36 Chương II: Xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 Nâng cao theo phương ph
Trang 1XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÝ TRONG QUÁ TRÌNH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY, HỌC KIẾN THỨC MỚI CHƯƠNG
“CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÝ 10 NÂNG CAO
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy Vật lý
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Việt THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa sau đại học, khoa Vật lí, các thầy cô giáo giảng dạy cùng toàn thể các bạn học viên lớp cao học K.17 trường ĐHSP – ĐHTN đã tận tình giảng dạy, góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và làm luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo của trường THPT Hùng An, trường THPT Đồng Yên – Bắc Quang – Hà Giang đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thành Quê
Trang 3iii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thành Quê
Trang 4iv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa……… i
Lời cảm ơn……… ii
Lời cam đoan……… iii
Mục lục……… iv
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt……… x
Danh mục các hình vẽ, bảng biểu……… xii
Danh mục các sơ đồ, đồ thị ……… xiv
I MỞ ĐẦU……… 1
1.Lý do chọn đề tài……….…… 1
2 Mục đích nghiên cứu ……….… 3
3 Giả thuyết khoa học……….…… 3
4 Đối tượng nghiên cứu……….… 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu……….… 3
6 Phương pháp nghiên cứu ……… 4
7 Đóng góp của luận văn……… 5
8 Cấu trúc của luận văn……….… 6
II NỘI DUNG……….……… 7
Chương I: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức
Trang 5v
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hoạt động dạy học kiến thức mới theo phương pháp dạy học nêu
vấn đề nhằm góp phần phát huy tính tích cực học tập của học sinh 7
1.1 Lý luận về bài tập vật lý: ……… 7
1.1.1 Khái niệm về bài tập vật lý……… 7
1.1.2 Khái quát về bài tập trắc nghiệm định tính……… 7
1.1.2.1 Khái niệm về bài tập trắc nghiệm định tính……….… 7
1.1.2.2 Vai trò, vị trí của bài tập trắc nghiệm định tính……… 8
1.1.2.3 Phân loại bài tập trắc nghiệm định tính……… ……….…… 12
1.1.2.4 Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm định tính……….…… 17
1.2 Khái quát về dạy học nêu vấn đề……… ……….……… 20
1.2.1 Tình huống có vấn đề……… ……….……… …… 21
1.2.2 Các giai đoạn của dạy học nêu vấn đề……… ……….……… 21
1.2.2.1 Giai đoạn 1: Giai đoạn nêu vấn đề……… ……….……….… 21
1.2.2.2 Giai đoạn 2: Giai đoạn giải quyết vấn đề……… ……….…… 22
1.2.2.3 Giai đoạn 3: Giai đoạn củng cố và vận dụng……… ……… 22
1.2.3 Sử dụng BTTNĐT trong dạy học nêu vấn đề ……… ……… 23
1.3 Khái quát tính tích cực ……… ……….……… … 25
1.3.1 Khái niệm tính tích cực……… ……….……… … 25
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực của học sinh……… 27
1.3.3 Các biện pháp góp phần phát huy tính tích cực của học sinh 28
1.3.4 Các tiêu chí đánh giá tính tích cực của học sinh……… 30
Trang 6vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3.4.1 Mức độ yếu……….……… 31
1.3.4.2 Mức độ trung bình……….…… 31
1.3.4.3 Mức độ khá……….……… 32
1.3.4 4 Mức độ tốt……….….……… 32
1.4 Thực trạng về vấn đề xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học kiến thức mới ở tại địa bàn nghiên cứu……….……… 33
1.4.1 Thực trạng về vấn đề xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học kiến thức mới hiện nay tại tại địa bàn nghiên cứu……… …… 33
1.4.2 Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học kiến thức mới nhằm góp phần góp phần phát huy tính tích cực và góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh……… ……… 34
1.4.2.1 Những thuận lợi cơ bản……… 34
1.4.2.2 Một số khó khăn……… ……… 35
1.5 Kết luận chương I……… 36
Chương II: Xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 Nâng cao theo phương pháp dạy học nêu vấn đề……………… 38
2.1 Đề xuất tiến trình sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học khi sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề……… 38
Trang 7vii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.1 Đề xuất tiến trình sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính
trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học khi sử dụng phương
pháp dạy học nêu vấn đề……… …… 38
2.1.2 Một số lưu ý khi sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong giờ dạy……… 44
2.1.2.1 Tạo tình huống làm xuất hiện BTTNĐT trong giờ học……… 44
2.1.2.2 Xử lí phương án trả lời mà HS lựa chọn……… 48
2.2 Chuẩn kiến thức kỹ năng chương “Các định luật bảo toàn” 49
2.2.1 Vị trí của chương “Các định luật bảo toàn”……… 49
2.2.2 Nội dung kiến thức của chương “Các định luật bảo toàn”… 51
2.2.2.1 Kiến thức……… 51
2.2.2.2 Kỹ năng……… 51
2.3 Đề xuất hệ thống bài tập trắc nghiệm định tính sử dụng trong quá trình thực tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” ……….……….… 52
2.3.1 Một số yêu cầu khi sử dụng BTTNĐT ……… 52
2.3.1.1 Yêu cầu đối với một bài tập……….……… 52
2.3.1.2 Yêu cầu đối với hệ thống bài tâp……… 52
2.3.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm định tính 53
2.3.3 Đề xuất hệ thống bài tập thuộc chương “Các định luật bảo toàn” ……….……… 55
Chủ đề 1: Bài tập về động lượng và ứng dụng của định luật bảo toàn động lượng ………
55
Trang 8viii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4 Đề xuất tiến trình sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong
quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các
định luật bảo toàn” khi sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề 59
Bài 37: Định luật bảo toàn cơ năng (tiết 1) ……… ………… 60
2.5 Kết luận chương II ……….……… 75
Chương III: Thực nghiệm sư phạm……… ………….…… 77
3.1 Mục đích và nhiệm vụ Thực nghiệm……… ……… 77
3.1.1 Mục đích……….…… 77
3.1.2 Nhiệm vụ……….…… 77
3.2 Đối tượng và nội dung Thực nghiệm……….… ……… 77
3.2.1 Đối tượng……… ………… 77
3.2.2 Nội dung……… 77
3.3 Phương pháp Thực nghiệm sư phạm……… ………… 78
3.3.1 Chọn mẫu Thực nghiệm……… 78
3.3.2 Tiết hành dạy Thực nghiệm sư phạm…… ……… …… 78
3 4 Đánh giá kết quả Thực nghiệm sư phạm ……… 89
3.4.1 Các tiêu trí đánh giá tính tích cực của HS trong giờ học…… 90
3.4.2 Đánh giá tính tích cực của HS thông qua kết quả Thực nghiệm ……… 92
3 4.2.1 Đánh giá tính tích cực của HS qua quan sát giờ học………… 93
3.4.2.2 Đánh giá tính tích cực của HS qua kết quả kiểm tra ………… 96
3.4.3 Kiểm định giả thuyết thống kê……… 101
Trang 9ix
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.5 Kết luận chương III……… 103
III Kết luận chung……… 104
1 Đánh giá kết quả đạt được……… … ……… 104
2 Hướng phát triển của đề tài……… … 106
3 Một số kiến nghị……….……… 106
IV Tài liệu tham khảo……… 108
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11xi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 2.2: Ví dụ về tạo tình huống làm xuất hiện vấn đề……… 47 Hình 2.3: Phiếu học tập số 4 bài “Định luật bảo toàn cơ năng”……… 62 Hình 2.4: Vị trí của vật tại hai vị trí A và B……… 69 Hình 2.5: Đồ thị biểu diễn định luật bảo toàn cơ năng trường hợp
Sơ đồ 2: Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức chương "Các định luật
bảo toàn" Vật lí 10 Nâng cao……… 50
Sơ đồ 3: Tiến trình tổ chức hoạt động nhận thức kiến thức “Định luật
Trang 13xiii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
(căn cứ vào số % HS hoàn thành và không hoàn thành nhiệm vụ ở
phiếu học tập)……….……… 91
Bảng 3.1’ Số % HS xin phát biểu ý kiến xây dựng bài trong một tiết học……… 93
Bảng 3.2’ Số % HS không xin phát biểu ý kiến xây dựng bài trong một tiết học vì không chú ý học tập và làm việc riêng (căn cứ vào số % HS hoàn thành và không hoàn thành nhiệm vụ ở phiếu học tập) 9 4 Bảng 3.3 Đánh giá kết quả học tập của HS……… 92
Bảng 3.4 Bảng thống kê điểm số của các bài kiểm tra……… 96
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất……… 97
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất lũy tích……… 97
Bảng 3.7 Bảng các tham số thống kê……… 100
Đồ thị 3.1 Đồ thị số HS xin phát biểu ý kiến xây dựng bài trong một tiết học……… 93
Đồ thị 3.2 Đồ thị số % HS không xin phát biểu ý kiến xây dựng bài trong một tiết học vì không chú ý học tập và làm việc riêng……… 94
Đồ thị 3.3 Đồ thị phân phối tần suất 1……… 98
Đồ thị 3.4 Đồ thị phân phối tần suất 2……… 98
Đồ thị 3.5 Đồ thị phân phối tần suất lũy tích 1……… 99
Đồ thị 3.6 Đồ thị phân phối tần suất lũy tích 2……… 99
Trang 14xiv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
Xây dựng và sử dụng bài tập trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 Nâng cao
Muốn vậy thì Giáo dục trước hết phải đổi mới phương pháp giáo dục
Trong điều 5 chương I của luật giáo dục Việt Nam 2005 đã chỉ rõ “ Phương pháp giáo dục phải góp phần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [25]
Từ thực trạng dạy học hiện nay thì việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng Mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học mới đòi hỏi việc cải tiến phương pháp dạy học và sử dụng những phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh (HS), thông qua việc tạo điều kiện cho họ giải quyết vấn đề
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm (TgN), Trong đó bài tập vật lý (BTVL) chiếm một phần không nhỏ trong chương trình, BTVL giúp học sinh củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo để vận dụng kiến thức vào thực tiễn Ngoài ra BTVL còn có thể được sử dụng như là một phương tiện để nghiên cứu kiến thức mới
Việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng bài tập trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới, có thể giúp các em HS tích cực và chủ động chiếm lĩnh kiến thức, từ đó tạo ra niềm đam mê với môn học và góp phần nâng cao chất lượng học tập của các em
Trong thực tiễn hiện nay ở các trường trung học phổ thông (THPT) việc giải BTVL chủ yếu là dùng để củng cố kiến thức đã học mà rất ít GV sử dụng BTVL trong dạy học kiến thức mới hoặc có sử dụng nhưng chưa làm nổi bật vai trò của BTVL trong việc xây dựng kiến thức mới, Trong thực tế có rất nhiều tài liệu hướng dẫn sử dụng các phương pháp để dạy bài mới, nhưng tài liệu hướng dẫn sử dụng bài tập trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới thì còn ít
Đã có một số công trình nghiên cứu về việc sử dụng bài tập vào tổ
chức hoạt động dạy kiến thức mới như Đỗ Khoa Thúy Kha (2008), Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy học chương “Điện tích – Điện trường” thông qua việc sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính, luận văn thạc
sĩ Giáo dục ĐHSP Huế, Lê Thị Nga (2010), Nghiên cứu sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan định tính trong dạy học chương “Cảm ứng điện từ” nhằm
hỗ trợ hoạt động nhận thức tích cực của học sinh trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu của mình là“ xây dựng và sử dụng bài tập trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 nâng cao
Việc xây dựng và sử dụng bài tập rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên trong luận văn này chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan định tính gọi tắt là bài tập trắc nghiệm định tính (BTTNĐT) khi sử dụng phương pháp dạy học (PPDH) nêu vấn đề để tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 Nâng cao
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương "Các định luật bảo toàn" Vật lý 10 nâng cao khi sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn
đề, nhằm góp phần góp phần phát huy tính tích cực và góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh THPT
3 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình
tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới khi sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề thì có thể góp phần góp phần phát huy tính tích cực và góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh THPT
4 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy, học có sử dụng BTTNĐT trong hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” trong dạy học nêu vấn đề
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về
Bài tâp vật lý và bài tập trắc nghiệm định tính
Phương pháp dạy học nêu vấn đề Tính tích cực trong hoạt động nhận thức 5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về việc xây dựng và sử dụng BTTNĐT trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới tại địa bàn nghiên cứu (Tỉnh Hà Giang)
5.3 Đề xuất tiến trình sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học theo phương pháp dạy học nêu vấn đề
5.4 Nghiên cứu nội dung chương trình, sách giáo khoa và xây dựng sơ
đồ cấu trúc logic nội dung chương “Các định luật bảo toàn” vật lý lớp 10 nâng cao
5.5 Đề xuất hệ thống bài tập trắc nghiệm định tính sử dụng trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 nâng cao
5.6 Đề xuất tiến trình sử dụng BTTNĐT trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương "Các định luật bảo toàn" Vật lý 10 nâng cao khi sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
5.7 TgN nghiệm sư phạm
5.8 Kết luận
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nghiên cứu cơ sở lý luận về PPDH nêu vấn đề
Nghiên cứu chương trình SGK; SBT; SGV và các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu nhận thức của học sinh và giáo viên về xây dựng và
sử dụng bài tập trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới
Điều tra, khảo sát thực trạng về vấn đề xây dựng và sử dụng bài tập trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng tại trường THPT
để đánh giá kết quả của đề tài
6.4 Phương pháp thống kê toán học:
Để sử lý các kết quả thực nghiệm của đề tài
7 Đóng góp của đề tài
7.1 Góp phần làm rõ cơ sở lý luận của việc sử dụng BTTNĐT vào quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới cho học sinh THPT
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
7.2 Xây dựng tiến trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới có sử dụng BTTNĐT nằm góp phần phát huy tính tích cực và góp phần nâng cao chất lượng học tập của HS
7.3 Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên vật lí THPT
8 Cấu trúc:
I Phần mở đầu
II Nội dung
Chương I: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới theo phương pháp dạy học nêu vấn đề nhằm góp phần phát huy tính tích cực của học tập học sinh
Chương II: Xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương “Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 Nâng cao theo phương pháp dạy học nêu vấn đề, nhằm góp phần phát huy tính tích cực học tập của HS
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
III Kết luận
IV.Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
II NỘI DUNG Chương I: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới theo phương pháp dạy học nêu vấn đề nhằm góp phần góp phần phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
1.1 Lý luận về bài tập vật lý
1.1.1 Khái niệm về bài tập vật lý
Theo từ điển tiếng Việt thì “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những kiến thức đã học”[10]
Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên, “Bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau gồm:
Những điều kiện là tập hợp những dự liệu xuất phát, diễn tả trạng thái ban đầu của bài tập từ đó có thể tìm ra cách giải quyết, đó là “cái cho” hay là “giả thuyết”
Những yêu cầu là trạng thái mong muốn đạt tới, đó là “cái phải tìm” hay “kết luận”
Hai tập hợp này tạo thành bài tập nhưng lại không phù hợp nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu phải biến đổi để khắc phục
sự không phù hợp hay mâu thuẫn giữa chúng, đó chính là “lời giải” của bài toán” [35]
Như vậy: Bài tập vật lý được hiểu là một vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết, bằng những suy luận logic, phép toán và thí nghiệm (TN) trên
cơ sở các khái niệm, các thuyết, các định luật và các phương pháp vật lý
1.1.2 Khái quát về bài tập trắc nghiệm định tính
1.1.2.1 Khái niệm về bài tập trắc nghiệm định tính
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Theo GS Nguyễn Đức Thâm, “bài tập trắc nghiệm là những bài tập mà câu trả lời có sẵn và chỉ có duy nhất một phương án đúng, hoặc nếu học sinh phải tự viết câu trả lời thì đó là những câu ngắn và chỉ có một số từ” [22]
Theo PGS.TS Lê Công Triêm, “bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, HS không cần phải thực hiện các tính toán phức tạp mà chỉ cần thực hiện các suy luận logic trên cơ sở hiểu rõ những khái niệm, định luật vật lý và nhận biết được những biểu hiện của chúng trong từng trường hợp cụ thể” [32]
Vậy: Bài tập trắc nghiệm định tính là những bài tập mà khi giải, HS không cần phải thực hiện các phép tính toán mà chỉ cần thực hiện các suy luận logic để tìm ra phương án đúng trong các câu trả lời có sẵn hoặc có thể điền câu trả lời theo đúng yêu cầu của bài ra
BTTNĐT đòi hỏi HS phải nắm vững, hiểu rõ bản chất của các khái niệm, thuyết, định luật vật lý Bởi vì trong mỗi câu trả lời đều có những yếu tố đánh lừa làm cho HS đễ nhầm lẫn
1.1.2.2 Vai trò, vị trí của bài tập trắc nghiệm định tính
* Vai trò, vị trí của BTTNĐT đối với kiểm tra đánh giá
Theo GS Nguyễn Đức Thâm, “bài tập là một phương tiện hiệu quả để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh” [22] Tùy theo cách đặt
câu hỏi kiểm tra mà ta có thể phân loại được mức độ nắm vững kiến thức của
HS, khiến cho việc đánh giá chất lượng HS được chính xác
BTTNĐT không đòi hỏi HS phải tính toán phức tạp nên HS ít bị sai khi tính toán Việc HS không nắm vững kiến thức, nội dung các định luật, thuyết vật lý là nguyên nhân chính dẫn đến việc trả lời sai Vì vậy ta có thể đánh giá chất lượng HS thông qua sử dụng BTTNĐT mà không mất quá nhiều thời gian
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
BTTNĐT với ưu thế là chỉ có một phương án đúng (hoặc sai) nên độ giá trị tin cậy cao, không phụ thuộc chủ quan vào người chấm nên đánh giá được một cách khách quan và chính xác kết quả học tập của HS
BTTNĐT dễ dàng trong việc ra câu hỏi nên có thể kiểm tra ở mọi thời điểm trong giờ dạy như vào bài, nghiên cứu một kiến thức mới, hay khi muốn củng cố bài
Tuy nhiên muốn sử dụng BTTNĐT một các hợp lý, và tạo ra được những bài tập hay thì người ra đề cần phải đầu tư thời gian và công sức để làm ra được những bài kiểm tra có chất lượng cao
* Vai trò của BTTNĐT đối với tính tích cực của HS trong quá trình tổ chức họa động dạy kiến thức mới
Để phát huy tính tích cực của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức
theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên, “có 4 nhóm giải pháp chủ yếu là: các giải pháp do giáo viên giảng dạy; các giải pháp thông qua hoạt động giáo dục; các giải pháp do tác động của gia đình và các giải pháp do xã hội tác động”
[36]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi quan tâm đến các giải pháp do giáo viên đứng lớp tác động Trong giải pháp này, BTTNĐT có vai trò rất quan trọng đó là:
- BTTNĐT dùng để giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của học sinh
+ BTTNĐT có thể dùng để nêu ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Khi HS thấy được ý nghĩa lý thuyết hoặc thấy được các ứng dụng của lý thuyết vào thực tiễn các em thấy được ý nghĩa của việc học tập của mình, từ đó có ý thức học tập và hứng thú hơn trong nghiên cứu
+ BTTNĐT có thể dùng để góp phần phát huy thế mạnh của bộ môn Vật lý là một môn khoa học TgN, các kiến thức của nó gắn liền với thực
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
tế cuộc sống và cá hiện tượng tự nhiên BTTNĐT cá thể đưa ra các dự đoán, các cách giải thích về kết quả TN, về các hiện tượng tự nhiên Nhờ đó, HS cảm thấy yêu thích môn học hơn và cảm thấy vật lý gần gũi với cuộc sống và
tự nhiên
+ BTTNĐT có thể kết hợp với các PPDH tích cực, lấy người học làm trung tâm như PPDH nêu vấn đề, PP TgN Từ đó kích thích hứng thú học tập của HS thông qua việc sử dụng PPDH phù hợp
+ BTTNĐT có thể vận dụng ling hoạt vào các hình thức dạy học khác nhau: dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm… tạo nên không khí học tập mới mẻ, không nhàm chán, nhờ đó học sinh sẽ cảm thấy thoải mái và thích thú hơn trong học tập
- BTTNĐT dùng để định hướng tư duy cho HS
+ Trong quá trình dạy học, để cho HS tích cực tham gia vào bài dạy thì GV thường đặt ra các câu hỏi để HS suy nghĩ và trả lời Các câu hỏi thường không định hướng tư duy nên HS khó tìm ra ngay câu trả lời Nên muốn tìm ra được câu trả lời thì HS phải tìm tòi, khoanh vùng kiến thức có liên quan đến câu hỏi, khi đó có hai khả năng xảy ra:
Một là, HS có thể tự tìm ra câu trả lời Câu trả lời của HS có thể đúng hoặc sai (nếu sai GV chỉ cần gợi ý nhỏ là học sinh có thể trả lời đúng), trong trường hợp này GV không cần phải sử dụng BTTNĐT để gợi ý nữa mà vẫn dạy bình thường
Hai là, HS không trả lời được câu hỏi và cũng không khoanh vùng được kiến thức dẫn đến việc lãng phí thời gian Trong trường hợp này,
GV cần sử dụng BTTNĐT để định hướng tư duy cho HS Bởi vì, đối với BTTNĐT, do có sẵn các phương án trả lời nên HS được định hướng vào một vùng kiến thức đó, các em chỉ việc lựa chọn phương án trả lời nào mà mình cho là hợp lý nhất Nhờ vậy, đa số HS trong lớp sẽ lựa chọn được phương án
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- BTTNĐT dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
+ Kiểm tra đánh giá đúng lúc và hợp lý sẽ có tác dụng góp phần phát huy tính tích cực học tập của HS Trong kiểm tra đánh giá thì BTTNĐT
có vai trò và vị trí rất quan trọng, vì khi giải BTTNĐT học sinh phải vận dụng các kiến thức có liên quan như: Định nghĩa, các thuyết vật lý, các công thức vật lý, hay phải sử dụng cả toán học trong bài giải… để phân tích và giải bài tập
+ Khi giải BTTNĐT thì học sinh phải vận dụng rất nhiều kiến thức đã được học, đồng thời phải sử lý và gắn kết chúng với nhau thì mới có thể hoàn thành được việc giải các bài tập đó Vì vậy, quá trình giải bài tập chính là thước đo sự hiểu biết và nắm vững kiến thức của học sinh
Như vậy, qua việc giải BTTNĐT thì người học có thể tự đánh giá về bản thân để biết mức độ nắm vững kiến thức của mình, từ đó điều chỉnh cách học, cách tư duy sao cho phù hợp Vì vậy HS tự tin hơn, dám nghĩ, dám làm, luôn tìm tòi, sáng tạo để giải quyết các nhiệm vụ học tập có hiệu quả hơn
- BTTNĐT còn được sử dụng như là phương tiện để nghiên cứu kiến thức mới trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học Trong những trường hợp này GV sử dụng BTTNĐT kết hợp với những PPDH để nghiên cứu kiến thức mới Và việc giải BTTNĐT đó giúp học sinh phát hiện ra những quy luật vật
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
lý, kiến thức mới chứ không phải tiếp thu quy luật và kiến thức mới đó dưới dạng có sẵn
1.1.2.3 Phân loại bài tập trắc nghiệm định tính
Có thể dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân loại BTTNĐT Dựa theo mỗi tiêu chí khác nhau có một cách phân loại BTTNĐT khác nhau Ở dây ta có thể phân loại dựa vào hình thức của bài tập và phân loại dựa vào mức độ khó khăn đối với HS
* Dựa vào hình thức của bài tập
- Bài tập trắc nghiệm định tính nhiều lựa chọn
Cấu trúc của loại này gồm hai phần: Phần đầu được gọi là phần dẫn và phần sau được gọi là phần lựa chọn
Phần dẫn (hay gọi là phần gốc) dùng để nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu lên một câu hỏi
Phần lựa chọn gồm có 4 hoặc 5 phương án để lựa chọn, thường đựơc đánh dấu bằng các chữ cái a, b, c, d, … hoặc các chữ số 1, 2, 3, 4, …trong các phương án lựa chọn chỉ có một phương án đúng hoặc đúng nhất Các phương
án khác đưa vào có tác dụng gây nhiễu hay mồi nhử Các câu mồi chữ phải là những câu sai nhưng có vẻ đúng, có vẻ hợp lý, thu hút sự lựa chọn của những
HS kém, còn đối với những HS khá, giỏi thì chỉ có tác dụng gây nhiễu mà thôi Điều quan trọng là làm sao cho các câu mồi nhử đều hấp dẫn ngang nhau đối với những HS kém
Ví dụ: Trong một hệ cô lập đứng yên, nếu một phần của hệ chuyển động theo một hướng thì phần còn lại của hệ sẽ
A chuyển động theo cùng hướng
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
B đứng yên
C chuyển động theo hướng ngược lại
D chuyển động cùng hướng hoặc theo hướng ngược lại tuỳ theo khối lượng của hai phần
- Bài tập trắc nghiệm định tính ghép đôi
Câu hỏi ghép đôi bao gồm hai dãy thông tin gồm những từ, cụm từ, biểu thức…hay những câu Dựa trên một hệ thức tiêu chuẩn đã định trước,
HS sẽ ghép những từ, cụm từ, biểu thức… hay những câu của dãy này với những phần tử tương ứng những từ, cụm từ, biểu thức của dãy kia
Số phần tử ở hai dãy có thể bằng hoặc khác nhau và cũng có thể một phần tử trong một dãy (thường là dãy thứ 2) được dùng nhiều lần hoặc không dùng lần nào cả
Ví dụ: Hãy ghép các vế ở cột bên phải với các vế ở cột bên trái để được những điều khẳng định đúng
1 Véc tơ động lượng A, Động lượng của hệ được bảo toàn
2 Với một hệ cô lập thì B, Động năng của vật không đổi
3 Khi vật chuyển động thẳng đều C, là động năng
4 Dạng cơ năng có được do chuyển
động
D, cùng hướng với vận tốc
- Bài tập trắc nghiệm định tính điền khuyết
Loại bài tập trắc nghiệm điền khuyết hay còn gọi là bài tập trắc nghiệm
có câu trả lời ngắn thực ra chỉ là một, chỉ khác nhau rạng thức vấn đề đặt ra Nếu trình bày ở dạng câu hỏi, chúng ta gọi là dạng câu trả lời ngắn, nếu trình bày dưới dạng phát biểu chưa đầy đủ thì gọi là loại câu hỏi điền khuyết Loại này đòi hỏi phát huy sáng tạo không thể đoán mò Các câu hỏi loại này rất
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
A ……… để biểu thị cho tốc độ thực hiện công của vật
B Xét trong một hệ kín, khi một vật rơi từ độ cao h thì trong quá trình rơi …… Tăng và ……… giảm nhưng ……… được bảo toàn
C Động lượng của một vật chuyển động là đại lượng đo bằng tích của
…….và ……… của vật
D Mọi hành tinh đều chuyển động theo các quỹ đạo …… mà Mặt trời
là một ………
- Bài tập trắc nghiệm định tính đúng – sai
Loại này thường gồm một số câu phát biểu để HS phải trả lời bằng cách chọn Đúng hoặc Sai Loại này là loại câu hỏi trắc nghiệm có hai lựa chọn, xác suất đúng là 50%
Ví dụ: Các phát biểu sau đây đúng hay sai ?
A Độ biến thiên động lượng của một vật trong một khoảng
thời gian nào đó bằng xung của lực tác dụng lên vật trong
khoảng thời gian đó
B Vật chuyển động trong trọng trường, dưới tác dụng của
trọng lực cơ năng của vật không thay đổi Đ S
C Độ biến thiên động lượng của một vật trong một khoảng
thời gian nào đó tỷ lệ thuận với xung của lực tác dụng lên vật
trong khoảng thời gian đó
D Vật chuyển động thẳng đều cơ năng của vật không thay
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
E Trong một hệ kín thì cơ năng của mỗi vật trong hệ được
F Cơ năng đàn hồi bằng tổng động năng của vật và thế
* Theo mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh
- Bài tập trắc nghiệm định tính đơn giản
Đây là loại bài tập mà khi giải, HS chỉ cần vận dụng một định luật, một quy tắc hay một phép suy luận logic là có thể giải quyết được
Ví dụ: Phát biểu nào sau đây là đúng với định lý biến thiên động lượng
A Độ biến thiên động lượng của một vật trong một khoảng thời gian nào đó tỷ lệ thuận với xung của lực tác dụng lên vật trong khoảng thời gian
Ví dụ: Trong trường hợp nào sau đây cơ năng của vật không thay đổi
A Vật chuyển động trong trọng trường, dưới tác dụng của trọng lực
Trang 30Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
B Vật chuyển động dưới tỏc dụng của ngoại lực
C Vật chuyển động trong trọng trường và cú lực ma sỏt tỏc dụng
D Vật chuyển động nhanh dần đều
Nhận xột: Để trả lời được cõu hỏi trờn, HS cần hiểu rừ về định luật bảo toàn cơ năng: cơ năng bằng tổng động năng và thế năng trong trường hợp hệ
là hệ kớn Vỡ vậy HS phải tỡm hiểu về hệ kớn và động năng, thế năng của nú thay đổi như thế nào để từ đú rỳt ra được kết luận cần thiết
- Bài tập trắc nghiệm định tớnh sỏng tạo
Đõy là loại bài tập khi giải, HS phải dựa vào vốn kiến thức của mỡnh về cỏc quy tắc, định luật, trờn cơ sở cỏc phộp logic tự lực tỡm ra phương ỏn trả lời tối ưu nhất
Vớ dụ: Một chất điểm khởi hành không vận tốc ban đầu và chuyển động thẳng đều Động năng của chất điểm có trị số
A Tỷ lệ thuận với quãng đ-ờng đi
B Tỷ lệ thuận với bình ph-ơng quãng đ-ờng đi
C Tỷ lệ thuận với thời gian chuyển động
D Không đổi
Nhận xột: Để trả lời được cõu hỏi trờn, HS cần phải hiểu rừ về động năng và cỏc cụng thức liờn quan đến chuyển động của vật, cỏc cõu trả lời trờn gần tương đồng với nhau nờn khi trả lời HS phải suy nghĩ, lập luận một cỏch logic mới cú thể tỡm ra được cõu trả lời đỳng nhất Muốn làm được như vậy
HS phải cú tư duy sỏng tạo
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
1.1.2.4 Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm định tính
BTTNĐT tuy được phân thành nhiều loại khác nhau, nhưng có quan điểm chung về quá trình giải Vì BTTNĐT đã có sẵn các đáp án để HS lựa chọ nên khi giải loại bài tập này HS có thể gặp một số thuận lợi hoặc khó khăn sau:
Thuận lợi: Các đáp án sẽ giúp HS định hướng tư duy HS thường ít khi bế tắc không biết bắt đầu từ đâu, vận dụng kiến thức hay suy luận về các vấn đề của bài tập Lúc này HS chỉ cầ tìm ra mối liên hệ giữa các dữ kiện đầu bài và các đáp áp có sẵn để lựa chọn phương án trả lời hợp lí
Khó khăn: Các đáp án gây nhiễu thường dựa trên các quan điểm sai lệch của HS hoặc dựa vào các tư duy không hợp lí mà HS thường mắc phải nên bề ngoài thường có vẻ đúng và dất hấp dẫn Điều này làm cho các HS không nắm vững kiến thức hoặc suy luận một cách hời hợt không logic thường lựa chọn các phương án sai
Phương pháp giải BTTNĐT cũng giống như giải bài tập tự luận nhưng
có một số điểm khác như: nhanh, các phép tính toán đơn giải, không cần trình bày bài… Về cách giải có một số điểm cần lưu ý Sau đây chúng tôi đề xuất các bước giải BTTNĐT như sau:
* Tìm hiểu đầu bài, nắm vững dữ kiện của bài tập
Đọc kỹ yêu cầu của đề bài, tìm hiểu nội dung bài tập để tìm hiểu ý nghĩa của các thuật ngữ, phân biệt đâu là các dữ kiện và đâu là các ẩn số Khảo sát chi tiết các đồ thị, sơ đồ, hình vẽ… đã cho trong bài
Nếu ngôn ngữ trong bài là ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày hoặc không hoàn toàn trùng khớp với các ngôn ngữ dùng trong các lời phát biểu
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
của các định nghĩa, các định luật, các quy tắc vật lý thì phải chuyển sang ngôn ngữ vật lý tương ứng nhằm có thể áp dụng một cách dễ dàng các định nghĩa, định luật, quy tắc vật lý
* Phân tích hiện tượng
Nghiên cứu các dữ kiện ban đầu để nhận biết chúng có liên quan đến các khái niệm, hiện tượng, quy tắc, định luật nào trong vật lý Các khái niệm, hiện tượng, quy tắc, định luật đó có liên quan với nhau như thế nào
Xác định các diễn biến nêu trong đầu bài, mỗi giai đoạn bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào Cần phải hình dung rõ toàn bộ diễn biến của hiện tượng và các định luật chi phối nó trước khi lựa chọn phương án trả lời Có như vậy mới hiểu rõ bản chất của hiện tượng, tránh lựa chọn phải những phương án làm mồi nhử
* Lựa chọn phương án trả lời
Trong bước này chúng ta có hai cách tiếp cận vấn đề để có thể lựa chọn phương án trả lời
Cách thứ nhất là dùng phép suy luận logic để tìm phương án đúng từ các dữ kiện cho ở đầu bài Để thực hiện cách này, HS phải dựa vào các dữ kiện đã cho và yêu cầu của bài toán để suy luận tìm ra phương án trả lời đúng trong các phương án đã cho Nếu bài toán yêu cầu giải thích hiện tượng, thì cần phải phân tích các hiện tượng vật lý phức tạp thành các hiện tưọng đơn giản sao cho mỗi hiện tượng chỉ bị chi phối bởi một định luật hay một quy tắc nhất định Sau đó xác định mối quan hệ giũa các hiện tượng đơn giản ấy để suy luận tìm ra cách giải thích đúng cho hiện tượng xảy ra Tránh tình trạng không xem xét hết các dữ kiện của đề bài hoặc không phân tích hiện tượng một các khoa học mà chọn nhầm những phương án dùng làm mồi nhử Nếu
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
bài toán yêu cầu dự đoán hiện tượng xảy ra thì phải căn cứ vào những dấu hiệu ban đầu (các dụng cụ TN, các dạng đồ thị, trạng thái ban đầu, diễn biến của hiện tượng…) để khoanh vùng kiến thức, nghĩa là liên tưởng đến những quy tắc, định luật vật lý mà chúng có thể liên quan Sau đó phân tích diễn biến của hiện tượng để tìm mối liên hệ giữa các quy tắc, định luật vật lý với mỗi giai đoạn diễn biến tương ứng Cuối cùng dựa vào những phân tích về diễn biến của quá trình và việc vận dụng các kiên thức vật lý có liên quan để chọn phuơng án trả lời đúng
Cách thứ hai là suy luận để loại trừ các phương án sai để tìm ra phương án trả lời đúng Cách này thường được dùng khi không tìm được cơ sở suy luận
để tìm ra phương án trả lời đúng như cách thứ nhất hoặc khi trong đáp án có những câu trả lời sai dễ nhận thấy Thông thường các phương án trả lời sai bề ngoài trông có vẻ đúng và khá hấp dẫn, do đó chúng ta khó phát hiện ra chúng sai ở chỗ nào Muón phát hiện các phương án sai cần phải dựa vào giai đoạn tìm hiểu đầu bài và phân tích hiện tượng để phát hiện ra chỗ bất hợp lý giữa yêu cầu của đề bài và đáp án
* Kiểm tra kết quả tìm đuợc
Kiểm tra kết quả tìm được thực chất là phân tích kết quả cuối cùng để xem xét kết quả đó có phù hợp với các điều kiện nêu ra ở đầu bài không, ngoài ra việc kiểm tra lại kết quả cũng là một trong những cách kiểm tra lại sự đúng đắn của quá trình giải bài tập Đối với BTTNĐT, có thể kiểm tra kết quả bằng hai cách sau:
Cách thứ nhất là thực hiện lại các TN cần thiết có liên quan để đối chiếu với kết luận về dự đoán hiện tượng Nếu kết quả TN hoàn toàn trùng với đáp án mà ta chọn thì đáp án ấy hoàn toàn chính xác Tuy nhiên vấn đề
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Do đó, cách này chủ yếu được dùng trong các giờ dạy nhằm kiểm tra các giả thuyết mà HS lựa chọn
Cách thứ hai là kiểm tra kết quả bằng suy luận logic Nghĩa là nếu đáp
án được tìm ra bằng phương pháp suy luận để tìm ra phương án đúng thì phải tìm ra chỗ sai của các phương án khác Và ngược lại, nếu đáp án được tìm ra bằng phương án loại trừ các phương án sai thì chỉ cần thực hiện các suy luận logic để chứng tỏ phương án được chọn là phương án đúng
Trong những trường hợp thực tế, tùy thuộc vào điều kiện của từng trường, trình độ HS,… mà GV có thể chọn cách thứ nhất hoặc cách thứ hai
1.2 Khái quát về dạy học nêu vấn đề:
Dạy học nêu vấn đề không phải là một phương pháp dạy học cụ thể mà
là tập hợp của nhiều phương pháp dạy học liên kết với nhau, nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh theo con đường hình thành và giải quyết vấn đề
Thực chất của dạy học nêu vấn đề là việc giáo viên đặt câu hỏi hoặc nêu vấn đề và bài toán có vấn đề, còn HS thì tự lực suy nghĩ, thảo luận, giải quyết vấn đề dưới sự định hướng của giáo viên Quá trình suy nghĩ, thảo luận, giải quyết vấn đề là điều kiện tốt để kích thích tính tự lực, năng động sáng tạo của HS, dần dần HS tiếp thu kinh nghiệm trong hoạt động học và hình thành phong cách học tập và làm việc có hiệu quả
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Việt, phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề có khả năng xâm nhập vào hầu hết các phương pháp dạy học khác làm cho tính chất của các phương pháp dạy học này trở nên tích cực hơn [37]
1.2.1 Tình huống có vấn đề
Khi xuất hiện một tình huống có vấn đề là khi cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào, chưa đủ phương tiện (tri thức, kỹ năng…) để giải quyết
Theo M.I macmutôp, tình huống có vấn đề là sự trở ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi người đó chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện của quá trình thực tại [26]
Như vậy trong cuộc sống, khoa học cũng như trong quá trình dạy học những tình huống có vấn đề luôn luôn xuất hiện Vấn đề học tập là vấn đề khi vốn hiểu biết của cá nhân với nội dung khái niệm, định lý, định luật…mâu thuẫn với nhau
1.2.2 Các giai đoạn của dạy học nêu vấn đề
Cấu trúc của dạy học nêu vấn đề gồm 3 giai đoạn là giai đoạn nêu vấn
đề, giai đoạn giải quyết vấn đề và giai đoạn củng cố, vận dụng tri thức
1.2.2.1 Giai đoạn 1: Nêu vấn đề
Theo PGS TS Nguyễn Thị Hồng Việt, đây là gia đoạn đưa HS vào tình huống có vấn đề Mục đích chính của giai đoạn bày này là làm xuất hiện mâu thuẫn trong HS, hướng dẫn họ nhiệm vụ nhận thức, biến nó thành mẫu chủ quan cần giải quyết; kích thích HS giải quyết vấn đề một các phấn khởi, liên tục; đặt HS trước khó khăn vừa sức, đòi hỏi các em làm việc căng thẳng, nghiêm túc nhưng tin tưởng là có thể giải quyết được [37]
Trong giai đoạn này GV phải tạo ra được những mâu thuẫn về nhận thức, từ đó tạo cho học sinh nhu cầu cần phải giải quyết vấn đề Những vấn đề
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
này buộc các em phải tập trung suy nghĩ, nhưng không quá khó khăn để làm mất hứng thú của học sinh Khi giải quyết được vấn đề sẽ củng cố niềm tin, tính tự lực và hăng say học tập của các em
1.2.2.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu và giải quyết vấn đề:
Theo PGS TS.Nguyễn Thị Hồng Việt, “mục đích của giai đoạn này là dẫn dắt HS vào con đường tự lực tìm tòi tri thức, làm cho học quen dần với phương pháp khoa học trong nghiên cứu giải quyết vấn đề Giai đoạn này bao gồm hai yếu tố cơ bản là: xây dựng giả thuyết và kiểm chứng giả thuyết Đây là hai khâu quan trọng, nhất thiết phải được tiến hành trong quá trình nghiên cứu khoa học” [37]
Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tìm tòi, quan sát trong khuôn khổ tình huống có vấn đề từ đó suy luận và tìm ra hướng giải cho vấn đề mới
Những giả thuyết của HS phải được hình thành thông qua quan niệm có sẵn của HS
Khi HS đưa ra những giả thuyết khác nhau về cùng một vấn đề thì GV phải chấp nhận tất cả các giả thuyết và dùng TN hoặc suy luận lý thuyết để kiểm chứng
1.2.2.3 Giai đoạn 3: Củng cố và vận dụng tri thức
Theo PGS TS.Nguyễn Thị Hồng Việt, “Ở giai đoạn này HS vừa củng
cố được kiến thức một cách vững chắc với mức độ đa dạng, phong phú của
nó Vừa được luyện tập giải quyết vấn đề mới, từ đó tư duy sáng tạo được phát triển”[38]
Tùy vào mức độ tham gia của HS, và tùy thuộc vào mức độ vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học nâu vấn đề vào các tình huống cụ thể mà người ta phân chia dạy học nêu vấn đề thành các mức độ từ thấp đến cao, cho
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
nên khi vận dụng phương pháp này trong dạy học, GV phải áp dụng một cách linh hoạt các mức độ sao cho phù hợp với đối tượng HS
1.2.3 Sử dụng bài tập trắc nghiệm định tính trong dạy học nêu vấn đề
Có rất nhiều cách tổ chức hoạt động theo PPDH nêu vấn đề Trong đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng BTTNĐT trong từng giai đoạn của dạy học nêu vấn đề để tạo ra những tình huống có vấn đề hoặc nêu giả thuyết (dự đoán) hoặc trong giai đoạn củng cố và vận dụng tri thức
Giai đoạn 1: Sử dụng BTTNĐT để tạo ra tình huống có vấn đề thì GV phải lựa chọn những bài tập mà nội dung của nó chứa đựng những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái cần tìm, mâu thuẫn đó phải có tính vừa sức, gây được cho HS hứng thú nhận thức và niềm tin có thể nhận thức được Tuỳ thuộc vào đối tượng HS và các tư liệu có sẵn, GV có thể lựa chọn các cách tạo tình huống như: Bài tập nội dung có tình huống bất ngờ, bài tập nội dung có tình huống xung đột, bài tập mà nội dung có kết luận đúng hoặc sai…
Ví dụ 1: Khi ta dạy về bài định luật III Niu-tơn ta có thể hỏi học sinh một câu hỏi để tạo ra tình huống có vấn đề Khi tác dụng vào cái bàn một lực
F1 thì (chọn câu đúng)
A Bàn tác dụng vào tay ta một lực F2 > F1
B Bàn tác dụng vào tay ta một lực F2 < F1
C Bàn tác dụng vào tay ta một lực F2 = F1
D Không phải bàn tác dụng vào tay ta mà do ta có cảm giác đau
Ví dụ 2: Các kết luận sau đây đúng hay sai ?
A Chất khí là chất các phân tử khí ở rất gần nhau Đ S
B Độ biến thiên động lượng của một vật trong một khoảng
thời gian nào đó luôn nhỏ hơn xung của lực tác dụng lên vật
trong khoảng thời gian đó
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
C Cơ năng đàn hồi bằng tổng động năng của vật và thế năng
Giai đoạn 2: Sử dụng BTTNĐT để nghiên cứu giải quyết vấn đề: giai đoạn này gồm hai khâu cơ bản là xây dựng giả thuyết và kiểm tra giải thuyết Dưới sự hướng dẫn của GV, HS quan sát các hiện tượng, TN từ đó vận dụng những kiến thức đã biết để xây dựng giả thuyết Để định hướng giúp HS có thể xây dựng giải thuyết đáng tin cậy thì GV có thể đưa ra những BTTNĐT
để HS lựa chọn những phương án cho là đúng Chính những phương án này là gợi ý cho HS để xây dựng giả thuyết Khi đã xây được giả thuyết thì GV lại hướng dẫn HS kiểm tra giả thuyết đó, GV có thể làm các TN hoặc bằng phép suy luận logic để kiểm tra những giả thuyết mà HS vừa xây dựng Từ đó kết luận đựơc giả thuyết HS xây dựng hợp lí hay chưa hợp lí
Ví dụ: Sau khi làm xuất hiện tình huống có vấn đề ở giai đoạn 1 GV tiến hành thí nghiệm kiểm tra: dùng hai lực kế giống nhau sau đó móc hai đầu lực kế lại rồi dùng hai tay kéo theo cùng một phương và ngược chiều nhau Thì ta thấy hai lò xo bị dãn như nhau điều đó chứng tỏ hai lực tác dụng là bằng nhau Để củng cố điều đó GV có thể đưa ra một bài tập: Kết luận nào sau đây là đúng nhất
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
A Hai xe chuyển động cùng chiều với vận tốc v1= v2
B Hai xe chuyển động ngược chiều với vận tốc v1= v2
C Hai xe chuyển động cùng chiều với vận tốc v1= 2v2
D Hai xe chuyển động ngược chiều với vận tốc v1= 2v2
1.3 Khái quát tính tích cực
1.3.1 Khái niệm tính tích cực
Theo G.S TSKH.Thái Duy Tuyên, Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự
nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (như hứng thú, chú ý, ý chí ) nhằm đạt được mục đích đặt
ra với mức độ cao[34]
Theo Triết học, tính tích cực nhận thức thể hiện thái độ cải tạo của chủ thể đối với đối tượng nhận thức Tài liệu học tập được phản ánh vào não của người học, được chế biến và hoà vào vốn khái niệm đó và người học sẽ vận dụng linh hoạt sáng tạo vào các tình huống khác nhau nhằm cải tạo hiện thực
và cải tạo bản thân[12] Theo tác giả Hà Thế Ngữ, tính tích cực hoạt động của người học là sự ý thức được nhiệm vụ học tập từng môn, từng bài nói riêng thông qua việc học tập hăng say, nhiệt tình từ đó tự mình ra sức hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự mình khắc phục khó khăn để nắm vững tri thức, kĩ năng mới và tri giác tài liệu một cách tự giác Tự nắm kiến thức nghĩa là dưới sự hướng dẫn của giáo
m 2mHình 1.1
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
26
viên, người học tự mình nắm bản chất của sự vật hịên tượng mà tri thức đó
phản ánh, biến kiến thức thành vốn riêng của mình thành bộ phận thuộc tính
của nhân cách [31] .
Như vậy tính tích cực không thể thiếu trong hoạt động học của học
sinh, nó quyết định đến kết quả tiếp thu kiến thức và kết quả học tập của học
học sinh Ngay từ năm 1963, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyên người học
“phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ…phải
hoàn thành cho được Do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học
tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kì khó khăn
nào trong học tập”[40]
Tích cực hóa hoạt nhận thức của HS, rèn luyện tư duy chủ động, tự chủ,
tự học đang được coi là xu hướng phù hợp với đổi mới phương pháp dạy học
ngày nay Các mô hình dạy học tiên tiến trên thế giới đang ngày một chủ tâm
nhấn mạnh đến tính tích cực, tính cá thể hóa, chuyên biệt hóa trong dạy học
nhằm góp phần phát huy vai trò, tư duy trí tuệ của cá nhân, làm giàu tâm hồn
từng cá thể giáo dục Cá nhân đến trường học là tìm đến cơ hội phát triển hài
hòa về đức, trí, thể, mĩ, với tâm thế chờ đợi sự kích hoạt để làm bừng sáng
tiềm năng trí tuệ Tâm thế này là tích cực, là sẵn sàng chủ động học tập, là
điều kiện lý tưởng để nhà trường, thầy cô triển khai các hoạt động dạy, học
tích cực hóa các phương pháp dạy học Chữ “tích cực” trong phương pháp
dạy học ở đây, nói như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, “là có chiều sâu, tạo
cơ hội cho người học, cho chủ thể học tập góp phần phát huy hết tiềm năng
trí tuệ, tư duy thông minh của mình” [41]
Như vậy tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của
học sinh thể hiện trong khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
trong quá trình nắm vững kiến thức Trong quá trình học tập, học sinh cũng
phải khám phá ra những điều mới đối với bản thân mình, dù đó chỉ là khám