1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường trung học phổ thông huyện đông triều tỉnh quảng ninh

129 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những bất cập trên, đòi hỏi phải thay đổi hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường và hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ VIỆT YÊN

TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ VIỆT YÊN

TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ THỊ KIM LINH

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Việt Yên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các Thầy giáo Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường

Đặc biệt, với tấm lòng thành kính, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Hà Thị Kim Linh người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo Sở GD&ĐT, Cán bộ quản lý

và giáo viên các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh cùng bạn

bè, người thân đã tạo điều kiện cả về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp

Em xin trân trọng cảm ơn!

Quảng Ninh, tháng 8 năm 2015

Tác giả

Trần Thị Việt Yên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG THPT 6

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Những nghiên cứu về sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn 6

1.1.2 Những nghiên cứu về quản lý sinh hoạt chuyên môn và SHCM theo hướng nghiên cứu bài học 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1 Quản lý 9

1.2.2 Quản lý giáo dục 11

1.2.3 Tổ chuyên môn 12

1.2.4 Tổ chức sinh hoạt chuyên môn 14

1.2.5 Nghiên cứu bài học 15

Trang 6

1.2.6 Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học 15

1.2.7 Quản lý sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học 16

1.3 Những vấn đề cơ bản về tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT 19

1.3.1 Mục đích của tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT 19

1.3.2 Bản chất tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT 19

1.3.4 Các bước tổ chức SHCM theo hướng NCBH 25

1.3.5 Điều kiện đảm bảo cho SHCM theo hướng NCBH 28

1.4 Quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT 28

1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH 28

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH 29

1.4.3 Phương pháp quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH 32

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH 34

1.5.1 Nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên 35

1.5.2 Năng lực quản lý của nhà quản lý 35

1.5.3 Các văn bản quy định và hướng dẫn về công tác quản lí đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học 35

1.5.4 Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường 36

Kết luận chương 1 37

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH 38

2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 38

2.1.1 Khái quát về các trường THPT ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 38

2.1.2 Tổ chức khảo sát 43

2.2 Thực trạng nhận thức về quản lý tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 44

2.2.1 Thực trạng nhận thức về SHCM theo hướng NCBH 44

2.2.2 Nhận thức về quản lý SHCM theo hướng NCBH của GV các trường THPT huyện Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh 47

Trang 7

2.3 Thực trạng QL SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện

Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh 49

2.3.1 Thực trạng tổ chức SHCM theo hướng NCBH 49

2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH các trường THPT huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh 53

2.3 Đánh giá chung việc quản lý SHCM theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 64

2.3.1 Ưu điểm 64

2.3.2 Hạn chế 65

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 66

Kết luận chương 2 67

Chương 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH 68

3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 68

3.1.1 Đảm bảo tính khả thi 68

3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ 68

3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 68

3.1.4 Đảm bảo tính hiệu quả 69

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính bền vững 69

3.2 Biện pháp tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 69

3.2.1 Nâng cao năng lực quản lý SHCM theo hướng NCBH cho các tổ trưởng chuyên môn trường THPT 69

3.2.2 Xây dựng quy chế SHCM theo hướng NCBH và tổ chức thực hiện SHCM theo hướng NCBH 71

3.2.3 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ tổ chức SHCM theo hướng NCBH 76

Trang 8

3.2.4 Hoàn thiện các tiêu chí đánh giá quản lý tổ chức SHCM theo hướng

NCBH đối với các tổ chuyên môn ở các trường THPT 79

3.2.5 Tăng cường giám sát việc thực hiện quy chế chuyên môn của các tổ chuyên môn, giáo viên 82

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 85

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 87

3.4.1 Các bước tiến hành khảo sát thực trạng 87

3.4.2 Kết quả khảo sát và kết luận 88

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

1 Kết luận 92

2 Kiến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Quy mô mạng lưới trường THPT huyện Đông Triều 38

Bảng 2.2: Qui mô số lớp, số học sinh năm học 2014-2015 (3 trường) 39

Bảng 2.3: Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2013-2014(3 trường) 39

Bảng 2.4: Kết quả thi đỗ Đại học, cao đẳng năm 2013-2014 (3 trường) 40

Bảng 2.5: Kết quả thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh của 3 trường năm học 2013-2014 (3 trường) 40

Bảng 2.6: Đội ngũ CBQL (3 trường) 41

Bảng 2.7: Đội ngũ giáo viên (3 trường) 42

Bảng 2.8 Nhận thức của CBGV về tầm quan trọng của SHCM 44

Bảng 2.9: Nhận thức của CBGV về sự cần thiết của đổi mới SHCM theo hướng NCBH 44

Bảng 2.10 Nhận thức của CBGV về mục đích tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT 46

Bảng 2.11: Nhận thức về vai trò của quản lý SHCM theo hướng NCBH 47

Bảng 2.12: Nhận thức về mức độ phù hợp của nội dung, phương pháp quản lý SHCM theo hướng NCBH 48

Bảng 2.13 Thực trạng tham gia SHCM theo hướng NCBH 49

Bảng 2.14 Tần suất tham gia SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều 50

Bảng 2.15: Mức độ thực hiện các bước SHCM theo hướng NCBH 52

Bảng 2.16: Xây dựng kế hoạch quản lý SHCM theo hướng NCBH 53

Bảng 2.17: Thực trạng tổ chức thực hiện SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều 55

Bảng 2.18: Thực trạng nội dung chỉ đạo quản lý SHCM theo hướng NCBH của CBQL các trường THPT huyện Đông Triều 58

Bảng 2.19: Thực trạng mức độ thực hiện công tác quản lý SHCM theo hướng NCBH của CBQL các trường THPT huyện Đông Triều (theo đánh giá của giáo viên) 60

Bảng 2.20: Thực trạng kiểm tra, đánh giá SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh 62

Bảng 3.1: Kết quả khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của 5 biện pháp 88

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ mô hình quản lý 10 Hình 2.1 Biểu đồ nhận thức về sự cần thiết đổi mới SHCM theo

hướng NCBH 45 Hình 2.2 Biểu đồ nhận thức về vai trò của quản lý SHCM theo hướng NCBH 47 Hình 2.3 Biểu đồ nhận thức về mức độ phù hợp của nội dung, phương

pháp quản lý SHCM theo hướng NCBH 48 Hình 3.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 86 Hình 3.2 Biểu đồ so sánh tính cấp thiết và tính khả thi của 5 biện pháp 88

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các trường phổ thông hoạt động chuyên môn là hoạt động cơ bản, nòng cốt quyết định chất lượng dạy và học của mỗi nhà trường, việc quản lý hoạt động chuyên môn là nhiệm vụ rất quan trọng, được đặt lên hàng đầu và luôn là nỗi trăn trở của các nhà quản lý Trong các hoạt động chuyên môn thì sinh hoạt chuyên môn là hoạt động thường xuyên của các trường phổ đây là một trong những hình thức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên, giúp giáo viên chủ động lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh Sinh hoạt chuyên môn không chỉ giúp giáo viên tự hoàn thiện bản thân mà sinh hoạt chuyên môn còn là môi trường để tình đồng nghiệp nảy nở và phát triển, giúp

họ hỗ trợ nhau trong công tác, hình thành môi trường học tập tốt đẹp cũng như truyền thống, bản sắc văn hóa riêng của mỗi nhà trường

SHCM ở các nhà trường hiện nay thường diễn ra theo hai hình thức: sinh hoạt chuyên môn theo tổ chức các chuyên đề và dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học. Cả hai hình thức này được nhiều trường đã thực hiện khá tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh Tuy vậy, sinh hoạt chuyên môn hiện nay còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập cần phải thay đổi, đó là: chất lượng các buổi SHCM chưa cao; nội dung sinh hoạt chuyên đề chưa được chú trọng; các báo cáo chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm được nghiệm thu xong để đấy Đối với công tác dự giờ và đặc biệt là việc trao đổi rút kinh nghiệm tiết học giáo viên cũng không mấy hứng thú nên buổi thảo luận thường trầm lắng, ít ý kiến phát biểu

Từ những bất cập trên, đòi hỏi phải thay đổi hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường và hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đã được đưa vào thực hiện trong những năm gần đây Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên hướng cứu bài học cũng là hoạt động sinh hoạt chuyên môn nhưng ở đó giáo

Trang 13

viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học như thế nào? học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? cần điều chỉnh điều gì và điều chỉnh như thế nào?

Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là một trong những xu thế mới trong việc thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở các nhà trường hiện nay, đây là nội dung hết sức mới mẻ và khó đối với giáo viên, hầu hết giáo viên còn rất mơ hồ về khái niệm cũng như cách thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học Vì vậy, trong công tác quản lý mà trước hết là tổ chức sinh hoạt chuyên môn cần phải thay đổi như thế nào để góp phần nâng cao năng lực sư phạm, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, đặc biệt là tiếp cận hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học để đưa hình thức này trở thành cách tổ chức sinh hoạt chuyên môn phổ biến, có hiệu quả trong các nhà trường phổ thông

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Tổ chức sinh hoạt sinh

chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường trung học phổ thông huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh luận văn đề xuất các biện pháp tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học góp phần nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn, nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn ở trường THPT

Trang 14

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Chúng tôi giả định sinh hoạt Tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Đông Triều đã có những đổi mới nhất định nhưng vẫn còn mang nhiều tính hành chính Nếu tiến hành các biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học một cách khoa học sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Đông Triều, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng

nghiên cứu bài học ở trường THPT

5.2 Đánh giá thực trạng tổ chức sinh hoạt chuyên môn, thực trạng công tác

quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

5.3 Đề xuất biện pháp tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu

bài học nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn, nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên các trường THPT huyện

Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Đề tài tiếp cận nghiên cứu việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ

môn theo hướng nghiên cứu bài học của CBQL ở các trường THPT

6.2 Đề tài khảo sát trên CBQL, giáo viên tại 3 trường THPT ở huyện Đông

Triều, tỉnh Quảng Ninh là trường THPT Nguyễn Bình, THPT Đông Triều và THPT Trần Nhân Tông

7 Phương pháp nghiên cứu

Trang 15

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

7.1.1 Sưu tầm sách, tư liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.1.2 Phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài,

nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài; lựa chọn những khái niệm, luận điểm cơ bản làm cơ sở lý luận cho đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu; tổng hợp các tài liệu để giúp cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra: Phương pháp này được sử dụng để thu thập ý kiến

của các đối tượng thông qua việc trưng cầu ý kiến Nội dung ý kiến trưng cầu

là các vấn đề liên quan đến thực trạng của vấn đề nghiên cứu

7.2.2 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm

của tổ chuyên môn về tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

7.2.3 Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này dùng khi xin ý kiến của các

chuyên gia về các vấn đề “đánh giá thực trạng, các biện pháp được đề xuất”

7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ khác

7.3.1 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học Sử dụng các công

thức toán thống kê để xử lý kết quả, khảo sát tỉ lệ trung bình, tỉ lệ %

7.3.2 Phương pháp khảo nghiệm nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý và

giáo viên về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả việc

tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phục lục, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:

Trang 16

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường THPT

Chương 2: Thực trạng tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Biện pháp tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG THPT

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn

Giáo dục nói chung và dạy học nói riêng là một hoạt động đặc biệt của

xã hội Từ xưa tới nay vai trò của GD đối với xã hội được thừa nhận là không thể thiếu Sự phát triển của xã hội luôn kéo theo, song hành với phát triển GD Thực tế cho thấy trên thế giới, không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu như nền GD nước đó không phát triển

Nhà trường là nơi thực hiện các hoạt động GD chính Hoạt động quản lý (QLGD) trong đó có quản lý sinh hoạt chuyên môn là một trong những hoạt động GD chủ đạo trong nhà trường Sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học cho đến nay, vẫn phổ biến ở nhiều trường tại Nhật Bản và được xem như hình thức chủ yếu để phát triển năng lực chuyên môn của GV tại trường Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học”có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 -1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học

ở từng bài học cụ thể

Hình thức này cũng đã được nhiều nước trên thế giới áp dung như Mỹ, Đức, Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia… Và đây cũng là một chủ đề giáo dục được quan tâm trên thế giới

Ở Việt Nam, hiện nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về QLGD, mà trong đó được quan tâm đến nhiều là QL sinh hoạt chuyên môn và QL hoạt động dạy học Nhiều quan điểm, triết lý GD đã được nêu lên, đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn.…

Theo tác giả Hà Sĩ Hồ đã viết: “Hiệu trưởng là người luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự QL dạy và học các môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy nhằm làm cho tác động GD hoàn chỉnh và trọn vẹn”.[23]

Trang 18

Sau một thời gian học tập nghiên cứu, tôi nhận thấy trong hơn một thập

kỷ qua, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về QL hoạt động chuyên môn của tổ bộ môn trong nhà trường của HT để nâng cao chất lượng GD trong NT như:

Tác giả Nguyễn Thị Hoa (2011), đã đề cập đến những biện pháp QL tổ chuyên môn (TCM) của HT đối với công tác đổi mới chương trình, sách giáo khoa trong đề tài “ Một số biện pháp hoạt động CM trong quá trình đổi mới chương trình ở các trường THPT thành phố Thái Bình ”; tác giả Nguyễn Thế Giang (2012), cũng đã quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động của TCM với đề tài “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của TCM của các trường THPT thành phố Hà Tây ”; Các tác giả

đã dày công nghiên cứu lí luận, khảo sát thực trạng SHCM của các tổ chuyên môn theo quan điểm truyền thống Tuy nhiên, đa số các đề tài chỉ tập trung vào mục đích nâng cao chất lượng dạy và học Các biện pháp đề xuất đã cho thấy người HT vẫn còn trực tiếp thực hiện nhiều công việc chuyên môn cụ thể, chưa thấy nổi bật lên chức năng QL hoạt động sinh hoạt chuyên môn của

Giáo dục năm 2005: "Tuy không trực tiếp tham gia vào HĐ dạy và học, nhưng cán bộ QLGD bằng những HĐQL của mình tác động vào quá trình GD nhằm hướng cho HĐ dạy và học đạt được những mục tiêu yêu cầu của GD và bảo đảm chất lượng GD" [33]

Trang 19

Nghiên cứu bài học cũng đã được vận dụng ở Việt Nam từ đầu học 2009

- 2010 nhưng còn ít và rải rác Bộ GD&ĐT và JICA (Tổ chức phát triển hợp tác quốc tế của Nhật Bản) cũng đã triển khai dự án về: Tăng cường bồi dưỡng GV theo cụm trường và quản lý nhà trường ở Việt Nam Đây là một trong những nghiên cứu vận dụng NCBH

Nhiều trường cũng đã áp dụng hình thức NCBH vào sinh hoạt TCM

Từ năm 2007 đến năm 2009 Đại học Cần Thơ và Đại học Bang Michi-gan, Hoa Kỳ đã tiến hành một nghiên cứu nhằm vận dụng mô hình NCBH vào thực tiễn lớp cấp Tiểu học và THCS ở vùng khó khăn và đã thu được kết quả đáng quan tâm

QL sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường thì đã có rất nhiều công trình, nhiều đề tài nghiên cứu của các tác giả như:

Tác giả Vũ Hạnh với bài báo khoa học “ Sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường phổ thông: Thực trạng và giải pháp.” [18]

Tác giả Lê Thị Thu Hằng với bài viết “Sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học công cụ đổi mới nhà trường” [21]

Tác giả Nguyễn Mậu Đức, Hoàng Thị Chiên với bài viết “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn của giáo viên thông qua mô hình “Nghiên cứu bài học” ở Việt Nam [16]

Tác giả Nguyễn Văn Ninh với bài viết "Sinh hoạt chuyên môn theo hướng “nghiên cứu bài học” - phương thức để phát triển năng lực dạy học cho giáo viên" [29]

Tác giả Vũ Thị Sơn (2011), với bài viết ''Đổi mới sinh hoạt chuyên môn

theo hướng xây dựng văn hóa học tập ở nhà trường thông qua "NCBH" [34].

Và một số bài viết khác Các bài viết này đã đề cập đến lý thuyết của NCBH (khái niệm NCBH, các bước triển khai NCBH, những lợi ích của NCBH và một số khó khăn khi tiến hành nghiên cứu bài học) Tuy nhiên, chưa

có bài viết nào đánh giá về thực trạng quản lý SHCM theo NCBH trong các nhà trường hiện nay

Trang 20

Về đề tài nghiên cứu về công tác quản lý sinh hoạt TCM trong nhà trường phổ thông, có thể kể đến một số đề tài như:

- Phạm Khánh Tường (2003), Một số biện pháp quản lý chuyên môn của HT đối với GV mới vào nghề của một số trường THPT ở Hải Phòng, Trong

đề tài của mình tác giả đã phân tích lý luận về quản lý chuyên môn của HT các nhà trường, từ đó phân tích thực trạng và đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT thành phố Hải Phòng

- Bùi Đức Tấn (2011), Quản lý hoạt động TCM của HT các trường THPT thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục; tác giả Trần Quốc Tuấn (2012), với đề tài: Biện pháp quản lý TCM của HT trường THPT huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục Trong

đề tài của mình các tác giả đã phân tích chức năng vai trò của HT các nhà trường trong việc quản lý hoạt động của các tổ chuyên môn, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý có ý nghĩa thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng SHCM của các tổ chuyên môn trong các nhà trường

Tóm lại, mỗi đề tài lại đi sâu nghiên cứu một phạm vi, nhưng hầu hết các

đề tài nghiên cứu nói trên chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý TCM của HT và TTCM theo hình thức truyền thống mà chưa có đề tài nào nghiên cứu SHCM theo hướng NCBH

Trong đề tài này, tác giả hệ thống hóa lý luận và nghiên cứu thực trạng

để có thể đề xuất các biện pháp tổ chức sinh hoạt CM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [38]

Trang 21

Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc khẳng định “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [7, tr.9]

Thuật ngữ “Quản lý” lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững Do vậy người quản

lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động [4]

Bản chất của hoạt động quản lý là quá trình tác động có mục đích của nhà quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức/ hệ thống Thông qua những phương pháp, biện pháp của nhà quản lý làm cho khả năng của mỗi cá nhân trong tổ chức được khai thác cũng như mọi hoạt động trong tổ chức được vận hành một cách tối ưu nhất nhằm đạt mục tiêu của tổ chức Trên cơ sở nghiên cứu và tham khảo các quan điểm của các học giả trên,

tôi hiểu bản chất của QL là: Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất Và có thể mô tả bản chất QL thông qua sơ đồ dưới đây:

Hình 1.1: Sơ đồ mô hình quản lý

Công cụ

Chủ thể quản lý Đối tượng quản lý

Phương pháp

Trang 22

Trong sơ đồ trên:

Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức

Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành

tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau

Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ…

Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau Nó có thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục (QLGD) là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung Cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả luận văn chỉ đề cập tới khái niệm quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường

Bàn về khái niệm quản lý giáo dục cũng đã có nhiều khái niệm về QLGD, các học giả nghiên cứu và xây dựng khái niệm QLGD trên các phương diện tiếp cận khác nhau Có thể kể đến một số khái niệm về QLGD sau:

Tác giả M.I Kônđacốp cho rằng "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp, kế hoạch hoá nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng" [26].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang "Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới" [31]

Trang 23

Tác giả Đặng Quốc Bảo khẳng định: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội" [4]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc "Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất" [17]

Nhìn chung, những khái niệm về quản lý giáo dục của các tác giả đều

đề cập đến một số vấn đề chung: Đó là quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định

Trên cơ sở các khái niệm về QLGD ở trên, chúng tôi hiểu: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý, là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh

và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp tác động và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục nhà trường

bộ làm công tác tư vấn cho học sinh của trường trung học được tổ chức thành

tổ chuyên môn theo môn học, nhóm môn học hoặc nhóm các hoạt động ở từng cấp học THCS, THPT Mỗi tổ chuyên môn có tổ trưởng, từ 1 đến 2 tổ phó chịu

Trang 24

sự quản lý chỉ đạo của Hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của tổ chuyên môn và giao nhiệm vụ vào đầu năm học" [5]

* Nhiệm vụ của tổ chuyên môn trong nhà trường

Điều 16, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học còn nêu rõ những nhiệm vụ của tổ CM như sau:

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường;

- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và các quy định khác hiện hành;

- Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó;

- Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên

- Tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần và có thể họp đột xuất theo yêu cầu công việc hay khi Hiệu trưởng yêu cầu [5]

* Cơ cấu tổ chức tổ chuyên môn trong nhà trường

Tổ chuyên môn là một bộ phận của nhà trường gồm một nhóm giáo viên (3 giáo viên trở lên) cùng giảng dạy môn học, hoặc nhóm môn học hoặc một nhóm viên chức làm công tác thư viện trường học, thiết bị giáo dục, tư vấn học đường,… được tổ chức lại cùng nhau để cùng thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 16 (ĐL nhà trường) Trong phạm vi đề tài tập trung nghiên cứu về tổ chuyên môn gồm những giáo viên cùng giảng dạy một môn học hoặc nhóm môn học ở trường THPT

Mỗi tổ chuyên môn có 1 tổ trưởng và 1 -2 tổ phó phụ thuộc vào tình hình thực tiễn của đơn vị Ở trường trung học có 2 loại tổ chuyên môn phổ biến: tổ chuyên môn đơn môn và tổ chuyên môn liên môn Tổ trưởng chuyên môn là người đứng đầu tổ chuyên môn do Hiệu trưởng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về phân phối nguồn lực của tổ, hướng dẫn điều hành các nguồn lực

Trang 25

của tổ, hướng dẫn, điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ chuyên môn theo quy định, góp phần thực hiện các mục tiêu của nhà trường đề ra

1.2.4 Tổ chức sinh hoạt chuyên môn

1.2.4.1 Sinh hoạt chuyên môn

Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động của tổ chuyên môn nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho GV, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ Nội dung SHCM là những vấn đề về thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục HS, thực hiện các văn bản chỉ đạo, thực thi nhiệm vụ năm học và các yêu cầu mang tính thực tiễn được mang ra thảo luận, phân tích dưới nhiều góc độ và rút ra những kết luận

sư phạm, những biện pháp khả thi có thể vận dụng vào thực tiễn, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV Sinh hoạt chuyên môn nhằm góp phần bồi dưỡng GV theo Chuẩn nghề nghiệp GV

Như vậy có thể hiểu: “ SHCM là hình thức hoạt động chung của tập thể

sư phạm trong một trường, một tổ bộ môn (hoặc khối) để GV trao đổi, học tập, bồi dưỡng và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của GV cũng như chất lượng dạy học của nhà trường”

1.2.4.2 Tổ chức SHCM

Tổ chức SHCM trong các nhà trường rất quan trọng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh trong nhà trường Có thể nói, nếu chính vai trò tổ chức hoạt động của tổ chuyên môn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả dạy học của mỗi GV cũng như hiệu quả dạy học của nhà trường

Hiện nay cùng với việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hiện nay, vai trò của các tổ chuyên môn nằm trong khâu cụ thể hóa những thay đổi này từ bồi dưỡng, tập huấn, lập kế hoạch và tổ chức giám sát chuyên môn việc thực hiện kế hoạch đối với cá nhân cũng như sự đồng thuận, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác giữa các giáo viên trong tổ bộ môn là hết sức cần thiết

Như vậy có thể hiểu: Tổ chức SHCM là quá trình nhà QL tổ chức những hoạt động chung ở tổ bộ môn nhằm mục tiêu thực hiện nhiệm vụ và kế hoạch dạy học và giáo dục của đơn vị, nhiệm vụ chuyên môn của tổ bộ môn cũng như

Trang 26

nâng cao năng lực chuyên môn (năng lực dạy học, năng lực tổ chức hoạt động ngoại khóa, năng lực đánh giá kết quả học tập của học sinh, năng lực nghiên cứu khoa học và viết sáng kiến kinh nghiệm,…) cho mỗi giáo viên

1.2.5 Nghiên cứu bài học

Thuật ngữ nghiên cứu bài học” (tiếng Anh là Lesson Study hoặc Lesson Research), theo tiếng Nhật (jugyo kenkyu) có nghĩa là nghiên cứu và cải tiến

bài học cho đến khi nó hoàn hảo (theo Catherine Lewis, 2006), thuật ngữ này

có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868- 1912) NCBH như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của GV thông qua nghiên cứu, cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó nâng cao chất lượng học của HS [30] Cho đến nay NCBH được xem như một mô hình và cách tiếp cần nghề nghiệp của GV và vẫn được sử dụng

rộng rãi tại các trường học của Nhật Bản

Hình thức này đã được áp dụng trên nhiều nước, bước đầu đã được áp dụng ở Việt Nam và đã chứng minh được tính khả thi của nó trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn của GV so với các phương pháp truyền thống khác [16, tr.38-39]

Như vậy có thể hiểu: Nghiên cứu bài học là quá trình GV cùng nhau nghiên cứu, học hỏi từ thực tế Hoạt động này có kế hoạch, thực hiện thường xuyên, thông qua những bài học, môn học tại trường, lớp mình nhằm nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ gắn với đảm bảo cơ hội học tập và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học của từng HS

1.2.6 Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

Sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH đặt trọng tâm vào việc phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học như thế nào? học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? Cần điều chỉnh nội dung, phương pháp và kỹ thuật dạy học như thế nào?[30]

Trang 27

Sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại giáo viên mà nhằm khuyến khích giáo viên tìm ra nguyên nhân tại sao học sinh học chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho mọi học sinh được tham gia vào quá trình học tập; giúp giáo viên có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp, trường mình [30]

Mục đích của hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH là đảm bảo cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia vào quá trình học tập, GV quan tâm đến khả năng học tập của học sinh đặc biệt là học sinh tiếp thu bài chậm Tạo cơ hội cho tất cả GV nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và khả năng sáng tạo trong dạy học, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường, góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường

Như vậy có thể hiểu: Tổ chức SHCM theo hướng NCBH là hoạt động chuyên môn nhưng ở đó GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học, không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và

có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS

1.2.7 Quản lý sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

1.2.7.1 Quản lý sinh hoạt chuyên môn

Trong trường phổ thông, "Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm QL các

HĐ của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm công nhận"

[5] Như vậy, người HT là người đại diện nhà trường thực hiện chức trách về hành chính trước cơ quan QL trực tiếp - với trường THPT đó là Uỷ ban nhân dân tỉnh Để thực hiện chức trách được giao, người HT phải là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có trình độ CM, nghiệp vụ sư phạm vững vàng; có năng lực QL nhà tường tốt; đảm bảo về sức khoẻ và đặc biệt là người được tập thể sư phạm nhà trường tín nhiệm

Trang 28

Trong xu thế phát triển xã hội hiện tại, đòi hỏi GD phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu của xã hội thì người HT còn cần phải năng động, nhanh nhạy để nắm bắt những cơ hội (bên trong cũng như bên ngoài nhà trường) để có thể tạo điều kiện cho nhà trường xây dựng môi trường sư phạm ngày một tốt hơn góp phần đưa chất lượng GD của nhà trường tiến tới mục tiêu GD toàn diện nhanh hơn

Quản lý hoạt động chuyên môn, trong đó có quản lý sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường phổ thông là nhiệm vụ cốt yếu của Hiệu trưởng các nhà trường trong quản lý giáo dục Để thực hiện tốt công tác này, Hiệu trưởng các nhà trường cần phải nắm vững kế hoạch, chương trình

và phương pháp giảng dạy các bộ môn ở các khối lớp HT phải là một người giỏi về nghiệp vụ sư phạm Vì có như vậy thì người HT mới nhanh nhạy trong việc nắm bắt và chỉ đạo HĐ đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường

mà hiện tại đang là một cuộc cách mạng trong GD để nâng cao chất lượng GD

và đào tạo con người lao động mới theo yêu cầu của xã hội đặt ra cho GD Và một yêu cầu không thể thiếu được đối với người HT là phải có năng lực QL giỏi để chỉ đạo các HĐ trong nhà trường, đặc biệt là chỉ đạo đội ngũ tổ trưởng chuyên môn thực hiện tốt nhiệm vụ QL sinh hoạt chuyên môn của tổ để nâng cao chất lượng CM của trường

Như vậy có thể hiểu: Quản lý sinh hoạt chuyên môn là quá trình Hiệu trưởng tác động một cách có chủ đích, kế hoạch và hệ thống đến đối tượng quản lý (hoạt động sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn) thông qua các phương pháp, biện pháp quản lý nhằm đạt mục tiêu của các tổ chuyên môn, mục tiêu giáo dục nhà trường

1.2.7.2 Quản lý sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

Trong trường học, hoạt động dạy học là một hoạt động trung tâm QL hoạt động dạy học chính là QL quá trình dạy học Quá trình dạy học là tập hợp những hành động của hai chủ thể: GV và học sinh Trong đó, GV giữ vai trò chủ đạo để tổ chức, hướng dẫn và điều khiển, còn HS giữ vai trò chủ động lĩnh

Trang 29

hội tri thức, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo và những thái độ hành vi tốt đẹp Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, nó được thực hiện trong và bằng sự tương tác có tính cộng đồng, hợp tác giữa dạy và học, tuân theo lô gích khách quan của nội dung dạy học Một trong những nhiệm vụ QL trung tâm của HT là QL quá trình dạy học, để làm tốt công tác này, người HT phải quản lý tốt các hoạt động chuyên môn của nhà trường trong

đó có quản lý SHCM theo hướng nghiên cứu bài học, để đáp ứng nhu cầu giáo dục thực tiễn hiện nay việc SHCM theo hướng nghiên cứu bài học và quản lý SHCM theo hướng nghiên cứu bài học tốt là một yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao được chất lượng GD của nhà trường Để thực hiện tốt công tác quản lý SHCM theo hướng nghiên cứu bài học trong trường THPT, người HT cần:

Coi sinh hoạt chuyên môn là trụ cột, là chính sách quan trọng nhất để đổi mới nhà trường, nâng cao chất lượng dạy học

Bồi dưỡng cho CBGV hiểu rõ về ý nghĩa, tầm quan trọng của SHCM theo hướng nghiên cứu bài học và cùng nhau nhất trí quyết tâm thực hiện Cán

bộ quản lý và giáo viên phải có quyết tâm cao trong việc đổi mới nhà trường thông qua kiên trì thực hiện sinh hoạt chuyên môn, bởi vì sinh hoạt chuyên môn theo hướng tiếp cận mới là trụ cột, là chính sách quan trọng nhất để đổi mới nhà trường Việc duy trì liên tục với số lần càng nhiều thì sự thay đổi và tiến bộ trong từng thành viên trong nhà trường càng lớn Sự tham gia của tất cả mọi người trong nhà trường, trong đó có cả phụ huynh học sinh, là đặc biệt cần thiết, nó sẽ biến mỗi nhà trường thành một "cộng đồng học tập" Quán triệt ý nghĩa, tầm quan trọng và thực hiện đúng kỹ thuật sinh hoạt chuyên môn mới cho mọi giáo viên trong trường hiểu rõ, tin tưởng là vô cùng cần thiết (đặc biệt trong giai đoạn đầu thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn) Nếu hiểu và làm đúng, buổi sinh hoạt chuyên môn có thể kéo dài 4-5 tiếng nhưng mọi người tham gia vẫn thấy hào hứng Để làm tốt được việc này, các nhà trường cần tạo điều kiện về thời gian để các tổ chuyên môn tổ chức SHCM theo hướng nghiên cứu bài học liên tục, thường xuyên; mọi giáo viên cần được khuyến khích đổi

Trang 30

mới phương pháp giáo dục Tất cả những ý tưởng sáng tạo, những hiểu biết mới về dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm đều được vận dụng, trải

nghiệm trong sinh hoạt chuyên môn

Như vậy có thể hiểu: Quản lý sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học chính là quá trình Hiệu trưởng thực hiện các chức năng kế hoạch,

tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để điều hành sinh hoạt tổ chuyên môn theo các qui định và yêu cầu mới nhằm nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, giúp GV

có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS

1.3 Những vấn đề cơ bản về tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT

1.3.1 Mục đích của tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT

Nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn trong trường THPT, tập trung vào thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên bước đầu biết chủ động lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học trong mỗi môn học và các chuyên đề tích hợp, liên môn phù hợp với việc tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh; sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực

để xây dựng tiến trình dạy học theo chuyên đề nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, dần làm quen với hình thức tập huấn, bồi dưỡng, học tập và sinh hoạt chuyên môn qua mạng

Thống nhất phương thức tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường THPT qua mạng, tạo tiền đề tích cực cho việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015

1.3.2 Bản chất tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT

SHCM theo hướng NCBH là một quá trình tổ chức hoạt động SHCM ở

tổ bộ môn nhằm nâng cao năng lực phương pháp cho đội ngũ giáo viên của tổ

bộ môn, chú trọng đến người dạy đã thay đổi như thế nào, đã đạt được kết quả

gì trong tổ chức hoạt động dạy học cho học sinh tham gia Qua rất nhiều các

Trang 31

nghiên cứu cho thấy, vai trò của tổ chuyên môn là bộ phận tổ chức môi trường học tập, rèn luyện và phát triển năng lực chuyên môn cho GV

Bản chất SHCM theo hướng NCBH là tổ chức dự giờ, thảo luận nhằm tìm kiếm cách thức tốt nhất để việc tổ chức hoạt động dạy học môn học hiệu quả, người học và nhu cầu nhận thức của người học là trung tâm của tiết học Thực hiện SHCM theo hướng NCBH là triển khai việc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về phát triển kế hoạch giáo dục nhà trường theo định hướng phát triển năng lực học sinh

SHCM theo hướng NCBH giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên bước đầu biết chủ động lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học trong mỗi môn học và các chuyên đề tích hợp, liên môn phù hợp với việc tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh; sử dụng các phương pháp và

kỹ thuật dạy học tích cực để xây dựng tiến trình dạy học theo chuyên đề nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh; làm quen với hình thức tập huấn, bồi dưỡng, học tập và sinh hoạt chuyên môn qua mạng và đặc biệt SHCM theo hướng NCBH là một hướng đổi mới cách thức quản lý của nhà trường, tổ bộ môn đến mỗi cá nhân GV theo hướng tăng cường vai trò của nhóm, hợp tác chia sẻ chuyên môn trong nhóm nhằm cùng nhau triển khai và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn ở cấp quản lý và cấp cá nhân

Bản chất của SHCM theo hướng NCBH là hoạt động để giáo viên học tập lẫn nhau, không nhận xét, đánh giá mà cùng nhau tháo gỡ những khó khăn trong công tác giảng dạy, ngoài ra giáo viên phải mạnh dạn sáng tạo trong giảng dạy, có đồ dùng, có hệ thống câu hỏi tốt và biết tạo cơ hội học tập thực

sự cho học sinh, thiết lập được mối quan hệ học sinh với học sinh và giữa giáo viên với học sinh Tập trung quan sát học sinh tại các thời điểm trong bài học

về nét mặt, hứng thú, nụ cười, cả sự băn khoăn lúc học sinh gặp khó khăn, học sinh tích cực học tập , từ đó giáo viên cần trang bị và hình thành cho học sinh

Trang 32

các kỹ năng học, kỹ năng tư duy, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng học nhóm và biết cách cộng tác một cách hiệu quả giúp

đỡ nhau cùng hoàn thành

Sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Trong đó, hình thức sinh hoạt chuyên môn theo kiểu dự giờ được thực hiện thường xuyên nhằm nâng cao năng lực giảng dạy của giáo viên Trong sinh hoạt chuyên môn truyền thống, hình thức này được tổ chức theo một quy trình tương đối thống nhất: Nhà trường (Tổ chuyên môn) phân công giáo viên dạy - giảng dạy trên lớp - họp rút kinh nghiệm - xếp loại tiết dạy Cách tổ chức như vậy chưa thu hút sự tham gia tích cực của giáo viên Nguyên nhân cơ bản là do cán bộ quản lý và giáo viên chưa xác định đúng mục đích, ý nghĩa của sinh hoạt chuyên môn

Bản chất của SHCM theo hướng nghiên cứu bài học được thể hiện rõ qua

sự so sánh giữa SHCM truyền thống và SHCM theo hướng nghiên cứu bài học dưới đây:

- Tập trung vào việc đánh giá,

xếp loại tiết dạy;

- Thống nhất cách dạy các

dạng bài Bài dạy minh họa

được coi là bài dạy mẫu;

- Tập trung chủ yếu vào việc

dạy, ít quan tâm đến việc học

- Đảm bảo tất cả HS tham gia quá trình học tập, đồng thời nâng cao chất lượng học tập của từng HS

Trang 33

Quy

trình SHCM truyền thống SHCM theo hướng nghiên cứu

bài học minh

họa - Được thiết kế theo mẫu

chung, bám sát SGK, sách GV

Ít khi dám thay đổi, điều chỉnh

cho phù hợp;

- PPDH máy móc, không linh

hoạt (các bước lên lớp, thời

gian, )

bước dạy học trong SGK, SGV

- Có thể điều chỉnh nội dung, thời lượng, PPDH, KTDH, cho phù hợp;

- GV dạy có thể linh hoạt thay đổi hình thức, PPDH, KTDH, nếu xuất hiện tình huống xảy ra không đúng dự kiến

- Đa số các tiết dạy minh họa

thường mang tính “biểu diễn -

trình diễn”

- Để đối phó với việc đánh giá,

xếp loại tiết dạy, mốt số GV đã

“chuẩn bị trước”)

- GV thay mặt nhóm thể hiện các ý tưởng đã thiết kế trong bài học HS gặp khó khăn trong học tập được

GV hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời

- Không được “dạy trước” vì mục đích của SHCM không phải để đánh giá xếp loại tiết dạy mà chủ yếu là cùng nhau trải nghiệm và học tập từ thực tế

4 Dự

giờ

- Sự phân chia môn học và

giảng dạy theo khối đã tạo ra

- Số lượng vừa phải, ở vị trí thuận lợi để quan sát, ghi chép, (sử dụng

Trang 34

Quy

trình SHCM truyền thống SHCM theo hướng nghiên cứu

bài học

giờ là đánh giá, xếp loại tiết

dạy Vì vậy, người dự giờ

thường tập trung mọi sự chú ý

theo dõi GV dạy, ít chú ý đến

người học

các kĩ thuật),hành vi, tâm lí, thái độ của HS để có dữ liệu phân tích việc học tập của HS

- Không khí buổi sinh hoạt

chuyên môn thường là nặng nề

- GV dạy minh họa chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những thay đổi, điều chỉnh, cách thức tiến hành, cảm nhận của mình

- Góp ý trên tinh thần trao đổi, chia

sẻ, lắng nghe mang tính xây dựng; tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến việc học của HS

- Không đánh giá, xếp loại người dạy

- Người chủ trì tôn trọng và lắng nghe tất cả ý kiến của GV, không

áp đặt ý kiến của mình hoặc của một nhóm người

6 Kết

quả

a) Đối với học sinh

- Kết quả học tập ít được cải thiện;

- Những HS gặp khó khăn

trong học tập thường bị GV

“bỏ quên” trong tiết dạy

- HS chủ yếu là “diễn viên”

a) Đối với học sinh

- Kết quả của HS được cải thiện

- HS tự tin hơn, tham gia tích cực vào các hoạt động học, không có học sinh nào bị “bỏ quên”

- Quan hệ giữa các HS trở nên thân

Trang 35

dạy thường mang tính hình thức

- Khi chia sẻ, phân tích tiết dạy

(nếu có hạn chế), GV thường

đổ lỗi cho HS hay những

nguyên nhân khác GV không

thấy được nguyên nhân chính

là từ GV

- Việc “chuẩn bị trước” người

dự giờ không học hỏi được

điều gì

c) Đối với cán bộ quản lí

- Không tạo điều kiện để

c) Đối với cán bộ quản lí

- Đặt bài học lên hàng đầu, đánh giá sự linh hoạt sáng tạo của của từng GV

- Có cơ hội bám sát chuyên môn, hiểu được nguyên nhân của những

Trang 36

d) Đối với nhà trường

Quan hệ giữa các thành viên

thường gặp khó khăn, thiếu sự

đồng thuận, chất lượng học tập

của học sinh không được cải

thiện, năng lực chuyên môn

của GV không thực sự phát

triển GV dạy học theo thành

tích chứ không theo nhu cầu và

chất lượng của học sinh

khó khăn trong quá trình dạy và học để có biện pháp hỗ trợ kịp thời

- Quan hệ giữa cán bộ quản lí và

GV gần gũi, gắn bó và chia sẻ

d) Đối với nhà trường

Tăng cường mối quan hệ học hỏi, lắng nghe, cộng tác, đồng thuận, chia sẻ, hướng đến mục tiêu chung Từ đó, chất lượng được nâng lên

1.3.4 Các bước tổ chức SHCM theo hướng NCBH

Tổ chức SHCM theo hướng NCBH được thực hiện trải qua 4 các bước như sau:

Bước 1 Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu

Cần xác định mục tiêu kiến thức và kĩ năng mà HS cần đạt được khi tiến hành nghiên cứu Mục tiêu bài học được nghiên cứu, được đề xuất bởi một thành viên trong tổ CM, sau đó được góp ý, hoàn thiện thông qua thảo luận trong phạm vi của tổ chuyên môn

Các GV sẽ có một cuộc thảo luận chi tiết, cụ thể bài học tiến hành nghiên cứu như: Đặt câu hỏi xem đây là loại bài học gì; cách giới thiệu bài học

Trang 37

như thế nào; sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học thế nào cho đạt hiệu quả cao; nội dung bài học chia ra những đơn vị kiến thức nào; dự kiến tổ chức hoạt động dạy học nào tương ứng; dự kiến tích hợp nội dung giáo dục nào

là phù hợp Sau khi kết thúc cuộc họp này, một GV trong nhóm sẽ nhận nhiệm

vụ phát triển đề cương đầu tiên của giáo án bài học nghiên cứu, các ý kiến góp

ý, chỉnh sửa của tổ chuyên môn chỉ mang tính tham khảo

Bước 2: Tổ chức bài học và dự giờ

Sau khi hoàn thành kế hoạch dạy học chi tiết, một GV sẽ dạy minh hoạ bài học nghiên cứu ở một lớp cụ thể

- Các yêu cầu cụ thể của việc dự giờ như sau:

+ Chuẩn bị lớp dạy minh hoạ, chuẩn bị đủ thiết bị dạy học cho giờ dạy minh họa, bố trí lớp có đủ chỗ ngồi quan sát thuận lợi cho người dự Điều chỉnh số lượng người dự ở mức vừa phải, không quá đông

+ Việc dự giờ của giáo viên cần đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học của học sinh, không gây khó khăn cho người dạy minh hoạ

- Vị trí quan sát của người dự giờ theo sơ đồ sau :

GV cần quan sát học sinh học, cách phản ứng của học sinh trong giờ học, cách làm việc nhóm, những sai lầm học sinh mắc phải Quan sát tất cả đối tượng học sinh, không được “bỏ rơi” một HS nào Có thể sử dụng máy quay để ghi lại mọi hoạt động của giáo viên học sinh, thái độ của học sinh với việc tiếp thu kiến thức môn học

Trang 38

- Từ bỏ thói quen đánh giá giờ dạy của GV, người dự cần học tập, hiểu

và thông cảm với khó khăn của người dạy Đặt mình vào vị trí của người dạy

để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách giải quyết

Bước 3: Thảo luận về bài học nghiên cứu

Suy ngẫm và chia sẻ các ý kiến của GV về bài học sau khi dự giờ Các ý kiến đưa ra nhiều hay ít, tinh tế và sâu sắc hay hời hợt và nông cạn sẽ quyết định hiệu quả học tập, phát triển năng lực của tất cả GV tham gia vào sinh hoạt chuyên môn

Giáo viên sau khi dự giờ và quan sát việc học của HS cần đưa ra bằng chứng về những gì họ nhìn thấy được về cách học, suy nghĩ, giải quyết vấn đề của HS trên lớp học, để rút kinh nghiệm, bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạy lần sau

Mọi người phải lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau khi thảo luận, không nên quan tâm đến các tiêu chuẩn truyền thống của một giờ dạy

Tuyệt đối không xếp loại giờ dạy minh hoạ trong sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học Bởi giờ dạy là sản phẩm chung của mọi người khi tham gia sinh hoạt chuyên môn

* Lưu ý: Nếu giờ dạy gặp nhiều khó khăn như phương pháp dạy của

giáo viên chưa phù hợp hoặc việc tiếp thu bài học của học sinh chưa đạt hiệu quả thì các GV sau khi đưa ra các ý kiến để khắc phục những khó khăn đó, chỉnh lại giáo án ban đầu Thì có thể tiến hành bài học và dự giờ lần 2 Và sẽ cùng ngồi lại một lần nữa để xem xét hiệu quả của lần dạy 2 có hơn lần một và còn gặp khó khăn gì khác không để từ đó áp dụng triển khai đại trà trong toàn

tổ chuyên môn

Bước 4: Áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày

- Sau khi thảo luận về tiết dạy đầu tiên, nếu bài học nghiên cứu làm tốt sẽ được phổ biến rộng rãi, vận dụng vào các bài học khác; nếu vẫn chưa hoàn thiện

thì cần tiếp tục nghiên cứu để tiến hành dạy ở các lớp sau cho hoàn thiện hơn

Trang 39

- Cuối cùng các GV viết bài báo cáo chỉ ra những gì được học liên quan

đến chủ đề nghiên cứu và mục tiêu của họ trong giảng dạy

1.3.5 Điều kiện đảm bảo cho SHCM theo hướng NCBH

Để đảm bảo cho SHCM theo hướng nghiên cứu bài học được thành công

và đạt mục tiêu đề ra, cần có những điều kiện sau khi thực hiện:

- Nhóm GV hợp tác xây dựng giáo án và thực hiện tiết học minh họa là tiết học như bình thường hàng ngày

- Vị trí GV dự giờ có thể quan sát được nét mặt, thái độ biểu cảm của học sinh từ đó có những chỉnh tiết dạy cho phù hợp với năng lực tiếp thu bài học của học sinh

- Sau khi dự giờ cần cùng nhau nêu lại những ấn tượng của mình khi quan sát học sinh học trong lớp, có thể minh họa bằng các hình ảnh đã quay video hoặc chụp ảnh được để minh chứng thêm phần thuyết phục

- Không đánh giá giờ dạy của GV mà cùng nhau nhìn nhận những mặt đã đạt được và chưa đạt để điều chỉnh cho tiết học sau

- Sự ủng hộ từ phía lãnh đạo các cấp cho việc SHCM theo NCBH

1.4 Quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT

1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH

Trong nhà trường THPT, việc triển khai các hoạt động chuyên môn được

diễn ra trong phạm vi của tổ chuyên môn Có thể nói tổ chuyên môn thực hiện nhiệm vụ chuyên trách, đảm bảo tính hiệu quả của công tác giảng dạy góp phần thực hiện mục tiêu dạy học và giáo dục nhà trường Hiệu quả quản lý SHCM thể hiện ở việc hoạt động giảng dạy của các thành viên trong tổ nhóm chuyên môn đảm bảo theo chương trình, năng lực giảng dạy, bồi dưỡng HS giỏi, HS yếu kém, đổi mới phương pháp dạy học, tự học, tự bồi dưỡng, tham gia các hoạt động khác trong nhà trường để đạt mục tiêu dạy học, phục vụ tốt các mục tiêu

kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội

Mục tiêu của quản lý hoạt động SHCM theo hướng nghiên cứu bài học là nhằm đảm bảo cơ hội học tập cho mọi em học sinh, đảm bảo cơ hội phát triển

Trang 40

chuyên môn cho mọi giáo viên, đảm bảo cơ hội cho càng nhiều tổ chức, cá nhân tham gia vào việc học của học sinh trên lớp Đây chính là nguyên lý nền tảng của SHCM và đổi mới nhà trường dựa trên SHCM theo hướng nghiên cứu bài học

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH

1.4.2.1 Lập kế hoạch tổ chức hoạt động SHCM của tổ theo hướng NCBH:

Ở đây nhà QL (HT, Các PHT) hướng dẫn TTCM xây dựng kế hoạch sinh hoạt TCM theo hướng NCBH theo các công việc:

- Căn cứ nhiệm vụ năm học; căn cứ kết quả phân tích bối cảnh của TCM (điểm mạnh, yêu, cơ hội, thách thức ) để xác định các mục tiêu cần đạt

- Lựa chọn các công việc cần làm, cách tiến hành như: Xác định các chuyên đề, các tiết dạy minh họa; cùng nhau xây dựng giáo án cho tiết dạy minh họa; phân công người dạy minh họa (có thể là bất kỳ giáo viên nào trong TCM được phân công giảng dạy môn học đó, trong năm đó); xác định thời gian, địa điểm thực hiện tiết dạy minh họa; tiến hành dạy minh họa, dự giờ; tổ chức sinh hoạt TCM để trao đổi rút kinh nghiệm giờ dạy; triển khai các chuyên

đề hay các nội dung tiếp theo

Như vậy kế hoạch sinh hoạt TCM theo hướng nghiên cứu bài học là một phần trong kế hoạch hoạt động của TCM, với những công việc diễn ra liên tục gắn với việc dự giờ, rút kinh nghiệm giờ dạy theo định hướng mới

1.4.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch SHCM của tổ chuyên môn theo hướng NCBH

Giai đoạn thứ nhất: Hình thành cách dự giờ, suy ngẫm, xây dựng quan

hệ đồng nghiệp mới

Trong giai đoạn này, sinh hoạt chuyên môn cần tập trung thực hiện các mục tiêu sau:

- Luyện tập cách quan sát và suy nghĩ về việc học của HS trong giờ học,

có khả năng phán đoán nhanh nhạy, chính xác để điều chỉnh việc dạy phù hợp, việc học của HS

- Làm thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cảm nhận của GV về HS trong từng hoàn cảnh khác nhau

Ngày đăng: 25/03/2021, 10:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w