1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật chương dòng điện xoay chiều vật lý 12 cơ bản

110 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG CỦA VẬT LÝ TRONG KỸ THUẬT, NHẰM GÓP PHẦN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN VĂN LUYÊN

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA

VỀ ỨNG DỤNG CỦA VẬT LÝ TRONG KỸ THUẬT

CHƯƠNG “DÕNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”

VẬT LÝ 12 CƠ BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN VĂN LUYÊN

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA

VỀ ỨNG DỤNG CỦA VẬT LÝ TRONG KỸ THUẬT

CHƯƠNG “DÕNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”

VẬT LÝ 12 CƠ BẢN

Chuyên ngành: LL&PP DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÝ

Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG VIỆT

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn: Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của vật lý trong

kỹ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản đƣợc thực hiện từ

tháng 8 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014

Tôi xin cam đoan:

Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin

đã đƣợc chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý và đƣa vào luận văn đúng quy định

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và

chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014

Tác giả

Trần Văn Luyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý Thầy, Cô giáo khoa Vật lý trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quý Thầy, Cô giáo tổ Vật

lý trường THPT Mạc Đĩnh Chi, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Việt, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp cao học Vật lý K20 đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014

Tác giả

Trần Văn Luyên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ v

DANH MỤC CÁC HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Dự kiến đóng góp của đề tài 4

9 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG CỦA VẬT LÝ TRONG KỸ THUẬT, NHẰM GÓP PHẦN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH THPT 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Mục tiêu dạy học môn vật lí ở trường THPT 6

1.1.2 Hoạt động ngoại khóa 8

1.1.3 Dạy học các ứng dụng kĩ thuật 14

1.1.4 Tính tích cực của học sinh 19

1.1.5 Chất lượng kiến thức 24

1.1.6 Xây dựng tiêu chí đánh giá tính tích cực và chất lượng kiến thức của học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa 26

Trang 6

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng

cao chất lượng kiến thức cho học sinh tại địa bàn nghiên cứu thực trạng 28

Chương 2 XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG CỦA VẬT LÝ TRONG KĨ THUẬT, CHƯƠNG “DÕNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÝ 12 CƠ BẢN, NHẰM GÓP PHẦN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH 32

2.1 Xây dựng tiến trình HĐNK về ứng dụng của Vật lý trong kĩ thuật, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh 32

2.2 Nghiên cứu nội dung chương trình, sách giáo khoa và xây dựng sơ đồ cấu trúc logic nội dung chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản 37

2.2.1 Chuẩn kiến thức kỹ năng 37

2.2.2 Xây dựng sơ đồ cấu trúc logic nội dung chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản (hình 2.2) 39

2.3 Xây dựng tiến trình hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của Vật lý trong kĩ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh 40

2.3.1 Lựa chọn chủ đề HĐNK 40

2.3.2 Lập kế hoạch HĐNK 40

2.3.3 Hướng dẫn HS tiến hành HĐNK 48

2.3.4 Tổng kết đánh giá 57

2.3.5 Soạn thảo công cụ đánh giá HĐNK 57

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66

3.1 Mục đích thực nghiệm 66

3.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 66

3.3 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 66

3.3.1 Công tác chuẩn bị 66

3.3.2 Lập kế hoạch thực nghiệm sư phạm 66

Trang 7

3.4 Phân tích diễn biến và đánh giá kết quả thực nghiệm sƣ phạm 66

3.4.1 Phân tích diễn biến quá trình tổ chức HĐNK 66

3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm sƣ phạm 81

3.4.2.1 Đánh giá định tính 81

3.4.2.2 Đánh giá định lƣợng 82

3.4.3 Đánh giá chung 84

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 8

ƢDKT Ứng dụng kĩ thuật

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá quá trình hoạt động của nhóm 59

Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá quá trình thuyết trình 60

Bảng 2.3: Tiêu chí đánh giá bài báo cáo của chuyên gia lí thuyết 61

Bảng 2.4: Tiêu chí đánh giá bài báo cáo của chuyên gia kĩ thuật 62

Bảng 2.5: Tiêu chí đánh giá báo tường 63

Bảng 2.6: Tiêu chí đánh giá sản phẩm ƯDKT 64

Bảng 2.7: Tiêu chí đánh giá bài thu hoạch 64

Bảng 3.1: Mẫu danh sách nhóm 69

Bảng 3.2: Mẫu phiếu đánh giá quá trình hoạt động nhóm 70

Bảng 3.3: Mẫu phiếu đánh giá các nhóm khác 70

Bảng 3.4: Điểm đánh giá đợt HĐNK 83

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tiền trình HĐNK về ƯDKT nhằm phát huy TTC và nâng cao CLKT 33

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ cấu trúc logic nội dung chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 THPT 39

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Một số hình ảnh dùng để hướng dẫn HS lựa chọn chủ đề HĐNK 67

Hình 3.2: HS thảo luận về nội dung, hình thức HĐNK 69

Hình 3.3: Kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H 70

Hình 3.4: Các nhóm lập sơ đồ tư duy 71

Hình 3.5 Hoạt động tìm kiếm và tổng hợp kiến thức 73

Hình 3.6: HS tìm kiếm vật liệu, chế tạo sản phẩm 76

Hình 3.7: Các nhóm thuyết trình và thảo luận về sản phẩm kĩ thuật 79

Hình 3.8: Hình ảnh về “hội thi vật lí” 80

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế dẫn đến những đòi hỏi ngày

càng cao của đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn

đề phức hợp trong những tình huống thay đổi

Giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc đào tạo con người Vì vậy đòi hỏi ngành giáo dục cần đổi mới một cách toàn diện, sao cho HS phải tích cực,

tự lực để chiếm lĩnh tri thức, từ đó phát triển năng lực sáng tạo, hình thành kỹ

năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”

chính là quan điểm xuyên suốt của việc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông hiện nay

Nghị quyết Trung ương 2, khoá VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ

phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học,

tự nghiên cứu cho học sinh,…” 10

Điều 28 Luật Giáo dục cũng quy định: “Phương pháp giáo dục phổ

thông phải biết phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kỹ thuật vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho mọi học sinh” 21

Thực tế cho thấy, dạy học nội khoá vẫn còn rất nặng nề về trang bị kiến thức lí thuyết Thời gian để học sinh thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn là quá ít so với kiến thức học sinh đã được học Do vậy, để đạt được mục tiêu đã đề ra của nền giáo dục, cần phải đa dạng hoá các hình thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh, trong đó có hoạt động ngoại khóa

Trang 11

Hoạt động ngoại khóa là một hình thức dạy học thuộc hệ thống các hình thức dạy học ở trường phổ thông hiện nay Hoạt động ngoại khóa nói chung, ngoại khóa vật lí nói riêng hỗ trợ cho học nội khóa trong việc củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế đời sống,

kỹ thuật, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Những kiến thức HS thu được khi tham gia các hoạt động ngoại khóa thường sâu sắc và có tính bền vững, sản phẩm HS làm ra mang nhiều ý nghĩa thực tiễn

Vật lý là môn khoa học thực nghiệm và có rất nhiều ứng dụng trong thực

tế nên một trong những khâu quan trọng trong dạy học vật lý là tăng cường các

hoạt động thực nghiệm, cùng với tổ chức các hoạt động ngoại khóa

Trong chương trình vật lí 12, chương “Dòng điện xoay chiều” có rất nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khoa học, đời sống và sản xuất như: Ứng dụng của mạch điện xoay chiều, máy phát điện xoay chiều, máy biến áp, động

cơ điện xoay chiều… Theo phân phối chương trình, chương này dạy trong 14 tiết Với khoảng thời gian này HS hầu như không có nhiều thời gian để tự nghiên cứu tìm tòi, đặc biệt là vấn đề ứng dụng kỹ thuật

Về vấn đề tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học sinh trong dạy học vật lí

ở trường THPT đã có một số đề tài nghiên cứu: “Phương pháp tổ chức hoạt

động ngoại khóa vật lí”, Nguyễn Quang Đông, đề tài nghiên cứu khoa học, Đại

học Thái Nguyên (2006) Đề tài đã nghiên cứu về đặc điểm, hình thức, phương

pháp tổ chức HĐNK một cách khái quát nhất “Nghiên cứu xây dựng và tổ chức

một số chủ đề ngoại khoá phần Điện học lớp 12 (THPT) nhằm góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh”, Trương Đức Cường, Luận văn Thạc sỹ

khoa học giáo dục, Đại học Thái Nguyên(2007) ; “Nghiên cứu tổ chức hoạt

động ngoại khóa phần “Quang học” với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh THPT”, Mai Thị Vân Hải, Luận văn Thạc sỹ

khoa học giáo dục, Đại học Thái Nguyên (2008); “Nghiên cứu việc tổ chức hoạt

động ngoại khoá về “Dòng điện không đổi” Vật lý lớp 11 (THPT) nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh”, Nguyễn Văn

Hào, Luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục, Đại học Thái Nguyên (2010)

Trang 12

Chúng tôi nhận thấy cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn

đề Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật chương

“Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản, tại địa bàn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Tổ chức hoạt động ngoại

khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng tiến trình hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của VL trong kỹ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản đáp ứng mục tiêu dạy học môn VL, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh THPT

3 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của VL trong kỹ thuật ở trường

phổ thông

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức các hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của VL trong kĩ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản đáp ứng mục tiêu dạy học môn

VL như tiến trình mà mục đích nghiên cứu đã nêu, thì có thể sẽ góp phần phát huy

tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cần phải thực hiện nhiệm vụ sau:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận

- Mục tiêu dạy học môn vật lí ở trường THPT

- Hoạt động ngoại khóa

- Dạy học các ứng dụng kĩ thuật

- Tính tích cực của học sinh

- Chất lượng kiến thức

Trang 13

5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn việc tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật tại một số trường THPT thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

5.3 Xây dựng tiến trình hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh THPT

5.4 Nghiên cứu nội dung chương trình, sách giáo khoa và xây dựng sơ

đồ cấu trúc logic nội dung chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản

5.5 Xây dựng tiến trình hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của Vật lý trong

kỹ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh THPT

5.6 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học

mà đề tài đã đặt ra

6 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung chương trình: Chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản

- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT tại huyện Nam Sách - tỉnh Hải Dương

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra

7.2.2 Phương pháp quan sát

7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8 Dự kiến đóng góp của đề tài

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận việc tổ chức hoạt động ngoại khóa

về ứng dụng của Vật lý trong kỹ thuật ở trường phổ thông, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh THPT

Trang 14

- Xây dựng được tiến trình hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản, nhằm góp phần

phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh THPT

- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên vật lý và sinh viên các trường sư phạm

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm

ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động ngoại

khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh

Chương 2: Xây dựng tiến trình hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của

vật lý trong kĩ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 cơ bản, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG CỦA VẬT LÝ TRONG KỸ THUẬT, NHẰM GÓP PHẦN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH THPT

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Mục tiêu dạy học môn vật lí ở trường THPT

1.1.1.1 Mục tiêu của giáo dục phổ thông

Theo luật giáo dục năm 2005, “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp

học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [21]

1.1.1.2 Mục tiêu dạy học vật lí ở trường phổ thông

Mục tiêu tổng quát của dạy học vật lí ở trường phổ thông là góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông Các mục tiêu cụ thể của dạy học

VL ở trường phổ thông (Theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chương trình giáo dục phổ thông) quy định như sau:

b) Các đại lượng, các định luật và nguyên lí VL cơ bản

c) Những nội dung chính của một số thuyết VL quan trọng nhất

d) Những ứng dụng phổ biến của VL trong đời sống và trong sản xuất

Trang 16

e) Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp đặc thù của VL, trước hết là phương pháp thực nghiệm và phương pháp

mô hình

* Về kĩ năng

a) Biết quan sát các hiện tượng và quá trình VL trong tự nhiên, trong đời sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm; biết điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập thông tin cần thiết cho việc học tập môn VL

b) Sử dụng được các dụng cụ đo phổ biến của VL; biết lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm VL đơn giản

c) Biết phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình VL, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra

d) Vận dụng được kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình VL, giải các bài tập VL và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống

b) Có thái độ khách quan, trung thực; có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và có tinh thần hợp tác trong việc học tập môn VL, cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt được

c) Có ý thức vận dụng những hiểu biết VL vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên

Trang 17

d) Có thế giới quan, nhân sinh quan, tư duy khoa học và những phẩm chất năng lực theo mục tiêu của giáo dục phổ thông

1.1.2 Hoạt động ngoại khóa

1.1.2.1 Các đặc điểm của giờ học ngoại khóa

Theo Đặng Vũ Hoạt, hoạt động ngoại khóa nói chung và ngoại khóa VL nói riêng có những đặc điểm cơ bản sau [15]:

- Việc tổ chức ngoại khóa dựa trên tính tự nguyện tham gia của học sinh

có sự hướng dẫn của giáo viên

- Số lượng học sinh tham gia không hạn chế, có thể là theo nhóm nhưng cũng có thể là tập thể đông người

- Có kế hoạch cụ thể về hình thức tổ chức, phương pháp và nội dung ngoại khóa

- Kết quả hoạt động ngoại khóa của học sinh không đánh giá bằng điểm như đánh giá kết quả học tập nội khóa

- Việc đánh giá kết quả của hoạt động ngoại khóa VL thông qua sản phẩm mà học sinh có được, thông qua sự tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình tham gia hoạt động và sự đánh giá này phải công khai, kết quả của học sinh phải được khích lệ kịp thời

- Nội dung và hình thức hoạt động ngoại khóa phải đa dạng, mềm dẻo để lôi cuốn nhiều học sinh tham gia

1.1.2.2 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa

- Hoạt động ngoại khóa có vị trí rất quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Ngoài việc củng cố, bổ sung và hoàn thiện hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ được học sinh lĩnh hội thông qua học các môn văn hóa ở trên lớp thì hoạt động ngoại khoá còn tạo điều kiện cho học sinh vận dụng những điều đã học được vào thực tiễn cuộc sống; rèn luyện các phẩm chất nhân cách và học hỏi thêm nhiều tri thức ngoài sách vở, luyện tập được nhiều kĩ năng, thói quen cần thiết cho cuộc sống

Trang 18

- Hoạt động ngoại khóa là những hoạt động có mục đích giáo dục, tổ chức có kế hoạch, có chương trình, nội dung và phương pháp phù hợp, được thực hiện với vai trò chủ đạo của giáo viên Đó là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lí luận với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở học sinh Ngoại khóa là con đường phát triển toàn diện nhân cách, là điều kiện tốt nhất để học sinh phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động trong quá trình học tập, rèn luyện Nó vừa củng cố, bổ sung, mở rộng kiến thức đã học, vừa phát triển các kỹ năng cơ bản phù hợp với yêu cầu, mục tiêu giáo dục của nhà trường như: kĩ năng giao tiếp, thích ứng, tổ chức cuộc sống, tự quản…

- Hoạt động ngoại khóa là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về văn hóa, khoa học, kỹ thuật, lao động, hoạt động chính trị, xã hội, nhân đạo, hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí…để giúp các em phát triển, hoàn thiện đạo đức, năng lực, sở trường…thực hiện mục tiêu của quá trình sư phạm toàn diện

- Việc tổ chức ngoại khóa sẽ thu hút và phát huy được tiềm năng của các lực lượng giáo dục của xã hội và gia đình để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục toàn diện của nhà trường [18]

1.1.2.3 Tác dụng của hoạt động ngoại khóa

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Khải, tác dụng của hoạt động ngoại khóa

gồm [17]:

a Tác dụng giáo dục

- Ngoại khóa góp phần giáo dục tính tổ chức, tính kế hoạch, tinh thần làm chủ và ý thức hợp tác xã hội chủ nghĩa trên cơ sở những hoạt động thực tế Mặt khác ngoại khóa được thực hiện cơ bản dựa trên sự tự nguyện tự giác của học sinh cộng với sự hỗ trợ động viên thích hợp của thầy (cô) giáo sẽ động viên được học sinh nỗ lực hết mực với khả năng của mình

Trang 19

- Ngoại khóa sẽ làm cho quá trình dạy học bộ môn thêm phong phú, càng nhiều hình, nhiều vẻ càng làm cho việc học tập của học sinh thêm hứng thú sinh động, tạo cho họ lòng hăng say với công việc, đó là một trong những điều kiện để phát triển tài năng Chính ở đây học sinh có thể thử làm, tập dượt phát huy óc sáng tạo, tự tin ở mình có thể dám nghĩ dám làm

b Tác dụng giáo dưỡng

- Ngoại khóa góp phần củng cố, bổ sung kiến thức cho học sinh bởi vì thông qua ngoại khóa, kiến thức học sinh thu được sâu sắc hơn Ở đây học sinh được tự mình nghiên cứu, tự mình tìm hiểu vấn đề và tranh luận với bạn bè trong sự cân nhắc kĩ càng Chính vì thế ngoại khóa góp phần đắc lực trong việc phát triển trí lực và khả năng sáng tạo của học sinh

- Với điều kiện thời gian, ở nội khóa thầy không thể giới thiệu được hết được, mà những phần này nếu được bổ sung bởi ngoại khóa thì học sinh sẽ được mở rộng thêm kiến thức mình thu nhận được dưới nhiều hình thức như nhóm ngoại khóa, hội vui vật lý, báo…

c Tác dụng giáo dục kĩ thuật tổng hợp

Qua hoạt động ngoại khóa, học sinh được rèn luyện một số kỹ năng như:

- Bồi dưỡng kĩ năng làm mộc, nguội, rèn, mắc điện, trang trí, vẽ

- Tập sử dụng những dụng cụ đo lường cơ bản, những máy móc đơn giản

- Tập nghiên cứu một vấn đề, thuyết minh, trình bày…

Trên cơ sở hoạt động ngoại khóa học sinh sẽ nảy nở tình cảm nghề nghiệp, bước đầu có ý thức thiên hướng về nghề nghiệp mà mình sẽ chọn trong tương lai

Ngoài ra ngoại khóa còn giúp giáo viên có thể áp dụng thử các phương pháp dạy học mới…

1.1.2.4 Nội dung, hình thức, quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Khải thì nội dung và hình thức hoạt động ngoại khóa được xác định [17]:

Trang 20

a Nội dung:

Nội dung ngoại khóa vật lí ở trường phổ thông rất đa dạng nhưng có thể chia thành hai nội dung chính: lí thuyết và thực nghiệm Cụ thể đó là các nội dung như:

- Nghiên cứu những kiến thức lí thuyết về vật lí và kĩ thuật

- Nghiên cứu, tìm hiểu những ứng dụng của vật lí trong đời sống, kĩ thuật

- Thiết kế, chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm vật lí

b Hình thức hoạt động

HĐNK vật lí ở trường phổ thông có nhiều hình thức khác nhau, nhưng sự phân chia các hình thức HĐNK chỉ mang tính chất tương đối, tùy thuộc vào số lượng HS tham gia, theo nội dung, theo địa điểm tổ chức,… mà có thể phân ra các hình thức HĐNK vật lí khác nhau Có hai hình thức phổ biến nhất là

HĐNK theo nhóm và HĐNK có tính quần chúng rộng rãi

● Hoạt động ngoại khóa vật lí theo nhóm

Có thể thành lập những nhóm HĐNK vật lí như:

- Nhóm nghiên cứu lí thuyết

Nhóm này chuyên đi sâu việc sưu tầm các tài liệu liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu để giúp HS hiểu bài sâu hơn, nghiên cứu giải thích các hiện tượng mà trong điều kiện hạn hẹp của thời lượng trên lớp mà GV chưa thể giải thích kĩ lưỡng, sưu tầm những bài toán vật lí hay, tìm phương pháp giải hay… Nhóm có thể phụ trách công việc ra báo tường hoặc tập san vật lí của trường

- Nhóm chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí

Để có thể phát huy tính tích cực của học sinh thì việc chế tạo thêm các dụng cụ thí nghiệm là rất cần thiết Do vậy công tác ngoại khóa tổ chức cho HS tham gia chế tạo dụng cụ thí nghiệm là rất phù hợp, vừa giúp HS trực tiếp được tham gia chế tạo dụng cụ, hiểu sâu hơn kiến thức được học, thấy được ứng dụng của kiến thức trong thực tế, khiến các em thấy hứng thú và tích cực hơn trong học tập, đồng thời nâng cao chất lượng kiến thức của HS

Trang 21

- Nhóm vật lí kĩ thuật

Những nhóm ngoại khóa này mang nhiều tính chất chuyên môn hơn nhóm “chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí” nhưng hoạt động của nhóm phải gắn liền hai mặt lí thuyết và thực hành

Để kích thích hứng thú giúp các em trong các nhóm hoạt động tốt hơn, giáo viên nên phối hợp giữa hai nhóm lí thuyết và kỹ thuật với nội dung hợp lý

● Hoạt động ngoại khóa có tính chất quần chúng rộng rãi

Hình thức HĐNK vật lí có tính chất quần chúng rộng rãi làm cho HS thêm yêu thích môn vật lí, kích thích trí tưởng tượng sáng tạo và rèn luyện các phẩm chất cá nhân HĐNK này thu hút nhiều HS tham gia, hình thức này có thể kể đến những hoạt động như: Hội thi vật lí, triển lãm vật lí, báo tường về vật lí…

- Triển lãm về vật lí

Nội dung triển lãm có thể gồm: Dụng cụ, mô hình vật lí mà HS chế tạo được, mẫu vật sưu tầm được, tranh ảnh vật lí… Triển lãm có thể tổ chức kết hợp với hội vui vật lí hoặc tiến hành cùng với bộ môn khác

- Báo tường về vật lí

Hình thức HĐNK này có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy HS sưu tầm, đọc các sách báo hoặc giải các bài toán hay về vật lí Báo tường vật lí có thể ra hàng tháng, hàng học kì Nội dung báo tường được trình bày trên khổ giấy Aohoặc ra tập san, trưng bày ở bản tin chung hoặc phòng truyền thống

c Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa

Theo tác giả Nguyễn Quang Đông, quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa có thể diễn ra theo 04 bước sau [11]:

Trang 22

Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khóa

Căn cứ vào nội dung chương trình, mục tiêu dạy học và tình hình thực tế của dạy học nội khóa bộ môn, đặc điểm của HS và điều kiện của GV cũng như của nhà trường để lựa chọn chủ đề của HĐNK Việc lựa chọn này cần phải rõ ràng để có tác dụng định hướng tâm lí và kích thích sự tích cực, sự sẵn sàng của

HS ngay từ đầu

Bước 2: Lập kế hoạch HĐNK

Khi lập kế hoạch HĐNK thì GV cần phải xác định:

- Xác định mục tiêu của HĐNK gồm các mục tiêu: về kiến thức, về kĩ năng, về phát triển tư duy, về tình cảm, thái độ

- Xác định nội dung HĐNK

- Xác định đối tượng tham gia HĐNK

- Dự kiến hình thức tổ chức HĐNK

- Dự kiến các phương pháp dạy học/kĩ thuật dạy học

- Dự kiến phương tiện dạy học

- Dự kiến những khó khăn sai lầm của HS và hướng dẫn của GV để giúp

đỡ HS giải quyết những khó khăn đó

- Dự kiến thời gian và địa điểm tổ chức

- Dự kiến kinh phí, tài trợ

- Dự kiến những công việc có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các lực lượng giáo dục khác

Bước 3: Tiến hành HĐNK theo kế hoạch

Khi tổ chức HĐNK theo kế hoạch GV cần lưu ý những nội dung sau:

- Luôn theo dõi quá trình HS thực hiện các nhiệm vụ để có thể giúp đỡ kịp thời, động viên, khuyến khích các em, đồng thời phát hiện những vấn đề nảy sinh ngoài dự kiến để điều chỉnh sao cho phù hợp với kế hoạch đã đặt ra

- Đối với những hoạt động có quy mô lớn như lớp, khối thì GV đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển các hoạt động Đồng thời GV cũng phải là người tổ chức cho HS có thể tham gia tranh luận hay bảo vệ ý kiến của mình về những nội dung HĐNK

Trang 23

- Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô nhỏ như tổ, nhóm HS thì cần để cho HS hoàn toàn tự chủ cả về tổ chức và thực hiện nhiệm vụ được giao,

GV chỉ có vai trò hướng dẫn khi HS gặp khó khăn hoặc không xử lí được

Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả, đánh giá, khen thưởng, rút kinh nghiệm

- Sau khi HS hoàn thành các nhiệm vụ được giao, cần tổ chức cho các

em báo cáo nhiệm vụ và giới thiệu sản phẩm của nhóm mình với mọi người

- Đánh giá: Dựa vào cả quá trình diễn ra HĐNK, GV đánh giá kết quả thông qua sự tích cực, sự hứng thú và sản phẩm của quá trình hoạt động

- Khen thưởng

- Rút kinh nghiệm: Sau khi tổ chức HĐNK, GV rút kinh nghiệm, điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp để những HĐNK sau phù hợp và đạt hiệu quả cao hơn

Trên đây là quy trình tổ chức HĐNK Tuy nhiên, tùy thuộc vào nội dung ngoại khóa, yêu cầu giáo dục và hoàn cảnh của từng trường, từng lớp mà có thể vận dụng linh hoạt các bước để hoạt động đạt hiệu quả cao nhất

1.1.3 Dạy học các ứng dụng kĩ thuật

1.1.3.1 Khái niệm ƯDKT và dạy học các ƯDKT

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Việt, các ứng dụng của định luật, nguyên lí, hiện tượng VL… trong kĩ thuật và đời sống (gọi là các ƯDKT) được hiểu là các đối tượng, thiết bị máy móc (hoặc hệ thống các đối tượng thiết bị máy móc) được chế tạo và sử dụng với mục đích nào đó trong kĩ thuật và đời sống mà nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên các định luật, nguyên lí, hiện tượng đó [30]

Ví dụ: MPĐ, các động cơ điện, loa điện động… hoạt động dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ; động cơ nhiệt, máy lạnh,… hoạt động theo các nguyên

lí nhiệt động lực học…

Trang 24

1.1.3.2 Bản chất, vai trò của việc nghiên cứu các ƯDKT trong dạy học

* Bản chất của việc nghiên cứu các ƯDKT trong dạy học

ƯDKT của VL là biểu hiện thực tế của các kiến thức VL Dạy học các ƯDKT quan tâm đến việc làm sáng tỏ các nguyên tắc VL trong hoạt động của các thiết bị khác nhau Tuy nhiên, một thiết bị máy móc hoạt động được thường dựa trên nhiều hiện tượng, nguyên tắc VL Vì thế, để làm được điều đó cần thông qua việc nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ các nguyên tắc VL cơ bản nhất trong thiết bị nghiên cứu mang tính điển hình Trên cơ sở đó, HS có thể tìm thấy các ứng dụng của chúng trong các thiết bị máy móc cùng loại, kết hợp phân tích

ưu, nhược điểm của các thiết bị khác nhau Kết quả việc nghiên cứu của HS về các ƯDKT của VL phải là sự lĩnh hội vững chắc những khái quát hóa kĩ thuật

* Vai trò của việc nghiên cứu các ƯDKT trong dạy học

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Việt thì một ƯDKT không chỉ áp dụng các định luật VL mà còn cần phải có những biện pháp đặc biệt để làm cho các hiện tượng VL xảy ra có hiệu quả cao, sử dụng thuận tiện trong đời sống và sản xuất Vì thế, khi nghiên cứu, HS không những phải vận dụng những định luật, nguyên lí VL vừa được thiết lập mà còn phải vận dụng tổng hợp những hiểu biết, những kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực khác của khoa học nói chung và của VL nói riêng Qua đó, HS được làm quen với những nguyên lí chủ yếu của những ngành sản xuất chính, được rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong lao động sản xuất Do vậy, việc nghiên cứu ƯDKT của VL chính là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa bài học VL và đời sống, rèn luyện kĩ thuật tổng hợp làm hành trang cho HS bước vào đời [30]

Xét về phương diện lí luận dạy học thì việc nghiên cứu các ƯDKT là giai đoạn củng cố các định luật (hay nguyên lí, hiệu ứng…) của VL thông qua việc vận dụng chúng trong trường hợp cụ thể Chỉ trên cơ sở có sự hiểu biết sâu sắc các định luật, nguyên lí VL thì mới có thể thiết kế, chế tạo được các thiết bị máy móc ƯDKT hoạt động dựa trên các định luật, nguyên lí đó Quá trình này

Trang 25

tạo điều kiện xác lập tính thống nhất giữa cái trừu tượng (các định luật, nguyên

lí, khái niệm VL…) và cái cụ thể (các ƯDKT) Nhờ đó, sự hiểu biết kiến thức

VL của HS được sâu sắc, trực quan hơn

Quá trình nghiên cứu ƯDKT trong học tập môn VL góp phần làm phát triển ở HS tư duy, đặc biệt là tư duy sáng tạo, rèn luyện khả năng trình bày bằng ngôn ngữ nói và viết, làm quen với các thao tác lắp ráp kĩ thuật đơn giản Những khả năng này của HS được rèn luyện và phát triển trong quá trình HS sử dụng những kiến thức VL đã học vào việc giải thích nguyên tắc hoạt động của ƯDKT bằng ngôn ngữ nói và viết, hay thực hiện các thao tác kĩ thuật từ mức đơn giản là lắp ráp theo sơ đồ có sẵn đến mức cao hơn là đề xuất, lựa chọn phương án thiết kế ƯDKT tối ưu

Khoa học công nghệ càng phát triển, các ƯDKT của VL cũng ngày càng phong phú, tinh vi Vì vậy, việc nghiên cứu các ƯDKT cho HS thấy được ý nghĩa to lớn của việc phát minh ra các định luật, nguyên lí VL cũng như ý nghĩa của việc ứng dụng chúng trong đời sống, sản xuất Qua đó, HS có nhu cầu, động cơ hứng thú trong học tập bộ môn VL

1.1.3.3 Tiến trình dạy học ƯDKT

Dạy học các ƯDKT của vật lí được tiến hành theo hai con đường: Tìm hiểu bản thân thiết bị kĩ thuật, nguyên tắc hoạt động của nó và đi tới làm sáng

tỏ cơ sở vật lí của thiết bị kĩ thuật (con đường thứ nhất), hoặc hướng dẫn HS dựa trên những kiến thức, kĩ năng đã có, thiết kế, chế tạo thiết bị kĩ thuật có một chức năng nào đó (đáp ứng được một yêu cầu kĩ thuật xác định), giải quyết một nhiệm vụ cụ thể trong sản xuất và đời sống (con đường thứ hai)

Theo PGS TS Nguyễn Ngọc Hưng dạy học các ƯDKT của vật lí theo con đường thứ nhất và con đường thứ hai được tiến hành như sau [16]:

* Dạy học các ứng dụng kĩ thuật theo con đường thứ nhất

Việc dạy học các ƯDKT theo con đường thứ nhất thực chất là giải thích bài toán “hộp trắng” Biết cấu tạo bên trong của hộp, hiểu tác động đầu vào và kết quả của đầu ra, giải thích vì sao đầu vào thế này nhờ thiết bị lại có đầu ra

Trang 26

như vậy Sự giải thích dựa vào các định luật vật lí đã biết, để đưa ra được lời giải thích đúng đắn thì trước hết cần làm rõ được “điều cần giải thích”, nghĩa là phát hiện được chính xác những điều kiện tác động đầu vào, hiện tượng xuất hiện ở đầu ra, rồi tìm những định luật, qui tắc vật lí chi phối quá trình biến đổi bên trong đối tượng kĩ thuật từ đầu vào đến đầu ra

Các giai đoạn của dạy học ƯDKT theo con đường thứ nhất:

- Giai đoạn 1: Đề xuất vấn đề cần nghiên cứu

+ Xác định nhiệm vụ (chức năng) của TBKT

+ Tìm hiểu xem TBKT có nguyên tắc cấu tạo, hoạt động như thế nào để đáp ứng được nhiệm vụ (chức năng) đó

- Giai đoạn 2: Nghiên cứu cấu tạo, chức năng các bộ phận của TBKT, mối liên hệ giữa chúng để giải thích nguyên tắc hoạt động của TBKT, đưa ra được mô hình hình vẽ của TBKT

+ Quan sát bên trong TBKT và cho TBKT vận hành để xác định được tác động ở đầu vào, kết quả thu được ở đầu ra

+Tìm hiểu cấu tạo bên trong của TBKT: Xác định các bộ phận chính, cấu tạo và chức năng của từng bộ phận chính, mối liên hệ giữa các bộ phận này trong việc tạo ra quá trình hoạt động khi TBKT vận hành (ở đây có thể sử dụng các hình vẽ bổ dọc, bổ ngang TBKT và nếu được, khi cần thiết, tháo rời dần các bộ phận của TBKT)

+ Từ cấu tạo, sự vận hành của TBKT, phát hiện ra những mối liên hệ có tính quy luật (các định luật, nguyên lí vật lí) đã biết tồn tại trong TBKT

+ Đưa ra mô hình hình vẽ của TBKT chỉ chứa những bộ phận chính và minh họa được nguyên tắc hoạt động của TBKT

- Giai đoạn 3: Chế tạo và vận hành mô hình vật chất - chức năng để minh họa nguyên tắc hoạt động đã xác định của TBKT

+ Dựa trên mô hình hình vẽ, thiết kế, chế tạo mô hình vật chất - chức năng của TBKT

+ Vận hành mô hình vật chất - chức năng để chỉnh sửa, bổ sung mô hình vật chất chức năng của TBKT đã chế tạo và minh họa nguyên tắc hoạt động của TBKT

Trang 27

- Giai đoạn 4: Nêu thêm chức năng của các bộ phận khác trong TBKT để

làm tăng hiệu quả của TBKT

* Dạy học các ứng dụng kĩ thuật của vật lí theo con đường thứ hai

Con đường này thực chất là đặt ra nhiệm vụ cho HS tìm tòi, phát minh lại một thiết bị máy móc dùng trong kĩ thuật, là yêu cầu HS giải một bài toán sáng tạo Cơ sở đề xuất vấn đề nghiên cứu đối với con đường dạy học này là từ kiến thức, kĩ năng (khái niệm, định luật, quy tắc, nguyên lí) vật lí đã biết cần sử dụng để chế tạo một thiết bị kĩ thuật có chức năng nhất định

Các giai đoạn của dạy học ƯDKT theo con đường thứ hai:

- Giai đoạn 1: Đề xuất vấn đề cần nghiên cứu

+ Thiết kế, chế tạo một TBKT có một chức năng nào đó

- Giai đoạn 2: Thiết kế phương án chế tạo TBKT

+ Xác định những kiến thức vật lí (khái niệm, định luật, nguyên lí) đã biết cần vận dụng để chế tạo TBKT

+ Đề xuất các phương án thiết kế khác nhau (thể hiện qua các mô hình hình vẽ) TBKT

+ Lựa chọn các phương án thiết kế khả thi TBKT

- Giai đoạn 3: Chế tạo, vận hành mô hình vật chất - chức năng của TBKT

+ Dựa trên các phương án thiết kế khả thi TBKT đã lựa chọn, chế tạo các

mô hình vật chất - chức năng của TBKT

+ Vận hành các mô hình vật chất - chức năng để kiểm tra tính đúng đắn, hợp lí của các phương án thiết kế đã lựa chọn, bổ sung, chỉnh sửa các mô hình vật chất - chức năng

- Giai đoạn 4: Bổ sung hoàn thiện mô hình về phương diện kĩ thuật, phù

hợp với TBKT trong thực tế

+ Nêu rõ các điểm bổ sung, hoàn thiện thêm của TBKT trong thực tế so với mô hình vật chất - chức năng để làm tăng hiệu quả của TBKT

+ Xem các mô hình hình ảnh về TBKT, tìm hiểu TBKT thật (nếu được)

để hiểu biết đầy đủ hơn về TBKT

+ Tóm lại chức năng, nguyên tắc cấu tạo, hoạt động của TBKT

Trang 28

* Cách xác định con đường dạy học ƯDKT

Để dạy học ƯDKT của vật lí có hiệu quả thì sau khi xác định được các ƯDKT mà HS cần phải nghiên cứu thì trước hết GV phải lựa chọn được những ƯDKT nào có thể tổ chức dạy học theo con đường thứ nhất và những ƯDKT nào có thể tổ chức theo con đường thứ hai là hết sức quan trọng

Dạy học theo con đường thứ nhất khi: ƯDKT mà TBKT thực có đặc

điểm là rất phổ biến, sử dụng rộng rãi, quen thuộc trong đời sống (Ví dụ: máy biến áp, động cơ điện, đàn ghi ta điện, bếp điện từ…) có cấu tạo phức tạp và

gồm nhiều bộ phận, các bộ phận liên kết với nhau chặt chẽ khó tháo rời

Dạy học theo con đường thứ hai khi: ƯDKT mà TBKT thực có đặc điểm

là có cấu tạo rất đơn giản (ampe kế, vôn kế…), HS rất khó tìm TBKT thực để quan sát (phanh điện từ, lò nung cảm ứng…)

1.1.4 Tính tích cực của học sinh

1.1.4.1 Khái niệm

Theo từ điển Tiếng Việt, “Tích cực nghĩa là có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển Người tích cực là người tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển Theo một nghĩa khác, tích cực là đem hết khả năng và tâm trí vào việc làm” [29]

Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo nền văn hóa ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội

Theo Thái Duy Tuyên, “TTC là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng TTC cũng là khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy” [26]

Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt:

Sinh lý: Đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp

Trang 29

Tâm lý: Tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…

Xã hội: Đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài…

Vì vậy tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như:

Nhu cầu - tích cực nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó

Động cơ - tích cực vì hướng tới những động cơ nhất định

Hứng thú - do bị lôi cuốn bởi những say mê vì muốn biến đổi, cải tạo

một hiện tượng nào đấy

TTC cũng có mối quan hệ mật thiết với tính tự lực, với xúc cảm và ý chí

1.1.4.2 Những biểu hiện của tính tích cực

Theo Thái Duy Tuyên TTC nhận thức được nhận biết thông qua các dấu hiệu biểu hiện sau [26]:

* Dấu hiệu bên ngoài (qua hành vi, thái độ, hứng thú):

- Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng

Các em hay đặt những câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV Việc đặt câu hỏi của các em thể hiện lòng mong muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn

về những đối tượng mà các em đang tiếp xúc Những câu hỏi dạng: Đây là cái gì? Dùng để làm gì? Tại sao? Như thế nào? Do đâu mà có? Những thắc mắc các em đưa ra biểu hiện sự tích cực tìm kiếm, lòng ham hiểu biết, trí tò mò đang khuấy động các em Học tập thụ động, không hứng thú sẽ không có câu hỏi và cũng sẽ không có phản ứng nếu câu hỏi không được trả lời

- Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm

- Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời

của bạn và thích tham gia vào các hoạt động cũng là một biểu hiện của hứng thú Thông qua quan sát, thầy giáo có thể xác định được những biểu hiện cảm xúc, hứng thú nhận thức như niềm vui sướng, sự hài lòng khi tự mình tìm ra câu trả lời đúng hay là những thành công trong học tập…

Trang 30

Dấu hiệu bên ngoài có thể cụ thể hóa qua một số câu hỏi:

- Học sinh có chú ý, tập trung tư tưởng học tập không?

- Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không? (Thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép…)

- Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?

- Có thường xuyên hỏi thày cô, trao đổi với bạn bè, tích cực tham gia học nhóm, tổ không?

* Dấu hiệu bên trong (sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển tư duy, ý chí và xúc cảm…):

Những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện được qua những biểu hiện bên ngoài, nhưng phải tích lũy một lượng thông tin đủ lớn và phải qua một quá trình xử lí thông tin mới thấy được, cụ thể là:

- Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác

tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức

- Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lí các tình huống mới

- Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát

- Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình

- Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất

- Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực,

cố gắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu báo hết giờ

Trang 31

Những câu hỏi mà thông qua đó có thể thấy được biểu hiện tích cực hoạt động nhận thức của học sinh qua dấu hiệu bên trong:

- Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?

- Có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?

- Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp…năng lực tư duy nói chung không?

- Có thể hiện sự sáng tạo trong học tập không?

* Kết quả học tập

Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục,

tự giác mới có kết quả học tập tốt

Dấu hiệu này có thể cụ thể hóa qua các câu hỏi sau:

- Học sinh có hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao không?

- Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?

- Có vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế không?

- Có phát triển tính năng động sáng tạo không?

- Kết quả kiểm tra, thi cử có cao không?

1.1.4.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực

TTC nhận thức của học sinh chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: Bản thân học sinh, nhà trường, gia đình, xã hội Vì vậy các biện pháp phát huy TTC nhận thức của học sinh rất đa dạng và phong phú Theo Thái Duy Tuyên, các biện pháp phát huy TTC nhận thức của học sinh được chia làm bốn nhóm [26]:

* Nhóm biện pháp cho các giáo viên đứng lớp

* Nhóm biện pháp phát huy TTC nhận thức thông qua các hoạt động giáo dục

* Nhóm biện pháp thông qua tác động của gia đình

* Nhóm biện pháp do xã hội tác động

Trang 32

Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ trình bày nhóm các biện pháp cho giáo viên đứng lớp Nhóm biện pháp này rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến học sinh Gồm một số vấn đề sau:

- Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của học sinh

- Kích thích hứng thú qua nội dung: Đây là biện pháp mà GV hay sử

dụng nhất Tùy thế mạnh của từng môn học mà cách kích thích hứng thú sẽ khác nhau Nhìn chung, muốn kích thích được hứng thú của học sinh thì nội dung phải mới, nhưng cái mới ở đây không phải cái gì quá xa lạ với các em, mà cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ, phát triển kiến thức và kinh nghiệm

mà các em đã có, phải gắn liền với cuộc sống hiện tại và sự phát triển tương lai của các em Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt và suy nghĩ hàng ngày, phải thỏa mãn nhu cầu nhận thức và thực tiễn của các em

- Kích thích hứng thú qua phương pháp dạy học: Để tích cực hóa hoạt

động nhận thức của HS phải phối hợp nhiều phương pháp với nhau, những phương pháp có hiệu quả nhất trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức là: Dạy học nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, thảo luận, tự học, trò chơi học tập…

- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kỹ

thuật dạy học hiện đại Đây là biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao TTC của học sinh và giúp nhà trường đưa chất lượng dạy học lên một tầm cao mới

- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập

thể lớp; làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm; tổ chức tham quan, các hoạt động nội, ngoại khóa đa dạng

Việc tổ chức cho các em xâm nhập thực tế, tham gia các hoạt động xã hội là hết sức quan trọng, có tác dụng rất tốt trong việc tạo nên những động lực học tập lành mạnh và TTC học tập

Trang 33

Ngoài ra có thể tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh qua nhiều biện pháp khác như:

+ Thầy giáo, bạn bè động viên, khen thưởng khi có thành tích học tập tốt + Luyện tập dưới các hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào thực tiễn các tính huống mới

+ Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa thầy giáo và HS

+ Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập

+ Kiểm tra, đánh giá thường xuyên, công bằng, chính xác dưới nhiều hình thức có tác dụng rất quan trọng đến việc phát huy TTC học tập của HS

Kiến thức VL cụ thể được hiểu là kiến thức về các hiện tượng, các quá trình VL, các khái niệm, các định luật, các thuyết VL, các tư tưởng, các phương pháp, các ứng dụng VL

Kiến thức VL phản ánh tính chất chung của cấu trúc, sự tương tác và chuyển động của vật chất, tính bản chất và quy luật chung của thế giới tự nhiên,

là kết quả lao động sáng tạo của nhiều nhà khoa học [17]

Kiến thức VL là cơ sở của nhiều ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đồng thời là tiền đề cho mọi hoạt động sáng tạo, tìm hiểu và cải tạo thế giới của con người

Trang 34

nghiên cứu khoa học cho HS Thông qua việc quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát các hiện tượng, các đối tượng VL, tìm hiểu các sự kiện, đưa ra các giả thuyết và tiến hành thí nghiệm…Từ đó phát hiện ra các dấu hiệu bản chất, tính quy luật của các hiện tượng VL Tư duy khoa học của học sinh được

hình thành và phát triển, tạo ra tiền đề để củng cố và hoàn thiện kiến thức [17]

1.1.5.2 Các dấu hiệu về chất lượng kiến thức Vật lý

a Tính chính xác của kiến thức

Dấu hiệu chất lượng đặc trưng bởi mức độ tương ứng mà học sinh lĩnh hội được các khái niệm, các định luật, các lí thuyết và tư tưởng VL chủ yếu của chương trình VL phổ thông ở từng cấp, từng ban với nội dung khoa học của chúng Nghĩa là các luận điểm khoa học của VL được chuẩn bị kĩ cả về nội dung và phương pháp truyền thụ, nó không chỉ đảm bảo tính khoa học chính xác mà còn đáp ứng được trình độ phát triển trí tuệ, hiểu biết và kinh nghiệm của học sinh Mức độ chính xác của kiến thức VL của học sinh biểu hiện ở sự phát biểu miệng và ngôn ngữ viết ở hình thức trình bày rõ ràng và đúng đắn về mặt khoa học

b Tính hệ thống của kiến thức

Những hiểu biết riêng lẻ về các hiện tượng, các khái niệm VL được hệ thống hóa thành một hệ thống các khái niệm có dung lượng lớn hơn cả về nội dung khoa học và cách thức biểu hiện Kiến thức VL rất phong phú, cách thức biểu hiện đa dạng, vì thế cần phải liên kết lại thành những hệ thống ngày càng tổng quát hơn Quá trình đó tạo điều kiện cho sự thấu hiểu kiến thức và phát triển năng lực trí tuệ, đặc biệt là các thao tác khái quát hóa, trừu tượng hóa Tính hệ thống của kiến thức còn biểu hiện mối liên hệ logic và phát triển của các khái niệm, định luật, lí thuyết và những ứng dụng của VL

c Tính khái quát của kiến thức

Học sinh không chỉ hiểu việc mô tả các đối tượng, hiện tượng VL mà cần phải hiểu được bản chất của nó Mặt khác với việc chuyển từ sự khảo sát một

số lớn các đối tượng riêng lẻ tới việc nghiên cứu các mô hình tổng quát đặc

Trang 35

trưng cho các quá trình hiện tại cần phải trừu tượng hóa và khái quát hóa Mức khái quát của kiến thức tạo cho học sinh khả năng khảo sát các quá trình, các đối tượng và hiện tượng VL cùng loại hoặc tương tự, nó biểu hiện năng lực tư duy khái quát của học sinh

d Tính bền vững của kiến thức

Quá trình dạy học VL cần quan tâm đến việc ôn luyện và khắc sâu hệ thống kiến thức cho học sinh với cấp độ nắm vững kiến thức: hiểu, nhớ và vận dụng Tính bền vững của kiến thức gắn liền với việc phát triển tư duy dựa trên

sự lĩnh hội vững chắc các sự kiện VL nền tảng, các kiến thức VL điển hình Mức độ bền vững của kiến thức sẽ có sức sáng tạo cao, là tiền đề trí tuệ cho học sinh tự học và vươn lên trong khoa học

e Tính áp dụng được của kiến thức và khả năng vận dụng chúng

Mục đích của việc học tập là nhằm áp dụng vốn kiến thức vào hoạt động thực tiễn để hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó vì lợi ích của cộng đồng Ở đây việc giải quyết bài toán VL, thực hiện các thí nghiệm, nghiên cứu cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của các dụng cụ, thiết bị kĩ thuật… có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình lĩnh hội và vận dụng kiến thức Nó góp phần phát triển tính năng động và sáng tạo của tư duy Học sinh làm quen với việc khảo sát bất kì hiện tượng hay quá trình nào ở nhiều khía cạnh, trong điều kiện nhất định và bằng các phương pháp phù hợp… Tính áp dụng được của kiến thức và khả năng vận dụng chúng là dấu hiệu bản chất của chất lượng lĩnh hội kiến thức, là cơ sở phát triển năng lực tư duy sáng tạo kĩ năng và thói quen vận dụng kiến thức VL vào thực tiễn đời sống sản xuất [17]

1.1.6 Xây dựng tiêu chí đánh giá tính tích cực và chất lượng kiến thức của học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa

Dựa trên những cơ sở lý luận về tính tích cực và chất lượng kiến thức của học sinh chúng tôi xây dựng tiêu chí đánh giá tính tích cực và chất lượng

kiến thức của học sinh như sau:

Trang 36

* Xây dựng tiêu chí đánh giá định tính

- Tiêu chí đánh giá tính tích cực của HS:

Tiêu chí về thái độ, hành vi và hứng thú (dựa vào dấu hiệu bên ngoài): + Đa số HS đúng giờ trong các cuộc họp, làm việc nhóm và HS tích cực tham gia các hoạt động của nhóm

+ Đa số HS luôn lắng nghe, đóng góp ý kiến trong các buổi thảo luận nhóm + Đa số HS thường xuyên chia sẻ thông tin mới từ những nguồn khác nhau HS sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ, tự giác thực hiện nhiệm vụ, cố gắng hoàn thành công việc bằng mọi cách, hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch…

Tiêu chí về sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển của tư duy, ý chí và xúc cảm (dựa vào dấu hiệu bên trong):

+ Phần lớn HS tích cực sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa… vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức

+ Đa số HS tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào giải quyết các tình huống khác nhau Độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ

+ Đa số HS hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý mình

- Tiêu chí đánh giá chất lượng kiến thức:

+ Trong các buổi thảo luận có nhiều HS đưa ra ý kiến đúng

+ Đa số HS biết thêm được nhiều ứng dụng của kiến thức đã học trong đời sống

+ Nhiều HS trình bày được vấn đề một cách chính xác bằng ngôn ngữ VL + Đa số HS nhận biết được bản chất của hiện tượng vật lí và giải thích được chính xác các hiện tượng xảy ra trong đời sống thực tiễn

* Xây dựng tiêu chí đánh giá định lượng

Việc đánh giá định lượng tính tích cực và chất lượng kiến thức chúng tôi đánh giá thông qua điểm HĐNK với tiêu chí đánh giá như sau:

Điểm HĐNK có ít nhất 70% HS đạt điểm khá, giỏi; trong đó có ít nhất 30% HS đạt điểm giỏi Còn lại là đạt điểm trung bình

Trang 37

Tiêu chí đánh giá điểm giỏi, khá, trung bình như sau (tính theo thang điểm 100):

Điểm Giỏi: Điểm HĐNK và các điểm thành phần đạt trên 80 điểm

Điểm Khá: Điểm HĐNK đạt từ 65 đến 79 điểm và các điểm thành phần đạt trên 65 điểm

Điểm Trung bình: Điểm HĐNK đạt từ 50 đến 64 điểm và các điểm thành phần đạt trên 50 điểm

Các điểm thành phần chúng tôi sẽ trình bày ở chương 2 của luận văn này

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức cho học sinh tại địa bàn nghiên cứu thực trạng

Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu, trao đổi ý kiến với một số GV bộ môn ở các trường THPT trên địa bàn huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương nhằm tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức tổ chức hoạt động ngoại khóa nói chung và hoạt động ngoại khóa về ứng dụng của Vật lý trong kỹ thuật nói riêng ở các trường THPT hiện nay

Qua điều tra, trao đổi ý kiến, chúng tôi nhận thấy việc tổ chức HĐNK Vật lý ở các trường đã từng được tổ chức nhưng không thường xuyên; về vấn

đề ứng dụng của Vật lí trong kỹ thuật được lồng ghép vào các bài giảng trên lớp, giáo viên cũng chỉ giới thiệu mang tính chất thông báo hoặc lồng ghép vào các buổi ngoại khóa bằng các câu hỏi lý thuyết; chưa có trường nào tổ chức riêng một buổi ngoại khóa về ứng dụng của Vật lí trong kỹ thuật yêu cầu học sinh có sản phẩm ứng dụng kỹ thuật

Đa số GV Vật lí đã được tập huấn về sử dụng đồ dùng thí nghiệm nhưng chưa có giáo viên nào được tập huấn về vấn đề tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí cho học sinh

Chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn, trao đổi với học sinh nhằm tìm hiểu

về hứng thú cũng như thái độ của các em khi tham gia các buổi ngoại khóa về

Trang 38

VL Kết quả cho thấy, phần lớn học sinh tỏ ra khá thích thú với các hoạt động ngoại khóa VL Các em đều cho rằng ngoại khóa giúp các em củng cố và khắc sâu kiến thức, khắc phục những sai lầm mà các em gặp phải khi học chính khóa

Nguyên nhân:

- Thời gian chuẩn bị, thù lao: Để tổ chức hoạt động ngoại khóa, giáo viên tốn rất nhiều thời gian, công sức, nhưng thù lao, kết quả họ nhận được không tương xứng, thậm chí việc tổ chức hoạt động ngoại khóa được coi là trách nhiệm công việc của cá nhân giáo viên

- Giáo viên chưa có hoặc ít kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức hoạt động ngoại khóa

- Chương trình dạy nội khóa quá nặng nên giáo viên và học sinh không còn thời gian để tổ chức hoặc tham gia ngoại khóa

- Phụ huynh, học sinh: Phụ huynh chỉ quan tâm đến kết quả học tập, không để ý đến các hoạt động ngoại khóa Chính vì thế, họ không thích học sinh tham gia vì tốn nhiều thời gian Nhiều học sinh thì không hứng thú với các hoạt động ngoại khóa, có tham gia chỉ mang tính gượng ép, bắt buộc vì hoạt động này không được đánh giá vào điểm tổng kết bộ môn

- Hình thức thi cử: Với hình thức thi hiện nay, giáo viên chỉ quan tâm đến những kiến thức liên quan phục vụ cho các kì thi, không hoặc ít dành thời gian cho việc tổ chức HĐNK cho học sinh

- Kinh phí cho hoạt động ngoại khóa: Để tổ chức được một buổi ngoại khoá cần nhiều kinh phí để hỗ trợ Thực tế kinh phí các trường dành cho phần hoạt động này quá eo hẹp, thậm chí không có

Biện pháp khắc phục

- Lãnh đạo các nhà trường, Sở giáo dục cần có quan điểm đúng đắn về vai trò của việc tổ chức HĐNK nói chung, ngoại khóa Vật lý nói riêng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học của GV và HS

Trang 39

- GV cần phải được tạo điều kiện thuận lợi để có thể tổ chức tốt các HĐNK, cụ thể:

+ Tổ chức tập huấn về phương pháp, kĩ năng tổ chức HĐNK cho GV + Việc tổ chức HĐNK không thể coi là trách nhiệm của riêng GV mà cần được coi là trách nhiệm của nhà trường, tổ, nhóm chuyên môn

+ Tuyên truyền để phụ huynh HS và HS hiểu được việc tổ chức các HĐNK đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục kĩ năng sống cũng như nâng cao chất lượng học tập cho HS; đặc biệt HĐNK về ƯDKT còn góp phần giúp HS có thể phát triển, phát huy khả năng của bản thân, định hướng nghề nghiệp của HS trong tương lai

+ Nguồn kinh phí cần đảm bảo đáp ứng tốt cho tổ chức HĐNK, thù lao

GV nhận được phải xứng đáng với công sức bỏ ra

- Về phía GV: Cần nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tổ chức các HĐNK

- Về phía học sinh: Cần có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm cũng như quyền lợi của bản thân trong việc tham gia các HĐNK, tác dụng to lớn mà HĐNK mang lại cho các em

Trang 40

Kết luận chương 1

Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức HĐNK VL ở trường phổ thông, chúng tôi thấy được rõ hơn vai trò, tác dụng của HĐNK HĐNK hỗ trợ cho học nội khóa trong việc củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế đời sống và kĩ thuật, phát huy tính tích cực

và nâng cao chất lượng kiến thức của HS HĐNK mang tính tự nguyện, có nội dung và hình thức tổ chức đa dạng, phương pháp mềm dẻo, gây được sự hứng thú học tập cho HS Những kiến thức mà HS thu được khi tham gia các HĐNK thường sâu sắc, khó quên, sản phẩm HS làm ra mang nhiều ý nghĩa

Thực tế dạy học trên địa bàn huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương mà chúng tôi tìm hiểu cho thấy: Phương pháp dạy học thực nghiệm và hình thức tổ chức HĐNK còn nhiều hạn chế Nếu tổ chức HĐNK đặc biệt là hoạt động thực nghiệm kết hợp với báo cáo sản phẩm và tham gia các trò chơi vật lí sẽ bổ sung rất hữu hiệu cho dạy học nội khóa Tổ chức HĐNK vật lí nói chung, HĐNK về ƯDKT nói riêng sẽ làm cho quá trình dạy học thêm phong phú, sâu sắc hơn, toàn diện hơn và đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong dạy học hiện nay Đồng thời sẽ giúp cho HS rèn luyện kĩ năng tổng hợp, phân tích, mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi trình bày quan điểm của mình trước đám đông, đặc biệt bước đầu giúp các em làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học

Việc nghiên cứu lí luận về HĐNK, cơ sở của dạy học ứng dụng kĩ thuật là một căn cứ quan trọng để chúng tôi xây dựng tiến trình HĐNK về ứng dụng kĩ thuật chương “Dòng điện xoay chiều” Nội dung này chúng tôi

sẽ trình bày ở chương 2

Ngày đăng: 25/03/2021, 10:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w