân văn sâu sắc đại diện cho những tư tưởng đấu tranh cho quyền sống
và phát triển của con người Thêm vào đó là tư tưởng triết học duy lý tiêu biểu là R.Descartes (1596 – 1650), tư tưởng triết học Khai sáng tiêu biểu là Volte (1694 – 1778), những nhà tư tưởng này đề cao vai trò của tư duy, của lý trí chống lại những lối
Trang 18mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản ra đời, với tư cách
là một hình thái ý thức xã hội, cùng những hình thức tổ chức xã hội mới góp phần làm cho sự phát triển của dân chủ trong lịch sử Với thắng lợi của những cuộc cách mạng tư
sản trên thế giới tiêu biểu nhất là cách mạng tư sản Pháp, cùng sự ra đời của bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền tạo nên cột mốc cho sự phát triển của nền dân chủ Tuy nhiên, với sự ra đời của nhà nước tư sản, xã hội công dân đã ra đời thay thế cho xã
hội thần quyền thời trung cổ Nền dân chủ tư sản ra đời để bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư
sản, những người giàu có trong xã hội, còn người lao động, người nghèo không được hưởng chút quyền lực nào cả về kinh tế và chính trị
Như vậy, khi dân chủ chính thức ra đời, từ nền dân chủ của xã hội chiếm hữu nô
lệ đến nền dân chủ tiến bộ hơn là nền dân chủ tư sản của chủ nghĩa tư bản đều là nền dân chủ của bộ phận thiểu số trong xã hội, còn phần lớn những người lao động không
có quyền đòi dân chủ Vì thế, cần có một nền dân chủ mới ra đời khắc phục những
hạn chế của những nền dân chủ trước đó, nền dân chủ mới phải đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, đảm bảo lợi ích của nhân dân Nền dân chủ đó là nền dân chủ XHCN
1.1.1.2 Dân ch ủ - hệ giá trị phản ánh mức độ phát triển của xã hội
Dân chủ là một hình thức phản ánh sự phát triển của xã hội Dân chủ còn được xem xét với tư cách là một hệ giá trị Hệ giá trị đó là một hệ thống các tiêu chuẩn để quy định, định hướng và tổ chức hành vi của con người trên phạm vi toàn thế giới Quá trình hình thành và phát triển dân chủ là một quá trình lịch sử tự nhiên
Trải qua mỗi giai đoạn lịch sử, cùng với sự phát triển của xã hội, từng hệ giá trị không ngừng được bổ sung và hoàn thiện Dân chủ cũng trải qua sự phát triển và thay đổi của mình để phù hợp với mỗi hình thức xã hội mà nó tồn tại
Trang 1912
Với cách hiểu khởi nguyên dân chủ là quyền lực của nhân dân, khái niệm dân
chủ bao hàm nhiều nghĩa khác nhau Đó là một hình thức tổ chức nhà nước, một nguyên tắc tổ chức pháp lý - chính trị xã hội nhà nước
Trong quá trình phân chia giai cấp, cùng với sự ra đời của nhà nước, quyền lực
vốn thuộc về nhân dân đã bị giai cấp thống trị, thiểu số bóc lột cướp mất Vì thế, trong lịch sử từ xã hội dân chủ chủ nô đến xã hội tư bản chủ nghĩa xảy ra nhiều
cuộc đấu tranh đòi quyền dân chủ của nhân dân lao động với giai cấp thống trị Do
đó, dân chủ không ngừng phát triển và biến đổi ở những giai đoạn lịch sử khác nhau Dân chủ là kết quả đấu tranh xã hội của nhân dân lao động với tầng lớp thống
trị trong xã hội, đồng thời dân chủ cũng là kết quả của quá trình phát triển tư duy và hoàn thiện những hệ giá trị của con người Mọi nền dân chủ đều có quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh đòi các quyền con người vì sự tiến bộ của xã hội, bên cạnh
đó dân chủ cũng không tách khỏi thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ Xã hội càng phát triển ở trình độ cao, càng văn minh và tiến bộ thì nhu cầu về dân chủ càng không ngừng tăng lên
Bản chất của dân chủ là quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người Trong Lời nói đầu của Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền viết: “Công nhận
phẩm giá vốn có của mọi thành viên gia đình nhân loại, công nhận các quyền bình đẳng
và bất khả xâm phạm của họ là cơ sở của tự do, công bằng và hòa bình thế giới” [70] Dân chủ bao gồm những giá trị như quyền tự do cá nhân, con người được nhà nước pháp quyền bảo vệ, Một xã hội được coi là dân chủ hay không dân chủ được xét tùy thuộc vào mức độ con người được giải phóng khỏi những áp bức, bóc lột hướng đến sự tự do, bình đẳng
Ngoài ra, dân chủ còn được thể hiện qua các mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người với xã hội đặt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và cả trong quyền lợi và trách nhiệm của công dân với nhà nước
Xu thế toàn cầu hóa lan tỏa trên phạm vi toàn thế giới, các quốc gia, dân tộc muốn phát triển cần có sự giao lưu với nhau Từ sự giao lưu về kinh tế, văn hóa – xã hội mà
những hệ giá trị như dân chủ, tự do, bình đẳng, cũng được lan tỏa đến tất cả các quốc
Trang 2013
gia, dân tộc trên thế giới Trong quá trình đó, dân chủ đã và đang trở thành một xu thế tất
yếu mà mọi quốc gia dân tộc trên thế giới hướng đến Qua đó, nhiệm vụ của mỗi quốc gia trên toàn cầu hiện nay là phải nắm bắt và hướng dân tộc mình đến với những xu thế
và những giá trị chung của nhân loại
Nằm ở giữa ngã ba đường, cùng với sự mở cửa của hội nhập quốc tế nên ngày nay tiễn trình dân chủ ở nước ta có nhiều yếu tố tác động Mặt khác, quá trình đổi mới đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN góp phần không nhỏ vào tiến trình này Hơn nữa, sự
hội nhập về văn hóa, tư tưởng, chính trị với thế giới cũng làm cho nhiều hệ giá
trị ở nước ta có sự thay đổi
Ở Việt Nam, “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh”
là mục tiêu xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân ta Trong đó, dân chủ không
những là mục tiêu mà còn là động lực của sự phát triển đất nước Dân chủ là mục tiêu khi dân chủ hướng con người đến với sự phát triển toàn diện, sự tự do và
hạnh phúc Một dân tộc được đảm bảo dân chủ thì xã hội mới tiến bộ và văn minh Dân chủ là động lực khi dân chủ hóa được đẩy mạnh vào đời sống xã hội, con người có sự nhận thức đúng đắn về tự do, tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình, do đó tạo nên một nguồn lực to lớn một mặt thúc đẩy con người phát triển,
mặt khác thúc đẩy tiến bộ xã hội
1.1.1.3 Dân ch ủ XHCN là nền dân chủ tiến bộ của xã hội
Kế thừa những tư tưởng về dân chủ trong lịch sử, tư tưởng của C.Mác về dân
chủ là một cột mốc quan trọng đánh dấu một giai đoạn mới có tính cách mạng trong
nhận thức về dân chủ Trước hết theo C.Mác, dân chủ đầu tiên được hiểu với tính
chất là một chế độ nhà nước, trong đó dân giữ vai trò trung tâm Nhân dân là cơ sở quyết định, là lý do tồn tại của một nhà nước dân chủ C.Mác cho rằng, dân chủ dựa trên cơ sở quy luật vận động, phát triển của xã hội, trong đó kinh tế là một yếu tố quan trọng Đây là quan điểm nhất quán xuất phát từ lập trường duy vật lịch sử Theo C.Mác, dân chủ luôn gắn liền với sự vận động, phát triển của lịch sử loài
Trang 21cấp thống trị - giai cấp bóc lột Mặc dù xã hội tư bản chủ nghĩa luôn nêu cao tinh
thần dân chủ đa nguyên nhưng trên thực tế giai cấp tư sản luôn tìm mọi cách để
bảo vệ vị trí độc tôn của mình, ngăn chặn mọi tư tưởng tiến bộ của các giai cấp khác trong xã hội
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, quyền lực thuộc về giai cấp thống trị, giai cấp tư
sản, quần chúng nhân dân không được nắm giữ tư liệu sản xuất, không có quyền và địa
vị trong xã hội Do đó, nền dân chủ tư sản càng được củng cố và hoàn thiện thì
những mâu thuẫn bên trong càng trở nên gay gắt, tất yếu sẽ diễn ra các cuộc đấu tranh giai cấp chống lại nền dân chủ hình thức, dân chủ không triệt để của giai cấp
vô sản chống lại giai cấp tư sản
Do đó, cần có một nền dân chủ mới ra đời Nền dân chủ đó phải thật sự là nền dân chủ của toàn dân, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân Nền dân chủ mới đó là
nền dân chủ XHCN Theo Chủ nghĩa Mác – Lênin, bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ dưới sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của giai cấp công nhân đối với toàn xã hội, nhưng không phải để thực hiện quyền lực với lợi ích riêng của giai cấp công nhân mà chủ yếu là thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể quần chúng nhân dân lao động, trong đó có cả giai cấp công nhân V.I.Lênin nhấn mạnh xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ mà nhân dân ngày càng tham gia vào công việc nhà nước Nói một cách khác, dân chủ XHCN
Trang 22Nền dân chủ XHCN được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất Xã hội XHCN là một xã hội không có sự đấu tranh giai cấp, mọi người trong
xã hội bao gồm cả nhân dân lao động đều được hưởng quyền ngang nhau, cùng làm cùng hưởng Nhà nước là của nhân dân lao động, quyền lực chính trị cũng thuộc về nhân dân, mọi người đều có quyền và nghĩa vụ quyết định những việc quan trọng
của quốc gia, dân tộc Bên cạnh những hệ giá trị mới tiến bộ, nền dân chủ XHCN còn kế thừa một cách có chọn lọc những giá trị tốt đẹp, đồng thời khắc phục được
những hạn chế mà những nền dân chủ trước đó không thể giải quyết được Nền dân
chủ XHCN đảm bảo “dân chủ” trở về đúng nghĩa quyền lực của nhân dân
Có thể thấy rằng, dân chủ XHCN thể hiện quyền tự do, bình đẳng của nhân dân, khẳng định nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực trong xã hội Phát huy quyền làm chủ của nhân dân chính là điều kiện quan trọng để dân chủ XHCN tồn tại
và phát triển Nền dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển
và đổi mới đất nước, dân chủ thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, giáo dục, an ninh quốc phòng,… Nhà nước XHCN đảm bảo cho tất cả công dân được hưởng quyền bình đẳng và tự do cá nhân, việc đảm
Trang 23của nhà nước đều thuộc về nhân dân, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều thể hiện lợi ích của nhân dân, nhân dân có quyền tham gia các công việc của nhà nước cũng như các lĩnh vực của đời sống xã hội
1.1.2 Quan ni ệm về dân chủ trong giáo dục
lý, ý thức nhân cách” [64] Từ quan điểm trên của các nhà nghiên cứu, thấy được giáo
dục là một hoạt động của xã hội loài người và nó mang tính tất yếu Thông qua giáo
dục, con người mới có thể tồn tại, cải tạo thế giới để phát triển Giáo dục có nội hàm
rất rộng, nên được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình trao đổi và chuyển giao tri thức của con người theo những phương pháp có sẵn Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình hình thành nhân cách của con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của giáo dục
Trang 2417
Tóm lại, giáo dục được hiểu là quá trình hình thành nhân cách, được tổ chức
một cách có ý thức, mục đích thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục với người được giáo dục để chiếm hữu những tri thức xã hội của loài người nhằm cải tạo thế giới Mặt khác, giáo dục được hiểu với tư cách là một bộ
phận của quá trình sư phạm nhằm hình thành những cơ sở khoa học, thế giới quan,
niềm tin, lý tưởng, tình cảm, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen, cư xử đúng đắn trong xã hội
Theo C.Mác, giáo dục thuộc một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, ngoài
chịu sự chi phối của các quy luật riêng, còn chịu sự quy định của những quy luật tự nhiên và xã hội Đóng góp lớn nhất của C.Mác cho giáo dục là nhìn ra bản chất xã
hội của con người Từ bản chất người, Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản
chất người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [81, tr11] Về thực chất, giáo dục
phải đi từ bản chất con người, đồng thời bản chất con người phải được đặt trong
hoạt động hiện thực, gắn với những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể và bao giờ
nó cũng mang tính xã hội Do đó, những tư tưởng chỉ đạo, phát triển giáo dục phải
xuất phát từ con người, bản chất con người gắn với điều kiện lịch sử cụ thể là cơ sở
Từ những tư tưởng giáo dục của C.Mác, V.I.Lênin đã tiếp tục phát triển và hoàn thiện trong điều kiện lịch sử đầu thế kỷ XX Những tư tưởng giáo dục của V.I.Lênin được thể hiện cụ thể:
Thứ nhất, V.I.Lênin bàn đến vai trò của giáo dục Trong tác phẩm “Bàn về
ch ế độ hợp tác xã”, Người khẳng định: “Tôi quả quyết rằng trọng tâm của chúng
ta đã chuyển sang hoạt động giáo dục, nếu không có những mối quan hệ quốc tế, không có nghĩa vụ phải bảo vệ vị trí của nước ta trên phạm vi quốc tế Nhưng nếu gác lại tình hình quốc tế ra mà chỉ nói đến quan hệ kinh tế trong nước của chúng
ta thì trọng tâm công tác của chúng ta hiện nay quả thật là xoay vào hoạt động giáo dục” [83, tr428] Có thể nói, vai trò của giáo dục được đề cao, giáo dục là cơ
sở cho sự tồn tại bền vững của xã hội cũng như nền tảng xây dựng một xã hội tiến
bộ và văn minh
Trang 2518
Thứ hai, bàn đến đối tượng của giáo dục Theo V.I.Lênin, bất kể giai cấp, tầng
lớp nào trong xã hội, không phân biệt giai cấp, lứa tuổi, trình độ đều có quyền được giáo dục như nhau
Thứ ba, bàn đến mục đích giáo dục Theo V.I.Lênin, mục đích giáo dục là rèn luyện để tạo ra những con người có đạo đức để làm việc cho cách mạng, đất nước
Thứ tư, bàn đến nội dung giáo dục Theo V.I.Lênin, nội dung của giáo dục là
phải học tất cả những kho tàng tri thức của nhân loại đã tạo ra Nội dung giáo dục
phải phù hợp với từng đối tượng, vị trí của họ trong xã hội mới
Thứ năm, bàn đến phương pháp giáo dục Theo V.I.Lênin, phương pháp giáo dục quan trong nhất là “Học đi đôi với hành”, phải luôn gắn giáo dục với thực tiễn Đặc
biệt, giáo dục cần khuyến khích thế hệ trẻ nên tự học, tự rèn luyện
Có thể thấy, V.I.Lênin đã có những đóng góp lớn cho những tư tưởng giáo dục
về mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục Một số quan điểm về giáo dục của Người hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, đồng thời trở thành mục tiêu cho việc xây
dựng và hoàn thiện sự nghiệp giáo dục của nước ta
Kế thừa những tư tưởng về giáo dục của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm xem giáo dục là quốc sách hàng đầu Quan điểm này được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng Nghị quyết TƯ 3 (khóa VII) năm 1993 khẳng định “Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” [15] Nghị quyết TƯ 8(khóa XI) tiếp tục khẳng định “Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân” [19] Nghị quyết số 29 – NQ/TW về giáo dục và đào tạo với những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế: “Đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [5] Đây được coi là một bước đột phá quan trọng của Đảng ta trong việc nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục trong tình hình nước ta hiện nay
Trang 26hiệu quả, đặc biệt là thật sự thấm nhuần tư tưởng giáo dục, dân chủ trong giáo dục
của Hồ Chí Minh
1.1.2.2 M ột số quan điểm về dân chủ trong giáo dục
Theo lời của Thomas Jefferson, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập và cũng là
Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ “Một dân tộc muốn tự do, dân tộc ấy phải biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác bằng sự hiểu biết của mình” [77] Theo
ông thì một công dân có giáo dục là người thực hiện được giá trị của các quyền tự
do cá nhân, phải khó khăn lắm mới có được và ý thức được trách nhiệm của người công dân – nền tảng của dân chủ Mục tiêu của một nền giáo dục có dân chủ đó là sản sinh ra các công dân độc lập và chủ động, quen với những luật lệ và thực tiễn dân chủ Tất cả mọi xã hội đều phải giải quyết các vấn đề cơ bản liên quan đến bản chất và mục đích của hệ thống giáo dục của họ, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới giải quyết các vấn đề giáo dục trên cơ sở của một nền dân chủ
* Quan điểm của John Dewey về dân chủ trong giáo dục
John Dewey (1859 – 1952) là một nhà giáo, nhà triết học, nhà cải cách, nhà tư tưởng lớn người Mỹ Ông là người đưa ra triết lý giáo dục nổi tiếng cho thế giới vào thế kỷ XX, nổi bật là tư tưởng dân chủ trong giáo dục Tư tưởng khoa học trong triết lý giáo dục của John Dewey là cơ sở vững chắc để ông đi tới dân chủ trong giáo dục – một triết lý gắn với thực tiễn của thời đại, đồng thời là một triết lý tiến
bộ nói lên được khát vọng nhân văn to lớn, sâu sắc của con người Ông là người góp
một phần to lớn trong việc xây dựng một nền giáo dục dân chủ ở Mỹ Theo ông, trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ em kiến thức và những bài học về luân lý Trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ với người khác di
Trang 2720
sản nhận thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội Không một nội dung hoặc giá trị tự thân tuyệt đối nào từ bên ngoài được áp đặt lên học sinh Nhà trường và giáo viên phải tạo ra môi trường tự do, trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn Trong nhà trường, học sinh là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục vì thế nên học sinh phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động của nhà trường, học sinh là người cộng tác để thực hiện những kế hoạch của nhà trường Người giáo viên là người có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc khai mở kiến thức cho ngươi học, họ là người kích thích, hướng dẫn, gợi mở thông qua việc hỗ trợ, cung cấp tư liệu Do đó, người giáo viên phải là người được giáo dục toàn diện, có tri thức trong
mọi lĩnh vực Ông lưu ý rằng, người giáo viên trong nhà trường không phải là người ban phát kiến thức, mà là một thành viên của cộng đồng lớp học Ông nói đến nội dung của giáo dục, nền giáo dục dân chủ là nền giáo dục mà những nội dung của nó phải gắn với sự phát triển của con người và phản ánh đầy đủ quá trình phát triển đó Phương pháp dạy học được sử dụng phải là phương pháp gắn với sự phát triển của
cá nhân người học chứ không phải sử dụng phương pháp của người lớn áp cho trẻ Và đặc biệt nội dung giáo dục và phương pháp dạy học phải luôn luôn phù hợp với nhau
Có thể thấy, những tư tưởng dân chủ trong giáo dục của John Dewey có đóng góp không nhỏ cho nền giáo dục của nhân loại Góp phần hình thành những tư tưởng tiến bộ, hướng con người đến với sự phát triển toàn diện, tự do, bình đẳng
* Quan điểm của L.Tolstoi về dân chủ trong giáo dục
Nếu John Dewey có đóng góp quan trọng cho nền giáo dục dân chủ ở Mỹ thì L.Tolstoi (1828 – 1910) có công lớn đối với nền giáo dục dân chủ ở Nga Trong bài
“Bàn v ề giáo dục quốc dân” ông cho rằng giáo dục luôn có quy luật của nó, nên
nhiệm vụ của giáo dục là tìm những quy luật đó L.Tolstoi vạch ra một quy luật cơ
bản đó là sự gặp gỡ giữa người dạy và người học, họ cùng hướng đến một mục đích
là tìm ra chân lý Ông nhận thấy, điều kiện cơ bản thúc đẩy quy luật nói trên là sự tự
do Ông khẳng định: “Chúng ta phải xác định thực chất của sự tự do mà nếu thiếu
nó thì sự gặp gỡ chí hướng của hai bên bị cản trở, rằng chỉ duy nhất sự tự do, đó là
Trang 2821
chuẩn của toàn bộ giáo dục, là niềm tin của chúng ta, rằng phải từng bước, xuất phát
vô số sự thật, tiến dần đến giải quyết của các vấn đề khoa học giáo dục” [85, tr24] Trong giáo dục người dạy và người học cần có tự do, nếu thiếu tự do mọi hoạt động
đi đến chân lý đều bị cản trở
Tư tưởng về đối tượng và mục đích của nền giáo dục được ông tiếp tục phát triển trong bài “Về giáo dục và đào tạo”, Ông cho rằng: “Giáo dục không phải là đối
tượng của giáo dục học mà chỉ là hiện tượng mà giáo dục học không thể không lưu ý” [85, tr28] Tất cả nền giáo dục cũ đều sai lầm khi chỉ nhằm giáo dục đối với thiểu số;
phục vụ lợi ích của kẻ đi giáo dục, hoàn toàn không quan tâm đến nguyện vọng của nhân dân Để khắc phục tình trạng trên ông nhận thấy tầm quan trọng của việc xác định lại đối tượng và mục đích của giáo dục, ông cho rằng cần thay đổi khái niệm
của “giáo dục” thành “đào tạo” và đào tạo mà ông nói đến phải bao gồm toàn bộ
những ảnh hưởng thúc đẩy sự phát triển của một con người, cho con người một thế
giới rộng lớn hơn, bao gồm cả những kiến thức mới Đào tạo là quan hệ tự do giữa người thu nhận kiến thức và người truyền đạt, đào tạo luôn đảm bảo tính tự do Ông đưa ra những tư tưởng dạy và học mới, là cần có sự gắn kết giữa giáo dục nhà trường với cuộc sống Ông thấy rằng phương pháp giáo dục cũ là một phương pháp giáo điều, cưỡng bách, áp đặt, Vì thế, để hướng đến một phương pháp mới,
“t ự do” chính là điều kiện làm thay đổi bản chất, phương pháp giáo dục trong nhà
trường, vì nó đưa đến sự giáo dục tự do trong nhà trường Đó chính là thể hiện cách
dạy, cách học cơ bản, không phải là dạy cái gì, cho phép mọi năng lực cao cấp như tưởng tượng, sáng tạo, suy luận được phát huy
Như vậy, nguyên lí cơ bản của một nền giáo dục tự do chính là phải đảm bảo
mối quan hệ hữu cơ giữa nhà trường và cuộc sống; mọi sự giáo dục đều phải giải đáp được những nhu cầu của cuộc sống nên giáo dục chỉ có thể lớn lên khi nó được
tự do, thể hiện những nhu cầu của cuộc sống, của đông đảo nhân dân
Một nội dung quan trọng trong học thuyết giáo dục của ông đó là quan niệm
về một nền giáo dục quốc dân Theo ông nền giáo dục quốc dân không phải được đặt ra và chịu sự kiểm soát từ bên trên Ông lên án một hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 2922
ở Châu Âu trung cổ và đương thời L.Tolstoi không phủ nhận sự tồn tại của nhà nước, chính phủ, xã hội đối với nền giáo dục quốc dân, nền giáo dục vẫn do nhà nước đầu tư phát triển, nhưng thuộc quyền sở hữu của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân Đối với ông, giáo dục quốc dân không mang nội dung xã hội sâu sắc rộng
lớn Trước hết trong phạm vi quốc gia đất nước, một xã hội, đất nước muốn tồn tại, phát triển không thể không tổ chức một nền giáo dục cho toàn xã hội, toàn dân của nước mình, nhưng đó phải là nền giáo dục tự do, dựa trên nhu cầu của nhân dân Có
thể nói, đây là tư tưởng dân chủ trong giáo dục của ông gắn liền với tư tưởng tự do
về giáo dục
Tóm l ại, dân chủ trong giáo dục được hiểu chung nhất và thể hiện chủ yếu qua
quyền của con người, trong đó có các quyền sau:
- Ai cũng có quyền và nghĩa vụ được học hành, quyền được học suốt đời
- Quyền và nghĩa vụ được tham gia quản lý, thụ hưởng giáo dục cả về vật chất
và tinh thần
Điều này, từng bước thể hiện dân chủ hóa giáo dục, xã hội hóa giáo dục
1.2 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ, dân chủ trong giáo dục
1.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng dân chủ trong giáo dục của Hồ Chí Minh
Với tư cách là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nên cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và dân chủ trong giáo dục nói riêng không nằm ngoài cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh
ra đời trên cơ sở lí luận kế thừa tiếp thu những tư tưởng phương Đông, phương Tây, đặc biệt là chủ nghĩa Mác Lênin cũng như xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam vào đầu thế kỉ XIX
* Cơ sở lí luận
Sự hình thành tư tưởng dân chủ trong giáo dục của Hồ Chí Minh dựa trên
những tư tưởng, văn hóa nhân loại về dân chủ gồm: Tư tưởng, văn hóa phương Đông, tư tưởng văn hóa phương Tây, Chủ nghĩa Mác – Lênin
Tư tưởng, văn hóa phương Đông
Trang 3023
Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, ngày từ
nhỏ Người đã được giáo dục và có cơ hội chọn lọc, tiếp nhận những tư tưởng tính
cực của Nho giáo Đó là Nho giáo đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu
học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”[3]
Về phật giáo, Người tiếp thu những tư tưởng về lòng vị tha, từ bi, cứu khổ,
cứu nạn, coi trọng bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, hướng đến việc thiện
Về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh thấy ở đó có tinh
thần dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Sau này khi khai sinh ra
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh nêu lên khẩu hiệu “Độc lập, tự do, hạnh phúc” chính từ ảnh hưởng bởi những tư tưởng này
Tư tưởng, văn hóa phương Tây
Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đặt chân đến Mỹ, Anh, Pháp Những cuộc đấu tranh đòi độc lập tự do và những giá trị về quyền con người
của nhân dân thế giới tác động mạnh mẽ đến Người Trong khoảng từ năm 1913 đến 1917, khi sống trong nền quân chủ lập hiến của Anh, Hồ Chí Minh đã lao động
và tham gia các phong trào đòi tự do, bình đẳng của công nhân Anh, Người biết thêm một hình thức dân chủ nữa của nhân loại – nền dân chủ lập hiến Người được
sống, làm việc và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những hình thức tồn tại của những
nền dân chủ đó, đồng thời Người còn sử dụng thành quả của những nền dân chủ đó cho qua trình hoạt động cách mạng của mình Người trực tiếp đứng vào hàng ngũ đấu tranh của giai cấp công nhân các nước, tham gia viết báo, hội họp Từ đó, Hồ Chí Minh có cơ hội học tập, trải nghiệm các môi trường thực hành dân chủ
Năm 1917, Người đến Pari, ở đây Hồ Chí Minh được tiếp xúc phong trào khai sáng Pháp với những nhà tư tưởng nổi tiếng như Vonte, Russo, Đặc biệt, Người còn chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền (1791) của Đại cách mạng Pháp Người tiếp thu những giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập (1776) Hồ Chí Minh nói rằng: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe
những từ Pháp tự do – bình đẳng – bác ái Đối với chúng tôi, người nào da trắng là người
Trang 3124
Pháp, Người Pháp đã nói thế và từ thủa ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn mình Pháp,
muốn tìm xem những gì ẩn sau những từ ấy”[13, tr11] Như vậy, những tư tưởng, văn hóa của phương Đông và phương Tây góp – phần không nhỏ trong quá trình hình thành tư tưởng dân chủ của Người
thể và có kế hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn
diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất”[81, tr474] Như thế, mục đích
của nền giáo dục XHCN là: “Làm cho những thành viên trong xã hội đó có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của mình”[81, tr475] Các nhà kinh điển Mácxít đều thống nhất mục đích của nền giáo dục XHCN
là đào tạo nên những con người XHCN, những người lao động mới có ý thức và đạo đức XHCN, có trình độ văn hoá và khoa học tiên tiến, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ, có sức khoẻ tốt – những con người phát triển toàn diện
Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác, giáo dục chỉ có ở loài người, là một phần không thể tách rời của đời sống xã hội loài người Giáo dục có ở mọi thời đại, mọi thiết chế xã hội khác nhau Thông qua mục đích, tính chất của mình, giáo dục thể hiện vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người nói chung
và đối với quốc gia dân tộc nói riêng Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đều thừa nhận rằng giáo dục có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, thông qua đó giáo dục góp phần quyết định sự vận động và phát triển
xã hội Theo quan điểm của các ông, tri thức là vũ khí kỳ diệu để quần chúng tự giải phóng mình và phát triển toàn diện mọi khả năng của mình; hơn thế nữa, tương lai của loài người hoàn toàn phụ thuộc vào nền giáo dục thế hệ công dân đang lớn lên:
“Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh
Trang 3225
chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần lượt chuyển
từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ theo nhu cầu của xã hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ Do đó, công tác giáo dục sẽ làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động hiện nay đang buộc mỗi một người phải theo”[81, tr475] Giáo dục trang bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi những kiến thức, kỹ năng để họ có thể thay đổi những giá trị của xã hội cũ, đồng thời thích nghi và phát triển những giá trị của xã hội mới
Các nhà Mác xít đều thống nhất trong việc đưa ra nguyên lý, phương pháp, hình thức, nội dung giáo dục Theo đó, các ông đều khẳng định dạy học phải lấy người học làm trung tâm; dạy học phải phát huy tối đa tính độc lập, sáng tạo và tích cực của người học; giáo dục phải kết hợp với tự giáo dục; đa dạng hoá các hình thức trong giáo dục; học tập thường xuyên và học tập suốt đời
Trong chế độ XHCN, các nhà Mácxít chỉ rõ nền giáo dục XHCN phải đảm bảo học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục gắn liền với lao động, sản xuất; đảm bảo sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục
Phương pháp giáo dục phải tổng hợp các phương pháp dạy và học; dạy đảm bảo đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, kết hợp giữa học tập với vui chơi Trên tinh thần đó, nội dung giáo dục phải được bổ sung và hoàn thiện Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đưa ra nội dung của nền giáo dục toàn diện bao gồm: đức dục, trí dục, thể dục và mỹ dục Các ông đặc biệt quan tâm đến giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đạo đức cách mạng và giáo dục lý luận chính trị cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Từ những tư tưởng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác - Lênin về giáo dục vào điều kiện thực tiễn Việt Nam Người khẳng định: “Muốn có chủ nghĩa xã hội thì phải có con người XHCN” Để đạt được mục tiêu này, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính dân tộc, dân chủ, tính quần chúng và tính hiện đại Trong đó Người đặc biệt chú trọng
Trang 3326
đến giáo dục - đào tạo cán bộ trên cả hai mặt “đức” và “tài”, lấy “đức” làm cơ sở
vững chắc cho tài năng phát triển
* Cơ sở thực tiễn
Sự hình thành tư tưởng dân chủ trong giáo dục của Hồ Chí Minh dựa trên thực tiễn xã hội Việt Nam cùng những giá trị truyển thống của dân tộc, quá trình hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh cùng với bản lĩnh, tư duy và trí tuệ sáng suốt của Người
Thực tiễn xã hội Việt Nam cùng những giá trị truyền thống của dân tộc
Nước ta nằm ở vị trí địa lý quan trọng là cửa ngõ Đông – Nam châu Á, luôn phải chống lại các cuộc xâm lược từ bên ngoài Vì vậy, trong hàng ngàn năm tồn tại
và phát triển, dựng nước và giữ nước tạo nên quy luật nội sinh trong sự phát triển của dân tộc ta Lịch sử đấu tranh đã tạo nên những giá trị truyền thống, đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, mà biểu hiện là ý thức chủ quyền quốc gia dân tộc, ý chí
tự lập, tự cường, yêu nước kiên cường, nó tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc ta
Từ thực tiễn lịch sử cho thấy, những phong trào dành độc lập dân tộc đã bước đầu mang giá trị dân chủ Mặt khác, tác động tổng hợp những nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam trong lịch sử đã làm nảy sinh và phát triển những giá trị dân chủ, có thể xem như những giá trị truyền thống của dân tộc Đó là dân chủ được nảy sinh từ trong những cuộc đấu tranh xã hội, sự bảo tồn các quan hệ xã hội,… Chính từ những giá trị truyền thống của dân tộc trên đã tạo nên điều kiện thuận lợi để Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những tư tưởng dân chủ nói chung, dân chủ trong giáo dục nói riêng
Quá trình hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh cùng với bản lĩnh, tư duy và trí tuệ sáng suốt của Người
Trong những năm buôn ba ở nước ngoài tìm con đường đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, được sống và làm việc trong những nền dân chủ tiến bộ trên thế giới, Người mơ ước cho nước nhà sớm có một nền giáo dục dân chủ, tự do, trường học được mở mang, có nhiều nơi xem sách báo cho con em công nhân và nông dân nghèo
Trang 3427
Từ năm 1911 đến trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, với tư cách là
một chiến sĩ cộng sản người thanh niên Nguyễn Ái Quốc tỏ rõ ý chí chiến đấu
chống mọi đàn áp, bất công của thực dân Pháp Người dùng ngòi bút của mình như
một vũ khí sắc bén tranh thủ những diễn dàn để tố cáo chế độ thực dân phong kiến Đồng thời, đấu tranh xây dựng một nền giáo dục dân chủ mới cho nước nhà
Ngày 26 tháng 12 năm 1920, với tư cách là đại biểu Đông Dương, Nguyễn Ái
Quốc phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp vạch trần
sự tàn bạo của thực dân Pháp gây ra cho Đông Dương, Người nói: “Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có Chúng tôi không có quyền cư trú và du lịch nước ngoài; chúng tôi
phải sống trong hoàn cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học
tập”[31, tr34] Người chỉ rõ việc những người dân Đông Dương đang bị thực dân Pháp tước đi những quyền cơ bản và sống trong cảnh ngu dốt
Năm 1927, những bài giảng của Người được in trong tác phẩm “Đường cách
m ệnh”, ngoài những quan điểm cơ bản về đường lối cách mạng nhằm chuẩn bị cho sự ra
đời của Đảng, Người căn dặn giai cấp công nhân và nông dân Với giai cấp công nhân, Người khuyên:
“Khi hội có tiền thừa thãi, thì nên làm những việc này:
1 Lập trường cho công nhân;
2 Lập trường học cho con cháu công nhân;
3 Lập nơi xem sách báo…” [31, tr334]
Khát vọng về một xã hội dân chủ, tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Đối với giai cấp nông dân, Hồ Chí Minh đưa ra gợi ý thành lập Hội
dân cày Người đặc biệt chú ý đến việc phải “hết sức mở mang giáo dục, như lập trường tổ chức nhà xem sách vân vân”[31, tr377] Trong khoảng thời gian hoạt
động ở nước ngoài, Người đã nghĩ đến một nền giáo dục tự do, dân chủ, trong đó
việc tự do học tập, tự do mở trường, phát triển sách báo, bình đẳng trong giáo dục,
Đó là những lý tưởng cao cả được hình thành khi Người còn là một thanh niên
Trang 3528
Ngay khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, trong những văn kiện quan trọng
của Đảng, Nguyễn Ái Quốc và những cộng sự của Người khẳng định một số quan điểm lớn nhằm khai sinh ra một nền giáo dục dân chủ mới cho nước nước nhà
Theo “L ời kêu gọi” Nguyễn Ái Quốc vận động anh chị em công nhân, nông dân,
binh lính, thanh niên, học sinh Anh chị em bị áp bức, bóc lột cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng, trong đó, chương trình thứ tám là “Đem lại mọi quyền tự quyết cho nhân dân”, thứ chín “ Thực hành giáo dục toàn dân”, thứ mười là “Thực hiện nam nữ bình quyền” [27, tr243] Giáo dục phải được thực hiện trong nhân dân,
nhân dân được tự do tổ chức và thực hành trong toàn dân
Năm 1941, để tiếp tục chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa Tháng Tám và cho sự ra
đời của chính quyền mới, nền giáo dục mới Trong bài “Mười chính sách của Việt Minh”, Hồ Chí Minh khẳng định những quyền tự do căn bản của công dân trong đó
có quyền tự do học tập:
“Thanh niên có trường học nhiều,
Chính phủ trợ cấp học trò nghèo, bần nho [32]
Đối với những học trò nghèo, Nhà nước cần hỗ trợ và tạo điều kiện sao cho tất cả
người dân đều có cơ hội đến trường, trong “Chương trình Việt Minh”, nói về “Văn hóa giáo d ục”, Người viết:
1 Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ Gây dựng nền quốc dân giáo dục Cưỡng bức giáo dục từ bậc sơ học Mỗi dân tộc có quyền dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục dân tộc mình
4 Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân làm cho nòi giống thêm mạnh” [32, tr243]
Người luôn quan tâm đến giáo dục và tạo mọi điều kiện để phát triển nền giáo
dục mới của nước nhà Cũng nhờ đó, tư tưởng về dân chủ trong giáo dục của Người bước đầu được thể hiện và tạo điều kiện để phát triển sau này Nền giáo dục mới mà Người nói đến là nền giáo dục dân chủ, nền giáo dục của dân, do dân, vì dân Sau khi giành chính quyền từ tay thực dân Pháp, chính quyền mới ra đời, Hồ Chí Minh
Trang 3629
nhận thấy nâng cao dân trí là một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta, bởi chính sách ngu dân của thực dân Pháp đã làm hơn 95% số dân nước ta mù chữ Theo Người
“một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” nên việc làm cho dân biết chữ là vô cùng cần thiết
Ngày 4 tháng 10 năm 1945, báo Cứu quốc đăng bài “Chống nạn thất học” của chủ tịch
Hồ Chí Minh:
“Nay chúng ta giành được độc lập Một trong những công việc phải thực hiện
cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí
Muốn giữ vững nền độc lập,
Muốn làm cho dân giàu,
Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình,
phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ
Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ, như các anh chị em trong sáu, bảy năm nay đã gây phong trào truyền bá quốc ngữ, giúp đồng bào thất học
Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức.”[32, tr630] Theo Hồ Chí Minh, với tính chất là một nền giáo dục quốc dân, chữ quốc ngữ
là một yếu tố quan trọng Nên ngay khi ra đời, nền giáo dục quốc dân đã thi hành
lệnh “Bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ triệt để” Bởi có thẫm thía
nỗi nhục của một dân tộc mất nước, một dân tộc yếu mới hiểu hết giá trị của việc
phải học chữ quốc ngữ Ngoài việc chủ trương phải học chữ quốc ngữ, trong hoàn
cảnh khó khăn của nước ta lúc bấy giờ Người còn khơi gợi những cách làm sáng tạo
nhằm nhanh chóng đẩy mạnh xóa mù chữ cho nhân dân Ngày 20 tháng 2 năm
1947, lần đầu tiên đến thăm nhân dân và cán bộ tỉnh Thanh Hóa, Người nói:
“Ban văn hóa phải tìm cách không tốn tiền mà vẫn học được, như “ gia định
học hiệu”, “tiểu giáo viên”, cả làng chung gạo nuôi một thầy giáo, v v
Không có giấy thì viết vào cát, không có bút thì dùng lé tre, v v không thiếu gì cách học mà không tốn tiền” [39, tr68]
Trang 3730
Hồ Chí Minh luôn khẳng định, đất nước được độc lập, tự chủ thì mọi công dân
cần phải học để có đủ năng lực làm chủ đất nước, có đủ năng lực để tổ chức cuộc
sống mới, vì lẽ đó Người hướng dẫn Bộ Giáo dục cần phải rõ ràng đưa ra mục tiêu, phương pháp và tổ chức cho nền giáo dục mới
Cùng với việc xây dựng và củng cố nền giáo dục dân chủ mới, Người chủ trương cần kết hợp dân chủ hóa và xã hội hóa giáo dục, bởi: “Phải mật thiết liên hệ
với gia đình học trò Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có
một sự giáo dục ngoài xã hội và gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [44, tr591] Giáo dục cần được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội
Năm 1924, Người trở về Quảng Châu tham gia những phong trào giải phóng dân tộc ở những nước phương Đông Ở vị trí công tác tuyên truyền giáo dục, người kết hợp tài tình giữa truyền đạt lý thuyết với hướng dẫn thực hành, tổ chức tham quan nhằm giúp người học mở rộng, củng cố những điều đã học Với sự uyên bác,
có sức hút của mình Người đã tạo được niềm tin và cổ vũ lớp thanh niên đi theo cái mới Năm 1928, sau khi trở lại Châu Âu hoạt động, Người trở lại Xiêm Tại đây, Người tiếp tục củng cố cơ sở cách mạng, phát triển tổ chức, cải tiến công tác báo chí, vận động mở trường dạy chữ Xiêm và chữ quốc ngữ cho kiều bào ta ở Xiêm Người chủ trương chủ động tạo ra môi trường giáo dục linh hoạt trong các hình thức tổ chức giáo dục, ân cần, gợi mở giúp đỡ người học Bản thân Người cũng luôn là tấm gương đi trước vượt mọi khó khăn vì lý tưởng cao cả
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục là sản phẩm của sự
tổng hòa từ tư tưởng văn hóa của dân tộc, những tinh hoa văn hóa của phương Đông
và phương Tây kết hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng, cùng với những
hoạt động thực tiễn trong quá trình hoạt động cách mạng không mệt mỏi của Người
1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục
Trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, tư tưởng giáo dục và dân chủ trong giáo dục là một trong những di sản quý báu mà Người để lại cho nhân dân
Trang 3831
ta Sinh thời, Người không ngừng nhắc nhở để đưa nhà trường không ngừng tiến lên về mọi mặt, các cấp lãnh đạo, thầy giáo, học sinh, sinh viên, phải luôn ý
thức về dân chủ và thực hành dân chủ
*Th ứ nhất, Dân chủ trong hoạt động học tập
“Nước ta là một nước dân chủ”, lẽ tất nhiên, nền giáo dục nước ta cũng là nền
giáo dục dân chủ Với tư cách là hoạt động cơ bản trong nhà trường, việc học tập cũng phải được thực hiện trong môi trường dân chủ, nhằm phục vụ cho thể chế dân
chủ và thông qua đối tượng đào tạo mà phát triển lý tưởng của xã hội Dân chủ trong học tập, theo Hồ Chí Minh trước hết là tạo ra ở người học một cái nhìn bao quát về ý thức tự chủ học tập, hay còn gọi là quyền học tập, gắn liền với quyền sống
và những quyền cơ bản khác của con người
Trong bài báo “Học tập không mỏi, cải tiến không ngừng”[41, tr527], Người
khẳng định với tư cách là người làm chủ đất nước, những người lao động cần phải
có năng lực làm chủ Để có được năng lực đó, Người nhắc: “Chúng ta học tập chính
là để có được năng lực làm chủ, có đủ năng lực để tổ chức cuộc sống mới – trước
hết là tổ chức nền sản xuất mới” Với yêu cầu đó, Người mong muốn người học cần
có “ ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hãi lao động, mà còn
phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ
của mình”, Người còn khẳng định, học tập không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ
của công dân với Tổ Quốc
Trong nhà trường, dạy và học là hai hoạt động chính Để nhà trường có dân
chủ, hai yếu tố người dạy và người học cần được đảm bảo dân chủ Người dạy hướng dẫn, gợi mở cho người học Người học cũng phát biểu thảo luận, tiếp thu
những gì mà mình chưa biết, cần giải phóng khỏi những gò bó, mặc cảm yếu kém
của mình Trong bài nói tại lễ khai giảng trường đại học nhân dân Việt Nam ngày
19 tháng 1 năm 1955, Người nói “Đối với mọi vấn đề thầy và trò cùng nhau thảo
luận, ai có ý kiến đều thật thà phát biểu Điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt” [38, tr264] Đồng thời, Người cũng khẳng định việc tự do bày tỏ ý kiến
của mình “Đó là một quyền lợi mà cũng là nghĩa vụ của mọi người” [39, tr376] Tư
Trang 3932
tưởng dân chủ thể hiện ở tinh thần tự do phát biểu của người học, nêu lên những ý
kiến của mình
Trong những tư tưởng của mình về dân chủ trong học tập, Hồ Chí Minh đặc
biệt quan tâm và có yêu cầu cao với người học Nhiệm vụ của giáo dục theo Người
là phải giúp con người nâng cao năng lực tư duy, sáng tạo Vì thế, Hồ Chí Minh yêu
cầu người học phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng Đọc tài
liệu phải chuyên sâu, không tin mù quáng vào sách vở, có vấn đề chưa hiểu phải
mạnh dạn hỏi để thông suốt Theo Người, “tự do bày tỏ ý kiến” là cách tốt nhất để
người học đến với sự hiểu biết Khi mọi tri thức được giải quyết, người học mới làm
chủ được tri thức đi đến với chân lí, tiền đề của mọi hành động Mặt khác, Người yêu cầu người học phải hết sức khiêm tốn cầu thị “Cái gì biết thì nói biết, không
biết thì nói không biết, kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [40, tr98] Với tư cách là người anh đi trước, Người luôn giành cho người sau những bài
học của người đi trước Theo Người, người học phải luôn có tinh thần “ tự mình làm lấy, tự giác, tự động, tự chủ Lao động, sáng tạo, quyết đoán Mỗi ngày một
mới” [32, tr430] Có thể thấy, những lời nhắc nhở trên của người là những lời mang tâm huyết, nhiệt thành của một người yêu đời, sống vì lý tưởng, luôn khao khát hướng đến một cuộc sống tươi đẹp
Về phía người thầy, Người nhắc nhở người dạy cần luôn thảo luận với học trò tránh lối giảng theo hướng nhồi sọ Người căn dặn: “Giáo viên nên khơi gợi những kinh nghiệm để tìm cách dạy tốt Không phải ngồi chờ Bộ Giáo dục nghĩ ra”, “Giáo
viên ta cũng phải thi đua dạy nhanh, trước kia lu bu nhồi sọ, bây giờ phải tìm cách
dạy nhanh, nhiều, tốt và rẻ Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, đức là chính trị” [38, tr497] Người thầy cũng luôn cần học tập không ngừng để nâng cao
hiểu biết, nâng cao kiến thức của bản thân Để trở thành một người dạy tốt, người
thầy cần có quan hệ giao tiếp thân mật với học trò và phương pháp dạy học tích cực
nhằm phát huy tối đa năng lực và phẩm chất của người học nhằm giúp người học tìm ra chân lí Người thầy như thế không chỉ vững kiến thức mà còn phải đủ bản lĩnh và kinh nghiệm để tổ chức lớp học Năm 1947, tại Chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí
Trang 4033
Minh căn dặn “ cốt nhất là dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi Phải dạy cho họ cái ý chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” [34, tr120] Đây là mục tiêu quan trọng, bất cứ người dạy nào cũng cần
phải giáo dục học sinh của mình Để làm được như thế người thầy cần phải có hiểu
biết, luôn tự tìm tòi mở mang kiến thức, có khả năng tổ chức điều hành lớp học, làm gương cho học sinh của mình
Ngoài việc quan tâm đến mối quan hệ giữa người thầy và trò, Hồ Chí Minh còn chú ý đến sự bình đẳng trong quyền học tập giữa những người học với nhau
Bởi theo Hồ Chí Minh, trong học tập sẽ có sự chênh lệch nhau về kiến thức Với
những người học có kiến thức vững hoặc thuộc loại giỏi, khá việc thảo luận với
thầy sẽ hiệu quả hơn Còn đối với những trò kém hiểu biết hơn thì việc thảo luận không khỏi tranh được sự hạn chế do đó bị mặc cảm Để khắc phục tình trạng trên, ngoài việc người thầy phải có những phương pháp tiếp cận khác nhau phù hợp với
từng người học, Người khuyến khích người học nên xóa tan mọi mặc cảm, vươn lên làm chủ tri thức, tự do phát biểu ý kiến của mình
Trong bài phát biểu tại lễ khai giảng của Trường Đại học nhân dân năm 1955,
Người nói “Trong trường cần có dân chủ” Trong học tập, tìm kiếm tri thức là một
quá trình khó khăn, đòi hỏi cả người dạy và người học cần phải luôn có sự phấn đấu tìm tỏi, đặc biệt quá trình đó phải luôn được đảm bảo dân chủ Đề có dân chủ trong trường học cần đảm bảo tốt mối quan hệ giữa người dạy và người học, giữa người
học với người học Đây được coi như một phương pháp luận chung nhất trong mối quan hệ dân chủ giữa thầy và trò Sự tôn trọng lẫn nhau giữa thầy và trò không chỉ
thể hiện trong phạm vi lớp học, mà còn được mở rộng ra cả phạm vi trường học và ngoài xã hội Thầy quý trò, tôn trọng trò, thầy mới không ngừng tìm cách giảng dạy
một ngày tốt hơn Trò kính thầy, trò mới giữ kỷ luật để học tập tốt Tuy nhiên, mối quan hệ giữa thầy và trò phải luôn giữ đúng giới hạn cho phép, vượt qua giới hạn sẽ làm cho mối quan hệ trên xấu đi Theo Hồ Chí Minh, người thầy nên “Làm việc
phải có dân chủ bàn bạc, những cũng chú ý dân chủ phải có tổ chức kỷ luật” [44, tr591] Dân chủ cần được phát huy trong khuôn khổ kỷ luật