1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo bồi dưỡng tại trường chính trị tỉnh bắc kạn

124 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi nhận thấy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của học viên sau khi ra trường, thì ngoài việc trang bị kiến thức về lý luận chính trị, các trường Chính trị cần phải chú ý đến

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHÙNG THỊ HẰNG

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Trong công tác cán bộ của Đảng, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong

giai đoạn cách mạng hiện nay, người cán bộ phải có đủ phẩm chất và năng lực (Đức và tài) Chính vì vậy, các nhà trường nói chung, trường Chính trị tỉnh, thành phố nói riêng phải đặt ra mục tiêu đào tào cán bộ một cách toàn diện theo yêu cầu của Đảng, nhà nước và nhân dân

Trong quá trình công tác và giảng dạy tại trường Chính trị tỉnh Bắc

kạn, thường xuyên tiếp xúc với đội ngũ học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phòng các sở, ban, ngành, huyện, thị và chính quyền cấp cơ sở Tôi nhận thấy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của học viên sau khi ra trường, thì ngoài việc trang bị kiến thức về lý luận chính trị, các trường Chính trị cần phải chú ý đến hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức,

pháp luật cho học viên Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Quản lý

hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng tại trường chính trị tỉnh Bắc Kạn”

Đề tài được chính bản thân vận dụng các kiến thức đã được các thày,

cô giáo trường Đại học sư phạm Thái nguyên giảng dạy trong chương trình đào tạo sau đại học, để tiến hành nghiên cứu và trình bày Đặc biệt là được

sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thày, cô trong nhà trường, đề tài đã hoàn thành

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không

sao chép Nếu phát hiện có vấn đề sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Bắc Kạn, ngày tháng năm 2011

Người viết

Nguyễn Văn Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian hơn 2 năm học tập và nghiên cứu chuyên ngành "Quản lý

giáo dục” tại trường Đại học sư phạm - Đại học Thái nguyên Tôi vô cùng

cảm kích và biết ơn và xin được tỏ lòng kính trọng tới ban chủ nhiệm khoa sau đại học, khoa Tâm lý giáo dục và các thày, cô giáo đã quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi học tập và rèn luyện, hoàn thành chương trình khoá học với kết quả như hôm nay

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Thường vụ tỉnh uỷ Bắc Kạn; các Ban Xây dựng đảng của tỉnh; Trường Chính trị, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thị xã; Các đồng chí học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý xã, phường, thị trấn trong tỉnh tham gia học tập tại trường; bạn bè và đồng nghiệp đã động viên tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp này, Tôi xin được bày tỏ lòng chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô giáo: Tiến sỹ Phùng Thị Hằng

đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Do năng lực nghiên cứu còn hạn chế, nên chắc chắn luận văn còn có nhiều khiếm khuyết Rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thày, các cô giáo và các đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn

Bắc Kạn, ngày tháng năm 2011

Người viết

Nguyễn Văn Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Những cụm từ viết tắt viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Những đóng góp của đề tài 5

9 Cấu trúc của đề tài 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ 6

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Một số khái niệm công cụ 8

1.2.1 Tư tưởng 8

1.2.2 Tư tưởng chính trị 12

1.2.3 Giáo dục tư tưởng chính trị 13

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị 14

1.2.4.1 Quản lý 14

1.2.4.2 Quản lý giáo dục 17

1.2.4.3 Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị 19

Trang 5

1.2.4.4 Biện pháp quản lý giáo dục tư tưởng chính trị 21

1.3 Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị 24

1.3.1 Mục tiêu và bản chất quản lý giáo dục tư tưởng chính trị 24

1.3.2 Các nguyên tắc, phương pháp quản lý giáo dục tư tưởng chính trị 25

1.3.2.1 Nguyên tắc 25

1.3.2.2 Các phương pháp quản lý giáo dục tư tưởng chính trị 26

1.2.3.3 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị 28

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở 29

Kết luận chương 1 30

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ THÔNG QUA CÁC LỚP ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH BẮC KẠN 31

2.1 Vài nét về khách thể điều tra 31

2.2 Mục đích, nội dung, phương pháp khảo sát 39

2.2.1 Mục đích khảo sát 39

2.2.2 Nội dung khảo sát 41

2.2.3 Phương pháp khảo sát 42

2.3 Thực trạng về công tác quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn 43

2.3.1 Thực trạng nhận thức về quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn 43

2.3.1.1 Nhận thức của cán bộ quản lý về hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 43

2.3.1.2 Nhận thức của cán bộ, giáo viên về hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị chi học viên 45

Trang 6

2.3.1.3 Nhận thức của học viên về việc triển khai hoạt động giáo

dục tư tưởng chính trị trong nhà trường 47

2.3.2 Thực trạng nội dung quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn 47

2.3.2.1 Thực trạng về việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị trong nhà trường 48

2.3.2.2 Thực trạng về công tác tổ chức quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị 48

2.3.2.3 Thực trạng về công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị của nhà trường 50

2.3.2.4 Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị của nhà trường 53

2.3.2.5 Thực trạng về các lực lượng chính tham gia giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên trong nhà trường 55

2.3.2.6 Ý kiến của học viên về hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị trong nhà trường 55

2.3.3 Đánh giá chung về kết quả quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn Những mặt tồn tại, nguyên nhân 61

2.3.3.1 Kết quả học tập, rèn luyện của học viên qua 3 khoá học gần đây 62

2.3.3.2 Kết quả tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị của học viên 64

2.3.3.3 Những hạn chế 67

2.3.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế 69

2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn 72

2.3.4.1 Về nội dung, chương trình giáo dục 72

2.3.4.2 Về phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục 72

2.3.4.3 Về hình thức tổ chức quản lý người học 73

Trang 7

2.3.4.4 Về đội ngũ giáo viên 74

2.3.4.5 Về Mục tiêu của nhà trường là yếu tố quan trọng khởi đầu cho mọi hoạt động của nhà trường 74

2.3.4.6 Về lãnh đạo, quản lý 75

2.3.4.7 Về phía học viên 75

2.3.4.8 Về lực lượng tham gia hoạt động trong và ngoài nhà trường 76

2.3.4.9 Về cơ chế chính sách và cơ sở vất chất 77

Kết luận chương 2 78

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỈNH BẮC KẠN 79

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 79

3.1.1 Cơ sở pháp lý 79

3.1.2 Các nguyên tắc 79

3.1.2.1 Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên 79

3.1.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 80

3.1.2.3 Nguyên tắc nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên trên quan điểm tiếp cận hoạt động và nhân cách 80

3.1.2.4 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chỉ đạo của nhà quản lý, vai trò chủ đạo của giảng viên với vai trò tích cực chủ động của học viên 82

3.1.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 84

3.1.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 85

3.2 Các biện pháp quản lý 85

3.2.1 Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính trị 85

Trang 8

3.2.2 Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên làm công tác giáo dục

tư tưởng chính trị 87

3.3.3 Đổi mới phương pháp, hình thức giáo dục tư tưởng chính trị 89

3.3.4 Tăng cường đầu tư và hiện đại hoá về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật 91

3.3.5 Gắn việc giáo dục tư tưởng chính trị với việc tổng kết thực tiễn công tác tại địa phương 92

3.3.6 Có cơ chế chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ tham gia học tập các lớp giáo dục tư tưởng chính trị tại địa phương 94

3.3.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 95

3.4 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 96

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 96

3.4.2 Đối tượng và nội dung khảo nghiệm 96

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 96

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 96

Kết luận chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Khuyến nghị 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 106

Trang 9

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

TTBDCT Trung tâm bồi dưỡng chính trị

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Quyết định 184 - QĐ/TW Quyết định số: 184 - QĐ/TW ngày 3/9/2008

của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu tổ chức - đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường 35Bảng 2.2 Kết quả hội thi GV dạy giỏi cấp trường, cấp toàn quốc từ

năm 2005 đến 2010 38Bảng 2.3 Thống kê số lượng học viên từ năm 2005 đến 2010 39Bảng 2.4 Nhận thức của cán bộ quản lý về công tác giáo dục tư tưởng

chính trị cho học viên trong nhà trường 44Bảng 2.5 Nhận thức của cán bộ, giảng viên về công tác giáo dục tư

tưởng chính trị cho học viên 45Bảng 2.6 Công tác tổ chức trong quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng

chính trị cho học viên của trường Chính trị tỉnh Bắc Kạn 49Bảng 2.7 Thực trạng về công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục tư tưởng

chính trị của nhà trường 51Bảng 2.8 Thực trạng các biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục

tư tưởng chính trị cho học viên 53Bảng 2.9 Ý kiến của học viên về hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị

của trường Chính trị tỉnh Bắc Kạn 56Bảng 2.10 Mức độ tiến hành hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị của

trường Chính trị tỉnh Bắc Kạn 56Bảng 2.11 Ý kiến của học viên về tham gia các hoạt động giáo dục tư

tưởng chính trị trong nhà trường 57Bảng 2.12 Ý kiến của học viên về nội dung, phương pháp, hình thức tổ

chức giáo dục tư tưởng chính trị trong nhà trường 58Bảng 2.13 Kết quả thu hoạch của học viên sau khi tham gia hoạt động

giáo dục tư tưởng chính trị của nhà trường 60Bảng 2.14 Tổng hợp kết quả học tập của học viên 3 khoá (2007 - 2010) 63Bảng 2.15 Kết quả đánh giá học viên về việc chấp hành nội quy, quy

chế của nhà trường 65Bảng 2.16 Kết quả đánh giá, xếp loại đảng viên 66

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng

và lãnh đạo đang diễn ra sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến đến mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua đó chứng minh rằng: Sau khi có đường lối đóng, cán bộ là nhân tố quyết định thắng lợi của cách

mạng Đảng ta khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của

cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [7,tr 56] V.I Lênin đã chỉ rõ:

“Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị,

nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [13,tr 169] Là một chính Đảng tiên phong cách mạng do Chủ tịch

Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, trong hơn tám thập kỷ qua, thấm nhuần

lời dạy của Người: “Cán bộ là cái gốc của công việc”, “Công việc thành

công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [19, tr23], Đảng ta luôn luôn coi trọng vấn đề xây dựng

đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình Quốc tế và trong nước có những thuận lợi to lớn, đồng thời cũng tồn tại những khó khăn, nguy cơ và thách thức đan xen Để nâng cao sự lãnh đạo của Đảng lên ngang tầm với nhiệm vụ chính trị, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua nguy cơ và thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược và đường lối của Đảng đề ra trong giai

Trang 12

đoạn hiện nay, công tác xây dựng Đảng mà cụ thể là Giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ là việc làm vô cùng cần thiết có ý nghĩa quyết định

Thấm nhuần tư tưởng đó, trong những năm qua Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn rất quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cấp xã về nâng cao trình độ mọi mặt, đặc biệt là trình độ lý luận chính trị, thông qua lý luận chính trị nhằm giáo dục tư tưởng chính trị góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, vững vàng trước những khó khăn và thử thách, dần dần thích ứng với cơ chế thị trường, nỗ lực thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Tuy nhiên, trong đội ngũ ấy vẫn còn tồn tại những hạn chế yếu kém, nhiều cán bộ còn hạn chế về trình độ, năng lực lãnh đạo, khả năng tư duy sáng tạo còn yếu, có nơi còn có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, cán bộ chủ chốt cấp xã không giữ đóng kỷ cương, phép nước dẫn đến vi phạm pháp luật… Những tồn tại đó do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân

đó là khi tái lập tỉnh, cán bộ thiếu, cơ sở vật chất nghèo nàn, dân trí thấp Để đáp ứng nhiệm vụ trước mắt, công tác tuyển dụng cán bộ vào các cơ quan từ tỉnh đến địa phương phải hạ tiêu chuẩn, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở Số cán bộ này được hình thành từ nhiều nguồn, như: bộ đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ; cán bộ nghỉ hưu, mất sức; cán bộ trưởng thành từ thực

tế công tác thôn bản, thậm trí có cán bộ mới qua THCS Đa số họ chưa qua đào tạo cơ bản, thiếu kiến thức chuyên môn, kiến thức lý luận chính trị Vì vậy, trong công việc nhiều khi họ tỏ ra thiếu kinh nghiệm, giáo điều, máy móc, công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhiều khi kém hiệu quả

Nhận thức từ vấn đề này, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các

cấp của tỉnh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đó chỉ rõ: “…Đẩy

mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên 100% đảng viên mới kết nạp được bồi dưỡng lý luận chính trị phổ thông; phần lớn đảng viên

Trang 13

dưới 35 tuổi được học lý luận chính trị trung cấp Cán bộ trung cao cấp phải

có trình độ lý luận chính trị cao cấp; 100% cán bộ chủ chốt cơ sở phải được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước và lý luận chính trị” [8,tr 64]

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: "Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng tại trường chính trị tỉnh Bắc Kạn" làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng ở trường chính trị tỉnh Bắc Kạn

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn

- Khách thể điều tra:

+ Khách thể trực tiếp: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn + Khách thể gián tiếp: Cán bộ lãnh đạo, quản lý, giáo viên trường chính trị; Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ; Ban tổ chức tỉnh uỷ; Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thị xã thuộc tỉnh Bắc Kạn

4 Giả thuyết khoa học

Hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở sẽ đạt hiệu quả tốt, nếu có một hệ thống các biện pháp quản lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tế

Trang 14

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

- Khảo sát thực trạng quá trình quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng ở trường chính trị tỉnh Bắc Kạn

- Đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Khách thể điều tra giới hạn trên địa bàn huyện Ngân Sơn, Bạch Thông, Chợ Đồn, thị xã thuộc tỉnh Bắc Kạn, gồm: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn; cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên (tỉnh, huyện, thị xã); giáo viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý trường chính trị tỉnh Bắc Kạn, Trung tâm BDCT các huyện, thị xã

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cơ sở tỉnh Bắc Kạn

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp

phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá lý luận để xác định các khái niệm và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra: bằng bảng hỏi; khảo sát ý kiến của các đối tượng thông qua phiếu điều tra, nhằm làm rõ thực trạng cần nghiên cứu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm của trường Chính trị và các TTBDCT các huyện, thị xã về hoạt động quản lý giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ cơ sở

Trang 15

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trưng cầu ý kiến chuyên gia về các nội dung nghiên cứu, đánh giá về tính khả thi của các biện pháp được đề xuất

7.3 Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ: Sử dụng các phương pháp:

quan sát, đàm thoại, toán thống kê để thu thập thông tin và xử lý các kết quả nghiên cứu thực tiễn

8 Những đóng góp của đề tài

Đề xuất một số biện pháp quản lý có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bắc Kạn

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài những vấn đề chung, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng

chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị

cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng ở trường chính trị tỉnh Bắc Kạn

Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị

cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT

CẤP CƠ SỞ

1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Nghiên cứu về giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là một nội dung giáo dục quan trọng, nhằm giúp các trường chính trị tỉnh, thành phố thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện về phẩm chất và năng lực (nhân cách) cho người học Khi còn sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã

từng nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” “Công việc thành công hay

thất bại đều do cán bộ tốt hay kém ” [16,tr 72] Từ quan điểm đó Người coi

trọng mục tiêu, nội dung giáo dục tư tương chính trị thông qua học tập lý luận

chính trị trong các nhà trường như: “ Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận,

phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế” [16,tr73]

Khi bàn về mục tiêu giáo dục, GS Viện sĩ Phạm Minh Hạc - nhà Tâm

lý học hàng đầu nước ta nêu rõ “Trang bị cho mọi người những tri thức cần

thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn kiến thức pháp luật văn hóa xã hội Hình thành cho mọi công dân có thái độ đóng đắn, tình cảm, niềm tin, đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh tổ chức tốt giáo dục thế hệ trẻ, giúp họ để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức

xã hội, có thói quen chấp hành quy định, nỗ lực học tập rèn luyện,tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước" [28; tr 9]

Giáo dục tư tưởng chính trị cho học sinh, sinh viên nói chung và cho học viên trường Chính trị nói riêng là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, chẳng hạn: Đ/c Nguyễn Phó Trọng-Trần Xuân Sầm (đồng chủ

Trang 17

biên-2001) có tác phẩm: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” (Nxb Chính trị

Quốc gia)

Dưới góc độ nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị, các biện pháp giáo dục lý luận chính trị cho học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp của học viên các khoá học tại Học Viện Chính trị - Hành chính Quốc gia công bố, chẳng hạn

như: “Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cơ sở xã, phường, thị

trấn ở trường Chính trị Lê Duẩn trong giai đoạn hiện nay” (luận văn Thạc sỹ,

2007 - Hoàng Đức Dinh)

Khai thác dưới góc độ phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội để xây dựng biện pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế Thái nguyên đó là công trình nghiên

cứu mang tên: “Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng

chính trị, đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên” (luận văn thạc sĩ, 2008-Nguyễn Văn Minh)

Trong những năm gần đây trước vấn đề hội nhập, công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho học sinh, sinh viên nói chung, học viên các trường Chính trị nói riêng, được Đảng, Nhà nước quan tâm thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, các quyết định về công tác giáo dục tư tưởng chính trị trong các nhà trường, cụ thể là:

- Nghị quyết TW 5 khóa IX từng bước đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng

- Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tăng cường công tác tư tưởng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách Mạng

- Nhiệm vụ và giải pháp tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay (Ban tư tưởng văn hóa TW- nhà xuất bản chính trị quốc gia)

Trang 18

- Nghị quyết phương hướng nhiệm vụ của Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ IX nhiệm kỳ 2010-2015

- Nghị quyết phương hướng nhiệm vụ của Đại hội Đảng bộ các cơ quan tỉnh Bắc Kạn lần thứ V nhiệm kỳ 2010-2015

- Nghị quyết phương hướng nhiệm vụ của đại hội Đảng bộ Trường Chính trị tỉnh Bắc Kạn nhiệm kỳ 2010-2015, Tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ Đảng viên và học viên nhà trường giai đoạn 2010-2015

Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị trong phạm vi một đơn vị trường để đề xuất các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp xã thì cho đến nay vẫn là một “khoảng trống” ít được

quan tâm nghiên cứu Chính vì vậy mà chúng tôi chọn vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng tại trường chính trị tỉnh Bắc Kạn’’ làm đề tài

nghiên cứu

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

1.2.1 Tư tưởng

Theo Từ điển Triết học, tư tưởng là "một hình thái phản ánh thế giới

xung quanh con người, tổng hợp các quan niệm, khái niệm thành một thế duy nhất” [24, tr.1033] Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tư tưởng là những "quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội" [25,

tr 1757] Nhìn chung, tư tưởng là suy nghĩ, là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, đời sống xã hội có hai loại nhu cầu

cơ bản: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; do đó, có hai lĩnh vực sản xuất

là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần để đáp ứng các nhu cầu đó Tư tưởng

và quan điểm tư tưởng thuộc lĩnh vực tinh thần, ý thức xã hội; chịu sự tác

Trang 19

động mang tính quyết định của tồn tại xã hội, của lĩnh vực vật chất Khi tồn tại xã hội thay đổi thì sớm hay muộn ý thức xã hội cũng thay đổi theo C.Mác

đó khẳng định: "Không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ mà

chính tồn tại của họ quyết định ý thức của họ" [10, tr 78] Bất cứ tư tưởng

nào cũng đều do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quyết định Nhưng, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, tác động tích cực trở lại tồn tại xã hội, góp phần cải tạo thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp

xã hội, mỗi người không ngừng nhận thức thế giới, hình thành những khỏi niệm trong ý thức của họ Nhưng, do mục đích của quá trình nhận thức là nhằm cải tạo hiện thực khách quan, nên ý thức của con người không chỉ dừng lại ở các khái niệm, mà từ các khái niệm đó hình thành nên những chủ kiến,

dự định, kế hoạch hành động của họ Vì vậy, tư tưởng là hình thức cao của nhận thức, là những mục tiêu, kế hoạch nhằm tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới khách quan

Là sản phẩm chủ quan của con người, nhưng tư tưởng của mỗi người lại phụ thuộc chặt chẽ vào đối tượng phản ánh và trình độ nhận thức của họ

Sự vận động và phát triển của thực tại khách quan tác động vào tư tưởng và làm thay đổi nhận thức, tư tưởng của con người Như vậy, tư tưởng là sản phẩm của sự phản ánh hiện thực thông qua trí óc con người

Tư tưởng xuất hiện trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn có tác động trở lại cơ sở kinh tế làm nảy sinh ra nó và có thể làm thay đổi cơ sở kinh tế trong những giới hạn nhất định, thông qua hoạt động của những lực lượng xã hội Sự tác động này diễn ra theo hai chiều hướng khác nhau: thúc đẩy hoặc kìm hãm Tư tưởng tiến bộ, cách mạng, khoa học mang tính vượt trước trên cơ sở nắm bắt được quy luật khách quan có vai trò to lớn, tác động tích cực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội Tư tưởng lạc

Trang 20

hậu, lỗi thời, phản động sẽ tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của xã hội Tính chất, hậu quả tác động của ý thức xã hội nói chung và tư tưởng nói riêng phụ thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp thống trị xã hội, thể hiện ở trình độ của sự phù hợp giữa ý thức, tư tưởng đối với hiện thực, mức độ truyền bá, sự thâm nhập của ý thức, tư tưởng vào các tầng lớp nhân dân

Tư tưởng của con người luôn gắn liền với lợi ích; quan hệ lợi ích tác động trở lại tư tưởng, chi phối quá trình nhận thức và hoạt động của con

người Theo V.I Lênin, “Những lý tưởng cao cả nhất cũng không đáng giá

một xu nhỏ, chừng nào mà người ta không biết kết hợp chặt chẽ những lý tưởng đó với lợi ích của chính ngay những người đang tham gia cuộc đấu tranh kinh tế” [12, tr 510 - 511]

Các nhà tư tưởng thường bảo vệ lợi ích giai cấp mình dưới hình thức lý tưởng hóa, tức là gắn cho giai cấp mình sứ mệnh đại diện chân chính cho toàn

xã hội và do đó, lợi ích mà họ bảo vệ được xem là lợi ích chung phổ biến của toàn xã hội

Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng bao giờ cũng mang tính giai cấp Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là những tư tưởng của giai cấp thống trị Trong xã hội có giai cấp luôn có sự đấu tranh tư tưởng giữa các giai cấp để truyền bá, thu phục, lôi kéo các tầng lớp nhân dân theo quan điểm tư tưởng của giai cấp mình, nhằm biến tư tưởng thành sức mạnh hành động để giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp Đấu tranh tư tưởng là một trong những hình thức đấu tranh giai cấp trong xã hội Trong lịch sử các giai cấp thống trị xã hội đó phát triển tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng Hệ tư tưởng là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (về chính trị, triết học, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo ) phản ánh lợi ích của từng giai cấp, tầng lớp trong xã hội

Trang 21

ra đời là một bước tiến lịch sử, chính trị trở thành công việc đụng đảo của quần chúng nhân dân, mọi người có quyền tham gia vào chính trị, vào công việc của nhà nước Tuy nhiên, mức độ này phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi công dân

Với thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Các Mác cho rằng: Chính trị là hoạt động thực hiện lợi ích giai cấp, lợi ích giai cấp khác nhau thì mục đích chính trị cũng khác nhau

Theo Lênin: “Chính trị có tính logic khách quan của nó, không phụ

thuộc vào những dự tính cá nhân này hay cá nhân khác, của Đảng này hay Đảng khác” [13, tr 246]

“Quần chúng có hàng triệu, và chính trị thì bắt đầu ở nơi nào có hàng

triệu người, không phải ở nơi có hàng nghìn người mà ở đâu có hàng triệu người thì ở đó có một chính trị nghiêm túc”[15, tr 20]

Như vậy, theo Lênin, phạm trù chính trị được hiểu:

- Chính trị là lợi ích, là đấu tranh giai cấp

- Cái căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức chính quyền, quyền lực nhà nước

- Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, đồng thời chính trị không thể không chiếm hàng đầu so với kinh tế

Trang 22

- Văn hóa là cơ sở để xây dựng nền chính trị tiến bộ

- Chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên quan đến vận mệnh hàng triệu người, giải quyết vấn đề chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật

1.2.2 Tư tưởng chính trị

Tư tưởng chính trị là một hình thái ý thức xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Nó xuất hiện trong lịch sử cùng với sự xuất hiện của nhà nước cổ đại Tư tưởng chính trị của một thể chế xã hội là hệ thống quan điểm tư tưởng thể hiện lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định,

nó xác định nội dung và hình thức hoạt động của Nhà nước về mặt đối nội cũng như đối ngoại

Là những hiểu biết về mục đích, đường lối và nhiệm vụ đấu tranh của chính Đảng cũng như đông đảo quần chúng Theo đó có thể hiểu tư tưởng chính trị là sự hiểu biết, là những quan điểm chung của con người về mục đích, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và nhiệm vụ đấu tranh của chính Đảng cũng như đông đảo quần chúng

Như vậy, trong xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận chính trị của giai cấp vô sản, là hệ tư tưởng chân chính nhất của giai cấp vô sản và chính đảng của mình - Đảng Cộng sản Đó là kim chỉ nam của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng mình, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột của giai cấp

tư sản và trả con người về đóng vị trí của nó

Đảng ta, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân với chủ nghĩa yêu nước Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng luôn lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của mình Điều đó được Đảng ta khẳng định rõ

Trang 23

trong Cương lĩnh đầu tiên ngay từ khi thành lập Đảng (3/2/1930) và sau

này trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII

(6/1991) “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm

nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Toàn thể cán bộ, đảng viên

và quần chúng nhân dân phải thấm nhuần quan điểm tư tưởng đó để xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Một nhà nước thực sự là của dân, do dân

và vì dân

1.2.3 Giáo dục tư tưởng chính trị

Hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị nói chung là hoạt động lãnh đạo quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước nhằm nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát triển đường lối, chính sách; truyền bá đường lối, chính sách, xây dựng thế giới quan khoa học, bồi dưỡng lý tưởng, lẽ sống, xây dựng niềm tin, định hướng giá trị đóng đắn, thúc đẩy con người hành động tích cực

và sáng tạo; xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng con người mới Vị trí quan trọng của hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị xuất phát từ nguyên lý khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về tầm quan trọng của lý luận đối với thực tiễn cách mạng C.Mác nói:

“Lý luận sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần

chúng” V.I.Lênin cũng chỉ rõ: “Nâng cao sự giác ngộ của quần chúng hiện nay cũng như bất cứ một lúc nào, vẫn là nền tảng và nội dung chủ yếu của toàn bộ công tác của chúng ta” Trong công cuộc đổi mới, đánh giá về vai trò

quan trọng của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Công tác tư tưởng đó góp phần

nâng cao nhận thức, tính tích cực của cán bộ, đảng viên, nâng cao lòng tin của nhân dân vào đường lối đổi mới, tạo sự nhất trí trong Đảng và sự đồng

Trang 24

thuận trong xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị- xã hội”

Giáo dục tư tưởng chính trị cho người học là quá trình giáo dục tiến hành có mục đích có kế hoạch, có phương pháp của nhà giáo dục nhằm chuyển hóa tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin; tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành phẩm chất giá

trị của mỗi cá nhân

Bản chất của quá trình này là biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành hành vi thực hiện tự giác của cá nhân

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị

1.2.4.1 Quản lý

vì vậy có nhiều cách tiếp cận, có những khái niệm khác nhau về quản lý

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… Bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là con người cụ thể, sự vật cụ thể

Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước

Quản lý là sự chỉ huy, sự điều hành có mục đích của chủ thể quản lý nhằm điều khiển hoạt động của khách thể quản lý để đạt mục tiêu quản lý

đề ra

Trang 25

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [ 27,tr 24]

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ

chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [11,tr 7]

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng

“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản

lý (Người quản lý) đến khách thể quản lý (Người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

[theo27,tr25]

Theo Harold Koonyz “Quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự

phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong

đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản

[12,tr 33]

Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich wiliam Tay Lor (1856-1915), Mỹ; HenriFayol(1841-1925), Pháp; MaxWeber(1864-1920), Đức đều khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy

sự phát triển xã hội

Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin: “Quản Lý xã hội một cách

khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay

Trang 26

những hệ thống con người khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đóng đắn những quy luật khách quan nhằm đảm bảo cho hệ thống hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [15,tr 267]

Về nội dung, thuật ngữ “Quản lý” có nhiều cách hiểu không hẳn như nhau Trong giáo trình: Khoa học quản lý (tập 1 NXB khoa học kỹ thuật Hà Nội năm 1999) đã ghi rõ:

- Quản lý là các hoạt động thực tiễn nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác

- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự khác cùng chung một tổ chức

- Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt mục đích của nhóm

- Quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác

động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ sớm đạt mục tiêu

Những định nghĩa trên khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:

+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và

ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu tác động gián tiếp của chủ thể quản

Trang 27

Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt mục đích của mình

Hiện nay quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)

kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra

Như vậy có thể khái quát: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển,

hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đề ra Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người

bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo

ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho xã hội.”

Quản lý là môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý và xã hội học… nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao

Dựa vào những điểm chung từ những cách hiểu nêu trên, chúng tôi cho

rằng: “Quản lý là những tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản

lý tới đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm chỉ huy điều hành các đối tượng quản lý để thực hiện các mục tiêu quản lý đề ra”

Quản lý gắn liền với hoạt động có mục đích có kế hoạch và có quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý, khách thể quản lý cả hai yếu tố này đều hướng tới mục tiêu chung đó là mục tiêu của tổ chức

1.2.4.2 Quản lý giáo dục

Cũng như khái niệm quản lý, quản lý giáo dục có nhiều cách định nghĩa khác nhau

Theo các nhà lý luận Xô Viết “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện

pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục,

Trang 28

đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” (Theo M,M.Mêch Ti -Zade”)

Theo PV Khu Đô Min XKy “Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có

thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của

hệ thống (Từ bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục XHCN cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của CNXH, cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ thiếu niên và thanh niên” [12, tr10]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống những

tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng.Thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN, mà tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [theo 37,tr 35]

- Xét ở cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có

kế hoạch, có hệ thống của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả mắt xích của hệ thống giáo dục (từ Bộ tới Trường, từ Trung ương đến địa phương) nhằm đạt tới mục tiêu, để nâng cao chất lượng hiệu quả của giáo dục

- Xét ở cấp vi mô: Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích có

kế hoạch, có hệ thống của các lãnh đạo nhà trường tới cán bộ giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường, nhằm thực hiện có chất lượng hiệu quả mục tiêu giáo dục đào tạo trong nhà trường

Theo chúng tôi: Quản lý giáo dục trong nhà trường là quá trình tác

động có mục đích, có kế hoạch của nhà quản lý đến tất cả các đối tượng, khách thể quản lý nhằm huy động một cách tối đa nguồn lực giáo dục trong

Trang 29

1.2.4.3 Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị

Quản lý giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp xã là

những tác động có mục đích, có kế hoạch của Nhà quản lý đến tập thể, cán

bộ, giáo viên, học viên và những lực lượng khác trong và ngoài trường nhằm huy động họ tham gia và quan tâm đến hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên để thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục tư tưởng chính trị đề ra, góp phần hình thành phát triển nhân cách người học một cách toàn diện

- Chủ thể quản lý giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên là Hiệu trưởng Nhà trường, Phòng quản lý đào tạo - bồi dưỡng trong nhà trường, cán

bộ quản lý các khoa, phòng, giảng viên nhà trường, các tổ chức khác trong và ngoài nhà trường

- Đối tượng quản lý là học viên, quá trình giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên gồm:

+ Mục tiêu giáo dục

+ Nội dung giáo dục

+ Phương pháp hình thức, tổ chức giáo dục

+ Hoạt động của giáo viên

+ Hoạt động của học viên

- Đối tượng quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

ở trường Chính trị bao gồm:

+ Mục đích của hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên + Nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên + Phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

+ Các lực lượng tham gia giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

+ Các nguồn lực phục vụ cho hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

Trang 30

+ Hoạt động của học viên

- Kết quả của hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị giữa các thành tố trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy khi nghiên cứu hoạt động này cần phải khai thác các mối quan hệ đó

- Khách thể quản lý là các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường

* Một số đặc điểm tâm lý của học viên là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

- Học viên là những cán bộ thuộc 22 chức danh công chức cấp xã, là lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân cấp xã Độ tuổi trung bình là 40, chiếm 93% là con em các đồng bào dân tộc thiểu số, được tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ THPT, trung cấp, cao đẳng và đại học, đa số trưởng thành từ thực tế lao động sản xuất và chiến đấu Họ có năng lực tham gia vào nhiều hoạt động trong xã hội, có ý thức về hành vi, lời nói và việc làm của mình Tuy nhiên, do trình độ không đồng đều, nên nhận thức mỗi người khác nhau

về cùng một vấn đề Do đó việc giáo dục lập trường tư tưởng cho họ là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp cho họ hình thành thế giới quan và nhân sinh quan khoa học Để từ đó củng cố niềm tin, có lập trường tư tưởng kiên định với con đường đi lên CNXH, tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, có tính tự giác cao trong quá trình công tác, tự rèn luyện của bản thân, tích cực chủ động sáng tạo phát huy năng lực sở trường, tư duy sáng tạo, giám nghĩ, giám làm để tự phát triển hoàn thiện mình và góp phần cùng cơ quan đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao

- Về khả năng tự ý thức: Ở lứa tuổi này học viên là những người có khả năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối với các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và bản thân Đây là quá trình tự quan sát, tự phân tích, kiểm tra, đánh giá về hoạt động và kết quả tác động của bản thân trong tư tưởng, tình

Trang 31

cảm, phẩm chất đạo đức, phong cách và sự hứng thú… Học viên hoàn toàn có thể tự đánh giá toàn diện về chính bản thân và vị trí, vai trò của mình trong cương vị công tác cũng như trong cuộc sống Tự ý thức chính là điều kiện để học viên phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách của mình theo yêu cầu chuẩn mực của xã hội

- Về mặt tình cảm: Đây là thời kỳ mà con người có khả năng tự kiềm chế về tình cảm, biết điều tiết hướng tình cảm của mình vào các hoạt động mang lại lợi ích cho công tác và có tầm ảnh hưởng đến người khác Nhìn chung học viên đã đạt đến độ chín trong suy nghĩ và hành động, có khả năng phán đoán và suy nghĩ chín chắn để đưa ra quyết định đóng đắn về mọi tình huống nẩy sinh trong quá trình công tác cũng như trong cuộc sống

- Về mặt xã hội: Ở lứa tuổi này, học viên có mối quan hệ xã hội rất rộng, có nhiều hoạt động giao tiếp trong công tác và trong cuộc sống.Những hoạt động này giúp họ phát triển nhiều kỹ năng mới, cách ứng xử mới, từ đó xây dựng phong cách quản lý phù hợp với môi trường xã hội ngày càng phát triển và mở rộng Đây là thời kỳ học viên ổn định về nhân cách, họ có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội, có mục đích và lý tưởng để xây dựng kế hoạch riêng cho hoạt động của bản thân thích ứng với điều kiện sống và công tác

Họ xác định được tầm quan trọng của việc thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và sự vững vàng về lập trường tư tưởng chính trị

1.2.4.4 Biện pháp quản lý giáo dục tư tưởng chính trị

- Lập kế hoạch quản lý giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Tổ chức thực hiện giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Chỉ đạo giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

i Lập kế hoạch giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

Nhà trường thành lập ban chỉ đạo giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên, làm tốt công tác lập kế hoạch cho hoạt động này, bởi công tác này là bộ

Trang 32

phận hết sức quan trọng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho cho Tỉnh Bắc Kạn Khi lập kế hoạch quản lý, cán bộ quản lý cần chú ý:

- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu giáo dục tư tưởng chính trị với mục tiêu giáo dục- đào tạo của nhà trường

- Phối hợp chặt chẽ giữa kế hoạch đào tạo của nhà trường với kế hoạch giảng dạy trên lớp, kế hoạch tổ chức các hoạt động ngoại khoá, hoạt động thực tế ở cơ sở

- Lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động cho phù hợp

- Giám sát, kiểm tra các hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

* Quy trình lập kế hoạch giáo dục tư tưởng chính trị

Bước 1: Dự thảo kế hoạch

Để dự thảo kế hoạch, cán bộ quản lý phải đánh giá đóng thực trạng đào tạo của nhà trường, đặc điểm tâm lý học viên, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ nội dung chương trình giáo dục

Bước 2: Xin ý kiến cán bộ giáo viên về bản dự thảo kế hoạch

Bước 3: Hoàn thiện kế hoạch

Bước 4: Phê duyệt kế hoạch

Bước 5: Triển khai thực hiện kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch (nếu có)

để đạt được mục tiêu nhiệm vụ đặt ra

* Các loại kế hoạch

- Kế hoạch hoạt động ngoại khoá

- Kế hoạch hoạt động theo các môn học trong chương trình đào tạo có tính kết hợp với nội dung giáo dục tư tưởng chính trị

- Kế hoạch hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp

- Kế hoạch hoạt động theo định kỳ sinh hoạt chi bộ

Trang 33

Trong kế hoạch phải chỉ rõ mục tiêu hoạt động, nhiệm vụ, thời gian hoạt động, người phụ trách, nguồn lực tham gia, thời gian thực hiện, kết quả đạt được

ii Hoàn thiện cơ cấu tổ chức thực hiện có kết quả kế hoạch giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Thành lập hội đồng giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Xác định nhiệm vụ của hội đồng giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Thực hiện phân công phân nhiệm rõ ràng trong thực hiện kế hoạch giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Xây dựng lực lượng tham gia giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Tổ chức phối hợp các lực lượng làm tốt công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

iii Chỉ đạo các hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Chỉ đạo thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính chị cho học viên

- Chỉ đạo giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên thông qua các môn học chính khóa

- Giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên thông qua sinh hoạt chi bộ

- Giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên thông qua hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp

- Giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên thông qua hoạt động xã hội

- Giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên qua xây dựng môi trường sư phạm và hoạt động tự quản của học viên trong nhà trường

- Giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên thông qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa và các hoạt động khác

- Chỉ đạo thực hiện nề nếp sinh hoạt chính trị của các tập thể lớp

Trang 34

- Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Chỉ đạo đổi mới phương pháp giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên theo hướng tăng cường vai trò tự giáo dục của học viên và theo hướng làm việc hợp tác

- Chỉ đạo quản lý nâng cao tư tưởng chính trị cho học viên trong trường

- Chỉ đạo tăng cường cơ sở vật chất trường học để giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Chỉ đạo huy động và phối hợp các lực lượng giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

- Chỉ đạo điều chỉnh kế hoạch giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên khi cần thiết

iv Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục tư tưởng, chính trị cho học viên

- Xây dựng kế hoạch kiểm tra: Kế hoạch kiểm tra phải xác định rõ mục đích kiểm tra, nội dung kiểm tra, phương pháp và hình thức kiểm tra

- Xây dựng các lực lượng kiểm tra: Bố trí lực lượng kiểm tra có chuyên môn và kỹ thuật kiểm tra

- Tổ chức tiến hành kiểm tra thường xuyên, định kỳ

- Tổng kết đánh giá, thông tin phản hồi tới người dạy và người học nhằm điều chỉnh quá trình giáo dục tư tưởng chính trị đạt hiệu quả cao

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

1.3.1 Mục tiêu và bản chất quản lý giáo dục tư tưởng chính trị

Mục tiêu của quản lý giáo dục tư tưởng chính trị: Trong nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hoá ở nước ta hiện nay, nhiệm vụ quan trọng của giáo dục và đào tạo là phải phát triển con người một cách toàn diện: Lòng yêu

Trang 35

nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN, có lòng nhân ái gắn bó với gia đình, cộng đồng, trọng đạo lý đề cao phẩm giá con người

Đặc biệt đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, là cấp trực tiếp đưa chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống Đòi hỏi những cán bộ đó phải có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với tổ quốc Việt Nam XHCN, có tinh thần làm chủ, trung thực thật thà “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, có tác phong làm việc khoa học, có thái độ nghiêm túc trong việc thực thi nhiệm vụ chính trị được giao Mục tiêu của quản lý giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên là nâng cao hệ tư tưởng của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho học viên, giúp học viên nắm vững chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, những quy định của địa phương trong phát triển kinh

tế văn hóa giáo dục và tổ chức thực hiện đóng chủ trương đó

Bản chất của quản lý giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên là những tác động quản lý có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng tới cán bộ, giảng viên và học viên nhằm chuyển hóa một cách tự giác việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước mang tính cưỡng chế, bắt buộc thành nhu cầu thể hiện hành vi tự giác của học viên

1.3.2 Các nguyên tắc, phương pháp quản lý giáo dục tư tưởng chính trị

1.3.2.1 Nguyên tắc

- Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện:

Giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên phải đảm bảo tính cân đối giữa tác động nhận thức, tình cảm, hành vi, và đi đến đích cuối cùng là phát triển nhân cách học viên một cách toàn diện, nâng cao nhận thức nhân cách cho người học theo yêu cầu của xã hội và yêu cầu nghề nghiệp

Trang 36

- Nguyên tắc đảm bảo tính lịch sử cụ thể:

Căn cứ vào từng thời điểm lịch sử cụ thể, trước những yêu cầu thực tiễn

đề ra, nội dung giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên cần phải đáp ứng yêu cầu của xã hội, yêu cầu của nhiệm vụ công tác trong thời điểm đó

- Nguyên tắc phát triển, dự báo:

Nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên phải mang tính dự báo về những yêu cầu cần có của người cán bộ lãnh đạo, quản

lý trong tương lai để xác định nội dung giáo dục đào tạo

- Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng:

Mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên phải quán triệt đóng với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phải quán triệt nguyên lý giáo dục của Đảng học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội

Hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên phải phục vụ nhiệm

vụ chính trị mà Đảng đã đề ra

- Nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ:

Hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên phải được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, tự giác tham gia của học viên Phát huy được vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên trong quá trình học tập, rèn luyện

- Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả:

Mọi hoạt động quản lý, giáo dục dục tư tưởng chính trị cho học viên đều hướng tới nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức công dân cho học viên Nhằm biến các chủ trương, đường lối, chính sách, của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành ý thức

tự giác chấp hành của học viên

1.3.2.2 Các phương pháp quản lý giáo dục tư tưởng chính trị

- Phương pháp hành chính:

Chủ thể quản lý giáo dục dục tư tưởng chính trị dùng các mệnh lệnh hành chính mang tính cưỡng chế đơn phương buộc đối tượng quản lý phải

Trang 37

thực hiện những yêu cầu về mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính trị do nhà trường đề ra

Ưu điểm của phương pháp này: Buộc học viên phải chấp hành các chủ trương do nhà giáo dục đề xuất, nó tạo ra tính kỷ cương, kỷ luật trong nhà trường

Nhược điểm: Khô cứng, dễ chạm tự ái của học viên có thể dẫn đến

hành vi thực hiện của học viên không mang tính tự giác

- Phương pháp thuyết phục động viên:

Chủ thể quản lý tác động tới giáo viên, học viên trong nhà trường bằng cảm hóa, thuyết phục, động viên, kích thích họ nhận thức đóng về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định, quy chế của nhà trường, họ tự giác thực hiện các chủ trương đó

Thông qua các biện pháp tác động về mặt tâm lý làm cho cán bộ giáo viên, học viên giác ngộ về chính trị, pháp luật, có nhận thức đóng về các vấn

đề Biến các yêu cầu của xã hội, của Đảng, của Nhà nước, của nhà trường thành hành vi của cá nhân

Ưu điểm: Phương pháp này giúp học viên có tinh thần tự giác chấp hành các chủ trương do nhà giáo dục đề xuất với tinh thần thoải mái

Nhược điểm: Mất nhiều thời gian thực hiện, nhưng hiệu quả không cao, đặc biệt là đối với cán bộ, giáo viên và học viên không có ý thức tự giác, họ thường có suy nghĩ không làm cũng không ảnh hưởng gì

- Phương pháp kinh tế:

Nhà trường áp dụng phương pháp thưởng phạt đối với các hoạt động của học viên, nhằm kích thích động viên những hoạt động tốt và kìm hãm những hoạt động không tốt

Các phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy con người hành động Các lợi ích được phân phối theo nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động Người quản lý thực hiện các chức năng quản lý

Trang 38

thông qua điều phối hợp lý quan hệ giữa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, lợi ích giữa các cá nhân với nhau

Ưu điểm: Kích thích con người tích cực tham gia vào vào hoạt động, khắc phục mọi khó khăn về sức khỏe, thời gian để đạt được mục đích hoạt động

Nhược điểm: Nếu nhà quản lý thực hiện không khéo sẽ dẫn đến tình trạng không có tiền không làm, do đó cán bộ giáo viên ít quan tâm đến giáo

dục tư tưởng chính trị cho học viên

Chính vì vậy để đạt hiệu quả cao trong quản lý, Hiệu trưởng cần sử dụng phối hợp các phương pháp nêu trên, vì các phương pháp này đảm bảo việc xác lập các cơ cấu tổ chức và các cơ chế vận hành của tổ chức Nhờ đó công việc chung của tổ chức được tiến hành nhanh chóng, thống nhất triệt để, đáp ứng mục đích không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

1.2.3.3 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị

Từ những điều phân tích trên đây có thể thấy rằng trong trường chính

trị các nhà quản lý cần lưu ý:

- Tổ chức chỉ đạo giáo viên, học viên học tập để nắm vững các văn bản, Quy chế, Quy định của Học Viện Chính trị - Hành chính Quốc gia; các Chỉ thị, Nghị quyết của các cấp uỷ Đảng

- Thực hiện Nội quy, Quy chế của nhà trường, thực hiện đóng tiến độ

và đầy đủ nội dung, chương trình khoá học cho học viên

- Các phương pháp kinh tế, tâm lý muốn có hiệu lực cần được bàn bạc, thống nhất trong giáo viên, học viên và “thể chế hóa” bằng các Quyết định có hiệu lực pháp lý

- Hiệu trưởng với những biện pháp tác động thích hợp, quan tâm nắm được những đặc điểm tâm lý, nhân cách của giáo viên và học viên sẽ động viên tinh thần chủ động tích cực, tự giác của họ, tạo ra sự thỏa mãn tinh thần

Trang 39

trong từng người và bầu không khí tâm lý nhân ái, hợp tác phấn đấu đạt

những mục tiêu chung của tập thể

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở

Nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên mang tính thiết thực, phù hợp sẽ kích thích động viên, thu hút, lôi cuốn được học viên

Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục: Phương pháp phát huy vai trò tích cực chủ động, sáng tạo của học viên, huy động họ tham gia vào quá trình giáo dục, tự giáo dục để hoàn thiện nhân cách

Hình thức tổ chức quản lý người học sẽ phát huy vai trò cá nhân người học, khai thác tiềm năng và trí tuệ của họ, giúp họ phát triển nhân cách theo yêu cầu xã hội

Năng lực sư phạm của giảng viên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc học viên tiếp thu những kiến thức ở nhà trường, giảng viên có năng lực tốt sẽ giúp học viên tiếp thu và hiểu bài tại lớp

Phẩm chất đạo đức của giảng viên là tấm gương sáng để học viên học tập và làm theo và để phát triển nhân cách toàn diện

Mục tiêu của nhà trường là định hướng tích cực cho học viên tu dưỡng, phấn đấu và rèn luyện bản lĩnh chính trị

Tính tích cực của học viên là nhân tố quyết định kết quả cuối cùng của quá trình giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên, không ai có thể học thay và làm thay người học, mà phải bằng chính họ quyết định sự thành đạt của bản thân

Mụi trường xã hội có ảnh hưởng đa chiều tới hiệu quả của giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên, bao gồm cả ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực

Trang 40

Kết luận chương 1

Giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên là quá trình nhằm chuyển hóa

tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành phẩm chất giá trị của mỗi cá nhân Thực chất của quá trình này là biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trở thành hành vi thực hiện tự giác của cá nhân

Quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên: Thực chất

là những tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà quản lý đến tập thể, cán

bộ, giáo viên, học viên và các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường, nhằm huy động họ tham gia và quan tâm đến hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị

và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý giáo dục tư tưởng chính trị đề ra

Quản lý giáo dục tư tưởng chính trị là quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên, để họ nhận thức đóng về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, các chuẩn mực đạo đức của Đảng và Nhà nước, có niềm tin đối với cách mạng Việt Nam, với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó ở họ hình thành ý thức tự giác thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Nội quy, Quy chế và Quy định của nhà trường, thực hiện các chuẩn mực đạo đức mà xã hội yêu cầu Tuy nhiên quá trình quản lý hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, như: Nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, năng lực sư phạm của giáo viên, cảnh quan môi trường của nhà trường, tính tích cực chủ động của học viên, các yếu tố về chính trị, xã hội, kinh tế Nếu khai thác và tận dụng được những yếu tố ảnh hưởng tích cực, ngăn chặn và làm vô hiệu hoá những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho học viên

Ngày đăng: 25/03/2021, 09:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w