1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng sử dụng số liệu thống kê và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 thpt ban cơ bản

144 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình dạy học, GV mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn sơ thảo về biểu đồ và sử dụng SLTK mang tính chất minh hoạ cho kiến thức lí thuyết mà chưa đi sâu vào rèn luyện kĩ năng sử d

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

………….…………

NGUYỄN LÂM TỚI

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ

VÀ BIỂU ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 THPT

BAN CƠ BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

………….…………

NGUYỄN LÂM TỚI

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ

VÀ BIỂU ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 THPT

BAN CƠ BẢN

Chuyên ngành: Lí luận và PP dạy học Địa lí

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN

Trang 3

KVII Khu vực II – Công nghiệp và xây dựng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Thống kê số liệu, biểu đồ và các bài tập về số liệu

thống kê và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT 16

2.2 Số liệu bổ xung phục vụ công tác giảng dạy và

3.2 Tổng hợp điểm kiểm tra các lớp ở trường THPT 113 3.3 Cơ cấu làn điểm kiểm tra các lớp ở trường THPT 113 3.4 Đánh giá xếp loại học lực của các lớp TN và ĐC 114

3.5 Tổng hợp đánh giá xếp loại học lực của HS ở 4

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng, hình vẽ

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 3

3 Nhiệm vụ của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 2

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

6 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 5

7 Dự kiến những điểm đóng góp mới của đề tài 6

8 Cấu trúc của đề tài 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học 7

1.1.2 Một số vấn đề về số liệu thống kê và biểu đồ 7

1.2 Cơ sở thực tiễn 12

1.2.1 Đặc điểm chương trình SGK địa lí 12THPT - Ban cơ bản 12

1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS lớp 12 14

1.2.3 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 ở trường THPT 15

Trang 6

Chương 2 RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ VÀ

BIỂU ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 THPT 16

2.1 Vị trí của số liệu thống kê, biểu đồ và các công thức tính toán được sử dụng trong sách giáo khoa địa lí 12 16

2.1.1 Thống kê số liệu, biểu đồ và các bài tập về SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT 16

2.1.2 Một số công thức chủ yếu phục vụ cho rèn luyện kĩ năng biểu đồ và phân tích SLTK trong dạy học địa lí 12 THPT 19

2.2 Sử dụng SLTK trong dạy học địa lí lớp 12 THPT - Ban cơ bản 23

2.2.1 Khái quát chung về SLTK trong SGK địa lí 12 THPT 23

2.2.2 Các kĩ năng sử dụng số liệu thống kê 23

2.2.3 Bổ sung các số liệu mới phục vụ cho dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản 35

2.2.4 Kĩ năng ghi nhớ số liệu 37

2.3 Rèn luyện kĩ năng biểu đồ trong dạy học địa lí lớp 12 THPT - Ban cơ bản 45

2.3.1 Khái quát về biểu đồ và những yêu cầu chung về rèn luyện kĩ năng biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT – Ban cơ bản 45

2.3.2 Rèn luyện kĩ năng cho từng loại biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT – Ban cơ bản 53

2.3.3 Bổ sung một số dạng biểu đồ khác phục vụ cho rèn luyện kĩ năng biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT 94

Chương 3 THỰC NGHIỆM 96

3.1 Mục đích thực nghiệm 96

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 96

3.3 Cách chức tổ chức thực nghiệm 96

3.3.1 Chọn bài 96

Trang 7

3.3.2 Chọn trường 97

3.3.3 Chọn lớp 97

3.3.4 Chọn giáo viên 98

3.3.5 Kiểm tra, đánh giá 99

3.4 Nội dung và kết qủa thực nghiệm 99

3.4.1 Nội dung 99

3.4.2 Kết quả 113

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, nền giáo dục nước ta đã và đang có những đổi mới tích cực nhằm đào tạo những con người Việt Nam mới phát triển toàn diện cả về trí lực, thẩm mĩ và nhân cách Trong đó đổi mới nội dung, mục tiêu, chương trình và phương pháp giáo dục ở nhà trường phổ thông giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, trở thành yêu cầu cấp thiết đối với nền giáo dục hiện nay, để thực hiện những yêu cầu đổi mới đó đòi hỏi thầy, trò và tất cả những người làm trong ngành giáo dục luôn phải phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo Trên thực tế, việc đổi mới nội dung giáo dục ở nhà trường phổ thông hiện nay được thể hiện rất rõ thông qua việc biên soạn chương trình SGK mới, trong đó có SGK địa lí 12 THPT - Ban cơ bản

Từ những năm 90 của thế kỉ XX, cùng với việc đổi mới mục tiêu, chương trình SGK địa lí ở THPT theo những định hướng của cải cách giáo dục thì việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí cũng được chú trọng Tuy nhiên cho đến nay, việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí diễn ra vẫn còn chậm chạp, nhất là ở trường THPT, chưa đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu giáo dục Như vậy đến thời điểm hiện nay, khi mà SGK địa lí 12 THPT - Ban

cơ bản có nhiều nội dung được đổi mới đã đòi hỏi phương pháp cũng phải đổi mới nhanh chóng để phù hợp giữa nội dung và phương pháp dạy học cụ thể nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao nhất Cốt lõi của vấn đề này là hướng đến phương pháp dạy học tích cực, chủ động, sáng tạo, xoá dần và loại bỏ thói quen truyền thụ kiến thức một chiều của GV và thói quen học tập thụ động của HS nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao nhất, mà ở đó HS phát huy được tính chủ động, sáng tạo, độc lập, tự giác trong quá trình lĩnh hội tri thức của mình

Để đạt được mục tiêu đó là sự tổng hợp của nhiều phương pháp khác nhau,

Trang 9

trong đó đối với dạy học địa lí 12, phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng

Trên thực tế, việc rèn luyện kĩ năng biểu đồ và sử dụng SLTK cho HS trong dạy học đia lí ở các trường THPT hiệu quả còn thấp, chưa phát huy được tác dụng vốn có của nó, chính vì vậy mà kĩ năng biểu đồ và sử dụng SLTK của hoc sinh THPT, nhất là HS 12 còn nhiều yếu kém Trong quá trình dạy học, GV mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn sơ thảo về biểu đồ và sử dụng SLTK mang tính chất minh hoạ cho kiến thức lí thuyết mà chưa đi sâu vào rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ với vai trò để tìm ra nguồn tri thức mới từ đó, đặc biệt là chưa lưu ý đến kĩ năng nhận định, thao tác, kĩ thuật

vẽ và nhận xét biểu đồ, chưa lưu ý đến kĩ năng tìm tòi, sáng tạo của HS để tìm

ra kiến thức mới, tìm ra mối quan hệ địa lí dựa trên các số liệu đã cho

Trong SGK địa lí 12 THPT - Ban cơ bản, số lượng các biểu đồ, các bài tập liên quan đến biểu đồ và các SLTK chiếm một tỉ lệ khá lớn Có nhiều nội dung kiến thức và kĩ năng địa lí được thể hiện chủ yếu qua các biểu đồ, các bài tập liên quan đến biểu đồ và qua các SLTK Các biểu đồ, các bài tập liên quan đến biểu đồ và qua các SLTK ngoài vai trò minh hoạ, bổ sung, làm sáng

tỏ kiến thức lí thuyết, còn là một kênh tri thức giúp hình thành những kiến thức và kĩ năng mới Trong các đề thi, kiểm tra địa lí 12 (từ kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì đến các kì thi tốt nghiệp, cao đẳng đại học hay các kì thi HS giỏi các cấp), nội dung các câu hỏi liên quan đến SLTK và biểu đồ chiếm một phần quan trọng HS rất dễ đạt điểm cao nếu kĩ năng trên được rèn luyện tốt, ngược lại HS sẽ gặp rất dễ mất điểm nếu như không nắm chắc kĩ năng đó

Trước tình hình đổi mới nội dung và yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục, trước những vai trò quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ, trước những thực trạng ở trường THPT trong việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK

Trang 10

và biểu đồ còn nhiều bất cập và trước những thay đổi của SGK địa lí, trong đó có SGK địa lí 12 THPT – Ban cơ bản hiện nay Với tất cả những lí do trên, tôi đã chọn

đề tài nghiên cứu cho mình là: “Rèn luyện kĩ năng sử dụng số liệu thống kê và biểu

đồ trong dạy học địa lí 12 THPT – Ban cơ bản”

2 Mục đích của đề tài

Hướng dẫn cho HS biết sử dụng và phân tích các SLTK trong dạy học địa lí 12, từ các dạng số liệu đơn lẻ, các số liệu trong các bảng, số liệu trong biểu đồ đến các số liệu được thể hiện trong biểu đồ, bản đồ, lược đồ, lược đồ

và các số liệu bổ sung khác

Rèn luyện cho HS kĩ năng biểu đồ trong dạy học địa lí 12, từ khâu phân tích, nhận biết, lựa chọn, kĩ năng tính toán, kĩ năng vẽ đến kĩ năng hoàn thiện

và nhận xét biểu đồ

3 Nhiệm vụ của đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ đề ra và giải quyết một số nhiệm vụ

Trang 11

* Nghiên cứu các công trình về lí luận và phương pháp dạy học, nghiên cứu SGK địa lí 12 THPT - Ban cơ bản, nghiên cứu các tài liệu, giáo trình, sách báo về các vấn đề thuộc kĩ năng SLTK và biểu đồ có liên quan

* Phương pháp cấu trúc, hệ thống: Bản chất là đem đối tượng được nghiên cứu xem xét nó trong một hệ thống hoàn chỉnh, gồm những yếu tố liên quan đến nhau thành một cấu trúc chặt chẽ Trong cấu trúc đó, mối quan hệ qua lại cần phải được quan tâm

* Phương pháp phân loại: Đó là việc phân loại ra các dạng SLTK và biểu

đồ cụ thể làm cơ sở cho rèn luyện kĩ năng, phân tích và sử dụng trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản

* Phương pháp so sánh: Thông qua việc so sánh sẽ giúp cho ta thấy được những lợi thế và hạn chế trong việc lựa chọn, rèn luyện kĩ năng và sử dụng từng loại SLTK, qua đó nhằm làm sáng tỏ các kĩ năng biểu đồ và sử dụng SLTK trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản đạt hiệu quả cao

b Nhóm phương pháp thống kê toán học

* Phương pháp thống kê toán học sử dụng trong việc tính toán, xử lí số liệu

* Phương pháp thống kê toán học phục vụ cho việc thống kê các biểu đồ, bài tập biểu đồ và các SLTK

* Phương pháp thống kê toán học xử lí kết quả thu được từ thực tập sư phạm nhằm tăng tính chính xác, khách quan của đề tài

c Nhóm phương pháp thực tiễn

* Phương pháp tham khảo ý kiến: Là việc tranh thủ những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn địa lí ở trường đại học và một số bạn bè đồng nghiệp đang giảng dạy trong các trường THPT, từ đó có những định hướng và bổ sung mới cho nội dung và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 12

* Phương pháp khảo sát điều tra: Phương pháp này nhằm nắm bắt được tình hình thực tế việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí ở các trường THPT hiện nay, nhất là đối với HS 12 Qua việc khảo sát điều tra, ngoài việc nắm bắt được thực trạng rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí nêu trên còn có thể phần nào tìm hiểu được kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm của GV và HS thông qua việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban

cơ bản

* Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này chủ yếu đánh giá một cách khách quan tính khả thi của đề tài

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài chỉ giới hạn trong việc Rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu

đồ trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản

6 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí đã có khá nhiều các tác giả cả đã nghiên cứu Tiểu biểu phải kể đến PGS - TS Nguyễn Trọng Phúc với công

trình “Phương pháp sử dụng SLTK trong dạy học địa lí KTXH”, Nhà giáo nhân dân Trịnh Trúc Lâm với công trình “Kĩ thuật thể hiện biểu đồ địa lí”,

Đỗ Ngọc Tiến – Phí Công Việt với công trình “Tuyển chọn những bài ôn

luyện thực hành kĩ năng thi vào đại học cao đẳng - Môn địa lí”, Nguyễn

Thanh Hải với luận văn thạc sĩ phương pháp địa lí “Phương pháp sử dụng và

xây dựng biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT”…và một số công trình

nghiên cứu khác Tuy nhiên đối với việc cụ thể rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT - SGK hiện hành - Ban cơ bản chưa có nhiều, nhất là kĩ năng biểu đồ Với việc kế thừa và phát huy các công trình đã nghiên cứu có liên quan, luận văn sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về

Trang 13

những kĩ năng biểu đồ và sử dụng SLTK nhằm trang bị cho HS kĩ hơn về rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban

cơ bản

7 Dự kiến những điểm đóng góp mới của đề tài

* Tổng kết cơ sở lí luận về phương pháp dạy học, về biểu đồ, SLTK và vai trò của chúng trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản

* Tập hợp và hướng dẫn HS sử dụng một số công thức có liên quan phục

vụ và bổ trợ cho việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản

* Hướng dẫn HS rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản nhằm nâng cao kĩ năng địa lí, phuc vụ tốt và

có hiệu quả trong việc học tập, kiểm tra và thi cử

* Qua lí luận và kết quả TN kiểm chứng, dự kiến luận văn sẽ xác định

được tính khả thi của việc “Rèn luyện kĩ năng sử dụng số liệu thống kê và

biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản ”, góp phần quan trọng

vào việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THPT hiện nay

8 Cấu trúc của đề tài

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng

SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT - Ban cơ bản

Chương 2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học

địa lí 12 THPT - Ban cơ bản

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

PHẦN 2 NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học

1.1.1.1 Phương pháp dạy học

Là cách thực hiện hoạt động của GV trong việc tổ chức các hoạt động dạy học nhằm giúp HS chủ động lĩnh hội tri thức và đạt được các mục tiêu học tập

1.1.1.2 Phương pháp dạy học theo hướng tích cực

Thực chất là hướng cho HS học tập tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen thụ động học tập của HS Hay nói khác, dạy học tích cực

là dạy học thông qua việc tổ chức, hướng dẫn HS tự tìm hiểu, tự nhận thức và giải quyết vấn đề trên cơ sở tự giác với vốn hiểu biết của mình

1.1.1.3 Phân loại phương pháp dạy học

Dựa theo nguồn gốc tri thức, các phương pháp dạy học được chia thành

Trang 15

Những SLTK không chỉ đơn thuần biểu hiện về mặt lượng mà chúng còn

có mối quan hệ mật thiết với mặt chất của những hiện tượng KTXH Thông qua việc phân tích và từ những mối liên hệ của các SLTK chúng ta có thể biết được bản chất, đặc điểm của các hiện tượng này cũng như quy luật KTXH của chúng

Như vậy, SLTK trong địa lí là những SLTK về các hiện tượng tự nhiên,

về tình hình sản xuất, về sản phẩm, sản lượng, về tài nguyên, dân cư, kinh tế Việc nghiên cứu và sử dụng SLTK trong dạy học địa lí có vai trò rất quan trọng và cần thiết trong dạy học địa lí

* Phân loại:

- Dạng số liệu đơn lẻ:

 Dạng số liệu đơn lẻ đi cùng với kiến thức lí thuyết

 Dạng số liệu đơn lẻ trong các biểu đồ

 Dạng số liệu đơn lẻ trong các lược đồ, bản đồ và át lát

- Dạng số liệu trong các bảng thống kê

* Vai trò:

- SLTK dùng làm minh hoạ hoặc sáng tỏ cho kiến thức lí thuyết: Trong

sự phát triển của khoa học địa lí nói chung và của địa lí KTXH nói riêng, các quan điểm về địa lí không ngừng được nêu ra và hoàn thiện, các mô hình địa

lí ngày càng đa dạng khi đó SLTK sẽ giúp người nghiên cứu, người học tập hợp các dữ liệu và có cách nhìn đúng đắn về các mô hình đã nêu ra Thông qua sự phân tích, so sánh, đối chiếu các số liệu có thể giúp người dạy và người học cụ thể hoá các khái niệm, quy luật hay dấu hiệu bản chất của các sự kiện hay hiện tượng địa lí

- SLTK còn có vai trò là nguồn tri thức mới: Trong dạy học địa lí, việc nghiên cứu hệ thống các SLTK ngoài việc làm sáng tỏ các kiến thức lí thuyết còn giúp người dạy và người học phát hiện những kiến thức địa lí mới thông

Trang 16

qua các số liệu đã cho Các SLTK được lựa chọn phân tích, nhất là các bảng

số liệu thường mang những đặc trưng, bản chất hay quy luật của các hiện tượng và mối quan hệ trong sự phát triển KTXH sẽ là những dữ kiện không thể thiếu trong khi trình bày một vấn đề hay một quá trình phát triển KTXH

- SLTK có vai trò rèn luyện kĩ năng địa lí: SLTK, nhất là các bảng số liệu có vai trò quan trọng trong hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng biểu đồ, phân tích, nhận xét cũng như viết báo cáo về các hiện tượng địa lí đã cho, góp phần nâng cao và hoàn thiện kĩ năng địa lí của người dạy và người học

Như vậy, SLTK vừa dùng để minh hoạ cho kiến thức lí thuyết, vừa dùng

để so sánh làm nổi bật lên các đối tượng, là nguồn khai thác tri thức mới, rèn luyện kĩ năng làm các bài tập

1.1.2.2 Biểu đồ

* Khái niệm:

Quan niệm về biểu đồ có nhiều khái niệm được đưa ra:

- Theo từ điển toán học: Biểu đồ là một phương diện biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lượng

- Theo từ điển Larousse của Pháp: Biểu đồ là một loại hình đồ hoạ hoặc

sơ đồ cho phép diễn tả quá trình phát triển của một hiện tượng, sự so sánh hai yếu tố hoặc sự sắp xếp tương đối của các bộ phận trong một tổng thể

- Theo từ điển Thống kê: Biểu đồ là một phương tiện trình bày và phân tích các SLTK bằng các cấu trúc đồ hoạ, nhằm mục đích hình tượng hoá sự phát triển của các hiện tượng theo thời gian, kết cấu và sự biến động kết cấu của hiện tượng, mối liên kết giữa các hiện tượng Ngoài ra biểu đồ còn trình bày các SLTK một cách khái quát, sinh động, mĩ thuật, giúp người xem dễ hiểu và dễ nhớ

Trang 17

- Theo sổ tay thuật ngữ địa lí: Biểu đồ là hình thức trực quan hoá các số liệu thống kê trong các mối quan hệ giữa số lượng, thời gian và không gian bằng các cấu trúc đồ hoạ

Như vậy qua một số khái niệm về biểu đồ tuy có những quan điểm khác nhau song đều có chung một số thống nhất:

Biểu đồ là một loại đồ hoạ dùng để biểu hiện một cách trực quan SLTK

về quá trình phát trình phát triển của hiện tuợng, cấu trúc hiện tượng, mối quan hệ giữa thời gian và không gian của các hiện tượng

 Biểu đồ so sánh: Dùng để so sánh các hiện tượng địa lí với nhau…

 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ: Thể hiện mối quan hệ giữa các hiện tượng địa lí…

- Dựa vào hình dạng thể hiện gồm:

 Biểu đồ hình tròn: Thể hiện quy mô, cơ cấu, sự thay đổi quy mô

cơ cấu, sự so sánh quy mô cơ cấu

 Biểu đồ hình vuông: Thể hiện quy mô, cơ cấu, sự thay đổi quy mô

cơ cấu, sự so sánh quy mô cơ cấu

 Biểu đồ hình cột: Thể hiện sự so sánh, tình hình phát triển

 Biểu đồ đường: Thể hiện tình hình phát triển, tốc độ tăng trưởng

 Biểu đồ kết hợp cột đường: Thể hiện tình hình phát triển qua nhiều mốc thời gian…

Trang 18

 Biểu đồ miền: Thể hiện sự thay đổi cơ cấu, giá trị qua nhiều mốc thời gian

* Vai trò:

- Biểu đồ là hình ảnh trực quan sinh động của các SLTK

Trong dạy học địa lí, SLTK là thành phần không thể thiếu được trong nội dung kiến thức địa lí, SLTK vừa để minh hoạ, chứng minh cho kiến thức địa lí, đồng thời vừa là nguồn tri thức về địa lí tự nhiên và KTXH

SLTK thông qua biểu đồ là một điều kiện thuận lợi để HS khai thác tri thức, tạo hứng thú học tập cho HS, có tác dụng phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực hành của HS

- Biểu đồ là phương tiện dạy học để HS khai thác tri thức: Biểu đồ là hình ảnh trực quan thể hiện các SLTK, mà các SLTK lại là một bộ phận quan trọng của kiến thức địa lí, do đó biểu đồ là một phương tiện để HS khai thác kiến thức địa lí về sự so sánh, cơ cấu hay quá trình tăng trưởng và phát triển của các đối tượng địa lí

- Biểu đồ là phương tiện dạy học để HS rèn luyện kĩ năng:

Rèn luyện kĩ năng địa lí nói chung, kĩ năng biểu đồ nói riêng là một mục tiêu rất quan trọng trong dạy học địa lí Mục tiêu đó vừa góp phần gắn kiến thức lí thuyết với thực hành, vừa làm thay đổi phương pháp học tập thụ động của học sinh sang phương pháp chủ động lĩnh hội và tìm tòi kiến thức, góp phần phát triển toàn diện nhân cách của người học

Thông qua biểu đồ, HS có thể phát triển và hoàn thiện các kĩ năng liên quan như xác định dạng biểu đồ phù hợp, xử lí số liệu, vẽ biểu đồ, hoàn thiện biểu đồ hay phân tích nhận xét về biểu đồ, các kĩ năng đó hành trang quan trọng giúp HS thực hiện tốt hơn những bài tập, đề kiểm tra, đề thi tốt nghiệp hay cao đẳng - đại học về địa lí Ngoài ra từ các kĩ năng về biểu đồ, người dạy

Trang 19

và người học có thể khai thác và phát hiện ra những kiến thức mới phục vụ cho quá trình dạy và học địa lí

* Về kĩ năng: Tiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng địa lí nhằm phát triển hơn nữa tư duy địa lí cho HS, đó là tư duy tổng hợp, gắn với lãnh thổ, có liên hệ thường xuyên với thực tiễn đời sống và sản xuất Các kĩ năng cụ thể là:

- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, đánh giá các sự vật và hiện tượng địa lí, vẽ lược đồ, biểu đồ

- Phân tích, sử dụng bản đồ, biểu đồ, lược đồ, lát cắt và hệ thống SLTK

- Thu thập, xử lí và trình bày các thông tin địa lí

- Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và để ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống

Trang 20

và nâng cao như hiện nay là hợp lí Điểm khác biệt quan trọng trong chương trình địa lí 12 là ở tính nâng cao, đòi hỏi HS không chỉ nhận biết, mà còn phải giải thích các hiện tượng địa lí tự nhiên và KTXH, là ở việc lựa chọn và trình bày các nội dung dưới hình thức các vấn đề Các kĩ năng được nâng cao nhiều hơn, với những bài tập đòi hỏi phải tổng hợp kiến thức và có nhiều thao tác tư duy, trình bày các báo cáo ngắn Bên cạnh các bài tập cá nhân, các hoạt động theo nhóm được chú ý nhằm tăng cường khả năng hợp tác của HS

Địa lí 12 được cấu tạo theo các đơn vị kiến thức lớn, sắp xếp theo logic của khoa học và phù hợp với logic của quá trình dạy học và nhận thức Đó là các phần chủ yếu sau:

- Việt Nam trên con đường đổi mới (1 tiết)

- Địa lí tự nhiên (14 tiết)

- Địa lí dân cư (4 tiết)

- Địa lí kinh tế (24 tiết)

- Địa lí địa phương (2 tiết)

- Ôn tập và kiểm tra (8 tiết)

Bài mở đầu giới thiệu về bối cảnh Quốc tế và trong nước, những thành

tự đã đạt được trong công cuộc đổi mới và những định hướng chính để nước

ta tiếp tục đổi mới và hội nhập

Trang 21

Phần địa lí tự nhiên Việt Nam không chỉ đề cập đến những đặc điểm

cơ bản của thiên nhiên Việt Nam, những quy luật phân hoá của tự nhiên,

mà còn đánh giá tự nhiên như là một nguồn lực thường xuyên và cần thiết

để phát triển KTXH Vì thế các kiến thức về địa lí tự nhiên sẽ được vận dụng và củng cố khi học về địa lí KTXH Việt Nam

Phần địa lí dân cư đề cập những nét cơ bản về dân cư, lao động và việc làm, chất lượng cuộc sống và vấn đề đô thị hoá của dân cư hiện nay Phần này không chỉ nhấn mạnh dân cư vừa là lực lượng sản xuất, vừa là thị trường tiêu thụ, mà còn cho HS thấy rằng việc nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư là mục tiêu xã hội của công cuộc đổi mới và phát triển ở Việt Nam

Phần địa lí các ngành kinh tế được bắt đầu từ cái nhìn tổng quan về

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trên nền tảng của ba khu vực kinh tế lớn: Nông lâm ngư nghiệp - Công nghiệp và xây dựng - Dịch vụ, các vấn đề phát triển và phân bố các ngành kinh tế được lựa chọn để phân tích, tổng hợp Có thể nói, những kiến thức được lựa chọn để HS hiểu được cơ cấu ngành của nền kinh tế là nền tảng để HS nắm được các vấn đề phát triển KTXH của các vùng

Phần địa lí KTXH các vùng, chương trình chỉ đề cập đến những vấn

đề tiêu biểu, được lựa chọn từ rất nhiều vấn đề phải giải quyết của các vùng lãnh thổ nước ta Những vấn đề này có bản chất đạ lí rõ nét và có ý nghĩa lâu dài

1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS lớp 12

Bao gồm các em HS ở lứa tuổi 17 - 18 - 19, hầu hết các em đã phát triển toàn diện về mọi mặt Có thể nói nhân cách các em đã được hình thành về cơ bản, đó là những hành trang sức mạnh tạo cho các em niềm tin và tâm thế sẵn sàng bước vào cuộc sống tự lập

Trang 22

1.2.3 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 ở trường THPT

Như đã nêu ở phần mở đầu, việc rèn luyện kĩ năng biểu đồ và sử dụng SLTK cho HS trong dạy học đia lí ở các trường THPT hiệu quả còn thấp, chưa phát huy được tác dụng vốn có của nó, chính vì vậy mà kĩ năng biểu đồ

và sử dụng SLTK của học sinh THPT, nhất là HS 12 còn nhiều yếu kém Trong quá trình dạy học, GV mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn sơ thảo về biểu đồ và sử dụng SLTK mang tính chất minh hoạ cho kiến thức lí thuyết mà chưa đi sâu vào rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ với vai trò để tìm

ra nguồn tri thức mới từ đó, đặc biệt là chưa lưu ý đến kĩ năng nhận định, thao tác, kĩ thuật vẽ và nhận xét biểu đồ, kĩ năng tìm tòi, sáng tạo của HS để tìm ra kiến thức mới, tìm ra mối quan hệ địa lí dựa trên các số liệu đã cho

Tiểu kết: Ở chương này tác giả đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản nhất

về phương pháp dạy học, về lí thuyết số liệu thống kê và biểu đồ, về đặc điểm chương trình sách giáo khoa địa lí 12, về đặc điểm tâm sinh lí HS lớp 12 và

về những thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 còn nhiều bất cập và chưa hiệu quả Đó là những cơ sở nền tảng cho nội dung nghiên cứu của đề tài

Trang 23

Chương 2 RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ

VÀ BIỂU ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 THPT 2.1 Vị trí của số liệu thống kê, biểu đồ và các công thức tính toán trong sách giáo khoa địa lí 12

2.1.1 Thống kê số liệu, biểu đồ và các bài tập về SLTK và biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT

Ghi chú:

(1) - Số liệu đơn lẻ đi cùng kiến thức lí thuyết

(2) - Số liệu đơn lẻ trong các biểu đồ

(3) - Số liệu đơn lẻ trong các bản đồ, lược đồ, át lát

(4) - Bảng SLTK

Bảng 2.1 Thống kê SLTK, biểu đồ và các bài tập về SLTK và

biểu đồ trong dạy học địa lí 12 THPT

Trang 25

số liệu đơn lẻ đi kèm Chỉ riêng hai bài cuối 44 và 45 - Tìm hiểu địa lí địa phương là không có biểu đồ hay số liệu, nhưng trong quá trình tìm hiểu và viết báo cáo về địa phương tất yếu không thể không có các số liệu chứng minh cho kiến thức

* Về các SLTK: SGK địa lí 12 – THPT ban cơ bản gần như bài nào cũng có các số liệu đơn lẻ đi cùng với các kiến thức lí thuyết, chỉ trừ các bài thực hành Các biểu đồ minh hoạ và các bản đồ trong SGK luôn có số liệu đi kèm Ngoài ra còn có rất nhiều các bảng SLTK gồm chuỗi các số liệu khác nhau mục đích vừa minh chứng cho kiến thức lí thuyết, vừa là nguồn khai thác tri thức mới, đồng thời là thư viện bài tập cho rèn luyện kĩ năng biểu đồ cho người dạy và người học

* Về biểu đồ: SGK địa lí 12 – THPT ban cơ bản có 18 biểu đồ khác nhau, thể hiện đầy đủ 5 loại biểu đồ cơ bản là biểu đồ hình tròn, biểu đồ hình cột, biểu đồ đường, biểu đồ kết hợp và biểu đồ miền, trong đó dạng biểu đồ hình tròn được thể hiện nhiều nhất

Trang 26

* Về các bài tập về biểu đồ và SLTK: SGK địa lí 12 – THPT ban cơ bản có 7 bài tập về các dạng biểu đồ và 14 bài tập về phân tích các bảng SLTK khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung trong các bài thực hành Tuy nhiên ngoài các bài tập về biểu đồ yêu cầu trực tiếp nói trên, trong quá trình giảng dạy và học tập chúng ta có thể vận dụng hệ thống các bảng số liệu đã cho vào rèn luyện kĩ năng biểu đồ là rất cần thiết

Ngoài hệ thống các số liệu, biểu đồ và các bài tập về biểu đồ và SLTK

có trong SGK theo bảng thống kê nêu trên, trong quá trình giảng dạy và học tập, người dạy và người học đều phải tích cực cập nhật, bổ sung mới những số liệu cơ bản, quan trọng và có chọn lọc sẽ góp phần là phong phú, đa dạng và đảm bảo tính cập nhật trong dạy và học địa lí, nhất là địa lí KTXH

2.1.2 Một số công thức chủ yếu phục vụ cho rèn luyện kĩ năng biểu đồ

và phân tích SLTK trong dạy học địa lí 12 THPT

Nhiệt độ trung bình ngày =

Lưu ý: Nhiệt độ trung bình tháng nào thì chia cho số ngày trong tháng

đó Số ngày trong từng tháng có sự khác nhau nhưng có quy luật ổn định: Các tháng 1,3,5,7,8,10,12 có 31 ngày; Các tháng 4, 6, 9, 11 có 30 ngày; Riêng tháng 2 năm thường có 28 ngày, năm nhuận có 29 ngày (Năm nhuận là những năm chia hết cho 4, trừ những năm chẵn mà số nguyên thế kỉ không chia hết

cho 4, ví dụ như năm 1700, 1800, 1900…)

Tổng nhiệt độ trung bình các ngày trong tháng

Trang 27

 Công thức tính biên độ dao động nhiệt (Đơn vị: 0

 Công thức tính tổng lượng mưa (Đơn vị: mm/ năm, mm/tháng )

Tổng lượng mưa trong năm = Tổng lượng mưa 12 tháng trong năm Tổng lượng mưa trong tháng = Tổng lượng mưa các ngày trong tháng Tổng lượng mưa trong ngày = Tổng lượng mưa của 24 giờ trong ngày

2.1.2.2 Phần địa lí dân cư, kinh tế xã hội

 Công thức tính gia tăng dân số (Đơn vị: %)

Gia tăng dân số = Gia tăng tự nhiên + Gia tăng cơ học

Gia tăng tự nhiên =

Tỉ suất sinh thô =

Tỉ suất tử thô =

Gia tăng cơ học =

Lưu ý:

 Số liệu cùng năm và cùng một đơn vị lãnh thổ

 Xác định đúng, tránh nhầm lẫn giữa tỉ suất sinh thô và tỉ suất tử thô với số trẻ em sinh ra và số người chết

Tỉ suất sinh thô - Tỉ suất tử thô

Trang 28

 Xác định rõ đơn vị tại mỗi công thức thành phần: Riêng đơn

vị của tỉ suất sinh thô và tỉ suất tử thô là ‰, còn lại là %

 Công thức tính mật độ dân số (Đơn vị: Người/km 2

)

Mật độ dân số =

Lưu ý:

 Số liệu cùng năm và cùng một đơn vị lãnh thổ

 Thực hiện đổi đơn vị trong quá trình tính toán

 Số liệu cùng năm và cùng một đơn vị lãnh thổ

 Tỉ lệ giới tính ≈ 100 (%) tương ứng với công thức (1), tỉ số giới tính ≈ 50 (%) tương ứng với công thức (2) vì nam và

nữ bao giờ cũng xấp xỉ bằng nhau

Công thức tính tính diện tích, năng suất, sản lượng gieo trồng và bình quân lương thực theo đầu người

Đơn vị: Diện tích: Km2

và ha, Năng suất: Tấn/ha, Tạ/ha hoặc Kg/ha, Sản lượng: Tấn, tạ, kg…, Bình quân sản lượng lương thực (Hoặc bình quân sản lượng lúa) theo đầu người: Kg/người

- Diện tích gieo trồng =

- Năng suất gieo trồng =

Số dân Diện tích

Số nam

Số nữ x 100 (%)

Sản lượng Năng suất Sản lượng

Số nam Tổng số dân

x 100 (%)

Trang 29

- Sản lượng gieo trồng = Diện tích x Năng suất

- Bình quân sản lượng lương thực theo đầu người =

Lưu ý:

 Thực hiện đổi đơn vị trong quá trình tính toán (Nếu có)

 Số liệu cùng năm và cùng một đơn vị lãnh thổ

 Công thức tính tốc độ tăng trưởng (Đơn vị: %)

Tốc độ tăng trưởng =

Lưu ý:

 Số liệu cùng năm và cùng một đơn vị lãnh thổ

 Nếu lấy năm đầu là 100 % thì theo công thức:

Tốc độ tăng trưởng =

 Nếu tính tốc độ tăng trưởng trung bình ta phải chia cho khoảng cách số năm trong giai đoạn nghiên cứu

 Công thức tính cơ cấu kinh tế (Đơn vị: %)

Cơ cấu kinh tế theo ngành =

Tương tự ta có cơ cấu kinh tế theo thành phần và cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ

 Công thức tính thu nhập GDP theo đầu người (Đơn vị: USD,

VNĐ )

GDP theo đầu người =

 Công thức tính giá trị xuất nhập khẩu (Đơn vị: USD, VNĐ )

Giá trị ngoại thương = Giá trị xuất khẩu + Giá trị nhập khẩu

Cán cân xuất nhập khẩu = Giá trị xuất khẩu – Giá trị nhập khẩu

Số liệu năm sau - Số liệu năm trước

Số liệu năm trước

x 100 (%)

Số liệu năm sau

Số liệu năm trước x 100 (%)

Trang 30

 Công thức tính khối lượng vận chuyển, luân chuyển và quãng

đường vận chuyển trung bình

(Đơn vị: Khối lượng luân chuyển: Tấn.km hoặc Người.km, khối lượng vận chuyển: Tấn hoặc người, cự li vận chuyển trung bình: Km)

Khối lượng luân chuyển = Khối lượng vận chuyển x Cự li vận chuyển trung bình

2.2 Sử dụng SLTK trong dạy học địa lí lớp 12 THPT - Ban cơ bản

2.2.1 Khái quát chung về SLTK trong SGK địa lí 12 THPT - Ban cơ bản

Các SLTK trong SGK địa lí 12 THPT - Ban cơ bản được thể hiện ở đầy

đủ các dạng phân loại của SLTK:

- Dạng số liệu đơn lẻ:

 Dạng số liệu đơn lẻ đi cùng với kiến thức lí thuyết

 Dạng số liệu đơn lẻ trong các biểu đồ

 Dạng số liệu đơn lẻ trong các lược đồ, bản đồ và át lát

- Dạng số liệu trong các bảng thống kê: Gần như trong tất cả các bài học đều có sự hiện diện của các SLTK tuy mức độ nhiều ít khác nhau, nhất là các bài về địa lí KTXH

2.2.2 Các kĩ năng sử dụng số liệu thống kê

2.2.2.1 Dạng số liệu đơn lẻ

* Dạng số liệu đơn lẻ đi cùng với kiến thức lí thuyết:

- Xác định nguồn và xem số liệu đó có chính khác hay không?

- Xác định xem số liệu đó thuộc dạng nào? (Không biến đổi, biến đổi bình thường hay biến đổi nhanh?)

- Phân tích, so sánh số liệu đó với số liệu khác cùng dạng, cùng đơn vị, cùng thời điểm để hiểu rõ hơn về con số mình định sử dụng

- Sử dụng các thao tác tính toán, liên hệ so sánh làm cho các con số

sử dụng trở nên sống động “Nhấp nháy toả sáng”, có tính thuyết phục cao, có

Trang 31

tác dụng chứng minh làm sáng tỏ vấn đề, là cơ sở để ghi nhớ kiến thức lí thuyết Đồng thời qua những phân tích, so sánh đó sẽ giúp người dạy, người học tìm tòi và phát hiện ra kiến thức mới từ những số liệu đã phân tích

- Ra bài tập cho HS về các số liệu có liên quan giúp HS phát triển tư duy một cách độc lập ở tại lớp hoặc ở nhà GV khái quát và đưa ra kết luận cuối cùng về bài tập đã ra

Trong SGK địa lí 12 THPT - Ban cơ bản, số lượng các SLTK đơn lẻ chiếm một tỉ lệ rất lớn, gần như bài học nào cũng có khá nhiều các số liệu như vậy nên việc khai thác và sử dụng chúng một cách hợp lí và hiệu quả giữ một vai trò đặc biệt quan trọng

Ví dụ 1:

Bài 9 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa

Mục 1.a Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa - Tính chất nhiệt đới

Khi nói đến các chỉ tiêu của khí hậu Việt Nam như: Tổng lượng nhiệt bức xạ lớn, cán cân bức xạ quanh năm dương, nhiệt độ TB năm cao > 200

C,

số giờ nắng lớn (1400 – 3000 giờ) Những chỉ tiêu đó đã chứng minh cho khí hậu nước ta mang tính nhiệt đới rõ rệt Tuy nhiên để khắc sâu và làm nổi bật những số liệu đó GV có thể so sánh các yêu tố đã nêu với các yếu tố cùng loại của vùng ôn đới hay cận cực, khi đó sẽ thấy rõ các tiêu chí khí hậu ở Việt Nam là cao, phản ảnh tính chất nóng của vùng nhiệt đới

Hay đơn giản như yếu tố số giờ nắng 1400 đến 3000 giờ/năm, tiêu chí như vậy là cao Tuy nhiên nếu để chia cho 365.24 ngày trong năm ta sẽ thấy mỗi ngày chỉ đạt từ 3.8 giờ đến 8.2 giờ/ngày Như vậy sẽ thấy số thời gian chiếu sáng bình quân trong một ngày là quá ít Tuy nhiên ta cũng phải phân tích cho HS thấy ở Việt Nam mỗi năm có đến 100 – 150 ngày có mưa tuỳ từng khu vực, đó là chưa kể những ngày giông tố, sương mù Điều đó càng khẳng định số giờ nắng 1400 – 3000h/năm là lớn

Trang 32

Ví dụ 2:

Bài 16 Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư

Mục 1 Dân đông, nhiều thành phần dân tộc

- Khi giảng về phần Việt Nam có số dân đông 84156 nghìn người –

2006, đứng thứ 3 Đông Nam Á, thứ 8 châu Á và thứ 13 trên thế giới GV cần nêu tên và số dân của một số nước đông dân nhất trên Thế giới, từ đó giúp HS

có thể so sánh dân số Việt Nam với các nước đó

Số dân của một số nước và độ tương quan với số dân của Việt Nam 2008

Tương quan so với Việt

Nguồn: [13]

Tuy nhiên với số dân hơn 86 triệu người – năm 2008, Việt Nam có số dân đông hơn 180 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, gấp khoảng 10 lần các nước có dân số ở mức trung bình như Ixrailen – 7,5 triệu người, Thuỵ Điển – 9,2 triệu người, Bồ Đào Nha – 10 triệu người, Xin Ga Po – 4,8 triệu người

Mặt khác GV cần nhắc lại Việt Nam là nước có diện tích trung bình (Đứng thứ 56) nên với số dân đông, Việt Nam sẽ có mật độ dân số thuộc nhóm các nước có mật độ dân số cao trên thế giới

- Khi giảng về mục dân tộc: Cả nước có 54 dân tộc khác nhau nhưng

người Kinh chiếm tới 86,2%, còn 53 dân tộc khác chỉ chiếm 13,8% Như vậy nếu đem so sánh về số lượng, số lượng người Kinh sẽ gấp khoảng 70 lần so với các dân tộc có số lượng tiếp theo như Mường, Thái, Hoa, Nùng Còn so với các dân tộc ít người nhất như Brâu hay Ơđu thì người Kinh gấp đến hơn 200.000 lần, một sự chênh lệch rất lớn Với những so sánh đó cho thấy người Kinh chiếm một tỉ lệ rất lớn và nhiều hơn rất nhiều các dân tộc khác

Trang 33

Mật độ dân số của các vùng và mức độ chênh lệch so với

Đồng bằng sông Hồng - 2006

(Người/km2)

Mức chênh lệch so với Đồng bằng sông Hồng

Như vậy với những phân tích và so sánh đó càng cho thấy mật độ dân

số của Đồng bằng sông Hồng là rất cao, bên cạnh những thuận lợi thì đó cũng

là những khó khăn nhất định đối với sự phát triển KTXH của vùng

* Dạng số liệu đơn lẻ trong các biểu đồ:

- Xác định dạng biểu đồ thể hiện thuộc dạng nào?

Trang 34

- Xác định nội dung được biểu hiện qua biểu đồ thể hiện đối tượng gì?

- Xác định nguồn và tính chính xác của các số liệu đã cho trong biểu đồ?

- Xác đinh dạng số liệu được thể hiện trên biểu đồ là tương đối hay tuyệt đối, vai trò của các thành phần đã cho?

- Phân tích, nhận xét đặc điểm đối tượng được thể hiện trên biểu đồ nhằm rút ra những kiến thức và kết luận cần thiết, vừa chứng minh cho kiến thức lí thuyết đã học, vừa tìm ra nguồn tri thức mới

- Đem so sánh với các số liệu cùng loại nhằm làm nổi bật giá trị của các đối tượng đã cho

- Bổ sung số liệu cho các kiến thức đã và sẽ học

- Đưa ra các bài tập tương tự cho HS phân tích, từ đó phát triển tư duy, giúp HS hoàn thiện kĩ năng phân tích và tìm tòi ra kiến thức mới GV khái quát và đưa ra kết luận cuối cùng

Ví dụ 1:

Bài 1 Việt Nam trên con đường đổi mới và hội nhập

Hình 1.2 Biểu đồ đường thể hiện GDP của Việt Nam theo giá so sánh

1994 phân theo thành phần kinh tế thời kì 1986 – 2005

Khi giảng đến phần này, GV hướng dẫn hoặc phân tích làm sáng tỏ tình hình gia tăng GDP của Việt Nam:

- Tổng GDP của Việt Nam tăng nhanh và liên tục: Năm 1986 là 62,6 nghìn tỉ đồng, năm 2000 là 132,5 nghìn tỉ đồng, năm 2005 là 185,7 nghìn tỉ đồng, cả giai đoạn 1986 – 2005 tăng 3,6 lần

- Theo từng thành phần kinh tế cũng có sự tăng nhanh và liên tục nhưng không đều nhau:

 Khu vực Nhà nước có giá trị lớn nhất, tăng liên tục nhưng mức

độ chậm hơn hai khu vực còn lại: Năm 1986 là 109,2 nghìn tỉ

Trang 35

đồng, năm 2000 là 273,6 nghìn tỉ đồng, năm 2005 là 393,0 nghìn

tỉ đồng, cả giai đoạn 1986 - 2005 tăng 3 lần

 Khu vực ngoài Nhà nước có giá trị lớn thứ hai và có mức tăng khá: Năm 1986 là 46,6 nghìn tỉ đồng, năm 2000 là 111,5 nghìn tỉ đồng, năm 2005 là 159,8 nghìn tỉ đồng, cả giai đoạn 1986 - 2005 tăng 3,4 lần

 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có giá trị nhỏ nhất nhưng có mức độ tăng nhanh nhất: Năm 1989 là 1,8 nghìn tỉ đồng, năm

2000 là 29,6 nghìn tỉ đồng, năm 2005 là 47,5 nghìn tỉ đồng, cả giai đoạn 1989 - 2005 tăng 26,4 lần

Như vậy vừa kết hợp biểu đồ, vừa sử dụng số liệu có trên biểu đồ ta có thể phân tích làm sáng tỏ gia tăng GDP của Việt Nam nói chung và gia tăng GDP của các thành phần kinh tế nói riêng Đồng thời qua những phân tích đó

ta có thể kết luận: Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ và chuyển dịch theo cơ chế thị trường

Cơ cấu sử dụng đất ở hai đồng bằng có sự khác nhau rõ rệt:

 Cơ cấu một số loại đất ở Đồng bằng sông Cửu Long lớn hơn Đồng bằng sông Hồng: Đất nông nghiệp lớn hơn 12,2%, đất lâm nghiệp 0,5%, đất chưa sử dụng lớn hơn 2,5%

Trang 36

 Cơ cấu một số loại đất ở Đồng bằng sông Cửu Long nhỏ hơn Đồng bằng sông Hồng: Đất chuyên dùng nhỏ hơn 10,1%, đất ở nhỏ hơn 5,1%

Ngoài những so sánh đó ra ta có thể đánh giá Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thế mạnh và tiềm năng hơn trong sản xuất nông nghiệp so với Đồng bằng sông Hồng

* Dạng số liệu đơn lẻ trong các bản đồ, lược đồ và át lát:

Trong chương trình địa lí 12 – Ban cơ bản có sử dụng rất nhiều bản đồ trong SGK, bản đồ treo tường, lược đồ hay tập át lát địa lí Việt Nam Mà trong đó có thể hiện rất nhiều các dạng số liệu khác nhau, chính vì vậy mà việc khai thác, phân tích và sử dụng những số liệu đã có giữ một vai trò rất quan trọng trọng trong dạy và học địa lí 12

- Xác định nội của bản đồ, lược đồ, át lát xem có phù hợp với bài học hay không?

- Xác định tên và nghiên cứu bảng chú giải của bản đồ, lược đồ, át lát giúp cho việc đọc và hiểu chúng

- Tìm hiểu đặc tính về số lượng và chất lượng của các đối tượng được thể hiện trên bản đồ, lược đồ và át lát

- Xem xét các số liệu có trên bản đồ thể hiện nội dung của đối tượng nào,

có liên quan mật thiết đến nội dung lí thuyết được nghiên cứu hay không?

- Phân tích, so sánh các số liệu được sử dụng gắn chặt với nội dung bài học Bằng các kĩ năng so sánh, đối chiếu, phân tích hay liên hệ nhằm làm làm nổi bật số liệu đã có, giúp người dạy và người học dễ ghi nhớ, vừa phục vụ cho bài học hiện tại, vừa tích luỹ vì đó là nguồn tri thức phục vụ cho công tác học tập và giảng dạy có liên quan

- Trên các bản đồ, lược đồ hay át lát, hệ thống các số liệu được thể hiện chủ yếu là hệ thống kinh tuyến vĩ tuyến, các điểm cao và các số liệu về

Trang 37

KTXH Do vậy khi nghiên cứu ta cũng phải biết lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích và yêu cầu cho từng bài học cụ thể

- Đưa ra các bài tập tương tự cho HS phân tích, từ đó phát triển tư duy, giúp HS hoàn thiện kĩ năng phân tích và tìm tòi ra kiến thức mới GV khái quát và đưa ra kết luận cuối cùng

Ví dụ 1:

Bài 24 Vấn đề phát triển ngành thuỷ sản và lâm nghiệp

Mục 1.b Sự phát triển và phân bố ngành thuỷ sản

Khi giảng về phần thuỷ hiện trạng và phân bố ngành thuỷ sản của Việt Nam, GV kết hợp sử dụng kiến thức SGK và nội dung át lát đại lí Việt Nam – Trang 20 - Phần thuỷ sản Bằng việc khai thác và sử dụng các con số có trong

át lát, GV dễ dàng chứng minh sự phát triển và phân bố ngành thuỷ sản của Việt Nam:

Sự phát triển ngành thuỷ sản:

- Giá trị sản xuất tăng nhanh: Năm 2000 là 26.620 tỉ đồng, đến 2007 là 89.378 tỉ đồng, trong vòng 7 năm tăng 3,6 lần

- Sản lượng thuỷ sản tăng nhanh: Năm 2000 là 2.250,5 nghìn tấn, đến

2007 là 4.197,8 nghìn tấn, trong 7 năm tăng 1,86 lần Trong đó:

 Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tăng rất nhanh, từ 589,6 nghìn tấn lên 2.123,3 nghìn tấn, gấp 3,6 lần

 Sản lượng thuỷ sản đánh bắt cũng tăng nhưng chậm hơn, từ 1.660,9 nghìn tấn lên 2.074,5 nghìn tấn, gấp 1,25 lần

Sự phân bố ngành thuỷ sản:

- Về sản lượng thuỷ sản: Tất cả các tỉnh ven biển đều có ngành thuỷ sản phát triển nhưng các tỉnh phía Nam phát triển hơn Sản lượng thuỷ sản của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long rất lớn như Kiên Giang: 315.157 tấn, An Giang: 263.914 tấn, Đồng Tháp: 230.008 tấn Tiếp đến là Bà Rịa Vũng Tàu

Trang 38

và các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ Đồng bằng sông Cửu Long có nghề nuôi trồng rất phát triển, tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ chỉ phát triển mạnh ngành đánh bắt

- Về cơ cấu giá trị sản lượng thuỷ sản trong cơ cấu sản xuất nông lâm ngư: Một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long như Cà Mau, Bạc Liêu có giá trị ngành thuỷ sản chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp, một số tỉnh cực Nam Trung Bộ và hầu hết các tỉnh khác thuộc Đồng bằng sông Cửu Long có giá trị ngành thuỷ sản chiếm từ 30 đến 50% cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp

Ví dụ 2:

Bài 30 Vấn đề phát triển giao thông vận tải và thông tin liên lạc

Hình 30 Bản đồ giao thông Việt Nam

GV kết hợp bản đồ giao thông trong SGK và bản đồ giao thông treo tường phân tích cho HS thấy được mạhng lưới giao thông đa dạng và tương đối hoàn chỉnh của Việt Nam Đồng thời kết hợp với các số liệu đã cho trong bản đồ, GV nhấn mạnh và hướng dẫn HS nắm được tên và điểm nổi của một số quốc lộ cơ bản như quốc lộ 1A, quốc lộ 2, quốc lộ 3, quốc lộ 4, quốc lộ 5, quốc lộ 6, quốc lộ 7, quốc lộ 8, quốc lộ 9, quốc lộ 10, quốc lộ

18, quốc lộ 22, quốc lộ 51, quốc lộ 70 Hoặc chiều dài một số tuyến đường chính như quốc lộ 1A dài 2.300km, tuyến đường biển Hải Phòng -

Trang 39

- Xem xét đơn vị, tiến trình thời gian hay phân bố không gian của các

- Đưa ra các bài tập tương tự cho HS nhận xét, phân tích, so sánh và

có thể tìm thêm những số liệu mới nhất có liên quan uối cùng GV bổ sung, khái quát vấn đề và đưa ra kết luận cuối cùng

Ví dụ 1:

Bài 9 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa

Khi hướng dẫn HS làm bài tập 3 trong SGK

Lƣợng lƣa, lƣợng bốc hơi và cân bằng ẩm của một số điểm (mm)

Địa điểm Lượng mưa Lượng bốc hơi Cân bằng ẩm

Nguồn: [10]

Trang 40

GV cần hướng dẫn hoặc phân tích cho HS thấy rõ:

- Lượng mưa, lượng bốc hơi của cả cả Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh đều lớn và có cân bằng ẩm luôn +, tuy nhiên có sự khác nhau rõ rệt

 Lượng mưa lớn nhất ở Huế với 2.868 mm/năm, gấp 1,5 lần so với TP Hồ Chí Minh (1.931 mm/năm) và gấp 1,7 lần so với Hà Nội (1.676 mm/năm)

 Lượng bốc hơi lớn nhất ở TP Hồ Chí Minh với 1.686 mm/năm, gấp 1,68 lần so với Huế (1000 mm/năm) và gấp 1,7 lần so với Hà Nội (989 mm/năm)

 Cân bằng ẩm lớn nhất ở Huế với 1.868 mm/năm, gấp 2,7 lần so với Hà Nội (687 mm/năm) và gấp 7,6 lần so với TP Hồ Chí Minh (245 mm/năm)

- Sau khi phân tích như vậy, GV có thể lí giải nguyên nhân giúp HS nắm sâu thêm kiến thức: Huế mưa nhiều nhất vì có địa hình Bạch Mã và Trường Sơn Bắc chắn gió, chịu ảnh hưởng mạnh của bão, dải hội tụ TP Hồ Chí Minh có lượng bốc hơi lớn nhất vì có khí hậu cận xích đạo nóng quanh năm, số giờ nắng lớn Và Huế có cân bằng ẩm lớn nhất vì có lượng mưa rất lớn nhưng có lượng bốc hơi nhỏ

Ví dụ 2:

Bài 43 Các vùng kinh tế trọng điểm

Bảng 43.2 Một số chỉ số kinh tế của ba vùng kinh tế trọng điểm

ở nước ta năm 2005 (%)

Trong đó Phía

Bắc

Miền Trung

Phía Nam Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình

Ngày đăng: 25/03/2021, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w