ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Đào Minh Phúc NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC KIẾN THỨC SINH HỌC ỨNG DỤNG THUỘC SÁCH GIÁO KHOA CÔNG NGHỆ 10 BẰNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ ĐA PHƯƠNG TIỆN C
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀO MINH PHÚC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC KIẾN THỨC SINH HỌC ỨNG DỤNG THUỘC SÁCH GIÁO KHOA CÔNG NGHỆ 10 BẰNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ ĐA
PHƯƠNG TIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đào Minh Phúc
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC KIẾN THỨC SINH HỌC ỨNG DỤNG THUỘC SÁCH GIÁO KHOA CÔNG NGHỆ 10 BẰNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ ĐA
PHƯƠNG TIỆN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn sinh học
Mã số : 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Văn Hồng
Trang 3ii
MỤC LỤC
Trang
Mục lục ii
Danh mục chữ cái viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined
1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined
2 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu Error! Bookmark not
defined
4 Nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined
5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined
6 Giả thuyết khoa học Error! Bookmark not defined
7 Giới hạn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
8 Những đóng góp mới của luận văn Error! Bookmark not defined 1.1 Tình hình ứng dụng CNTT trong giáo dục trên thế giới Error! Bookmark
not defined
1.1.1 Lược sử phát triển và ứng dụng CNTT trong dạy học Error! Bookmark
not defined
1.1.2 Thành tựu áp dụng CNTT trong dạy học tại các nước Error!
Bookmark not defined
1.2 Tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học ở Việt Nam Error! Bookmark
not defined
1.2.1 Quá trình đưa CNTT vào dạy học tại Việt Nam Error! Bookmark not
defined
Trang 4ii
1.2.2 Hiện trạng sử dụng CNTT trong dạy học nói chung và day học môn
Công nghệ 10 nói riêng tại Việt Nam hiện nay Error! Bookmark not
defined
1.3 Những thuận lợi - khó khăn khi ứng dụng CNTT trong dạy học sinh học
nói chung và dạy học môn Công nghệ 10 nói riêng Error! Bookmark not
defined
1.3.1 Thuận lợi Error! Bookmark not defined 1.3.2 Khó khăn Error! Bookmark not defined
1.4 Giới thiệu phần mềm Lecturemaker 2.0 Error! Bookmark not defined
1.4.1 Tổng quan Error! Bookmark not defined 1.4.2 Giới thiệu phần mềm Lecturemaker Error! Bookmark not defined
Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC KIẾN THỨC SINH HỌC ỨNG DỤNG THUỘC SÁCH GIÁO KHOA CÔNG NGHỆ 10 BẰNG GIÁO ÁN ĐIỆN
TỬ ĐA PHƯƠNG TIỆN Error! Bookmark not defined
2.1 Một số khái niệm cơ bản Error! Bookmark not defined
2.1.1 Kiến thức sinh học Error! Bookmark not defined 2.1.2 Kiến thức sinh học ứng dụng Error! Bookmark not defined 2.1.3 Giáo án điện tử đa phương tiện Error! Bookmark not defined
2.2 Nội dung kiến thức Sinh học ứng dụng thuộc SGK Công nghệ Error!
Bookmark not defined
2.3 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy kiến thức Sinh học ứng dụng thuộc
SGK Công nghệ 10 Error! Bookmark not defined
2.3.1 Thuận lợi Error! Bookmark not defined 2.3.2 Khó khăn Error! Bookmark not defined
2.4 Các nguyên tắc thiết kế bài giảng Công nghệ 10 bằng phần mềm
LectureMaker Error! Bookmark not defined
2.4.1 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu dạy học và truyền thông Error!
Bookmark not defined
Trang 5ii
2.4.2 Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học và truyền thông
Error! Bookmark not defined
2.4.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức Error! Bookmark not defined
2.4.4 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tối đa vai trò của các giác quan trong
quá trình dạy học và quá trình truyền thông Error! Bookmark not defined
2.4.5 Nguyên tắc lấy không gian bù thời gian trong quá trình dạy học và quá
trình truyền thông Error! Bookmark not defined
2.5 Quy trình thiết kế bài giảng Công nghệ 10 theo hướng tích hợp truyền
thông đa phương tiện Error! Bookmark not defined
2.5.1 Xác định mục tiêu dạy học Error! Bookmark not defined 2.5.2 Phân tích cấu trúc nội dung dạy học Error! Bookmark not defined
2.5.3 Sưu tầm, gia công sư phạm và gia công kỹ thuật hệ thống tư liệu kỹ
thuật số phù hợp với nội dung dạy - học Error! Bookmark not defined
2.5.4 Thiết kế kịch bản các giáo án để chỉ định việc nhập liệu thông tin vào
phần mềm Lecture Maker Error! Bookmark not defined
2.5.5 Nhập liệu thông tin vào phần mềm Lecture Maker hình thành bài giảng
điện tử Error! Bookmark not defined
2.5.6 Ví dụ minh họa quy trình thiết kế bài 27 “Ứng dụng công nghệ tế bào
trong công tác giống” Error! Bookmark not defined
2.6 Tổ chức dạy học chương Sinh sản sử dụng TTĐPT Error! Bookmark
not defined
2.6.1 Yêu cầu sư phạm Error! Bookmark not defined 2.6.2 Phương pháp thực hiện Error! Bookmark not defined
2.6.3 Một số ví dụ tổ chức quá trình dạy - học trên lớp theo hướng sử dụng
giáo án điện tử ĐPT Error! Bookmark not defined
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined
3.1 Mục đích thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2 Nội dung thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.3 Phương pháp thực nghiệm: Error! Bookmark not defined
Trang 6ii
3.3.1 Chọn trường, lớp thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.3.2 Bố trí thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.3.3 Kiểm tra đánh giá Error! Bookmark not defined 3.3.4 Tiêu chí đánh giá Error! Bookmark not defined 3.3.5 Phương pháp phân tích kết quả thực nghiệm Error! Bookmark not
defined
3.4 Kết quả thực nghiệm Error! Bookmark not defined
3.4.1 Kết quả phân tích 3 bài kiểm tra trong thực nghiệm Error! Bookmark
not defined
3.4.2 Kết quả phân tích bài kiểm tra sau thực nghiệm: Error! Bookmark not
defined
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Error! Bookmark not defined
1 Kết luận Error! Bookmark not defined
2 Kiến nghị Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC
Trang 7ii
Trang 8với mục tiêu “Lấy người học làm trung tâm”[38]
Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS” [26]
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 khóa VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã ghi rõ: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào QTDH, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS” [6]
Bên cạnh đó Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2005 -
2010 của Bộ chính trị tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa
IX Đảng cộng sản Việt Nam (đã bổ sung hoàn chỉnh theo kết luận của Hội nghị Trung ương) cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ hết sức quan trọng cho ngành Giáo dục và Đào tạo: “ Tập trung chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình, phương
Trang 92
pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, sử dụng CNTT tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, gắn bó hơn với cuộc sống xã hội, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương” [7] Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X tiếp tục đề cập và nhấn mạnh về định hướng đổi mới phương pháp giáo dục: “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lí, nội dung, phương pháp dạy và học thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [8]
Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần
thứ XI: “ Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế” [9]
Định hướng dạy học hiện nay là lấy người học làm trung tâm, phát huy tối đa khả năng tự học của HS dưới sự hướng dẫn của GV Hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống
mà phải vận dụng một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phương tiện hiện đại
1.2 Xuất phát từ vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục – đào tạo và yêu cầu cấp thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn mới
Trang 103
đã được cụ thể hóa trong Chỉ thị số 55/2008/CT- BGDĐT “Đẩy mạnh một
cách hợp lý việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy và học ở từng cấp học” [2]
Ứng dụng CNTT trong dạy và học, góp phần thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo góp phần phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp, xoá bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại
Triển khai công nghệ học điện tử (e-Learning) ngày càng được tổ chức mạnh mẽ Cụ thể là:
- Tổ chức cho giáo viên, giảng viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến, tổ chức các khoá học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn
cơ hội học tập cho người học
- Khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử
và giáo án trên máy tính, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các
cơ sở giáo dục và qua “Diễn đàn giáo dục” trên Website Bộ GD - ĐT
- Xây dựng trên Website Bộ GD - ĐT các cơ sở dữ liệu và thư viện học liệu điện tử (gồm giáo trình và sách giáo khoa điện tử, đề thi trắc nghiệm, phần mềm thí nghiệm ảo, học liệu đa phương tiện, bài giảng, bài trình chiếu, giáo
án của giáo viên, giảng viên) Tổ chức “sân chơi” trí tuệ trực tuyến miễn phí của một số môn học
- Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng ứng dụng CNTT phải được thực hiện một cách hợp lý, tránh lạm dụng, tránh bệnh hình thức chỉ ứng dụng CNTT tại một số giờ giảng trong cuộc thi, trong khi không áp dụng trong thực tế hàng ngày
Trang 114
1.3 Xuất phát từ nguyên tắc vận dụng PPDH không thể tách rời PTDH Các loại PTDH hiện nay, đặc biệt là PTDH kĩ thuật số đã giúp người giáo viên thiết kế và tổ chức bài học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Các PTDH đặc biệt là những PTDH kĩ thuật số giúp người thầy tiến hành bài học không phải bắt đầu bằng giảng giải, thuyết trình, độc thoại mà bằng vai trò đạo diễn, thiết kế, tổ chức, kích thích, trọng tài, cố vấn, trả lại cho người học vai trò chủ thể, không phải học thụ động bằng nghe thầy giảng bài mà học tích cực bằng hành động của chính mình
Sự phát triển các loại phương tiện thiết bị kĩ thuật dạy học sẽ góp phần đổi mới các phương pháp dạy học Những năm gần đây, băng video, PMDH, máy vi tính và hệ thống phương tiện đa năng (Multimedia) phát triển rất
nhanh, tạo điều kiện cho việc cá thể hoá việc học tập, thầy giáo đóng vai trò người hướng dẫn nhiều hơn Do đó, cần có nhiều nghiên cứu xây dựng và sử dụng phương tiện dạy học, đặc biệt là PTDH kĩ thuật số
1.4 Xuất phát từ thực trạng dạy học kiến thức sinh học ứng dụng trong SGK Công Nghệ 10 còn có nhiều khó khăn, bất cập và hiệu quả dạy học còn chưa đạt như mong muốn
Với PPDH truyền thống GV là trung tâm của quá trình dạy học, GV dùng phương pháp giảng giải là chủ yếu, hạn chế về sử dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ cho việc lĩnh hội kiến thức Dẫn đến việc tiếp thu kiến thức từ
GV đến HS diễn ra một cách thụ động, ở HS chủ yếu là sự nhắc lại một cách máy móc kiến thức, chưa khuyến khích sự tìm tòi sáng tạo ở HS trong quá trình học
Là môn học mang tính thực nghiệm và ứng dụng cao bao gồm các kiến thức khái niệm, quá trình và có khối lượng kiến thức gia tăng nhanh Trong số các kiến thức nói trên, lượng kiến thức về các cơ chế, quá trình, quy trình
Trang 125
công nghệ gắn với thực tiễn nhiều Học sinh tập làm quen với các kiến thức
về sinh học mà lớp 11, 12 mới được học, hơn thế nữa HS luôn coi môn học này là môn phụ nên không để tâm đến việc học mà đi sâu vào những môn tự nhiên hay xã hội Như vậy để giảng dạy có hiệu quả những kiến thức này, cần phải thực hiện trực quan hóa tốt Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất là ứng dụng thành tựu của CNTT
Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Công nghệ ở trường phổ thông hiện nay vẫn chưa được chú trọng, hiệu quả còn rất thấp
Ứng dụng CNTT trong dạy học đã được Bộ Giáo dục và đào tạo nước
ta coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm vì những lợi ích đặc biệt của nó trong đổi mới PPDH
1.5 Xuất phát từ những ưu điểm của phần mềm LectureMaker
LectureMaker là phần mềm soạn thảo bài giảng điện tử đa phương tiện, sản phẩm của công ty Daulsoft Hàn Quốc (www.daulsoft.com) Với Lecturemaker, bất kỳ ai cũng có thể tạo được bài giảng đa phương tiện nhanh chóng và dễ dàng, có thể tận dụng lại một cách nhanh chóng, chân thực và dễ dàng các bài giảng đã có trên những định dạng khác như: PowerPoint, PDF, Flash, HTML, Audio, Video… vào nội dung bài giảng của mình
Phần mềm LectureMaker cũng đã được Cục Công nghệ thông tin – Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam khuyến khích sử dụng để tạo các bài giảng điện tử đa phương tiện theo đúng chuẩn quốc tế Bài giảng được tạo ra từ LectureMaker hoàn toàn tương thích với chuẩn SCROM để làm bài e – Learning
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Nâng cao chất lượng dạy
học kiến thức Sinh học ứng dụng thuộc SGK Công nghệ 10 bằng giáo án điện tử đa phương tiện”
Trang 136
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử theo hướng tích hợp truyền thông
đa phương tiện góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Công nghệ 10
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử Công nghệ
10 theo hướng tích hợp truyền thông đa phương tiện
3.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Công nghệ lớp 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tổng quan tài liệu tình hình sử dụng truyền thông đa phương tiện trong dạy học trên thế giới và ở Việt Nam
4.2 Điều tra cơ bản về tình hình sử dụng truyền thông đa phương tiện trong dạy học Công nghệ 10 tại các trường THPT tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên 4.3 Thiết kế bài giảng điện tử tích hợp truyền thông đa phương tiện môn Công nghệ 10 bằng phần mềm Lecture Maker
4.4 Sử dụng các bài giảng
4.5 Thực nghiệm sư phạm
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Nghiên cứu nội dung SGK, SGV, TKBG Công Nghệ 10, Công nghệ sinh học,… làm cơ
sở cho việc thiết kế bài giảng dạy học kiến thức sinh học ứng dụng thuộc SGK Công Nghệ 10
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
1/ Điều tra
- Điều tra hiện trạng ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập bộ môn Công Nghệ 10 đối với giáo viên, học sinh một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 147
- Điều tra hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng 2/ Thực nghiệm sư phạm
5.3 Phương pháp toán học thống kê
Phân tích và xử lý kết quả thực nghiệm bằng phần mềm Microsoft Excel
6 Giả thuyết khoa học
Nếu như tổ chức dạy học kiến thức sinh học ứng dụng thuộc SGK Công nghệ 10 bằng giáo án điện tử tích hợp truyền thông đa phương tiện một cách hợp lý sẽ góp phần nâng cao kết quả học tập của HS
7 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ đề cập tới vấn đề thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử đa phương tiện bằng phần mềm Lecture Maker 2.0 để tổ chức dạy học kiến thức sinh học ứng dụng thuộc nội dung SGK Công Nghệ 10 nhằm nâng cao kết quả học tập của HS
8 Những đóng góp mới của luận văn
8.1 Xây dựng các bài giảng điện tử dạy học kiến thức sinh học ứng dụng (SGK Công Nghệ 10) bằng phần mềm Lecture Maker 2.0
8.2 Tổ chức dạy học theo hình thức thảo luận có sử dụng các bài giảng và Blog cá nhân
Trang 158
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình ứng dụng CNTT trong giáo dục trên thế giới
1.1.1 Lược sử phát triển và ứng dụng CNTT trong dạy học
Máy tính được sử dụng trong giáo dục từ những năm 1970 và đã trở thành công cụ không thể thay thế được trong sự phát triển không chỉ của giáo dục mà còn của các ngành: kinh tế, an ninh quốc phòng và nghiên cứu khoa học Nó trợ giúp được hầu hết những nhu cầu công việc từ đơn giản (ghi nhớ, tính toán) cho đến phức tạp nhất (điều khiển tự động, dự báo) Nhiều nước phát triển như Mỹ, Pháp, Anh, Nhật đã xác định chiến lược phát triển ứng dụng CNTT ở tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó một lĩnh vực quan trọng là giáo dục Họ đã đầu tư rất lớn để xây dựng các trung tâm máy tính, siêu máy tính điện tử cho các viện nghiên cứu và cho các trường học để nâng cao chất lượng giáo dục Nhật Bản đã xác định vai trò của máy tính dùng để
hỗ trợ quá trình giáo dục là rất quan trọng và đã đầu tư theo hướng này với tốc
độ phát triển nhanh chóng
Cùng với sự tăng cường hỗ trợ máy tính vào dạy học, các nước có nền giáo dục phát triển đều quan tâm đến phương pháp dạy học như thế nào để HS nhanh chóng lĩnh hội được tri thức cơ bản và tự học để hoàn thiện kiến thức Trong quá trình phát triển của máy tính điện tử không thể không kể đến vai trò của các phần mềm hệ thống và ứng dụng Có thể khẳng định rằng phần mềm máy tính chính là yếu tố làm thay đổi hẳn một khối vật chất phần cứng tầm thường, biến nó trở thành một công cụ có sức mạnh, hiệu quả trong mọi công việc từ tính toán cho đến quản lý, điều khiển thay cho con người Hầu hết người sử dụng máy tính trên thế giới đã quen với các phần mềm nổi tiếng như Microsoft Office, Internet Explorer, Yahoo, Google Từ nửa sau của thế
Trang 169
kỉ 20 sự phát triển của CNTT đã tiến những bước nhảy vọt Các phần mềm ứng dụng ngày càng được sử dụng nhiều hơn và ngày càng phát huy thế mạnh của chúng trong lĩnh vực kinh tế, kĩ thuật, khoa học và giáo dục Nhiều phần mềm ứng dụng trong dạy học đã lần lượt ra đời
Với thế mạnh về kinh tế và trình độ kĩ thuật, các nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Australia, Ấn Độ đã đầu tư nghiên cứu xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều phần mềm dạy học về mô phỏng, thí nghiệm ảo trong dạy
và học nhiều môn học ở trường phổ thông và cho kết quả tốt như:
- Đề án: “ Tin học cho mọi người” năm 1970 do Pháp xây dựng
- Chương trình MEP (Microelectronics Education Programe) năm 1980
Hiện nay, có phần mềm hỗ trợ dạy và học các môn học ở mọi cấp học, trong đó có các phần mềm về lĩnh vực Sinh học như:
- Phần mềm Biology trong Encatra, Wikipedia (Từ điển Bách khoa toàn thư) gồm các kiến thức về phân loại thực vật, phân loại động vật, giải phẫu sinh lý, quá trình phát triển phôi sớm
- Phần mềm trong www.dnatb.org xây dựng một số một số cấu trúc, cơ chế của sự di truyền như phiên mã, dịch mã, cấu trúc nhiễm sắc thể
Trang 1710
- Các phần mềm hình ảnh, phim mô phỏng sinh động, có giá trị khoa học trong hầu hết các website chuyên ngành Sinh học của các trường đại học và phổ thông trên thế giới
Sự ra đời Internet đã kết nối toàn cầu thành một hệ thống thông tin khổng
lồ làm cho việc trao đổi thông tin không chỉ là đơn lẻ một khu vực hay quốc gia mà rộng khắp thế giới Các thông tin thời sự và các kết quả nghiên cứu khoa học được cập nhật nhanh nhất, trực tiếp từ phòng thí nghiệm đến khắp thế giới Các ngôn ngữ lập trình cũng được phát triển và hoàn thiện gần gũi với ngôn ngữ tự nhiên hơn tạo điều kiện cho việc phát triển các ứng dụng trên nền tảng phần cứng nhanh nhất và thuận tiện nhất
1.1.2 Thành tựu áp dụng CNTT trong dạy học tại các nước
Xu hướng ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay đã đạt được nhiều thành tựu lớn, trong đó chiến lược đang được tập trung hàng đầu của các quốc gia mạnh về CNTT là đào tạo từ xa - dạy học điện tử (E-learning) [36]
Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường ở Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004 E-learning không chỉ được triển khai ở các trường học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng
Trang 18Ngoài việc tích cực triển khai E-learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning Điển hình
là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu Euro-SPACE Đây là mạng learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ -Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, con người… phù hợp với nhu cầu học của sinh viên đại học, học viên sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu
E-Tại Châu Á, mặc dù vẫn còn một số rào cản tạm thời về luật pháp, cơ sở
hạ tầng cũng như sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu Á, learning đang dần khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của mình
E-Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại Châu Á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp và dùng để đào tạo nhân viên Tuy nhiên việc ứng dụng E-learning trong giáo dục và đào tạo bậc phổ thông hiện nay vẫn chưa phát triển mạnh, chưa khẳng định vai trò chủ đạo trong dạy học do bị lầm lẫn với các hình thức dạy học khác có sự hỗ trợ của máy vi tính
Trang 1912
1.2 Tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học ở Việt Nam
1.2.1 Quá trình đưa CNTT vào dạy học tại Việt Nam
Từ những năm 1960, nước ta đã bắt đầu sử dụng máy tính điện tử Hội đồng Chính phủ đã ra nghị quyết số 173- CP (1975) và 245- CP (1976) về tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong cả nước Sau đó Viện CNTT được thành lập và bắt đầu triển khai những đề án nghiên cứu ứng dụng CNTT, đưa tin học vào nhà trường
Ở Việt Nam, phong trào E-learning thực chất đã chớm nở từ những năm
90 với hàng loạt phần mềm hỗ trợ đào tạo do các công ty tin học sản xuất Trong đó có thể kể đến là công ty Công nghệ tin học nhà trường School@Net với các sản phẩm phục vụ đào tạo trong nhà trường
Từ năm 2001, E – learning tại Việt Nam đã có bước tiến đáng kể Mở đầu là việc thành lập một nhà trường ảo “Fihou CyberSchool” đặt trên website www.fithou.net.vn và bắt đầu tuyển sinh ngành CNTT
Một số đơn vị khác như Đại học Mở Hà Nội, Học viện Bưu chính viễn thông, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng bắt đầu đào tạo trực tuyến về CNTT-viễn thông
Đến tháng 11/2004, ngành GD - ĐT đã xây dựng một cổng E-learning chính thức tại địa chỉ http://el.edu.net.vn Sự kiện này đã tạo một cú hích đối với lĩnh vực E- learning còn khá mới mẻ tại Việt Nam Cổng do Trung tâm Tin học Bộ GD&ĐT tự thiết kế trên công nghệ Web Conferencing, sử dụng
mã nguồn mở Cổng được xây dựng nhằm mục đích tuyên truyền phổ cập công nghệ, nghiên cứu thử nghiệm và tuyển chọn các phần mềm E-learning thích hợp, đã Việt hoá (phần mềm mã nguồn mở Moodle) và đến nay đã có khoảng 70 trường Đại học, Cao đẳng sử dụng Cục CNTT sẽ tổ chức chuyển giao các phần mềm công cụ tạo bài giảng đạt chuẩn quốc tế, phù hợp với yêu cầu Việt Nam cho các Sở GD&ĐT
Trang 2013
Hiện nay tại Bộ GD&ĐT đã kết nối đường cáp quang 34 Mbps trong nước và 2 Mbps đi quốc tế Viettel cung cấp gói Net+ (gói chất lượng cao nhất) tới các cơ sở giáo dục Kết nối cáp quang từ Bộ về các Sở giáo dục và đào tạo với băng thông 4 Mbps Ba bên (Cục CNTT, các Sở GD&ĐT và Viettel) sẽ phối hợp lên danh sách các cơ sở giáo dục khó khăn để có chính sách hỗ trợ kết nối Các cơ sở giáo dục hưởng lợi từ dịch vụ ưu đãi này sẽ bao gồm các trường phổ thông và cả các trường mầm non, mẫu giáo, các trung tâm giáo dục cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường dạy nghề, các Phòng giáo dục
1.2.2 Hiện trạng sử dụng CNTT trong dạy học nói chung và day học môn Công nghệ 10 nói riêng tại Việt Nam hiện nay
Ứng dụng truyền thông đa phương tiện trong dạy học các môn học nói chung [4] và môn Công nghệ 10 nói riêng là một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở các trường phổ thông vẫn còn
nhiều hạn chế do trình độ cũng như trang thiết bị còn thấp và thiếu Vì vậy phương pháp dạy học truyền thống vẫn chiếm ưu thế (việc dạy và học bằng phần mềm dạy học vẫn chưa được sử dụng nhiều, có chăng cũng chỉ ở mức ở các thành phố lớn hay các trung tâm, thị xã)
Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng đã có những thành tích đáng kể trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học và công việc này ngày càng nhận được sự quan tâm và phổ biến rộng rãi
Công nghệ là một môn khoa học ứng dụng mang tính thực tiễn cao và
để dạy học tốt môn học này cần có những phương tiện dạy học hỗ trợ Chính
vì vậy, trong những năm gần đây khoa Vật lý, khoa Sinh - KTNN đã đặc biệt chú ý đến việc nghiên cứu ứng dụng tin học coi đây là một trong những hướng đổi mới phương pháp dạy học CNTT - một phương tiện dạy học hiện
Trang 2114
đại hữu hiệu trong dạy học bộ môn khoa học này cũng như các môn khoa học khác Trong số đó cần phải kể đến sự đóng góp đáng kể của tập thể cán bộ giảng dạy, học viên cao học và sinh viên khoa Vật lý, khoa Sinh – KTNN trong thập kỉ đầu tiên của thế kỉ XXI dưới sự hướng dẫn của các tác giả Nguyễn Văn Hồng, Lê Bá Tứ và một số tác giả khác…
Hiện nay, ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy được thực hiện theo những xu hướng sau đây:
a Sử dụng CNTT như là một công cụ của người dạy
Đây có lẽ là hình thức đang được sử dụng tương đối phổ biến ở nước ta Người dạy thiết kế bài giảng, các hoạt động dạy học thông qua các phần mềm như PowerPoint, Frontpage, Acrobat Các phần mềm này được sử dụng cho các bài giảng kiến thức đơn giản Sự tích hợp của các kiến thức là không cao, vai trò của người học rất thụ động, vai trò của người dạy được chủ động và mang tính tích cực theo nghĩa một chiều Xu hướng này thường dành cho các giáo viên không thuộc giáo án, ngại viết bảng, thích thuyết trình, không đánh giá đúng kết quả học tập của người học và làm giảm độ tích cực của người học trong quá trình lên lớp Chỉ có một lợi thế của xu hướng này là
hạ tầng cơ sở cũng như các thiết bị công nghệ không đòi hỏi quá cao so với hiện nay
b Sử dụng CNTT như là một phương tiện cho giáo viên và học sinh tương tác trong quá trình dạy và học
HS sử dụng CNTT như là một kênh để phản hồi thông tin của bài giảng đến thầy giáo, đồng thời như là một sự phản biện tích cực trong sự tương tác 2 chiều giữa thầy và trò Giáo viên sử dụng CNTT viết kịch bản bài giảng, thiết
kế bài giảng và đạo diễn giờ giảng với sự hợp tác của HS Các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại được phối hợp đồng bộ trong tiến trình dạy
và học Đây là xu hướng được một số giáo viên cải tiến phương pháp dạy học
Trang 2215
theo hướng tích cực đang theo đuổi ở các trường Đa số các trường có trang bị đầy đủ các phòng máy chuyên đề với những trang bị phương tiện kỹ thuật tương đối hiện đại thường đi theo xu hướng này
c Sử dụng CNTT để tạo ra một môi trường học tập mới mẻ, tạo nên một sự
đa dạng về hình thức, phong phú về mặt phương pháp
Xu hướng này chuyển vai trò chủ động hầu như ở phía người học, người thầy chỉ đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn Người học chủ động trong học tập
về mặt thời gian, địa điểm, cách thức Ta có thể hình dung đây là môi trường xây dựng một trường ảo, lớp ảo phục vụ cho việc học thật Xu hướng này được áp dụng hầu hết ở các nước có nền giáo dục phát triển mạnh như Hoa
Kì, Nhật Bản, Anh, Úc, v.v… Ở nước ta hiện nay cũng đang manh nha một số hình thức học tập lớp ảo, trường ảo, đào tạo qua mạng… Đa số các trường vẫn chưa trang bị đầy đủ để đáp ứng cho nhu cầu dạy học kiểu này Nên chăng các giáo viên khai thác xu hướng này theo những hình thức gọn gàng hơn như học tập qua mạng, thi cử, báo cáo qua mạng… cho lớp hoặc bộ môn mình đang giảng dạy Cấp lãnh đạo cũng cần phải quan tâm nhiều hơn đến xu hướng mới mẻ này vì nó mở ra một vận hội lớn cho việc học tập của mọi người và học tập suốt đời
Trong môi trường giáo dục và đào tạo ở bậc THPT, xu hướng thứ 2 và thứ 3 sẽ trở thành những hướng đi chính nhằm thay đổi hoàn toàn phương thức dạy học hiện nay, đưa HS trở về đúng với vai trò “trung tâm” trong dạy học mà các em đáng được thụ hưởng Với mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học như hiện nay, hầu hết các trường THPT trên cả nước đều có khả năng thử nghiệm và phổ biến 2 hình thức dạy và học này
Trong thời gian gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong dạy học Sinh học và công nghệ ở trường THPT Cụ thể là:
Trang 2316
- Năm 2002, Dương Tiến Sỹ và cộng sự đã sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint thiết kế các trình phim dạy khái niệm môi trường và các nhân tố sinh thái [30] Tác giả đã thiết kế được một sơ đồ hoàn chỉnh bao gồm các nhân tố sinh thái tác động vào đời sống cây xanh, các nhân tố đó được xếp vào nhóm nhân tố vô sinh, nhân tố hữu sinh, nhân tố con người Các câu hỏi được khắc hoạ cùng sơ đồ, hình ảnh, giúp HS tích cực suy nghĩ để giải quyết vấn đề mà GV đặt ra cho HS say mê, tích cực tìm tòi tự chiếm lĩnh kiến thức mới và phương pháp chiếm lĩnh kiến thức đó Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Văn Hồng đã sử dụng phần mềm Powerpoint thiết kế các giáo án hướng dẫn
tự học trong dạy học Sinh học [16], đây là hướng nghiên cứu hay vì đã sử dụng một phần mềm phổ biến, dễ học dễ làm giúp GV tạo các bài giảng nâng cao tính tự lực học tập cho HS, đưa HS vào thế “chủ động” với hoạt động nhận thức Ngoài ra cũng cần kể đến tác giả Nguyễn Văn Hiền đã xây dựng một quy trình thiết kế bài dạy Sinh học bằng phần mềm Microsoft Powerpoint [13] Quy trình này giúp GV linh hoạt hơn trong việc thiết kế một bài giảng theo hướng tích hợp đa phương tiện tạo những bài giảng sống động, gây hứng thú học tập cao cho HS Các tác giả khác như Tạ Thị Thu Hiền, Huỳnh Thị Ái Tâm, Lê Thị Tâm, Lê Cao Thắng (2007), Dương Thanh Tú (2009) cũng đã xây dựng những quy trình thiết kế bài giảng bằng Powerpoint theo hướng tích hợp TTĐPT với các phần kiến thức khác nhau trong chương trình Sinh học bậc THPT [14], [32], [33], [35], [37]
- Một số tác giả khác như Nguyễn Đình Tâm (2008), lại sử dụng phần mềm Macromedia Flash để thiết kế các mô hình động trong dạy học Sinh học Tế bào, hay Hoàng Thị Quyên (2009) sử dụng phần mềm Powerpoint xây dựng mô hình động trong dạy học Sinh lý thực vật Việc ứng dụng các phần mềm công cụ
để “động hóa” các hình ảnh tĩnh trong SGK giúp HS có sự quan sát tỉ mỉ và hiểu sâu kiến thức hơn, phần nào nâng cao hiệu quả dạy học Sinh học [34], [29]
Trang 24tự đánh giá kết quả học tập của mình một cách khách quan, nhanh chóng, chính xác và hiệu quả Cùng ứng dụng phần mềm công cụ Emp-test còn có Hoàng Phùng Xuân (2008) đã xây dựng ngân hàng câu hỏi hỗ trợ kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS lớp 10 giúp tăng hiệu quả dạy học [39]
- Ngoài ra còn có rất nhiều phần mềm, website hỗ trợ dạy học Sinh học được sản xuất bởi các công ty tin học, công ty thiết bị giáo dục cũng góp phần tạo nên một ngân hàng dữ liệu phong phú cho dạy và học bộ môn
Nhìn chung, những phần mềm dạy học ở Việt Nam chủ yếu là các bài giảng điện tử được thiết kế trên máy tính bằng các phần mềm công cụ như: PowerPoint, Frontpage, CHM Editor, Flash, Violet và được trình chiếu khi tiến hành bài giảng, có khả năng lồng ghép một số hình ảnh và âm thanh sinh
Trang 2518
động Nhưng mới chỉ có một số giáo viên có thể tự thiết kế nhờ trình độ tin học tương đối vững vàng, và cũng chỉ sử dụng trong những giờ thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi và những giờ thực nghiệm…Hiệu quả ứng dụng của các phần mềm này chưa cao vì tính tương tác còn yếu, chưa tạo điều kiện cho HS chủ động khai thác kiến thức vì còn phụ thuộc nhiều vào cách tổ chức học tập khi sử dụng phần mềm (phần lớn vẫn là GV cung cấp sẵn, “bắt” HS học theo) Nếu mong muốn cho học sinh tự học tốt trên lớp hoặc ở nhà thì phần mềm này không đạt được, hoặc phải tìm hướng khai thác tối ưu nhất cho loại PTDH này
Phân tích ưu nhược điểm của các phần mềm được sử dụng phổ biến hiện nay ở trường phổ thông dựa trên các tiêu chí mà GV chọn lựa khi sử dụng để thiết kế bài giảng điện tử, chúng tôi thu được kết quả (Bảng 1.1) như sau:
Bảng 1.1: Đáp ứng của phần mềm với yêu cầu của GV
Tiêu chí mong muốn
Khả năng đáp ứng của phần mềm
Microsoft Powerpoint
Microsoft Frontpage Violet
CHM Editor Moodle
Lecture Maker
Trang 26qua cuộc thi “Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e-Learning năm học 2009-2010
và năm học 2011-2012” Vì vậy chúng tôi lựa chọn sử dụng phần mềm
Lecture Maker trong việc thiết kế các bài giảng tích hợp TTĐPT trong đề tài nghiên cứu này
Mặc dù đã có nhiều phần mềm được đưa vào sử dụng, nhưng những phần mềm có mục đích hỗ trợ GV đổi mới cách dạy và giúp HS tự học vẫn chưa được nghiên cứu và thiết kế rộng rãi Thực tiễn của các trường THPT hiện nay cho thấy rằng: việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại của giáo viên dạy học môn Công nghệ chưa thường xuyên và chưa có hiệu quả cao Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học
CN 10 của 30 giáo viên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên kết quả được phản ánh trong bảng 1.2 dưới đây :
Trang 27Đánh giá chung: Hầu hết giáo viên đã sử dụng phần mềm MS Word
nhưng tỉ lệ chưa thành thạo vẫn cao (33,3%), Power Point là phần mềm được
sử dụng khá nhiều nhưng mức độ thành thạo còn thấp (50%), Phần mềm LectureMaker tỉ lệ sử dụng còn ít (6,7%)
Như vậy có thể đánh giá khả năng ứng dụng tin học của đa số các GV Công nghệ là còn hạn chế Đặc biệt là việc nghiên cứu ứng dụng phần mềm Lecture Maker
Chúng tôi thiết nghĩ rằng: Lecture Maker là một trong những phần mềm
đa tiện ích, dễ sử dụng, chuẩn scoria và miễn phí nếu như giáo viên nghiên cứu và ứng dụng nó trong dạy học thì sẽ mang lại nhiều lợi ích mà nhiều giáo viên và học sinh mong muốn Đây cũng là ý tưởng quyết định lựa chọn phần mềm này trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi
Trang 28CNTT đã hỗ trợ nâng cao chất lượng và hiệu quả cũng như đổi mới PPDH thể hiện ở các điểm:
a) Về nội dung: CNTT và truyền thông giúp GV đề cập và truy xuất được nhiều nội dung trong quá trình dạy học, hỗ trợ giáo trình, tài liệu cho
GV, HS; đưa nội dung ổn định và phong phú lên mạng truyền dữ liệu, kết hợp
tư liệu cần thiết với nội dung chính thống đã có trong giáo trình
Trang 2922
b) Về phương pháp:
- Đối với GV: ICT tạo điều kiện cho GV tiếp cận nhiều phương pháp, cách thức đưa nội dung đến với HS- HS như phát hiện vấn đề qua kết quả sử dụng mô hình, biểu bảng, tính toán nhờ CNTT; chứng minh các kết luận trong điều kiện thực hành thí nghiệm thực tế khó có thể tổ chức thông qua các thí nghiệm ảo trên máy tính CNTT giúp GV tích hợp nhiều nội dung trong DH nhờ các kỹ thuật liên kết, kỹ thuật sử dụng các phần mềm cho phép hiện hoặc
ẩn các nội dung phù hợp trong quá trình DH Việc sử dụng công nghệ DH theo chương trình hoá hoặc Trung tâm học tập trực tuyến góp phần quan trọng tạo môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, hoạt động nhóm trong quá trình DH
- Đối với HS, CNTT góp phần cá nhân hoá người học, giúp cho việc học tập liên môn, xuyên môn, học cá nhân trên cơ sở “cầu” chứ không phải trên
cơ sở “cung”, theo hướng lấy người học làm trung tâm chứ không phải lấy
GV làm trung tâm
- Sử dụng ICT, đa phương tiện (multimedia) trong DH góp phần thực hiện đổi mới PPDH trên ba lĩnh vực then chốt: gia tăng đáng kể vai trò chủ động của HS - HS trong việc tiếp cận kiến thức và do đó nhấn mạnh phương pháp học để chiếm lĩnh tri thức; áp dụng sư phạm phân hoá để đáp ứng thực tiễn không đồng nhất của HS - HS thông qua việc HS tự học; thực hiện liên môn, liên ngành về nội dung thông qua việc thu thập thông tin có bản chất khác nhau và xử lý nó bằng sự hỗ trợ đa phương tiện
c) Về thái độ: ICT góp phần gây hứng thú cho HS-HS nhờ các mô hình, hình ảnh phong phú, đa dạng, thể hiện trạng thái động của sự vật, hiện tượng
mà trong thực tế về điều kiện không gian, thời gian khó có thể diễn tả được d) Về đánh giá: khách quan hoá quá trình đánh giá qua việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan, đặc biệt người học có thể tự đánh giá qua các nội dung và bài tập do GV thiết kế trong từng học phần, qua sử dụng trung
Trang 3023
tâm học tập trực tuyến, góp phần thực hiện đổi mới PPDH ở bậc phổ thông Nhận thức được vai trò to lớn của việc áp dụng CNTT và truyền thông trong DH, Đảng và Nhà nước đã rất coi trọng ứng dụng CNTT, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của CNTT và các phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết Nghị quyết Trung ương II khoá VIII của Đảng đã khẳng định tiêu chí đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2020 của Bộ Giáo dục – Đào tạo yêu cầu ngành giáo dục phải phát triển giáo dục dựa trên CNTT [25]
Hầu hết các trường THPT hiện nay đều có sự đầu tư mạnh về hệ thống phòng học có trang bị máy vi tính, máy chiếu đa năng, thậm chí có những trường có hẳn những phòng chuyên biệt được trang bị dàn máy tính cấu hình cao Tuy nhiên, phần lớn chúng chỉ mới được sử dụng như một công cụ trình chiếu hay chỉ sử dụng dạy riêng cho môn Tin học Mặt khác trong điều kiện ít
ỏi về đầu tư trang thiết bị thì vấn đề người quản lý và sử dụng tốt các trang thiết bị hiện có cũng đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng Đây là điều mà các trường hoàn toàn có thể khắc phục và chuyển đổi nhằm khai thác tối đa thế mạnh CNTT của mình vào dạy học tất cả các môn học trong nhà trường
Trang 3124
sản phẩm của công nghệ thông tin, mua sắm đủ số lượng và đúng chất lượng những thứ cần dùng, nhưng phải biết sử dụng chúng một cách chuyên nghiệp Trong thực tế, cũng có nhiều trường hợp người ta dễ dàng thay đổi các thiết bị sau một thời gian ngắn sử dụng hoặc là ném tiền vào các sản phẩm được mua sắm một cách sai lầm
Nhìn chung, các trường phổ thông ở các quốc gia giàu có trang bị rất tốt cho giáo viên và HS cả về phần cứng lẫn phần mềm Hầu hết các nhân viên làm việc trong lĩnh vực học thuật ở Hoa Kỳ được trang bị máy tính ở nơi làm việc Tương tự, các học giả ở Anh Quốc có tài khoản cá nhân trực tiếp để
sử dụng thiết bị phần cứng và các chương trình phần mềm (OECD 2001) Kết quả này có thể có được từ mối quan hệ hợp tác tốt giữa trường phổ thông và các cơ quan nghiên cứu, chuyên môn
Việc cấp tài khoản để giáo viên và HS có thể tìm được sách điện tử và tài liệu, tạp chí chuyên ngành trên mạng giúp tiết kiệm tiền bạc, thời gian, công sức quản lý hơn là mua sách về xếp đầy các giá sách của thư viện, nhưng chúng
sẽ có ít hiệu quả hơn nếu họ không được tập huấn rõ về cách thức sử dụng
1.3.2.2 Vấn đề đầu tư cho công nghệ và định hướng sự phát triển giáo dục phổ thông:
Việc thay đổi một cách căn bản cách thức quản lý tri thức đang tạo ra một thách thức khác Quản lý tri thức không chỉ đề cập đến việc thiết lập một
hệ thống thông tin và chuyển giao thông tin, mà là vấn đề thông tin đã được tinh luyện thành kiến thức như thế nào và kiến thức đó được sử dụng như thế nào để có hiệu quả tốt Kiến thức thì phải cô đọng và khái quát hơn là thông tin Chẳng hạn như thông tin đã giúp đưa đến một phán đoán có giá trị, hay là thông tin đã mang lại một lợi ích thực tế nào đó, hoặc một cách ứng dụng cụ thể của thông tin, tất cả bao hàm trong vấn đề đang được nói đến Nó có mối liên quan với các câu hỏi như: Kiến thức là gì? Kiến thức được phát triển theo
Trang 32Chúng ta biết rằng kiến thức đã có thể được định hình và được vận dụng
mà không cần sử dụng công nghệ thông tin Các trường phổ thông đã quản lý tri thức hàng trăm năm mà không dùng công nghệ thông tin Thế nhưng, trong thập kỷ vừa qua, công nghệ thông tin đã chứng tỏ ưu thế vượt trội của mình như là một công cụ hữu hiệu để quản lý tri thức Vì thế, thách thức công nghệ chủ yếu đối với giáo dục phổ thông là phải tập trung vào công nghệ mà không xao lãng tri thức, không xao lãng việc tạo thành kiến thức, việc chọn lọc và ứng dụng kiến thức (S Bach 2006) Công nghệ thông tin phải được sử dụng theo hướng tăng thêm tiện ích phục vụ cho tiến trình này hơn là làm suy giảm hay gây ra cản ngại Việc tìm kiếm tri thức phải được đặt ra trước tiên, trước vấn đề về công nghệ
S Brown và P Duguid (2000) cho rằng vai trò trọng tâm của giáo dục phổ thông trong thời đại thông tin là phê duyệt kiến thức Trong khi Internet
đã làm tốt việc sắp xếp và chia sẻ thông tin, giáo dục phổ thông cũng không bị tước mất đi vai trò định nghĩa và phân loại về mức độ quan trọng của các sản phẩm thuộc về kiến thức Hơn nữa, có thể nói vai trò của giáo dục phổ thông trong việc quản lý tri thức sẽ trở nên khó khăn phức tạp hơn, đây là thách thức rất quan trọng với tính chất là vấn đề tiên phong, dẫn đường cho sự phát triển giáo dục phổ thông
Trang 33Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một
số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà
cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho học sinh
Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương pháp dạy học này làm hạn chế những
Trang 3427
nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó
Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách
Trang 3528
Hiện nay Bộ GD-ĐT Việt Nam cũng đang khuyến khích các trường và giáo viên sử dụng phần mềm này trong việc soạn bài giảng và ứng dụng E – Learning trong giảng dạy
Phần mềm Lecturemaker có giao diện thân thiện dễ sử dụng, cho phép chúng ta tạo các bài giảng gồm nhiều chất liệu đầu vào như: File PowerPoint, trang Wed, Audio, Flash, đoạn phim, đoạn âm thanh …
Ngoài ra chương trình cũng cho phép ta tạo ra các trắc nghiệm tương tác, các câu trả lời ngắn…
- Ngoài ra chúng ta sẽ có sẵn các mẫu Frame được thiết kế sẵn với các hình ảnh, màu sắc, các khung chữ cho Tex box, video, flash…
- Ta cũng có thể tạo hiệu ứng (Animation) cho Text, hình ảnh hoặc quá trình di chuyển giữa các Frame
- Điểm mạnh của LectureMaker so với PowerPoint là cho xuất ra nhiều dạng File (bao gồm cả File tự chạy), các gói SCORM, Import, các File Flash
dễ dàng, tạo trắc nghiệm tương tác, vẽ đồ thị, hình ảnh, chèn các nút nhấn… đặc biệt nhất là nó cho các phần mềm khác “nhúng” vào nó một cách dễ dàng, chuẩn xác, chân thật và nhanh lẹ Đây cũng là ưu điểm nổi bật đã thu hút được rất nhiều tác giả quan tâm đến nghiên cứu và sử dụng nó
1.4.1.3 Các chức năng chính
- Nếu chúng ta đã từng biết đến Master Slide trong PowerPoint thì khái niệm Master Frame trong LectureMaker cũng như vậy Xây dựng Master
Trang 36- Đa dạng nội dung đa phương tiện: Có thể chèn nhiều nội dung đa phương tiện vào bài giảng của mình như: hình ảnh, video, âm thanh, Flash…
- Điều khiển video: video có thể được sử dụng như một phần của bài giảng Nếu chúng ta muốn hãy đánh dấu những phần xác định trong đoạn phim và dễ dàng di chuyển tới vùng mong muốn
1.4.1.4 Các tính năng đặc biệt
- Thiết kế và phác thảo mẫu trình bày: cung cấp sẵn nhiều mẫu trình bày, nhiều dạng bài e – learning với sự kết hợp các mẫu trình bày được cung cấp như PowerPoint, hay kết hợp giữa Video và Text, âm thanh và text… có thể tạo ra một cách dễ dàng
- Nút tương tác: các nút định vị trước được sử dụng trong soạn thảo nội dung nhằm tăng khả năng tương tác học tập
- Bài giảng sinh động: Với việc sử dụng wedcame, microphone, chức năng điện tử, bài giảng có thể soạn thảo một cách hiệu quả và sáng tạo bằng cách ghi hình, ghi âm và đồng bộ bài giảng
Trang 3730
1.4.2 Giới thiệu phần mềm Lecturemaker
1.4.2.1 Giới thiệu giao diện
Vùng 1: Chứa các Menu và nút lệnh của chương trình
Vùng 2: Chứa danh sách các Frame trong bài giảng
Vùng 3: Frame đang thao tác
Vùng 4: Danh sách các đối tượng (âm thanh, hình ảnh, văn bản, File Flash…)
1.4.2.2 Menu Lecture Maker (hình cây bút) chứa các mục
New: tạo File mới
Open: mở các File LectureMaker
Close: đóng các File đang thao tác
Save: lưu File (File sẽ có phần mở rộng lme)
Save as: lưu File đang thao tác dưới các định dạng
khác nhau như: Wedpage, exe, gói SCORM…
Information: thông tin về bản quyền, cập nhật
Trang 3831
1.4.2.3 Menu Home: chứa các mục
Clipboard: dành cho các thao tác cắt, dán, copy…
Frame: dành cho các thao tác xóa, copy, nhân đôi Frame, thêm Frame
mới
Font: dành cho các thao tác như: đổi Font, thay màu chữ, chữ in đậm,
gạch dưới, in nghiêng…
Paragraph: thao tác các căn chỉnh với các đoạn văn bản
Draw: vẽ các đoạn thẳng, hình tròn, hình góc cạnh, tô màu hình, tô màu
đường viền
Edit: thao tác căn chỉnh đối tượng, nhóm đối tượng, sắp xếp trật tự các
lớp, thao tác quay lại…
1.4.2.4 Menu Insert: chứa các mục
Object: dùng để chèn các đối tượng vào bài giảng như: hình ảnh, đoạn phim, âm thanh, File Flash, nút nhấn, trang Wed, File PDF, File PowerPoint, hộp thông báo…
Recording: dùng để ghi lại bài giảng, âm thanh…
Editor: chèn công thức toán học, biểu đồ, đồ thị, hình ảnh tự vẽ…
Trang 3932
Quiz: chèn các câu trắc nghiệm ngắn hoặc nhiều lựa chọn
1.4.2.5 Menu Control chứa các mục
Object control: dùng để thay đổi, điều khiển các thuộc tính của đối
tượng
Frame Control: dùng để ghi lai bài giảng, âm thanh
Change Format: convert định dạng các File video, âm thanh…
Frame Transition Effect: tạo hiệu ứng, chuyển cảnh khi di chuyển giữa
các Frame
1.4.2.6 Menu Design chứa các mục
Frame Setup: dùng để thay đổi, điều chính các thuộc tính của Frame
Design: các mẫu hình nền có sẵn trong chương trình
Layout: các mẫu bố trí sẵn các khung giữ chỗ cho các File hình ảnh,
Trang 4033
Lưu ý: Trong mục Template thường sẽ có các bộ Template gồm một
Template cho Frame tiêu đề và 3 Template cho các Frame còn lại trong bài giảng
Ví dụ: Template có tên Aqua 0 dùng cho Frame tiêu đề, Template Aqua
1, Aqua 2, Aqua 3 dùng cho các Frame trong bài giảng
1.4.2.7 Menu View chứa các mục
Run Frame: dùng để chạy các bài giảng, có nhiều chế độ: chạy toàn bài, chạy từ Frame hiện hành, chạy toàn màn, chạy dưới dạng Wed
View Frame: các chế độ xem Frame, phóng to Frame để xem
Master Frame: chế độ thiết lập và chỉnh sửa cho Frame Master (đây là Frame làm mẫu cho toàn bộ các Frame khác trong bài)
View HTML Tag: xem các Tag trong mã HTML
Show/Hide: hiện/ẩn khung lưới, thước, thanh trạng thái
Windows: sắp xếp các cửa sổ của bài giảng khác nhau đang cùng được
mở
1.4.2.8: Menu Format dùng để điều chỉnh, thay đổi các thuộc tính của đối tượng
Khi muốn điều chỉnh thuộc tính của một đối tượng như văn bản, File Flash, hình ảnh, đoạn phim,… ta nhấp chuột vào đối tượng lúc đó Menu Format của đối tượng sẽ hiện nay ra.Trong menu Format, ta sẽ có các mục để