Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giải pháp quản lý phương tiện giao thông công cộng bằng vé điện tử smartcard x
Trang 1Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
“Giải pháp quản lý phương tiện giao thông công cộng bằng vé điện tử smartcard tích hợp trong một
hệ thống đồng bộ dùng cho xe bus, tàu điện ngầm trên địa bàn Hà Nội, có thể ứng dụng cho các đô thị
khác trên cả nước”
Giảng viên hướng dẫn: Đặng Hoài Bắc
Trang 2Hà Nội – 2013
Mục Lục
Phần I: Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng kinh
tế đáng khích lệ của cả nước, thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn khác ở Việt Nam đang trải qua quá trình đô thị hoá và
cơ giới hóa rất nhanh Cùng với quá trình này, tình trạng người dân ở các tỉnh ngoài đổ vào thành phố lớn tìm kiếm việc làm và sinh sống đã và đang làm tăng dân số ở các thành phố lớn, chủ yếu là tăng dân số cơ học Hiện tượng này đã gây ra cho các thành phố lớn những áp lực cho việc đầu tư cung cấp cơ sở hạ tầng Mặt khác, giao lưu kinh tế giữa các khu vực và trong các vùng của thủ đô phát triển ngày càng đa dạng, phong phú theo
cơ chế thị trường Việc bỏ qua quy hoạch phát triển giao thông công cộng trong một thời gian dài đã tạo cho người dân thói quen sử dụng phương tiện giao thông cá nhân, số lượng
phương tiện giao thông cá nhân đặc biệt là xe máy tăng đột
Trang 3biến trong khi cơ sở hạ tầng giao thông không đáp ứng kịp thời
đã là nguyên nhân gây ra ách tắc phổ biến trầm trọng trong giaothông đô thị và kéo theo đó là ô nhiễm môi trường Hệ thống giao thông công cộng còn rất thiếu và yếu Chủ yếu vẫn là xe bus Dẫn đến nhiều vấn đề nảy sinh gây bức xúc trong nhân dân, như: Hiện tượng nhồi nhét khách, bỏ bến, chất lượng xe kém, thái độ phục vụ nhân viên phụ lái tồi, nhiều tai nạn xảy ra
do thiếu kiểm soát lộ trình và chất lượng dịch vụ,… Bên cạnh đólượng người đi lại quá đông dẫn đến thất thoát trong việc thu soát vé, nhân viên lợi dụng cắt xén lậu vé… gây thất thu cho nhànước, lãng phí tiền in vé,…
Giao thông đô thị đã trở thành một trong những mối
quan tâm hàng đầu của thành phố Hà nội Do vậy vấn đề cấp bách nhất hiện nay là cần có một chiến lược quy hoạch tổng thểphát triển giao thông đô thị nhằm hoàn thiện hệ thống cơ sở hạtầng, tổ chức quản lý giao thông và định hướng phát triển giao thông của thủ đô trước mắt và trong tương lai Trong chiến lược quy hoạch tổng thể giao thông của thủ đô thì việc định hướng quy hoạch phát triển vận tải hành khác công cộng trên địa bàn thủ đô Hà nội là một trong những bước quan trọng góp phần xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giao thông của Hà nội HàNội đã và đang triển khai các dự án nhằm cải thiện hệ thống vận tải Đơn cử như hệ thống đường sắt trên cao đã và đang được xây dựng, hứa hẹn sẽ góp phần giải quyết vấn nạn ùn tắc hiện nay
Trang 4Do tầm quan trọng của vận tải hành khách công cộng đối với sự phát triển của giao thông đô thị; đồng thời để đón đầu những quy hoạch tương lai của thủ đô nên đề tài này được
triển khai nhằm hy vong đóng góp một phương án trong quản
lý hệ thống vận tải công cộng trên địa bàn Hà nội, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động vận tải, đóng góp phần nào vào công tác quản lý giao thông ở Thủ đô Hà nội
2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đến đối tượng là hệ thống giao thông công cộng; nghiên cứu quá trình hình thành , phát triển của hệ thống thanh toán thẻ và việc áp dụng nó trong thanh toán vé khi di chuyển bằng phương tiện công cộng Đề tài cũng nghiên cứu thực trạng hoạt động vận tải hiện nay, tâm lý đi lại của
người dân, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hệ thống vào sử dụng phương tiện công cộng có thanh toán bằng vé điện tử Tuy nhiên, do tính chất rộng lớn của đề tài, liên quan phức tạp đến nhiều vấn đề xã hội và chính sách phát triển của đất nước, đề tài chỉ dừng lại ở việc đề xuất hệ thống mô phỏng
trong tương lai ngắn hạn và dài hạn, chứ không đi sâu vào thiết
kế cụ thể Nghiên cứu áp dụng trước mắt cho hệ thống xe bus
Trang 5và tàu điện ngầm (các phương tiện công cộng khác được phân tích sơ lược) áp dụng cho địa bàn Hà Nôi và có thể là áp dụng cho các đô thị khác nếu thấy hợp lý.
3.Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài là một vấn đề xã hội và chính sách rộng lớn, do đó, rất nhiều đề án và các cuộc thảo luận, hội đàm với quy mô lớn
đã diễn ra để bàn thảo xoay quanh việc cải thiện thực trạng giaothông hiện nay của nước ta Bộ giao thông vận tải cùng chính phủ, quốc hội và các cấp ban ngành liên quan, các chuyên gia đã
và đang nghiên cứu các giải pháp quy hoạch mang tính dài hạn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống những vấn đề, khái niệm liên quan về dịch vụ
công cộng, hệ thống thanh toán xuất hiện trong đề tài
- Phân tích thực trạng hoạt động vận tải cộng cộng hiện nay
tại Hà Nội
Trang 6- Đề xuất giải pháp vé điện tử smardcard cùng hệ thống
phụ trợ thông minh cho phương tiện công cộng
5.Phương pháp nghiên cứu
Phân tích thực trạng tình hình hiện tại, đưa ra các giả định trường hợp có thể thực hiện Từ đó đánh giá theo xu hướng và những lợi ích có thể thu được của các phương án để tìm ra
phương án tối ưu nhất
Phần II: Nội dung
Chương 1: Thực trạng hạ tầng giao thông nói
chung và giao thông công cộng nói riêng trên địa bàn Hà Nội và các đô thị khác trên cả nước
1.1 Những lý luận chung
Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là
lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của cả một miền đô thị, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị là những hệ thống đồng
bộ và hoàn chỉnh, được tổ chức phù hợp với quy hoạch phân bố
cơ cấu đô thị
Trang 71.1.2 Hệ thông giao thông, vai trò của giao
thông với sự phát triển của đô thị
Hệ thống giao thông đô thị là hệ thống quan trọng nhất
trong các loại hạ tầng kỹ thuật đô thị, nó đáp ứng nhu cầu vận
tải hành khách và hang hóa từ nơi này đến nơi khác trong đô
thị; hoặc vận chuyển hành khách và hang hóa từ đô thị đi các
kỹ thuật khác Nói cách khác, giao
thông vận tải đô thị là một bộ phận
vô cùng quan trọng gần như quyết
định đối với sự hình thành và phát
triển đô thị Nếu thiếu nó, coi như
mọi lĩnh vực khác của đo thị sẽ rơi
vào tình trạng tê liệt Điểu đó đồng
nghĩa với kinh tế đô thị, khu vực, vùng hay cả quốc gia bị ảnh
hưởng
Giao thông đô thị ngoài chức năng chuyên chở hàng hóa, đảm
bảo lưu thông và đi lại hàng ngày của người dân thì còn đảm
nhiệm vai trò quan trọng khác là thể hiện bộ mặt đô thị Hệ
thống mạng lưới đường đô thị với các công trình giao thông là
kết cấu hạ tầng kỹ thuật của đô thị, chúng trở thành những tài
sản cố định và có giá trị lớn, thể hiện tính văn hóa xã hội và
Giao thông có vai trò quyết định trong việc tạo dựng hình thức đô thị (urban form) Những thành phố cổ của châu Âu như Venice (Italy, hình phải) được xây cho người đi bộ và xe ngựa
có lòng đường hẹp và mật độ dày đăc (gần 10.000 người/km 2 ) Những thành phố mới của Bắc Mĩ như Las Vegas (hình trái) được xây dựng trong thời địa xe hơi có lòng đường rộng
và mật đô dân cư thưa (gần 700 người/km 2 ) Ảnh: Las Vegas và Venice chụp từ độ cao 300m.
Trang 8cảnh quan đô thị Có thể thấy giao thông chính là lý do cơ bản
đề con người lựa trọn sống trong một môi trương đô thị
Hệ thống giao thông bao gồm hai thành phần chính:
Mạng lưới giao thông: Bao gồm mạng lưới các tuyến đường, hệ thống nhà ga, cảng, hệ thống phương tiện,
hệ thống bãi đậu đỗ, bến xe,
Nhu cầu giao thông: Đối tượng chính là hành khách hay hang hóa được vận chuyển trên các phương tiện giao thông
Giao thông công cộng là hệ thống giao thông
trong đó người tham gia giao thông không sử dụng các phương tiện giao thông thuộc sở hữu cá nhân Các phương tiện thường có sức chuyên chở lớn, chạy theo tuyến đường nhất định, được quy hoạch trước nhằm phục vụ cho toàn đô thị như: xe buýt, tàu điện,tàu hỏa, tàu thuỷ, máy bay, taxi, phà, xe kéo tay, xe ngựa, xe thổ mộ, xe xích lô, đò ngang, ghe, thuyền, xuồng, tắc ráng, vỏ lải, được nhà nước đầu tư và quản lý
Một số loại phương tiện công cộng thông dụng:
- Ô tô buýt: là phương tiện vận tải công cộng đơn
giản nhất, cơ động, thay đổi tuyến dễ dàng, chí phí đầu tư thấp, có thể tổ chức vận tải tốc hành và chạy
Trang 9chung với các loại phương tiện giao thông đường bộ khác.
Nhược điểm: thường gây ra tiếng ồn và xả khí thải làm ô nhiễm môi trường Để hoạt động tốt, xe buýt cần có đường tốt, hệ thống phục vụ: Bến đỗ, chạm cung nhiên liệu,…
Ô to buýt thường thích hợp với những đô thị mới, đôthị cải tạo
- Tàu điện ngầm: Tàu điện ngầm là phương tiện
giao thông công cộng có năng lực vận tải lớn, giá thành vận tải thấp, ít ô nhiễm hơn xe buýt Tốc độ cao, an toàn, tiện nghi, thường dung cho các tuyến
Hạ tầng giao thông ở nước ta hiện
nay nói chung còn yếu, thiếu quy hoạch
đồng bộ Đã nhiều năm và cho đến hi n nay,ệ
chúng ta vẫn đang v t l n với vấn đề áchậ ộ
Trang 10tắc giao thông TP.Hồ Chí Minh hàng năm “mất” 14.000 tỉ đồng
vì kẹt xe (Sở Giao thông Vận tải công bố ngày 20.9.2007) Số lượng phương tiện cá nhân quá cao Trái ngược với xu hướng chung của các đô thị đông dân trên thế giới là giao thông công
c ng có vai trò chủ lực; ở ta, các phương ti n cá nhân đáp ứng ộ ệđến 92-93% của tổng nhu cầu đi lại
Vào năm 2011, Hà Nội đã có hơn 4 triệu xe máy và hơn 400.000 ôtô con lao xuống đường phố; vào giờ cao điểm Với mật độ xe này thì dù người điều khiển phương ti n giao thông có ý thức ệđến mấy cũng khó tránh khỏi cảnh người xe chen nhau dày đặc,nhích từng chút trên đường, trong mưa, dưới nắng, hít thở bụi, khí thải xăng xe và những tiếng ồn trong giờ cao điểm
Để giảm ách tắc, nhiều nhà ở của dân đã bị giải tỏa để mở thêmđường mới; đã có những con đường đắt nhất hành tinh, những kênh mương thoát nước tự nhiên, chống lụt có từ ngàn đời đã biến thành đường Tại các ngã tư, hàng rào chắn đã được dựng lên; đường được phân làn, phân luồng, cả giờ học, giờ làm cũng đã được điều chỉnh; rồi nhiều loại thuế, phí rất cao đều đãđược áp dụng; hàng ngàn tỉ đồng được đầu tư để xây dựng những hầm và cầu vượt cho người đi b để rồi chẳng có mấy ộngười đi, vì ai cũng có phương tiện của riêng mình
Còn mạng lưới xe buýt cũng chỉ khai thác có 30% - 50% công suất Bên cạnh đó, giải pháp cấm ho c thu phí rất cao đối với xeặmáy, ôtô con đi vào khu vực nào đó thì sẽ đẩy toàn b số ộ
Trang 11phương ti n cá nhân này tràn ng p sang đường khác hi n cũngệ ậ ệđang quá tải; tránh ách tắc nơi này lại làm gia tăng tắc nghẽn nơi khác Đ c điểm chung của h thống xe buýt hi n nay của ặ ệ ệ
Hà N i và TPHCM là nửa vời; không phủ kín, phủ khắp, không ộthể đi đến mọi nơi, mọi chỗ; mất nhiều thời gian; không ti n ệnghi, thiếu văn minh, lịch sự đã làm nản lòng những người
muốn sử dụng xe buýt Mặt khác, xe buýt chỉ có thể đi trên
những trục đường lớn mà thôi, trong khi đô thị Việt Nam thì phần lớn là ngõ ngách và đường nhỏ Xuống bến phải bắt tiếp taxi ho c xe ôm để đi tiếp.ặ
Chính phương thức quản lý giao thông đô thị của ta hiện nay vôhình trung đã khiến sức khỏe người dân ngày càng xuống thấp, người dân gần như không có khái ni m đi b Tính trung bình ệ ộtrong m t ngày - 24 giờ, người dân đô thị ở Vi t Nam chỉ có 30 ộ ệphút đi lại quanh quẩn và đứng, còn lại là ngồi và nằm; trong khi “v n đ ng là cơ sở của sức khỏe”.ậ ộ
Hà N i cũng đang xây dựng tuyến đường xe điện hiện đại trên ộcao Không biết rồi những chiếc xe được đầu tư cả đống tiền đó
có phải chịu chung cảnh vắng khách?
Nhìn vào tất cả các đô thị đông dân trên toàn thế giới, có thể thấy: “Đô thị nào có h thống giao thông công c ng chiếm tỉ l ệ ộ ệ
áp đảo, nơi đó sẽ không có vấn đề tắc nghẽn giao thông Đô thị nào mà tỉ l các phương ti n cá nhân còn cao thì ở đó chắc ệ ệchắn còn tắc nghẽn
Trang 121.2.2 Một số bất cập trong hệ thống xe bus
- Như trên đã nói, chưa ận dụng được tối đacông suất xe
bus hiện tại do cơ sở vật chất thiếu đồng bộ
- Chất lượng xe bus còn rất kém, ô nhiễm, cùng cơ sở vật
chất trong xe không đảm bảo
- Hiện tượng nhồi nhét khách quá phổ biến, thái độ phục
vụ lái và phụ xe tương xứng với chất lượng xe, gây ức chế cho nhiều hành khách và dư luận Phụ lái phải thu soát một lượng vé lớn trong không gian trật trội của xe, dẫn đến những hiện tượng tiêu cực về tâm lý, lợi dụng lậu vé,
ăn bớt vé của phụ lái, gây thất thoát lãng phí lớn
- Chen lấn, xô đẩy vô ý thức, không có văn minh.
- Bỏ bến, xe chạy thiếu lịch trình, đậu đỗ sai quy định, cò
mời khách cũng làm xâu mỹ quan và bức xúc lớn
- Đặc biệt, chưa xứng tầm với vai trò quan trọng của giao
thông công cộng; không góp phần giải quyết và giảm tải được ùn tắc là một tội lớn, tồn tại chỉ gây lãng phí cho dântộc
Trang 131.3 Yêu cầu đặt ra
Từ những vấn đề hiện trạng giao thông như trên, đòi hỏi phải có biện pháp quy hoạch và nâng cao vai trò của giao thông công cộng hơn nữa Đề tài đưa ra một giải pháp trên
cơ sở phân tích các vấn đề để đưa ra một phương án hớp
lý nhất cho vấn đền này Tất cả những vấn đề đó đều nảy sinh từ việc thiếu quản lý chặt chẽ, năng lực kiểm soát của
hệ thống Để góp phần tốt hơn trong khâu tối quan trọng
đó, giải pháp quản lý và thanh toán phí đi lại trên các
phương tiện công cộng bằng vé điện tử, kết hợp cùng một
hệ thống phụ trợ thông minh là một các hợp lý để góp phần nâng cao chất lượng giao thông
Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để có thể triển khai được dự án này?
Trang 14Chương 2 : Lộ trình và giải pháp quản lý phương
tiện công công bằng vé điện tử dung thẻ
smartcard
2.1.Vé điện tử
2.1.1 Tổng quan về thẻ, lựa chọn loại thẻ nào
hợp lý nhất?
Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận
- Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được
phát hành bởi các ngân hàng, tổ chức tài chính hay các công ty
- Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát
hành cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi củamình hoặc hạn mức tín dụng được cấp
- Thẻ thanh toán là một phương thức ghi sổ những số tiền
cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giũa ngân hàng, tổ chức tài chính với các điểm thanh toán Cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và an toàn
Có nhiều hình thức phân loại thẻ thanh toán như:
Trang 15- Phân theo công nghệ sản xuất:
o Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): Dựa theo công
nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này Tuy nhiên hiện nay không còn sử dụng loại thẻ này do dễ bị giả mạo
o Thẻ từ (Magnetic Stripe): Là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập lồi ở mặt trước, vừa được
mã hóa trong bang từ ở mặt sau Các thông tin này phảiđảm bảo chính xác khớp nhau Thẻ từ có thể bị ăn cắp thông tin khi giao dịch qua việc nghe nén sóng điện thoại
Thẻ thông minh (SmartCard): Là thế hệ thẻ mới nhất, bảo mật và an toan rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo
- Phân loại theo tính chất thanh toán:
o Thẻ tín dụng (Credit card): Là loại thẻ cho phép người dung giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp từ tổ chức phát hành thẻ Người dung được ứng trước một số tiền hạn mức, và có thể tiêu trong hạn mức đoc mà không phải trả tiền ngay, chỉ phải thanh toán sau một kỳ hạn nhất định
o Thẻ ghi nợ (DebitCard): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong khoản tiền mà chủ thẻ ấy đã nạp trước
Trang 16
o Thẻ rút tiền mặt (Cashcard): Là loại thẻ rút tiền mặt từ các máy rút tiền tự động Chủ thẻ chỉ rút được tiền khi trong tài khoản thẻ có tiền.
o Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Do các tổ chức, tập đoàn lớn phát hành: Thẻ du lịch, giải trí,
Đặc điểm chung:
- Chất liệu: Plastic
- Kích cỡ: 5,5cm * 8,5cm
- Các thông tin: Nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo
nhà phát hành thẻ, số hiệu thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực
Các thông tin ở 2 mặt của thẻ:
Thương hiệu tổ chức thẻ quốc tế, loại thẻ, tên tổ chức, ngân hàng phát hành thẻ, biểu tượng thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, họ tên chủ thẻ, ký tự an ninh trên thẻ, số mật
mã đợt phát hành,
Trang 17Với thẻ chip (thẻ thông minh) là loại thẻ được gắn một chip vi
xử lý như một máy tính thu nhỏ Bộ xử lý và mô-đun bảo mật phần cứng (HSM) của chip có tính năng xử lý thông tin, lưu trữ thông tin, xử lý mã hoán thông tin vào ra Phanfam mềm bao gồm hệ điều hành, các ứng dụng, các khóa bảo mật, số liệu về chủ thẻ
Về cơ bản, thẻ chip cấu tạo giống thẻ từ, khác biệt duy nhất là thẻ chip có gắn them một con chip xử lý thông tin Thẻ thông minh còn có thể có một hình ảnh 3 chiều để tránh các vụ lừa đảo thông tin
Thẻ thông minh cung cấp rất nhiều tính năng vượt trội so với thẻ từ truyền thống như khả năng lưu trữ, khả năng bảo mật antoàn thông tin, hỗ trợ nhiều ứng dụng và đảm bảo an toàn cho các dữ liệu lưu trên thẻ Ngoài ra thẻ thông minh rất bền, có tuổi thọ khá cao (các nhà cung cấp cho biết thẻ có thể được đọc
và ghi lại tới 10.000 lần trước khi bị hỏng)
Người ta có 2 cách phân loại thẻ thông minh dựa trên công
nghệ chíp hay phương thức đọc dữ liệu Phân loại theo công nghệ chíp thực chất là phân loại theo chíp nhớ (memory chip) hay chíp vi xử lý (microprocessor chip) được gắn trên bề mặt thẻ Theo phương thức đọc dữ liệu trên thẻ thì thẻ được chia ralàm 3 loại: contact (tiếp xúc), contactless (không tiếp xúc) và dual interface (có cả 2 chức năng trên)
o Thẻ tiếp xúc: Để đọc và ghi dữ liệu lên thẻ thì thẻ phải được đặt vào thiết bị đầu cuối hay máy đọc thẻ Loại thẻ này được các tổ chức tài chính và các cơ quan truyền thông chọn lựa để
Trang 18sử dụng phổ biến vì các ưu điểm về giá cả, về các chuẩn và độ bảo mật
o Thẻ không tiếp xúc: Việc đọc/ghi dữ liệu thẻ không cần phải
có một tiếp xúc vật lý Thẻ có thể được đặt cách máy đọc thẻ vàichục centimet Tốc độ xử lý của thẻ không tiếp xúc là cao hơn sovới các thẻ tiếp xúc Vì vậy thẻ không tiếp xúc thường được ứngdụng tại những nơi cần phải xử lý nhanh như các hệ thống quá cảnh, trên các phương tiện giao thông công cộng Thẻ không tiếp xúc đắt hơn nhưng lại không an toàn bằng thẻ tiếp xúc
o Thẻ lưỡng tính: kết hợp các đặc điểm của thẻ tiếp xúc và thẻ không tiếp xúc Dữ liệu được truyền hoặc bằng cách tiếp xúc, hoặc không tiếp xúc Thẻ lưỡng tính đắt hơn rất nhiều so với 2 loại trên
thống thanh toán điện tử
EMV là tên kết hợp 3 chữ cái đầu tiên của 3 tổ chức phát hành thẻ hàng đầu thế giới là: Europay, MasterCard, Visa Cả 3 tổ chức thẻ đã thống nhất đưa ra đặc tả kỹ thuật được gọi là “EMVCard Specification” nhằm tạo nền tảng chung, đảm bảo tính tương thích giữa các hệ thống thẻ trên toàn thế giới Đặc tả nàycòn có tên gọi khác là “Đặc tả thẻ chip dành cho hệ thống thanhtoán”
EMV đưa ra các tiêu chuẩn, yêu cầu tối thiểu cho các hệ thống thanh toán thẻ tín dụng/thẻ ghi nợ dựa trên công nghệ thẻ
Trang 19thông minh Các đặc tả EMV nhằm đảm bảo sự tương thích giữa các mô hình thanh toán, đảm bảo thiết bị đầu cuối và thẻ
có khả năng tích hợp đa ứng dụng, cung cấp một khung làm việc chuẩn cho ứng dụng thẻ thanh toán Phiên bản hiện tại là EMV 2000 Europay, MasterCard và Visa thành lập ra EMVCo nhằm quản lí, duy trì và cải tiến đặc tả EMV, duy trì những
chuẩn tương tác giữa các thành phần trong hệ thống thanh toán
Đến tháng 9/2006, hơn 250 triệu thẻ Chip Visa theo tiêu chuẩn EMV được phát hành trên toàn cầu (tăng 14% so với 2005) songsong với việc triển khai 6,4 triệu máy ATM và POS tương thích (tăng 27,2% so với năm 2005) Phần lớn trong số thẻ Chip này được phát hành và sử dụng tại châu Âu Năm 2006, hơn 70% thẻ phát hành tại châu Âu là thẻ Chip
Tại Pháp, tổ chức thẻ (Cartes Bancaires) được thành lập năm
1984 đã bắt đầu đưa thẻ Chip vào sử dụng tại Pháp đầu những năm 90 của thế kỷ 20 với việc phát hành thẻ B0 Ngày nay, có hơn 42 triệu thẻ chíp được phát hành bởi hơn 180 ngân hàng
và các định chế tài chính; cùng với số máy ATM là 40,000 và hơn600,000 điểm chấp nhận thanh toán trên khắp nước Pháp Kinhnghiệm của Pháp cho thấy, sau một vài năm sử dụng thẻ chíp, gian lận thẻ trong nội địa đã giảm từ khoảng 25 triệu USD năm
1992 xuống còn gần như bằng 0 năm 1997 Tỷ lệ gian lận cũng đồng thời giảm xuống từ 0.078% còn 0.019%
Anh là một trong những thị trường thẻ phát triển nhất trên thế giới với 35 triệu chủ thẻ và khoảng 87,6 triệu thẻ đang lưu
Trang 20hành Thẻ tín dụng từ lâu đã ăn sâu vào hệ thống thanh toán của Anh với 83% người trưởng thành sở hữu ít nhất một thẻ thanh toán trở lên Động cơ chính thúc đẩy Anh chuyển sang sửdụng thẻ chíp là nhằm hạn chế gian lận thẻ Năm 1997, tại Anh
đã tổn thất đến 20.3 triệu Bảng trong khi cùng năm tại Pháp tỷ
lệ gian lận giả mạo chỉ bằng 0 Theo số liệu được công bố bởi APACS, hiệp hội thanh toán Anh, tổn thất do gian lận thẻ thanh toán đã giảm 65 triệu Bảng Anh trong năm 2005 xuống còn
439.4 triệu Bảng so với 504.8 triệu Bảng trong năm 2004
So với các nước khu vực Châu Âu, khu vực châu Á Thái Bình Dương chỉ có 25% thẻ ngân hàng phát hành ra là thẻ Chip Tại khu vực này, việc chuyển đổi thẻ Chip theo tiêu chuẩn EMV của các nước đang ở những giai đoạn phát triển khác nhau Tính đến thánh 3/2007, có khoảng 67 triệu thẻ tín dụng EMV đã được phát hành, chiếm 20% tổng số thẻ, tăng 44% so với năm trước; số máy đọc thẻ chip khoảng 1,8 triệu, chiếm 32% tổng sốmáy đọc thẻ, tăng 44% so với năm trước; Hosts thanh toán
EMV (toàn phần) là 127 tăng 34% so với năm trước Nhật Bản, Đài Loan – Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia là những nước đầu tiên chuyển sang sử dụng thẻ Chip Singapore, Thái Lan và Hồng Kông là những nước đang đi ngay sau trong việc áp dụng tiêu chuẩn EMV Rất nhiều các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi từ thẻ từ sang sử dụng thẻ Chip tại các nước này nhưng lý do quan trọng nhất chính là nhằm chốnglại việc gian lận trong thanh toán thẻ
Trang 21Tại Đài Loan, gian lận trong sử dụng và thanh toán bằng thẻ tín dụng đã trở thành một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng Đây là yếu tố chính buộc Đài Loan đã phải đặt ra thời hạn cuối cùng ápdụng các tiêu chuẩn EMV cho thẻ Chip là năm 2006 Hiện nay cókhoảng 7 triệu thẻ EMV đã được phát hành và triển khai gần như 100% đầu máy nhận EMV và các chương trình Visa
Contactless đang hoạt động, đưa Đài Loan trở thành thị trường thẻ Chip dẫn đầu tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương Trước khi hoàn thành kế hoạch chuyển đổi sang thẻ Chip, gian lận trong thanh toán thẻ đã giảm Tổn thất do gian lận thẻ thanh toán đã giảm từ 10,8 triệu USD năm 2002 xuống còn 7,6 triệu USD năm 2003
Malaysia cũng đề ra thời hạn cho việc áp dụng đầy đủ các tiêu chuẩn EMV vào năm 2006 Các tiến trình quan trọng đã được thực hiện Gần 100% thiết bị đầu cuối và thẻ tín dụng đã được áp dụng các tiêu chuẩn này Sự tăng trưởng của các thiết
bị đầu cuối theo tiêu chuẩn EMV đều từ việc trang bị mới và thay thế các các thiết bị cũ Hiệp hội Ngân hàng Malaysia và các Ngân hàng thành viên đã có sự hợp tác mật thiết nhằm đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi thẻ Chip
Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip EMV đang được tiến hành, Ngân hàng VPBank là ngân hàng đầutiên ra mắt thẻ chip chuẩn EMV dành cho thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng quốc tế (VPBank Platium MasterCard), đánh dấu một
bước tiến mới về công nghệ thanh toán thẻ còn non trẻ của
Trang 22Việt Nam Để đối phó với tình trạng gian lận thẻ có khả năng chuyển hướng sang các thị trường chưa áp dụng chương trình EMV như Việt nam hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang nghiên cứu xây dựng kế hoạch và lộ trình chuyển đổi sang EMV từ nay đến năm 2010 cho các ngân hàng thương mại triển khai một cách đồng bộ theo kịp “làn sóng” công nghệ mới này
và mặt khác nâng cao được năng lực cạnh tranh ngay trong thị trường trong nước
thông minh
Việc thay đổi từ thẻ từ sang thẻ thông minh không thể diễn ra trong chốc lát Các thẻ từ có thể tiếp tục được sử dụng trong nhiều năm nữa Trong quá trình chuyển đổi, các thiết bị đầu cuối, các mạng thanh toán và các hệ thống máy chủ phải hỗ trợ
cả 2 loại thẻ
Quá trình chuyển dịch đòi hỏi các ngân hàng phải thực hiện những thay đổi mang tính hệ thống trên hệ thống phát hành thẻ, hệ thống chuyển mạch tài chính, hệ thống giao dịch đầu cuối ATM/POS vì công nghệ phát hành và thanh toán thẻ thông minh có sự khác biệt lớn so với công nghệ thẻ từ truyền thống,
có những cấu phần phải được nâng cấp nhưng cũng có những cấu phần mới phải đầu tư riêng Sự tốn kém đầu tư là không nhỏ vì vậy lý giải tại sao các nước, các ngân hàng chưa thể đồng loạt chuyển từ sử dụng thẻ từ sang thẻ thông minh
Trang 23Tuy nhiên, vai trò của thẻ từ chỉ đến 1 ngưỡng nhất định Khi
hệ thống an toàn không còn đảm bảo nữa việc chuyển sang thẻ thông minh là việc làm tất yếu, hợp xu thế.
2.1.2 Khái quát hoạt động phát hành và thanh
toán qua thẻ
Một số khái niệm về các chủ thể tham gia vào công tác phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ
Ngân hàng phát hành (NHPH): là thành viên chính thức của các
tổ chức thẻ quốc tế, là ngân hàng tiến hành các thủ tục để in thẻ cho khách hàng Ngân hàng phát hành có trách nhiệm: xem xét việc phát hành thẻ, hướng dẫn chủ thẻ sử dụng và thực hiệncác quy định cần thiết khi sử dụng thẻ, thanh toán số tiền trên hoá đơn do ngân hàng đại lý chuyển đến, cấp phép cho các
thương vụ vượt hạn mức Từng định kỳ, ngân hàng phát hành phải lập sao kê ghi rõ và đầy đủ các giao dịch phát sinh và yêu cầu thanh toán đối với chủ thẻ tín dụng hoặc khấu trừ trục tiếp vào tài khoản của chủ thẻ đối với thẻ ghi nợ
Chủ thẻ: là người có tên ghi trên thẻ, được dùng thẻ để thanh
toán hàng hoá, dịch vụ thay tiền mặt Do vậy không áp dụng chế
độ uỷ quyền sử dụng thẻ cho người thứ hai Chỉ có chủ thẻ mới
có quyền sử dụng thẻ Mỗi khi thanh tóan cho cơ sở chấp nhận thẻ, chủ thẻ xuất trình thẻ để cơ sở kiểm tra theo quy định và lập biên lai thanh toán Ngoài ra chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc tại các ngân hàng đại lý