1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng bài tập vật lý đại cương phần điện học chương trình đào tạo trường đại học kỹ thuật công nghiệp thái nguyên nhằm phát triển

165 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -------- HOÀNG MẠNH CHUNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG PHẦN ĐIỆN HỌC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐHKT THÁI NGUYÊN NHẰM P

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



HOÀNG MẠNH CHUNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG PHẦN ĐIỆN HỌC (CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐHKTCN THÁI NGUYÊN) NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG

TẠO KĨ THUẬT CHO SINH VIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



HOÀNG MẠNH CHUNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG PHẦN ĐIỆN HỌC ( CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐHKT THÁI NGUYÊN) NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ

THUẬT CHO SINH VIÊN

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Vật lí

Mã số: 60.14.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN KHẢI

Thái Nguyên, năm 2009

Trang 3

ĐHKTCN : Đại Học Kĩ Thuật Công Nghiệp

ĐHTN : Đại học Thái Nguyên

Trang 4

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

**************

ĐƠN XIN BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Kính gửi: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

Tên tôi là: Hoàng Mạnh Chung

Công tác tại: Trường Đại học kĩ thuật công nghiệp - ĐHTN

Tôi được công nhận là học viên cao học theo quyết định số 891 /QĐ - SĐH ngày 15/9/2008 của Giám đốc Đại học Thái Nguyên, hình thức đào tạo tập trung, thời gian từ ngày 4/10/2008 đến tháng 10/2008 Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài:

“ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG PHẦN ĐIỆN HỌC ( CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐHKT THÁI NGUYÊN) NHẰM PHÁT TRIỂN

TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT CHO SINH VIÊN”

Thuộc chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học Vật lí

Mã số chuyên ngành: 60.14.10

Tôi đã hoàn thành chương trình học tập theo qui định cho học viên cao học Vì vậy, tôi làm đơn này đề nghị Trường ĐHSP - ĐHTN cho phép tôi được bảo vệ luận văn trước Hội đồng chấm luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 24 tháng 8 năm 2010

Hoàng Mạnh Chung

Trang 5

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NÀM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***********

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƢỢC

Họ và tên: Hoàng Mạnh Chung Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 28/4/1986 Nơi sinh: Thái Nguyên

Quê quán: Cường Thịnh – Trấn Yên – Yên Bái Dân tộc: Kinh

Chức vụ, đơn vị công tác trước khi đi học tập, nghiên cứu: Giảng viên trường

ĐH Kĩ Thuật Công Nghiệp - ĐHTN

Địa chỉ liên lạc: Khoa Cơ Bản ĐH KĨ THUẬT CÔNG NGHIỆP - ĐHTN

Điện thoại cơ quan: 0280.3847145 Điện thoại nhà riêng: (0280)3.846.225

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:

1 Đại học

- Hệ đào tạo: Chính quy - Thời gian đào tạo từ 9/2004 đến 7/2008

- Nơi học: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên -TP Thái Nguyên

- Thời gian đào tạo: từ 10/2008 đến 10/20010

- Nơi học: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên - TP Thái Nguyên

Trang 6

- Tên luận văn: “ Xây dựng và sử dụng bài tập Vật Lý đại cương phần điện

học (chương trình đào tạo trường ĐHKTCN Thái Nguyên) nhằm phát triển tư

duy, năng lực sáng tạo kĩ thuật cho sinh viên”

- Ngày và nơi bảo vệ luận văn:………

- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Khải

3 Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh C

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thời gian Nơi công tác Công việc đảm nhận 11/ 2008 đến nay Trường ĐHKTCN - ĐHTN Giáo viên dạy môn Vật lí

Ngày 24 tháng 8 năm 2010 Xác nhận của cơ quan cử đi học Người khai

Hoàng Mạnh Chung

Trang 7

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT CỦA SV TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 4

1 TỔNG QUAN 4

2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY, SÁNG TẠO KỸ THUẬT 5

2.1 Tư duy kĩ thuật 5

2.1.1 Khái niệm về tư duy kĩ thuật 5

2.1.2 Các biện pháp hình thành và phát triển tư duy kĩ thuật của SV 6

2.1.3 Rèn luyện các thao tác tư duy kĩ thuật 6

2.2 Năng lực sáng tạo kĩ thuật 8

2.2.1 Khái niệm về sáng tạo và năng lực sáng tạo [7,11,39] 8

2.2.2 Các đặc điểm và các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo [ 12 ] 11

2.2.3 Các phẩm chất của người sáng tạo [ 13 ] 12

2.2.4 Các nguyên tắc và PP phát triển tư duy, sáng tạo kĩ thuật 14

2.2.4.1 Điều kiện của tư duy, sáng tạo kĩ thuật [ 37 ] 14

2.2.4.2 Các PP phát triển tư duy sáng tạo kĩ thuật [ 18 ] 17

2.3 Mối quan hệ giữa tự học và tư duy sáng tạo 19

2.3.1 Tự học để sáng tạo trong cuộc sống [ 1 ] 19

2.3.2 Vấn đề tự học trong nhà trường [ 1] 21

3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHKT CN 23

3.1 Nghiên cứu thực tế dạy học vật lí ở trường ĐHKT CN 24

3.2 Bài tập Vật lí và thực trạng dạy và học bài tập vật lí ở trường Đại học kĩ thuật công nghiệp Thái Nguyên 26

3.2.1 Tác dụng của bài tập vật lý (BTVL) trong việc phát triển năng lực tự lực, sáng tạo của SV [14,30] 26

3.2.2 Phân loại bài tập Môn Vật lý [5,7,11] 27

3.3 Thực trạng dạy - học BTVL ở các trường Đại học Kỹ thuật Công Nghiệp Thái Nguyên (ĐHKTCN TN) hiện nay 28

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.3.1 Thực trạng việc phát huy tư duy, năng lực sáng tạo kĩ thuật sinh viên trường

ĐHKTCN Thái Nguyên 28

3.3.2 Thực trạng về điều kiện và phương pháp dạy học của giáo viên [9] 28

3.3.3 Thực trạng về thái độ và chất lượng học tập của sinh viên [ 1 ] 29

4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG TẠO KỸ THUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHKYCN TN QUA RÈN LUYỆN GIẢI BTVL 30

4.1 Biện pháp 1: Lựa chọn bài tập phù hợp, vừa có tính sáng tạo phải vừa sức với sinh viên gắn liền với những ứng dụng trong cuộc sống [11,12] 30

4.2 Biện pháp 2: Xây dựng hợp lý tiến trình dạy học bài tập vật lí 32

4.3 Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động học tập tích cực cho sinh viên [9 ] 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 34

Chương II: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG PHẦN ĐIỆN HỌC (CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐH KTCN THÁI NGUYÊN) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT CHO SINH VIÊN 35

1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CẤU TRÚC NỘI DUNG PHẦN ĐIỆN HỌC 35

1.1 Vị trí vai trò phần điện học đại cương 35

1.2 Những kiến thức cơ bản SV cần nắm vững 38

1.3 Những kỹ năng giải bài tập phần điện học 38

2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP VLĐC PHẦN ĐIỆN HỌC (THEO CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐHKT) THEO HUỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG TẠO KỸ THUẬT CHO SINH VIÊN .38

2.1 Phương pháp chung giải BTVL 38

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập phần điện học 39

2.3 Phân tích và sử dụng hệ thống bài tập phần điện học 41

2.3.1 Phân tích hệ thống bài tập 41

2.3.2 Dự kiến việc sử dụng hệ thống bài tập đã cho 41

BÀI SOẠN 1: Bài tập về Điện tích, Điện trường 52

I Ý tưởng sư phạm 52

II Những kiến thức cơ bản của chương 53

III Lựa chọn bài tập 56

IV Xây dựng tiến trình giải bài tập 56

BÀI SOẠN 2: Bài tập về dòng điện trong các môi trường 76

I Ý tưởng sư phạm 76

Trang 9

II Những kiến thức cơ bản của chương 78

III Lựa chọn bài tập 79

IV Xây dựng tiến trình giải bài tập 80

BÀI SOẠN 3: Bài tập về điện từ 94

I Ý tưởng sư phạm 94

II Những kiến thức cơ bản của chương 96

III Lựa chọn bài tập 97

IV Xây dựng tiến trình giải bài toán 98

Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 119

1 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM (TNSP) 119

1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 119

1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 119

2 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 120

2.1 Đối tượng thực nghiệm 120

2.2 Những khó khăn gặp phải khi tiến hành thực nghiệm sư phạm 120

2.3 Phương pháp thực nghiệm 120

3 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TNSP 121

3.1 Đánh giá về mặt định tính 122

3.2 Đánh giá về mặt định lượng 122

4 CÁC GIAI ĐOẠN TNSP 123

4.1 Công tác chuẩn bị cho TNSP 123

4.1.1 Chọn lớp TN và ĐC 123

4.1.2 Chọn các bài tập 123

4.1.3 Các GV cộng tác TNSP 124

4.1.4 Thời gian thực hiện 124

4.2 Kết quả và xử lý kết quả TNSP 124

4.2.1 Yêu cầu chung về cách xử lý kết quả TNSP: 124

4.2.2 Kết quả TNSP 125

5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TNSP 136

5.1 Đánh giá định tính qua thống kê 136

5.2 Đánh giá định lượng qua bài kiểm tra 137

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 138

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 139

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ

Bảng 2.1 Cấu trúc nội dung phần điện học đại cương 38

Hình 2.2 Cấu trúc nội dung phần điện tích 56

Hình 2.3 Cấu trúc nội dung phần điện trường 56

Hình 2.4 Sơ đồ logic giải bài toán 1 72

Hình 2.5 Sơ đồ logic giải bài toán 2 74

Bảng 3.1: Đặc điểm, chất lượng của các lớp TN và ĐC 123

Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thái độ, tình cảm, tác phong của SV 125

Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra lần 1 126

Bảng 3.4: Xếp loại học tập (lần 1) 127

H 3.1: Biểu đồ xếp loại học tập (lần 1) 128

Bảng 3.5: Phân phối tần suất (lần 1) 129

H 3.2: Biểu đồ phân phối tần suất (lần 1) 129

Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra lần 2 130

Bảng 3 7: Xếp loại học tập lần 2 130

H 3.3: Biểu đồ xếp loại học tập lần 2 131

Bảng 3.8: Phân phối tần suất lần 2 131

H 3.4: Đồ thị tần suất lần 2 132

Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra lần 3 133

Bảng 3.10: Xếp loại học tập lần 3 133

H 3.5: Biểu đồ xếp loại học tập lần 3 134

Bảng 3.11: Phân phối tần suất lần 3 135

H 3.6: Đồ thị tần suất lần 3 135

Bảng 3.12: Tổng hợp các tham số thống kê của ba lần kiểm tra 136

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Điều 40 trong luật giáo dục năm 2005 qui định “phương pháp đào tạo

trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học tự nghiên cứu, phát triển tư duy sang tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiên cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiện, ứng dụng”

Mục tiêu đào tạo của trường là chuẩn bị cho sinh viên khi tốt nghiệp có năng lực công tác chuyên môn hoặc học lên trong lĩnh vực kĩ thuật, biết vận dụng những khai niệm nguyên tắc cơ bản của vật lý vào trong cuộc sống, cung cấp cho sinh viên sau khi tốt nghiệp những kĩ thuật cần thiết đủ để bắt đầu làm công tác chuyên môn,

kĩ năng nghề nghiệp hiểu biết xã hội để đáp ứng yêu cầu của xã hội…

“Bài tập điện” là một phần trong chương trình vật lý đại cương, có nhiều

ứng dụng trong vật lý kỹ thuật và điện từ học Việc nắm vững lý thuyết để giải bài tập rất quan trọng và ứng dụng về nó là rất lớn Đối với sinh viên ngành kĩ thuật nhằm có kiến thức tốt để chuẩn bị cho các môn học sau này và ứng dụng nó trong đời sống

Hiện nay, kỹ năng vận dụng các kiến thức lý thuyết để giải các bài tập vật lý, đặc biệt là phần kiến thức liên quan đến trực tiếp đời sống và khoa học kĩ thuật, còn rất nhiều hạn chế đối với người dạy và người học

Những yếu tố trên đã khiến tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng và sử dụng

bài tập vật lý đại cương phần điện học (chương trình đào tạo trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghiệp Thái Nguyên) nhằm phát triển tư duy, năng lực sáng tạo kĩ thuật cho sinh viên”

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy học bài tập vật lý ở trường Đại học

Kỹ Thuật Công Nghiệp Thái Nguyên (ĐH KTCNTN)

4 Giả thiết khoa học

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nếu xây dựng và sử dụng bài tập vật lý đại cương phần điện học (chương trình đào tạo cho trường ĐHKTCN TN) một cách hợp lý thì sẽ giúp sinh viên có thể nâng cao được khả năng tư duy và năng lực sáng tạo kĩ thuật, giúp sinh viên học tập

và làm việc hiệu quả hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận dạy học theo quan điểm dạy học hiện đại

- Nghiên cứu lí luận về vấn đề phát triển tư duy năng lực sáng tạo kĩ thuật

- Điều tra thực trạng dạy học phần bài tập vật lý đại cương, phần điện học

- Soạn một số giáo án theo phương án đề ra

- Thực nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu

Phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu về lí luận dạy học vật lý làm cơ

sở định hướng cho quá trình nghiên cứu: Vấn đề phát triển tư duy và năng lực sáng tạo kĩ thuật của sinh viên

- Điều tra khảo sát thực tế: Dự giờ, dùng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với giáo viên để nắm được tình hình soạn giáo án, tổ chức dạy học, dùng bài kiểm tra để làm cơ sở đánh giá mức độ phát triển của sinh viên

- Thực nghiệm sư phạm: Để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của tiến trình dạy học đã soạn thảo.Từ đó sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích xử lý số liệu

7 Đóng góp của luận văn

- Bước đầu vận dụng vào thực tế cơ sở lý luận khoa học về tư duy năng lực sáng tạo kĩ thuật ở sinh viên trường ĐHKTCN TN

- Đã lựa chọn và thiết kế tiến trình dạy học bài tập vật lý - phần điện học (chương trình đào tạo cho trường ĐHKTCN TN) theo hướng phát triển tư duy, năng lực sáng tạo kĩ thuật cho sinh viên

8 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 137 trang, trong đó được trinh bày bao gồm các phần sau:

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn:

Chương 2: Xây dựng và sử dụng bài tập vật lý đại cương phần điện học

(Chương trình đào tạo cho trường ĐHKTCN TN) nhằm phát triển tư duy và năng lực sáng tạo cho sinh viên

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Phần kết luận

Trang 13

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY

NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT CỦA SV

TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

1 TỔNG QUAN

Đổi mới phương pháp dạy học trong các trường chuyên nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã quan tâm chỉ đạo từ nhiều năm qua.Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau tiến độ của việc đổi mới phương pháp dạy học trong các trường chuyên nghiệp diễn ra không như mong muốn.Việc dạy học với lối truyền thụ một phía từ giảng viên chủ yếu nhằm cung cấp đủ thông tin để đảm bảo thực hiện hết nội dung chương trình còn khá phổ biến

ở nhiều trường Cách dạy học đó không giúp nhiều cho người học chuyển những thông tin đó thành tri thức của mình, người học thường bị động tiếp nhận thông tin, thiếu sáng tạo, chọn lọc thông tin kết hợp trải nghiệm học tập để tự kiến tạo nên tri thức và kĩ năng, từ đó hình thành năng lực nghề nghiệp cũng như năng lực học tập suốt đời.Qua nghiên cứu thực tế quản lý giáo dục chuyên nghiệp, xu hướng phát triển năng lực giảng viên trong các cơ sở giáo dục kĩ thuật và dạy nghề trên thế giới, những yếu kém trong việc đổi mới phương pháp dạy học có nguyên nhân chủ yếu là giảng viên chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dạy học và thiếu rất nhiều tài liệu phục vụ cho công tác đổi mới phương pháp

Do đó đối với giảng dạy trong các trường ĐH nói chung và trong giảng dạy môn Vật lý ở các trường đại học, trung học chuyên nghiệp nói riêng, người GV phải biết đã vận dụng tích cực các phương pháp dạy học (PPDH), áp dụng dần các phương tiện dạy học hiện đại vào dạy học để phù hợp với chương trình đổi mới trong quá trình đào tạo và phù hợp với nhu cầu của xã hội

Tuy nhiên, tuỳ theo đặc thù riêng của từng trường và ở từng vị trí khác nhau

mà có mục tiêu đào tạo khác nhau Vì vậy, các nhà nghiên cứu và các GV tâm huyết với nghề luôn luôn tìm tòi, lựa chọn và phối hợp sử dụng các PPDH Môn Vật lý sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo theo tín chỉ lấy người học làm trung tâm Việc tổ chức, quản lý đào tạo được sắp xếp lại khoa học nhờ sự trợ giúp hiệu quả cuả công nghệ thông tin, các thiết bị dạy học, giảng đường,lớp học… được tăng về số và chất lượng Các trường đại học (ĐH) trong khối Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) đã triển khai áp dụng các PPDH hiện đại, sử dụng các thiết bị, phần mềm hỗ trợ dạy học, xây dựng, nâng cấp các phòng học, giảng đường để đáp ứng nhu cầu của công tác

Trang 15

đào tạo theo tín chí Càng ngày càng có nhiều tiết dạy đã được các giảng viên chuẩn

bị đầu tư công phu từ việc thiết kế bài giảng, lựa chọn phối hợp các PPDH phù hợp đến việc tổ chức hiệu quả các hoạt động học tập của SV cũng như việc hướng dẫn

SV tự học, tự nghiên cứu ở tất cả các trường Đáp ứng được yêu cầu định hướng giáo dục mà Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu trong chủ đề các năm học như: năm học 2008-2009 “Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), đổi mới quản lí tài chính và triển khai phong trào xây dụng trường học thân thiện, SV tich cực”, năm học 2009-2010 “chất lượng giáo dục và đào tạo theo nhu cầu xã hội” Trong đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục là “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp (PP) giáo dục, đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ đổi mới

PP dạy và học”, trong đó việc ứng dụng CNTT phải thực hiện hợp lí

Cùng với mục tiêu chung của cả nước, SV khối trường Đại học Kỹ thuật (ĐHKT) sẽ được học các môn thuộc khối kiến thức chung, khối kiến thức chuyên ngành, khối kiến thức xã hội nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực nắm trong tay khoa học công nghệ, có khả năng nắm vững và sử dụng thành thạo các công nghệ, thiết bị hiện đại trong công nghiệp Sau khi tốt nghiệp, SV có khả năng nghiên cứu các vấn

đề thuộc chuyên ngành đào tạo và học lên các bậc cao hơn, có khả năng nghiên cứu độc lập, chủ động sáng tạo trong sản xuất và công việc

Đối với bất kỳ khối trường kĩ thuật nào, SV cũng đều phải học một số bộ môn cơ bản, đó là nền móng để cho SV tiếp thu, học tập và nghiên cứu lên cao hơn Đặc thù của bộ môn Vật lý ở trường là bộ môn khoa học thực nghiệm, trong đó việc xây dựng các định luật định lý, bài tập luôn gắn liền với những ứng dụng, đây là cơ

sở tiền đề để SV học các môn chuyên ngành Do đó, PP để người GV truyền đạt kiến thức và kích thích ở người học ham muốn học hỏi để phát triển về tư duy, năng lực sáng tạo là hết sức quan trọng

Tổ chức giờ bài tập Vật lý (BTVL) theo quan điểm lựa chọn và kết hợp nhiều giải pháp cùng một lúc, có tác dụng phát huy tính tích cực của người học, nâng cao được hiệu quả của giờ học Tích cực hoá hoạt động học tập là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng trực tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm hiểu tri thức để nâng cao hiệu quả học tập

2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY, SÁNG TẠO KĨ THUẬT 2.1 Tư duy kĩ thuật

2.1.1 Khái niệm về tư duy kĩ thuật

- Tư duy kĩ thuật là một quá trình nhận thức khái quátcác phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các kiến thức đã biết

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

của kiến thức và sản phẩm trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của chúng, những mối quan hệ khách quan, phổ biến của chúng, đồng thời cũng là sự vận dụng sáng tạo các kiến thức và thiết bị có sẵn để giải quyết các vấn đề thực tế

để tạo ra các dụng cụ máy móc, quy trình tiêu chuẩn Việc chuẩn hóa như vậy là đặc thù của kĩ thuật Tư duy kĩ thuật có thể hiểu là sự vận dụng sáng tạo những kiến thức thiết bị đã có để dự đoán được những thiết bị mới đạt hiệu quả con hơn trong sản xuất

2.1.2 Các biện pháp hình thành và phát triển tư duy kĩ thuật của SV

a Dạy học theo đúng yêu cầu của logíc học

- Dạy học làm sáng tỏ logic của kiến thức vật lý

- Trình tự lập luận, chứng minh, dẫn dắt hình thành kiến thức đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm phù hợp với qui luật nhận thức

- Chú ý đến tình hình thực tế của SV để điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy cho phù hợp

c Tích hợp các yếu tố, kiến thức về kĩ thuật, công nghệ vào nội dung của dạy học vật lí

d Tích cực hoá quá trình học tập của SV

- Kích thích hứng thú học tập cho SV bằng cách đặt vấn đề hấp dẫn, tạo điều kiện để giờ học thoải mái, mọi SV đều làm việc, không căng thẳng

- Tăng cường công việc tự lực của SV: giao bài tập, thí nghiệm, bài đọc thêm

ở nhà, cá biệt hoá quá trình học tập, kích thích đến từng đối tượng -> mọi SV đều chủ động tham gia giải quyết nhiệm vụ được giao

- Tăng cường kiểm tra đánh giám sát quá trình học tập

2.1.3 Rèn luyện các thao tác tư duy kĩ thuật

a Rèn luyện các thao tác tư duy logic hình thức

Quá trình dạy học vật lý cần tập luyện cho SV cách suy nghĩ, vận dụng các thao tác tư duy logíc, nghĩa là sử dụng các thao tác: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ

Trang 17

thống hoá, trừu tượng hoá và cụ thể hoá… trong khi giải các bải tập vật lý, ôn luyện, làm thí nghiệm…

Phân tích là thao tác dùng trí óc chia nhỏ đối tượng thành các bộ phận để nghiên cứu, chia cái toàn thể ra thành từng phần hoặc tách ra theo từng thuộc tính, từng cạnh khía riêng biệt để nghiên cứu Thao tác này được sử dụng phổ biến để tìm hiểu các hiện tượng vật lý, kết quả thí nghiệm, các bài toán, làm rõ ý nghĩa vật lý của biểu thức, phương trình vật lý…

Tổng hợp là thao tác dùng trí óc, liên hợp các bộ phận của hiện tượng hay vật thể, các dấu hiệu hay thuộc tính của chúng lại để tìm ra một điều chung, xác lập được mối quan hệ giữa chúng với nhau Việc suy nghĩ về cách giải thích hiện tượng, tiến hành thí nghiệm, trình tự cho việc giải bài toán chính là tiến hành thực hiện thao tác tổng hợp

So sánh là thao tác dùng trí óc tìm ra các dấu hiệu, thuộc tính giống nhau hoặc khác nhau của các sự vật, hiện tượng, các quá trình Thao tác so sánh được sử dụng trong hình thành các giả thuyết khoa học, quá trình khái quát hoá các sự kiện, hiện tượng, trong ôn tập, hệ thống hoá kiến thức vật lý… Nó giúp chúng ta khắc

sâu, hiểu rõ kiến thức một cách toàn diện và tổng quát hơn

Hệ thống hoá là thao tác dùng trí óc tập hợp, liệt kê sắp xếp các yếu tố kiến thức kỹ năng, tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp các yếu tố, từ đó hệ thống hoá kiến thức, kỹ năng Việc hệ thống hoá được tiến hành thường xuyên trong tất cả các bài học vật lý, nó là cơ sở cho việc nghiên cứu tài liệu mới, giải bài tập, tiến hành thí nghiệm thực hành…

Trừu tượng hoá là thao tác dùng trí óc phân biệt những tính chất căn bản của một nhóm các sự vật, hiện tượng, loại bỏ những thuộc tính phụ và khái quát những đặc tính căn bản ấy bằng sự trừu tượng khoa học, biểu hiện trong những khái niệm

và phạm trù khoa học; trừu tượng hoá được sử dụng phổ biến khi nghiên cứu khái niệm, định luật, thuyết vật lý, các tư tưởng vật lý

b Rèn luyện các thao tác tư duy logic biện chứng

Các hiện tượng và quá trình vật lý cần được khảo sát phù hợp với sự phát triển biện chứng, điều đó có nghĩa là khi nghiên cứu và giảng dạy kiến thức vật lý cần phân tích toàn diện, sắp xếp chúng trong mối liên hệ tương hỗ, trong sự phát triển lịch sử, thống nhất và mâu thuẫn nội tại của chúng

Rèn luyện tư duy logic biện chứng chính là bồi dưỡng phương pháp tư duy căn cứ vào những đặc thù của từng đối tượng, sử dụng phép biện chứng, tính quy luật để xem xét các đối tượng Nói cách khác, rèn luyện tư duy logic biện chứng là rèn luyện cách suy nghĩ có cơ sở khoa học, là phản ánh hiện thực trong sự vận động

và phát triển không ngừng của chúng

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Vì vậy, cần cho SV nghiên cứu các sự vật hiện tượng từ nhiều mặt khác nhau, trong mối liên hệ phụ thuộc, tính quy luật, tính chuyển hóa và bảo toàn giữa chúng… Cần chỉ rõ cho SV thấy sự nhận thức khoa học bắt đầu từ sự nghiên cứu cái riêng, rồi nâng lên cái đặc thù và sau nữa là đến cái phổ biến Song người ta cũng có thể sử dụng cái chung để giải thích và dự đoán cái riêng, đồng thời cái chung cũng tồn tại trong cái riêng

Trong dạy học vật lý, cần rèn luyện cho SV tư duy vật lý, tư duy khoa học kỹ thuật, phương pháp suy luận logíc chặt chẽ hệ thống, nhất quán và có căn cứ đầy đủ, cần chú ý đến cấu trúc logic, tiến trình của bài học, đặc điểm đối tượng của SV nhằm phát huy tối đa tính chủ động tích cực học tập của họ Đó là những yếu tố đảm bảo cho việc phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của SV

c Rèn luyện ngôn ngữ vật lý cho SV

Ngôn ngữ là hình thức biểu hiện của tư duy Mỗi khái niệm vật lý được biểu đạt bằng một từ, một định nghĩa, định luật vật lý được phát triển bằng mmột mệnh

đề, mỗi suy luận bao gồm nhiều phán đoán liên tiếp

Tuy kiến thức vật lý rất đa dạng nhưng những cách phát biểu định nghĩa, quy tắc, định luật vật lý cũng có những hình thức chung nhất định, GV có thể chú ý rèn luyện cho SV quen dần Cụ thể như: Để mô tả một hiện tượng, cần những thuật ngữ diễn tả những dấu hiệu đặc trưng cho loại hiện tượng đó Ví dụ: mô tả chuyển động

cơ học, cần đến những thuật ngữ để chỉ quỹ đạo (thẳng, cong, tròn…), chỉ sự nhanh hay chậm của chuyển động (vận tốc)…; Định nghĩa một đại lượng vật lý thường có

hai phần: Một phần nêu lên đặc điểm định tính và một phần nêu lên đặc điểm định lượng; Một định luật vật lý thường nêu lên mối quan hệ hàm số giữa hai đại lượng hoặc nêu lên những điều kiện để cho một hiện tượng có thể xảy ra

Trong vật lý học, nhiều khi vẫn dùng các từ ngữ như trong ngôn ngữ hang ngày nhưng có một nội dung phong phú và chính xác hơn Mỗi khi gặp một thuật ngữ mới diễn tả một khái niệm mới, GV cần giải thích rõ cho SV và yêu cầu họ tập

sử dụng nó một cách chính xác, thành thạo thay cho ngôn ngữ hàng ngày

2.2 Năng lực sáng tạo kĩ thuật

2.2.1 Khái niệm về sáng tạo và năng lực sáng tạo [7,11,39]

a) Khái niệm về tư duy sáng tạo

Vào thời cổ đại, Aristotle là người đầu tiên biến tư duy thành đối tượng

nghiên cứu của triết học Ông cho rằng tư duy cũng có những nguyên tắc tồn tại độc lập và con người chứng minh phải theo đúng quy tắc ấy Bởi vậy, ông đã xây dựng phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch, đã tìm ra nguyên lý của sự chứng

Trang 19

minh tam đoạn luận và phân loại 10 phạm trù nhằm mở rộng cả hình thức và nội dung của tư duy

Đến thế kỷ 17, Descartes cũng đã có câu nói nổi tiếng về tầm quan trọng của

năng lực tư duy đối với sự tồn tại của con người trong vũ trụ: “Tôi tư duy, vậy tôi

tồn tại” Nguyên lý cơ bản đó của ông mang ý nghĩa tiến bộ trong lịch sử, bởi nó

khẳng định rằng mọi khoa học chân chính đều phải xuất phát từ “sự nghi ngờ”, nghi ngờ ở đây không phải là hoài nghi chủ nghĩa mà là “sự nghi ngờ về phương

pháp luận, nghi ngờ để đạt tới sự tin tưởng”, có nghĩa là tư duy

Tư duy sáng tạo là chủ đề của một lĩnh vực nghiên cứu còn mới Nó nhằm tìm ra các phương án, biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng sáng tạo và để đào sâu rộng khả năng tư duy của một cá nhân hay một tập thể cộng đồng làm việc chung về một đề tài hay lĩnh vực

Theo định nghĩa trong từ điển (Việt Nam) thì sáng tạo “là tìm ra cái mới,

cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” Nội dung khái niệm

sáng tạo gồm hai ý chính: có tính mới (khác với cái cũ, cái đã biết) Như vậy, sự sáng tạo cần thiết cho bất kì lĩnh vực hoạt động nào của xã hội loài người Trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, trong sản xuất, đó là các sánh tác, tác phẩm

…Về thực chất, sáng tạo không chỉ là một đặc trưng chỉ sự khác biệt giữa người và sinh vật mà còn là đặc trưng chỉ sự khác biệt về sự đóng góp cho xã hội, giữa người này và người khác mà trong kho tàng của giá trị loài người chưa từng có

- Năng lực sáng tạo: Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (Nga): “Sáng tạo

là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất

có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị”, hay Từ điển bách khoa Việt Nam

(tập ba): Sáng tạo là “hoạt động tạo ra cái mới” Như vậy, có thể hiểu năng lực

sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vân dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới

Năng lực sáng tạo phản ánh hoạt động lý tính của con người, đó là khả năng nhận thức thế giới, phát hiện ra các quy luật khách quan và sử dụng những quy luật

đó vào việc cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ loài người Năng lực sáng tạo biểu hiện trình độ tư duy phát triển ở mức độ cao của của con người

b) Khái niệm năng lực sáng tạo kĩ thuật

- Năng lực sáng tạo kĩ thuật:: “Sáng tạo kĩ thuật là một loại hoạt động mà kết

quả của nó là một sản phẩm, thiết bị kĩ thuật có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị sử dụng hiệu quả hơn các thiết bị đã có”.Như vậy, có thể hiểu năng lực sáng

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tạo kĩ thuật là khả năng tạo ra những thiết bị, máy móc kĩ thuật, tìm ra cái mới, giải pháp mới để vân dụng thành công những thứ đã có vào cuộc sống có hiệu quả hơn

- Năng lực sáng tạo kĩ thuật phản ánh hoạt động trí tuệ của con người, đó là khả năng nhận thức thế giới, phát hiện ra các quy luật khách quan và sử dụng những quy luật đó vào việc cải tạo các thiết bị máy móc, phục vụ loài người Năng lực sáng tạo kĩ thuật biểu hiện trình độ tư duy phát triển ở mức độ cao của của con người

c) Các biện pháp hình thành năng lực sáng tạo kĩ thuật

1 Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây đựng kiến thức mới

Kiến thức vật lí trong trường đại học là những kiến thức đã được loài người khẳng định, tuy vậy nó luôn luôn là mới mẻ đối với SV Việc nghiên cứu kiến thức mới

sẽ thường xuyên tạo ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản than họ

Tổ chức quá trình nhận thức vật lý theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho SV trên con đường hoạt động sáng tạo kĩ thuật dễ nhận biết được Chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới Việc tập trung sức lực vào chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo kĩ thuật của SV có hiệu quả, rèn luyện cho tư duy trực giác nhạy bén phong phú

2 Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết

“Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học.Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc về mọi lĩnh vực”

Dự đoán khoa học không phải là tùy tiện mà luôn luôn phải có một cơ sở nào

đó, tuy chưa thật là chắc chắn Có thể có các cách dự đoán sau đây trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức Vật Lí của SV

- Dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có

- Dựa trên sự tương tự

- Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có quan hệ nhân quả

- Dựa trên nhận xét thấy hai hiện tượng luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng hoặc cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng

- Dự đoán về mối quan hệ định lượng

3 Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán

Muốn kiểm tra dự đoán, giả thuyết có phù hợp với điều kiện thực tế hay không, ta phải xem điều dự đoán đó biểu hiện trong thực tế như thế nào, có những dấu hiệu nào có thể quan sát được Điều đó có nghĩa là ta phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành thực nghiệm để xem kết quả đó có phù hợp với kết quả thực nghiệm không Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo kĩ thuật ở đây là đề xuất phương án kiểm tra hệ quả đã rút ra được

Trang 21

4 Rèn luyện các thao tác sáng tạo kĩ thuật

- Trong dạy học vật lí, người ta còn xây dựng những bài tập riêng vì mục đich rèn luyện năng lực sáng tạo cho SV hay còn gọi là bài tập sáng tạo Trong loại bài tập sáng tạo này, ngoài việc phải vận dụng những kiến thức đã học, SV còn phải

có những hiểu biết về ứng dụng của phần này vào máy móc thiết bị trong cuộc sống,

SV bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ không thể suy ra một cách logic

từ kiến thức đã học Khi khảo sát chu trình sáng tạo khoa học, ta biết hai giai đoạn khó khăn hơn cả đòi hỏi sự sáng tạo là giai đoạn từ sự kiện cảm tính tới việc xây dựng mô hình giả thuyết trừu tượng và giai đoạn chuyển từ một tiên đề lý thuyết và những quy định của hiện tượng sang việc kiểm tra bằng thực nghiệm Giai đoạn thứ nhất đòi hỏi thực hiện một số hiện tượng thực đáp ứng những yêu cầu đã cho, nghĩa

là trả lời câu hỏi: Làm thế nào? Tương ứng với trường hợp trên là loại bài tập sáng tạo, bài tập nghiên cứu và bài tập thiết kế chế tạo

2.2.2 Các đặc điểm và các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo [ 12 ]

1 Đặc điểm của tư duy sáng tạo

Không có khuôn mẫu tuyệt đối: Cho đến nay vẩn không có PP vạn năng nào

để khơi dậy khả năng tư duy sáng tạo và các tiềm năng khổng lồ ẩn chứa trong mỗi con người Tùy theo đặc tính của đối tượng làm việc và môi trường tại chỗ mà mỗi

cá nhân hay tập thể có thể tìm thấy các PP riêng thích hợp

Không cần đến các trang bị đắt tiền: Cho đến nay, các PP tư duy sáng tạo chủ yếu vẫn là các cách thức tổ chức lề lối suy nghĩ có hướng và các dụng cụ sử dụng rất đơn giản chủ yếu là giấy, bút, phấn, bảng, lời nói, đôi khi là màu sắc, máy chiếu hình, hay từ điển Một số phần mềm đã xuất hiện trên thị trường để giúp đẩy nhanh hơn quá trình hoạt động sáng tạo và làm việc tập thể có tổ chức

và hiệu quả hơn

Không phức tạp trong thực nghiệm: Thực nghiệm của hầu hết các PP tư duy sáng tạo hiện nay rất đơn giản Đa số, các PP đã được ghi sẵn ra từng bước như là những thuật toán

Hiệu quả cao: Các PP tư duy sáng tạo, nếu sử dụng đúng chỗ đúng lúc đều mang lại lợi ích rất cao, nhiều giải pháp được đưa ra chỉ nhờ vào PP tập kích não Các PP khác cũng đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà phát minh, nhất là trong lĩnh vực

kỹ thuật hay công nghệ

Giảm thiểu được áp lực quá tải của lượng thông tin: bằng các phương án tư duy có định hướng thì một hệ quả tất yếu là người nghiên cứu sẽ chọn lựa một cách

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tối ưu những dữ liệu cần thiết, do đó tránh các cảm giác bối rối, mơ hồ, hay lạc lõng trong rừng rậm của thông tin

2 Các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo

Theo Guiford và Loowenfield (hai nhà nghiên cứu Mĩ có công trình độc lập: một người có nghiên cứu về tính sáng tạo khoa học, người kia về tính sáng tạo nghệ

thuật) đã thống nhất về tiêu chí của tính sáng tạo (1958): “Có tính nhạy cảm về thế

giới, tính linh hoạt và năng động tư duy, có cá tính, năng khiếu biến đổi sự vật, tư duy phân tích và tổng hợp, năng lực tổ chức”

1 Trong rất nhiều trường hợp quá trình sáng tạo đòi hỏi phải có sự tự lực chuyển các tri thức và kĩ năng sang một tình huống mới, sự liên hệ giữa tri thức cũ

và tình huống mới càng xa nhau bao nhiêu thì độ sáng tạo càng cao

2 Nhìn thấy vấn đề mới trong những điều kiện quen biết đúng quy cách

3 Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết

4 Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng nghiên cứu, thực chất là nhanh chóng nhìn thấy cấu trúc của đối tượng như các bộ phận các yếu tố các mối quan hệ giữa chúng

5 Kĩ năng nhìn thấy nhiều lời giải cho một bài toán, thực chất là tâm lí chấp nhận những lời giải khác nhau, những cách giải quyết khác nhau xem xét đối tượng

ở những khía cạnh khác nhau đôi khi mâu thuẫn nhau

6 Kĩ năng biết phối hợp các phương thức giải quyết vấn đề đã biến thành một phương thức mới

7 Kĩ năng sáng tạo một phương thức giải độc đáo khi đã biết các phương thức giải mới

Ngoài ra còn có thể bổ sung thêm những đặc trưng sau:

1 Biết kiểm tra đánh giá giải quyết vấn đề của bản thân và của những người khác

2 Biết điều chỉnh các phương án giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và phù hợp với điều kiện thực tiễn

3 Tự chủ tin tưởng vào khả năng giải quyết các vấn đề, bản thân không nản trí trước một vấn đề khó mà tìm mọi cách để có phương án giải quyết tốt nhất

2.2.3 Các phẩm chất của người sáng tạo [ 13 ]

1 Chủ thể sáng tạo

Xưa nay, khi nói đến sáng tạo , thường ta chỉ xem đó là hoạt động riêng của một lớp người được gọi là "trí thức", như các nhà khoa học , các nhà thơ , nhà văn, các nghệ sĩ Ngày nay, năng lực sáng tạo để làm nên sự giàu có và sức cạnh tranh của nền kinh tế mới phải là từ mọi thành phần của nền kinh tế đó , tức là từ mọi người trong xã hội Trong nền kinh tế mới, mọi người đều tham gia sáng tạo, và mọi

Trang 23

người đều có năng lực sáng tạo , đó là điểm mới đầu tiên mà chúng ta cần nhận thức được trong quá trình đổi mới tư duy của mình Nói mọi người đều sáng tạo thì có vẻ

khó tin, nhưng "đổi mới tư duy" ở đây đòi hỏi trước hết phải xác lập niềm tin đó:

Anh là người sáng tạo, tôi là người sáng tạo, mỗi người đều sáng tạo; sáng tạo, có năng lực sáng tạo là thuộc tính tự nhiên của con người Trong danh sách 10 chìa khóa hàng đầu để phát triển năng lực sáng tạo cá nhân do tổ chức Coachville đề

xuất, điều tin rằng “mình là người sáng tạo” được xem là chìa khóa quan trọng số một Chín chìa khóa tiếp theo là: “hãy mở rộng những điều mà mình quan tâm để

có thêm nhiều nhận thức mới, kinh nghiệm mới; hãy thu thập thêm nhiều rung cảm,

ấn tượng, nhiều thông tin thới chuẩn bị cho sáng tạo; hãy tìm kiếm các mối quan hệ liên kết, kể cả các mối liên hệ ít ngờ nhất; từ bỏ những thói quen thường ngăn cản

ta đến với những điều mới; tạo cho mình một môi trường thoải mái theo sở thích;

bố trí thời gian thuận tiện cho mọi hoạt động, có nghỉ ngơi thư giãn, có suy nghĩ, nhớ rằng có những quãng thời gian dài không nghĩ được gì, nhưng cũng có thể có những năm phút làm nên sự khác biệt; cần có đức kiên trì; mở rộng mọi giác quan

để tiếp nhận mọi tri thức trực giác; và cuối cùng là biết quên đi nhiều điều mà mình

đã biết để luôn có một trí tuệ nguyên lành với đôi mắt tươi sáng”

Sáng tạo là một loại lao động phức tạp và vất vả Nhà phát minh nổi tiếng

Edison nói: "Trong mỗi phát minh có 1% cảm hứng và 99% việc đổ mồ hôi" Vậy

để con người có thể hăng say sáng tạo phải có những động lực mạnh mẽ Ham hiểu biết, tìm kiếm cái hay cái đẹp là động lực thúc đẩy sự nghiệp sáng tạo của biết bao thế hệ các nhà bác học, văn nhân, nghệ sĩ Rồi kinh tế thị trường xuất hiện cùng với chủ nghĩa tư bản, và thị trường với cơ chế cạnh tranh ngày càng khốc liệt dần trở thành nguồn động lực cho sáng tạo, sáng tạo trong sản xuất, trong phát triển công nghệ, trong quản lý kinh doanh, Và đến ngày nay, kinh tế thế giới đã phát triển đến giai đoạn của "kinh tế tri thức" toàn cầu hóa với một thị trường mở rộng ra phạm vi toàn thế giới, yếu tố "năng lực sáng tạo" trở thành chìa khóa chính cho mọi quốc gia đi vào tiến trình hội nhập, thì việc chăm lo tạo dựng và phát huy năng lực sáng tạo không còn là việc của từng cá nhân, mà trở thành vấn đề chiến lược của mọi quốc gia Đối với các lĩnh vực như khoa học cơ bản, hỗ trợ và khuyến khích các năng lực sáng tạo trong các lĩnh vực này,vai trò của các cơ quan công, trước hết của Nhà nước, vẫn hết sức quan trọng

Sáng tạo cho đến nay vẫn là năng lực riêng có của con người Sáng tạo thường

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

óc, thường giúp cho các ý tưởng gặp gỡ, đối sánh, chọn lựa, ý tưởng làm nẩy sinh ý tưởng, cho nên sáng tạo cũng có thể được coi là kết quả của tập thể

2 Các phẩm chất của người sáng tạo

2.2.4 Các nguyên tắc và PP phát triển tư duy, sáng tạo kĩ thuật

2.2.4.1 Điều kiện của tư duy, sáng tạo kĩ thuật [ 37 ]

1 Quy luật quán tính của tư duy

Sự mô tả về những tình huống đa dạng nói trên trước hết cho ta một ý nghĩ rằng trong thực tế không có một thời gian nào trong ngày mà con người có đầu óc sáng tạo lại không nảy ra ý kiến về cách giải quyết nhiệm vụ phức tạp trước đó không giải quyết được Thường con người khi đã tìm ra được cách giải quyết mới, một cấu trúc mới, hay một quy luật mới, thì lại coi như là một khám phá ngẫu

nhiên, một “món quà” bất ngờ và may mắn Ngày nay, khoa sinh lí học về lao động trí óc đã nói đến “quy luật quán tính của tư duy”, nghĩa là khi nhà khoa học đang

quan tâm theo đuổi một ý nghĩ nào đó thì “luồng tư tưởng” có xu hướng tiếp diễn trong thời gian và không gian và đó là quy luật của sự sáng tạo

2.Nghiên cứu toàn diện

Hemhôn, một nhà Môn Vật lý, nói về quá trình sáng tạo của ông như sau:

“Theo như tôi nhớ rõ, thì những ý nghĩ hay không bao giờ đến trên bàn viết khi óc

đã mệt” Ông còn khẳng định sự thật sau đây: Bao giờ cũng cần phải nghiên cứu

trước một cách toàn diện vấn đề tới một mức độ để giữ lại được trong óc mình những góc sắc cạnh, những khía cạnh phức tạp, có thể trở lại với chúng một cách tự

do, thoải mái mà không cần ghi chép Thông thường, nếu không có sự nghiên cứu trước một cách lâu dài, bền bỉ thì sẽ không thể đưa vấn đề đến tình trạng đó được Sau đó, khi sự mệt mỏi do quá trình lao động đó qua đi, khi ta có một trạng thái

Trang 25

hoàn toàn trong sạch về thể chất, nhẹ nhõm về tinh thần, thì lúc đó những ý tưởng hay sẽ đến Thường chúng đến vào các buổi sáng khi chúng ta vừa tỉnh dậy, giống như điều mà Goethe đã nói trong các bài thơ của ông, và đúng như đã có lần Gauss

cũng nói, các ý nghĩ hay “ưa" xuất hiện trong thời gian đi dạo nhẹ nhàng trong thời

tiết có ánh mặt trời, chỉ cần một ly rượu nhỏ là có thể làm mất hết những ý nghĩ trong đó

3.Quy luật khách quan

Muốn tư duy sáng tạo trước hết cần nắm được những quy luật khách quan của sự vật và đối tượng nghiên cứu

Như vậy, cái gốc của vấn đề chính là những quy luật khách quan liên quan đến sư vật Lênin đã từng nhấn mạnh: “Biện chứng của sự vật tạo lập biện chứng của ý tưởng chứ không phải ngược lại”

Lời khuyến cáo của Ơirstic là: “Hãy suy nghĩ theo những quy luật khách quan về sự phát triển, chắc chắn bạn sẽ có những sáng kiến, cải tiến, cao hơn những sáng chế, phát minh”

4 Nhiệt tình hay lòng hăng say nghiên cứu

Nhà khoa học Prikhôtcô viết: Công tác nghiên cứu khoa học là quá trình sáng tạo rất công phu và phức tạp, đòi hỏi thường xuyên phải có “lòng hăng say cao độ”, có nhiệt tình công tác Nếu ta làm công tác nghiên cứu với tinh thần thờ ơ lãnh đạm thì nó sẽ trở thành công việc rất thủ công, sẽ không bao giờ đưa lại một cái gì

có thực chất cả Không phải ngẫu nhiên mà người ta so sánh sự sáng tạo trong khoa học với những chiến công Cũng như chiến công, nó đòi hỏi toàn bộ năng lực sáng tạo con người phải hoạt động căng thẳng tới mức tối đa

Viện sĩ Ferman nói: “Trong cuộc đấu tranh để giành lấy những bí mật và

sức mạnh của thiên nhiên có chứa đựng phần hạnh phúc của nhà khoa học, có cuộc đời, niềm vui, nỗi đau khổ, sự lôi cuốn, lòng say mê và nhiệt tình nóng bỏng của anh ta” Nhưng nếu như ở người cán bộ nghiên cứu khoa học không có lòng say mê

ấy, nếu anh ta làm việc theo lối “sáng vác ô đi, chiều vác ô về”, nếu tay anh ta

không run lên khi tiến hành những lần cân đo, những con tính cuối cùng, thì anh ta không phải là nhà khoa học chân chính

Lênin đã nhấn mạnh rằng nếu thiếu “sự xúc động của con người” thì con

người không thể và sẽ không bao giờ thể tìm thấy chân lí

Newton nói: “Thiên tài là lao động” Ông nói đến một quá trình lao động

kiên trì và bền bỉ, bao gồm việc tích luỹ tri thức về vấn đề nghiên cứu, việc khắc phục lần lượt khó khăn để thực hiện các thí nghiệm

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

T.Edison, người được mệnh danh “có thể sáng chế ra bất kì thứ gì” nói:

“Trong những công trình của tôi 99% là kết quả lao động cật lực và chỉ 1% là cảm hứng, may mắn và tài năng”

5 Phương pháp

Nhiều nhà khoa học đã nhấn mạnh đến PP Theo họ, PP là điều kiện đầu tiên, điều kiện quan trọng nhất Tất cả tính nghiêm túc của nghiên cứu phụ thuộc vào PP, vào cách thức hoạt động Tất cả sự nghiệp là nằm ở PP tốt, PP nắm trong tay vận mệnh của công trình nghiên cứu

Landau nói: “PP quan trọng hơn phát minh, bởi vì PP nghiên cứu đúng sẽ

dẫn đến những phát minh mới, giá trị hơn”

Tolstoy nói: “Điều quý báu nhất cần biết không phảI là quả đất tròn mà là

làm thế nào để đi đến kết luận ấy”

Khi thực hiện một đề tài cụ thể, cần áp dụng những PP thích hợp Hegel, một nhà PP luận, nhấn mạnh mối quan hệ giữa nội dung và PP Ông cho rằng PP

là sự vận động của bản thân nội dung, vì vậy không thể nghiên cứu PP mà tách rời nội dung

Nhờ có PP làm việc khoa học, nhà nghiên cứu mới thu được một cách đầy

đủ và chính xác các sự kiện Các sự kiện, đó là không khí của nhà khoa học Không có chúng thì sẽ không có khoa học, nhà khoa học phải có PP tốt để thu thập và xử lí chúng

6 Biết làm việc một cách khoa học

Nhà tổ chức khoa học lao động trí óc Vedenxki nói: “Ta bị mệt mỏi

không chỉ do làm việc nhiều, mà còn do làm việc tồi” Ông đề nghị các nhà

khoa học áp dụng 5 điểm sau đây:

- Bắt tay vào làm việc phải từ từ, làm việc nhẹ nhàng không hấp tấp

- Phải làm việc theo trình tự, hết giai đoạn này đến giai đoạn khác, làm việc có hệ thống

- Phải có chế độ luân phiên thích đáng giữa làm việc và nghỉ ngơi

- Kết hợp lao động chân tay với lao động trí óc

- Thường xuyên và đều đặn rèn luyện trình độ chuyên môn

7 Phải có phương tiện làm việc:

Ngay cả những người học giỏi cũng phải có những dụng cụ để sử dụng Galilê đã không thể nhìn theo những Mặt trăng của sao Mộc nếu không có kính viễn vọng Pasteur đã không thể thực hiện được công trình của mình nếu không có kính hiển vi Ông bà Curie cũng phải có những dụng cụ để đo lường và thử nghiệm Nhiều khám phá nổi tiếng đã có thể không bao giờ được thực hiện nếu như các nhà khoa học đã không có những dụng cụ để làm việc

Trang 27

2.2.4.2 Các PP phát triển tư duy sáng tạo kĩ thuật [ 18 ]

Một số các PP tư duy sáng tạo đã và đang được triển khai thành các lớp học, các hội nghị chuyên đề ở các hãng nghiên cứu lớn hay ngay cả trong các tổ chức chính quyền nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của từng cá nhân hay tập thể người Các PP sử dụng trong ngành này còn đang được khám phá Số lượng PP đã được phát minh có đến hàng trăm Nội dung các PP áp dụng có hiệu quả đang được sử dụng nhiều là:

1 Tập kích não: Đây là một PP dùng để phát triển nhiều giải đáp sáng tạo

cho một vấn đề PP này hoạt động bằng cách tập trung sự suy nghĩ vào vấn đề đó; các ý niệm và hình ảnh về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng tư tưởng, càng nhiều thì càng đủ và càng tốt, rồi vấn đề được xem xét từ nhiều khía cạnh và nhiều cách (nhìn) khác nhau Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm, đánh giá và tổng hợp thành các giải pháp cho vấn

đề đã nêu

2 Thu thập ngẫu nhiên: là kĩ thuật cho phép liên kết một kiểu tư duy mới với

kiểu tư duy đang được sử dụng Cùng với sự có mặt của kiểu tư duy mới này thì tất

cả các kinh nghiệm sẵn có cũng sẽ được nối vào với nhau PP này rất hữu ích khi cần những ý kiến sáng rõ hay những tầm nhìn mới trong quá trình giải quyết một vấn đề Đây là PP có thể dùng bổ sung thêm cho quá trình tập kích não

3, Nới rộng khái niệm: là một cách để tìm ra các tiếp cận mới về một vấn đề

khi mà tất cả các phương án giải quyết đương thời không còn dùng được PP này triển khai nguyên tắc "lui một bước" để nới rộng tầm nhìn về vấn đề

4 Kích hoạt: Tác động chính của PP này là để tư tưởng được thoát ra khỏi

các nền nếp kiến thức cũ mà đã từng được dùng để giải quyết vấn đề Chúng ta tư duy bằng cách nhận thức và trừu tượng hóa thành các kiểu rồi tạo phản ứng lại chúng Các phản ứng đối đáp này dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ và sự hữu lý của các kinh nghiệm này Tư tưởng của chúng ta thường ít vượt qua hoặc đứng bên ngoài của các kiểu mẫu cũ Trong khi chúng ta có thể tìm ra câu trả lời như là một

"kiểu khác" của vấn đề, thì cấu trúc não bộ sẽ gây khó khăn cho chúng ta để liên kết các lời giải này PP kích hoạt sẽ làm nảy sinh các hướng giải quyết mới

5 Lục mạo tư duy (six thinking hats): là một kĩ thuật được nhằm giúp các cá

thể có được nhiều cái nhìn về một đối tượng, những cái nhìn này sẽ khác nhiều so với một người thông thường có thể thấy được Đây là một khuôn mẫu cho sự tư duy

và nó có thể kết hợp thành lối suy nghĩ định hướng Trong PP này thì các phán xét

có giá trị sẽ có chỗ đứng riêng của chúng, nhưng các phê phán đó sẽ không được phép thống trị như là thường thấy trong lối suy nghĩ thông thường PP này được

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

dùng chủ yếu là để kích thích lối suy nghĩ song song, toàn diện và tách riêng cá tính (như là bản ngã, các thành kiến, ) với chất lượng

6 Giản đồ ý (mind map): là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng

ghi nhận hình ảnh của bộ não Nó có thể dùng như một cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy vi tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính thì bộ não còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau và ghi nhận chi tiết theo đa chiều Đây

là một PP để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn

đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng được liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn Thay vì dùng chữ viết để mô tả (một chiều) giản đồ ý sẽ phơi bày cấu trúc một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra "dạng thức" của đối tượng, sự quan hệ tương hổ giữa các khái niệm liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn

Giản đồ ý đơn giản hóa cho việc nhớ các dạng câu hỏi: Ai?; cái gì?; thế nào?; tại sao?; ở đâu?; khi nào?, … Khi xây dựng một giản đồ ý cần tuân theo các bước sau:

- Khuyến khích làm giảm sự mô tả của mỗi ý, mỗi khái niệm thành một từ (hay từ kép)

- Toàn bộ ý của giản đồ có thể "nhìn thấy" và nhớ bởi trí nhớ hình ảnh Loại trí nhớ này gần như tuyệt hảo

- Sáng tạo các bài viết và các bài tường thuật

- Là phương tiện cho học tập hay tìm hiểu sự kiện

7 DOIT: là PP để gói gọn, hay kết hợp, các PP tư duy sáng tạo lại với nhau

và dẫn ra các PP về sự xác định ý nghĩa và đánh giá của vấn đề DOIT giúp tìm ra

kỹ thuật sáng tạo nào là tốt nhất Chữ DOIT là chữ viết tắt trong tiếng Anh bao gồm

D - Define problem nghĩa là Xác định vấn đề

O - Open mind and Apply creative techniques tức là Cởi mở ý tưởng và Áp dụng các kỹ thuật sáng tạo

I - Identify the best solution là Xác định lời giải đáp tốt nhất

Trang 29

T- Transform là Chuyển đổi

Đơn vận: Đây là PP mạnh giải quyết vấn đề bằng cách đem nó vào sự vận chuyển

đơn nhất PP này thích hợp để giải quyết những vấn đề trong môi trường kỹ nghệ sản xuất Nó đưa PP DOIT lên một mức độ tinh tế hơn Thay vì nhìn sự sáng tạo như là một quá trình tuyến tính thì cái nhìn của đơn vận đưa quá trình này vào một vòng khép kín không đứt đoạn Nghĩa là sự hoàn tất cùng với sự thực hiện tạo thành một chu kì dẫn tới chu kì mới nâng cao hơn của sự sáng tạo

8 Tương tự hoá: xem vấn đề như là một đối tượng So sánh đối tượng này

với một đối tượng khác, có thể là bất kì, thường là những bộ phận hữu cơ của tự nhiên Viết xuống tất cả những sự tương đồng của hai đối tượng, các tính chất về vật lý, hoá học, hình dạng, màu sắc cũng như là chức năng và hoạt động Sau đó, xem xét sâu hơn sự tương đồng của cả hai, xem có gì khác nhau và qua đó tìm thấy được những ý mới cho vấn đề

Tương tự hoá cưỡng bức: là một cách mở rộng tầm nhìn hay bóp méo những

kiến thức hiện hữu để tạo ra những sáng kiến mới

9 Tư duy tổng hợp: là một quá trình phát hiện ra các mối liên hệ làm thống

nhất các bộ phận mà tưởng chừng như là tách biệt Đây là phương thức ghép đặt các

sự kiện lại với nhau để mở ra một tầm nhìn mới cho tất cả các loại vấn đề PP này không chỉ dùng trong nghiên cứu khoa học mà còn trong nhiều lĩnh vực khác như nghệ thuật, sáng tác hay ngay cả trong lĩnh vực sử dụng tài hùng biện như chính trị, luật

10 Đảo lộn vấn đề (reversal): Đây là một PP cổ điển được áp dụng triệt để

về nhiều mặt trên một vấn đề nhằm tìm ra các thuộc tính chưa được thấy rõ và khả

dĩ biến đổi được đối tượng cho phù hợp hơn

11.Cụ thể hoá và Tổng quát hoá:

12 TRIZ: (Viết tắt từ Nga ngữ Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh Zadatch Anh ngữ: the Theory of Inventive Problem Solving): tức là Lý thuyết giải quyết sáng

tạo cho vấn đề Đây là lý thuyết sáng tạo được thống kê và tổng hợp thành 40 gợi ý khác nhau và được ghi ra cụ thể cho người áp dụng tùy theo tình huống của vấn đề

Nhiều PP trình bày trên đây vẫn còn được những người phát minh ra chúng giữ độc quyền trong việc đào tạo và in ấn các tài liệu giáo khoa

2.3 Mối quan hệ giữa tự học và tư duy sáng tạo

2.3.1 Tự học để sáng tạo trong cuộc sống [ 1 ]

Theo các chuyên gia giáo dục và khoa học của Tổ chức UNESCO, kỹ năng

tự học và giá trị biểu hiện của việc tự học là những thước đo của tâm lý sáng tạo và

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sản phẩm sáng tạo Bước vào thế kỷ 21, kỹ năng đó sẽ tồn tại như một trong những

kỹ năng sống mà con người không thể thiếu, đồng thời giá trị đó giúp cho mỗi cá nhân tự khẳng định chính mình trong xu thế nhảy vọt của thời đại thông tin

Giá trị biểu hiện của việc tự học phản chiếu từ các sản phẩm của lao động trí

óc, hay nói đầy đủ hơn: Từ các sản phẩm của trí não Nhà khoa học nổi danh cuối

thế kỷ 20 - Stephen Hawking - đã nói: "Có gương soi mặt chứ không có gương soi

tâm hồn và trí não Vậy cần phải thay thế chiếc gương soi bằng sự phản chiếu của các sản phẩm lao động, chúng ta "đi ra" từ bàn tay nhưng gốc gác chủ yếu là từ trái tim và khối óc"

Có một hệ thống các giải pháp thường nhật Việc định hình một hệ thống các giải pháp hiệu nghiệm thường đi kèm với một hệ thống các giá trị biểu hiện (được đánh giá theo thang bậc) Các chuyên gia UNESCO đã đưa ra một bảng lượng giá với bảy bậc thang giá trị sau đây:

Từng giải pháp cho sản phẩm (giá trị biểu hiện đạt theo thang bậc)

Bậc 1 Ghi chép vào phiếu (thu thập chọn lọc từ việc truy cập mọi nguồn thông tin khác nhau, cả trong dân gian và Internet)

Bậc 2 Xử lý thông tin từ việc ghi chép (đối chiếu, phân loại, phân tích, tổng hợp, cấu trúc lại thông tin )

Bậc 3 Phối kiểm thông tin sau khi xử lý (tự kiểm chứng qua khảo sát thực tế

và thực nghiệm khoa học)

Bậc 4 Nhận thức lại vấn đề  Tự khởi phát thông tin (điều chỉnh thông tin, hoàn thiện thông tin, nêu ý tưởng, nêu sáng kiến)

Bậc 5 Tìm cách giải quyết vấn đề  Chọn phương án xử lý (tự thể nghiệm

và tự điều chỉnh phương án, nêu giải pháp, nêu sáng kiến)

Bậc 6 Hình thành tạo phẩm (hiện thực hoá giải pháp):

- Bằng ngôn ngữ (bài viết/nói)

- Bằng vật chất (phi ngôn ngữ)

Bậc 7 Cái biên sản phẩm (điều chỉnh, cải biên, nâng cấp hình thái và chất lượng của tạo phẩm bằng những cách thể hiện mới)

Bảng này giúp ta hình dung một tiến trình tự học để sáng tạo, đồng thời cho

ta một cách lượng giá việc tự học (theo giá trị sản phẩm), một cách đo đạc sức sáng tạo (theo thái độ tự học)

Giải pháp gốc: Luyện thái độ tìm tòi và kỹ năng ứng biến

Hệ thống các giải pháp và các thang bậc nêu trên cũng gợi ý cho ta thấy những tiêu chí cần thiết để thẩm định sự thông thái của một chủ thể nhận thức đồng thời là chủ thể sáng tạo

Trang 31

Trí thông minh và óc sáng tạo của mỗi người được thể hiện chủ yếu bằng hành động, thay vì chỉ dừng lại ở ý tưởng: được thể hiện chủ yếu bằng sự đáp ứng những thử thách trong quá trình vận dụng kiến thức, thay vì chỉ quanh quẩn ở việc

vun bồi kiến thức Bởi vậy, các chuyên gia UNESCO đã khẳng định:"Người hiểu

biết ít mà vận dụng nhiều (có hiệu quả) biểu hiện một trí tuệ hơn hẳn một người biết nhiều mà vận dụng ít” Đó là một trong những "quy luật thành tài”, là nguyên nhân

ra đời của những bậc tài danh sáng chói như Thomas Edison trước đây (người chưa học hết bậc đại học) hoặc như Bill Gates hiện nay (người chưa học hết bậc đại học)

Đó cũng là một cơ sở để xác định , học rộng không bằng tài cao (nếu chỉ được một trong hai thứ)

Khoa tâm lý học sáng tạo đã cho thấy người học rộng cũng có thái độ tìm tòi, nhưng nặng về tìm tòi hiểu biết, vả lại mức độ tìm tòi đó không thiết thực và hiệu quả bằng sự tìm tòi sáng tạo của người tài cao Mặt khác, chính nhờ liên tục tìm tòi mang tính ứng dụng sáng tạo nên mới thành tài và ngày càng phát triển tài năng, cao hơn hết là tài năng sáng tạo

Người có tài năng sáng tạo không bao giờ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, họ chuyển rất nhanh qua thái độ tìm tòi cách cải biến và cách ứng dụng sự lĩnh hội đó

Những người có thái độ sáng tạo tìm tòi sáu nội dung cơ bản sau:

1- Tìm hiểu nhu cầu xã hội hoặc nhu cầu khoa học đối với một sản phẩm nào đó 2- Tìm hiểu những ưu điểm vượt trội cùng với những khuyết tật lớn nhỏ của một sản phẩm

3- Tìm kiếm cách thức đi tới cải tiến sản phẩm, chủ yếu: hạn chế những khuyết tật đó

4- Tìm kiếm những hiểu biết mới nhất kết hợp với những kinh nghiệm cổ truyền cho việc giải quyết vấn đề đó

5- Tìm kiếm mọi ý tưởng giản đơn cho việc phân tích và giải quyết một vấn đề phức tạp

6- Tìm hiểu những điều kiện khả thi và cách vượt lên khó khăn để thực hiện ý tưởng sáng tạo.[35]

2.3.2 Vấn đề tự học trong nhà trường [ 1]

a Khái niệm tự học

Tự học là hình thức tổ chức hoạt động nhận thức có tính chất cá nhân , là quá trình người học tự tổ chức quá trình nhận thức và được tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được ấn định

Nó diễn ra khi còn ngồi trên ghế nhà trường và cả khi đã ra trường Tự học còn là

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng và các phẩm chất cá nhân Trong quá trình tự học , người học thực sự là chủ thể của hoạt độn g nhận thức với sự nỗ lực , huy động các chức năng tâm lí nhằm đạt mục tiêu đã đề ra

Trong việc tự học, người học phải xác đinh rõ mục tiêu có thái độ thích hợp với các tình huống cụ thể, phải chú ý đến các đặc điểm của việc tự học và phải biết

xử lí thông tin Các yếu tố ấy có quan hệ qua lại và tác động đến nhau

b Các yếu tố tác động đến sự thành công của tự học

2 Tình huống

- Người học học hệ chính quy, từ xa hay tại chức

- Nghề nghiệp, sở thích và hoàn cảnh gia đình và bản thân người học ảnh hưởng gì tới các tình huống tự học

- Thời gian người học giành cho việc tự học hàng ngày

- Cụ thể các tình huống sau:

+ Khi đang làm bài tập tự đọc sách để trả lời các câu hỏi trong giáo trình + Khi đang suy nghĩ để vận dụng kiến thức vừa học(để giải bài tập, trả lời câu hỏi, vận dụng vào nghề nghiệp, công việc của mình…)

+ Khi đang ôn tập để chuẩn bị thi hết môn học

+ Người học đang học nhóm với bạn bè hay đang trong đợt tập chúng để nghe giáo biên hướng dẫn giải đáp

+ Người học đang khai thác một tài liệu tham khảo, một học liệu mới sưu tầm được

Trang 33

phải học nhóm không? Ứng xử thế nào khi học nhóm, trong các đợt tập chung nghe giải đáp hướng dẫn?

5 Xử lí thông tin

Xử lí thông tin trong tự học nói cách khác là toàn bộ PP tự học của người học Việc tự học tương ứng với việc xử lí thông tin, có 3 giai đoạn:

- Nắm bắt các dữ liệu (kiến thức/ thông tin)

- Xử lí các dữ liệu (để hiểu kiến thức/ thông tin)

- Ghi nhớ và diễn đạt lại các dữ liệu

Người tự học phải có các PP để nắm bắt các kiến thức, hiểu các kiến thức và ghi nhớ diễn đạt lại các kiến thức đó Xung quanh vấn đề PP người học và các cơ sở đào tạo từ xa thử suy nghĩ về các câu hỏi sau:

- Đã chú ý đến PP học chưa?

- Đã tích cực tìm tòi về kĩ thuật tự học như cách đọc sách, cách ghi chép, ghi nhớ, cách phân tích, tổng hợp, cách vận dụng kiến thức chưa? Nếu tìm được có tích cực vận dụng không?

- Có vở ghi tóm tắt từng môn học không? Có làm các phiếu tóm tắt tổng kết mỗi khi học một chương mục nào đó không? Khi ôn tập chuẩn bị thi hết môn học đã dùng những tư liệu gì?

- Có chú ý tới các PP luận của từng bộ môn không? Chúng có gì khác nhau không? Mặt khác các nhà trường và GV cần tăng cường trang bị c ho học viên các PP

luận môn Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1969), đã nói: “Điều chủ yếu không

phải là nhồi nhét một mớ kiến thức hỗn độn… mà là PP suy nghĩ, PP nghiên cứu,

PP học tập, PP giải quyết vấn đề”

3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHKT CN

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.1 Nghiên cứu thực tế dạy học vật lí ở trường ĐHKT CN

Để xác định bản chất của quá trình dạy học ở đại học chúng ta cần căn cứ vào mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức của loài người với hoạt động học tập của SV và mối quan hệ giữa hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập trong quá trình giáo dục - đào tạo ở đại học

Nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động dạy học nói chung với hoạt động nhận thức thế giới khách quan của loài người và mối quan hệ biện chứng giữa hoạt

động dạy của GV và hoạt động học của SV, có thể khẳng định rằng, bản chất của

quá trình dạy học ở đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của SV được tiến hành dưới vai trò tổ chức và điều khiển của GV nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học

Tính chất nghiên cứu của SV trong quá trình học tập ở đại học (quá trình nhận thức) thể hiện ở chỗ: mỗi SV phải tự mình chiếm lĩnh hệ thống các tri thức, kĩ năng, nắm vững cơ sở của nghề nghiệp tương lai ở trình độ đại học và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội và các mạng khoa học công nghệ đặt ra Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập ở đại học, người SV không thể chỉ có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành các hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao Điều đó có nghĩa là dưới vai trò chủ đạo của thầy, SV không tiếp thu một cách máy móc những chân lí có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhận chân lí đó với óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu hoặc mở rộng vấn đề

Mặt khác, trong quá trình học tập ở đại học, SV thực chất đã bắt đầu tham gia vào hoạt động tìm kiếm chân lí mới Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao tuỳ theo chương trình của học phần như: bài tập nghiên cứu sau mỗi phần học, niên luận, khoá luận, luận văn, đồ

án tốt nghệp Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp SV từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu, thông qua đó tự rèn luyện các phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống và thực tiễn nghề nghiệp đặt ra Tính chất nghiên cứu ở mức độ cao là điểm nổi bật để phân biệt giữa dạy học ở phổ thông và dạy học ở đại học

Tính độc đáo trong quá trình học tập của SV thể hiện ở sự khác nhau so với quá trình học tập của học sinh phổ thông và quá trình nhận thức của nhà khoa học Cụ thể là:

- Với học sinh phổ thông, trong quá trình học tập, không có nhiệm vụ tìm cái

mới cho nhân loại, mà trước hết là hoàn thành nhiệm vụ lĩnh hội cho được những tri

Trang 35

thức mà loài người đã tích lũy và khái quát hóa trong các khoa học Nghĩa là các em nhận thức cái mới với bản thân mình từ kho tàng hiểu biết chung của nhân loại Các tri thức các em lĩnh hội được là các tri thức mang tính cơ bản phổ thông cần thiết cho mọi người trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội sau khi đã gia công về mặt

sư phạm lần thứ nhất (thể hiện trong sách giáo khoa) và lần thứ hai (qua vai trò tổ chức, điều khiển của thầy trong quá trình lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức dạy học một cách khoa học nhằm thu được hiệu quả dạy học cao nhất) Do vậy trong thời gian ngắn, SV lĩnh hội một cách nhanh nhất, nhiều nhất các tri thức khoa học trong kho tàng tri thức của nhân loại mà không phải trải qua con đường nhận thức quanh co, gập ghềnh như khi con người tìm ra nó

- Với SV, trong quá trình học tập, họ phải hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu là

tiếp thu một cách sáng tạo, có phê phán ở trình độ cao những hiểu biết và những kĩ năng cơ bản về nghề nghiệp trong tương lai Nói cách khác, họ phải phấn đấu nắm được cơ sở của nghề nghiệp mà họ cần đảm nhiệm sau khi tốt nghiệp đại học với tư cách là người cán bộ khoa học, kỹ thuật, người cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ cao Do đó, những tri thức mà họ lĩnh hội được không phải những tri thức phổ thông cơ bản mà là hệ thống các tri thức cơ bản, cơ sở của chuyên ngành và hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng về một ngành khoa học, văn hóa nhất định Song bên cạnh nhiệm vụ nhận thức cái mới đối với bản thân, SV cũng bắt đầu thực

sự tham gia tìm kiếm cái mới đối với nhân loại một cách vừa sức Vì thế hoạt động nghiên cứu khoa học đi vào quá trình học tập ở đại học và tồn tại như một bộ phận hữu cơ của quá trình đó

Để có thể hoàn thành tốt hai nhiệm vụ trên SV cần phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập của bản thân dưới tác động chủ đạo của thầy Nếu như ở phổ thông, tác dụng chủ đạo của thầy mang tính cụ thể, trực quan thể hiện ở tổ chức, điều khiển SV nắm vững các tri thức phổ thông cơ bản có sẵn và bước đầu dần dần tiếp xúc với các hoạt động nghiên cứu ở trình độ thấp với hình thức giản đơn thì ở trường đại học, tác dụng chủ đạo của thầy mang tính định hướng, khái quát cao để giúp SV hoàn thành được hoạt động nhận thức có tính nghiên cứu, trong đó bao hàm cả hoạt động thực sự nghiên cứu khoa học tìm ra chân lí mới đối với nhân loại

Trên cơ sở đó, con đường nhận thức của SV về mặt cơ bản là thuận lợi, tuy

có những lúc quanh co, trắc trở do hoạt động kiếm tìm chân lí mới gây ra Vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, họ đã nắm được cơ sở của nghề nghiệp tương lai, hình thành được cơ sở ban đầu vững chắc của nhân cách người cán bộ khoa học, kỹ thuật, người cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ đại học

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Với nhà khoa học, nhiệm vụ của họ là đi vào những bí ẩn của thế giới

khách quan phát hiện và chứng minh những tri thức mới, chưa hề biết với nhân loại trong tự nhiên, xã hội, tư duy,…Từ đó, họ nắm được bản chất và các quy luật của chúng, làm sâu sắc thêm, phong phú thêm kho tàng tri tức của nhân loại Vì vậy, con đường nhận thức của các nhà khoa học là dài lâu, khó khăn, đầy chông gai và đôi khi thất bại

Từ những điều đã trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy rõ quá trình nhận thức của SV mang tính chất nghiên cứu, nó cao hơn quá trình nhận thức của học sinh phổ thông và tiếp cận với quá trình nhận thức của các nhà khoa học

Như vậy, trong quá trình dạy học ở đại học, đòi hỏi GV phải có tính tổ chức, điều khiển hoạt động của SV sao cho vừa đảm bảo yêu cầu chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách sáng tạo, có phê phán theo mục tiêu đào tạo đã định, vừa phải tạo điều kiện để SV tham gia vào hoạt động nghiên cứu một cách vừa sức thông qua giải quyết các nhiệm vụ của bài học đặt ra

3.2 BÀI TẬP VẬT LÍ VÀ THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KĨ THUẬT CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN

3.2.1 Tác dụng của bài tập vật lý (BTVL) trong việc phát triển năng lực tự lực, sáng tạo của SV [14,30]

BTVL với tư cách là một PP dạy học, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học ở nhà trường phổ thông Những tác dụng của BTVL đã được nêu lên rất rõ trong nhiều tài liệu về PP dạy học [9], [13], [17], [19],

ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới vai trò của BTVL trong việc phát triển năng lực tự lực, sáng tạo của SV

Việc rèn luyện cho SV giải các BTVL không phải là mục đích chính của dạy học Mục đích cơ bản đặt ra khi giải BTVL, là làm sao cho SV hiểu sâu sắc hơn những quy luật Vật lý, biết phân tích và ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào tính toán kỹ thuật và cuối cùng phát triển được năng lực, tư duy, năng lực giải quyết vấn đề

Giải pháp bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của HS: Trong khi làm bài tập do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà HS rút ra được nên

tư duy HS được phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được nâng cao, tính kiên trì được phát triển

Giải BTVL góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của HS: Có nhiều BTVL không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng những kiến thức đã học mà còn giúp bồi dưỡng cho HS tư duy sáng tạo Đặc biệt là những bài tập giải thích hiện tượng, bài tập thí nghiệm, bài tập thiết kế dụng cụ rất có ích về mặt này

Trang 37

Trong chu trình nhận thức khoa học Môn Vật lý, giải bài tập nằm ở giai đoạn cuối cùng và trong giai đoạn này thì vai trò của trực giác được đưa lên hàng đầu Nếu tư duy biện giải logic liên tục, liên tiếp, mà trong đó mỗi một tư tưởng tiếp theo đều xuất phát một cách logic từ cái trước, phụ thuộc vào cái trước, và là vấn đề cho cái tiếp theo, thì tư duy trực giác thu nhận được một cách nhày vọt một cách trực tiếp dựa trên những phỏng đoán mới, giải pháp mới chưa hề có, ở đây có một hoạt động sáng tạo thực sự Năng lực làm việc tự lực độc lập của SV được phát huy cao trong giờ giải BTVL

3.2.2 Phân loại bài tập Môn Vật lý [5,7,11]

Vấn đề phân loại BTVL đã được đề cập trong nhiều loại sách về PP dạy học Môn Vật lý [11], [13], [17], [19] Nếu dựa vào các phương tiện giải, có thể chia BTVL thành bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị Nếu dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với HS, có thể chia BTVL thành bài tập dượt, bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo

1 Bài tập định tính: Là những bài tập mà khi giải, HS không cần phải thực

hiện các phép tính phức tạp hay chỉ phải làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được Đa số các bài tập định tính yêu cầu các HS giải thích và dự đoán một hiện tượng xảy ra trong những điều kiện xác định

2 Bài tập tính toán: Là những bài tập mà muốn giải chúng, ta phải thực

hiện một loạt phép tính mà kết quả thu được là một đáp số định lượng tìm giá trị của một số đại lượng Môn Vật lý Có thể chia bài tập tính toán ra làm hai loại: Bài tập tập dượt và bài tập tổng hợp

a Bài tập tính toán tập dượt: Là những bài tập cơ bản, đơn giản trong đó chỉ

để cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản Những bài tập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho HS hiểu

rõ ý nghĩa của các định luật và cá công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị Môn Vật lý và thói quen cần thiết để giải những bài tập phức tạp hơn

b Bài tập tính toán tổng hợp: Là bài tập mà muốn giải nó thì phải vận dụng

nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức Những kiến thức cần sử dụng trong việc giải bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình Môn Vật lý, tập cho HS biết phân tích những hiện tượng thực tế phức tạp ra thành những phần đơn giản tuân theo một định luật xác định

3 Bài tập thí nghiệm: Là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng

lời giải lí thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập Những thí

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản có thể làm ở nhà, với những dụng

cụ đơn giản dễ tìm hoặc tự làm được

4 Bài tập đồ thị: Là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để

giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi SV phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị

5 Bài tập sáng tạo: Là bài tập mà các dữ kiện cho trong đầu bài không chỉ

dẫn trực tiếp hay gián tiếp cách giải Các bài tập sáng tạo có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tính tự lực và sáng tạo của SV, giúp SV nắm vững kiến thức chính xác, sâu sắc và mềm dẻo Bài tập sáng tạo có thể là bài tập giải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở các kiến thức đã biết (trả lời câu hỏi “tại sao?”) hoặc là bài tập thiết kế, đòi hỏi thực hiện một hiện tượng thực, đáp ứng những yêu cầu đã cho (Trả lời câu hỏi “Làm thế nào”)

3.3 Thực trạng dạy - học BTVL ở các trường Đại học Kỹ thuật Công Nghiệp Thái Nguyên (ĐHKTCN TN) hiện nay

3.3.1 Thực trạng việc phát huy tư duy, năng lực sáng tạo kĩ thuật sinh viên trường ĐHKTCN Thái Nguyên

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát đối với giảng viên và sinh viên để tìm hiểu về tình hình giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên

Mục đích:

- Khảo sát điều kiện học tập và giảng dạy môn Vật lý của sinh viên, giảng viên

- Khảo sát về các phương pháp giảng dạy chủ yếu và chất lượng học tập

- Khảo sát về khả năng nhận thức và tư duy sáng tạo của sinh viên

Đối tượng:

Sinh viên và giảng viên bộ môn Vật lý ở các trường nói trên

Phương pháp khảo sát:

Trao đổi trực tiếp và thăm dò qua phiếu điều tra với giảng viên bộ môn Vật lý

và sinh viên các khoa tham gia học tập môn Vật lý đại cương tại ba trường nói trên

Qua phân tích và xử lý các thông tin thu được, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:

3.3.2 Thực trạng về điều kiện và phương pháp dạy học của giáo viên [9]

Qua trao đổi trực tiếp với các giảng viên bộ môn Vật lý ở ba trường nói trên chúng tôi nhận thấy đa số các bài giảng của giáo viên chủ yếu là tóm tắt lại nội dung kiến thức trong giáo trình chung cho Vật lý đại cương, chưa hoạch định được hoạt động của giáo viên và sinh viên một cách rõ ràng Vai trò tổ chức, định hướng điều khiển của giáo viên chưa được thể hiện rõ

Trang 39

Về phương pháp dạy học:

Chủ yếu là các phương pháp truyền thống như thuyết trình (100% giảng viên sử dụng); diễn giải - minh họa (100% giảng viên sử dụng) Đây là các phương pháp truyền thụ mang tính một chiều, thông qua lời nói của mình giáo viên giảng giải, thông báo kiến thức, nhấn mạnh để sinh viên ghi nhớ các công thức, các khái niệm, các hiện tượng liên quan, còn các ứng dụng của kiến thức này trong kỹ thuật giáo viên thường cố gắng thông báo như trong nội dung của giáo trình

Bên cạnh đó các giảng viên đã có kết hợp với một số phương pháp khác như: đàm thoại, thảo luận nhóm; dạy học nêu vấn đề; hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu; phương pháp sử dụng công nghệ thông tin (như dùng bài giảng điện tử) … Tuy nhiên các phương pháp này mới có khoảng hơn 50% giảng viên kết hợp sử dụng

Về quá trình giảng dạy:

- Giáo viên đặt ra các câu hỏi để sinh viên tìm cách giải quyết nhưng các câu hỏi hoặc rộng quá hoặc vụn vặt, giản đơn nên không có nhiều tác dụng trong việc kích thích người học

- Giáo viên chỉ yêu cầu sinh viên nghiên cứu trước bài tập, buổi sau đơn thuần là lên chép lại bài tập đã làm lên bảng

- Giáo viên chưa đưa người học vào hoạt động giải quyết vấn đề; chưa phát huy được năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên

3.3.3 Thực trạng về thái độ và chất lượng học tập của sinh viên [ 1 ]

Về thái độ học tập:

Đa số các sinh viên rất thụ động, chưa tích cực, tự lực trong quá trình học tập Họ thường lười hoạt động, chủ yếu ngồi nghe giảng, chờ giáo viên đọc, ghi bảng để chép Rất ít sinh viên đọc trước tài liệu trước khi lên lớp

Rất ít sinh viên thể hiện được tư duy phê phán khi nghiên cứu các vấn đề của bài học Họ ít đặt ra các câu hỏi, trao đổi với giáo viên, dễ dáng chấp nhận các kiến thức mà giáo viên trình bày

Khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên cũng hạn chế, họ không có thói quen đặt câu hỏi dạng tại sao? Làm thế nào? Trước các vấn đề bài học và cũng không tự đưa ra các dự đoán, giả thiết cho vấn đề tự đặt ra

Sinh viên còn rất lúng túng khi trình bày một vấn đề khoa học nào đó trước tập thể, việc sử dụng các từ ngữ khoa học đôi khi còn chưa chính xác, chưa có kỹ năng làm việc theo nhóm, theo tập thể

Qua trao đổi trực tiếp với sinh viên cho thấy khả năng tự học, tự nghiên cứu còn rất hạn chế; việc sinh viên tự tổng hợp kiến thức sau giờ học trên lớp là không

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhiều, đa số sinh viên không có nhu cầu tìm kiếm thêm tài liệu và mở rộng, đào sâu nội dung đã học

Về chất lượng học tập:

Qua tổng hợp kết quả học tập kiểm tra giữa học phần và thi kết thúc học phần Vật lý đại cương của sinh viên ba trường nói trên, chúng tôi nhận thấy: tỷ lệ sinh viên khá, giỏi còn thấp chiếm khoảng 20%; tỷ lệ học sinh trung bình khoảng 50%; tỷ lệ học sinh yếu kém là 30%

Với những kết quả khảo sát trên cho thấy việc sử dụng các biện pháp dạy học nêu vấn đề, hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu; lấy người học làm trung tâm đang là vấn đề rất cần thiết để góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, phát huy năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, hoàn thành được các mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra

Kết quả này cũng tương đối phù hợp với một nghiên cứu mới đây của PGS.TS Nguyễn Công Khanh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội: 36,1% SV biểu lộ phong cách học thụ động: ngại nêu thắc mắc, ngại nói ra ý tưởng riêng của mình trong các cuộc thảo luận trên lớp; 22,9% SV chỉ thích giáo viên giảng cho mình nghe hơn là chủ động hỏi, nêu thắc mắc; 41,1% cho rằng mình học chủ yếu từ vở ghi, giáo trình và ít có thời gian tìm đọc những tài liệu tham khảo; 31,4% số SV cho rằng các chiến lược học của mình hướng vào việc nắm kiến thức hơn là phát triển các năng lực tư duy; hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học; gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu; gần 55% SV cho rằng không thực sự hứng thú học tập Năng lực tư duy sáng tạo, sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ học tập, năng lực ngoại ngữ của sinh viên rất yếu

4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY, NĂNG LỰC SÁNG TẠO

KỸ THUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHKYCN TN QUA RÈN LUYỆN GIẢI BTVL

Trên cơ sở phân tích lí luận về phát triển tư duy năng lực sáng tạo kĩ thuật của sinh viên và thực trạng dạy - học BTVL ở trên chúng tôi đề ra một số giải pháp nhằm phát triển tư duy, năng lực sáng tạo của sinh viên qua rèn luyện giải BTVL như sau:

4.1 Biện pháp 1: Lựa chọn bài tập phù hợp, vừa có tính sáng tạo phải vừa sức với sinh viên gắn liền với những ứng dụng trong cuộc sống [11,12]

Ngày đăng: 25/03/2021, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w