1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đa dạng sinh học ốc cạn land snails ở khu vực xã la hiên huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

171 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 6,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu về thành phần loài ốc cạn góp phần cho thấy sự đa dạng sinh học ở khu vực và những tác động của môi trường xung quanh đến môi trường sống của chúng.. Ý nghĩa khoa học

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THANH BÌNH

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ỐC CẠN

(LAND SNAILS) Ở KHU VỰC XÃ LA HIÊN,

HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THANH BÌNH

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ỐC CẠN

(LAND SNAILS) Ở KHU VỰC XÃ LA HIÊN,

HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Hoàng Ngọc Khắc

2 TS Hoàng Văn Ngọc

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA

KHOA CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN CỦA TẬP THỂ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 TS Hoàng Ngọc Khắc

2 TS Hoàng Văn Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn trước tiên tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo

TS Hoàng Ngọc Khắc và TS Hoàng Văn Ngọc đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt kiến thức thực tế, phương pháp luận, đôn đốc kiểm tra trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới UBND xã và người dân xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã tạo diều kiện giúp đỡ, cung cấp những tài liệu, thông tin cần thiết cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, các thầy cô giáo, các cán bộ, nhân viên trong khoa đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày 26 tháng 10 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thanh Bình

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn “Nghiên cứu đa dạng sinh học ốc cạn (Land

nghiên cứu thực sự của riêng tôi, thực hiện trên cơ sở nghiên cứu thực địa ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Ngọc Khắc và TS Hoàng Văn Ngọc Các số liệu về kết quả của luận văn là trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất

cứ công trình nghiên cứu nào khác

Thái Nguyên, ngày 26 tháng 10 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thanh Bình

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt iv

Danh mục bảng v

Danh mục hình vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về ốc cạn 4

1.1.1 Đặc điểm phân loại 4

1.1.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái học 8

1.2 Lịch sử nghiên cứu ốc cạn 10

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ốc cạn trên thế giới 10

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ốc cạn ở Việt Nam 13

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 18

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 18

2.2 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 20

2.2.1 Phương tiện nghiên cứu 20

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

Trang 7

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC

NGHIÊN CỨU 26

3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 26

3.1.1 Vị trí địa lý 26

3.1.2 Một số nét khái quát về địa chất và địa hình 26

3.1.3 Khí hậu, thủy văn 28

3.1.4 Tài nguyên rừng [4] 29

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 29

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Thành phần loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 31

4.1.1 Cấu trúc thành phần loài ốc cạn 31

4.1.2 Mối quan hệ thành phần loài ốc cạn ở KVNC với các khu vực lân cận 47

4.2 Đặc điểm phân bố của ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 51

4.2.1 Phân bố theo sinh cảnh 51

4.2.2 Phân bố theo độ caso 56

4.3 Vai trò của ốc cạn 60

4.3.1 Về giá trị làm thực phẩm 60

4.3.2 Về giá trị Y dược 62

4.3.3 Vai trò gây hại của ốc cạn 63

4.3.4 Định hướng nghiên cứu và sử dụng 64

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC PL1

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Địa điểm, thời gian, tọa độ, độ cao ở KVNC 18

Bảng 4.1 Tỷ lệ (%) của các giống ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 36

Bảng 4.2 Độ phong phú (P%) của các loài ở khu vực nghiên cứu 40

Bảng 4.3 Thành phần và tần số xuất hiện của các loài ốc cạn ở KVNC 42

Bảng 4.4 So sánh thành phần loài ốc cạn ở KVNC với các khu vực lân cận 49

Bảng 4.5 Tỷ lệ (%) các loài ốc cạn phân bố theo sinh cảnh ở KVNC 51

Bảng 3.6 Các tuyến có độ cao khác nhau trong khu vực nghiên cứu 56

Bảng 4.8 Danh sách các loài ốc cạn có giá trị và gây hại 63

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Các địa điểm thu mẫu tại xã La Hiên, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 19

Hình 2.2 Đặc điểm cấu tạo ngoài của vỏ ốc cạn 23

Hình 4.1 Sơ đồ cấu trúc phân loại ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 32

Hình 4.2 Sự đa dạng về các bộ tại khu vực nghiên cứu 33

Hình 4.3 Tỷ lệ (%) cá thể của các bộ tại khu vực nghiên cứu 34

Hình 4.4 Tỷ lệ (%) của các họ ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 35

Hình 4.5 Số lượng loài phân bố ở các họ ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 35

Hình 4.6 Tỷ lệ (%) phân bố của các loài ốc cạn trong 3 sinh cảnh ở KVNC 55

Hình 4.7 Số lượng họ, giống, loài ốc cạn phân bố trong 3 sinh cảnh ở KVNC 55

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng và phong phú về thành phần loài cũng như số lượng Sự phong phú và đa dạng của khu hệ động vật đã góp phần tạo nên sự đa dạng này Động vật không xương sống nói chung, động vật Thân mềm nói riêng vô cùng đa dạng về hình thái, tập tính, sinh lý nên thích nghi với nhiều điều kiện môi trường sống khác nhau

Thân mềm (Mollusca) được biết đến với khoảng 130.000 loài, phân bố rộng khắp Trong ngành Thân mềm, lớp Chân bụng (Gastropoda) là lớp đa dạng và phong phú nhất, có khoảng 90.000 loài, chiếm khoảng 70% tổng số loài Thân mềm Lớp Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) là một trong 7 lớp thuộc Ngành thân mềm (Mollusca) có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái và giá trị thực tiễn đối với con người Trong lớp Chân bụng có 3 phân lớp: Phân lớp Mang trước (Prosobranchia), phân lớp Mang sau (Opisthobranchia) và phân lớp Có phổi (Pulmonata) Trong 3 phân lớp này, phân lớp Mang sau hoàn toàn ở biển, phân lớp Mang trước tỷ lệ loài sống ở nước chiếm phần lớn còn một số ở cạn, phân lớp Pulmonata sống trên cạn Trải qua sự tiến hóa hàng triệu năm của Thân mềm Chân bụng đã phát sinh nhiều loài và có số lượng loài phong phú chỉ đứng thứ hai sau lớp Côn trùng [2], [63] Đặc biệt nhóm ở cạn với các môi trường sống đặc trưng đã hình thành nên đa dạng cao Rất nhiều loài trong số chúng là nguồn thực phẩm quan trọng đối với con người [7] Trong hệ sinh thái, ốc cạn là thành phần không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn, đặc biệt với một số loài chim, loài thú

ăn thịt nhỏ Trong chu trình phân giải vật chất, ốc cạn là nhóm ăn thực vật bậc thấp và mùn bã ở tầng thảm mục Tuy nhiên nhiều loài trong số chúng là vật chủ trung gian, lan truyền gây bệnh cho con người và động vật [104] Ngoài ra, một số

loài có thể phá hoại mùa màng (ốc sên - Achatina fulica) [104] Ở Việt Nam các

Trang 12

nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng còn hạn chế, nhiều vùng chưa có dẫn liệu Các nghiên cứu tuy từ rất sớm nhưng kéo dài nhiều thế kỷ, kết quả nghiên cứu chưa phản ảnh đầy đủ về đa dạng, đặc trưng về hình thái, kích thước, phân loại, phân bố, giá trị trong thực tiễn

Các nghiên cứu cho thấy vùng núi đá vôi là nơi tập trung nhiều ốc cạn, kể cả

số lượng loài cũng như số lượng cá thể La Hiên là xã miền núi nằm ở phía Tây Nam của huyện Võ Nhai cách trung tâm huyện Võ Nhai 17 km Với địa hình là núi đá là chủ yếu nhưng cho đến nay vẫn chưa có nhiều các dẫn liệu về Thân mềm Chân bụng ở khu vực này Vì vậy, nghiên cứu về thành phần loài ốc cạn góp phần cho thấy sự đa dạng sinh học ở khu vực và những tác động của môi trường xung quanh đến môi trường sống của chúng

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh

học ốc cạn (Land snails) ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu ốc cạn ở xã La Hiên, huyện Võ Nhai tỉnh Thái nguyên, mối quan hệ giữa ốc cạn với môi trường và giá trị của nó ở khu vực này làm cơ sở dữ liệu cho chính quyền địa phương đề ra biện pháp quản lý và phát triển đa dạng sinh học nói chung và ốc cạn nói riêng

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu về đa dạng thành phần loài ốc cạn ở KVNC

- Tìm hiểu về đặc điểm phân bố của ốc cạn theo sinh cảnh, độ cao, địa hình

- Tìm hiểu về giá trị, ý nghĩa thực tiễn của ốc cạn ở khu vực nghiên cứu

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung lý luận khoa học và thực tế cho công tác điều tra đa dạng thành phần loài Ốc cạn ở khu vực xã

La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời tạo cơ sở cho việc nghiên cứu

về sự phân bố của chúng trong các kiểu sinh cảnh và độ cao trong khu vực, đặc biệt là phân bố trên các kiểu sinh cảnh thuộc núi đá vôi

Trang 13

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả và phương pháp nghiên cứu tạo tiền đề cho việc thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về giá trị của các loài Thân mềm, Chân bụng ở các khu rừng núi đá vôi và bổ sung thông tin, tình trạng các loài được phát hiện phục

vụ công tác bảo tồn Ốc cạn ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Trang 14

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về ốc cạn

1.1.1 Đặc điểm phân loại

Hầu hết các loài ốc cạn được phát hiện có thể xác định dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ, các dấu hiệu được sử dụng nhiều trong mô tả, sự xoắn của

vỏ ốc là tính chất phức tạp trong vỏ ốc Sự tiến hóa hay thoái hóa của dạng ống đã tạo nên vỏ xoắn quen gọi là vòng xoắn Các vòng xoắn chụm lại ở giữa trục (axis), trục này chạy xuyên suốt trung tâm gọi là trụ giữa (central pillar) của vỏ Vòng xoắn có thể rộng nhanh hay chậm và được tách ra thành đường liên tục gọi là đường xoắn (suture) Một vài loài vỏ mỏng có đường thứ sinh hay một đường rộng (broad), thêm vào một dãy mờ đục (opaque) bên cạnh đường xoắn như đường xoắn kép Hầu như trong các mẫu vỏ, vòng xoắn rộng nhất là vòng xoắn cuối (last whorl) Đỉnh của vòng xoắn (apex), đối diện với đáy (base) Phần mở ra

bên ngoài của vỏ gọi là miệng vỏ (aperture) [14], [20]

1.1.1.1 Vỏ ốc

Vỏ ốc là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn vòng quanh một trục tạo nên các vòng xoắn Vỏ ốc có thể lớn, trung bình hay nhỏ Hình dáng vỏ rất đa dạng có thể là hình cầu, hình nón, dạng tháp xoắn, hình trụ, dạng con quay, dạng xoắn dài, dạng cuộn trong… Vỏ có thể dày hay mỏng, chắc chắn hay không, trong suốt hay mờ đục… Vỏ có màu sắc rất đa dạng, mỗi loài, thậm chí mỗi cá thể trong loài có màu sắc khác nhau Màu sắc trên vỏ ốc cạn thường được trang trí ở hầu hết theo kiểu các dãy băng xoắn màu hẹp hay rộng hay có sọc Vỏ có thể không có trang trí màu gọi là không màu Vỏ có thể đục hay mờ

và bóng láng hay xỉn Dạng trong suốt như một dạng kết hợp giữa mờ và bóng láng giống như mảnh thủy tinh Màu sắc cùng với các hoa văn gặp ở hầu hết các loài ốc cạn có thể đặc trưng cho các taxa bậc giống hay phân giống Trong cùng một loài, vẫn có sự sai khác đáng kể về màu sắc và hoa văn trên vỏ ốc, nguyên nhân có thể do môi trường sống, yếu tố mùa trong năm và đáng chú ý

là giai đoạn còn non có nhiều thay đổi so với trưởng thành [2], [20], [28]

Trang 15

Vỏ thường xoắn hình hoặc xoắn trong một mặt phẳng, có khi có nắp vỏ (vẩy), hoặc không có nắp vỏ Vỏ có thể bị tiêu giảm ở nhiều mức độ: Vỏ không

chứa đủ phần thân (giống Carinaria), vỏ bé và một phần bị vạt áo phủ (giống

Aplysia), vạt áo phủ kín vỏ bé ở trong (giống Aplysia, sên trần Limax), vỏ tiêu

giảm chỉ còn vụn đá vôi rải rác (sên trần Arion) hoặc mất hoàn toàn dấu vết của

vỏ [2], [5]

Thông thường vỏ cuộn có thể được mô tả như sau: Dạng chóp dài (elongate

- tapering) có phía bên vuốt thon rộng cho tới đỉnh Dạng gần trụ (subcylindric) gần như dạng cylindric nhưng cạnh bên không song song Dạng hình trụ (cynlindric) có hình trụ, các rãnh xoắn gần như vuông góc với cạnh bên và có đỉnh

vỏ dày Dạng nón ôvan (conic - ovate) có dạng nón trứng Dạng gần ôvan (subovate) có dạng gần ôvan, phía bên của vòng xoắn lồi hơn Dạng ôvan dài (elongate - ovate) Dạng xoắn ốc dẹt (depressed - heliciform) có vỏ ngắn nhưng rộng Dạng xoắn ốc (heliciform) có chiều cao và chiều rộng xấp xỉ nhau Dạng xoắn ốc nón (conic - heliciform) cũng giống dạng heliciform nhưng có các vòng xoắn hình côn nhiều hơn [20], [28]

Hình 1.1 Cấu tạo ngoài của vỏ ốc cạn [20]

Trang 16

1.1.1.2 Đỉnh vỏ

Đỉnh vỏ là điểm khởi đầu của các vòng xoắn, là nơi hình thành các vòng xoắn đầu tiên của vỏ (còn gọi là vòng xoắn phôi), các vòng xoắn này thường rất nhỏ và nhẵn Đỉnh vỏ có thể nhọn, tù hoặc tầy

1.1.1.3 Kích thước vỏ

Kích thước vỏ là đặc điểm dùng nhiều trong mô tả và nhận dạng các taxon bậc loài, giống Các số đo quan trọng về kích thước của vỏ ốc cạn gồm: Chiều cao hay chiều dài (tính từ đỉnh vỏ đến vành miệng, không tính bờ vành môi), chiều rộng (khoảng cách rộng ngang lớn nhất), chiều cao tháp ốc, chiều cao

và chiều rộng miệng vỏ Dựa vào kích thước vỏ có thể phân chia ốc cạn thành: Nhóm kích thước bé (dưới 20mm) và nhóm kích thước lớn (trên 20mm)

phình ra ở phần dưới Các vòng xoắn có khi nhẵn, có khía; gờ dọc, gờ vòng hay

gờ hình cánh cung Trên các vòng xoắn có thể có hay không có hoa văn trang trí, đường viền có gai hay nốt sần, có lông hoặc không [20], [28] Số vòng xoắn của vỏ ốc cũng thay đổi từ con non đến trưởng thành; ví dụ như số vòng xoắn

của ốc sên hoa (Achatina fulica) giai đoạn còn non là 3 - 4 vòng nhưng khi

trưởng thành thường có 6 - 7 vòng [5]

1.1.1.5 Miệng vỏ

Miệng vỏ là nơi vỏ ốc thông với bên ngoài Ở vùng miệng vỏ có thể phân biệt bờ trục (bờ trong hay bờ ngoài) và vành miệng ngoài (bờ ngoài hay bờ trên) Có thể phân biệt góc trên và góc dưới lỗ miệng vỏ Hình dạng lỗ miệng thay đổi; có thể xiên, bầu dục, hình thoi, hình thang, hình ôvan, hình bán nguyệt, hình quả lê… Bờ viền của miệng là môi, được chia thành bốn khu

Trang 17

vực: Bên ngoài môi, gốc môi (basa lip), trụ môi (columellar lip) và môi trong vách (parietal lip) Trong hầu hết các vỏ, môi trong vách không phân biệt, được tách rời hay nối liền đi trước vòng xoắn và chỉ với một lớp mỏng có thể chai Phía ngoài và gốc môi trong đặc thù có thể dày, loe ra hay cuộn lại Miệng có thể một hay nhiều hơn các mấu chìa ra gọi là răng, tên của nó có thể tùy theo vị trí của chúng Gờ vành miệng ngoài có thể liên tục hay ngắt quãng ở bờ trụ Lỗ miệng có nắp miệng hay không [14], [20]

1.1.1.6 Trụ ốc và lỗ rốn

Trụ ốc là do các vòng xoắn chập lại với nhau tạo nên Trụ ốc có thể rỗng và

mở ra ngoài gần miệng tạo thành lỗ rốn, có khi trụ ốc lại đặc không tạo lỗ rốn Lỗ rốn có thể rộng hay hẹp, có thể nông hay sâu Trong phân loại và nhận dạng, có thể phân biệt các dạng lỗ rốn: Dạng đóng (Camaenidae), dạng vết lõm (Cyclophoridae, Bradybaenidae, Euconulidae, Trochomorphidae, Plectopylidae) Ngoài ra, tỷ lệ giữa kích thước lỗ rốn so với chiều rộng vỏ cũng là đặc điểm rất có giá trị chẩn loại

Lỗ rốn được hình thành do trụ ốc rỗng và mở ra ngoài gần miệng vỏ, có khi trụ ốc không rỗng vì thế vỏ không có lỗ rốn Trong định loại và nhận dạng,

có thể phân biệt 3 dạng lỗ rốn: Dạng đóng, dạng vết lõm và dạng mở (rộng hoặc hẹp) Ngoài ra, tỷ lệ giữa kích thước lỗ rốn so với chiều rộng vỏ là đặc điểm rất có giá trị chẩn loại

Hình 1.2 Hình dạng các kiểu lỗ rốn [20]

Trang 18

1.1.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái học

Trên thế giới hiện nay, đặc điểm sinh học và sinh thái học của ốc cạn ngày càng được chú ý nghiên cứu, đặc biệt là những loài có giá trị thực tiễn và những loài thường xuyên gây hại

Các loài ốc cạn phân bố rộng ở nhiều dạng địa hình và sinh cảnh khác nhau Trên môi trường cạn, ốc và sên trần thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt, giàu mùn bã thực vật, rêu và tảo Kích thước cơ thể của ốc cạn dao động trong khoảng tương đối lớn, từ một hoặc vài mm (họ Vertiginidae, Euconulidae) đến hàng chục cm (họ Camaena, Achatina, Amphidromus) [2], [9]

Phần lớn các loài ốc cạn trong lớp Mang trước thường đơn tính, trong khi

ở phân lớp Có phổi thì lưỡng tính [2], [3], [9], [12] Đối với các loài ốc cạn đơn tính, ít có sự sai khác về hình thái ngoài giữa con đực và con cái, tỷ lệ đực cái trong quần thể cũng thường ít dao động Như tỉ lệ đực cái của hai loài ốc núi

Cyclophorus anamiticus và Cyclophorus martensianus trong quần thể là 1:1

Trong sinh sản chúng giao phối và thụ tinh, trứng được đẻ thành từng đám trong các hốc đá, khe đá, quanh rễ cây hoặc trứng được đẻ rải rác khắp bề mặt đất Giai đoạn ấu trùng thu gọn trong trứng và khi nở thành con non [2], [9] Ốc cạn thường sinh sản không liên tục mà theo mùa, trứng có dạng hình cầu nhưng kích thước và màu sắc khác nhau tùy thuộc vào kích thước cơ thể và môi trường sống

Trứng của loài Cyclophorus martensianus đạt 4,5mm, của loài Camaena

vanbuensis đạt 8,5mm Màu sắc của vỏ ốc cạn và thân đôi khi có sai khác tương

đối rõ giữa con non và con trưởng thành [11], [26]

Trong số các môi trường sống, rừng tự nhiên, rừng trên núi đá granit, đá vôi

có nhiều yếu tố thuận lợi cho ốc cạn sinh sống, tầng thảm mục dày, độ ẩm cao, có nhiều khe đá ẩm ướt, hàm lượng canxi cao giúp hình thành lớp vỏ Vào mùa mưa, các hoạt động kiếm ăn, sinh sản diễn ra mạnh hơn Trong khi đó, với mùa lạnh và khô, do môi trường sống không thuận lợi (về nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn ) chúng có thời kỳ ngừng hoạt động (ngủ đông) Nhiều loài trong nhóm ốc Có phổi, lỗ miệng

Trang 19

không có nắp miệng được bít kín bằng một màng được làm bằng chất nhày do chúng tiết ra [9], [12]

Đặc điểm phân bố theo vành đai độ cao của ốc cạn phụ thuộc vào điều kiện sống như nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn, nguyên liệu tạo lớp vỏ Ở vùng núi, phần lớn các loài ốc cạn tập trung phân bố (cả số lượng loài và số lượng cá thể trong mỗi loài) ở khu vực chân núi và sườn núi, tính đa dạng giảm rõ rệt ở khu vực đỉnh núi [11], [26] Các sinh cảnh tự nhiên như rừng, núi đá vôi, hang động Có rất nhiều yếu tố thuận lợi cho ốc cạn sinh sống Ngược lại, môi trường tác nhân như nương rẫy, khu dân cư, đất trồng trên nền rừng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây ngắn ngày Tính đa dạng sinh học giảm đi do tác động của con người thường theo hướng bất lợi cho sinh vật, nhiều đặc tính của môi trường bị biến đổi Phân bố của ốc cạn giữa sinh cảnh tự nhiên và nhân tác có sự khác nhau rõ rệt Sự phát tán của ốc cạn thường mang tính chủ động, chúng di chuyển và mở rộng khu vực sống và tìm môi trường thích hợp để sinh sống Một số loài phát

tán thụ động nhờ con người như loài ốc sên hoa (Achatina fulica), loài có vùng

phân bố gốc là Ethiopi nhưng lại rất phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới [26]

Trong tự nhiên, các loài ốc cạn thường hoạt động mạnh vào ban đêm Khẳng định này cũng được quan sát thấy trong điều kiện nuôi thí nghiệm đối với 2

loài ốc Cyclophorus anamiticus và Cyclophorus martensianus, một số cá thể hoạt

động cả ban ngày khi môi trường nuôi được tưới nước làm tăng độ ẩm hoặc có mưa liên tục [9] Thức ăn của hầu hết các loài ốc cạn là thực vật, mùn bã, rêu, tảo, nấm… Chúng sử dụng lưỡi bào (radula) để cạo và cuốn thức ăn vào miệng Lưỡi bào (radula) là cấu trúc đặc trưng của lớp Chân bụng (Gastropoda), đó là một tấm bằng kitin hoặc prôtêin lát trên thành dưới thực quản Mặt trên lưỡi bào có nhiều dãy răng kitin Radula hình thành từ bao lưỡi Khi phần phía trước của radula bị mòn do thường xuyên cạo và cuốn thức ăn, bao lưỡi hình thành phần sau để thay thế Co duỗi cơ giúp lưỡi bào thò ra, cạo và cuốn thức ăn vào miệng [2], [3]

Trang 20

Bên cạnh đó, một số ốc cạn (Họ Succinea) và sên trần có thể là vật chủ

của các loài ký sinh trùng (sán lá Leucochloridium paradoxum) trong cơ thể ốc,

ấu trùng miracidium của sán được giải phóng khỏi trứng và chuyển thành sporocyst (chứa các sán non) ký sinh trong gan nhưng phân nhánh trong đôi râu của ốc, các nhánh của sporocyst với các vành đen và đốm được lộ rõ trên đôi râu ốc, khi râu hoạt hoạt động trông giống ấu trùng của côn trùng nên dễ làm cho chim (vật chủ chính thức) nhìn nhầm và ăn thịt [2]

1.2 Lịch sử nghiên cứu ốc cạn

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ốc cạn trên thế giới

Việc nghiên cứu ốc cạn trên thế giới về khía cạnh phân loại học, đặc điểm sinh học, phân bố và sinh sản đã được tiến hành khá sớm và rộng rãi ở nhiều quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và một số nước xung quanh Việt Nam như Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan… Nghiên cứu sớm nhất có thể kể đến nhà khoa học người Hy Lạp, Aristotle (384-322 trước công nguyên) và sau đó người đưa ra hệ thống phân loại sinh vật chuẩn xác hơn là nhà khoa học nổi tiếng Linnaeus trong ấn phẩm

“Hệ thống tự nhiên”, xuất bản lần đầu tiên năm 1735 [62] Đây là giai đoạn khởi đầu của nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và về ốc trên cạn nói riêng vì thế số lượng nhà nghiên cứu còn ít, trong phạm vi nghiên cứu hẹp, chủ yếu thực hiện trong các nhà bảo tàng và một số quốc gia Châu Âu [63]

Từ giữa cuối thế kỷ XVIII, bằng việc sắp xếp hệ thống tên cho các bậc phân loại, Linnaeus (1758) đã định tên cho ngành Thân mềm (Mollusca), Cuvier (1795) đã xác định tên cho lớp Chân bụng (Gastropoda) Trong thế kỷ XVIII, kết quả nghiên cứu về ốc cạn chỉ mới dừng lại trong phạm vi xây dựng

hệ thống phân loại tới ngành và lớp là chủ yếu, các nghiên cứu sâu hơn về giải phẫu học và phân loại tới giống, loài hầu như chưa làm được [47], [63]

Đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XXI là thời kỳ phát triển mạnh của ngành khoa học nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và ốc cạn nói riêng

Trang 21

Hầu hết các phát hiện trong giai đoạn này có số lượng lớn, được công bố bởi nhiều nhà khoa học, tiến hành trên phạm vi rộng khắp thế giới Các nhà khoa học tiêu biểu thuộc các nước Pháp, Anh, Đức, Hà Lan… đã tiến hành nghiên cứu ốc cạn ở Châu Á Nhiều công trình có ý nghĩa và có giá trị khoa học cao, tiêu biểu thuộc các tác giả: Pfeiffer (1848-1877); Morlet (1886); Fischer và Dautzenberg (1904); Mabille (1887)… Giai đoạn này nhiều bảo tàng trên thế giới đã thu thập được một số khối lượng mẫu khổng lồ, các tác giả đã công bố được một số lượng lớn với các mô tả chi tiết hơn về hình thái và giải phẫu Có thể nói quá trình nghiên cứu trong giai đoạn này đã tạo đà nghiên cứu sâu và rộng hơn về ốc cạn trên toàn thế giới Tuy nhiên vì kết quả nghiên cứu và các công bố trước đây (cả mẫu vật và tài liệu in ấn) chỉ tập trung ở một số bảo tàng lớn trên thế giới nên việc tiếp cận và sử dụng các tài liệu này còn hạn chế và không phổ biến [52], [71], [74], [86]

Khu hệ ốc cạn của các nước lân cận Việt Nam cũng được quan tâm nghiên cứu nhưng ở các mức độ khác nhau giữa các quốc gia Khu hệ Thân mềm Chân bụng Trung Quốc được công bố bởi nhiều tác giả, tiêu biểu như Moellendorff (1882, 1885, 1886), Fischer và Dautzenberg (1904), Teng Chieng Yen (1939, 1941, 1948), Shannon & Weiner, 1963, Yu & Pan (1982), Chen & Gao (1988), Wiktor và ctv (2000), Qian, Zhang, Guo & Chen (2006) [50], [52], [57], [74], [76], [91], [103] Teng Chieng Yen (1939, 1941) đã phát hiện được 949 loài Thân mềm Chân bụng, thuộc 126 giống, xếp trong 21 họ [54], [103] Dẫn liệu có tính tổng quan về ốc cạn của Đài Loan được Hsieh Bo Chuan, Hwang Chung Chi và Wu Shu Ping công bố năm 2006, với 182 loài và phân loài, thuộc 29 họ, 7 bộ, 2 phân lớp Trong số các họ xác định được, Clausiliidae (54 loài) và Cyclophoridae (21 loài) là những họ phong phú nhất [56]

Dẫn liệu về ốc cạn của Thái Lan được công bố bởi Solem (1965, 1966), Panha (1995, 1996) với 421 loài và phân loài, thuộc 133 giống, 30 họ [82], [93], [94] Năm 2009, dẫn liệu có tính tổng quan về khu hệ ốc cạn của Thái Lan được

Trang 22

công bố bởi Panha và ctv Công trình này ghi nhận có 800 loài, thuộc 133 giống, sắp xếp vào 30 họ [82]

Dẫn liệu về ốc cạn đầu tiên của Lào và Campuchia đã được Crosse và Fischer công bố từ năm 1863 cùng với dẫn liệu về nhóm trai ốc nước ngọt Những nghiên cứu ban đầu này là những hoạt động khảo sát chung trong cả vùng Đông Dương [42], [45] Các dẫn liệu này về sau được bổ sung bởi Mabille và Le Mesle (1866) [70], Morlet (1886, 1891, 1892) [74], [75], [76], [77], [78], [79], Dautzenberg và Hamonville (1887) [46], Dautzenberg (1893) [47], Bavay và Dautzenber (1899, 1900, 1903, 1909) [31], [32], [33], [35], Fischer (1904) [52] Thành phần loài được tìm thấy và công bố trong các công trình nghiên cứu chung về trai ốc nước ngọt, ở cạn và ở biển của vùng Đông Dương từ đầu thế kỷ XIX tới năm 1900 đã được tổng hợp trong công trình tổng quan của Fischer (1891) về danh mục và phân bố địa lý của ốc ở cạn, nước ngọt

và ốc sống ở biển Tiếp sau đó, có trong báo cáo của Fischer và Dautzenberg thuộc đoàn khảo sát Pavie tiến hành trong thời gian 1879-1895, danh mục thống kê của các tác giả ghi nhận 448 loài và phân loài Thành phần loài được

bổ sung về sau bởi nhiều chuyên gia và số loài ghi nhận cho khu vực này khoảng 810 loài [49], [50], [52], [53]

Hiện nay, Thân mềm Chân bụng đang là đối tượng được khai thác rất nhiều Điển hình, Pháp là một trong những quốc gia nuôi ốc sên từ những năm

80 của thế kỷ XX Điều này vừa mang lại những giá trị kinh tế rất lớn cho người Pháp vừa có tác dụng trong việc bảo tồn nguồn gen của ốc sên Sản lượng ốc sên của Pháp lên tới 40.000 tấn năm Tuy nhiên các cơ sở chế biến của Pháp vẫn phải nhập khẩu ốc sên từ các nước khác như: Hi Lạp, Indonesia, Thổ Nhĩ Kì, Cộng hòa Séc, Philippine Islands [30]… Năm 1988, Pháp nhập khẩu khoảng 7,427 tấn ốc sên, trung bình 33,42 Francs/kg, như vậy giá trị nhập khẩu tương đương 248,2 triệu Francs và xuất khẩu khoảng 1.891 tấn trung bình 52,43 Francs kg tương đương 99,145 triệu Francs [99]

Trang 23

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ốc cạn ở Việt Nam

Việc nghiên cứu ốc cạn ở Việt Nam và Đông Dương nói chung diễn ra từ rất sớm nhưng còn nhiều hạn chế, chủ yếu do các tác giả nước ngoài thực hiện, nghiên cứu đầu tiên được biết đến là từ đầu thế kỷ XIX Theo tài liệu của Fischer và Dautzenberg (1891), các dẫn liệu đầu tiên về ốc cạn ở Việt Nam đã có trong các công trình khảo sát về trai ốc vùng Đông Dương của Souleyet trong thời gian từ 1841 đến

1842 Trong đó, đã ghi nhận một số loài ốc cạn ở khu vực Đà Nẵng trong họ

Streptaxidae (loài Streptaxis aberatus và Streptaxis deflexus) [51] Cũng trong thời

gian này (1848-1877) các vùng khác ở Nam Bộ bao gồm cả các đảo như Côn Đảo,

Phú Quốc đã được Pfeiffer phát hiện tới hàng chục loài mới (Nanina cambojiensis,

Nanina distincta, Nesta cochinchinensis, Trochomorpha saigonesis…) [85]

Từ những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, những nghiên cứu về ốc cạn ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ được tiếp tục nghiên cứu đến những năm 60 của thế kỷ XIX như công trình của Crosse và Fischer (1863, 1864, 1869), Mabille và Mesle (1866), Crosse (1867) [41], [42], [44], [45], [69] Trong giai đoạn này, những dẫn liệu về ốc cạn ở khu vực phía Bắc Việt Nam còn rất ít, chỉ có một số loài như:

Camaena illustris trong nghiên cứu của Pfeiffer (1848-1877) ở Lạng Sơn, Alycaeus anceyi trong nghiên cứu của Mabille (1841-1842) ở đảo Cái Bầu, Quảng Ninh [71],

[85] Các công trình về ốc cạn ở miền Bắc chỉ xuất hiện nhiều vào nửa cuối thế kỷ XIX, với các nghiên cứu của Crosse và Fisher (1864) [43], Morlet (1886, 1891, 1892) [77], [78], [79], [80], Dautzenberg và Hamonville (1887) [52], Dautzenerg (1893) [48], Bavay và Dautzenberg (1899, 1900 - 1915) [32], [33], [34, [35], [36], [37], [38], [39], Dautzenberg và Fischer (1905, 1906, 1908) [46], [49], [50] Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam, đã phát hiện 448 loài và phân loài ốc cạn, đã công bố trong 83 tài liệu công bố từ năm

1841 đến 1900 Tuy nhiên thành phần loài ốc cạn ở Việt Nam trong thời gian này còn chưa đầy đủ và cần phải xem xét về phân loại học [25]

Trong thời gian đầu thế kỷ XX, từ 1901 đến 1975, chiến tranh vẫn diễn ra

ở Việt Nam, việc nghiên cứu ốc cạn cũng như các nhóm ốc khác ở Đông Dương

Trang 24

hầu như ngừng lại Chỉ có một số điểm ở Bắc Bộ của Jaeckel (1950), Varga (1963) [57] Các công trình trong giai đoạn này bổ sung 82 loài cho khu hệ ốc cạn ở Việt Nam trong tổng số 103 loài thống kê được ở Việt Nam Trong đó nhiều loài mới được tìm thấy trên các đảo ven bờ và vùng núi Nghệ An Các nghiên cứu cũng chỉ tập trung vào xác định thành phần loài Ngoài ra, căn cứ dùng trong phân loại nhóm ốc cạn có nhiều thay đổi vì vậy những số liệu của giai đoạn này và trước đó cần được xem xét [25]

Sau chiến tranh rất lâu, các công trình về ốc cạn mới tiếp tục được nghiên cứu, với một số công trình của các tác giả nước ngoài Tiêu biểu cho giai đoạn này là công trình khảo sát về thành phần loài và phân bố ốc cạn ở một

số khu vực phía Bắc Việt Nam như: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Thanh Hóa), vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), Phủ Lý (Hà Nam), một số đảo thuộc Vịnh Hạ Long, dãy núi đá vôi khu vực Cẩm Phả (Quảng Ninh) và ở đảo Cát Bà của Vermeulen và Maassen (2003) trong chương trình khoa học quốc tế FFI (Flora and Fauna International) Tuy thời gian khảo sát không dài và địa bàn khảo sát hạn chế, song công trình đã công bố 259 loài và phân loài thuộc

23 họ, 77 giống Trong tổng số các loài đã công bố có đến 246 loài và phân loài (phân lớp ốc Mang trước có 73 loài, phân lớp ốc Có phổi 186 loài) được bổ sung cho thành phần loài khu hệ ốc cạn ở Việt Nam Đáng chú ý là trong số các loài được bổ sung có 123 loài còn chưa xác định được vị trí phân loại, đó có thể

là loài mới cho khoa học [101]

Năm 2006, Maaseen công bố 4 loài ốc mới (Arinia angduensis, Arinia

loumboensis, Eostrobilops infrequens, Hemiplecta esculenta) ở phía Bắc Việt

Nam [64] Năm 2007, Maaseen và Gittenberger đã công bố 3 loài ốc cạn mới

(Leotacme cuongi, Oospira duci, Atraophaedusa smithi) thuộc họ Clausiliidae

ở phía Bắc Việt Nam [67]

Trong giai đoạn 2007 đến 2013, có một số công trình nghiên cứu trên diện rộng từ miền Trung ra miền Bắc đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa Việt Nam và nước ngoài, trong đó có các công trình: Nghiên cứu khu hệ ốc cạn miền Bắc Việt

Trang 25

Nam của nhóm nghiên cứu Ohara, Okubo, Otani, Lương Văn Hào (2008) phát hiện được 107 loài thuộc 17 họ; Ohara, Okubo, Ishibe, Nakahra, Otani, Lương Văn Hào, Phạm Văn Sáng (2007 - 2013) với số lượng loài tới gần 200 loài thuộc

Từ năm 2009 đến năm 2014, Đỗ Văn Nhượng và nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Động vật đất, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có hàng loạt công bố

về thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam như: 23 loài ở khu vực núi đá vôi Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội) thuộc 18 giống, 15 họ, 3 bộ [24]; 44 loài

và phân loài ở xóm Dù, vườn quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ) thuộc 27 giống, 14

họ, 2 phân lớp trong đó nhóm ốc Có phổi chiếm ưu thế với 36 loài và phân loài [18]; 36 loài ở núi Voi (An Lão, Hải Phòng) thuộc 28 giống, 14 họ và 4 bộ trong

đó họ Ariophantidae (7 loài, 6 giống), Camaenidae (6 loài, 5 giống), Subulinidae (6 loài, 4 giống), Cyclophoridae (6 loài, 2 giống) chiếm ưu thế về thành phần loài [19]; 48 loài ở thôn Rẫy (Hữu Lũng, Lạng Sơn) thuộc 26 giống, 15 họ trong đó họ Cyclophoridae phong phú nhất với 5 giống, 18 loài [21]; 54 loài và phân loài ở khu vực Tây Trang, tỉnh Điện Biên thuộc 35 giống, 15 họ, 3 bộ và 2 phân lớp, trong đó họ Cyclophoridae cũng phong phú nhất với 8 giống, 11 loài [8], [21]; 73 loài thu thập ở thành phố Sơn La, trong đó mới xác định tên khoa học được 50 loài [25]; 52 loài và phân loài ở vườn quốc gia Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) thuộc 31 giống, 13 họ, trong đó họ Cyclophoridae và Clausiliidae có số loài nhiều nhất

Trang 26

[22] Cũng trong giai đoạn này, các khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ bắt đầu nghiên cứu về ốc cạn, Nguyễn Thị Ngọc Anh cung cấp 48 loài ốc cạn trong

đó có có 36 loài chưa từng gặp ở nơi nào khác ở Việt Nam ngoài khu vực Hàm Rồng, Thanh Hóa [1] Năm 2011, Nguyễn Thị Nhàn trong nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm phân bố của ốc cạn ở Thúc Thủy (Tuyên Quang) đã xác định được 58 loài, thuộc 18 họ [15] Năm 2012, Nguyễn Thị Quỳnh đã phát hiện

62 loài thuộc 20 họ ở khu vực núi đá vôi Quốc Oai, Hà Nội, trong đó có 12 loài còn chưa xác định được chính xác tên loài [29] Nghiên cứu ở khu vực núi đá vôi sau đền Trình, xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội của Nguyễn Thanh Lương (2013) cũng đã ghi nhận được 32 loài ốc cạn thuộc 20 giống, 17 họ, 3 bộ và 2 phân lớp,

trong đó có loài Leptacme cuongi là loài mới ghi nhận ở Việt Nam [13] Những

nghiên cứu đóng góp trên rất có ý nghĩa để sau này có những dẫn liệu về ốc cạn ở Việt Nam nói chung

Tổng hợp các kết quả điều tra thống kê về thành phần loài ốc cạn cho thấy, ở Việt Nam đã ghi nhận được 1.226 loài và phân loài, sắp xếp trong 205 giống, 45 họ

Thành phần loài ở phân lớp ốc Mang trước (Prosobranchia) tương đối phong phú, số loài tuy ít hơn nhóm ốc Có phổi (Pulmonata) nhưng cũng xác định được 260 loài, thuộc 41 giống, 7 họ Trong số các họ, Cyclophoridae (19 giống,

140 loài), Pupinidae (9 giống, 49 loài), Diplommatinidae (2 giống, 37 loài) là những họ phong phú hơn cả Xét về bậc giống cho thấy, Cyclophorus (44 loài), Diplommatina (35 loài), Pupina (21 loài) là các giống có số loài phong phú nhất Thành phần loài ở phân lớp ốc Có phổi chiếm đa số trong thành phần loài ốc cạn

đã biết hiện nay ở Việt Nam, xác định được 966 loài, thuộc 164 giống, 38 họ Trong tổng số 38 họ được ghi nhận, các họ phong phú gồm Clausiliidae (24 giống,

222 loài), Ariophantidae (20 giống, 131 loài), Camaenidae (17 giống, 182 loài), Streptaxidae (17 giống, 106 loài), Subulinidae (12 giống, 50 loài), Bradybaenidae (11 giống, 41 loài), Plectopylidae (3 giống, 52 loài) Các giống có số loài nhiều

Trang 27

nhất là Clausilia (Clausiliidae, 63 loài), Microcystina (Ariophantidae, 28 loài), Amphidromus (Camaenidae, 43 loài), Camaena (Camaenidae, 33 loài), Plectopylis (Plectopylinidae, 34 loài) và Streptaxis (Streptaxidae, 28 loài) [22], [23]

Hệ thống phân loại ốc cạn hiện nay đã thay đổi nhiều so với trước đây, nhất là ở bậc giống, xu hướng phân thành nhiều giống mới, tiêu biểu như các giống Camaena, Clausilia, Streptaxis Mặt khác, các nghiên cứu trước đây căn

cứ theo các tài liệu cũ, do đó nhiệm vụ đặt ra cho việc nghiên cứu ốc cạn ở Việt Nam là rất lớn: Cần tiếp tục mở rộng việc điều tra thống kê thành phần loài; xem xét lại các tư liệu đã có về ốc cạn trước đây ở Việt Nam, cập nhật với những đổi mới về phân loại học; xúc tiến việc nghiên cứu và tìm hiểu vai trò của ốc cạn trong tự nhiên và xã hội

Từ những tài liệu thu thập được cho thấy những nghiên cứu về ốc cạn ở Việt Nam đã được thực hiện ở nhiều nơi, tuy nhiên cho tới thời điểm hiện nay thì chưa có tài liệu nào nghiên cứu về phân loại học cũng như đa dạng sinh thái

ốc cạn ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Trang 28

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Mẫu ốc cạn ở các khu vực thuộc xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên được thu định tính và định lượng vào mùa khô và mùa mưa trong năm vì đây là thời gian thích hợp cho các loài ốc cạn phát triển Phần lớn các mẫu ốc cạn được thu theo các sinh cảnh khác nhau, căn cứ vào điều kiện tự nhiên, địa hình, loại đất canh tác, mục đích sử dụng và loại cây trồng… Có thể chia sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu theo 3 sinh cảnh sau: Rừng tự nhiên trên núi đất, rừng tự nhiên trên núi đá vôi và sinh cảnh nhân tác Tổng cộng thu được 41 mẫu thuộc 06 thôn trong xã Trong đó có Khuôn Vạc 06 mẫu, Khuôn Ngục có 11 mẫu, Làng Giai có 09 mẫu, Làng Kèn có 06 mẫu, Làng Bòng có 05 mẫu và Xóm Phố 04 mẫu Trong đó có 01 mẫu không thu được cá thể nào Các địa điểm, thời gian, tọa

độ, hình thức và sinh cảnh ở từng điểm thu mẫu được thể hiện trên Hình 2.1 và Bảng 2.1

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Các mẫu ốc cạn được thu định tính và định lượng vào mùa khô và mùa mưa (tháng 04 năm 2015 và tháng 06 năm 2015), với 02 đợt thu mẫu như sau:

- Đợt 1: Từ ngày 29/04/2015 đến ngày 01/05/2015

- Đợt 2: Từ ngày 23/06/ 2015 đến ngày 25/06/2015

Bảng 2.1 Địa điểm, thời gian, tọa độ, độ cao ở KVNC

STT Địa điểm Thời gian Tọa độ Độ cao (m) Ghi chú

Trang 30

2.2 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương tiện nghiên cứu

Dụng cụ và thiết bị phục vụ nghiên cứu gồm: Xẻng nhỏ đào đất, túi vải hoặc túi nylon (túi polyethylene) đựng mẫu, túi lưới, sàng rây mẫu có mắt lưới

từ 3mm đến 8mm, thùng xốp, giấy ghi nhãn, thước dây, máy định vị GPS, máy ảnh kỹ thuật số và dụng cụ phân tích mẫu gồm kính lúp, thước palme, panh, hộp nhựa nhỏ có nắp kín để lưu trữ mẫu Hóa chất dùng trong nghiên cứu gồm dung dịch cồn tuyệt đối, cồn 900 để lưu trữ mẫu [101] Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích 2572 cá thể ốc cạn được thu ở các thôn thuộc xã

La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Mẫu hiện đang được lưu giữ tại phòng thí nghiệm Động vật trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

a Phương pháp thu mẫu

- Thu mẫu định tính

Mẫu định tính được thu ngẫu nhiên ở tất cả các sinh cảnh khác nhau, phạm vi thường rộng hơn so với mẫu định lượng với mục đích bổ sung thành phần loài cho mẫu định lượng Vì vậy, khi thu mẫu phải thu tất cả các mẫu với mọi kích thước, từ con non đến con trưởng thành (kể cả mẫu đã chết chỉ còn lại vỏ) để không bỏ sót thành phần loài Mẫu được thu trên mặt đất, trong tầng thảm mục, lớp đất mặt, trên thân hoặc lá cây Các bước được tiến hành thu mẫu theo hướng dẫn của Vermeulen và Maassen (2003) [100], cụ thể như sau:

Đối với mẫu có kích thước lớn có thể nhặt bằng tay hoặc dùng panh kẹp

để thu mẫu Đối với các mẫu nhỏ dùng sàng có mắt lưới cỡ 3mm, 5mm, 8mm bằng kim loại để sàng các lá mục, bên dưới sàng được hứng bằng tấm nilon sáng màu hoặc giấy trắng Nếu có ốc nhỏ bám dưới lá mục, khi sàng mẫu sẽ rơi xuống và có thể dùng kính lúp cầm tay hoặc nhìn bằng mắt nhặt mẫu

Đối với các mẫu ốc nhỏ lẫn trong đất hoặc mùn ở các kẽ đá hoặc trong hang, có thể sử dụng phương pháp cho đất hoặc thảm mục vào chậu nước để mẫu nổi lên và vớt lấy mẫu

Trang 31

Tất cả các mẫu thu định tính đều được bảo quản trong các túi vải hoặc túi nylon riêng, có ghi ký hiệu cẩn thận theo từng sinh cảnh và các lưu ý cần thiết khác (nếu có)

- Thu mẫu định lượng

Thu mẫu định lượng là thu toàn bộ mẫu hiện diện trong diện tích mặt đất

có mẫu, diện tích thường được sử dụng là 1m2 Giá trị của mẫu định lượng cho biết mật độ, sự phong phú về số lượng hoặc sự đa dạng về thành phần loài của khu vực nghiên cứu [100] Mỗi một khu vực đại diện tiến hành lập 3 - 5 ô tiêu chuẩn với diện tích 1m2

Sau khi xác định được vị trí cần thu mẫu, dùng thước dây xác định ô tiêu chuẩn theo diện tích ở trên, thu tất cả các mẫu có trong ô đó, nếu có lẫn thảm mục thì phải dùng sàng để loại bỏ những vụn lá và tiến hành thu mẫu như phương pháp thu định tính Số lượng ô tùy vào tình hình cụ thể của các mẫu thu thập sơ bộ bước đầu, để quyết định đến số lượng và diện tích ô vuông Nếu số lượng mẫu ốc cạn ít, thưa thớt không thể thu trên diện tích 1m2

được, có thể thu với diện tích lớn hơn Mẫu ốc cạn thu được ở mỗi ô vuông cho vào một túi nilon hoặc một lọ đựng mẫu

có đề nhãn Nhãn ghi các thông tin: Địa điểm, thời gian, tọa độ, sinh cảnh, đặc điểm thảm thực vật… Các lưu ý cần thiết khác (nếu có)

- Điều tra theo tuyến

- Lập tuyến điều tra đi qua các các kiểu sinh cảnh đại diện, trên các kiểu địa hình (núi đất và núi đá, nương rẫy, vườn nhà)

- Quan sát bằng mắt trong phạm vi quan sát chiều ngang và chiều dọc Tìm kiếm các loài trên cạn, trên mặt đất, vách đá, trên lá, cành cây Bắt bằng tay, thu các loài và nhóm loài đại diện (vỏ hoặc con sống), chụp ảnh các loài đại diện đã thu thập Mẫu vật và ảnh được ghi các thông tin kèm theo như địa điểm, tọa độ, ngày tháng, sinh cảnh, độ cao, địa hình

b Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương

Tiến hành phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ quản lý - bảo tồn về tình trạng, giá trị và sử dụng của ốc cạn ở La Hiên Lựa chọn 5 người dân địa

Trang 32

phương và 1 cán bộ xã để phỏng vấn về tình hình khai thác, sử dụng, buôn bán, bảo tồn ốc cạn ở KVNC Thông tin phỏng vấn theo hai dạng là thu thập thông tin qua điện thoại và phỏng vấn trực tiếp

2.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

- Tham khảo tài liệu

Các tài liệu đã công bố về giá trị sử dụng làm thực phẩm, làm thuốc và tình trạng hiện tại của chúng Ngoài ra, tiến hành thu thập mẫu vật theo các tuyến điều tra đại diện gồm các kiểu sinh cảnh chính, các kiểu địa hình thuộc các vùng phân bố khác nhau về địa lý và độ cao

- Phương pháp phân tích và định loại

Hầu hết các loài ốc cạn có thể định loại dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ như: Kích thước, hình dạng, màu sắc, số vòng xoắn, rãnh xoắn, đỉnh vỏ, miệng vỏ Được thể hiện qua các số đo hay tỷ lệ của chúng (Hình 2.2) Ngoài

Trang 33

ra, một vài đặc điểm có giá trị tham khảo để định loại như sự phân bố, các khía, hoa văn trên vỏ ốc

Trong nghiên cứu này, các mẫu ốc được định loại dựa trên nhiều tài liệu khác nhau, từ khóa định loại đến các mô tả từng loài của các tác giả như Kathryn và James (2008) [60] Poppe và Tagaro (2006) [89] Bouchet và Rocroi (2005) [40] Schileyko (2011) [90] Teng Chien Yen (1939, 1941) [56], [103] Bavay và Dautzenberg (1899, 1900, 1903, 1909, 1910, 1912, 1915) [32, [32], [34], [36], [37], [39] Dautzenberg và Fischer (1905, 1906, 1908) [48], [50], [51] Massen (2006, 2007, 2008) [65], [67], [68] George (1885) [54], Van (1954) [99], Nantarat và ctv (2014) [81], Đặng Ngọc Thanh, (1980) [27]… và các tài liệu chuyên ngành khác

Hệ thống phân loại được sắp xếp theo Poppe và Tagaro (2006) [88] đối với phân lớp ốc Mang trước (Prosobranchia), riêng các loài ốc cạn thuộc phân lớp ốc Có phổi (Pulmonata) được xác định dựa theo tài liệu tu chỉnh của Schileyko (2011) [90]

Hình 2.2 Đặc điểm cấu tạo ngoài của vỏ ốc cạn [20]

Trang 34

- Phân tích, tổng hợp số liệu và tổng hợp kết quả

Thông tin về phân bố của loài được căn cứ vào tần suất xuất hiện và mức độ

phong phú của loài trên các tuyến và điểm điều tra Sử dụng các phần mềm ứng

dụng để tính toán và xử lý số liệu, sơ đồ, bản đổ, biểu đồ để mô phỏng phân bố của

chúng, diễn giải

Dựa vào số liệu thống kê về thành phần loài ở khu vực nghiên cứu để so

sánh, đánh giá mức độ đa dạng, phong phú của chúng ở La Hiên và với một số

khu vực lân cận

- Các cách phân tích số liệu trong ô vuông :

+ Mật độ (số cá thể của loài/m2):

- Mật độ cá thể của loài i: v (số cá thể của loài thứ i/m2) = Σni/ΣS

- Mật độ cá thể các loài trong các ô nghiên cứu:

V (số cá thể /m2) = Σn/ΣS Trong đó:

* ni: Là số lượng cá thể loài thứ i trong ô nghiên cứu

* Σni: Là tổng số cá thể loài i trong các ô nghiên cứu

* Σn: Là tổng số cá thể trong các ô nghiên cứu

* ΣS: Là tổng diện tích các ô nghiên cứu

+ Độ đa dạng của loài (D‟): Được tính theo chỉ số đa dạng Simpson

(Simpson‟s Index of Diversity)

D‟ = 1- Σpi2

Trong đó: (D‟) chỉ số đa dạng Simpson D‟ trong khoảng từ 0 - 1 D‟ có

giá trị càng lớn thì càng đa dạng

pi: Tỉ lệ loài i trên tổng số các cá thể (pi =(ni/Σn) [61]

+ Độ phong phú của loài: Được tính theo công thức của Kreds (1989) [61]

P% = (ni/Σn) x 100

Trang 35

+ Tần số xuất hiện (độ thường gặp) được tính bằng công thức của Sharma

(2003) [92]: C‟ = p/P*100%

Trong đó: C‟: Là tần số xuất hiện (độ thường gặp)

p: Là số lượng các địa điểm thu mẫu có loài xuất hiện P: Là tổng số các địa điểm thu mẫu khi nghiên cứu

Đánh giá tần số xuất hiện theo giá trị của C‟: Loài thường gặp C‟ > 50%, loài ít gặp 25% < C‟ < 50%, loài ngẫu nhiên C‟ < 25%

R: Hệ số tương đồng giữa hai khu phân bố A và B

X, X‟: Số loài (phân loài) có ở khu hệ A, không có khu hệ B

Y, Y‟: Số loài (phân loài) có ở khu hệ B, không có khu hệ A

Z, Z‟: Số loài (phân loài) có ở cả hai khu hệ A và B

Mức quan hệ R trong các khoảng như sau: Từ (-1; -0,7): Quan hệ rất gần

Từ (-0,69: -0,35): Quan hệ gần nhau Từ (-0,34; 0): Quan hệ gần ít Từ (0; 0,34): Quan hệ khác nhau ít Từ (0,35; 0,69): Quan hệ khác nhau Từ (0,7; 1): Quan

Trang 36

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC

NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý

La Hiên là xã miền núi nằm ở phía Tây Nam của huyện Võ Nhai cách trung tâm huyện Võ Nhai 17 km Xã có 15 xóm, tổng diện tích đất tự nhiên là 3.869,5 ha Có danh giới hành chính tiếp giáp với các xã như sau:

- Phía Bắc giáp với xã Cúc Đường và xã Thần Sa

- Phía Tây giáp với xã Quang Sơn và huyện Đồng Hỷ

- Phía Nam giáp với xã Văn Hán, xã Khe Mo và huyện Đồng Hỷ

- Phía Đông giáp với xã Lâu Thượng

La Hiên là xã thuộc tiểu vùng II của huyện Võ Nhai, được xác định là vùng có tiềm năng và thế mạnh để phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp kết hợp trồng cây đặc sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn Ngoài ra, xã còn được xác định là vùng trọng điểm để phát triển công nghiệp - thương mại và dịch vụ [4]

3.1.2 Một số nét khái quát về địa chất và địa hình

3.1.2.1 Địa hình

Vùng nghiên cứu chủ yếu phát triển địa hình đồi núi thấp đến trung bình, có địa hình chia cắt mạnh bởi hệ thống đồi núi, độ cao trung bình từ 200m - 350m so với mặt nước biển Địa hình vùng nghiên cứu có xu hướng thấp dần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam Hướng phát triển của địa hình trùng với hướng phát triển của dòng chảy nước mặt trong vùng như suối Đồng Thu (từ Bắc xuống Nam)

và suối Khe Mo (từ Đông sang Tây) Cao độ địa hình dao động trong khoảng từ 36m đến 64m Xen giữa địa hình đồi núi là các thung lũng, các cánh đồng bằng phẳng nhân dân đang sử dụng để trồng lúa và các loại cây hoa màu khác [4]

Với đặc điểm địa hình đa dạng và phức tạp như trên, cho phép xã có điều kiện để phát triển một nền nông - lâm nghiệp đa dạng và phong phú Nhìn chung so với các xã trong huyện, La Hiên có địa hình bằng phẳng hơn nên khá

Trang 37

thuận lợi cho việc bố trí cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Kiểu địa hình tích tụ: Phát triển trong các thung lũng suối, thung lũng giữa núi và có diện tích phân bố nhỏ Đây là địa hình tích tụ đa nguồn gốc, cấu tạo bởi các trầm tích Đệ Tứ với thành phần sét, bột lẫn sạn sỏi, bề mặt tương đối bằng phẳng hoặc hơi nghiêng, cao độ tuyệt đối từ 36m đến 45m [4]

Kiểu địa hình Karst: Phân bố chủ yếu phía Bắc vùng nghiên cứu, kéo dài theo hướng Đông Tây nhưng không liên tục, có vách dựng đứng, đỉnh nhọn [4]

3.1.2.3 Thổ nhƣỡng

Trên địa bàn xã La Hiên được phân chia ra làm 10 loại đất chính sau đây: Đất phù sa ngòi suối, phân bố ở hai bên sông Hang Hon với diện tích 25 ha Đất dốc tụ trồng lúa nước, phân bố ở những vùng trũng trong xã với diện tích là 50 ha Đất dốc tụ trồng lúa nước bạc màu, phân bố tập trung tại khu vực xóm Phố với diện tích 75 ha Đất dốc tụ trồng lúa nước chịu ảnh hưởng của Cacbornat, phân

bố tập trung tại xóm Đồng Chùa, Đồng Đình, Hang Hon với diện tích 65 ha Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, phân bố ở xóm Làng Giai với diện tích là 30

ha Đất nâu vàng trên phù sa cổ tầng trung bình, phân bố ở khu trung tâm xã với diện tích là 105 ha Đất đỏ vàng trên đá sét tầng trung bình, phân bố ở phía Nam của xã với diện tích là 320 ha Đất đỏ vàng trên đá sét tầng mỏng, phân bố chủ yếu ở phía Đông của xã và một phần ở phía Tây Nam với diện tích 487 ha Đất nâu trên đá vôi tầng trung bình, phân bố tập trung ở La Thê, Làng Giai, với

Trang 38

diện tích 100 ha Đất vàng nhạt trên đá cát tầng mỏng, phân bố tập trung ở vùng núi cao phía Tây của xã có diện tích 850 ha

Tóm lại: Tài nguyên đất của xã La Hiên khá đa dạng về loại đất, đất có

độ dốc < 80

thuận lợi cho việc sản xuất lúa và cây công nghiệp ngắn ngày Đây

là một lợi thế của xã so với các xã trong cùng tiểu vùng, có thể khai thác triệt

để đưa vào sản xuất đảm bảo an ninh lương thực cho người dân trong xã [4]

3.1.3 Khí hậu, thủy văn

3.1.3.1 Chế độ nhiệt [4]

Nằm trong vùng khí hậu trung du của tỉnh Thái Nguyên, nhiệt độ cao vừa phải, tổng số giờ nắng trong năm giao động từ 1300 - 1750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm

- Nhiệt độ cao nhất: Từ 38 - 400C

- Nhiệt độ thấp nhất: 0 - 30C

- Biên độ nhiệt độ ngày: 7 - 80C

- Tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 6, trung bình là : 28,90C

- Tháng có nhiệt độ thấp nhất trong năm là tháng 1, trung bình là 15,20C

3.1.3.2 Chế độ mƣa [4]

Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt:

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2000mm - 2500mm Cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1

- Khu vực này ít chịu ảnh hưởng của gió bão

3.1.3.3 Độ ẩm không khí

Độ ẩm không khí tương đối ổn định trong năm, có giá trị trung bình là 82% Độ ẩm trung bình tháng cao nhất là 88% vào tháng 3, độ ẩm trung bình tháng thấp nhất là 56% vào tháng 11 [4]

Trang 39

3.1.3.4 Chế độ gió

Tốc độ gió trung bình năm là 1,6m/s Từ tháng 12 đến tháng 3 có gió Bắc và gió Đông Bắc với tốc độ gió thay đổi từ 1,5m/s đến 1,6m/s Tháng có tốc độ gió lớn nhất là tháng 5 (trung bình là 1,8m/s), tháng có tốc độ gió thấp nhất là tháng 11 (trung bình là 1,4m/s) [105]

+ Diện tích rừng sản xuất: 758,00 ha

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

Trong xã có 1830 hộ = 7446 nhân khẩu, có 8 dân tộc Người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 60% [4]

Thực trạng về đời sống kinh tế: Trong xã có 16 xóm, ngành nghề chủ yếu của nhân dân là sản xuất nông nghiệp, cây công nghiệp (chè), chăn nuôi và kinh doanh tiểu thủ công nghiệp, hiện tại tình hình tăng trưởng kinh tế ở địa phương đạt mức trung bình khá [4]

La Hiên có nhà máy xi măng nằm tại khu vực xóm Làng Bòng, quy mô nhà máy ngày càng được mở rộng, cụm công nghiệp nhỏ Trúc Mai cũng đồng nghĩa với việc hiện tượng ô nhiễm môi trường tại khu vực này diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn đặc biệt là môi trường không khí, khói bụi của các lò nung

và các hoạt động khai thác đá Mặc dù nhà máy đã có nhiều cố gắng trong hoạt động bảo vệ môi trường nhưng chưa đáp ứng được với yêu cầu về chất lượng môi trường tại khu vực nhà máy

Để nâng cao đời sống của nhân dân trong xã Ban chỉ đạo xã luôn chú trọng công tác phát triển rừng Tuyên truyền hướng dẫn người dân trồng rừng Thực hiện dự án trồng rừng sản xuất 147 Năm 2014 đã thiết kế cho 134 hộ dân đăng ký và trồng rừng sản xuất đạt 181,2 ha [4]

Trang 40

Với phương châm ở đâu có biến động về rừng và đất lâm nghiệp là ở đó phải được theo dõi và cập nhật kịp thời để từ đó có kế hoạch quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo chủ quản lý, ban chỉ đạo phối hợp với cán bộ kiểm lâm địa phương cập nhật thường xuyên những thay đổi biến động về rừng và đất lâm nghiệp

Thực hiện quy chế phối hợp đảm bảo an ninh trật tự giữa các xã giáp ranh như xã Quang Sơn, xã Văn Hán, xã Khe Mo (huyện Đồng Hỷ) Thường xuyên tổ chức phối hợp truy quét các hành vi xâm hại rừng với các lực lượng công an xã, dân quân xã, kiểm lâm địa bàn, trạm kiểm lâm rừng đặc dụng xã nhằm ngăn chặn, bắt giữ xử lý các hành vi xâm hại tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp [4]

Ngày đăng: 25/03/2021, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w