1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện tính tích cực tự lập cho học sinh khi dạy bài tập chương dòng điện xoay chiều vật lý lớp 12 nâng cao

117 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những nội dung cơ bản như: phân loại bài tập vật lý, soạn thảo các bài tập vật lý nhằm củng cố vận dụng kiến thức đã học và đề xuất các phương án giải bài tập… Vấn đề phát huy tính tích

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRIỆU ĐÌNH HUY

RÈN LUYỆN TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CHO HỌC SINH KHI DẠY BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”

VẬT LÝ LỚP 12 NÂNG CAO

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên – Năm 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo trong tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy, các thầy cô giáo trong khoa Vật lý, khoa sau đại học trường Đại học sư phạm Thái Nguyên Ban Giám Hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Ngô Quyền, trường THPT Gang Thép, trường THPT Dương Tự Minh đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, chia sẻ và ủng hộ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011

Tác giả

Triệu Đình Huy

Trang 4

II Mục đích nghiên cứu………2

III Đối tượng nghiên cứu……….2

IV Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 3

V Giả thuyết khoa học……….3

VI Giới hạn của đề tài…… ……… ……….3

VII Phương pháp nghiên cứu ……… … ………3

VIII Đóng góp của đề tài………… ……… 4

IX Cấu trúc của luận văn……… 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CHO HỌC SINH……… 5

1.1 Tính tích cực, tự lực……… ……… 5

1.1.1 Tính tích cực 5

1.1.1.1 Tính tích cực nhận thức là gì ? 5

1.1.1.2 Một vài đặc điểm tính tích cực của học sinh 5

1.1.1.3 Biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức 6

1.1.1.4 Tính tích cực bên ngoài và tính tích cực bên trong 7

1.1.1.5 Nguyên nhân của tính tích cực hoạt động nhận thức 8

1.1.1.6 Phân loại tính tích cực hoạt động nhận thức 9

1.1.2 Tính tự lực học tập……….………10

1.1.2.1 Tính tự lực là gì ? 10

1.1.2.2 Biểu hiện của tính tự lực học tập……….……… 12

1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tính TLTHT của học sinh ……… 12

1.1.2.4 Các yếu tố hợp thành của tính tự lực trong học tập………14

1.1.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực, tính tự lực 15

Trang 5

1.2.2 Hoạt động học của học sinh 18

1.2.3 Hoạt động dạy của giáo viên 19

1.2.4 Quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học 20

1.3 Bài tập vật lý……….20

1.3.1 Một số quan niệm về bài tập vật lý… ……….20

1.3.2 Tác dụng của bài tập vật lý……….21

1.3.3 Bài tập vật lý được sử dụng trong các trường hợp……….22

1.3.4 Vị trí của các bài tập vật lý trong dạy học vật lý……… 23

1.3.5 Phân loại bài tập vật lý……… 24

1.3.5.1 Phân loại theo nội dung:……… 24

1.3.5.2 Phân loại theo đặc điểm của yêu cầu nghiên cứu vấn đề trong bài tập………25

1.3.5.3Phân loại theo phương thức cho điều kiện hoặc phương thức giải….25 1.3.5.4 Phân loại theo mức độ phức tạp của hoạt động tư duy của học sinh khi tìm lời giải ……… 26

1.4 Tình hình dạy học vật lý và bài tập vật lý của học sinh ở các trường trung học phổ thông ……… 27

1.4.1 Cơ sở vật chất phục vụ dạy học………28

1.4.2 Tình hình học tập của học sinh……….28

1.4.3 Tình hình dạy của giáo viên……… … 29

1.4.4 Phân tích thực trạng……… 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG I……… … 31

Trang 6

2.1 Lựa chọn hệ thống bài tập……… 32

2.2 Hướng dẫn giải bài tập theo hướng rèn luyện tính tích cực, tự lực…… 34

2.2.1 Các bước giải bài tập……….34

2.2.1.1 Tìm hiểu đầu bài 35

2.2.1.2 Phân tích hiện tượng, quá trình vật lý và lập kế hoạch giải 35

2.2.1.3 Trình bày lời giải: 38

2.2.1.4 Kiểm tra và biện luận kết quả………39

2.2.2 Hướng dẫn học sinh thực hiện bước hai : phân tích hiện tượng và lập kế hoạch giải 39

2.2.2.1 Hướng dẫn theo mẫu (Hướng dẫn angôrit) 40

2.2.2.2 Hướng dẫn tìm tòi (hướng dẫn ơristic): 41

2.2.2.3 Định hướng khái quát chương trình hoá: 42

2.3 Tổ chức giờ luyện tập giải bài tập vật lý: 44

2.4 Xây dựng một số giáo án……… 46

2.4.1 Đặc điểm chương dòng điện xoay chiều (Vật lý lớp 12 nâng cao)……46

2.4.2 Các giáo án……….47

KẾT LUẬN CHƯƠNG II……….78

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……….79

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm (TNSP):……… 79

3.2 Nhiệm vụ của TNSP:……….79

3.3 Đối tượng và cơ sở TNSP:……… …79

3.4 Phương pháp TNSP: 80

3.5 Phương pháp đánh giá kết quả: 80

Trang 7

3.6 Tiến hành TNSP: 82

3.7 Kết quả và xử lý kết quả TNSP: 82

3.7.1 Kết quả quan sát các biểu hiện của tính tích cực: 82

3.7.2 Kết quả kiểm tra: 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG III……… 89

KẾT LUẬN CHUNG……… ……….90

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……….92

Phụ lục 1: PHIẾU PHỎNG VẤN GIÁO VIÊN VẬT LÝ……… …………95

Phụ lục 2: PHIẾU PHỎNG VẤN HỌC SINH……… …….98 Phụ lục 3: HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐƢỢC LỰA CHỌN ĐỂ SỬ DỤNG.….101

Trang 9

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là nguồn lực con người Để nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao thì việc này được bắt đầu từ giáo dục

Điều 27.1 của Luật giáo dục đã ghi mục tiêu của giáo dục phổ thông là

“giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên và đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Một trong những biện pháp để đạt được mục tiêu trên là đổi mới phương pháp dạy và học Chương trình giáo dục phổ thông đã nêu rõ, giáo dục phổ thông “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng của từng môn học, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

Trong dạy học vật lý, bài tập vật lý đóng vai trò rất quan trọng Bài tập vật

lý không những có tác dụng giúp học sinh ôn tập củng cố, nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo mà còn phát triển tính tính cực, tự lực, sáng tạo của học sinh

Trong lĩnh vực nghiên cứu các vấn đề của bài tập vật lý từ trước đến nay

đã có nhiều công trình của các tác giả trong nước cũng như nước ngoài đề cập tới

Trang 10

những nội dung cơ bản như: phân loại bài tập vật lý, soạn thảo các bài tập vật lý nhằm củng cố vận dụng kiến thức đã học và đề xuất các phương án giải bài tập… Vấn đề phát huy tính tích cực đã có một số tác giả đề cập trong các công trình

nghiên cứu của mình như: Đào Quang Thành- Tích cực hoá hoạt động học tập

Vật lí của HS PTTH ở miền núi trên cơ sở tổ chức định hướng rèn kỹ năng giải

bài tập Vật lí (Luận văn thạc sỹ- ĐHSPTN- Năm 1997), Đồng Thị Vân Thoa-

Một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS THPT miền núi khi

giảng dạy BT Vật lí (Luận văn thạc sỹ- ĐHSPTN- Năm 2001), Nguyễn Thị Mai

Anh- phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh lớp 10 THPT qua

giải bài tập bằng phương pháp véc tơ (luận văn thạc sỹ - Năm 2002- ĐHSPTN),

Nguyễn Thị Nga- Lựa chọn và phối hợp các phương pháp nhằm tích cực hoá

hoạt động học tập của HS THPT trong giờ giải BT Vật lí (Luận văn thạc sỹ-

ĐHSPTN- Năm 2004), Nguyễn Thế Chung- Một số biện pháp phát huy tính

tích cực hoạt động nhận thức của học sinh THPT miền núi khi dạy học bài tập vật lý (Luận văn thạc sỹ- ĐHSPTN- Năm 2009) nhưng chưa có đề tài nào đề

cập tới vấn đề rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh khi dạy bài tập vật lý

Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: Rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh

khi dạy bài tập chương: “Dòng điện xoay chiều ” Vật lý lớp 12 nâng cao

II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Phương pháp giảng dạy vật lý và bài tập vật lý phổ thông

III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tìm các giải pháp rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh THPT khi dạy bài

tập vật lý

Trang 11

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu lý luận về tính tích cực, tự lực

2 Nghiên cứu lý luận về dạy và học

3 Nghiên cứu lý luận về bài tập vật lý trong trường THPT

4 Nghiên cứu thực tế dạy và học bài tập vật lý trong trường THPT

5 Đề xuất các biện pháp rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh khi dạy bài tập vật lý

6 Xây dựng một số giáo án theo hướng rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh khi dạy bài tập chương “Dòng điện xoay chiều ” Vật lý lớp 12 nâng cao

7 Thực nghiệm sư phạm

V GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu biết kích thích hứng thú, động cơ học tập của học sinh và biết lựa chọn được hệ thống bài tập phù hợp (từ dễ đến khó, từ đơn giản đến tổng hợp, gắn với thực tế), tổ chức, hướng dẫn việc làm bài tập hợp lý để từng bước HS nắm được phương pháp chung giải một bài tập vật lí và nắm được các dạng bài tập sau mỗi phần, mỗi chương thì sẽ rèn luyện được tính tích cực, tự lực cho học sinh

VI GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh khi dạy bài tập, vận dụng vào giải bài tập vật lý chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 nâng cao

VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Nghiên cứu lý luận

 Điều tra khảo sát tình hình dạy học bài tập vật lý ở trường THPT

Trang 12

 Thực nghiệm sư phạm

VIII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

 Góp phần làm sáng tỏ lý luận về phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học

 Góp phần làm sáng tỏ lý luận giờ bài tập trong dạy học vật lý

 Tìm ra được các giải pháp rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh khi dạy bài tập chương “Dòng điện xoay chiều ” Vật lý lớp 12 nâng cao

 Góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở trường phổ thông

IX CẤU TRÖC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện tính tích cực, tự lực cho

học sinh

1 Tính tích cực, tự lực

2 Lý luận về dạy và học

3 Bài tập trong dạy học vật lý

4 Tình hình dạy học bài tập vật lý ở trường THPT của học sinh

Chương II: Các giải pháp rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh khi dạy bài

tập vật lý chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao

1 Lựa chọn hệ thống bài tập

2 Hướng dẫn giải bài tập vật lý

3 Tổ chức giờ luyện giải bài tập vật lý

4 Xây dựng một số giáo án bài tập chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao theo hướng rèn luyện tính tích cực, tự lực cho học sinh

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN

TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CHO HỌC SINH 1.1 Tính tích cực, tự lực

1.1.1 Tính tích cực

1.1.1.1 Tính tích cực nhận thức là gì ?

Theo quan điểm triết học, tính tích cực nhận thức thể hiện thái độ cải tạo

của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức, nghĩa là con người không chỉ hiểu được các qui luật của tự nhiên, xã hội mà còn nghiên cứu cải tạo chúng phục vụ lợi ích của con người

Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Nói cách khác, là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập- nhận thức  35

1.1.1.2 Một vài đặc điểm tính tích cực của học sinh

Tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác:

Mặt tự phát của tính tích cực nhận thức là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, hiếu động linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà ở trẻ đều có trong các mức độ khác nhau

Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lý mà tính tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt Do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó, thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học [2, tr.270]

TTC nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa Hạt nhân cơ bản của TTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng

Trang 14

TTC nhận thức và TTC học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phải là một Có một số trường hợp, TTC học tập thể hiện ở hành động bên ngoài, mà không phải là TTC trong tư duy

Dạy học tích cực có thể xem là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nhà trường hiện đại và có thể lấy đó phân biệt với nhà trường truyền thống

1.1.1.3 Biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức

Trong học tập, học sinh chỉ có thể chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển được tư duy của mình khi họ tích cực hoạt động nhận thức Hoạt động nhận thức

là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình học tập của học sinh Thông qua hoạt động nhận thức, HS chiếm lĩnh được kiến thức và năng lực tư duy cũng đồng thời được phát triển

Để phát hiện xem học sinh có tích cực hoạt động nhận thức không, ta dựa vào các dấu hiệu sau:

+ Học sinh có chú ý học tập không? Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không?

+ Có hoàn thành nhiệm vụ được giao không?

+ Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?

+ Có hiểu bài không? Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?

+ Có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không?

+ Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?

+ Thực hiện yêu cầu của thày giáo tối thiểu hay tối đa?

+ Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?

+ Tốc độ học tập có nhanh không?

+ Có hứng thú trong học tập không hay vì một ngoại lực nào đó mà phải học?

Trang 15

+ Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không ?

+ Có sáng tạo trong học tập không ?

Trong hoạt động học tập nói chung, trong hoạt động học Vật lí nói riêng, tính tích cực hoạt động nhận thức của HS thường thể hiện ở:

+ Hoạt động trí tuệ: tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho được lời giải hay của một bài toán khó

+ Hoạt động chân tay: say sưa lắp ráp tiến hành và quan sát thí nghiệm Hai hình thức biểu hiện này thường đi kèm nhau, tuy có lúc biểu hiện riêng

lẻ với những dấu hiệu thường thấy như sau: HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn và thích được phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay thắc mắc và đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề trình bày chưa rõ; chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã có để nhận thức các vấn đề mới; mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới nhận từ các nguồn kiến thức khác nhau có thể vượt

ra ngoài phạm vi bài học

1.1.1.4 Tính tích cực bên ngoài và tính tích cực bên trong

Trong quá trình học tập của học sinh việc thực hiện các nội quy, các yêu cầu của giáo viên, các thao tác, các hành vi bên ngoài có thể kiểm soát được là biểu hiện của tính tích cực bên ngoài

Mặt khác do bản thân học sinh có động cơ, mục đích học tập, khi tiếp thu các tác động bên ngoài đã biến thành nhu cầu nhận thức tích cực, đào sâu suy nghĩ một cách tự giác, độc lập, đó là tính tích cực bên trong

Tính tích cực bên trong không thể kiểm soát trực tiếp được, nhưng có thể kiểm soát thông qua những biểu hiện của tính tích cực bên ngoài Tính tích cực

Trang 16

bên ngoài là cần thiết nhưng tính tích cực bên trong là yếu tố quyết định tới sự phát triển của mỗi cá thể

1.1.1.5 Nguyên nhân của tính tích cực hoạt động nhận thức

Tính tích cực của học sinh nảy sinh trong quá trình học tập là kết quả của nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân phát sinh ngay trong lúc học tập, có những nguyên nhân được hình thành từ quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách Nhìn chung tính tích cực phụ thuộc vào những nhân tố sau:

* Bản thân HS

+ Đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng tạo )

+ Năng lực (hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự trải nghiệm cuộc sống )

+ Tình trạng sức khỏe

+ Trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí ) + Điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của, không khí đạo đức) + Môi trường tự nhiên, xã hội

+ Quan tâm động viên

+ Điều kiện cuộc sống gia đình

+ Môi trường tự học

+ Truyền thống gia đình

Trang 17

*Xã hội:

+ Khuyến khích, động viên, khen thưởng

+ Điều kiện kinh tế, văn hoá, chính trị của địa phương

+ Đạo đức xã hội

Trong những nhân tố trên, có những nhân tố có thể hình thành ngay như: Hứng thú, nội dung, phương pháp dạy học, nhưng cũng có những nhân tố chỉ được hình thành trong một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của nhiều tác động như: Môi trường sức khoẻ, ý chí, năng lực, gia đình, xã hội…Vì thế việc phát huy tính tích cực của học sinh không chỉ được thực hiện ở một tiết học mà phải

có kế hoạch lâu dài, toàn diện và kết hợp giữa giáo viên, nhà trường, gia đình, xã hội

1.1.1.6 Phân loại tính tích cực hoạt động nhận thức;

Tuỳ theo việc huy động và mức độ huy động các chức năng tâm lý nào mà người ta phân ra ba loại tính tích cực:

- Tính tích cực tái hiện: Chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện

- Tính tích cực tìm tòi: Đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi, tích cực về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khao khát hiểu biết, hứng thú học tập

- Tích cực sáng tạo: Là mức độ cao nhất của tính tích cực đặc trưng bằng

sự khẳng định con đường riêng của mình, không giống những con đường mà mọi người đã thừa nhận, đã trở thành chuẩn mực, để đạt được mục đích [6]

Trang 18

có kết quả trách nhiệm học tập của mình, sử dụng vốn hiểu biết , kinh nghiệm và những phẩm chất cá nhân của mình một cách đúng đắn hợp lý, giữ sự tự kiểm tra

và biết xây dựng lại hoạt động của mình khi gặp những trở ngại mà bản thân chưa có sự đề phòng trước

Sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho sự tự học thường biểu hiện ở việc:

- Học sinh tự ý thức được nhu cầu học tập của mình, yêu cầu của xã hội tập thể hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra dối với việc học tập của mình

- Học sinh ý thức được mục đích học tập và thực hiện mục đích đó sẽ làm thoả mãn nhu cầu nhận thức của mình

- Học sinh suy nghĩ kỹ, đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tập của mình, tích cực hoá những kiến thức , kinh nghiệm đã tích luỹ có liên quan tới việc giải quyết các yêu cầu và nhiệm vụ học tập Trên cơ sở đó xác dịnh những cách thức hợp lý hơn để giải quyết yêu cầu và nhiệm vụ học tập

- Học sinh dự đoán trước được diễn biến những quá trình trí tuệ, cảm xúc động cơ, ý chí của mình; Đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyện vọng và sự cần thiết phải đạt được kết quả học tập nhất định

- Học sinh biết động viên mọi sức lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ học tập đòi hỏi

Trang 19

Theo tác gia Đặng Vũ Hoạt, các phẩm chất hoạt động trí tuệ cần hình thành ở học sinh là: Tính định hướng, bề rộng, chiều sâu, tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính độc lập, tính nhất quán, tính phê phán, tính khái quát [6, tr117-119] Chính vì vậy, theo chúng tôi, để đo lường tính tự lực trong học tập, ngoài công cụ là bảng câu hỏi dành cho học sinh, cần phải có thêm công cụ đo lường năng lực học tập của học sinh Vì bảng câu hỏi chỉ đo lường nhu cầu, động cơ, ý chí tính tổ chức cho phép học sinh tự học, chứ chưa đo lường đầy đủ năng lực học tập bộ môn của học sinh Các thành phần cần đo lường năng lực học tập của

học sinh gồm: Kết qủa của quá trình lĩnh hội tài liệu; Các biện pháp hành

động trí tuệ như quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, độc lập, sáng tạo định hướng, phê phán

Trang 20

Các thành phần cần đo lường trên đây cũng chính là các thành phần mà

các biện pháp phát huy tính TLTHT cần hướng tới nhằm bồi dưỡng cho HS năng lực học tập, phương pháp tự học Bởi vì nếu GV không trang bị cho HS

phương pháp học tập bộ môn nói riêng và phương pháp tự học nói chung thì học

sẽ không bao giờ có được tính TLTHT cho dù các em có nhu cầu học tập và biết

tổ chức trong học tập hợp lý

Tính tổ chức học tập của học sinh thể hiện ở chỗ: biết đưa lao động trí óc vào nề nếp nhất định, cụ thể là biết tuân theo chế độ làm việc, biết tổ chức chỗ học tập ngăn nắp và hợp vệ sinh; biết lao động trí óc một cách tuần tự có hệ thống, có thói quen đặt kế hoạch, tự kiểm tra, tự đánh giá công việc của mình; biết tập trung chú ý, có tinh thần kiên trì, khắc phục khó khăn đạt được nhiệm vụ

đã đề ra

1.1.2.2 Biểu hiện của tính tự lực học tập

Theo chúng tôi, tính TLTHT được biểu hiện ở nhu cầu, động cơ học tập năng lực và tổ chức tự học, giúp con người chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng một cách vững chắc Đối với học sinh tính TLTHT thường hai mức độ: tự lực từng phần, và tự lực hoàn toàn TLTHT là cốt lõi của hoạt động tự học, vì vậy tương ứng với hai mức độ của tính TLTHT ta cũng có hai mức độ của hoạt đông tự học Đó là : tự học có hướng dẫn và tự học không có hướng dẫn

1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tính TLTHT của học sinh

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính TLTHT của HS, trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ xem xét đến các nhân tố như giáo viên, cha mẹ học sinh, việc học tập hợp tác với bạn, bản thân người HS

+ Giáo viên

Trang 21

Trong quá trình giảng dạy ,giáo viên sử dụng các thủ thuật để hình thành ở học sinh nhu cầu hiểu biết, hứng thú nhận thức , từ đó hình thành động cơ nhận thức

Năng lực học tập của học sinh có được là nhờ giáo viên giúp họ phương pháp suy nghĩ ,các phương pháp tự học như phương pháp tiếp nhận và xử lý thông tin ,phương pháp giải quyết vấn đề để tích luỹ tri thức, hình thành kỹ năng

kỹ xảo.Trong quá trình học tập tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên thì trí tuệ của họ cũng phát triển Ngay đến tính tổ chức học tập và hành động ý trí cũng được hình thành nhờ vào sự giúp đỡ của giáo viên

+ Gia đình

Tuỳ theo trình độ học vấn và sự quan tâm của cha mẹ hoc sinh mà ảnh hưởng của họ đến việc hình thành tính TLTHT ở con em họ nhiều hay ít Những bậc cha mẹ có hiểu biết và có kinh nghiệm thường biết khơi gợi nhu cầu hiểu biết, tạo hứng thú nhận thức, hình thành kỹ năng tổ chức lao động học tập cho con trẻ mình Không những thế, họ còn biết giúp con em mình biết xác định mục đích, rèn luyện phương pháp học tập, động viên chúng khác phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ

+Việc hợp tác với bạn trong học tập

Hoạt động này nếu được phân công rõ ràng và học sinh có ý thức học tập lao động sẽ có tác dụng hình thành trong bước khả năng TLTHT của các em, vì hoạt động học tập hợp tác bao giờ cũng bắt đầu bằng tự học cá nhân Mỗi học sinh phải hoàn thành phần việc của mình trước khi tham gia vào hoạt động học tập hợp tác Phần việc đó có thể là tường trình, giải thích một nội dung, thuyết đã

Trang 22

học, giải một bài tập hay làm một bài văn Khi hoàn thành nhiệm vụ này, tính TLTHT của học sinh từng bước được hình thành

+ Bản thân người học sinh với tất cả những đặc điểm tâm sinh lý của nó Những yếu tố tâm lý có ảnh hưởng đến tính TLTHT của học sinh bao

gồm:

Nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập, khả năng nhận thức, giao tiếp … Ở đây

xin nhấn mạnh rằng bản thân người học sinh cần có ý thức phát huy tính TLTHT bằng cách hình thành nhu cầu, động cơ học tập, phát triển hứng thú học tập bộ môn dưới các tác động của các biện pháp của giáo viên Mỗi học sinh phải là một chủ thể năng động, tích cực trong việc hình thành nhu cầu, hứng thú, động

cơ hoc tập

Tóm lại, bản thân mỗi học sinh THPT đều có đầy đủ các yếu tố tâm sinh

lý cho sự hình thành và phát triển tính TLTHT, chỉ có điều là họ có đầy đủ ý thức và lòng quyết tâm hay không cũng như giáo viên bộ môn có sử dụng một cách nhiệt tình các biện pháp để phát huy phẩm chất này ở họ hay không mà thôi

1.1.2.4 Các yếu tố hợp thành của tính tự lực trong học tập

Tính TLTHT có những yếu tố hợp thành sau:

* Yếu tố bao trùm lên các yếu tố khác đó là ý thức

Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới,

biểu hiện khả năng dự kiển trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó, làm cho

hành vi có tính chủ định Tính tổ chức học tập, khả năng lập kế hoạch học tập thể hiện mức độ ý thức của học sinh trong việc tự học

* Yếu tố thứ hai của tính TLTHT là nhu cầu, động cơ nhận thức:

Trang 23

* Yếu tố hợp thành thứ ba của tính TLTHT là năng lực học tập đƣợc đặc trƣng bằng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vững vàng làm chỗ dựa cho hoạt động nhận thức; bằng sự phát triển trí tuệ, phương pháp suy nghĩ Nhờ đó mà

người có thể dễ dàng tự mình xác định được nhiệm vụ nhận thức, thay đổi nhưng cách thức hành động của mình dể phù hợp với những hoàn cảnh mới và biết đánh giá đúng yêu cầu và nhiệm vụ đã đề ra

* Yếu tố hợp thành thứ tƣ của tính TLTHT là sự tổ chức học tập

Sự tổ chức học tập là sự thống nhất giữa phương pháp suy nghĩ và phương pháp lao động chung của hoạt động tự lực trong học tập Vì phương pháp lao động chung bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức lao động và tự kiểm tra

* Yếu tố hợp thành thứ năm của tính TLTHT là ý chí và hành động ý chí

ý chí là một phẩm chất nhân cách thể hiện những hành dộng có mục đích đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn

ý chí được thể hiện qua các tính chất như: tính mục đích, tính độc lập, tính quyết đoán, tính kiên cường, tính dũng cảm, tính tự kiềm chế, tự chủ

Các phẩm chất ý chí của nhân cách nói trên luôn gắn bó hữu cơ với nhau,

hỗ trợ cho nhau, tạo nên ý chí cao cho con người Các phẩm chất ý chí được thể hiện trong hành động ý chí

1.1.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực, tính tự lực

Các nhà tâm lý học và giáo dục học đều khẳng định tính TLTHT không thể nghiên cứu ngoài mối liên hệ với tính tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức không những là điều kiện cần thiết mà còn là sự biểu hiện của sự nảy sinh

và phát triển tính TLTHT Trong tính TLTHT đã thể hiện tính tích cực nhận thức

và đồng thời trong sự thể hiện tính tích cực đó lại có tác dụng hướng cá nhân đến

Trang 24

tính TLTHT ở mức độ cao hơn Song từ đó không thể đồng nhất khái niệm tính

tự lực và tính tích cực nhận thức với nhau được [4,tr.10-13]

Xét về nguồn gốc thì cả tính tích cực và tính TLTHT đều bắt nguồn từ nhu cầu học tập nhận thức Người HS tích cực , tự giác học tập khi bản thân họ có nhu cầu chiếm lĩnh tri thức , nhu cầu tự khẳng định mình , hoặc nhu cầu đạt một mục tiêu nào đó trong học tập (thi đỗ chẳng hạn).Từ nhu cầu đó ,học sinh sẽ huy động các chức năng tâm lý (nhận thức ,tình cảm ,ý chí ) trong mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng Nhưng để có tính TLTHT, HS phải có phương pháp học tập có năng lực và tính tổ chức học tập nữa Chính vì vậy có thể nói tính tích cực nhận thức có liên hệ với tính TLTHT nhưng hai phẩm chất này không đồng nhất với nhau được vì về mặt cấu trúc chúng có sự khác nhau

Tính tích cực nhận thức là điều kiện, là kết quả, là biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển của tính tự lực nhận thức Tính tự lực nhận thức là sự thể hiện

ở mức độ cao của tính tích cực nhận thức và là cơ sở của tính sáng tạo Tuy nhiên các mối quan hệ này không phải là tuyến tính

1.1.4 Các biện pháp rèn luyện TTC và TTL của học sinh trong học tập

Các biện pháp rèn luyện TTC và TTL của học sinh trong học tập, có thể tóm lược như sau:

+ Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

+ Nội dung DH phải mới, nhưng không qúa xa lạ với HS mà cái mới phải liên hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai Kiến thức phải

có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS

Trang 25

+ Phải dùng các PP đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh,

tổ chức thảo luận, sêmina và phối hợp chúng với nhau

+ Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ

+ Sử dụng các phương tiện DH hiện đại để kích thích hứng thú học sinh + Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan, làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm

+ Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới + Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức

+ Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS

+ Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội

+ Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt

+ Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội

Trong thời gian tới nên điều chỉnh công tác nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề TTC hóa hoạt động nhận thức của HS theo một số hướng cơ bản sau:

+ Nghiên cứu PP nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức sáng tạo chứ không dừng lại mức độ tái hiện như hiện nay

+ Phát huy sức mạnh bản chất của người học, mà theo K.Mark đó là: trí tuệ, tâm hồn và ý chí Đặc biệt là sức mạnh tâm hồn (hứng thú, xúc cảm ) là điều lâu nay chưa được chú ý đúng mức

Trang 26

+ Phối hợp chặt chẽ và khoa học hơn nữa giữa các thày giáo, các nhà quản

lí, các nhà văn hóa và phụ huynh HS

1.2 Quan điểm về hoạt động dạy học

các yếu tố: thày, trò, tƣ liệu dạy học

Theo xu hướng dạy học tích cực, hoạt động dạy học là hoạt động cùng nhau của thày và trò dưới hình thức: Thày là người hướng dẫn, trò là chủ thể nhận thức

Qúa trình dạy học gồm hai hoạt động:

+ Hoạt động dạy của giáo viên

+ Hoạt động học của học sinh

1.2.2 Hoạt động học của học sinh

Học là hoạt động nhiều mặt của học sinh bao gồm những thao tác chân tay

và thao tác trí tuệ Một mặt tận dụng sự hướng dẫn của thày giáo, mặt khác dựa vào tư liệu dạy học, sử dụng vốn kinh nghiệm của bản thân mà tích cực, tự chủ chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ, quan điểm đạo đức thái độ

Đối với môn vật lý hoạt động học tập là hoạt động phức tạp dựa trên sự vật hiện tượng có thật bao gồm các thao tác: quan sát hiện tượng, quan sát thí

Trang 27

nghiệm, tiến hành thí nghiệm…từ đó nhờ kinh nghiệm của bản thân trên cơ sở sự kiện thực tế, sự hướng dẫn của giáo viên, thông qua tư liệu dạy học, học sinh tiến hành các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, quy nạp, rút ra kết luận mới, xây dựng tri thức mới, tương ứng hình thành: kỹ năng, kỹ xảo Kết quả: bản thân chủ thể của hoạt động học - Học sinh có sự thay đổi về vốn kinh nghiệm, vốn kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp nhận thức và nhân cách học sinh thay đổi

1.2.3 Hoạt động dạy của giáo viên

Nếu học là hành động của học sinh xây dựng kiến thức mới cho bản thân mình và vận dụng kiến thức của mình thì dạy là dạy học sinh hoạt động, dạy học sinh chiếm lĩnh tri thức, xây dựng kiến thức mới

Đối với môn vật lý dạy học là hoạt động có mục đích của giáo viên, được quy định bởi những nhiệm vụ dạy học của môn vật lý:

+ Đảm bảo cho học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản

+ Đảm bảo cho học sinh nắm vững các kỹ năng cơ bản

+ Phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh

+ Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và thế giới quan cho học sinh

Cơ sở của hoạt động dạy học vật lý là sự điều khiển hoạt động học tập của học sinh căn cứ trên lôgic của khoa học vật lý, đặc điểm phương pháp nghiên cứu vật lý và đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh

Kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động của học sinh, nên nhiệm vụ chủ yếu của giáo viên là dạy học sinh hoạt động, dạy học sinh chiếm lĩnh và vận dụng tri thức vào thực tiễn Hoạt động dạy sẽ mang đầy đủ ý nghĩa của nó với mục đích là dạy học sinh hoạt động chứ không phải trình bày theo mẫu sau đó học sinh bắt trước

Hoạt động dạy học vật lý còn được quy định bởi đặc điểm của vật lý học:

Trang 28

+ Vật lý học là khoa học thực nghiệm chính xác, các quy luật của nó được diễn tả bằng các quy luật toán học

+ Vật lý học gắn với thực tế sản xuất và đời sống

+ Vật lý học được xây dựng, phát triển theo hai con đường: thực nghiệm

và lý thuyết

1.2.4 Quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Hoạt động dạy và học không tách rời nhau mà gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học, hoạt động học vừa được chỉ đạo, vừa tự chỉ đạo, đồng thời giáo viên phải đảm bảo mối liên hệ thường xuyên để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp với hoạt động học

Hoạt động dạy của giáo viên chỉ đạo hoạt động học của học sinh, giáo viên

tổ chức quá trình hướng dẫn học sinh hoạt động, đồng thời hoạt động học của học sinh vừa được diễn ra dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên, học sinh vừa tự giác điều chỉnh hoạt động của mình để nhớ lại hệ thống kiến thức đã học lựa chọn kiến thức cần thiết để xây dựng kiến thức mới

1.3 Bài tập vật lý

1.3.1 Một số quan niệm về bài tập vật lý

Bài tập vật lý là bài tập vận dụng đơn giản kiến thức lý thuyết đã học vào những trường hợp cụ thể, còn một thuật ngữ khác “Bài toán vật lý” hiểu là loại bài toán được sử dụng để hình thành kiến thức mới trong khi giải quyết một vấn

đề được đặt ra chưa có câu trả lời hoặc chưa có cách giải quyết suy ra được từ những kiến thức cũ

Giải bài tập (bài toán) vật lý là tập hợp vận dụng các khái niệm, quy tắc, định luật vật lý đã học vào những vấn đề của thực tiễn đời sống, trong lao động

Trang 29

Theo quan điểm dạy học hiện đại Bài tập vật lý là vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát được giải quyết nhờ những suy luận lôgic, những phép toán và thí nghiệm trên cơ sở các định luật và phương pháp vật lý Thông thường trong sách giáo khoa và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu những bài tập là những luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng vật lý, hình thành các khái niệm, phát triển

tư duy vật lý của học sinh và rèn luyện kỹ năng vận dụng các kiến thức của họ vào thực tiễn

Như vậy bài tập vật lý chứa đựng cả hai ý nghĩa khác nhau là vận dụng kiến thức cũ và tìm kiếm kiến thức mới Vì thế không nên phân biệt bài tập vật

lý và bài toán vật lý mà có thể gọi chung là bài tập vật lý Định nghĩa bài tập vật

lý nêu trên đây được nhiều nhà lý luận dạy học và giáo viên bộ môn tán thành

Hình thành và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phát triển thói quen vận dụng kiến thức một cách khái quát cho học sinh Đây là tác dụng quan trọng nhất của bài tập vật lý, qua việc giải bài tập vật lý kiến thức của học sinh mới có thể được nắm vững thật sự

Là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức mới cho học sinh Trong chương trình sách giáo khoa vật lý hiện nay có nhiều kiến thức mới được hình thành bằng việc giải bài tập vật lý

Trang 30

Ôn tập những kiến thức đã học và củng có những kiến thức cơ bản của bài giảng Để giải được một bài tập vật lý Học sinh cần phải có một kiến thức cơ bản nhất định và cả mối liên hệ giữa chúng cho nên trong quá trình giải bài tập vật lý không chỉ có kiến thức mới của học sinh được củng cố mà học sinh còn được ôn lại nhiều lần kiến thức cũ đã học

Phát triển tư duy vật lý: Trong khi giảng bài tập vật lý, học sinh phải sử dụng nhiều lần các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh để xây dựng lập luận, thực hiện các phép tính toán, khi cần thiết còn phải tiến hành các thí nghiệm, thực hiên các phép đo, xác định sự phụ thuộc giữa các đại lượng, hình thành các kết luận của chính mình…Trong điều kiện đó, tư duy lôgic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực làm việc độc lập của học sinh được nâng cao

Bài tập vật lý còn rèn luyện cho học sinh những phẩm chất cá nhân như tình yêu lao động, trí tò mò, sự khéo, khả năng tự lực, hứng thú học tập, ý chí và

sự kiên trì đạt tới mục đích đã đặt ra

Bài tập vật lý còn là phương tiện kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh và làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học sinh đồng thời giúp học sinh vượt qua những khó khăn và khắc phục những sai lầm đó

Bài tập vật lý có vai trò đặc biệt trong việc phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học vật lý

1.3.3 Bài tập vật lý được sử dụng trong các trường hợp sau:

+ Đề xuất vấn đề học tập hay tạo tình huống có vấn đề

+ Thông báo kiến thức mới (mà trong giờ lý thuyết chưa có điều kiện đề cập đầy đủ)

+ Hình thành thói quen và kỹ năng thực hành

Trang 31

+ Kiểm tra kiến thức học sinh

+ Củng cố, khái quát hoá và ôn tập kiến thức

+ Thực hiện các nguyên tắc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, làm quen học sinh với các thành tựu khoa học kỹ thuật và các phương pháp phát triển kinh tế, khoa học của đất nước

+ Phát triển năng lực sáng tạo ở học sinh

1.3.4 Vị trí của các bài tập vật lý trong dạy học vật lý

* Vị trí: Giải bài tập vật lý là một phần của đa số các bài học vật lý, cũng như là nội dung quan trọng của các nhóm hoạt động ngoại khoá của các nhóm về vật lý Ở dạng bài học tổng hợp ( gồm bốn giai đoạn: kiểm tra kiến thức, trình bày bài mới, củng cố, ra bài tập về nhà), các bài tập được sử dụng hai lần:

+ Mở bài: Kiểm tra kiến thức

+ Kết thúc: Để củng cố và đào sâu kiến thức đã học Để kiểm tra các bài tập về nhà, giáo viên thường gọi cho học sinh lên bảng trình bày bài giải của mình

Để củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng thường tiến hành các bài học giải bài tập vật lý Những bài học này thường được tiến hành sau khi học xong một đề tài, hoặc một chương, một phần kiến thức của chương trình

* Các hình thức cơ bản khi dạy học sinh giải bài tập vật lý:

+ Giáo viên phân tích, ghi lên bảng các bài tập điển hình hoặc tương đối phức tạp, nêu các câu hỏi, tổ chức và động viên tập thể học sinh tham gia vào công việc giải bài toán đặt ra

+ Giáo viên tổ chức cả lớp phân tích và thảo luận, một học sinh ghi cách giải lên bảng, để có hiệu quả giáo viên nên dành thời gian để từng học sinh có thời gian suy nghĩ và làm việc độc lập, tự lực

Trang 32

+ Giáo viên nêu đề bài còn học sinh tự suy nghĩ giải quyết, ngoài việc thực hiện vai trò cố vấn cho học sinh khi cần thiết (gợi ý, giải đáp các thắc mắc, chỗ chưa rõ của đầu bài…) Giáo viên cần kiểm tra kết quả công việc của từng học sinh, uốn nắn và hệ thống hoá các sai sót, ưu nhược điểm chung của học sinh khi tổng kết bài giải

1.3.5 Phân loại bài tập vật lý

Cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn phân loại bài tập vật

lý, trong bất kỳ loại bài tập nào cũng chứa đựng một vài yếu tố của một hay nhiều loại khác Phân loại bài tập vật lý được viết nhiều trong các sách giảng dạy

bộ môn [9], [10], [18] Sau đây là một số cách phân loại

1.3.5.1 Phân loại theo nội dung:

Người ta chia bài tập theo các đề tài của tài liệu vật lý Ví dụ: Bài tập cơ học, bài tập nhiệt học, bài tập điện học, bài tập quang học …Cách chia nay cũng

có tính quy ước, vì trong nhiều trường hợp trong một bài toán có sử dụng kiến thức của nhiều phần khác nhau của giáo trình vật lý

Theo nội dung người ta cũng có thể phân chia thành các bài tập có nội dung trừu tượng và các bài tập có nội dung cụ thể

Các bài tập có nội dung trừu tượng chứa đựng các dữ kiện dưới dạng các

kí hiệu, lời giải cũng được biểu diễn đưới dạng một công thức chứa đựng ẩn số

và dữ kiện đã cho, giúp cho học sinh dễ dàng nhận ra các kiến thức vật lý cần vận dụng để giải Do đó những bài tập trừu tượng đơn giản thường được dùng để cho học sinh tập dượt áp dụng các công thức đã học

Các bài tập có nội dung cụ thể, các dữ kiện cho đều đưới dạng các con số

cụ thể, các bài tập cụ thể mang đặc trưng trực quan gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh

Trang 33

Ngoài ra người ta còn phân biệt các bài tập có nội dung kỹ thuật, bài tập

có nội dung lịch sử, bài tập vui

1.3.5.2 Phân loại theo đặc điểm của yêu cầu nghiên cứu vấn đề trong bài tập

Bài tập định tính (bài tập câu hỏi hay bài tập lôgic) : Loại bài tập các điều kiện cho đều nhấn mạnh bản chất vật lý của hiện tượng Khi giải chúng học sinh phải lập luận trên cơ sở các định luật vật lý, do đó giúp học sinh nắm vững bản chất vật lý của các vấn đề học tập, đồng thời chuẩn bị cho học sinh giải các bài toán tính toán phức tạp vì nó rèn luyện tư duy logic và tập cho học sinh biết phân tích bản chất vật lý của hiện tượng

Các bài tập định lượng: Khi giải bài tập loại này học sinh phải tính toán để xác định mối liên hệ phụ thuộc về lượng giữa các đại lượng và nhận được câu trả lời dưới dạng một công thức hoặc là một số.Các bài tập này có thể giải trên lớp, trong giờ luyện tập, giao về nhà cho học sinh vận dụng kiến thức Dạng bài tập này có ưu điểm lớn là làm sâu sắc các kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức đặc thù của vật lý, đặc biệt là phương pháp suy luận toán học

Tuỳ theo phương pháp toán học được vận dụng, bài tập định lượng được quy về các bài tập số học, đại số và hình học

Đặc biệt, khi các câu hỏi loại này được nêu dưới dạng trắc nghiệm khách quan thì yêu cầu học sinh phải nhớ kết quả cuối cùng đã được chứng minh trước

đó để giải nó một cách nhanh chóng Vì vậy yêu cầu học sinh phải hiểu bài một cách sâu sắc để vận dụng kiến thức ở mức độ cao

Người ta phân biệt các loại bài tập: Bài tập bằng lời , bài tập thực nghiệm, bài tập tính toán, bài tập đồ thị

Trang 34

Bài tập bằng lời: khi giải chủ yếu là lập luận,giải thích bằng lời nói, do vậy

có tác dụng lớn trong việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh

Các bài tập tính toán: Đó là các bài tập khi giải phải sử dụng các phương pháp toán học Đây là loại bài toán được sử dụng rộng rãi Các bài tập này có thể giải trên lớp, giao cho học sinh về nhà tập vận dụng kiến thức Dạng bài tập này

có ưu điểm là làm sâu sắc kiến thức của học sinh, rèn cho học sinh phương pháp nhận thức đặc thù của vật lý, đặc biệt phương pháp suy luận toán học

Các bài tập đồ thị: Phân tích các đồ thị từ điều kiện bài toán để có các dữ liệu giải bài toán đó Qua việc giải bài tập đồ thị phát triển đựoc kỹ năng vẽ, sử dụng đồ thị là các kỹ năng có tác dụng sâu sắc trong kỹ thuật

Các bài tập thực nghiệm: Khi giải phải sử dụng thí nghiệm để xác định các đại lượng cần cho giải bài tập, cho phép đưa ra lời giải hoặc kiểm tra cách tính toán phù hợp ở mức độ nào đó với điều kiện bài toán, ở đây có thể sử dụng các thí nghiệm biểu diễn hoặc thí nghiệm phức tạp của học sinh

Để tiến hành các bài tập thí nghiệm, trong phòng thí nghiệm cần phải có trang bị ở mức độ nhất định Vì những bài tập này có thể mang đặc trưng định tính hoặc định lượng, cách giải phụ thuộc vào vai trò của thí nghiệm Nếu phải thu thập các số liệu cho tính toán thì phải tiến hành các phép đo tương đối chính xác

1.3.5.4 Phân loại theo mức độ phức tạp của hoạt động tƣ duy của học sinh khi tìm lời giải [19]

Qua việc xem xét hoạt động tư duy của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải bài tập vật lý phân chia bài tập vật lý thành hai loại: Bài tập cơ bản (BTCB) và bài tập phức hợp (BTPH)

Trang 35

BTCB: là loại bài tập vật lý mà để tìm được lời giải chỉ cần xác lập mối quan hệ trực tiếp, tường minh giữa những cái đã cho và một cái phải tìm chỉ dựa vào một kiến thức cơ bản vừa học mà học sinh chỉ cần tái hiện chứ không thể tự tạo ra

BTPH: là các bài tập vật lý mà trong đó, việc tìm lời giải phải thực hiện một chuỗi lập luận lôgic, biến đổi toán học qua nhiều mối liên hệ giữa những cái

đã cho, cái phải tìm với những cái trung gian không cho trong đầu bài Việc xác lập mối liên hệ trung gian đó là một BTCB Và do đó, muốn giải được một BTPH, buộc phải giải được thành thạo các BTCB, ngoài ra còn phải biết cách phân tích BTPH để quy nó về các bài tập cơ bản đã biết

Các bài tập có nội dung cụ thể, các dữ kiện cho đều đưới dạng các con số

cụ thể, các bài tập cụ thể mang đặc trưng trực quan gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh

Ngoài ra người ta còn phân biệt các bài tập có nội dung kỹ thuật, bài tập

có nội dung lịch sử, bài tập vui

1.4 Tình hình dạy học vật lý và bài tập vật lý ở các trường trung học phổ thông

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát ở ba trường trung học phổ thông thuộc thành phố Thái Nguyên đó là: Trường THPT Ngô Quyền, trường THPT Gang Thép, trường THPT Dương Tự Minh, với mục đích sau:

Điều tra về cơ sở vật chất phục vụ dạy học

Tìm hiểu về chất lượng học tập nói chung và chất lượng học tập môn vật

lý nói riêng

Trang 36

Khảo sát phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện phục vụ giảng dạy, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên, …

1.4.1 Cơ sở vật chất phục vụ dạy học

+ Nhìn chung cả ba trường chúng tôi điều tra (Trường THPT Ngô Quyền, trường THPT Gang Thép, trường THPT Dương Tự Minh) đều có đủ phòng học và học sinh chỉ phải học một ca

+ Về phòng thí nghiệm và dụng cụ thí nghiệm cơ bản đầy đủ và đồng bộ, có cán

bộ chuyên trách phòng thí nghiệm

+ Về học sinh tất cả các học sinh của cả ba trường đều có sách giáo khoa và 90%

có sách bài tập vật lý, chỉ khoảng 30% có sách tham khảo Vì thế hầu hết học sinh chỉ làm bài tập ở sách giáo khoa và một số bài tập giáo viên cho, ngoài ra không tự làm thêm các bài tập khác

1.4.2 Tình hình học tập của học sinh

Qua điều tra bằng phiếu thăm dò, tham khảo các sổ điểm, các bài kiểm tra chất lượng của học sinh, trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh và dự giờ chúng tôi thu được những kết quả sau:

-Chất lượng học tập của tất cả các môn của học sinh còn thấp (25% khá giỏi, 70% trung bình, còn lại yếu kém) Trong đó các môn khoa học tự nhiên và

Trang 37

ngoại ngữ rất thấp, đa số học sinh sợ và ngại học những môn này, đặc biệt là môn vật lý

- Chất lượng học tập của môn vật lý của học sinh chưa cao (23% khá giỏi, 50% trung bình, còn lại là yếu kém)

- Đa số học sinh ( 60%) cho rằng vật lý là môn học trừu tượng, khó hiểu, nên không hứng thú học tập

- Tìm hiểu về mức độ tích cực, tự lực trong giờ học của học sinh thì có khoảng 25% học sinh chú ý nghe giảng, suy nghĩ, tích cực phát biểu, xây dựng bài, 60% chủ yếu chỉ nghe giảng và không phát biểu, 15% không chú ý nghe giảng

- Đa số học sinh (70%) học sinh chỉ học thuộc lòng những gì giáo viên cho ghi trong vở và những định nghĩa ở sách giáo khoa, chỉ khoảng 20% học sinh tự giác làm bài tập sách giáo khoa, sách bài tập và sách tham khảo, 60% học sinh chỉ làm những bài tập dễ ở sách giáo khoa, 20% học sinh hầu như không làm bài tập ở nhà Thời gian tự học môn vật lý ở nhà rất ít thường chỉ từ 2 đến 3 giờ trong tuần

- Số học sinh tự lực giải được bài tập rất ít (10%) còn lại cần sự giúp đỡ của giáo viên, thậm chí có học sinh không giải được mặc dù có sự giúp đỡ của giáo viên (10%)

Tìm hiểu về những khó khăn của học sinh khi giải bài tập cho thấy: 15% không hiểu và tóm tắt được đầu bài, 40% không nhớ lý thuyết, 50% không biết vận dụng lý thuyết vào giải bài tập, 50% gặp khó khăn trong tính toán

1.4.3 Tình hình dạy của giáo viên

Các phương pháp thường được giáo viên sử dụng là: Phương pháp giảng giải (80%), Phương pháp đàm thoại (70%), Phương pháp dạy học nêu vấn đề

Trang 38

(80%) , Phương pháp thực nghiệm ít được sử dụng (30%), Hầu như không sử dụng phương pháp tham quan ngoại khoá, dạy học chương trình hoá

Nguồn tài liệu làm cơ sở cho giáo viên lựa chọn bài tập hiện nay tương đối phong phú, song nhiều giáo viên chưa đầu tư đúng mức cho việc lựa chọn hệ thống bài tập, mà thường chỉ lấy bài tập ở sách giáo khoa và sách bài tập cho học sinh làm (75%)

Việc lựa chọn bài tập của giáo viên còn chưa có mục đích rõ ràng, thường thì khi dạy xong mục nào ở sách giáo khoa thì dùng ngay bài tập ở mục đó

Quá trình giải bài tập chưa phát huy được tính tích cực, tự lực của học sinh Chủ yếu là giáo viên chữa cho học sinh một vài bài làm mẫu, học sinh theo dõi, chép lại, sau đó bắt trước làm các bài tương tự (thậm chí không hiểu) (70%) Trong quá trình giáo viên chữa cho học sinh thì thường giáo viên chỉ giải thích cách làm của mình mà chưa chú ý đến phát triển năng lực tự giải quyết vấn đề của học sinh, hoặc hướng dẫn học sinh theo kinh nghiệm chứ không theo một kế hoạch nào

1.4.4 Phân tích thực trạng

Những kết quả điều tra ở trên cho thấy học sinh chưa xác định được động

cơ, mục đích học tập, không hứng thú với môn vật lý, chưa có phương pháp học tập hiệu quả, thời gian dành cho môn vật lý còn ít, khă năng nhận thức tích cực,

tự lực kém, chất lượng học tập còn thấp Đối với việc giải bài tập vật lý khó khăn chủ yếu mà học sinh mắc phải là chưa nắm vững được cách giải bài tập lý, khó khăn khi chuyển từ ngôn ngữ đời sống sang ngôn ngữ vật lý, khả năng phân tích các hiện tượng vật lý kém, do đó khó khăn trong khi tìm đường lối giải cụ thể

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Tính tích cực nhận thức là một trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Tính TL THT là sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho sự tự học Sự chuẩn bị này

là tiền đề quan trọng cho hoạt động học tập có mục đích, cho sự điều chỉnh đảm bảo hoạt động đó có hiệu quả

Tính tích cực, tự lực của HS phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Hứng thú nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, sức khoẻ, môi trường, truyền thống gia đình…Trong đó có nhiều nhân tố GV có thể tác động, điều chỉnh, phát huy chúng Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động dạy học của GV có tác động quan trọng đến việc rèn luyện tính tích cực, tự lực của HS Để rèn luyện TTC và TTL của HS, nội dung DH phải mới, nhưng không qúa xa lạ với HS, phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của

HS, PP phải đa dạng, kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển

và mâu thuẫn với nhau, sử dụng các phương tiện DH hiện đại, các hình thức tổ chức DH khác nhau, kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS v.v

Trang 40

Chương II: CÁC GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CHO HỌC SINH KHI DẠY BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÝ LỚP 12 NÂNG CAO

2.1 Lựa chọn hệ thống bài tập

Như ta đã biết bài tập vật lý có tác dụng to lớn trong việc giáo dục, giáo dưỡng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp đặc biệt là phát huy tính tích cực của học sinh Tác dụng đó càng được phát huy nếu ta lựa chọn được hệ thống các bài tập phù hợp với những yêu cầu phát huy tính tích cực của học sinh Hệ thống bài tập được lựa chọn phải thoả mãn các yêu cầu sau:

- Như đã trình bày ở chương I, để kích thích hứng thú của học sinh, các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp về phạm vi và số lượng các kiến thức, kỹ năng cần vận dụng, số lượng các đại lượng cho biết và các đại lượng cần phải tìm…Giúp học sinh nắm được phương pháp giải các bài tập điển hình

- Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức cho học sinh

- Hệ thống bài tập được chọn giải giúp học sinh nắm được phương pháp giải từng loại bài tập cụ thể

- Để kích thích hứng thú, một điều quan trọng của tính tích cực của học sinh nên chọn những bài tập có những nội dung thực tế, đó là những bài tập liên quan trực tiếp đến đời sống, tới kỹ thuật sản xuất, tới thực tế lao động của học sinh vì như đã phân tích ở trên con người chỉ hứng thú với những gì gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống của họ

- Cũng cần chọn những bài tập mang yếu tố nghiên cứu, nhằm giúp học sinh phát triển tư duy Đó là những bài tập muốn giải được học sinh phải suy

Ngày đăng: 25/03/2021, 10:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w