1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn giáo dục học ở trường cao đẳng sư phạm quảng ninh

119 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 812,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐỖ THỊ THU HƯƠNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH MÔN GIÁO

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ THU HƯƠNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

SƯ PHẠM QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ THU HƯƠNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

SƯ PHẠM QUẢNG NINH

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC

MÃ SỐ: 60.14.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh

THÁI NGUYÊN, NĂM 2011

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Mục lục 0

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các biểu bảng v

Danh mục các sơ đồ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 1

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Các phương pháp nghiên cứu 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Một số khái niệm công cụ 8

1.2.1 Bài tập thực hành 8

1.2.2 Bài tập thực hành Giáo dục học

1.2.3 Dạy học 14

1.3 Đặc trưng của dạy học môn Giáo dục học ở trường Cao đẳng sư phạm 16

1.3.1 Đặc điểm của môn Giáo dục học 16

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.3.2 Dạy học môn Giáo dục học tại trường CĐSP 171.4 Xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn Giáo dục học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm 191.4.1 Vai trò của Bài tập thực hành môn GDH trong dạy học ở trường Cao đẳng sư phạm 191.4.2 Xây dựng Bài tập thực hành giáo dục học 221.4.3 Đặc điểm của sử dụng Bài tập thực hành môn Giáo dục học trong trường Cao đẳng sư phạm 25

Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH GIÁO DỤC HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM QUẢNG NINH 28

2.1 Khái quát về dạy học môn GDH ở trường CĐSP Quảng Ninh 282.1.1.Sơ lược về trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh 282.1.2 Dạy học môn Giáo dục học ở trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh 302.2 Thực trạng xây dựng và sử dụng Bài tập thực hành Giáo dục học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh 312.2.1 Thực trạng nhận thức của GV và SV về tầm quan trọng của BTTH môn GDH 312.2.2 Thực trạng nhận thức của GV và SV về tác dụng của hệ thống BTTH Giáo dục học đối với SV trong quá trình học tập bộ môn 352.3 Thực trạng thực hiện xây dựng và sử dụng BTTH môn GDH cho SV trường CĐSP Quảng Ninh 372.3.1 Thực trạng xây dựng BTTH môn GDH cho SV trường CĐSP Quảng Ninh 372.3.2 Thực trạng sử dụng Bài tập thực hành môn Giáo dục học cho

SV trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh 42

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 3 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

QUẢNG NINH 52

3.1 Quy trình xây dựng bài tập thực hành môn Giáo dục học 52

3.1.1 Nguyên tắc xây dựng Bài tập thực hành Giáo dục học 52

3.1.2 Quy trình xây dựng Bài tập thực hành Giáo dục học 56

3.2 Các yêu cầu khi sử dụng bài tập thực hành giáo dục học 62

3.2.1 Yêu cầu đối với giảng viên 63

3.2.2 Yêu cầu đối với sinh viên 63

3.2.3 Các yêu cầu khác 64

3.3 Ý kiến đánh giá về quy trình xây dựng bài tập và hệ thống bài tập thực hành 66

3.3.1 Ý kiến đánh giá về quy trình xây dựng bài tập 66

3.3.2 Ý kiến đánh giá về hệ thống bài tập đã xây dựng 66

3.4 Thực nghiệm sư phạm 67

3.4.1 Khái quát thực nghiệm 67

3.4.2 Khảo sát đầu vào và phân tích kết quả ở hai nhóm thực nghiệm và đối chứng 67

3.4.3 Kiểm tra, đánh giá thực nghiệm 71

3.4.5 Xử lý kết quả thực nghiệm 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1: Nhận thức của SV về tác dụng của việc sử dụng BTTH trong

quá trình học môn GDH 32

Bảng 2: Nhận thức của GV về tác dụng của BTTH môn GDH đối với SV 35

Bảng 3: Những căn cứ xây dựng Bài tập thực hành GDH cho SV 37

Bảng 4: Thực trạng tổ chức xây dựng BTTHGDH 40

Bảng 5: Thực trạng sử dụng các hình thức dạy học có sử dụng BTTHGDH của GV 45

Bảng 6: Nguyên nhân việc học BTTH môn GDH chưa đạt hiệu quả, chất lượng 48

Bảng 7: Đánh giá của GV về quy trình xây dựng bài tập 66

Bảng 8: Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra trước thực nghiệm 68

Bảng 9: Bảng phân phối tỉ lệ phần trăm kiểm tra đầu vào theo mức độ đánh giá 68

Bảng 10: Bảng phân phối các tham số có đặc trưng về kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 70

Bảng 12 : Bảng phân phối tỉ lệ phần trăm kiểm tra sau thực nghiệm 74

Bảng 13 Bảng phân phối các tham số có đặc trưng và kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 74

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Trang Biểu đồ 1.2: Nhận thức của GV về tầm quan trọng của BTTHGDH 34 Biểu đồ 1.3: Thực trạng mức độ sử dụng BTTHGDH tại trường CĐSP

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mà phải đón đầu công nghệ, làm chủ thông tin tri thức đang hàng ngày hàng giờ biến đổi theo “cấp số nhân” Và, trong cuộc chạy đua này thì khoa học và giáo dục là nguồn xuất phát và phát triển nhân lực tri thức, là nguồn đào tạo

và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Mục tiêu của giáo dục hiện nay là nhằm hình thành nhân cách toàn diện cho người học, nhằm tạo ra lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Vì thế, chất lượng giáo dục

là vấn đề không chỉ nước ta mà cả thế giới luôn luôn quan tâm và đầu tư

Giáo dục là một quá trình kết hợp vai trò chủ đạo của giáo viên với sự tích cực rèn luyện của học sinh nhằm hình thành ý thức, tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã quy định Điều 24 Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm trường, lớp, môn học Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" Điều này đòi hỏi rất nhiều đến nỗ lực, bản lĩnh và

sự vận động của người thầy - nhân tố quyết định đến hiệu quả, sự thành công của quá trình dạy học (DH)

Trong những năm qua việc dạy học môn Giáo dục học tại các trường Cao đẳng và Đại học đã đạt những thành tựu nhất định song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục học theo đúng tính chất của một môn học nghề Bên cạnh đó trong các trường sư phạm chưa chú trọng tới việc đưa các dạng bài tập của bộ môn vào trong quá trình giảng dạy tại trường, mặt khác các dạng bài tập thực hành môn giáo dục học cũng không phong phú đa dạng

Nâng cao chất lượng giảng dạy – học tâp luôn được quan tâm hàng đầu của những người làm giáo dục, bằng nhiều biện pháp tích cực nhằm tác động vào hứng thú cũng như thái độ học tập của sinh viên là công việc được quan tâm rất nhiều Và, việc xây dựng các bài tập thực hành môn Giáo dục học là mối quan tâm của mỗi cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy bộ môn nói chung, giáo dục học nói riêng Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu

“Xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn Giáo dục học ở trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh’’

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn Giáo duc học ở trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) Chúng tôi xác định quy trình xây dựng và sử dụng bài tập thực hành cho sinh viên trường Cao Đẳng sư phạm Quảng Ninh nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học này ở nhà trường

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu bài tập thực hành môn Giáo dục học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quy trình xây dựng và sử dụng bài tập thực hành trong dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên trường Cao Đẳng sư phạm

4 Giả thuyết khoa học

Bài tập thực hành đóng vai trò quan trọng trong dạy học môn Giáo dục học Việc xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn Giáo dục học cho sinh viên trường CĐSP Quảng Ninh hiện nay vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả cao Nếu xây dựng được bài tập thực hành môn Giáo dục học cho sinh viên phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, đặc điểm của sinh viên theo một quy trình hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình giảng dạy học tập môn Giáo dục học cho sinh viên trường CĐSP Quảng Ninh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận về xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn GDH

6 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi xây dựng bài tập thực hành môn GDH – học phần : Lý luận giáo dục để giảng dạy tại trường CĐSP Quảng Ninh

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7 Các phương pháp nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, gồm: Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích tài liệu, phương pháp lịch sử

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm: phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện, phương pháp chuyên gia, phương pháp thực nghiệm sư phạm, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm

- Các phương pháp nghiên cứu khác: phương pháp thống kê toán học

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Vấn đề bài tập, xây dựng và sử dụng bài tập trong quá trình dạy học đã được rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu từ rất lâu trên nhiều cấp độ khác nhau

- Đứng trên bình diện chung nhất của quá trình dạy học, các tác giả Phạm Hồng Quang, Nguyễn Văn Khải đã khẳng định ý nghĩa, tác dụng, tính hiệu quả của việc sử dụng bài tập, bài toán, câu hỏi và cho rằng : bài tập

là một trong những yếu tố không thể thiếu được của quá trình dạy học Bài tập vừa được xem như là mục tiêu, phương tiện để đạt được mục đích dạy học và vừa chứa đựng nội dung dạy học Như vậy, trong quá trình dạy học có thể sử dụng bài tập như một phương tiện để triển khai phương pháp dạy học, phương pháp lĩnh hội kiến thức mới,củng cố kiến thức, hoàn thiện kiến thức, vận dụng kiến thức, hình thành kỹ năng – kỹ xảo cho đến kiểm tra đánh giá khả năng học tập của người học, đồng thời có thể sử dụng bài tập trong tất cả các khâu của quá trình dạy học [13] [18] Các tác giả còn cho rằng, quá trình dạy học trước tiên phải cung cấp cho người học hệ thống tri thức khoa học cơ bản, toàn diện vè lĩnh vực tự nhiên và xã hội Những kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm của người học là quá trình lưu trữ trong trí nhớ trên cơ sở hiểu những

sự kiện cơ bản của khoa học, những quy tắc, quy luật xuất xứ từ những sự kiện ấy Trên thực tế, người học sẽ dễ quên và không nắm vững kiến thức nếu như chỉ lĩnh hội ở dạng lý thuyết suông, học thuộc lòng, học máy móc mà

“lý luận phải gắn với thực tiễn, học phải đi đôi với hành” đúng như Hồ Chí Minh nhấn mạnh:“ Phương châm, phương pháp học tập lý luận liên hệ với thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin.“ Thực tiễn

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận không gắn với thực tiễn là lý luận suông; lý luận cốt để áp dụng vào thực tế; lý luận cũng như cái đích để bắn, có tên mà không bắn hoặc bắn lung tung thì cũng như không có tên ; học là để áp dụng vào việc làm, làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa vấp váp; học với hành phải đi đôi với nhau” [14] Do đó trong quá trình dạy học, người học cần phải thông qua thực hiện giải các bai tập, vận dụng linh hoạt các dạng bài tập khác nhau thì người học mới nắm chắc được tri thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập

- Ở nước ta trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dạy học tư duy bằng nhiều con đường khác nhau trong đó có con đường truyền thụ cho học sinh những tri thức cần thiết rồi sau đó đề ra cho họ những bài toán vận dụng những tri thức đó Các tác giả như Tôn Thất Thân (1995), Trần Đình Châu (1996), Vũ Đức Lưu (2002), Nguyễn Xuân Trường (2005) cùng nhiều tác giả khác đi vào xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập, coi đó là phương tiện để bồi dưỡng năng lực, tư duy sáng tạo cho học sinh trong học tập Toán học, Hóa học, Sinh học Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng bài tập trong quá trình dạy học các

bộ môn cụ thể với tư cách là phương tiện dạy học [4] [12] [20]

Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc, khi bàn về vấn đề phát triển tư duy trong quá trình dạy học cho rằng : quá trình tư duy để giải quyết nhiệm vụ học tập là quá trình vận dụng kiến thức khác nhau vào những hoàn cảnh cụ thể của bài tập Chính bài tập đòi hỏi tư duy vận dụng mối liên hệ này hay khác của sự vật, hiện tượng được phản ánh trong kiến thức, do đó tùy theo loại bài tập có thể phát triển kiểu tư duy này hay tư duy khác [10] Bài tập còn có thể dùng làm phương tiện để hình thành kỹ năng – kỹ xảo trong học tập và nhấn mạnh cách thức hình thành kỹ năng thông qua giải bài tập Cụ thể là qua bài tập giúp người học biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

và mối quan hệ giữa chúng, giúp cho người học hình thành và mô hình hóa khái quát để giải quyết các bài tập cùng loại, xác lập được mối quan hệ giữa các bài tập và các kiến thức tương ứng

- Trên bình diện bài tập được sử dụng như là một biện pháp, phương pháp, kỹ thuật trong quá trình dạy học Các tác giả như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt cho rằng tất cả các môn học đều cần tổ chức luyện tập nhằm hình thành cho người học hành động trí tuệ, hoặc hành động kỹ năng kỹ xảo tương ứng Như giải bài toán trong các môn học khác là hình thức luyện tập phổ biến nhằm đạt tới mục đích như củng cố tri thức, rèn luyện kỹ năng – kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và giáo dục nhân cách, tương ứng với các dạng luyện tập đó cần có các bài tập, bài toán khác nhau [15]

Một trong những xu hướng đổi phương pháp dạy học mới hiện nay trong các nhà trường là phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học Do đó, các nhà nghiên cứu đề xuất phương pháp, biện pháp dạy học tích cực, trong đó xây dựng và sử dụng câu hỏi, bà tập là một biện pháp góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học Như tác giả Okon V cho rằng tổ chức kiểu dạy học nêu vấn đề bằng các câu hỏi và bài tập làm cho người học có khả năng độc lập giải quyết, diễn đạt ý kiến của bản thân, phê phán các giả thuyết không thích hợp, kiểm tra các bài giải, ứng dụng chúng [17]

Vấn đề xây dựng và sử dụng bài tập thực hành trong dạy học đã được các tác giả nghiên cứu dưới dạng khái quát và rộng cho tất các môn học nói chung và trên cơ sở lý luận chung một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề bài tập trong các môn học cụ thể Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã chứng minh ý nghĩa, tác dụng của việc vận dụng bài tập, bài toán trong dạy học các môn học cụ thể như Toán, Vật Lý, Hóa học .[18] Hệ thống bài tập, bài toán là phương tiện mang lại hiệu quả và không thế được trong dạy học bộ môn, đồng thời việc tổ chức cho học sinh giải bài tập được xem là một phương pháp dạy học tích cực

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Vấn đề xây dựng và sử dụng bài tập chủ yếu được quan tâm nhiều trong nghiên cứu các môn học ở phổ thông và trong một số môn khoa học nghiệp

vụ ở trường sư phạm Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung vào xây dựng

và sử dụng hệ thống bài tập thực hành nhằm rèn luyện kỹ năng sư phạm cho sinh viên trường sư phạm [1], [3] Các tác giả thống nhất quan điểm định hướng dạy nghề bằng quy trình kỹ thuật cụ thể, bên cạnh việc dạy lý thuyết cần tập trung vào rèn luyện kỹ năng tương ứng thông qua các bài tập

Hệ thống bài tập, bài toán của môn học là phương tiện có hiệu quả và không thể thay thế được trong quá trình dạy học bộ môn, việc tổ chức cho người học giải bài tập được coi là một phương pháp dạy học tích cực Ngoài

hệ thống bài tập đã được biên soạn trong sách giáo khoa, hiện nay đã và đang

có rất nhiều nghiên cứu tìm tòi, thiết kế hệ thống bài tập mới phù hợp với sự phân hóa trình độ, với xu thế phát triển của xã hội Vấn đề bài tập, xây dựng cũng như sử dụng hệ thống bài tập không chỉ được quan tâm nghiên cứu trong các môn học ở trường phổ thông mà còn được tập trung nghiên cứu trong một

số môn khoa học nghiệp vụ ở các trường sư phạm

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Bài tập thực hành

* Bài tập

Trong các tài liệu lý luận cũng như thực tiễn dạy học – giáo dục, thuật ngữ “Bài tập” được sử dụng song song cùng thuật ngữ “Bài toán” Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên và Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì bài tập và bài toán được giải nghĩa có một số đặc điểm chung song chúng khác nhau về mức độ, đó là : Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những gì đã học [25] và bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng các phương pháp khoa học

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Các nhà lý luận dạy học của Liên Xô lại cho rằng bài tập là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời bao gồm cả bài toán và câu hỏi, mà khi học sinh hoàn thành chúng thì nắm vững được một tri thức, một kĩ năng nhất định hoặc cũng có thể hoàn thiện chúng Bài tập đặt ra

sự cần thiết phải tìm kiếm một cách có ý thức các phương tiện thích hợp để đạt được mục đích rõ ràng nhưng không thể đạt được ngay Việc giải bài tập chính là tìm ra phương tiện thích hợp đó, bài tập là một công việc mà người ta chưa biết hoàn thành công việc đó như thế nào, vì vậy đòi hỏi người học cần phải có ý thức vận dụng hệ thống tri thức mà mình có để có thể giải được bài tập đó

Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Bài tập” Ví dụ như: bài tập là một nhiệm vụ nhận thức, bài tập là một hình thức thực hành trả lời câu hỏi, bài tập là một tình huống có vấn đề, bài tập là một hình thức vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề Theo Nguyễn Ngọc Quang thì “ bài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện, trong bài tập có bao gồm dữ kiện và yêu cầu cần tìm” Cũng theo ông thì bài toán là một hệ thông tin cố định, bao gồm những điều kiện và nhiều yêu cầu luôn luôn không phù hợp (mâu thuẫn) với nhau, dẫn tới nhu cầu phải khắc phục bằng cách biến đổi chúng [8] Thuật ngữ bài tập là chung hơn thuật ngữ bài toán, thuật ngữ bài toán được sử dụng rộng rãi trong bộ môn toán thuộc khoa học tự nhiên, thuật ngữ bài toán được sử dụng để chỉ những bài tập định lượng Hiện nay ở nước ta, trong cách dùng tên sách của các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, người ta thường dùng thuật ngữ “Bài tập” Ví dụ như : Bài tập Toán học, bài tập Vật lý, bài tập Hóa học, bài tập Sinh học Theo nghĩa này thì bài tập được hiểu là dạng bài học

mô phỏng lai kiến thức và thao tác thực hành đã được giới thiệu có mục đích rèn luyện khả năng vận dụng, củng cố để nắm vững lý thuyết và hình thành các kĩ năng cần thiết theo yêu cầu của chương trình môn học Mỗi môn học có

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

những kiểu bài tập đặc trưng của chúng như: môn toán có Bài tập đại số, Bài tập hình học; môn văn có Bài tập đọc, Bài tập làm văn, Bài tập ngữ pháp ; Bài tập vẽ; Bài tập thể dục thuật ngữ “Bài tập” là chung hơn, bao hàm nghĩa rộng hơn thuật ngữ “Bài toán”

Như vậy, bài tập và bài toán là hai thuật ngữ khác nhau nhưng có quan

hệ với nhau, thể hiện ở các đặc điểm sau : Bài tập bao hàm bài toán, có nội dung rộng hơn bài toán; Bài toán và bài tập đều chứa đựng những dữ kiện và yêu cầu để giải quyết; Bài toán là một dạng nhận thức có tính chất tìm tòi sáng tạo, mà việc độc lập giải quyết nó sẽ dẫn tới chỗ tạo ra được phương thức giải quyết mới mà trước đó người học chưa biết

Theo cách hiểu như trên, bài tập được sử dụng chủ yếu trong hoạt động thực hành, giải bài tập là một hình thức thực hành, chính vì vậy bài tập là một nhiệm vụ thực hành mà người học cần phải thực hiện trong quá trình học tập của mình Nhưng theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhận thức của người học thì phạm vi ứng dụng của Bài tập rộng rãi hơn rất nhiều Bài tập không chỉ được sử dụng nhằm mục đích giúp người học vận dụng hệ thống tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng – kĩ xảo tương ứng mà còn được sử dụng trong quá trình cung cấp tri thức lý thuyết, giúp người học có thể hiểu tri thức một cách sâu hơn, cụ thể hơn để từ đó mới có thể vận dụng được các tri thức đó một cách hiệu quả nhất và thực hiện được các yêu cầu học tập ngày càng cao của môn học

Từ những quan niệm về bài tập nêu trên, chúng tôi cho rằng bài tập là nhiệm vụ học tập mà giáo viên đặt ra cho học sinh thực hiện được trình bày dưới dạng câu hỏi, bài toán, tình huống có vấn đề hay yêu cầu hoạt động … buộc học sinh tìm điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết, qua đó nắm vững tri thức nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

* Cấu trúc của một bài tập bao gồm các yếu tố cơ bản sau:

Cấu trúc là tổng hòa các mối quan hệ bên trong của một chỉnh thể, một

hệ thống các thành tố Tiếp cận quan niệm về bài tập của tác giả Thái Duy Tuyên, thông thường bài tập được cấu tạo bởi các thành tố sau:

- Những điều kiện: bao hàm những điều đã cho, các thuộc tính và mối quan hệ giữa chúng, đây có thể coi là “cái đã cho”, cái đã biết”

- Những yêu cầu: là “cái phải tìm”, “cái chưa biết” mà chủ thể phải hướng tới để thỏa mãn nhu cầu của mình

- Nhu cầu nhận thức: hai tập hợp các yếu tố trên không phù hợp với nhau, mâu thuẫn nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu nhận thức ở chủ thể (người học), kích thích hoạt động nhận thức để giải quyết của chủ thể

Quá trình giải bài tập là quá trình mà người học vận dụng tri thức vốn

có của mình, sử dụng các thao tác trí tuệ hay thực hành để tìm cách khắc phục

sự không phù hợp hoặc mâu thuẫn giữa các điều kiện và các yêu cầu của bài tập, biến đổi chúng để cuối cùng đưa chúng tới sự thống nhất Quá trình giải bài tập làm cho người học có được nhận thức mới, sự phát triển mới

* Bài tập thực hành

Thực hành được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp Thực hành (nghĩa rộng) là vận dụng sự hiểu biết để thực hiện các nhiệm vụ của thực tiễn đời sống, thực hành (nghĩa hẹp) là hình thức luyện tập để người học đào sâu tri thức, vận dụng tri thức lý thuyết, hình thành và rèn luyện các thao tác về kỹ năng – kỹ xảo hoạt động Đây chính là hoạt động thực tiễn của dạy học, là khâu quan trọng nhất đảm bảo nguyên lý giáo dục “ học đi đôi với hành” Trong nhà trường khái niệm thực hành thường được hiểu theo nghĩa hẹp, là hình thức luyện tập gắn liền với từng bộ môn, từng chuyên đề dưới nhiều hình thức học tập khác nhau như làm bài tập, làm thí nghiệm, viết bài

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

văn, tập nghe, nói, đọc … Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chúng tôi cũng thiên về nghiên cứu thuật ngữ thực hành theo nghĩa hẹp Như vậy,

loại bài tập được sử dụng trong hoạt động thực hành nhằm mục đích giúp người học củng cố tri thức, phát triển năng lực sử dụng độc lập những tri thức thu nhận được, rèn luyện được các kỹ năng – kỹ xảo trong các hoạt động nhất định gọi là bài tập thực hành Hiện nay, trong các trường sư

phạm thì Bài tập thường bao gồm các dạng hoạt động như : Bài tập thực hành, hoạt động xêmina, hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động thực hành sản xuất và thực tập nghề nghiệp

1.2.2 Bài tập thực hành Giáo dục học

Giáo dục học là một môn học nghiệp vụ trong các nhà trường sư phạm, nhà Giáo dục người Nga K.Đ.Usinxki đã khẳng định cơ sở của lao động sư phạm là lý luận GDH, công tác GD không thể nâng lên trình độ nghệ thuật nếu không dựa trên lý luận GDH Song ông cũng lưu ý rằng, lý luận GDH không phải là những điều hay, những đơn thuốc có sẵn mà chỉ là cơ sở định hướng cho người thầy giáo trong công tác GD Điều đó có nghĩa là, song song với việc tổ chức, điều khiển sinh viên chiếm lĩnh tri thức lý thuyết cần phải tổ chức hoạt động thực hành – luyện tập để sinh viên vận dụng tri thức, hình thành và rèn luyện kĩ năng – kĩ xảo hoạt động sư phạm Trong dạy học nói chung và dạy học GDH nói riêng, nếu người giáo viên chỉ biết truyền đạt lại kiến thức một cách máy móc mà không có những hình thức giúp sinh viên củng cố, kiểm tra lại những kiến thức đó thì hiệu quả của hoạt động dạy học

sẽ không được cao Có thể SV sẽ quên ngay kiến thức mà người GV vừa truyền đạt, cũng có thể SV sẽ nhớ kiến thức đó song đó chỉ là những kiến thức

“suông” mà thôi và kiến thức đó cũng sẽ không thể tồn tại lâu dài trong trí óc của người học Vì GDH là môn học cung cấp cho SV các kỹ năng cơ bản bên

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cạnh kiến thức chuyên ngành để SV sau khi ra trường có thể vững vàng trong công tác giảng dạy của mình Nếu SV chỉ có kiến thức chuyên ngành mà không được tổ chức rèn luyện thực hành, luyện tập để vận dụng những tri thức đã học thì sẽ rất khó khăn trong việc giải quyết các tình huống sư phạm nảy sinh trong quá trình học tập cũng như công tác sau này Do đó, trong khâu thực hành về GDH cần tạo ra một quy trình khép kín bằng cách dạy lý luận nghề nghiệp trong mối quan hệ tương hỗ với dạy thực hành nghề nghiệp Với

ý nghĩa này thì Bài tập thực hành giáo dục học là một trong những hình thức thực hành rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV, giúp SV có được những kĩ năng – kĩ xảo tương ứng Xuất phát từ Bài tập, BTTH nói chung, chúng tôi

quan niệm Bài tập thực hành Giáo dục học là những nhiệm vụ thực hành GV đặt ra cho SV trong quá trình học tập GDH được trình bày dưới dạng một tập hợp yêu cầu hoạt động, một tình huống sư phạm hay một câu hỏi với yêu cầu và nội dung có tính khái quát cao buộc SV luyện tập nhằm củng cố , đào sâu hệ thống tri thức đã học, vận dụng những tri thức đó vào các tình huống dạy học, giáo dục, rèn luyện, phát triển kĩ năng – kĩ xảo sư phạm và những phẩm chất nhân cách cần thiết của người GV tương lai

BTTHGDH bao giờ cũng chứa đựng hoàn cảnh có vấn đề, chứa đựng những mâu thuẫn của những tình huống giống như thực tế, buộc người học phải suy nghĩ, tìm tòi để có thể tìm ra phương án giải quyết tối ưu nhất đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động dạy học – giáo dục

* Phân loại bài tập thực hành giáo dục học

Có nhiều cách phân loại BTGDH dựa trên những cơ sở khác nhau Tuy nhiên cách phân loại phổ biến nhất hiện nay trong thực tế nới riêng và các tài liệu Tâm lý – Giáo dục học là dựa vào mục đích và yêu cầu sử dụng BT Theo

đó BTTHGDH được phân thành ba loại:

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Loại BT yêu cầu phân tích, giải thích, chứng minh làm sáng tỏ lý luận giáo dục

- Loại BT yêu cầu vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống

Con người có thể tiếp nhận những kinh nghiệm xã hội trong quá trình sống và tồn tại của mình thông qua quá trình giao tiếp và sinh hoạt với cộng đồng Mỗi một cá nhân ngay từ khi mới sinh ra đã được tiếp nhận được những

kĩ năng – kĩ xảo về một số vấn đề như ngôn ngữ, cách chung sống với tự nhiên, tchung sống giữa người với người, về lao động sản xuất Qua thời gian con người đã có sự sàng lọc những điều có lợi cho mình để tồn tại trong

xã hội, thiết lập cho bản thân những kinh nghiệm sống bằng nhiều con đường khác nhau như sự chỉ dẫn, dạy bảo của người lớn, của những người có kinh nghiệm, bằng sự tập dượt nhũng điều đúng – sai Tuy nhiên, việc tích lũy những tri thức và kinh nghiệm như trên cũng chỉ là sự tự phát mà chưa có sự

tổ chức cụ thể, khoa học Học tập là công việc suốt đời, học bằng nhiều cách,

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhưng cách tốt nhất và mang lại hiệu quả cao nhất cho mỗi cá nhân chính là

sự học tập diễn ra trong quá trình dạy học được tổ chức theo một kế hoạch chặt chẽ, thực hiện một nội dung bao gồm nhũng tri thức phổ thông cơ bản, những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhờ một hệ thống các tác động sư phạm của đội ngũ giáo viên Bản chất của dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi trường và những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chất lượng học tập, kiểm soát quá trình và kết quả học tập của mình Có thể nói, dạy học

là phương tiện đem lại hiệu quả lớn lao trong việc phát triển hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ của người học Khi người học đã lũy được một khối lượng tri thức cần thiết, có được một trình độ nhận thức xác định, người học

sẽ có thể nhận thức được thế giới khách quan sâu sắc hơn và có thể thích ứng được với tự nhiên, với xã hội được định hướng theo những quan điểm chính thống của thời đại, đồng thời mang màu sắc cá nhân Dạy học góp phần vào việc nâng cao trình đọ học vấn cho người học và song song với điều đó là hình thành bộ mặt nhân cách cho mỗi cá nhân, giúp họ sống có ích cho bản thân và xã hội Dạy học không đồng nghĩa với dạy người nhưng lại là phương tiện cơ bản giúp cho mỗi cá nhân trở thành người có ích Nhiều tác giả cho rằng: “ Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người” Quan niệm này lí giải

đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạo những con người thích ứng với những nhu cầu hiện tại của xã hội Tuy nhiên quan niệm này làm cho nền giáo dục luôn đi sau sự phát triển của xã hội Bởi vì nó chỉ có nhiệm vụ tái hiện lại các giá trị tinh thần xã hội đã được vật chất hóa bằng cách nào đó

để trở lại thành giá trị tinh thần bên trong người học Thời đại của chúng ta,

và hơn nữa xã hội chúng ta đang hướng đến một xã hội tri thức, đòi hỏi mỗi

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cá nhân phải không ngừng học tập, không ngừng cố gắng tìm tòi, tích lũy tri thức để luôn đi cùng với sự phát triển của thời đại Với xu thế phát triển hiện nay, người học cần phải năng động, sáng tạo và không ngừng khám phá những tri thức mới – những tri thức sẽ góp phần giúp cho họ thích ứng và không bị tụt hậu với sự phát triển chung của thời đại Dạy học phải góp phần cung cấp cho người học những tri thức nền tảng, những tri thức là cơ sở để người học có thể phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội

Có thể hiểu dạy học như sau: Dạy học là một quá trình bao gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các tri thức, các kĩ năng, các giá trị văn hóa mà nhân lọa đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải được các bài toán thực tế đặt ra trong cuộc sống của mỗi người học

1.3 Đặc trưng của dạy học môn Giáo dục học ở trường Cao đẳng sư phạm

1.3.1 Đặc điểm của môn Giáo dục học

Môn giáo dục học vừa là bộ môn khoa học xa hội vừa là bộ môn khoa học nghiệp vụ Với tư cách là bộ môn khoa học xã hội, giáo dục học chuyên nghiên cứu về quá trình giáo dục (QTGD) con người, đặc biệt nghiên cứu về bản chất, cấu trúc, quy luật của quá trình đó GDH được coi là một ngành khoa học còn non trẻ nên hệ thống khái niệm với nhiều quan điểm dựa trên cơ

sở lý thuyết của nhiều khoa học khác nhau như Triết học, Sinh học, Tâm lý học … Với tư cách là bộ môn như Tâm lý học, phương pháp dạy học bộ môn tạo cơ sở bước đầu rất quan trọng về mặt nghiệp vụ cho việc đào tạo người giáo viên; GDH trang bị cho người học kiến thức về phương pháp dạy, phương pháp giáo dục trong nhà trường Tuy nhiên, môn học này cũng đòi hỏi ở người học cần có được một trình độ kỹ năng cơ bản, hình thành được

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

những năng lực sư phạm cần thiết, thể hiện được sự vững vàng về chuyên môn (trình độ chuyên môn về giảng dạy, giáo dục và các công tác khác có liên quan) và năng lực nghiệp vụ sư phạm (kiến thức và các kỹ năng sư phạm)

để giúp giáo viên làm tốt công tác dạy học và giáo dục học sinh trong nhà trường phổ thông

Đối với các nhà sư phạm, khoa học giáo dục đã khẳng định được vai trò

và vị thế của mình trong công tác giáo dục nghiệp vụ và đây là tính chất chuyên môn nghiệp vụ đặc trưng nổi bật của trường sư phạm

1.3.2 Dạy học môn Giáo dục học tại trường CĐSP

Trong công cuộc đào tạo giáo viên, việc hình thành trình độ văn hóa sư phạm cơ bản, toàn diện là một yêu cầu cực quan trọng Trình độ văn hóa sư phạm có thể hiểu là toàn bộ kiến thức, sự hiểu biết về hoạt động sư phạm, kinh nghiệm lý thuyết cũng như king nghiệm và khả năng thực hành hoạt động sư phạm Đặc biệt, trong điều kiện phát triển xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế tri thức, cộng với trình độ phát triển cao của hoạt động dạy học và giáo dục trên thế giới thì việc hình thành cho sinh viên sư phạm một nền tảng văn hóa sư phạm vừa sâu, vừa rộng lại là một yêu cầu ngày càng trở nên cấp bách Để đạt được một trình độ văn hóa sư phạm như vậy, trên cơ sở tinh thông kiến thức chuyên ngành, người sinh viên sư phạm phải có những tri thức cơ bản về nghề sư phạm, rèn luyện những kỹ năng – kỹ xảo của nghề sư phạm Cùng với các bộ môn khác thuộc khoa học Giáo dục như Tâm lý học,

Lí luận dạy học bộ môn, lịch sử giáo dục học Giáo dục học với tư cách là một môn khoa học nghiệp vụ, góp một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành và phát triển trình độ văn hóa sư phạm cho những người giáo viên tương lai Cụ thể là nó cung cấp cho họ nhũng hiểu biết cơ bản về hoạt động nghiệp vụ của người giáo viên, rèn luyện cho họ hệ thống những kỹ năng sư

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phạm cơ bản (dạy học, giáo dục) và giúp họ hình thành lý tưởng đạo đức và tình cảm nghề nghiệp

Môn Giáo dục học tuy có vị trí quan trọng như vậy, nhưng trên thực tế, việc giảng dạy và học tập bộ môn trong các trường sư phạm nói chung vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức Sinh viên vẫn cho rằng kiến thức môn GDH trừu tượng, khó hiểu, khô khan, giáo điều, xa rời thực tế là một hiện tượng tồn tại khá phổ biến ở các trường sư phạm trên cả nước Thậm chí thực

tế này còn được khái quát thành một nhận định trong cuộc hội thảo tại Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm 1995: Việc giảng dạy môn GDH còn nhiều độ lệch : nặng về kiến thức hàn lâm, nhẹ về kiến thức thực tế … GDH chưa thực sự là một môn dạy nghề; sách GDH chưa trở thành cẩm nang nghề, bí quyết nghề cho SV mà họ chỉ học ở trường sư phạm mới có Thực tế chất lượng giảng dạy bộ môn GDH vẫn chưa thực sự cao và vẫn còn nhiều điều bất cập

Trên thực tế đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học cũng như những văn bản quy định về việc đổi mới phương pháp dạy học môn học, nhằm gắn liền môn học với thực tiễn để giúp sinh viên có được những kỹ năng cần thiết cho công việc giảng dạy của mình sau này Hiện nay trong các trường sư phạm cũng đã quan tâm hơn tới việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDH, gắn tri thức với thực tiễn dạy học – giáo dục trong các trường phổ thông Việc xây dựng những chương trình hay kế hoạch giảng dạy theo hướng tích cực đã và đang được thực hiện thường xuyên, cụ thể hơn

Trong những năm qua việc giảng dạy môn GDH trong các trường sư phạm nói chung và các trường CĐSP nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao việc nâng cao chất lượng dạy học môn GDH theo đúng nghĩa của một môn học nghề

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.4 Xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn Giáo dục học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm

1.4.1 Vai trò của Bài tập thực hành môn GDH trong dạy học ở trường Cao đẳng sư phạm

* Bài tập thực hành GDH góp phần minh họa, khắc sâu, mở rộng và củng cố tri thức lý thuyết

Với mỗi một môn học, tri thức lý thuyết luôn là “kim chỉ nam”, chỉ đạo

và soi sáng cho hoạt động thực tiễn, tri thức lý thuyết là nền tảng cho người học có thể nghiên cứu và vận dụng các tình huống vào trong đời sống thực tế Môn GDH cũng không nằm ngoài quy luật đó, tri thức lý thuyết giáo dục có tác dụng soi sáng cho thực tiễn dạy học và giáo dục Tri thức lý thuyết GDH thường là những khái niệm, phạm trù, nguyên tắc, quy luật … cần được sing viên nắm vững và vận dụng giải quyết các tình huống giáo dục trong thực tiễn Việc giải BTTHGDH có tác dụng làm cho SV hiểu sâu hơn lý thuyết về giáo dục, biết phân tích và ứng dụng chúng vào hoạt động thực tiễn Trong quá trình giải BTTHGDH, SV cần suy nghĩ huy động vốn tri thức đã có để giải quyết, vận dụng tri thức và biến những tri thức tiếp thu được qua bài giảng của GV thành của chính mình, kết quả là giúp SV củng cố và khắc sâu tri thức đã học Từ thực tiễn việc sử dụng BTTH trong quá trình dạy học môn GDH, chúng tôi cho rằng tùy theo nội dung từng loại bài tập thực hành, có thể

sử dụng vào các mục đích khác nhau:

- Sử dụng BTTH để minh họa, khắc sâu tri thức lý thuyết

- Sử dụng BTTH để củng cố và vận dụng tri thức đã học

- Sử dụng BTTH để kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng – kỹ xảo

* Bài tập thực hành GDH là phương tiện phát triển tư duy sư phạm, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của GDH là xây dựng một hệ thống lý luận về quá trình giáo dục (QTGD), rèn luyện phương pháp suy nghĩ, lý giải,

xử lý các hiện tượng, sự kiện sư phạm, hình thành ở SV cơ sở ban đầu vững chắc cho một tư duy sư phạm biện chứng duy vật Tư duy sư phạm biện chứng duy vật vừa là hạt nhân của nhân cách sư phạm xét từ chiều sâu của nó, lại vừa là những năng lực, kỹ năng sư phạm xét từ biểu hiện của nó trong hoạt động thực tiễn của nhà giáo dục tương lai Tư duy sư phạm biện chứng duy vật thể hiện ở khả năng phân tích, đánh giá một cách duy vật biện chứng các hiện tượng, QTGD, tìm ra các giải pháp tối ưu cho việc thúc đẩy các quá trình

đó phát triển đúng đắn BTTHGDH trước hết là một bài tập tình huống giáo dục, góp phần quan trọng cho việc hình thành tư duy sư phạm sáng tạo

Theo quan điểm của các nhà Tâm lý học thì tư duy của con người chỉ bắt đầu hoạt động tích cực, độc lập khi đứng trước vấn đề cần giải quyết hay nói khác là hoàn cảnh có vấn đề Tư duy thường bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên hay sự thắc mắc, từ sự mâu thuẫn Tình huống

có vấn đề như thế có tác dụng lôi cuốn cá nhân vào quá trình tư duy và kích thích cá nhân tích cực hoạt động để giải quyết vấn đề BTTHGDH luôn chứa đựng các hiện tượng, sự kiện bất ngờ, các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình dạy học – giáo dục, đòi hỏi SV phải suy nghĩ, tìm kiếm, vận dụng tri thức Tâm lý học, GDH và những kinh nghiệm đã có để giải quyết Tính chất của bài tập là đặt SV vào tình thế cần thiết phải biểu lộ tính độc lập của tư duy để tìm ra con đường, cách thức mới để giải quyết vấn đề một cách hợp lý, đúng đắn nhất Khi đứng trước một BTTHGDH – là một tình huống có vấn đề, ở

SV xuất hiện nhu cầu giải quyết bài tập, SV sẽ chủ động huy động những kiến thức đã cũng như tích cực tìm tòi những tài liệu, tri thức mới để có thể giải quyết được các bài tập đã cho Như vậy trong quá trình giải BTTHGDH, bắt buộc sinh viên phải thực hiện các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sánh, phán đoán, suy luận) để tìm ra cách giải tối ưu nhất Nhờ vậy, tư duy được phát triển, các phẩm chất trí tuệ như tính phê phán, tính độc lập, tính sáng tạo được phát triển cao

BTTH là một phương tiện nhằm tích cưc hóa hoạt động vận dụng tri thức của SV trong quá trình dạy học GDH Dạy học bằng giải BTTH, GV không cung cấp cách thức có sẵn mà SV tự mình tìm tòi, chiếm lĩnh cách thức giải, từ đó SV nắm vững tri thức, kỹ năng cần thiết SV đứng ở vị trí người “

đi tìm chân lý”, do vậy tính chủ động, độc lập sáng tạo của họ được nâng lên

ở mức độ cao hơn rất nhiều

* Bài tập thực hành Giáo dục học là phương tiện hình thành và rèn luyện các kỹ năng sư phạm

Trong quá trình dạy học GDH, có thể tổ chức cho SV rèn luyện kỹ năng

sư phạm bằng việc giải các BTTH thích hợp Qua việc giải bài tập, GV đưa

SV vào những hoạt động được sắp xếp, lên kế hoạch hợp lý nhằm giúp họ đạt tới những kỹ năng nhất định Theo lý thuyết của Tâm lý học hoạt động, chỉ trong hoạt động, kỹ năng mới hình thành và phát triển Bài tập là một tập hợp các yêu cầu hoạt động để đạt tới kết quả nhất định, nếu lặp đi lặp lại một loạt các yêu cầu đó tới một mức độ cần thiết thì sẽ hình thành được những kỹ năng tương ứng Ở đây, BTTHGDH là phương tiện, kỹ năng sư phạm là mục đích cần đạt tới Trong quá trình học tập GDH, việc giải BTTH là học bằng hành động, phù hợp với quá trình hình thành kỹ năng Điều đó có nghĩa là, SV phải hiểu mục đích hình thành kỹ năng, hiểu và biết cách thực hiện các thao tác hành động, phải học tập các thao tác đó từ chỗ biết làm tới làm thành thạo và làm một cách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo Kết quả là các kỹ năng sư phạm được hình thành trong SV

* Bài tập thực hành Giáo dục học góp phần nâng cao ý thức, tình cảm, thái độ tích cực đối với nghề nghiệp tương lai của sinh viên

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Qua việc giải BTTH Giáo dục học, SV nắm được một cách vững chắc

và toàn diện hệ thống tri thức, các kỹ năng dạy học – giáo dục, từ đó có những hiểu biết sâu sắc hơn về nghề nghiệp trong tương lai Trong quá trình giải BTTH, SV hình dung một cách rõ ràng công tác dạy học – giáo dục ở nhà trường phổ thông phong phú, đa dạng song cũng hết sức khó khăn, phức tạp

và yêu cầu năng lực thực sự của người giáo viên như thế nào ? Qua đó SV có một sự định hướng đúng đắn cho bản thân trong việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Việc giải BTTHGDH có hiệu quả sẽ làm tăng thêm lòng tự tin, chuẩn

bị tốt tâm thế cho SV khi họ đi thực tập sư phạm và cả khi họ ra trường Mặt khác, thông qua giải BTTHGDH SV được rèn luyện một số phẩm chất như tính kiên trì, chịu khó, nhẫn nại, trung thực, tinh thần hợp tác, học hỏi giúp đỡ nhau… Rõ ràng, có thể nhận thấy ở một khía cạnh nhất định, BTTHGDH có tác dụng rèn luyện và nâng cao “bản lĩnh sư phạm” cho SV

1.4.2 Xây dựng Bài tập thực hành giáo dục học

Việc nâng cao chất lượng đào tạo ớ các trường sư phạm, đặc biệt chú trọng hình thành cho SV những kỹ năng nghề nghiệp là một yêu cầu cần thiết

Để thực hiện yêu cầu đó cần tạo ra một quy trình khép kín bằng cách dạy lý luận nghề nghiệp trong mối quan hệ tương hỗ với dạy thực hành nghề nghiệp Những cách tiếp cận khác nhau về BT Giáo dục học, đã được các nhà nghiên cứu giáo dục chú ý Hầu hết các tác giả khẳng định: việc đề ra cho SV tập giải quyết các tình huống sư phạm dưới dạng những bài tập trong quá trình dạy học GDH là một trong những hình thức giáo dục nghiệp vụ Bài tập không chỉ giúp củng cố, khắc sâu tri thức lý thuyết mà còn có tác dụng rèn luyện các kỹ năng cơ bản của dạy học – giáo dục Như vậy, hệ thống bài tập GDH vừa là nội dung, vừa là phương tiện để tổ chức hoạt động sư phạm của SV Từ đó các tác giả nhấn mạnh quá trình luyện tập giải bài tập chỉ đạt hiệu quả khi quá

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trình học tập của SV được tổ chức một cách khoa học trên cơ sở sắp xếp, thiết

kế một cách khoa học và được xây dựng thành quy trình luyện tập trong quá trình giảng dạy – giáo dục

Nguyễn Ngọc Quang trong quá trình nghiên cứu đã đưa ra các bài toán tình huống mô phỏng Theo tác giả, bài toán tình huống mô phỏng đuợc xuất phát từ những tình huống mô phỏng (bắt chước, sao chép, phỏng theo ), song

nó phải thông qua việc xử lý sư phạm của nhà sư phạm Nguyên tắc của xử lý

sư phạm là làm cho phương pháp khoa học vận dụng được vào quá trình dạy học, thích hợp với những điều kiện của môi trường dạy học Cụ thể là, chọn một tình huống thực nhưng có tính điển hình của nghề, mô phỏng hành vi nghề của tình huống đó, soạn lại dưới dạng bài toán dạy học theo những quy tắc lý luận dạy học, phù hợp với chương trình và trình độ của SV Quá trình biến những tình huống nghề thành bài toán tình huống để SV giải như sau:

Phân tích cấu trúc kỹ năng nghề nghiệp trong tương lai thành tình huống nghê nghiệp điển hình

Mô hình hóa theo tình huống theo lối mô phỏng những tình huống nghề nghiệp đó thành hệ thống những bài toán mô phỏng

Đưa hệ thống bài toán tình huống mô phỏng vào quá trình dạy học dưới hình thức tổ chức các hoạt động dạy học - giáo dục dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo của GV

Thông qua giải các bài tập tình huống mà có thể hình thành cho SV những kỹ năng nghề nghiệp tương lai

Quá trình xây dựng bài tập có những đặc trưng sau:

- Xây dựng bài tập là quá trình hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo của chủ thể xây dựng bài tập Theo con đường hình thành khái niệm, thì khái niệm chỉ được bộc lộ và hình thành ở chủ thể học tập khi họ lật lại toàn bộ

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

chuỗi thao tác mà con người đã gửi gắm trong đó Do đó chủ thể xây dựng bài tập dùng các thao tác tư duy, hành động trí tuệ để gói gém năng lực người (khái niệm, quy luật, phạm trù, tri thức khoa học ) vào trong từng bài tập sao cho khi chủ thể tiến hành giải các bài tập sẽ hiểu, nắm vững, biết vận dụng khái niệm, tri thức mà chủ thể xây dựng bài tập gửi gắm trong đó, đồng thời còn hình thành ở chủ thể các kỹ năng giải quyết bài tập cơ bản

- Xây dựng bài tập được tiến hành có mục đích, theo nguyên tắc, quy trình và những điều kiện xác định

- Quá trình xây dựng bài tập được thực hiện trong công tác dạy học và phục vụ cho quá trình dạy học đạt hiệu quả tối ưu, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của giáo dục và đào tạo

Trong lĩnh vực đào tạo giáo viên các cấp học, đã có nhiều công trình nghiên cứu xây dựng bài tập tình huống sư phạm cho SV, học viên ở tất cả các loại hình trường Qua đó có thể nhận thấy : các tác giả đã khẳng định vai trò của hệ thống bài tập GDH trong “rèn nghề sư phạm cho SV” Vì vậy, nhà trường sư phạm phải tạo điều kiện cho SV tiếp xúc với những tình huống sư phạm dưới dạng các bài tập mô phỏng thực tế nhưng phải hết sức đa dạng, sinh động, nảy sinh từ những hoàn cảnh tiêu biểu của quá trình dạy học – giáo dục Trên thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về BTTHGDH cũng như các giáo trình, sách giáo khoa có liên quan Tuy nhiên, việc xây dựng và sử dụng BTTHGDH trong quá trình giảng dạy tại các trường sư phạm vẫn còn nhiều điều vướng mắc, đòi hỏi cần phải có sự quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa không chỉ của GV giảng dạy trực tiếp mà còn đòi hỏi sự quan tâm của những nhà nghiên cứu GD để có thể xây dựng được một hệ thống BTTHGDH hoàn chỉnh giúp cho GV và SV thuận lợi hơn trong quá trình dạy học Qua phân tích trên,

chúng tôi quan niệm Xây dựng Bài tập thực hành Giáo dục học là quá trình

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

GV thu thập, sưu tầm, biên tập, biên soạn và thiết kế xây dựng các dạng Bài tập GDH đa dạng, phong phú gắn liền với thực tế dạy học – giáo dục và tuân theo những nguyên tắc, quy trình xác định nhằm hình thành được các bài tập thực hành GDH phù hợp với mục tiêu, nội dung của bộ môn GDH

1.4.3 Đặc điểm của sử dụng Bài tập thực hành môn Giáo dục học trong trường Cao đẳng sư phạm

- Khi lựa chọn BTTH GDH sẽ sử dụng trong từng bài học cụ thể, phải căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu, nội dung, kế hoạch học tập của từng học phần, chương - bài trong chương trình GDH để định hướng cho việc lựa chọn loại BTTH cần sử dụng

- Thời gian để cho mỗi giờ học là có hạn, để việc sử dụng BTTHGDH

có hiệu quả cần phải có kế hoạch cụ thể cho từng giờ học, ví dụ : Ở chương này – Bài này cần phải đưa loại bài tập gì? Đưa bài nào? Với mục đích gì? … Như vậy sẽ tập trung được trí tuệ, nỗ lực của SV để giải các BTTHGDH đạt đựơc hiệu quả như mong muốn

- Phương hướng chung khi sử dụng BTTHGDH là giảm tối đa việc cung cấp tri thức lý thuyết một chiều từ GV tới SV, mà phải tăng cường thực hành, dành thời gian tối đa cho việc giải các BTTH GV phải vận dụng nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chủ động, tích cực nhằm khuyến khích hứng thú, tính sáng tạo và tính tích cực của SV

- GV đóng vai trò là người định hướng cho SV tự lực giải các BTTHGDH SV cùng nhau trao đổi, đàm thoại, trình bày ý kiến cá nhân của mình trước tập thể GV lắng nghe, nhận xét những ưu – nhược điểm, giải đáp thắc mắc của SV trong quá trình giải BT

- GV cần lựa chọn BTTH mang tính chất điển hình, cụ thể trong hệ thống BT đã xây dựng cho phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học đã được xác định

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- GV cần phải giải mẫu các loại BTTH – Sv quan sát mẫu và làm theo

để so sánh, đối chiếu với những tri thức mà mình tiếp thu được Qua đó nắm vũng các thao tác hành động giải BT và tự mình thực hiện được các thao tác, hành động đúng mẫu

- Sau khi làm thử theo mẫu, SV phải tiếp tục giải BTTH một cách kịp thời, hệ thống, thường xuyên và theo cấp độ khó dần nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập

- Các dạng BTTHGDH được sử dụng phải đmả bảo tính hệ thống, tính liên tục và có độ khó tăng dần theo từng nội dung cụ thể BTTHGDH chỉ đạt hiệu quả cao khi SV tự giác luyện tập, vận dụng tri thưc lý thuyết một cách sáng tạo nhằm hoàn thành những kỹ năng nghề nghiệp cở bản để có thể vững vàng trong công tác dạy học tại trường phổ thông

- Sử dụng BTTHGDH không chỉ gói gọn trong các tiết thực hành trên lớp, mà BTTHGDH còn được sử dụng trong các hoạt động rèn luyện nghiệp

vụ sư phạm khác như hội thi nghiệp vụ sư phạm, câu lạc bộ, các cuộc thi tài năng sư phạm

- Sử dụng BTTH trong nhiều tình huống khác nhau như: Quá trình lên lớp; tạo tình huống để dạy bài mới; cho SV thảo luận; trong các giờ thực hành

bộ môn; SV làm BT ở nhà; rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; thực tập tại trường phổ thông

- BTTHGDH phải sát thực, phù hợp thực tế Cách giải BT phải được đửa ra thảo luận trước lớp để trao đổi

- BTTH phải dựa trên cơ sở tận dụng những tri thức đã học

Muốn sử dụng BTTHGDH có hiệu quả phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả giải quyết BTTH của SV nhằm giúp GV thu “ tín hiệu ngược”, qua đó điều chỉnh hoạt động dạy học, xác định mức độ thành thạo của SV cũng như kiểm tra được các kỹ năng nghề nghiệp đã hình thành ở SV

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Kết luận chương 1

Vấn đề xây dựng và sử dụng BTTH trong dạy học đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Các tác giả đã làm rõ được vai trò và tầm quan trọng của BT trong dạy học nói chung và dạy học môn GDH nói riêng, cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành Việc cung cấp cho SV BTTH là một điều rất cần thiết trong quá trình học tập, giúp người học có thể nắm vững tri thức nhanh hơn và có thể vận dụng được trong quá trình dạy học của mình sau này tại trường phổ thông

Để tổ chức dạy học môn GDH có hiệu quả đòi hỏi người GV phải không ngừng tìm tòi, nghiên cứu và tích cực hơn nữa trong việc áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại, áp dụng những cái mới vào trong quá trình dạy học của mình để tăng chất lượng giảng dạy Việc xây dựng và sử dụng BTTH môn GDH trong quá trình dạy học sẽ góp phần hình thành và phát triển các kỹ năng cho người học, đặc biệt là hình thành cho SV các kỹ năng nghề nghiệp cơ bản để giúp cho công tác dạy học, giáo dục và chủ nhiệm lớp của họ sau này ở trường phổ thông thì việc xây dựng và sử dụng BTTh trong dạy học GDH là hết sức cần thiết

Khi lựa chọn BTTH môn GDH sẽ sử dụng trong từng bài học cụ thể người GV phải căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu, nội dung và kế hoạch của từng học phần, bài học cụ thể GV phải là người định hướng cho SV tự lực giải BT, kích thích tính tích cực của SV để SV tự ý thức được việc học tập của bản thân

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 2

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH GIÁO DỤC HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM QUẢNG NINH

2.1 Khái quát về dạy học môn GDH ở trường CĐSP Quảng Ninh

2.1.1.Sơ lược về trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh

Trường CĐSP Quảng Ninh tiền thân là trường trung cấp sư phạm, cơ sở đầu tiên của nhà trường được thành lập năm 1959 Ban đầu mới thành lập trường chỉ là những mái nhà đơn sơ được dựng lên bởi thày và trò nhà trường, bởi tâm huyết của những người hết lòng vì sư nghiệp GD của đất nước Nhiemj vụ của nhà trường là đào tạo giáo viên dạy cấp II, với trình độ kiến thức 7 +2 và 7 +3 cho tỉnh nhà

Năm 1980, trường được nâng cấp lên Cao đẳng sư phạm, đây có thể coi là một bước ngoặt quan trọng của nhà trường trong việc mở rộng được phạm vi đào tạo cho tỉnh nhà những người thầy giáo, cô giáo có đủ đức và tài đáp ứng được nhu cầu giáo dục của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung

Trong khoảng từ năm 1990 đến năm 1993 trường sát nhập với các trường sư phạm và bồi dưỡng cán bộ của tỉnh Quảng Ninh vào trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh đa ngành, đa hệ như hiện nay

Trường CĐSP Quảng Ninh từ ngày mới thành lập được đặt ở nhiều nơi như : Uông Bí, Đông Triều, Móng Cái, Yên Hưng, Hòn Gai tuy nhiên tới năm 1973 thì trường chuyển về địa điểm cuối cùng là phường Nam Khê – thành phố Uông Bí – tỉnh Quảng Ninh Từ ngày mới thành lập cho tới hiện tại trường đã đào tạo cho tỉnh nhà không không biết bao nhiêu những thầy giáo,

cô giáo tâm huyết với nghề để khi ra trường những con người này lại tỏa đi mọi nơi trong tỉnh để làm công việc tuy giản đơn nhung vô cùng quan trọng là

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đào tạo cho tỉnh nhà, cho đất nước những thế hệ học sinh nối tiếp nhau, góp công sức, trí tuệ của mình để dựng xây quê hương Quảng Ninh giàu đẹp như ngày hôm nay Biết đâu đó, trong hàng triệu những lớp học sinh mà các thầy

cô đào tạo sau này lại tiếp bước trở thành những người đồng nghiệp có chung chí hướng là đào tạo ra nhũng thế hệ học sinh có đức – có tài để xây dựng quê hương phát triển

Trường CĐSP Quảng Ninh nằm trong hệ thống giáo dục đại học, là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ chuẩn và trên chuẩn cho tỉnh Quảng Ninh và khu vực Đông Bắc của đất nước, là trung tâm nghiên cứu khoa học giáo dục có uy tín, phục vụ

sự nghiệp giáo dục – đào tạo , đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước và phù hợp với xu thế phát triển quốc tế Đến năm 2015 trường CĐSP Quảng Ninh trở thành trường cao đẳng đa ngành và phấn đấu tới năm 2020 trở thành trường đại học trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh

Trường CĐSP Quảng Ninh có chức năng chính là : đào tạo giáo viên mầm non,tiểu học, trung học cơ sở có trình độ cao đẳng; đào tạo một số ngành ngoài sư phạm phục vụ sự phát triển kinh tế– xã hội của tỉnh; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh; liên kết đào tạo một số ngành sư phạm ngoài sư phạm; nghiên cứu khoa học công nghệ ;

Trường CĐSP Quảng Ninh được coi là đơn vị đầu ngành của nganh giáo dục tỉnh Quảng Ninh Sinh viên học tập trong trường 100% là sinh viên

sư phạm, có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống giản di trong sáng, có tinh thần cao trong học tập và trong cộng đồng, có mối quan hệ tốt với các thành viên khác Từ khi bước vào trường mỗi SV đã ý thưc về ngành nghề, về con người,

về phong cách ứng xử sư phạm, về rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ để sau này ra trường có thể đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, công tác giáo dục

và sự tiến bộ xã hội, đặc biệt là đáp ứng được mục tiêu về giáo dục mà xã hội

đã đặt ra cho những người lam công tác giáo dục nói chung và những người giáo viên nói riêng

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.1.2 Dạy học môn Giáo dục học ở trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh

Trong những năm gần đây chất lượng dạy học nói chung và chất lượng học tập môn GDH nói riêng đã có nhiều khởi sắc và đạt được những thành tựu nhất định Trong các trường sư phạm hiện nay việc sử dụng BTTH trong dạy học môn GDH đã có rất nhiều điểm tiến bộ, việc GV xây dựng và sử dụng các bài tập thực hành môn GDH đã thường xuyên hơn, GV đã có nhận thức sâu sắc hơn về việc xây dựng BTTH để cung cấp cho SV những kiến thức cụ thể và sát với thực tế hơn

Trường CĐSP Quảng Ninh là nơi đào tạo ra rất nhiều những người giáo viên tương lai cho tỉnh nhà Trong những năm gần đây, nhà trường đã

có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và dạy học môn GDH nói riêng Bộ môn giáo dục học cùng với các bộ môn khác đã góp phần quan trọng vào việc đào tạo ra đội ngũ giáo viên phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cho cả nước nói chung Tuy nhiên, việc học môn giáo dục học của sinh viên hiện nay nói chung là vẫn còn thấp, sinh viên chủ yếu nắm được tri thức lý thuyết môn học còn khả năng vận dụng vào thực tiễn còn rất yếu Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên như : dạy học bộ môn vẫn theo kiểu truyền thống, chương trình học vẫn còn nặng về lý thuyết chưa có nhiều thời gian dành cho thực hành Trong những năm vừa qua trường Cao Đẳng sư phạm Quảng Ninh cũng đã kết hợp giữa dạy lý thuyết và bài tập thực hành vào chương trình dạy học môn giáo dục học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Tuy nhiên hiệu quả đạt được vẫn chưa cao, có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan dẫn tới tình trạng trên

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.2 Thực trạng xây dựng và sử dụng Bài tập thực hành Giáo dục học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh

2.2.1 Thực trạng nhận thức của GV và SV về tầm quan trọng của BTTH môn GDH

Để tìm hiểu thực trạng về nhận thức của SV về tầm quan trọng của BTTH trong việc học tập môn GDH, chúng tôi tiến hành khảo sát vấn đề này kết quả thu được ở biểu đồ số 1.1:

Rất cần thiết Cần thiết Bình thường

Biểu đồ 1.1: Nhận thức của SV về tầm quan trọng của BTTH môn GDH

Nhận xét:

Qua đánh giá ở biểu đồ 1.1 chúng ta thấy rằng SV nhận thức về tầm quan trọng của BTTHGDH là rất khả quan BTTH giúp SV có thể củng cố tri thức lý thuyết mà các em đã được học, đồng thời còn giúp cho SV có thể làm quen với các tình huống sư phạm sẽ xảy ra trong công tác của các em sau này Cũng có thể nói BTTHGDH mang lại một cách học mới, một phương pháp học tập tích cực Nhìn chung, khi khảo sát thì các em đều nhận thức được BTTH môn GDH là rất cần thiết với SV sư phạm, chiếm tỉ lệ rất cao 89,3%

Số SV này cho rằng, muốn trở thành một người giáo viên giỏi, vững vàng và

tự tin khi đứng trước học sinh thì bên cạnh hệ thống tri thức lý thuyết, tri thức chuyên ngành còn rất cần phải trang bị thêm cho mình hệ thống các kỹ năng nghề nghiệp Nếu người giáo viên mà không trang bị cho mình các kỹ năng nghề nghiệp thì không thể làm tốt công tác dạy học – giáo dục được

Có 8,3% số SV cho rằng BTTHGDH là cần thiết trong quá trình học tập của mình Tuy nhiên, vẫn còn 2,4% số SV khảo sát cho rằng BTTH là

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

bình thường trong quá trình học tập môn GDH tại trường CĐSP Các em cho rằng, BTTHGDH nếu có trong quá trình học cũng được mà không có cũng không sao, không có gì là quan trọng cả vì nó không có ảnh hưởng gì tới quá trình học tập của các em

Không có SV nào cho rằng BTTHGDH là không cần thiết trong quá trình học tập

Qua kết quả khảo sát ban đầu cho thấy, SV có nhận thức rất cao về tầm quan trọng của BTTHGDH trong quá trình học tập của mình, các em đã thấy được BTTHGDH rất cần thiết cho các em trong quá trình học tập nói chung

và cho công tác giáo dục học sinh sau này của các em nói riêng Đây có thể coi là một dấu hiệu đáng mừng trong nhận thức của SV, là cơ sở ban đàu để chúng tôi có thể tiến hành công việc nghiên cứu của mình một cách thuận lợi

* Để tìm hiểu một cách sâu hơn thực trạng nhận thức của SV về việc học BTTH môn GDH trong quá trình học tập của mình tại trường CĐSP chúng tôi đặt câu hỏi:

“ Theo bạn, khi học BTTH môn GDH sẽ có tác dụng gì đối với bản thân và nghề nghiệp sau này của mình?”

Chúng tôi thu được kết quả ở bảng số 1:

Bảng 1: Nhận thức của SV về tác dụng của việc sử dụng BTTH

trong quá trình học môn GDH

Hình thành và rèn luyện các kỹ năng dạy học và giáo dục 85,7

Ngày đăng: 25/03/2021, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w