1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh lý lâm sàng bệnh cầu trùng bê nghé tại tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

130 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh cầu trùng, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở bê ngh

Trang 1

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

PHẠM THỊ HƯƠNG TRANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH CẦU TRÙNG BÊ, NGHÉ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

Chuyên ngành: Thú y

Mã số: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Minh

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là của chúng tôi (học viên và người hướng dẫn khoa học) Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hương Trang

Trang 3

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của:

Cô giáo hướng dẫn khoa học: TS Lê Minh

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa sau đại học, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Các thầy, cô giáo đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của chương trình học

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trạm Thú y, nhân dân địa phương của các huyện Phú Lương, Phú Bình, Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Được sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, tôi đã vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể

và cá nhân đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hương Trang

Trang 4

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN viii

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cầu trùng ký sinh ở bê, nghé 4

1.1.1 Thành phần loài cầu trùng bê, nghé 4

1.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài cầu trùng 5

1.1.3 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng 8

1.1.4 Chu kỳ sinh học của cầu trùng bê, nghé 9

1.1.5 Tính chuyên biệt của cầu trùng 12

1.1.6.3 Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý, hoá học đến sự phát triển của Oocyst ở ngoại cảnh 20

1.2 Bệnh cầu trùng bê, nghé 22

1.2.1 Những thiệt hại về kinh tế do bệnh cầu trùng gây ra 22

1.2.4 Bệnh tích của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 27

1.2.5 Miễn dịch trong bệnh cầu trùng 28

1.2.6.1 Nghiên cứu về miễn dịch cầu trùng ở vật nuôi 29

Trang 5

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cầu trùng bê, nghé trong nước 42

Chương 2: NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45 2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 45

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 46

2.3 Nội dung nghiên cứu 46

2.3.1 Nghiên cứu thành phần loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé 46

2.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng bê, nghé ở 3 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 46

2.3.3 Nghiên cứu sức đề kháng của Oocyst cầu trùng bê, nghé 46

2.3.4 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh cầu trùng bê, nghé 47

2.3.5 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị cầu trùng cho bê, nghé 47

2.4 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 47

2.4.1 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm cầu trùng ở bê, nghé 47

2.4.1.1 Bố trí thu thập mẫu phân 47

2.4.1.2 Phương pháp định loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé ở tỉnh Thái Nguyên 49

2.4.1.3 Những yếu tố cần xác định có liên quan đến tình hình nhiễm cầu trùng bê nghé 49

2.4.1.4 Phương pháp theo dõi và xác định tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo mùa vụ 51

2.4.1.5 Bố trí xác định vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở bê, nghé tỉnh Thái Nguyên 51

2.4.1.6 Phương pháp xác định bê nghé nhiễm cầu trùng và cường độ nhiễm 52

2.4.2 Bố trí theo dõi sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng bê, nghé ở chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi bê, nghé 53

Trang 6

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.4.3 Nghiên cứu sức đề kháng của Oocyst cầu trùng bê, nghé 54

2.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của các mức nhiệt độ đến khả năng sống của Oocyst cầu trùng 54

2.4.3.2 Ảnh hưởng của chất sát trùng đến khả năng sống của Oocyst cầu trùng 55

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh cầu trùng bê, nghé 56

2.4.4.1 Phương pháp theo dõi biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 56

2.4.4.2 Phương pháp xét nghiệm máu của nghé bị bệnh cầu trùng và nghé khỏe 56

2.4.5 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị cầu trùng cho bê, nghé 57

2.4.5.1 Bố trí thí nghiệm xác định công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt tốt để diệt Oocyst cầu trùng 57

2.4.5.2 Phương pháp nghiên cứu lựa chọn thuốc điều trị cầu trùng cho bê nghé 58

2.4.5.3 Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh cầu trùng có hiệu lực cao cho nghé 59

2.4.5.4 Phương pháp xác định khối lượng nghé để tính liều lượng thuốc 59 2.4.5.5 Phương pháp đánh giá hiệu lực của thuốc trị cầu trùng bê, nghé 59

2.4.5.6 Phương pháp xác định độ an toàn của thuốc 60

2.4.5.7 Đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh cầu trùng bê, nghé 60

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 60

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 61

3.1 Các loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé tại tỉnh Thái Nguyên 61

3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng tại một số địa phương 63

3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tuổi bê, nghé 66

3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng bê, nghé theo mùa vụ 68

Trang 7

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.5 Vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy bê, nghé tỉnh Thái

Nguyên 70

3.6 Nghiên cứu sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở ngoại cảnh 73

3.6.1 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở chuồng và khu vực xung quanh chuồng nuôi bê, nghé 73

3.6.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng sống của Oocyst cầu trùng 74

3.6.3 Ảnh hưởng của các chất sát trùng đến khả năng sống của Oocyst cầu trùng 78

3.7 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh cầu trùng bê, nghé 81 3.7.1 Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng của bệnh cầu trùng 81

3.7.2 Sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 83

3.8 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho bê, nghé 86

3.8.1 Nghiên cứu công thức ủ phân để tăng khả năng sinh nhiệt 86

3.8.2 Hiệu lực của thuốc trị cầu trùng nghé 90

3.8.2.1 Lựa chọn và xác định hiệu lực của các thuốc điều trị cầu trùng cho nghé 90

3.8.2.2 Một số chỉ tiêu sinh lý trước và sau khi dùng thuốc 91

3.8.2.3 Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh cầu trùng có hiệu lực cao cho nghé 92

3.8.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho bê, nghé 93

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 8

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 9

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Trang

Bảng 3.1 Các loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé tại tỉnh Thái Nguyên 61

Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé tại một số địa phương 63

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tuổi bê, nghé 66

Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo mùa vụ 68

Bảng 3.5 Tỷ lệ bê, nghé tiêu chảy trong số bê, nghé nhiễm cầu trùng 70

ở một số địa phương 70

Bảng 3.6 Tỷ lệ, cường độ nhiễm cầu trùng ở bê, nghé 71

bình thường và tiêu chảy 71

Bảng 3.7 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở nền chuồng và xung quanh chuồng nuôi bê, nghé 74

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng sống 75

của Oocyst cầu trùng mới theo phân ra ngoại cảnh 75

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng sống 77

của Oocyst cầu trùng có sức gây bệnh 77

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của các chất sát trùng đến khả năng sống 79

của Oocyst cầu trùng mới theo phân ra ngoại cảnh 79

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của các chất sát trùng đến khả năng sống 80

của Oocyst có sức gây bệnh 80

Bảng 3.12 Tỷ lệ, những biểu hiện lâm sàng của bê, nghé 81

bị bệnh cầu trùng 81

Bảng 3.13 Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố 83

của nghé khỏe và nghé bị bệnh cầu trùng 83

Bảng 3.14 So sánh công thức bạch cầu của nghé khoẻ 84

và nghé bị bệnh cầu trùng 84

Bảng 3.15 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst cầu trùng 86

của công thức ủ I 86

Trang 10

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 3.16 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst cầu trùng 87

của công thức ủ II 87

Bảng 3.17: Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst cầu trùng 88

của công thức ủ III 88

Bảng 3.18: Đánh giá khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst 89

của 3 công thức ủ 89

Bảng 3.19 Kết quả thử nghiệm 4 loại thuốc điều trị cầu trùng cho nghé 90

Bảng 3.20 Một số chỉ tiêu sinh lý của nghé trước và sau khi dùng thuốc 91

Bảng 3.21 Hiệu lực của 2 thuốc điều trị bệnh cầu trùng cho nghé 92

Trang 11

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN

Trang Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé ở 3 huyện của tỉnh 64 Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé theo lứa tuổi 67 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé theo mùa vụ trong năm 68 Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở bê, nghé bình thường và bê, nghé tiêu chảy 73

Trang 12

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi trâu, bò ở nước ta trước đây chủ yếu để cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và lâm nghiệp Những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển khá mạnh, góp phần ổn định đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, chăn nuôi trâu bò có điều kiện phát triển

Ngành chăn nuôi trâu bò cung cấp cho con người hai loại thực phẩm có giá trị cao và hoàn chỉnh về dinh dưỡng là thịt và sữa Thịt trâu, bò được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao, hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng

40 - 50 triệu tấn thịt, giá 1kg thịt dao động từ 6 - 7 USD/kg Sữa bò được xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì đây là loại thực phẩm hoàn chỉnh về dinh dưỡng và giúp tiêu hóa tốt Trâu bò là những gia súc nhai lại có khả năng biến thức ăn rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần khác nhau của thịt, sữa

Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, nhu cầu thực phẩm sạch,

an toàn là rất lớn Trong khi đó thịt trâu, bò bày bán trên thị trường chưa nhiều, hầu hết là thịt trâu bò cày kéo, già yếu, hoặc bị loại thải chất lượng không cao, chưa đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng

Trâu, bò là động vật đơn thai, thời gian chửa và nuôi con dài nên việc tăng số lượng đàn là rất chậm Số bê, nghé con sinh ra nếu không được chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì dễ mắc bệnh, sinh trưởng, phát triển kém

Hiện nay, ngành chăn nuôi trâu bò nước ta vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh Ngoài các bệnh truyền nhiễm thì bệnh ký sinh trùng cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi Ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể gia súc, chiếm đoạt chất dinh dưỡng làm cho vật nuôi gày gò, ốm yếu Một trong những bệnh ký

sinh trùng thường xảy ra đối với đàn bê, nghé là bệnh cầu trùng (Coccidiosis)

Bệnh cầu trùng ở bê, nghé là bệnh ký sinh trùng với các biểu hiện đa dạng: ẩn, cấp tính, mãn tính với các rối loạn tiêu hóa, thiếu máu , gầy yếu

Trang 13

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bệnh do nhiều loài cầu trùng ký sinh ở ruột già gây ra: E zurni, E bovis, E smithi, E elipsoidalis, E cylindrica, E bukidnonensis

Thái Nguyên là tỉnh trung du có nhiều đồi núi, bãi chăn thả rộng nên có điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu bò thịt Theo kết quả điều tra nông thôn nông nghiệp và điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/10/2012, tổng đàn trâu trên toàn tỉnh Thái Nguyên là 73,9 nghìn con, đàn bò là 30,82 nghìn con và đang có xu hướng giảm Định hướng chung của tỉnh là phát triển chăn nuôi trâu bò thịt, bò sữa theo phương thức tập trung, chăn nuôi công nghiệp và hình thành vùng cung cấp nguyên liệu ổn định cho các lò mổ tập trung trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, hình thức chăn nuôi này chưa áp dụng nhiều mà chủ yếu vẫn theo phương thức chăn thả tự nhiên kết hợp với chăn nuôi công nghiệp

Đã có một số công trình nghiên cứu về bệnh cầu trùng ở bê, nghé như các công trình nghiên cứu của Lương Tố Thu (1986) [41], Lê Văn Năm (2004) [26], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [19] Bệnh cầu trùng bê, nghé cũng như tất cả các bệnh ký sinh trùng khác, sự lây lan phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, đất đai, khu hệ động thực vật, tuổi, giống, loài vật chủ, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, chuồng trại ) Tính chất dịch tễ học của bệnh thể hiện khác nhau ở từng vùng địa lý khác nhau, hoàn cảnh ngoại giới khác nhau Ở nước ta, chăn nuôi trâu bò chủ yếu tập trung ở miền núi, trong khi cho đến nay ít có công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng bê, nghé ở các tỉnh miền núi, vì vậy vẫn chưa có quy trình phòng trị phù hợp và hiệu quả Hàng năm, đàn trâu bò, bê nghé nuôi ở các tỉnh miền núi vẫn bị đổ bệnh khá nhiều, trong đó có nguyên nhân do cầu trùng gây ra

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở Thái

Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ,

bệnh lý, lâm sàng bệnh cầu trùng bê, nghé tại tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

2 Mục đích của đề tài

Trang 14

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Xác định được biện pháp phòng chống bệnh cầu trùng bê, nghé hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi trâu bò ở Thái Nguyên, xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và quy trình phòng chống bệnh cầu trùng bê, nghé, đồng thời có thêm một số đóng góp mới cho khoa học

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh cầu trùng, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở bê nghé, hạn chế thiệt hại do cầu trùng gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển

Trang 15

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cầu trùng ký sinh ở bê, nghé

1.1.1 Thành phần loài cầu trùng bê, nghé

Cầu trùng là động vật đơn bào có hình tròn, hình trứng, hình bầu dục (phụ thuộc vào từng loài cầu trùng) Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu

mô ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người Phân loại cầu trùng ở gia súc, gia cầm, chủ yếu dựa vào đặc điểm về hình thái, kích thước, màu sắc,

vị trí ký sinh, thời gian sinh bào tử

Theo Levine N (Ed) (1985) [63], Ajayi J A (2004) [51] và http://biology.unm.edu/biology/coccidia/home.html [71], cầu trùng ký sinh ở

bê, nghé có vị trí trong hệ thống phân loại như sau:

Ngành nguyên sinh động vật Protozoa Goldfuss, 1818

Phân ngành Apicomplexa Levine, 1970

Lớp Sporozoasida

Phân lớp Coccidiasina Leukart, 1879

Bộ Eucoccidiorida Léger & Duboscq, 1910

Phân bộ Eimeriorina Léger, 1911

Họ Eimeriidae Minchin, 1903

Giống Eimeria Schneider, 1875 Loài Eimeria alabamemsis Christiensen, 1941 Loài Eimeria auburnensis Christiensen and Porter, 1939 Loài Eimeria bovis Christiensen, 1941

Loài Eimeria brasisliensis Torres and Ramos, 1939 Loài Eimeria bukidnonensis Tubangui, 1931

Loài Eimeria canadensis Bruce, 1921 Loài Eimeria cylindrica Wilson, 1931 Loài Eimeria ellipsoidalis Becker and Frye, 1929

Trang 16

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Loài Eimeria illinoisensis Levine and Ivens, 1967 Loài Eimeria pellita Supperer, 1952

Loài Eimeria subspherica Christiensen, 1941 Loài Eimeria wyomingensis Huizinga and Winger, 1942 Loài Eimeria zuernii Rivolta, 1978, Martin, 1909

Ở các vùng trung tâm đất đen thuộc nước Cộng hòa Liên bang Nga, bê

nghé trưởng thành thường nhiễm 9 loài cầu trùng sau: E alabamemsis, E auburnensis, E bovis, E canadensis, E cylindrica ,E ellipsoidalis, E smithi, E subspherica, E zuernii (Dẫn theo Lương Tố Thu (1986) [41])

Lee R P và cs (1959) [62] đã quan sát hình thái, kích thước, màu sắc,

quá trình hình thành bào tử của Oocyst cầu trùng ký sinh ở bò tại Nigerian và

đã định danh được 11 loài cầu trùng, bao gồm: E alabamemsis, E auburnensis, E bovis, E brasisliensis, E bukidnonensis, E canadensis, E cylindrica, E ellipsoidalis, E subspherica, E wyomingensis, E zuernii

Nguyễn Đức Tân và cs (2005) [28] đã phát hiện 4 loài cầu trùng ký

sinh ở bê tại một số tỉnh Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, gồm các loài: E

zuernii, E bovis, E ellipsoidalis, E bukidnonensis

Lâm Thị Thu Hương và cs (2011) [9] qua nghiên cứu tình hình nhiễm Eimeria trên bê tại tĩnh Vĩnh Long đã định danh được 12 loài cầu trùng: E alabamemsis, E auburnensis, E bovis, E brasisliensis, E bukidnonensis, E canadensis, E cylindrica, E ellipsoidalis, E subspherica, E wyomingensis,

E zuernii, E pellita

Theo Giáp Mạnh Hoàng (2011) [10], bê, nghé tại tỉnh Bắc Giang bị

nhiễm 4 loài cầu trùng: E alabamemsis, E bovis, E ellipsoidalis, E zuerni; Trong đó E bovis và E zuernii là 2 loài gây bệnh phổ biến

1.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài cầu trùng

Theo Levine N (Ed) (1985) [63], hình thái, kích thước các loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé như sau:

- Eimeria alabamemsis (Christiensen, 1941): Oocyst có hình trứng, có

1 - 2 lớp vỏ, màu vàng nhạt, kích thước dài từ 13 - 24 µm, rộng từ 11 - 16 µm

Trang 17

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Kích thước của Sporocyst 10 - 16 x 4 - 6 µm Không có Micropyle (lỗ noãn)

và hạt cực Thời gian hình thành bào tử là 4 - 5 ngày

- Eimeria auburnensis (Christiensen and Porter, 1939): Oocyst có hình

elip hoặc hình trứng, có 2 lớp vỏ mỏng, lớp bên ngoài nhẵn, đôi khi xù xì, màu vàng - nâu, kích thước 32 - 46 x 20 - 25 µm, trung bình là 38,4 x 27,1

Kích thước của Sporocyst 15 - 23 x 6 - 11 µm Có Micropyle Thời gian sinh

bào tử là 2 - 3 ngày Cầu trùng phát triển nội sinh trong các tế bào mô liên kết

lớp nhung mao, đoạn dưới của ruột non

- Eimeria bovis (Christiensen, 1941): Oocyst hình trứng hoặc không đối

xứng, vỏ có 2 lớp, trơn nhẵn, kích thước 23 - 34 x 17 - 23 µm, màu nâu hay

hơi vàng Không có hạt cực, lỗ noãn có ở đầu nhỏ của nang trứng Sporocyst

có kích thước 13 - 18 x 5 - 8 µm Thời gian sinh bào tử 2 - 3 ngày Phát triển nội sinh ở phần dưới ruột non, các thể phân lập đời 2 và các giao tử ở trong niêm mạc ruột già của ký chủ

- Eimeria brasisliensis (Torres and Ramos, 1939): Oocyst có hình elip,

màu nâu vàng, có 1 - 2 lớp vỏ, có lỗ noãn và nắp Kích thước 34 - 43 x 24 -

30 µm, trung bình là 35,5 x 27 µm Kích thước của Sporocyst 16 - 22 x 7 - 10

µm Thời gian hình thành bào tử là 6 - 7 ngày, trong bào tử có thể cặn

- Eimeria bukidnonensis (Tubangui, 1931): Nang trứng hình quả lê,

màu nâu sẫm hay nâu vàng Vỏ Oocyst có hai lớp, lớp ngoài dày và lớp bên

trong mỏng, Lee R P (1954) [62] mô tả lớp vỏ mỏng này giống như những vằn sọc Lớp vỏ dày 2 - 4 µm Kích thước nang trứng 47 - 50 x 33 - 38 µm

Kích thước của Sporocyst 12 - 21 x 9 - 12 µm Micropyle rộng từ 3,5 - 7 µm

Thời gian hình thành bào tử 4 - 7 ngày, đôi khi đến 17 ngày Loài này phát triển nội sinh trong màng niêm mạc ruột non

- Eimeria canadensis (Bruce, 1921): Oocyst hình elip, kích thước 28 -

37 x 20 - 27 µm, màu vàng nâu Micropyle là một khoảng kín, rất khó nhìn thấy ở trên một đầu, được bao phủ bởi một đường phản xạ tối Sporocyst có

kích thước 15 - 22 x 7 - 10 µm Thời gian hình thành bào tử là 3 ngày

Trang 18

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Eimeria cylindrica (Wilson, 1931): Oocyst hình trụ, kích thước 16 -

27 x 12 - 15 µm, trung bình 23,3 x 13,3 µm, không có màu, có 1 lớp vỏ dày

Kích thước của Sporocyst 12 - 16 x 4 - 6 µm, không có Micropyle và thể cặn

Thời gian sinh bào tử là 2 ngày

- Eimeria ellipsoidalis (Becker and Frye, 1929): Oocyst hình elip hay

bầu dục, màu phớt hồng hoặc không màu, vỏ dày 1 - 2 lớp , kích thước 20 -

26 x 13 - 17 µm, trung bình là 23,4 x 15,9 µm Lỗ noãn không rõ, không có

thể cặn trong bào tử và nang trứng Sporocyst có kích thước 9 - 16 x 7 - 15

µm Thời gian hình thành bào tử là 2 - 3 ngày Cầu trùng phát triển nội sinh trong màng niêm mạc ruột già

- Eimeria illinoisensis (Levine and Ivens, 1967): Oocyst hình trứng

hoặc elip, có 1 lớp vỏ dày, màu nhạt hay không màu, kích thước 24 - 29 x 19 -

22 µm Sporocyst có kích thước 13 -16 x 6 - 8 µm

- Eimeria pellita (Supperer, 1952): Oocyst hình trứng, tương đối dày,

có màu nâu sẫm, kích thước 36 - 41 x 26 - 30 µm Kích thước của Sporocyst

17 - 20 x 7 - 9 µm Có lỗ noãn và thể cặn Thời gian hình thành bào tử là 10 -

12 ngày

- Eimeria subspherica (Christiensen, 1941): Đây là loài có kích thước

Oocyst nhỏ nhất trong giống Eimeria (9 - 14 x 8 - 13 µm), hình elip, màu

vàng nhạt hoặc không màu, không có hạt cực và lỗ noãn Kích thước của

Sporocyst 6 - 10 x 2 - 5 µm Thời gian hình thành bào tử là 4 - 5 ngày

- Eimeria wyomingensis (Huizinga and Winger, 1942): Oocyst hình

trứng hoặc hình cầu, có 1 lớp vỏ màu vàng nâu hoặc xanh nâu, kích thước 37

- 45 x 26 - 31 µm Hợp tử tương tự như của E bukidnonensis, nhưng nhỏ hơn

Có lỗ noãn Sporocyst kích thước 7 - 8 x 5 µm Thời gian hình thành bào tử 5

- 7 ngày

- Eimeria zuernii (Rivolta, 1978, Martin, 1909): Oocyst có hình cầu

hoặc trứng, vỏ ngoài có 2 lớp, nhẵn, không có lỗ noãn, màu nhạt, kích thước

15 - 22 x 13 - 18 µm, kích thước trung bình 20 x 14,2 µm Kích thước của

Trang 19

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sporocyst 7 -14 x 4 - 8 µm Thời gian hình thành bào tử là 3 ngày ở 20 C, 9 -

10 ngày ở 12o

C, 23 - 24 giờ ở 30 - 32,5oC

1.1.3 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng

Oocyst cầu trùng có nhiều hình dạng, kích thước khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo như sau:

Oocyst màu vàng nâu, vàng chanh hoặc nâu hạt, không màu Vỏ thường

có 2 lớp: lớp vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng Hai lớp vỏ ngoài và vỏ trong có thể tách rời nhau dưới tác động của acid H2SO4 đặc hoặc bằng cách làm nóng

Oocyst trong nước (Monne và Honin, 1954)

Về cấu tạo hoá học: vỏ ngoài là lớp quinone protein, vỏ trong là lớp lipit kết hợp với protein để tạo thành khúc xạ kép (lipoprotein) Nghiên cứu

về bản chất hoá học của thành phần Oocyst, Ryley J F (1976) [68] cho biết: lớp ngoài của vỏ Oocyst chiếm 20%, có chứa carbohydrat và một protein đặc

trưng Scotish R L., Wang C C và Mayenhofer (1978) nghiên cứu về bản

chất hoá học của thành Oocyst qua xử lý bằng sodium hypochlorid 5% cho rằng, chất này không tác động được đến màng Oocyst còn nguyên vẹn mà chủ yếu tác động đến Micropyle Lớp trong của vỏ Oocyst chiếm 80%, gồm: một

lớp glycoprotein (dày 90 µm), được bao bọc bởi một lớp lipit dày (10 µm)

Lớp lipit chủ yếu là phospholipit, chính lớp này bảo vệ Oocyst cầu trùng

chống lại sự tấn công về mặt hoá học Một số loài cầu trùng ở phía đầu nhỏ

của Oocyst có một nắp khúc xạ, gọi là Micropyle (lỗ noãn) Micropyle là vị trí

có khe hở của màng bao quanh Macrogamete khi thụ tinh, sau thụ tinh thì khe

hở đóng lại, vì vậy nhiều loài không thấy Micropyle nữa Goodrich H P (1994) khi nghiên cứu vỏ cấu trúc Oocyst cho rằng, lớp ngoài là vỏ bọc liên tục kể cả khi có Micropyle và sau khi thụ tinh Micropyle đóng lại và không bao giờ mở ra nữa và đây không phải là con đường mà Sporozoite thoát ra khỏi Oocyst (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [16])

Ryley J F (1976) [68] đã đưa ra giả định về hiện tượng Sporozoite thoát ra khỏi Oocyst Theo tác giả, nhờ tác động của hoạt hoá CO2 nên

Trang 20

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sporozoite đã hoạt động và chui ra khỏi Sporocyst Men Tripsin và mật cũng

là yếu tố kích thích cho Sporozoite được “nở” ra CO2 còn làm biến đổi thành

vách Oocyst để giúp cho Trypsin và mật thấm vào máu làm tiểu thể Stieda và Sporozoite hoạt động, CO2 chỉ có tác động này trong điều kiện nhiệt độ của

cơ thể Ngoài ra, tác động cơ học cũng quan trọng trong việc tạo điều kiện cho

Trysin và mật thấm qua vỏ Oocyst Như vậy, tuy vỏ Oocyst có sức đề kháng

với một số hoá chất nhưng lại nhạy cảm với tác động cơ học Đó là lý do tại sao gần đây trong thí nghiệm người ta thường phải dùng đến các hạt bi thuỷ

tinh và máy lắc để phá vỏ Oocyst giải phóng các Sporocyst (Dẫn theo Hoàng

Thạch, 1999 [31])

1.1.4 Chu kỳ sinh học của cầu trùng bê, nghé

Vòng đời của cầu trùng được tính từ khi gia súc nuốt phải Oocyst có

sức gây bệnh, qua quá trình sinh trưởng, phát triển trong và ngoài cơ thể cho

đến khi chúng lại tạo ra những Oocyst có sức gây bệnh

Theo Lê Văn Năm (2004) [26] sự lưu truyền cầu trùng trên khắp hành tinh chúng ta là nhờ vào cấu tạo và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên

Cầu trùng ký sinh ở bê nghé là những cầu trùng giống Eimeria Đây là

những ký sinh trùng có giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính diễn ra trong cùng một ký chủ, được đặc trưng bằng hai chu kỳ: chu kỳ nội sinh gồm hai

giai đoạn phát triển: sinh sản vô tính (Schizogony), sinh sản giao tử (Gametogony) và chu kỳ ngoại sinh: sinh sản bào tử (Sporogony) là giai đoạn

diễn ra ở ngoài môi trường

* Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony)

Bê nghé nuốt phải Oocyst có sức gây bệnh có lẫn ở trong thức ăn và

nước uống từ bên ngoài môi trường, vào đến dạ dày, dưới tác động của dịch

dạ dày, Oocyst vỡ ra, giải phóng 4 túi bào tử (Sporocyst) Đến ruột non, các bào tử con (Sporozoit) bên trong túi bào tử được hoạt hóa bởi dịch mật và

men Tripsin, chúng trở nên hoạt động, phá vỡ lớp màng của túi bào tử và

Trang 21

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

được giải phóng ra Lập tức, bào tử con xâm nhập tế bào biểu mô ruột và tiến hành sinh sản vô tính Chúng lớn lên rất nhanh, hình tròn hoặc bầu dục, phân

chia theo hình thức liệt phân thành nhiều thể phân lập thế hệ 1 (Schizont 1)

Bên trong những thể phân lập thế hệ 1, xung quanh mỗi nhân, nguyên sinh chất xuất hiện và bao quanh để hình thành ra những dạng ký sinh trùng nhỏ, hình bầu dục, lúc này chúng được gọi là thể phân lập trung gian

(Merozoites) Thể phân lập trung gian phát triển, chúng phá tan tế bào biểu bì nơi chúng khu trú và giải phóng ra rất nhiều Merozoites trưởng thành Số lượng Merozoites được hình thành trong thế hệ Schizont đầu tiên thay đổi tuỳ theo loài, ví dụ ở loài E bovis hơn 100.000 Merozoites được hình thành Các Merozoites lại lập tức xâm nhập vào các tế bào biểu bì mới để tiếp tục phát triển và trở thành thể phân lập thế hệ mới, gọi là Schizont 2 Kích thước của Schizont 2 phụ thuộc vào loài cầu trùng, có loài thì nhỏ hơn Schizont 1, có loài thì lại lớn hơn, số lượng Merozoites được tạo ra cũng khác nhau tuỳ loài,

ví dụ loài E bovis có từ 30 - 36 Merozoites và kích thước là 8,9 - 10 m

* Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony)

Giai đoạn sinh sản hữu tính bắt đầu từ thể phân lập thế hệ cuối cùng của cầu trùng Từ thể phân lập cuối cùng chúng xâm nhập vào tế bào biểu bì

ký chủ để biến thành những thể sinh dưỡng và phát triển thành các giao tử

đực, giao tử cái Giao tử cái (Macrogametocyte) có nhân rất to, chứa nhiều chất dinh dưỡng, chuyển động nhanh nhờ 2 lông roi Qua lỗ noãn (Micropyle)

của giao tử cái, giao tử đực chui vào và thực hiện quá trình thụ tinh, tạo hợp

tử Hợp tử được bao bọc bởi một lớp màng bọc, lúc này nó được gọi là noãn

Trang 22

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nang (Oocyst) Noãn nang có hình bầu dục, gần tròn, hình elip, hình thoi hay quả lê (phụ thuộc vào từng loài) Đến đây, các Oocyst rơi vào lòng ruột và kết

thúc giai đoạn sinh sản hữu tính

Màng vỏ bọc Oocyst gồm 2 lớp, nguyên sinh chất luôn ở dạng hạt Ở một số loài cầu trùng thấy ở một đầu Oocyst có nắp, lỗ noãn, điểm sáng hay

hạt cực Như vậy, tuỳ từng chủng cầu trùng mà có hình dạng, kích thước

Oocyst khác nhau, có hay không có nắp, lỗ noãn, điểm sáng hay hạt cực, cũng

như giai đoạn sinh sản bào tử hình thành bào tử hay túi bào tử, có hay không

có thể cặn trong giai đoạn noãn nang hay trong bào tử (Nguyễn Thị Kim Lan

và cs, 2008 [16])

Về sau các nang trứng rơi ra khỏi cơ thể gia súc cùng với phân và phát triển ở ngoài môi trường Quá trình này gọi là quá trình sinh sản bào tử

* Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)

Sau khi Oocyst rơi vào lòng ruột, chúng cùng với phân được thải ra môi

trường và bắt đầu giai đoạn phát triển mới ngoài cơ thể

Theo Bhurtei J E (1995) có từ 70-80% Oocyst thải ra vào ban ngày,

tập trung khoảng 9 giờ sáng đến 13 giờ chiều, mặc dù lúc này chỉ có 25% lượng phân trong ngày được thải ra (Dẫn theo Lương Tố Thu (1986) [41])

Môi trường thiên nhiên bên ngoài cơ thể hoàn toàn khác với môi trường bên trong cơ thể ký chủ, các noãn nang muốn tiếp tục duy trì sự sống buộc phải thích nghi với điều kiện mới, trong điều kiện đó nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, không khí, luôn thay đổi Noãn nang tự bảo vệ bằng cách nhanh chóng tạo ra vỏ cứng, dày, gồm 1 - 2 lớp với màu sắc khác nhau tuỳ thuộc vào chủng cầu trùng Sau đó, trong mỗi noãn nang hình thành 4 túi bào tử có hình bầu dục, xung quanh mỗi nguyên bào tử lại được bao bọc một lớp màng mỏng và trở thành túi bào tử Trong mỗi túi bào tử, nhân của tế bào lại chia đôi về hai phía, được ngăn cách bởi một màng mỏng nữa để trở thành thể bào tử có hình lưỡi liềm, gọi là bào tử con

Như vậy, trong quá trình sinh sản bào tử, đối với cầu trùng thuộc giống

Eimeria, trong mỗi Oocyst tạo ra 4 túi bào tử, trong mỗi túi bào tử chứa 2 bào

tử con Tất cả 8 bào tử con được bao bọc xung quanh bởi một vỏ cứng dày

Trang 23

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

gồm 2 lớp, gọi là bào tử nang (Oocyst gây bệnh) Chỉ có các Oocyst sau khi trở thành Oocyst gây bệnh mới có khả năng gây bệnh và truyền bệnh từ gia

súc này sang gia súc khác (Kolapxki N A và cs, 1980 [48])

1.1.5 Tính chuyên biệt của cầu trùng

Theo Kolapxki A N và cs 1980 [48], Lê Văn Năm (2004) [26] thì tính chuyên biệt của cầu trùng là sự thích nghi phức tạp và lâu dài của cầu trùng đối với cơ thể ký chủ hoặc cụ thể hơn đối với các cơ quan, các mô bào hay tế bào nhất định phù hợp cho sự tồn tại, phát triển của chúng

* Đối với giống Eimeria:

Tính chuyên biệt của cầu trùng Eimeria thể hiện rất nghiêm ngặt, chúng

chỉ có thể gây bệnh cho ký chủ mà chúng thích nghi trong quá trình tiến hoá

Ví dụ: Các loài cầu trùng bê nghé không nhiễm vào gà, lợn và các loài gia súc khác Cầu trùng thỏ chỉ có thể lây nhiễm vào thỏ mà không thể nhiễm vào các loài gia súc khác

Những loài cầu trùng riêng biệt ký sinh ở các loại gia súc khác nhau thường khó phân biệt về mặt hình thái Ví dụ: một số loài cầu trùng cừu và dê hoặc gà và gà tây rất giống nhau về mặt hình thái Tuy nhiên, một vài thí nghiệm đã cho thấy cầu trùng cừu không nhiễm vào dê được (Kolapxki A N

và cs 1980 [48])

Đặc tính chuyên biệt nghiêm ngặt của cầu trùng giống Eimeria biểu

hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng, mà mỗi loại cầu trùng chỉ khu trú tại một vùng, một cơ quan nhất định nào đó trong cơ thể ký chủ Ví dụ:

Eimeria tenella chỉ ký sinh và gây bệnh trong niêm mạc tá tràng gà Ở lợn, loài Eimeria debliecki cư trú ở tá tràng làm cho niêm mạc tá tràng bị viêm rồi

xuất huyết hoại tử (Phạm Khuê và cs, 1996 [11])

Như vậy, tính chuyên biệt rất rõ rệt của cầu trùng giống Eimeria đã

hình thành trong quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với một ký chủ nhất định cũng như đối với từng cơ quan, từng mô bào riêng biệt Đó là điều kiện cơ bản cho nhiều loài cầu trùng có thể ký sinh đồng thời trên cùng một ký chủ

Trang 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

* Đối với giống Isospora:

Các nhà nghiên cứu cho biết, dạng tăng trưởng và phát triển trong quá

trình sinh sản của Isospora không có tính chuyên biệt, vì thế sản phẩm tăng trưởng của Isospora gondii hoặc của I bigemina là Toxoplasma có thể gây

bệnh không chỉ cho chó, mèo mà còn có khả năng gây bệnh cho chuột, cu li, thỏ, cừu, linh dương, hoẵng, bồ câu, chim sẻ, vịt, rùa, rắn và kể cả con người

Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [26], cầu trùng Eimeria có tính chuyên biệt cao hơn Isospora Đối với giống Eimeria tính chuyên biệt thể

hiện rõ hơn bởi chúng chỉ có thể nhiễm và gây bệnh cho ký chủ mà chúng

thích nghi trong quá trình phát triển Còn với giống Isospora có thể nhiễm và

gây bệnh cho nhiều loài gia súc khác nhau và có thể ký sinh ở một số cơ quan

hay vị trí trong cơ thể Trong khi mỗi loài của giống Eimeria chỉ ký sinh ở

một cơ quan hay vị trí nhất định nào đó trong cơ thể

1.1.6 Dịch tễ học của bệnh cầu trùng bê nghé

Theo điều tra của nhiều tác giả, bệnh cầu trùng thường gặp ở tất cả các vùng trên thế giới Bệnh thường phát sinh khi chế độ nuôi dưỡng kém

Ở Ấn Độ, 80% bê, nghé nhiễm bệnh cầu trùng Ở Ý, bệnh còn lan rộng hơn và là nguyên nhân gây chết nhiều nghé Theo Pasova (1979), ở các nước Cộng hòa Trung Phi, tỷ lệ nhiễm chung lên tới 37% (Dẫn theo Lương Tố Thu

1986 [41])

Bê, nghé nước ta nhiễm nhiều loài ký sinh trùng trong đó có bệnh cầu trùng, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm cao hay thấp còn phụ thuộc vào các yếu tố tác động của môi trường sống của chúng

1.1.6.1 Thời tiết, khí hậu ảnh hưởng đến sức sống của Oocyst cầu trùng

Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, (1982) [32], nhiệt độ thích hợp nhất

cho Oocyst cầu trùng phát triển là 25-300C, ở 00

C Oocyst cầu trùng tồn tại

được 2 tháng, khi để vào nhiệt độ thích hợp noãn nang vẫn tiếp tục phát triển Song nhiệt độ trên 400

C Oocyst cầu trùng không còn phát triển được

Theo Munyua (1990), tuổi và mùa xuất hiện khác nhau cũng ảnh hưởng đến cường độ nhiễm cầu trùng Vào mùa mưa, nhiệt độ, ẩm độ thích hợp cho

Trang 25

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sự phát triển của noãn nang bên ngoài môi trường Tuy nhiên theo Carneiro

và cs (1988), nhiễm nhiều hay ít loài Eimeria không do ảnh hưởng của nhiệt

độ hay lượng mưa (Dẫn theo Lương Tố Thu 1986 [41])

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] cho biết, có nhiều yếu tố ảnh

hưởng đến sự tồn tại và phát triển của Oocyst cầu trùng; trong đó, thời tiết,

khí hậu là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng của cầu trùng Có một số tác giả đã chứng minh bằng những nghiên cứu ở một số loài vật nuôi như sau:

Theo Hoàng Thạch (1996) [29], (1997) [30], bệnh cầu trùng xảy ra quanh năm, nhưng thường tập trung vào các tháng nóng ẩm của mùa xuân và mùa hè

Thời kỳ này, điều kiện thời tiết, khí hậu rất thuận lợi cho Oocyst cầu trùng tồn tại

và phát triển ở ngoại cảnh và lây nhiễm cho đàn gà

Dương Công Thuận (2003) [42] cho biết, ở các vùng khí hậu khác nhau thì tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng có sự khác nhau

Sự biến động về tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo các mùa trong năm cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới và đưa ra nhiều ý kiến khác nhau

Nghiên cứu về mùa phát sinh bệnh cầu trùng, Joyner L P và cs (1966) [60] cho biết, bệnh thường lây lan và phát triển trong những tháng nóng ẩm, mưa nhiều từ mùa hè đến mùa thu Thời kỳ này, thời tiết nóng ẩm làm cho noãn nang cầu trùng dễ dàng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ngay trên nền chuồng và bãi chăn thả Khi mưa xuống, nước mưa sẽ mang noãn nang cảm nhiễm ra các khu vực phụ cận, làm ô nhiễm môi trường chăn nuôi

Theo Gobzem V R (1972) (dẫn theo Kolapxki N A và cs, 1980 [48]), khi theo dõi bệnh cầu trùng bê nghé ở thời kỳ nuôi chuồng, thấy tỷ lệ nhiễm bệnh tới 25% Bệnh thường có nhiều hơn vào các năm có mùa hè nóng và độ

ẩm cao, mùa thu ẩm ướt, mưa nhiều

Trang 26

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Gobzem V R (1978) cho rằng, ở các nước ôn đới, bệnh thường nhiễm vào tháng 5 - 8 và mạnh nhất vào tháng 5 - 6 Niuman (1966) cho biết, ở phía Nam nước Anh, bệnh cầu trùng diễn ra quanh năm và mùa thu số gia súc ốm

vì cầu trùng tăng 2,5 lần Theo Planhicop (1981) lại cho rằng bê, nghé bị nhiễm cầu trùng cao nhất vào mùa đông (dẫn theo Lương Tố Thu, 1986 [41])

Người ta cũng quan sát thấy bê nghé thường phát bệnh vào những thời

kỳ chuyển vụ: từ mùa thu sang mùa đông, khi thời tiết thay đổi, từ ấm ấp sang lạnh ẩm và thiếu thức ăn, làm cho bê nghé giảm sức đề kháng

Khi nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng bê ở Pakistan (từ tháng 4 năm 2009 đến tháng 3 năm 2010 ở Pakistan, Tauseef Ur Rehman

và cs (2010) [69], xét nghiệm 584 mẫu phân bê nghé cho thấy: có 47,09% mẫu phân nhiễm cầu trùng (đã tìm thấy 6 loài cầu trùng gây bệnh), trong đó

loài chiếm tỷ lệ cao nhất là E bovis (52,36%) Bê nghé có tỷ nhiễm cao

nhất vào tháng 8 Mùa mưa tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn mùa khô (60,32% so với 59,25%)

1.1.6.2 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự tồn tại và nhiễm Oocyst cầu trùng vào vật chủ

* Điều kiện vệ sinh thú y

Khảo sát về tình hình nhiễm cầu trùng ở gà nuôi trong các điều kiện khác nhau, Hoàng Thạch (1996) [29], (1997) [30] cho biết, tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà nuôi lồng là 0,37%, gà nuôi trong chuồng có đệm lót là trấu nhiễm 22,49 - 57,38% Như vậy, gà nuôi trong lồng không tiếp xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm rất thấp

Tình trạng vệ sinh thú y trong chăn nuôi là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhiễm cầu trùng ở vật nuôi

Lương Tố Thu (1986) [41] cho rằng, Oocyst cầu trùng phân bố rộng khắp, bê, nghé bị nhiễm bệnh do nuốt phải Oocyst từ nền chuồng, máng ăn,

máng uống Phương thức truyền lây chính vẫn là do bê, nghé liếm láp phải

Oocyst trên nền chuồng, cũi nuôi, máng ăn, máng uống Nguồn truyền bệnh từ

Trang 27

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

con mẹ sang con con hầu như không quan trọng, vì Oocyst cầu trùng dính ở bầu

vú mẹ rất ít Do vậy biện pháp chính để ngăn bê, nghé tiếp xúc với Oocyst cầu

trùng là vệ sinh chuồng nuôi, dụng cụ cho ăn, uống

Theo Morgot A A (2000) [49], những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 5 - 10% Ngược lại, những cơ sở chăn nuôi có điều kiện không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng chiếm 30% - 69%

Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2004) [20] cho biết, điều kiện chuồng

nuôi và môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm sẽ làm cho Oocyst cầu trùng tồn tại

và lưu hành lâu dài Chuồng trại chật trội, ẩm ướt, chất độn chuồng để quá lâu, không được thay đúng định kỳ, bãi chăn thả bị ô nhiễm mầm bệnh là yếu

tố quan trọng gây nhiễm cầu trùng cho gà

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2005) [14], lợn nuôi ở tình trạng vệ

sinh thú y kém nhiễm cầu trùng cao (55,45% - 66,30%) Tỷ lệ và cường độ

nhiễm giảm rõ rệt ở nhiều đàn lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh tốt

Như vậy, vấn đề vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi là yếu tố

quan trọng liên quan đến sự tồn tại và nhiễm vào cơ thể vật chủ của Oocyst

cầu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [16])

* Ảnh hưởng của lứa tuổi đến tỷ lệ nhiễm cầu trùng

Trên thế giới, nhiều tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của lứa tuổi đến

tỷ lệ nhiễm cầu trùng

Pasova (1979) thấy rằng, ở bê, nghé tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao nhất là 1

- 3 tháng tuổi Song ở 40 - 56 ngày tuổi bệnh thường mắc nặng nhất và xuất hiện những triệu chứng lâm sàng rõ rệt

Oda K và cs (1990) [66] đã thu thập và phân tích 1015 mẫu phân của

bò để nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng ở Nhật Bản, kết quả cho thấy:

59% số mẫu dương tính với Oocyst cầu trùng Tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao nhất

ở bê từ 6 - 11 tháng tuổi

Kolapxki N.A và Paskin P.I cho rằng bệnh cầu trùng gây bệnh chủ yếu ở bê, nghé từ 3 - 6 tuần tuổi Tuy nhiên trong một số trường hợp có cả ở

Trang 28

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trâu bò trưởng thành Theo Gobzem và Nazar (1978), bê nghé bị nhiễm cầu trùng không sớm hơn 20 ngày tuổi và ở 45 - 56 ngày tuổi thường bị bệnh nặng nhất, thời gian đó thường xuất hiện triệu chứng lâm sàng (dẫn theo Lương Tố Thu 1986 [41])

Ở Việt Nam, Đào Hữu Thanh và cs (1978) [33], Hồ Thị Thuận (1985) [43], Lương Tố Thu và cs (1993) [40], Lê Văn Năm (1995) [25] đã nghiên cứu và cho biết, bệnh cầu trùng gà liên quan chặt chẽ tới yếu tố tuổi (tỷ lệ nhiễm cao ở 15 - 56 ngày tuổi)

Phạm Văn Chức (1981) [2] khi điều tra trên một số tỉnh Bắc Bộ thấy

bê, nghé 15 - 60 ngày tuổi có tỷ lệ nhiễm cầu trùng rất cao (74% - 86%), song

ở 120 - 180 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm chỉ còn 36%

Lương Tố Thu (1986) [41] khi kiểm tra 797 mẫu phân nghé Murra và

234 mẫu phân bê từ sơ sinh đến 360 ngày tuổi, kết quả cho thấy: tỷ lệ cảm nhiễm cầu trùng bê, nghé biến động rõ rệt theo lứa tuổi Bê nghé ở nước ta có thể nhiễm cầu trùng từ 12 - 20 ngày tuổi, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở bê, nghé từ

30 - 60 ngày tuổi (78,61%) Ở 60 - 90 ngày tỷ lệ nhiễm có giảm chút ít nhưng vẫn cao (65,30%) Giai đoạn từ 180 - 360 ngày tỷ lệ nhiễm chỉ còn 22,12%

Phạm Sỹ Lăng (2002) [19] cho biết, gà con từ 15 - 45 ngày tuổi nhiễm các loài cầu trùng với tỷ lệ cao, phát bệnh nặng và chết nhiều, nếu không được điều trị tích cực Lứa tuổi gà bị bệnh cũng phụ thuộc vào các loài cầu

trùng: E tenella chỉ gây bệnh cho gà trên dưới 1 tháng tuổi, nhưng E maxima

lại gây bệnh cho gà trên 2 tháng tuổi Gà trưởng thành nhiễm cầu trùng, trong

phân vẫn thải Oocyst, nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt, được

xem như vật mang trùng tự nhiên

Một số tác giả cho rằng, động vật non đang trong thời kỳ sinh trưởng mạnh dễ nhiễm cầu trùng, bệnh phát triển nhanh và nặng nề hơn so với động vật trưởng thành (Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, 2004 [22])

Phan Lục (2006) [23] cho biết, ở bê nghé dưới 2 năm tuổi cường độ nhiễm cầu trùng nặng cao, tỷ lệ chết lớn

Trang 29

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Lâm Thị Thu Hương (2006) [8] đã xét nghiệm 620 mẫu phân bê, từ sơ sinh đến 8 tháng tuổi, nuôi tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng

Nai bằng phương pháp phù nổi để tìm hiểu tình hình nhiễm Eimeria Kết quả cho thấy, bê nuôi tại trại chăn nuôi tập trung nhiễm Eimeria spp là 52,94%,

cao hơn bê nuôi tại các hộ chăn nuôi cá thể (39,42%), tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi, kể từ tháng thứ 2 sau khi sinh

Lâm Thị Thu Hương và cs (2011) [9], đã xét nghiệm 740 mẫu phân bê,

từ sơ sinh đến 8 tháng tuổi, nuôi tại tỉnh Vĩnh Long, kết quả cho thấy, bê nuôi

tại hộ có quy mô lớn nhiễm Eimeria spp là 54,11%, cao hơn bê nuôi tại các

hộ quy mô nhỏ (39,59%), bê nuôi theo phương thức bán chăn thả nhiễm với

tỷ lệ 51,70%, cao hơn bê nuôi theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn là 39,53%, tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi cho đến khi bê trên 4 tháng, cao nhất ở 2-4 tháng tuổi (48,12%), thấp nhất là bê dưới 1 tháng tuổi (21,87%)

* Nguồn phát tán Oocyst cầu trùng

Theo tài liệu của Lê Văn Năm (1995) [25], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], gia súc, gia cầm bị bệnh

cầu trùng là nguồn phát tán Oocyst ra môi trường bên ngoài Ngoài ra, những

con vật mang cầu trùng nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng là nguồn mang căn bệnh nguy hiểm, vì chúng là đối tượng mà người chăn nuôi ít chú ý (do không thể hiện triệu chứng lâm sàng)

* Đường nhiễm Oocyst vào vật chủ

Sự nhiễm Oocyst có sức gây bệnh chủ yếu qua thức ăn, nước uống,

dụng cụ chăn nuôi

Theo Hunter A (2002) [47], Oocyst cầu trùng có mặt ở mọi chỗ

trong môi trường chăn nuôi Do vậy, nguy cơ nhiễm cầu trùng rất cao, nhưng có thể tránh được bằng cách đảm bảo cho vật nuôi không tiếp xúc

với Oocyst ở môi trường

Khi con vật bệnh thải Oocyst cầu trùng qua phân, Oocyst được phát tán

trên khắp nền chuồng, máng ăn và dụng cụ chăn nuôi, từ đó con vật trực tiếp

nuốt phải Oocyst do chính chúng thải ra

Trang 30

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi, giầy, dép, ủng, phương tiện vận

chuyển cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mang Oocyst cầu trùng từ nơi

khác vào chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm, hoặc từ ô chuồng này sang ô

chuồng khác (vật nuôi nhiễm Oocyst do những con vật ở nơi khác thải ra)

Mặc dù chưa có nhiều dẫn liệu về sự lây truyền cầu trùng bê nghé qua dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, nhưng những nghiên cứu về sự lây nhiễm cầu trùng đã được ghi nhận

Lương Tố Thu (1986) [41] theo dõi sự phân bố Oocyst cầu trùng ở môi

trường ngoại cảnh (cũi nuôi nghé, máng ăn, máng uống, bình sữa ) thấy

rằng, ở cũi nuôi nghé tỷ lệ nhiễm Oocyst cầu trùng là 80%, máng ăn, máng

uống tỷ lệ nhiễm là 100% so với số mẫu nghiên cứu nhưng cường độ nhiễm không đáng kể Trong khi đó dụng cụ cho bê bú (bình sữa) cũng bị nhiễm

Oocyst cầu trùng với tỷ lệ thấp từ 20-25% số mẫu theo dõi

Theo Bạch Mạnh Điều (1999) [4] khi nghiên cứu về sự lây nhiễm cầu trùng gà đã kiểm tra 420 mẫu xe cải tiến, quang thúng thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 4,28% Hoàng Thạch (1999) [31] khảo sát 250 mẫu từ ủng dùng trong khu chuồng nuôi, tỷ lệ nhiễm 5,6%; khảo sát 250 mẫu dụng cụ dọn vệ sinh chuồng nuôi, tỷ lệ nhiễm là 11,2%

Đường lây nhiễm chủ yếu của bệnh cầu trùng là qua hệ thống tiêu hoá

Bê, nghé nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh trong thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi sẽ bị nhiễm cầu trùng Các loài cầu trùng có độc lực gây bệnh nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào độc lực của loài cầu trùng mà chúng cảm nhiễm và sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người chăn nuôi (Phạm Sỹ Lăng và cs,

2002 [19])

Vai trò mang và truyền Oocyst cầu trùng đã được một số tác giả đề cập Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] cho biết, khi Oocyst bị nuốt vào,

trong đường tiêu hoá của ruồi, chúng vẫn còn khả năng gây bệnh trong 24 giờ

Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [26], chuột, chó, mèo, chim sẻ và

một số côn trùng có thể mang Oocyst từ đàn gia súc này sang đàn gia súc

khác, từ chuồng này sang chuồng khác

Trang 31

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Một số động vật sống trong chuồng nuôi hoặc xung quanh chuồng nuôi

có khả năng mang Oocyst cầu trùng, như: ruồi, gián, kiến, chuột Chúng mang Oocyst cầu trùng ở chân, trên lông, da, cánh ; trong khi di chuyển, chúng sẽ truyền Oocyst cầu trùng vào thức ăn, nước uống, làm cho gia súc, gia cầm

nhiễm cầu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [16])

* Các yếu tố tress: điều kiện chuồng trại chật trội, thức ăn kém dinh

dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi, con vật đang mắc các bệnh ký sinh trùng khác hoặc các bệnh truyền nhiễm mãn tính đều làm sức đề kháng của con vật giảm, dễ nhiễm cầu trùng và dễ bị bệnh

1.1.6.3 Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý, hoá học đến sự phát triển của Oocyst ở ngoại cảnh

* Ảnh hưởng của các tác nhân vật lý

Nhiệt độ, ẩm độ, môi trường nói chung đều tác động vào Oocyst cầu

trùng Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hòa là điều kiện thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển Nhiệt độ 20-230C chỉ mất 16-18 giờ để cầu trùng phát triển thành bào tử con

So sánh khả năng chịu đựng của Oocyst trước và sau khi sinh bào tử, Glullogh N (1952) cho biết, Oocyst bị diệt ở 400C sau 96 giờ, 450C sau 3 giờ

trùng thường bị chết vào mùa hè khi nhiệt độ quá cao trên 400C (Dẫn theo Lương Tố Thu, 1986 [41])

Ẩm độ có vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu cầu trùng sinh sản bào

tử ngoài môi trường và ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của Oocyst cầu trùng

Trang 32

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo Ellis C C (1986), ở nhiệt độ không thay đổi Oocyst sẽ bị chết khi

nhiệt độ giảm Nhiệt độ từ 18 - 400C, ẩm độ 21-30% thì chúng dễ bị chết sau

4 - 5 ngày (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 [16])

Goodrich H P (1994) [54] cho rằng, lớp vỏ ngoài đã giữ cho Oocyst

không bị thấm chất lỏng, tuy nhiên nó lại dễ bị nứt do điều kiện khô hạn

Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [26], nhiệt độ thích hợp cho quá

trình phát triển Oocyst ngoài cơ thể là 15 - 350C Lạnh (-150

C) và nóng trên

400C, Oocyst sẽ chết Theo tác giả, nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát triển Oocyst không bị thấm chất lỏng, tuy nhiên nó lại dễ bị nứt do điều kiện khô hạn

Ajayi J A (2004) [51] cho rằng, sự tồn tại của Oocyst trong môi

trường bên ngoài phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản, cụ thể là: nhiệt độ, ẩm độ và

oxy Khả năng phát triển của Oocyst trong đất và tồn tại của chúng trong các

loại đất khác nhau là khác nhau

Quá trình hình thành bào tử của hợp tử ở môi trường bên ngoài chỉ có thể xảy ra trong phạm vi nhiệt độ nhất định, trong nhiều trường hợp ở nhiệt độ

từ 18 - 200

C, Ajayi J A (2004) [51] đã phát hiện ra rằng, ở nhiệt độ 5 - 100C

ức chế quá trình hình thành bào tử

Marquardt W C (1960) cho rằng E zuernii khi chỉ có 10% oxy hoặc

ít hơn thì sự hình thành và phát triển bào tử không diễn ra Thiếu độ ẩm cũng

đã được chứng minh là gây ra những biến đổi ở lớp vỏ của Oocyst do mất nước Cũng theo Marquardt W C (1960), ở độ ẩm 20% thì có 12% Oocyst phát triển thành Spozoites và phần còn lại không phát triển được Tuy nhiên, ở

độ ẩm 75% thì có khoảng 51% Oocyst phát triển thành Spozoites (Dẫn theo

Giáp Mạnh Hoàng, 2011 [10])

Các tia tử ngoại cũng gây nhiều tác động đến sự phát triển của Oocyst cầu trùng Ánh nắng trực tiếp tác động gây hại đến Oocyst, nhưng cỏ dại đã

bảo vệ chúng tránh tia X (Long P L và cs (1979) [4])

Theo Phạm Văn Chức và cs (1989), cho rằng, Oocyst khi bị chiếu bức

xạ ở mức 20-35 Krad cho giá trị bảo hộ tốt nhất (100%), dưới 10 Krad (80%), nhưng nếu liều quá thấp hoặc quá cao thì không có hiệu quả phòng bệnh

Trang 33

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Oocyst chưa sinh bào tử ít mẫn cảm đối với tia X hơn Oocyst đã sinh bào tử tới 15 lần (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 [16])

* Ảnh hưởng của các tác nhân hoá học

Sự chịu đựng đặc biệt với môi trường biến đổi do có sức đề kháng với một số chất sát trùng là yếu tố quan trọng để duy trì sự tồn tại và lây truyền

của cầu trùng Đối với các loại hoá chất sát trùng thông thường, Oocyst cầu

trùng có sức đề kháng khá cao Do vậy, việc lựa chọn các loại hoá chất để sát trùng chuồng trại cũng như để điều chế các chất để phòng và trị bệnh cầu trùng gặp nhiều khó khăn

Iakimoff – Galovzo (1927) đã dùng các chất sát trùng để điều trị cầu trùng bê, nghé song không có kết quả (Dẫn theo Lương Tố Thu, 1986 [41])

Theo Horton Smith C và cs (1996) [59], dung dịch tiêu độc khử trùng Creolin 5% ở nhiệt độ 40 - 500C giết chết Oocyst sau 20 - 30 ngày Amoniac 10% có tác dụng diệt Oocyst mạnh nhất

Theo Penard (1925) và Iakimoff (1927), Oocyst có sức đề kháng khá tốt với dung dịch muối, axít, bazơ ở nồng độ tương đối cao vì Oocyst có thể

sinh bào tử sau nhiều ngày tiếp xúc với dung dịch sát trùng: KMnO4 0,1%, Formol 5%, H2SO4 và HCl 10% Dung dịch formol, H2SO4, NH4OH, crezol

gây ảnh hưởng đến sự hình thành bào tử Oocyst chết dưới tác dụng của huyễn

dịch formol - nhựa thông ở nồng độ dung dịch 10% Do đó, một số hoá chất có

tác dụng diệt Oocyst đã được sử dụng tiêu độc chuồng trại, ví dụ: dung dịch

amoniac (NH3) 10% (Smith, 1940), methyl bromid (Andrew và Taylor M A., 1943) (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 [16])

1.2 Bệnh cầu trùng bê, nghé

Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô đường tiêu hoá của bê nghé Bệnh biểu hiện bằng triệu chứng mệt mỏi toàn thân, ăn kém, uống nhiều nước, rối loạn tiêu hoá kèm theo ỉa chảy, phân có những gân máu và cuối cùng chết

do kiệt sức

1.2.1 Những thiệt hại về kinh tế do bệnh cầu trùng gây ra

Trang 34

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bệnh cầu trùng không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh truyền nhiễm

do vi rút, vi khuẩn gây ra nhưng bệnh thường kéo dài, khó loại bỏ nếu như không áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp

Kết quả nghiên cứu của các nhà ký sinh trùng học trên thế giới đều cho thấy, cầu trùng là nguyên nhân chính gây ỉa chảy của bê, nghé, làm giảm khả năng tăng trọng, giảm tỷ lệ nuôi sống, làm tăng tỷ lệ còi cọc, khả năng đáp ứng miễn dịch giảm, bê nghé rất dễ bị nhiễm kế phát các bệnh khác, gây ra những tổn thất đáng kể cho ngành chăn nuôi trâu bò

Bê nghé bị cầu trùng thường chậm lớn, giảm tốc độ sinh trưởng, tăng trọng kém Tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác tăng cao như: chi phí về thuốc điều trị, thuốc sát trùng, chăm sóc nuôi dưỡng

Foster (1949) nhận thấy, ở Mỹ hàng năm bệnh cầu trùng bê, nghé gây thiệt hại bằng 1/3 tổng số thiệt hại do các bệnh khác gây ra Theo Nazar – Evalop (1980) cho rằng bệnh cầu trùng bê, nghé là nguyên nhân chủ yếu gây

ỉa chảy đỏ của bê, nghé và làm giảm khả năng tăng trọng bình quân từ 4 - 12% (Dẫn theo Lương Tố Thu, 1986 [41])

Ở Anh, bệnh cầu trùng gây ra hội chứng ỉa chảy, làm ảnh hưởng đến việc phát triển của bê non, gây thiệt hại kinh tế cho các trại chăn nuôi bò ở các tỉnh Tây Nam trong mùa hè và mùa thu (Dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs,

2002 [19])

Ở Việt Nam, theo Lương Tố Thu (1986) [41], tại Trung tâm trâu sữa Phùng Thượng (Hà Nam Ninh), năm 1978 đã xảy ra một vụ dịch do cầu trùng gây ra, làm chết 14,8% tổng đàn nghé Số nghé còn lại đã giảm khả năng tăng trọng bình quân từ 600g/ngày (1977) xuống 450g/ngày (1978) Tác giả đã phát hiện thấy bê thuộc giống bò sữa lang trắng đen (Holstein) và trâu sữa Murrah bị nhiễm bệnh, gây tổn thất nhiều về kinh tế

1.2.2 Cơ chế sinh bệnh

Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [15] và (2012) [17], tác động gây bệnh của cầu trùng phụ thuộc chủ yếu vào số lượng cầu trùng

Trang 35

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xâm nhập vào cơ thể, số lượng tế bào biểu mô đường tiêu hoá bị chúng ký sinh và phá huỷ

Đề cập đến quá trình sinh bệnh học của bệnh cầu trùng, Kolapxki N

A và cs (1980) [48], Ajayi J A (2004) [51] đều thống nhất rằng: trong màng niêm mạc ruột, cầu trùng phát triển mạnh bằng phương thức sinh sản vô tính

và làm cho hàng loạt tế bào biểu mô bị phá huỷ Người ta xác định rằng, một con vật mắc bệnh cầu trùng thải ra môi trường bên ngoài hàng ngày từ 9 triệu

đến 980 triệu Oocyst Điều đó tương ứng với, trong cơ thể con vật ốm, hàng

ngày có trên 500 triệu tế bào biểu mô ruột bị phá huỷ Không những chỉ các tế bào bị cầu trùng ký sinh, mà hình như cả những tế bào bên cạnh, những mao quản và mạch quản bị phá huỷ Sự phá huỷ hàng loạt tế bào của ký chủ làm cho tính toàn vẹn của vách ruột bị tổn thương Những vùng ruột bị huỷ hoại làm cho nhiều đoạn ruột không tham gia được vào quá trình tiêu hoá, làm cho con vật thiếu dinh dưỡng dai dẳng, dẫn đến sự phù nề các cơ quan và mô bào Quá trình bệnh thường thể hiện máu loãng, mạch đập chậm Sự sinh sản mạnh của cầu trùng trong niêm mạc ruột và sự phá huỷ các tế bào biểu mô ruột, dẫn tới hậu quả là, trên các vùng tế bào bị chết, hệ vi khuẩn gây mủ sinh sản, làm nặng thêm quá trình viêm ruột, gây rối loạn chức năng hấp thụ và nhu động của ruột, dẫn đến con vật ỉa chảy

Kolapxki N A và cs (1980) [48] chỉ ra rằng, khi con vật bị bệnh cầu trùng, lượng hồng cầu và hemoglobin giảm, con vật bị thiếu máu

Williams R B và cs (1991) cho thấy, tác động quá trình gây bệnh của

cầu trùng giống Eimeria là làm cho hàng loạt tế bào niêm mạc ruột bị phá vỡ, giải phóng Oocyst vào xoang ruột, gây hiện tượng xuất huyết tràn lan, tế bào

bong tróc, làm cho thành ruột trở nên mỏng (Dẫn theo Lê Minh, 2009 [24])

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] cho biết, cầu trùng xâm nhập vào tế bào biểu mô ruột gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột, từ đó một số lượng lớn tế bào biểu mô, lớp dưới niêm mạc, các mạch quản, thần kinh bị phá huỷ, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển và xâm nhập vào cơ thể

Trang 36

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Những xét nghiệm về hoá sinh và hình thái học cho thấy, khi bị bệnh cầu trùng, số lượng hồng cầu, hàm lượng hemoglobin giảm, con vật bị thiếu máu Ngoài ra, vào thời kỳ bệnh tiến triển ác tính còn làm giảm lượng đường trong máu, giảm glutation, catalaza và lượng kiềm dự trữ

Từ cách sinh bệnh trên chúng ta phải xem bệnh cầu trùng như là một bệnh toàn thân, chứ không chỉ riêng một cơ quan có loài cầu trùng này hay loài cầu trùng khác ký sinh

1.2.3 Triệu chứng của bê, nghé bị bệnh cầu trùng

Kolapxki N A và cs (1980) [48] cho biết, thời kỳ nung bệnh kéo dài từ

2 - 3 tuần Bệnh diễn ra ở các thể cấp tính, á cấp tính hay mãn tính Điều đó

phụ thuộc vào trạng thái cơ thể, loài cầu trùng và số lượng Oocyst gây bệnh

xâm nhập vào cơ thể bê nghé

Ở thể cấp tính, thấy bê nghé bị suy nhược hoàn toàn: con vật hay nằm hơn, không thích vận động, ít ăn, lông mất màu ánh, trở nên xù xì, nhai lại chậm chạp Bệnh ở ngày thứ 2, thứ 3 thì sinh ỉa chảy, phân lỏng có chất nhờn

và những gân máu Sau 7 - 8 ngày từ khi mắc bệnh, trạng thái suy nhược toàn thân tăng lên, sự nhai lại ngừng hẳn, nhu động ruột tăng, hậu môn nửa đóng, nửa mở, màng niêm mạc ruột cũng xuất huyết mạnh Ở vùng đuôi và hai chân sau, lông phủ dịch bẩn màu hơi xanh Sau đó phân trở nên loãng, màu hơi xanh nâu, mùi rất thối, trong phân có hỗn hợp niêm dịch và máu, nhiều khi có

cả màng fibrin Cuối tuần lễ thứ 2, ỉa chảy càng mạnh hơn, vật mắc bệnh rặn

ỉa liên tục Nhiệt độ cơ thể con ốm lên tới 40 - 410C Bê nghé xuống sức nhanh, nằm liệt, bỏ ăn, không thiết gì đến xung quanh, kiệt sức nhanh chóng Lúc này mắt bê trũng sâu xuống, màng niêm mạc trắng nhợt Hậu môn mở rộng, niêm mạc hậu môn đầy những chấm hay những vệt xuất huyết Phân toàn màu nâu hay nâu sẫm, giai đoạn cuối phân có màu đỏ Khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống còn 36 - 350C, con vật chết

Hầu hết các tác giả cho rằng, bệnh cầu trùng thể cấp tính thường thấy

khi bê nghé nhiễm lần đầu loài cầu trùng E zuernii Nhiều người cũng thấy

Trang 37

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

giai đoạn cấp tính xảy ra khi bị nhiễm ghép loài E zuernii với một số loài

cầu trùng khác

Ở thể á cấp tính, trạng thái mệt mỏi biểu hiện ít hơn, bê nghé hay nằm

hơn, ăn ít, nhai lại yếu, phân loãng có chất nhày Tới ngày thứ 7, thứ 8 bê nghé bắt đầu ỉa chảy nhưng không có máu Con vật gầy, bệnh tiến triển dai dẳng và kéo dài

Thể mãn tính, thấy ở những bê nghé tuổi lớn hơn và thường ở trâu bò

trưởng thành Ở các cơ sở chăn nuôi kém, thể bệnh này xảy ra thường xuyên Gia súc gầy yếu, ỉa chảy lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, phân nhiều nước có lẫn bọt khí, chất nhày và thường có máu ẩn Con vật kém ăn, màng niêm mạc tái nhợt Bê nghé sinh trưởng và phát dục kém, thậm chí giảm khối lượng cơ thể Thể mãn tính của bệnh cầu trùng kéo dài làm cho cơ thể bê nghé yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh truyền nhiễm phát sinh

Gobzem V R (1972) (dẫn theo Kolapxki N A và cs, 1980 [48] và Lương Tố Thu (1986) [41]) đã nghiên cứu triệu chứng lâm sàng khi gây bệnh

cho bê bằng một loài cầu trùng duy nhất - loài E bovis Tác giả đã gây nhiễm cho 18 bê bằng cách cho mỗi con nuốt 200 nghìn Oocyst đã hình thành bào

tử Ngày thứ 2 sau khi nhiễm bệnh bê đã có biểu hiện mỏi mệt, một số con chảy nước mũi, phân có nhiều chất nhày Vào ngày thứ 3, ở bê thí nghiệm xuất hiện ỉa chảy Những ngày sau, phân nửa đặc nửa loãng Tới ngày thứ 8

bê vẫn ăn tốt, nhiệt độ cơ thể hơi cao, lỗ mũi chảy niêm dịch lẫn mủ Phản ứng Gregerxen phát hiện máu ẩn trong phân dương tính Từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 15, bê mệt nhiều hơn; nước mũi chảy có chất nhày lẫn mủ, ở một số con phân có nhiều chất nhày, một số con khác thì ỉa chảy Khi xét nghiệm chất nhày và mủ chảy ra từ lỗ mũi, người ta thấy những thể tựa như thể phân

đoạn (Merozoit) của cầu trùng E bovis Các nang trứng (Oocyst) cầu trùng

xuất hiện trong phân bê thí nghiệm ở ngày thứ 20 sau khi nhiễm bệnh Số

lượng Oocyst có trong 1 g phân đến 105 nghìn Triệu chứng lâm sàng biểu

hiện rõ hơn vào ngày thứ 23 - 27 Lúc này bê mệt mỏi nhiều, ỉa chảy mạnh,

Trang 38

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

gầy sút, mắt lõm, chứng tỏ cơ thể bê mất nhiều nước Bộ lông mất màu sáng

và trở nên xù xì, nhiệt độ cơ thể tăng cao, nhu động ruột cũng tăng

Ở một số bê, ngày thứ 14 ngay khi gây nhiễm nhiệt độ cơ thể lên tới 40,20C, mạch tăng nhanh tới 116 lần/phút, gương mũi khô và nóng hơn, nghe vùng phổi có tiếng ran phế quản, nhu động ruột tăng mạnh Sau đó nhiệt độ giảm xuống ở ngày thứ 15 Tới ngày thứ 20 thì bê suy sụp hoàn toàn, xuất hiện run cơ, nhiệt độ xuống còn 36,50C Tới ngày thứ 21 bê chết

Stokdale (1976) khi gây nhiễm thực nghiệm cho bê cũng nhận thấy, ở

ngày 19 - 23 sau khi gây nhiễm bằng noãn nang cầu trùng E.zurnii, tất cả các

con bê bị ỉa chảy có máu nặng, nhưng vẫn ăn uống bình thường Năm 1981,

tác giả vẫn gây nhiễm cho bê bằng noãn nang cầu trùng E.zurnii, ông cũng

nhận thấy, ở ngày thứ 20 tất cả bê đều bị ỉa chảy, kiết lị mạnh, có 3 con nguy kịch Ở bê thí nghiệm hàm lượng natrichlorua giảm rõ rệt ở ngày 25 sau thí nghiệm Số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố cũng giảm ở cuối thí nghiệm, song hàm lượng protein tổng số và hàm lượng albumin giảm không đáng kể (Dẫn theo Lương Tố Thu, 1986 [41])

Theo Lương Tố Thu (1986) [41], E bovis, E.zurnii là hai loài cầu trùng

có độc lực cao, có mặt nhiều trong những bê, nghé có biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh cầu trùng

Ahmed M W và cs (2007) [50] khi nghiên cứu 176 bê, nghé để tìm hiểu về triệu chứng lâm sàng của những bê, nghé bị nhiễm bệnh cầu trùng, tác giả đã thấy bê, nghé có một số triệu chứng lâm sàng chủ yếu sau: lông xù, giảm tăng trọng, ỉa chảy, ăn kém, xuất hiện những chỗ tổn thương ở da, trong

đó triệu chứng bê nghé bị xù lông chiếm tỷ lệ cao nhất (29,50%)

1.2.4 Bệnh tích của bê, nghé bị bệnh cầu trùng

Mổ khám bê nghé chết do cầu trùng thấy: Xác chết gầy còm, bẩn Các màng niêm mạc đều trắng nhợt nhạt, vùng chân sau và lông đuôi, hậu môn dính đầy phân bẩn Hậu môn mở, niêm mạc hậu môn phù, ứ máu và thường xuất huyết

Trang 39

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Xoang bụng chứa đầy dịch màu vàng rơm Các mạch máu màng treo ruột căng phồng Hạch bạch huyết màng treo ruột tăng sinh, cắt ra thấy màu xám, mọng nước Màng niêm mạc tá tràng và ruột non bị phù, sung huyết có những chấm hay vệt xuất huyết, trong xoang ruột già, có nhiều đám màu xám lẫn máu Niêm mạc ruột già thủy thũng, có nhiều đám hoặc nhiều điểm hay vạch xuất huyết, có thể có nhiều chỗ xuất huyết khác nhau Niêm mạc manh tràng và đặc biệt là trực tràng dày lên, thâm nhiễm, dễ bóc và có nhiều điểm sung huyết; các hạch bạch huyết tăng sinh bằng đầu ngón tay, nhô ra thành từng cục u lồi màu xám Đôi khi màng niêm mạc manh tràng và trực tràng có những vết loét, phủ đầy bã đậu Chất chứa trong phần ruột này màu nâu tối hay màu

đỏ máu (Dẫn theo Giáp Mạnh Hoàng, 2011 [10])

Grafner và Weichelt (1966) (dẫn theo Kolapxki N A và cs, 1980 [48]) cho biết, mổ khám xác bê chết về bệnh cầu trùng thấy viêm màng niêm mạc

dạ múi khế

Khi nghiên cứu về các loài cầu trùng gây bệnh ở bê nghé, các nhà khoa

học đều thống nhất rằng: 3 loài cầu trùng E zuernii, E bovis và E alabamemsis là các loài gây ra những tổn thương và bệnh tích rõ ràng nhất ở

Trong bệnh cầu trùng mãn tính, bệnh tích không thể hiện rõ Có thể thấy màng niêm mạc ruột già bị phồng lên, nhiều chỗ tụ máu xuất huyết dọc theo nếp gấp niêm mạc

1.2.5 Miễn dịch trong bệnh cầu trùng

Trang 40

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Những năm gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu về miễn dịch cầu trùng ở gia súc, gia cầm, nhằm chế ra các loại vắc xin phòng bệnh cầu trùng,

đi đầu là vắc xin phòng bệnh cầu trùng gà (Chapman H D., 2001 [46])

1.2.6.1 Nghiên cứu về miễn dịch cầu trùng ở vật nuôi

Tyzzer E E (1929) [70 đã chứng minh bằng thực nghiệm là có 2 mức miễn dịch trong bệnh cầu trùng

- Mức 1: phát sinh sau khi con vật nhiễm một lượng nhỏ cầu trùng Khi

đó sẽ tạo ra miễn dịch yếu, và nếu gây nhiễm cho con vật một liều cầu trùng cao hơn (liều siêu nhiễm) thì nó sẽ mắc bệnh lại

- Mức 2: phát sinh khi con vật nhiễm một lượng lớn cầu trùng Trong trường hợp này con vật có sức miễn dịch và không bị nhiễm lại khi cầu trùng xâm nhập vào cơ thể Nhận định này được Beyer xác nhận khi thí nghiệm trên thỏ, và Paskin xác nhận khi thí nghiệm trên gà con

Bachman G W (1930) [52] cho rằng, miễn dịch theo tuổi hình thành ở gia súc do chúng tái nhiễm cầu trùng nhiều lần

Hammond D M và cs (1944) đã gây miễn dịch trước cho bê thí nghiệm

bằng E bovis với liều 25.000 - 30.000 Oocyst; bê đối chứng không gây nhiễm

cầu trùng Sau đó đưa qua lỗ dò cho cả bê thí nghiệm và đối chứng với số lượng 0,4 - 1,9 tỷ thể phân lập của loài cầu trùng trên Tiếp sau đó dùng phương pháp sinh thiết làm các tiêu bản tế bào ruột Kết quả cho thấy, những

bê đã gây miễn dịch (thí nghiệm), các thể phân đoạn không phát triển được và bệnh cầu trùng không phát ra Ở bê đối chứng (không được gây miễn dịch)

bệnh cầu trùng đã phát ra Điều đó cho thấy, gây nhiễm Oocyst ở bê đã hình

thành sức miễn dịch, nhờ vậy ngăn khả năng xâm nhiễm của các thể phân đoạn cầu trùng cùng loài sau đó (Dẫn theo Giáp Mạnh Hoàng, 2011 [10])

Horton Smith C (1963) cũng chứng minh rằng khi nuôi cách ly gà đến

6 tháng tuổi không cho tiếp xúc với cầu trùng, sau 6 tháng tuổi tiến hành cho

nhiễm tự nhiên thấy gà rất cảm thụ với E tenella, nhưng sau đó nuôi bình

Ngày đăng: 25/03/2021, 11:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w