1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà tỉnh bắc ninh

122 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, chất lượng giáo dục và đào tạo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Từ việc xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo; mà trong đó khâu đặc biệt quan trọng là

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

––––––––––––––––––

PHẠM THỊ MÂY

TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ BẮC HÀ

TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên - 2013

Trang 2

––––––––––––––––

PHẠM THỊ MÂY

TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ BẮC HÀ

TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐÀO HẢI

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

VÀ CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu Khoa học của riêng tôi và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu Khoa học của tác giả khác Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng

để bảo vệ luận văn nào

Tôi khẳng định rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn và các thông tin liên quan đến Luận văn đều được lấy từ các nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà nước, Bộ, ngành chủ quản, cơ

sở đào tạo và Hội đồng đánh giá Khoa học của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

về công trình và kết quả nghiên cứu của mình

Bắc Ninh, tháng 5 năm 2013

Người thực hiện

Phạm Thị Mây

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được nhiều

sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, góp ý kiến của các cá nhân, tập thể trong và ngoài nhà trường, của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, Tiến sĩ Đào Hải đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Có được kết quả nghiên cứu này, tôi đã nhận được những ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới cán bộ, giảng viên của các khoa, phòng và sinh viên của nhà trường đã giúp đỡ tôi về một số nội dung cơ bản làm căn cứ cho luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ, động viên giúp đỡ của gia đình, bạn bè, những người thường xuyên hỏi thăm, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy bản thân rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô giáo và tất cả bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Bắc Ninh, tháng 5 năm 2013

Người thực hiện

Phạm Thị Mây

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Bố cục của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 7

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Ở nước ngoài 7

1.1.2 Ở trong nước 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Quản lý 11

1.2.2 Đào tạo 12

1.2.3 Quản lý đào tạo 14

1.3 Lý luận về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 15

1.3.1 Mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp quản lý đào tạo 15

1.3.2 Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 18

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 28

1.4.1 Các yếu tố bên trong (yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo) 28

Trang 7

1.4.2 Các yếu tố bên ngoài 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ BẮC HÀ, TỈNH BẮC NINH 32

2.1 Tổng quan về trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh 32

2.1.1 Quá trình xây dựng nhà trường và phương hướng phát triển 33

2.1.2 Về chức năng nhiệm vụ 34

2.1.3 Về cơ cấu tổ chức 34

2.1.4 Về nhân sự 35

2.1.5 Về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính 36

2.2 Khái quát về đào tạo tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà 38

2.2.1 Cơ cấu ngành nghề và quy mô đào tạo 38

2.2.2 Kết quả đào tạo Cao đẳng chính quy tại nhà trường 39

2.3 Thực trạng về tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC tại trường CĐ Công nghệ Bắc Hà 40

2.4 Đánh giá về công tác tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC của nhà trường 48

2.4.1 Những ưu điểm 48

2.4.2 Những hạn chế cần khắc phục 50

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 51

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52

Chương 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ BẮC HÀ, TỈNH BẮC NINH 53

3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 53

3.1.1 Định hướng phát triển ĐT theo HCTC của nhà trường 53

3.1.2 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 54

3.2 Giải pháp tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh 55

Trang 8

3.2.1 Rà soát điều chỉnh chương trình đào tạo, tiến trình đào tạo và tổ chức

xây dựng đề cương chi tiết học phần, môn học 55

3.2.2 Cải tiến công tác xây dựng kế hoạch đào tạo và lập thời khóa biểu 58

3.2.3 Bồi dưỡng phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ cán bộ, giảng viên 62

3.2.4 Chỉ đạo quyết liệt việc đổi mới phương pháp dạy - học 69

3.2.5 Tăng cường kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo 76

3.2.6 Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sỏ vật chất, phương tiện kỹ thuật phục vụ đào tạo 83

3.3 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 87

3.3.1 Qui trình khảo nghiệm 87

3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 88

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

1 Kết luận 92

2 Khuyến nghị 93

HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Chuyên ngành đào tạo và hệ Cao đẳng chính quy của trường Cao đẳng

Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh 33

Bảng 2.2: Cơ cấu về trình độ của tất cả cán bộ, giảng viên, nhân viên 35

Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình chất lượng thiết bị 37

Bảng 2.4: Cơ cấu chuyên ngành và quy mô đào tạo 38

Bảng 2.5: Tổng hợp kết quả tốt nghiệp của sinh viên 39

Bảng 2.6: Tổng hợp kết quả rèn luyện đạo đức của sinh viên 40

Bảng 2.7: Đối tượng khảo sát 41

Bảng 2.8: Kết quả đánh giá về chương trình đào tạo theo HCTC: 43

Bảng 2.9: Kết quả đánh giá về công tác quản lý ĐT theo HCTC 48

Trang 11

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1: Các mối quan hệ tác động đến quá trình đào tạo 31

Sơ đồ 2: Tổ chức đào tạo Cao đẳng chính quy của trường 35

Sơ đồ 3: Quy trình xây dựng kế hoạch đào tạo và sắp xếp thời khóa biểu 59

Sơ đồ 4: Mối quan hệ giữa các giải pháp 87

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đổi mới giáo dục nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đã và đang là một nhiệm vụ có tính chiến lược ở nước ta hiện nay Việc đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá sẽ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của mọi người, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực, Báo cáo chính

trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Đổi mới căn bản, toàn

diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành”

Để giáo dục thực hiện được sứ mạng của mình thì trước hết cần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với giáo dục đào tạo là tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp, hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa giáo dục; nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Tuy nhiên, chất lượng giáo dục và đào tạo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Từ việc xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo; mà trong đó khâu đặc biệt quan trọng làm nên chất lượng trong mỗi nhà trường đó tổ chức quá trình đào tạo, hoạt động dạy và học cùng với các yếu tố có liên quan khác

Xuất phát từ yêu cầu đó, việc chuyển đổi phương thức đào tạo (ĐT) từ niên chế sang học chế tín chỉ (HCTC) là bước chuyển tất yếu khách quan của giáo dục Đại học và Cao đẳng của Việt Nam theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, cũng là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, khuyến khích người học được thường xuyên và học suốt đời

Các nước trên thế giới cũng như Việt Nam những năm qua đã đúc kết ưu điểm đạt được từ đạo tạo theo học chế tín chỉ như sau:

Trang 13

- Cho phép sinh viên chủ động thiết kế kế hoạch, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của bản thân để tích luỹ kiến thức và kỹ năng để có văn bằng Điều này còn đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường Đại học trở nên mềm dẻo hơn

- Cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học Đại học một cách thuận lợi - Không nhất thiết học trong trường Có thể nói đây là một công cụ quan trọng để chuyển từ nền Đại học mang tính tinh hoa (elitist) sang nền Đại học mang tính đại chúng (mass)

- Cho phép sinh viên thay đổi thời gian trong tiến trình học tập khi thấy cần, không phải nhất thiết theo kế hoạch từ đầu tùy theo điều kiện và khả năng của từng người Sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những qui định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức

- Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường Đại học một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước

- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học Chính vì vậy giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế

- Triển khai học chế tín chỉ, các trường Đại học lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học Kết hợp với học chế tín chỉ, nếu trường Đại học tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích lũy được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho tín chỉ tương đương, nhanh cho kết thúc một văn bằng Đại học, tiết kiệm thời gian cho người học

Như vậy, rõ ràng học chế tín chỉ mang lại nhiều lợi ích trong công tác đào tạo,

nó làm cho sinh viên chủ động hơn trong hoạt động học tập, đặc biệt nó tạo tác

phong công nghiệp đối với mọi hoạt động của nhà trường, từ sinh viên đến giảng

viên, vì mọi hoạt động đào tạo trong trường phải được khớp nối đúng thời gian và địa

Trang 14

điểm Tuy nhiên, việc triển khai học chế tín chỉ tạo nên bước chuyển khá đột ngột do phương pháp giảng dạy và các hoạt động khác từ học chế tín chỉ đòi hỏi Hơn nữa, học chế tín chỉ làm cho mức độ tự do của giảng viên giảm nhiều vì họ phải được gắn với các giờ học và lớp học xác định phân bố trong suốt cả học kỳ, rất khó bố trí tập trung thời gian cho các hoạt động khác ở ngoài trường Từ đó cần có những vận động đổi mới trong công tác quản lý để tăng nhận thức cho sinh viên và nâng cao trách nhiệm của giảng viên thì việc triển khai học chế tín chỉ mới thuận lợi

Thực hiện Quyết định số 43/2007/QĐ - BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành “ Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” và Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo HCTC ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ- BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong những năm qua, việc

áp dụng phương thức ĐT này đã được nhiều trường Đại học và Cao đẳng trong cả nước thực hiện và đạt được hiệu quả nhất định Đào tạo theo HCTC giúp cho việc thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần, thực hiện đánh giá kết quả học tập thống nhất giữa các hệ ĐT, các loại hình, phương thức ĐT Điều này còn có tác động tích cực đến phương pháp học tập của sinh viên Mặt khác, việc ĐT theo HCTC bước đầu trường đã xác định lộ trình thực hiện để tiến tới thực hiện ở tất cả các hệ, các phương thức ĐT trong toàn ngành Bên cạnh đó, việc ĐT theo học chế tín chỉ sẽ giúp thuận lợi cho người học, vì người học hoàn toàn chủ động lựa chọn loại hình học tập cũng như việc thực hiện kế hoạch học tập trong quá trình ĐT của mình Cùng đó, khi ĐT, nhà trường sẽ giải quyết được được khủng hoảng thừa về đội ngũ giảng viên, tiết kiệm về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nâng cao tính chuẩn mực trong chương trình ĐT cho các hệ ĐT của nhà trường

Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh được thành lập và tổ chức đào tạo từ năm 2006 theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo Từ năm học

2010 -2011, trường bắt đầu tổ chức ĐT thẹo HCTC nhằm phát huy cao độ khả năng học tập của sinh viên và cũng đã đạt được những kết quả đáng kể

Tuy nhiên, để phương thức ĐT theo HCTC phát huy tác dụng và hạn chế tối

đa những nhược điểm vốn có của nó thì ngoài thời gian cần thiết để triển khai, rút

Trang 15

kinh nghiệm thực tiễn, cần có sự chỉ đạo quyết liệt, có hiệu quả của các cấp quản lý vĩ

mô, các cơ sở ĐT; sự thay đổi nhận thức, tư duy hành động đúng đắn của từng cá nhân trong hệ thống ĐT Đại học và Cao đẳng hiện nay Qua một thời gian thực hiện phương thức ĐT theo HCTC của trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh, đứng ở góc độ của người thực hiện, tôi thấy cần nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia vào quá trình ĐT về những ưu điểm, nhược điểm của phương thức ĐT này

và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của phương thức ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, góp phần thực hiện thắng lợi quan điểm đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục Đại học, Cao đẳng ở nước ta hiện nay Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:

“Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Công nghệ

Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ quản lý giáo dục của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề l

theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, đề xuất giải pháp tổ chức quản

lý ĐT theo HCTC nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

: Giải pháp tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC tại

trường CĐ Công nghệ Bắc Hà tỉnh Bắc Ninh

* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng tổ chức quản lý ĐT theo

HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh năm học 2010 -2011

và năm học 2011-2012; Trên cơ sở nghiên cứu quá trình tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC, đề tài chỉ tập trung đề xuất giải pháp tổ chức quản lý cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 4.2 Phân tích, đánh giá thực trạng công tác tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

4.3 Đề xuất giải pháp pháp tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

Trang 16

5 Giả thuyết khoa học

Việc tổ chức ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà tuy đã đáp ứng được yêu cầu trong việc nâng cao chất lượng ĐT Tuy nhiên trước yêu cầu của đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay, việc tổ chức ĐT theo HCTC hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Nếu xây dựng được giải pháp tổ chức quản lý ĐT theo HCTC phù hợp và được thực hiện một cách đồng bộ thì chất lượng ĐT tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà trong giai đoạn tiếp theo sẽ được nâng cao

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức quản lý ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà - tỉnh Bắc Ninh,

từ đó đề xuất giải pháp tổ chức quản lý ĐT phù hợp với điều kiện của nhà trường, giúp nhà trường nâng cao chất lượng ĐT Ngoài việc giúp nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể là tài liệu quan trọng giúp các trường Cao đẳng khác tham khảo trong quá trình chuyển đổi từ ĐT theo niên chế sang ĐT theo HCTC

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng phương pháp nghiên cứu những tài liệu lý luận, văn bản, Nghị quyết, sách báo, các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài Tổ chức thu thập các

số liệu thống kê và các thông tin có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực tiễn

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra: Điều tra bằng Anket (Phiếu trưng cầu ý kiến)

Chúng tôi xây dựng 02 mẫu phiếu điều tra dùng để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý (CBQL), giảng viên, sinh viên tại các khoa của trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

+ Phương pháp phỏng vấn:

Chúng tôi gặp gỡ, trao đổi, quan sát, trò chuyện, lấy ý kiến trực tiếp các CBQL, giảng viên (GV), sinh viên(SV) ở các khoa của nhà trường về những ưu điểm, khó khăn khi tham gia tổ chức ĐT theo HCTC nhằm nâng cao chất lượng ĐT cho sinh viên nhà trường

Trang 17

7.3 Phương pháp thống kê Toán học

Sử dụng phương pháp thống kê Toán học để xử lý các tài liệu, số liệu đã thu thập được làm cơ sở cho sự phân tích đánh giá khách quan bản chất của vấn đề nghiên cứu

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

+ Chương 2: Thực trạng về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại

trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

+ Chương 3: Giải pháp tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC tại trường Cao

đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Theo báo cáo của UNESCO: Học tập - một kho báu tiềm ẩn, đã xác định học tập suốt đời sẽ là một trong những chìa khóa nhằm vượt qua những thách thức của thế

kỷ XXI với đề nghị gắn nó với bốn trụ cột của giáo dục (bốn trụ cột của giáo dục bao gồm: học để biết - Learning to know, học để làm -Learning to do, học để tự khẳng định-Learning to be, học để cùng chung sống - Learning to live together) và hướng tới xây dựng một xã hội học tập Để thỏa mãn nhu cầu đó của mỗi con người trong xã hội hiện đại thì nhiệm vụ đặt ra cho các nhà trường là phải tổ chức tốt quá trình ĐT giúp cho người học có đủ năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu việc làm

Từ nhiều năm trước đây, các nhà khoa học và các nhà quản lý giáo dục đã xác định vấn đề quản lý chất lượng ĐT là một trong những nội dung quan trọng, cấp bách trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Nó không chỉ dựa trên kinh nghiệm thực tiễn mà cần phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc, và phải được bắt đầu từ khâu

lý luận và phương pháp luận

Đã có nhiều nhà trường, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và áp dụng ĐT theo HCTC, cụ thể:

1.1.1 Ở nước ngoài

Đào tạo theo HCTC,lần đầu tiên được tổ chức tại trường Đại học Havard, Hoa

Kỳ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới Tiếp sau đó, hệ thống này được các nước ở Bắc Mỹ, Nhật Bản Philippin, Hàn quốc, Trung quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaixia, Ấnđộ và nhiều các nước khác áp dụng Năm 1999, Bộ trưởng đặc trách giáo dục Đại học ở 29 nước trong Liên minh Châu Âu đã ký tuyên ngôn Bologna nhằm hình thành “ Không gian giáo dục đại Châu Âu” và áp dụng HCTC trong toàn bộ hệ thống này [12, tr.7]

Theo đánh giá của tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank), thì đào tạo theo HTTC, không chỉ có hiệu quả đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với

các nước đang phát triển Đây là phương thức ĐT theo triết lý “Tôn trọng người học,

Trang 19

xem người học là trung tâm quá trình đào tạo” Bản chất của đào tạo theo HCTC là

sự tích lũy kiến thức được quy định trong chương trình đào tạo Sự tích lũy được đánh giá bằng: Số tín chỉ tích lũy tối thiểu quy định của mỗi chương trình để sinh viên (SV) có thể tốt nghiệp [20 tr.8]

Ngày nay, HCTC trong các trường Đại học Hoa Kỳ đòi hỏi phải hoàn thành thường là 120 tín chỉ trong vòng 4 năm để có một bằng Đại học Điều này tương đương với 15 tín chỉ mỗi học kỳ Khi xác định khối lượng công việc cho SV, các trường Đại học Hoa Kỳ không chỉ tính đến giờ tiếp xúc với giáo sư, mà còn tính đến

cả khoảng thời gian SV cần có để thực hiện việc chuẩn bị dự án, viết báo cáo khoa học, nghiên cứu tự học Tín chỉ phản ánh toàn bộ khối lượng công việc, cả trong và ngoài lớp học Một bài giảng tiêu biểu là 3 tín chỉ, trong đó có 3 giờ lên lớp mỗi tuần (thường là 3 lần/tuần, mỗi lần 50 phút), cùng với 6-9 giờ làm việc ngoài lớp học (1 giờ trong lớp đòi hỏi 2-3g chuẩn bị và tự học bên ngoài lớp học Như vậy tổng số khối lượng công việc của một tín chỉ là 3-4 giờ (kết hợp cả giờ lên lớp và giờ làm việc ngoài lớp học) Nhìn chung, một SV đăng ký 15 tín chỉ mỗi học kỳ sẽ có 15 giờ lên lớp và khoảng từ 30-45 giờ làm việc ngoài lớp [5, tr.8]

1.1.2 Ở trong nước

Ở Việt Nam, trước 1975, Viện Đại học Cần Thơ đã từng áp dụng HCTC trong các Đại học Văn Khoa, Đại học Luật Khoa và Đại học Khoa học Sau 1975, nhiều giảng viên của Trường Đại học Cần Thơ đã được đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở nhiều trường Đại học Âu - Mỹ [1, tr.8] Từ năm 1987, HCTC được áp dụng một phần dưới hình thức tổ chức môn học theo học phần và đơn vị học trình HCTC chỉ được hính thức triển khai từ năm 2001 khi Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh HCTC như là một giải pháp để đổi mới giáo dục Đại học, và được khẳng định trong Luật giáo dục 2005: “ Về chương trình giáo dục: Đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục Đại học có thể được tiến hành theo hình thức tích lũy tín chỉ hay theo niên chế”

Để thực hiện tiến trình đến với sự hoà nhập với các nước trong khu vực và thế giới, các trường Đại học Việt Nam đã tiên phong trong việc tham khảo kinh nghiệm

và áp dụng HCTC vào chương trình ĐT của mình Có thể kể ra các trường đi đầu trong việc áp dụng này là các trường thuộc kỹ thuật như Trường Đại học Bách khoa

Trang 20

thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Bách khoa Hà Nội , Đại học Cần thơ, Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hồ Chí Minh, Trường Đại học Thủy sản Nha Trang và nhiều trường Cao đẳng khác v.v

Nhìn chung, các trường được phép áp dụng thử nghiệm HCTC từ năm 1993 - toàn bộ chương trình ĐT Đại học chính quy đã được chuyển sang hệ tín chỉ Mô hình nhóm ngành-ngành rộng được áp dụng Đối với hệ ĐT chính quy tại trường áp dụng loại hình tập trung, ĐT theo HCTC Các học phần tự chọn sẽ được giới thiệu chi tiết,

cụ thể trong chương trình ĐT theo từng ngành học và từng học kỳ, người học sẽ dựa vào quy chế mà có thể đăng ký học những học phần hoàn toàn theo khả năng và sở thích của mình Theo hệ thống này, người học không phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp hay phải bảo vệ luận văn tốt nghiệp như trước đây mà người học có thể lựa chọn là hoàn thành thêm một số (thường là 10) tín chỉ ngoài các học phần như đã công bố trongchương trình ĐT của từng ngành học

Từ năm học 2008-2009, căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ- BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành “Quy chế đào tạo Đại học

và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”, các trường Đại học và Cao đẳng cả nước chính thức áp dụng ĐT theo HCTC tại trường mình quản lý Chính vì thế, nhiều công trình khoa học, bài viết, tham luận của các nhà khoa học, các giảng viên

đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề này và đã được đăng tải trên sách báo, website làm kinh nghiệm quý báu trong việc tổ chức ĐT cho các trường Tiêu biểu như bài viết

“Chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ khó khăn và giải pháp” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quang Thế - Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên; “Đào tạo Đại học theo học chế tín chỉ - Những vấn đề đặt ra” của Tiến sĩ Nghiêm Thị Thà - Website: Học viện tài chính; “Đào tạo theo hệ

thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Kim

Dung Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; “Hệ thống tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kỳ: Lịch sử phát triển, Định nghĩa và Cơ chế hoạt động” của Phó Giáo sư - Tiến sĩ CaryJ Trexler, Khoa Giáo dục

Sư phạm, trường Đại học (UC), Davis, Hoa Kỳ; “Những vấn đề của quản lý đạo tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm” của tác giả Lê Quang Sơn, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Trang 21

Trong “Chương trình hành động của Chính phủ” thực hiện Nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụng HCTC trong đào tạo Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ” Đề án đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã được Chính phủ phê duyệt cũng khẳng định: “ xây dựng học chế tín chỉ thích hợp cho giáo dục Đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục Đại học chuyển sang đào tọa theo HCTC ” Chính vì vậy, việc ĐT theo HCTC ở các trường Đại học và Cao đẳng trên

cả nước đã xây dựng cho mình Quy chế đào tạo Mỗi quy chế được xây dựng với những mục tiêu, quy định, cách thức tổ chức ĐT riêng thể hiện được nhưng ưu điểm của mỗi ngành học ở mỗi nhà trường trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và ĐT, phát huy khả năng tự học, tự bồi dưỡng của người học

Hiện nay, các hoạt động liên quan đến tổ chức ĐT theo HCTC của các nhà trường như đăng ký môn học, thời khoá biểu của người học, kết quả điểm tích lũy của từng môn học theo số tín chỉ v.v , từng bước đi vào thế ổn định và mang tính bền vững Nhiều trường đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần thống nhất cho các loại hình ĐT Đại học chính quy, Đại học bằng 2, Đại học tại chức, Sau Đại học, chuyển đổi từ Cao đẳng lên Đại học, hợp đồng liên kết ĐT với các cơ sở ĐT tại các địa phương, các bộ, ngành và các cơ sở ĐT Hiện nay, các trường này đã thực hiện cấp chứng chỉ tích lũy theo học phần đối với các học phần phải bổ sung kiến thức thuộc đào tạo Sau Đại học và chứng chỉ các môn học Ngoài ra, các trường này cũng đã thống nhất đánh giá kết quả học tập của SV theo chế độ tích luỹ học phần cho các loại hình ĐT tập trung, chính quy, ĐT ngoài giờ, tại các địa phương, các ngành và liên kết ĐT với các trường Đại học Thực hiện kiểm tra, thi kết thúc học phần, thi tốt nghiệp theo hình thức thi viết đồng thời mở rộng hình thức thi trắc nghiệm khách quan

Từ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành “ Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo

hệ thống tín chỉ” và những kết quả đạt được qua quá trình ĐT, Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo HCTC như một cơ sở khoa học, một

Trang 22

lần nữa khẳng định quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy chế ĐT theo HCTC là đúng đắn, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

Tuy nhiên, vấn đề tổ chức ĐT theo HCTC, đặc biệt ở trình độ Cao đẳng, trong

xu thế hội nhập hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định và ít được quan tâm

nghiên cứu Vì vậy, đề tài “Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường

Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh” mà tôi chọn nghiên cứu làm luận văn

Thạc sĩ quản lý giáo dục cũng là nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong quá trình tổ chức ĐT theo HCTC tại trường CĐ Công nghệ Bắc Hà, với mục đích góp phần nâng cao chất lượng ĐT trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và

xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Quản lý

Bản chất của quản lý là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý để đạt mục tiêu đã xác định Quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học Đó là nghệ thuật làm cho người khác làm việc hiệu quả hơn những điều bản thân họ sẽ làm được nếu không có sự quản lý Còn khoa học chính là cách làm thế nào để thực hiện được nghệ thuật quản lý Lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và giám

sát là bốn điều căn bản trong khoa học đó

Nói đến khái niệm “quản lý” là một khái niệm rất tổng quát và có nhiều quan niệm khác nhau Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu:

Theo Tự điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”; [18, tr.11-13]

F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và

Trang 23

Ở nước ta, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:

Theo Nguyễn Kỳ - Bùi Trọng Tuân: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”;

Theo Mai Hữu Khuê: “Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những người LĐ nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước”;

Theo Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” ;

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”;

Các định nghĩa trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác, nhưng điểm chung thống nhất đều coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, khách thể quản lý quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý Từ những ý chung của các định nghĩa và xét

quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ

chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề

ra Hay nói cách khác, Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất

1.2.2 Đào tạo

Trong giáo dục và đào tạo có các quá trình tiếp nối và xen kẽ: ĐT, bồi dưỡng

và ĐT lại Các quá trình này gắn liền với sự hình thành và phát triển nghề nghiệp của người giáo viên theo xu thế học tập thường xuyên, suốt đời

Theo quan niệm phổ biến, ĐT là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ phẩm chất đạo đức cho người học để vào đời, họ có thể trở thành những người lao động có kỹ thuật, có năng suất lao động cao Quá trình ĐT diễn ra theo kế hoạch, chương trình ứng với từng thời gian quy định, trong các cơ sở ĐT

Trang 24

Trong Từ điển bách khoa Việt Nam: "Đào tạo là quá trình tác động đến một con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách

có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận được sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người" (Từ điển Bách Khoa Việt Nam

- Hà Nội, 1995) [18, tr.11-13]

Đào tạo có nhiều dạng: ĐT cấp tốc; ĐT chuyên sâu; ĐT cơ bản; ĐT ngắn hạn;

ĐT từ xa và ĐT lại (tương đương với bồi dưỡng) Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân loại ĐT gồm ĐT chuyên môn và ĐT nghề nghiệp, và chỉ khi nào quá trình ĐT được biến thành quá trình tự ĐT một cách tích cực, tự giác thì việc ĐT mới thực sự có kết quả cao Tác giả Hồ Ngọc Đại (Giải pháp

về giáo dục - H, 1991) định nghĩa: "Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống những tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ của người lao động nhằm xây dựng nhân cách

cơ bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể tham gia lao động nghề nghiệp trong cuộc sống xã hội"

Tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX07 - 14 quan niệm: "Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả"

Như vậy, có thể hiểu: Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng ban đầu

cùng với những phẩm chất, thái độ cần thiết để người được ĐT có thể hành nghề và trở thành người lao động có năng lực và phẩm chất nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của

xã hội Còn ĐT lại cũng chính là một dạng của ĐT, là quá trình tạo cho người lao

động (đã được đào tạo) có cơ hội được học tập, được ĐT chuyên sâu hay một lĩnh vực chuyên môn mới một cách cơ bản, có hệ thống cả tri thức, kỹ năng, kỹ xảo lẫn thái độ nhằm mục đích có trình độ tay nghề cao hơn hoặc có thể chuyển đổi nghề (hay công việc mới) Đây chính là quá trình hoạt động nhằm phát triển nhân cách một cách hài hoà, toàn diện cho mọi người, giúp họ trở thành người lao động có năng lực

và phẩm chất nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu xã hội

Trang 25

1.2.3 Quản lý đào tạo

Theo thuật ngữ đào tạo (Glossary of training terms) của Bộ Lao động nước Anh: “Đào tạo là phát triển có hệ thống về thái độ/ kiến thức/ kỹ năng/ mẫu hành vi theo yêu cầu cá nhân nhằm thực hiện thích đáng một công việc hay một nghề” Và quan điểm ở Mỹ, J.R Hinrich: “Mọi quy trình tổ chức nhằm bồi dưỡng việc học tập trong số những thành viên của tổ chức theo hướng góp phần nâng cao tính hiệu quả của tổ chức” thì Peter Bramley (trong tác phẩm “Evaluating training effectiveness”)

Hoạt động đào tạo trong trường ĐH, CĐ có đặc trưng nổi bật nhất là quá trình đào tạo Quá trình đào tạo bao gồm các nhân tố chủ yếu sau:

- Phương pháp đào tạo - Điều kiện đào tạo

- Lực tượng đào tạo (Thày-người dạy) - Tổ chức đào tạo

- Đối tượng đào tạo (Trò-người học) - Môi trường đào tạo

Các yếu tố này hoạt động trong mối quan hệ tương tác với nhau, đảm bảo cho quá trình đào tạo diễn ra hài hoà, cân đối và toàn vẹn

Trong đó ba nhân tố mục tiêu ĐT, nội dung ĐT, phương pháp ĐT liên kết chặt chẽ với nhau, quy định nhau và hỗ trợ nhau Chúng có mối quan hệ với mục tiêu phát triển KT-XH, trạng thái tiến bộ về văn hoá khoa học của đất nước Chúng tạo ra cái

Trang 26

cốt lõi của quá trình ĐT Còn các nhân tố khác là các lực lượng vật chất, để hiện thực hoá được mục tiêu ĐT, tái tạo, sáng tạo nội dung ĐT và phương pháp ĐT

Chính vì vậy có thể hiểu quản lý đào tạo là quá trình tổ chức điều khiển, kiểm tra, đánh giá các hoạt động đào tạo của toàn bộ hệ thống theo kế hoạch và chương trình nhất định nhằm đạt được mục tiêu của toàn bộ hệ thống

1.3 LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.3.1 Mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp quản lý đào tạo

1.3.1.1 Mục tiêu quản lý đào tạo

Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quản lý hay các thành tố của nó Nói một cách khác, mục tiêu quản lý là những kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt được do quá trình vận động của đối tượng quản

lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý

Mục tiêu quản lý ĐT là chất lượng ĐT toàn diện người học với các tiêu chuẩn

về chính trị, tư tưởng- đạo đức, văn hoá-khoa học, kỹ thuật-công nghệ, kỹ năng hành nghề và thể chất được quy định trong mục tiêu đào tạo Chất lượng đó là kết quả tổng hợp nhiều hoạt động của quá trình đào tạo và của các hoạt động đảm bảo cho quá trình đó

Mục tiêu đào tạo trình độ Cao đẳng là:

-“Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân; có khả năng tự học, kỹ năng giao tiếp và làm việc theo nhóm; có sức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

-“Đào tạo người học có kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng thực hành

cơ bản, có thái độ và đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, chú trọng rèn luyện kỹ năng và năng lực thực hiện công tác chuyên môn, có khả năng tìm kiếm và tham gia sáng tạo việc làm”

Theo thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT, ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ

Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường Cao đẳng (Điều 15)

Như vậy, mục tiêu ĐT trình độ Cao đẳng nhằm tạo ra nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tưng xứng với trình độ ĐT Cao đẳng; có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã

Trang 27

hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.3.1.2 Nguyên tắc quản lý đào tạo

Quản lý ĐT phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc quản lý giáo dục nói chung và

áp dụng các nguyên tắc đó vào quản lý ĐT ở phạm vi trong một nhà trường, các nguyên tắc đó bao gồm:

- Nguyên tắc tập trung dân chủ

Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở khách quan là bản chất chính trị của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân

Trong phạm vi nhà trường, nguyên tắc này đòi hỏi một mặt phải tăng cường quản lý tập trung (Khi quyết định những vấn đề trọng yếu), thống nhất của người lãnh đạo quản lý; mặt khác phải phát huy, mở rộng tối đa quyền chủ động của các đơn vị,

cá nhân, đảm bảo sự phù hợp của các quy định chung với các điều kiện cụ thể ở trong nhà trường

- Nguyên tắc kết hợp nhà nước và xã hội

Nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong quản lý giáo dục, nó đòi hỏi phải kết hợp việc quản lý giáo dục mang tính chất nhà nước với việc quản lý giáo dục mang tính xã hội, phải lôi cuốn được xã hội, các tổ chức đoàn thể xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp quản lý giáo dục nói chung và quản lý ĐT nói riêng trên cơ sở cơ chế giáo dục phù hợp

- Nguyên tắc tính khoa học

Quản lý ĐT phải được xây dựng trên cơ sở khoa học, đặc biệt là lý luận khoa học quản lý, vận dụng những thành tựu của nhiều khoa học khác nhau như tâm lý

Trang 28

học, giáo dục học, điều khiển học, tổ chức lao động khoa học Nguyên tắc này đòi hỏi trong quản lý quá trình ĐT phải bảo đảm tính hệ thống và tính tổng hợp

- Nguyên tắc đảm bảo tính cụ thể, thiết thực và hiệu quả

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình quản lý ĐT, chủ thể quản lý phải nắm thông tin chính xác, cụ thể, kịp thời đề ra các biện pháp xử lý, giải quyết phù hợp, thiết thực các tình huống phát sinh trong quá trình quản lý

- Nguyên tắc trách nhiệm và phân công trách nhiệm

Trách nhiệm thể hiện ở sự thống nhất giữa hai mặt: mặt tích cực, ý thức trách nhiệm của chủ thể quản lý; mặt tiêu cực là khi buộc phải áp dụng các chế tài đối với người vi phạm pháp luật nhà nước Trách nhiệm hình thành trên cơ sở của sự tác động qua lại giữa ba thành tố:

+ ý thức về nghĩa vụ được quy định trong các quy phạm đạo đức và pháp luật + Sự đánh giá hành vi bao gồm sự tự đánh giá của chủ thể và sự đánh giá của các cấp có thẩm quyền theo tiêu chuẩn pháp lý, đạo đức

+ Sự áp dụng các chế tài đối với những hành vi lệch lạc

Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi người phải trả lời được các câu hỏi: Công việc mình phải làm là gì? Giới hạn hành động và quyền hành của mình là gì? Phải thuộc quyền ai?

Phân công trách nhiệm là tổ chức sự uỷ quyền, cho phép tự chủ trong hành động

và quyết định Phân công trách nhiệm không làm giảm bớt trách nhiệm của người đứng đầu Phân công trách nhiệm đòi hỏi phải tổ chức sự phối hợp và kết hợp chặt chẽ

1.3.1.3 Phương pháp quản lý đào tạo

Quản lý ĐT nói chung và quản lý ĐT ở trường Cao đẳng nói riêng sử dụng hợp lý và có hiệu quả các phương pháp cơ bản như:

Trang 29

- Phương pháp hành chính- tổ chức

Phương pháp hành chính-tổ chức là phương pháp có tính pháp lệnh, bắt buộc

và có tính kế hoạch rõ ràng, là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh

- Phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động trực tiếp hoặc gián tiếp (vào đối tượng quản lý) đến thái độ, nhận thức và hành vi nhằm tạo ra hiệu quả hoạt động của tổ chức, của các cá nhân

- Phương pháp tâm lý-xã hội

Phương pháp tâm lý-xã hội là cách thức tạo ra những tác động vào đối tượng quản lý bằng các biện pháp lôgic và tâm lý xã hội, nhằm biến những yêu cầu do người lãnh đạo, quản lý đề ra thành nhu cầu tự giác bên trong của người thực hiện

1.3.2 Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

1.3.2.1 Học chế tín chỉ và đào tạo theo HCTC

* Thế giới hiện đại luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục Đại học, nơi sinh viên tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua các chương trình học được sắp xếp

có hệ thống Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi SV có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác

mà không gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, các nhà giáo dục, khoa học, chuyên môn và quản lý nhà nước lẫn giáo dục Đại học đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để SV có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt Với mục đích đó, một hệ thống được gọi là „hệ thống chuyên đổi tín chỉ' được xây dựng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới

Việc chuyển đổi ĐT theo HTTC là xu hướng của đổi mới giáo dục Đại học tiên tiến Người học với vai trò trung tâm của mình hoàn toàn chủ động việc học,

Trang 30

người dạy cần phải nâng cao năng lực chuyên môn theo phổ rộng để đáp ứng việc khối lượng kiến thức ngày càng phong phú khi lên lớp Quan trọng hơn cả là cách làm này sẽ đem lại hiệu quả tích cực, đó là nâng cao chất lượng ĐT nguồn nhân lực

* Đào tạo theo HCTC là một hình thức ĐT hướng đến tính năng động và quyền lợi của người học, được cụ thể hóa bằng quy chế 43 của Bộ GD-ĐT và Thông

tư Số: 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 12 năm 2012 “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế ĐT Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo HCTC ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo” triển khai ở một số trường ĐH trong thời gian gần đây Hiện nay đã có nhiều trường trường áp dụng việc ĐT theo HCTC Việc chuyển đổi này là một bước chuyển quan trọng và mang tính tất yếu trong ĐT Cao đẳng, Đại học, phù hợp xu thế hội nhập khu vực và quốc tế

Việc áp dụng hệ thống ĐT theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy người học làm trung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo dựng kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của thị trường lao động ngoài xã hội Nó cho phép người học chọn trong số những môn học được thiết kế trong chương trình, nhiều trong số những môn học đó có thể thay thế được với nhau

và có tác dụng tương đồng

Trong phương thức ĐT theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của SV được coi trọng được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình Đây là phương thức giúp người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do vậy phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Bên cạnh đó, chương trình của phương thức ĐT theo tín chỉ rất mềm dẻo và linh hoạt Chương trình được thiết kế theo phương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệ thống những môn học thuộc khối kiến thức chung, những môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc khối kiến thức cận chuyên ngành Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn học lớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; SV có thể tham khảo

GV hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình Ngoài ra, trong phương thức đào tạo theo tín chỉ SV được cấp bằng khi đã tích lũy

Trang 31

được đầy đủ số lượng tín chỉ do nhà trường quy định, do vậy họ có thể hoàn thành những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và điều kiện của bản thân…

Đào tạo theo HCTC có những đặc điểm cơ bản sau:

1 Kiến thức được cấu trúc từng học phần Quá tình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng học phần;

2 Đào tạo theo HCTC mềm dẻo, có tính liên thông, tức là đảm bảo kết nối các môn học theo các phương pháp được thừa nhận, còn có phần tự chọn để sinh viên có điều kiện tích lũy thêm tín chỉ và định hướng chuyên môn nghề nghiệp cho bản thân;

3 Sinh viên chủ động xây dựng chương trình và kế hoạch học tập theo điều kiện cá nhân của mình;

7 Không thi tốt nghiệp, có thể không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp với các chương trình Cao đẳng và Đại học…

Từ những đặc điểm cơ bản, ĐT theo HCTC cho thấy:

- Có hiệu quả cao: HCTC cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích lũy kiến thức và kỹ năng của SV để dẫn đến văn bằng, SV được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, tính liên thông giữa các cấp ĐT và giữa các ngành ĐT khác nhau, khuyến khích SV từ nhiều nguồn khác nhau có thẻ tham gia học một cách thuận lợi;

- Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao: Với HCTC, sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau đựa theo những quy định chung về

cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức, SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu, các trường Đại học có thể mở thêm các ngành học mới một cách dẽ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của SV

Trang 32

- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành ĐT: Có thể tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra SV có thể học các môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách

tổ chức như vậy cho phép sử dụng được đội ngũ GV giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học, ngành học…

1.3.2.2 Những quy định trong tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ

Tổ chức đào tạo theo HCTC được quy định tại Quy chế 43 và Thông tư 57 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung cơ bản như sau:

a Học phần và Tín chỉ

- Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ Kiến thức trong mỗi học phần gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học Từng học phần được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn

+ Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc SV phải tích lũy;

+ Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng SV được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số tín chỉ qui định cho mỗi chương trình

- Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên:

+ Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành,

thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp

+ Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân

+ Nhà trường có quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần

“Tín chỉ học tập” trong hình thức ĐT theo tín chỉ được xem là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một SV bình thường để học một môn học cụ thể, bao

Trang 33

gồm thời gian lên lớp; thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài Đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì

15 tuần; đối với các môn học ở phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần “Tín chỉ” là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: Học tập trên lớp; Học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của GV); và Tự học ngoài giờ lên lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của SV trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu

chuẩn Trên cơ sở đó, dạy - học theo tín chỉ được tổ chức bằng ba hình thức: lên lớp,

thực hành, và tự học Trong ba hình thức tổ chức dạy - học này, hai hình thức đầu được

tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV (GV giảng bài, hướng dẫn, SV nghe giảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, v.v.), hình thức thứ ba không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV (GV giao nội dung để SV tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành) Ba hình thức tổ chức dạy - học này tương ứng với ba kiểu

giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học Trong đó, một

giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50 phút) GV giảng bài và 2 tiết SV tự học, tự nghiên cứu ở nhà; một giờ tín chỉ thực hành bao gồm 2 tiết GV hướng dẫn, điều khiển và giúp

đỡ SV thực hành, thực tập và và 1 tiết SV tự học, tự chuẩn bị; và một giờ tín chỉ tự học bao gồm 3 tiết SV tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành theo những nội dung GV giao và những gì SV thấy cần phải nghiên cứu hoặc thực hành thêm (tùy thuộc điều kiện cụ thể) Trong ba hình thức tổ chức dạy - học ấy, cụ thể là trong ba kiểu giờ tín chỉ ấy, lượng kiến thức SV thu được có thể khác nhau nhưng để thuận tiện cho việc tính toán (giờ chuẩn cho GV, kinh phí cho từng môn học, điều kiện phương tiện phục vụ cho dạy

- học, v.v.), ba kiểu giờ tín chỉ này được coi là có giá trị ngang nhau Ngoài ra, khác với phương thức ĐT theo niên chế, phương thức ĐT theo tín chỉ xem tự học như là một thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của SV, cụ thể: Ngoài việc nghe giảng và

Trang 34

thực hành trên lớp, SV được giao những nội dung để tự học, tự thực hành, tự nghiên cứu; những nội dung này được đưa vào thời khóa biểu để phục vụ cho công tác quản lí

và quan trọng hơn, chúng phải được đưa vào nội dung các bài kiểm tra thường xuyên

và bài thi hết môn học

b Thời gian và kế hoạch đào tạo

- HCTC tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ:

+ Khoá học là thời gian thiết kế để SV hoàn thành một chương trình cụ thể Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề

ĐT đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo

+ Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu trưởng xem xét quyết định tổ chức thêm một kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc học vượt Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi

+ Thời gian và kế hoạch đào tạo được công bố cho cán bộ và sinh viên vào đầu năm học

- Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bao gồm: thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại khoản 1 của điều này, cộng với 4 học kỳ

Đối với những trường hợp đặc biệt, Hiệu trưởng có thể quy định thêm thời gian tối đa cho mỗi chương trình, nhưng không vượt quá hai lần so với thời gian thiết

kế cho chương trình đó

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh Đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình

- Thời gian hoạt động giảng dạy theo HCTC được tính từ 7 giờ đến 20 giờ hằng ngày

Tuỳ theo số lượng SV, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của

cơ sở ĐT, Phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp

Trang 35

c Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của SV được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

- Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký);

- Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần (theo thang điểm 4) mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là

số tín chỉ tương ứng của từng học phần;

- Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được tích lũy (đạt điểm A, B, C, D theo thang điểm chữ) tính từ đầu khóa học;

- Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình theo thang điểm 4 của các học phần đã được tích lũy (đạt điểm A, B, C, D theo thang điểm chữ) tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ

d Công nhận tốt nghiệp

Sinh viên được xét và công nhận tốt nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

- Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

- Tích lũy đủ số học phần và khối lượng của chương trình đào tạo được quy định tại Điều 2 của Quy chế này;

- Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

- Thỏa mãn một số yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần thuộc ngành đào tạo chính và các điều kiện khác do Hiệu trưởng quy định;

- Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng - an ninh đối với các ngành đào tạo không chuyên về quân sự và hoàn thành học phần giáo dục thể chất đối với các ngành không chuyên về thể dục - thể thao;

- Có đơn gửi nhà trường đề nghị được xét tốt nghiệp trong trường hợp đủ điều

kiện tốt nghiệp sớm hoặc muộn so với thời gian thiết kế của khoá học

Ngoài ra, nếu SV học cùng lúc hai chương trình thì chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất

Trang 36

1.3.2.3 Nội dung tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC

Nội dung của tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC với tư cách là một hệ thống khá phức tạp và hoàn chỉnh Trong phạm vi của đề tài chỉ đề cập đến các nội dung chủ yếu sau:

a Xác định mục tiêu đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo

- Mục tiêu đào tạo là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình đào tạo Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là ngựời SV tốt nghiệp với nhân cách đã được thay đổi, cải biến thông qua quá trình đào tạo Mục tiêu đào tạo là căn

cứ để soạn thảo và triển khai chương trình đào tạo, đồng thời là cơ sở để lập kế hoạch thực hiện và đánh giá Mục tiêu đào tạo là chuẩn mực để đánh giá kết quả hoạt động đào tạo Mục tiêu đào tạo tác động đến tất cả các đối tượng, các nhân tố của quá trình đào tạo

- Xác định cơ cấu ngành nghề đào tạo: Đối với các trường CĐ, khi thành lập đều đăng ký đào tạo một số nghề hoặc nhóm nghề Công tác quản lý đào tạo căn cứ các điều kiện đảm bảo và phục vụ quá trình đào tạo của từng cơ sở, đồng thời căn cứ tình hình phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhất định để xác định và xây dựng số lượng và cơ cấu các nghề đào tạo của cơ sở Trong một trường CĐ, cơ cấu nghề đào tạo còn thể hiện ở quy mô số lượng SV đào tạo ở mỗi chuyên ngành

b Xây dựng, phát triển chương trình đào tạo theo HCTC

Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo Bản thiết kế đó cho biết mục tiêu ; phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung ; các phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo ; cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất cả được sắp xếp theo một tiến tình và thời gian biểu chặt chẽ

Chương trình đào tạo có các kiểu cấu trúc:

- Chương trình được cấu trúc theo hệ thống các môn học

- Chương trình được cấu trúc theo hệ thống các chủ đề rộng của kiến thức tích hợp hay hệ thống các học phần

- Chương trình được cấu trúc theo hệ thống các môn học lý thuyết kết hợp với các môđun thực hành

- Chương trình được cấu trúc theo hệ thống các môđun tích hợp

Trang 37

Phát triển chương trình là việc xem xét, vận dụng trong việc xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình ĐT, đặc biệt là trong ĐT theo HCTC Việc phân tích ngành nghề ĐT trong xây dựng chương trình ĐT hiện nay được thực hiện theo phương pháp Dacum kết hợp với phương pháp chuyên gia Người quản lý, người xây dựng chương trình ĐT, GV thường phải luôn tự đánh giá chương trình ĐT ở mọi khâu qua mỗi buổi học, mỗi năm, mỗi khoá học, để rồi vào năm học mới, khoá học mới, kết hợp với khâu phân tích tình hình, điều kiện mới sẽ lại hoàn thiện hoặc xây dựng lại mục tiêu ĐT Dựa trên mục tiêu ĐT mới, tình hình mới thiết kế lại hoặc hoàn chỉnh hơn chương trình đào tạo Cứ như vậy chương trình ĐT sẽ liên tục được hoàn thiện và phát triển không ngừng cùng với quá trình ĐT

c Củng cố và phát triển đội ngũ, đặc biệt là đội ngũ giảng viên

Điều 15 Luật Giáo dục khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” Kết luận của Hội nghị BCH Trung ương 6- khoá IX

về việc thực hiện Nghị quyết BCH Trung ương 2- khoá VIII về GD-ĐT đã nâng nhận thức về vai trò của đội ngũ GV lên một bước mới: Đội ngũ GV và cán bộ quản lý là nòng cốt trong việc phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và thực hiện công bằng xã hội Điều đó có nghĩa là đội ngũ GV không chỉ quyết định đảm bảo chất lượng mà còn là nòng cốt trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục Vì vậy, các giải pháp quản

lý ĐT đều phải đề cập đến xây dựng và phát triển đội ngũ

d Quản lý hoạt động dạy và học theo HCTC

- Quản lý hoạt động giảng dạy của GV thực chất là quản lý việc thực hiện các

nhiệm vụ của đội ngũ GV và của từng GV

GV trong các trường Cao đẳng có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục SV, đồng thời

họ phải học tập, rèn luyện, bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục của mình

Trong nhà trường, hoạt động giảng dạy là một trong hai hoạt động trọng tâm, đồng thời là hoạt động chuyên môn quan trọng nhất do đội ngũ GV thực hiện Công tác giảng dạy chính là tổ chức quá trình nhận thức của SV, vì vậy chất lượng giảng dạy là yếu tố quyết định chất lượng nhận thức của SV, quyết định chất lượng ĐT của nhà trường

- Quản lý hoạt động học tập của SV là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện của SV trong quá trình đào tạo

Trang 38

Qua hoạt động học tập, SV lĩnh hội tri thức khoa học, lý luận nghề nghiệp, rèn luyện kỹ năng nghề Vì vậy, công tác quản lý hoạt động học tập của SV có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng ĐT

e Quản lý xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật trường học

Chất lượng ĐT, đặc biệt là chất lượng kỹ năng nghề phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy có vai trò hết sức quan trọng Trang thiết bị giảng dạy là một trong những yếu tố quyết định hình thành kỹ năng thực hành nghề, có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành và phát triển kỹ năng,

kỹ xảo nghề nghiệp của người học

Cơ sở vật chất trong nhà trường thường có giá trị và chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của nhà trường Việc quản lý, sử dụng, khai thác, đầu tư cơ sở vật chất của nhà trường phục vụ ĐT là rất quan trọng và cần thiết, vì đó là một trong những yếu tố trực tiếp quyết định đến chất lượng ĐT của nhà trường - đặc biệt là đào tạo theo HCTC

Hiện nay cơ sở vật chất, đặc biệt là các trang thiết bị tiên tiến, hiện đại là rất cần thiết cho dạy - học nhưng cũng rất đắt và luôn thay đổi theo thị trường sản xuất kinh doanh; vì vậy việc đầu tư, trang bị cũng cần được xem xét, cân nhắc, tính toán phù hợp với sự phát triển bền vững của ngành nghề, từng lĩnh vực Vấn đề quan trọng của công tác quản lý là làm sao vừa quản lý tốt và vừa sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng ĐT của nhà trường

f Đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo

Chất lượng là sự tồn tại và sống còn của các cơ sở ĐT trong cơ chế thị trường

Có nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau về chất lượng ĐT, có ý kiến cho rằng chất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về chất và là

sự phù hợp với mục tiêu Chất lượng trong giáo dục và trong ĐT là vấn đề trừu tượng, phức tạp và là khái niệm đa chiều, khó trực tiếp đo đếm và cảm nhận được Tuy nhiên, đánh giá và kiểm định chất lượng có thể thông qua các yếu tố gián tiếp và

ít trừu tượng hơn như thông qua chương trình ĐT, tỷ lệ SV tốt nghiệp tìm được việc làm, cơ sở hạ tầng, môi trường Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng, song qua tìm hiểu những quan niệm khác nhau về chất lượng trong các lĩnh vực có thể chọn cách tiếp cận theo quan điểm quản lý chất lượng: Chất lượng ĐT được coi là sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

Trang 39

Kiểm định chất lượng là một hệ thống tổ chức và giải pháp để đánh giá các chương trình đào tạo các cơ sở ĐT và công nhận các chương trình ĐT, các cơ sở ĐT

đã đạt chuẩn được quy định Mục đích cơ bản của việc kiểm định chất lượng ĐT là:

+ Xác minh và bảo đảm cho người sử dụng lao động, người học và cho xã hội

về chất lượng ĐT của nhà trường

+ Hỗ trợ các cơ sở ĐT luôn luôn cải tiến, phấn đấu để trở thành cơ sở ĐT chất lượng cao, ĐT có chất lượng

Như vậy, việc đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo là hết sức quan trọng

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Chất lượng giáo dục nói chung và ĐT nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan Khi ĐT theo HCTC phải chịu ảnh hưởng của một số yếu tố cơ bản Có thể phân các yếu tố bên trong và bên ngoài để xem xét như sau:

1.4.1 Các yếu tố bên trong (yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo)

Đào tạo chịu ảnh hưởng trước tiên là của các nhân tố bên trong của chính quá trình đào tạo bao gồm: hệ thống cơ sở ĐT; cơ sở vật chất, tài chính cho ĐT; đội ngũ

GV, học viên; chương trình, giáo trình ĐT; hệ thống mục tiêu; tuyển sinh; kiểm tra đánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ…, những yếu tố này được coi là những yếu tố đảm bảo chất lượng ĐT Chúng ta xét một số yếu tố chính như sau:

- Mục tiêu đào tạo:

Hệ thống mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia; mục tiêu trường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễn chung của đất nước và xu thế thời đại Các mục tiêu ĐT càng sát thực, càng khả thi thì tổ chức

ĐT và chất lượng ĐT càng được nâng cao Do đó, khi xây dựng mục tiêu ĐT cần phải có sự khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng yếu tố

- Chương trình, giáo trình đào tạo:

Chương trình ĐT là điều kiện không thể thiếu trong quản lý nhà nước các cấp, các ngành đối với hoạt động của các trường Đại học và Cao đẳng Chương trình ĐT phù hợp được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quan

Trang 40

trọng, quyết định chất lượng ĐT Không có chương trình ĐT sẽ không có các căn cứ

để xem xét, đánh giá bậc ĐT của các đối tượng tham gia ĐT và việc tổ chức ĐT sẽ diễn ra tự phát không theo một tiêu chuẩn thống nhất

Chương trình ĐT bao gồm phần lý thuyết, phần thực hành và tự học tương ứng với mỗi ngành nghề thì tỷ lệ phân chia giữa hai phần này là khác nhau về lượng nội dung cũng như thời gian học

Với giáo trình cũng tương tự, giáo trình là những quy định cụ thể hơn của chương trình về từng môn cụ thể trong ĐT Nội dung giáo trình phải tiên tiến, phải thường xuyên được cập nhật kiến thức mới thì việc ĐT mới sát thực tế và hiệu quả

ĐT mới cao

Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý và sát với nhu cầu ĐT cũng như sát với chuyên ngành ĐT để học viên có thể nắm vững được yêu cầu sau khi tốt nghiệp là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng ĐT

Trên đây là các yếu tố cơ bản bên trong của quá trình tổ chức đào Chất lượng của các yếu tố này sẽ tác động quyết định tới chất lượng ĐT theo HCTC

Tuy nhiên, hệ thống ĐT vận hành trong môi trường văn hoá, chính trị, xã hội

… nhất định và cũng chịu sự tác động qua lại của điều kiện môi trường

- Cơ sở vật chất, tài chính:

Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thực tập sản xuất, thư viện - học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập như máy chiếu, máy tính, mô hình, tranh ảnh… Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến tổ chức ĐT Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quá trình ĐT Nó giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện kỹ năng Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho ĐT càng tốt, càng hiện đại, theo sát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì người học viên càng có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sở vật chất trang thiết

bị cho ĐT đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ đổi mới của máy móc, công nghệ mới

Tài chính cho tổ chức ĐT cũng là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo chất lượng ĐT, nó tác động gián tiếp tới chất lượng ĐT thông qua khả năng trang bị về cơ sở

Ngày đăng: 25/03/2021, 10:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w