ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VŨ QUỲNH HOA Tên đề tài: PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KHI DẠY MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ DAO ĐỘNG VẬT LÍ 12 THEO HƯỚNG PHÁT HUY T
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ QUỲNH HOA
Tên đề tài:
PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KHI DẠY MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ DAO ĐỘNG (VẬT LÍ 12) THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC,
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH MIỀN NÚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
THÁI NGUYÊN 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ QUỲNH HOA
Tên đề tài:
PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KHI DẠY MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ DAO ĐỘNG (VẬT LÍ 12) THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC,
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH MIỀN NÚI
Chuyên nghành:LL& PPDH môn Vật lý
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Hướng dẫn khoa học: PGS – TS: Nguyễn Văn Khải
THÁI NGUYÊN 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS - TS Nguyễn Văn Khải đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tác giả trong suốt quá trình thực hiện bản luận văn này Tác giả xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô phản biện đã đọc và cho những nhận xét quý báu đối với bản luận văn này
Tác giả chân thành cảm ơn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Khoa Vật lý và Khoa Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả chân thành cám ơn các Thầy, Cô thuộc tổ bộ môn PP khoa Vật lý trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ trong quá trình triển khai nghiên cứu
Tác giả chân thành cảm ơn các trường THPT Chu Văn An, THPT Nguyễn Huệ, THPT Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả thực nghiệm sư phạm và hoàn thành luận văn
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô cộng tác thực nghiệm sư phạm, các anh, chị em đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này
Luận văn này được hoàn thành tại khoa sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Tác giả luận văn
Vũ Quỳnh Hoa
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang Mục lục ……… i
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt……… iv
Danh mục các bảng……… v
Danh mục các đồ thị……….vi
MỞ ĐẦU 1
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 2
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………2
VII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
VIII CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 3
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHỐI HỢP PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KHI DẠY CÁC KIẾN THỨC VỀ DAO ĐỘNG( VẬT LÝ 12) THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH MIỀN NÚI 4
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Lý luận về phương pháp dạy học 5
1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học 5
1.2.2 Những phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông hiện nay 6
1.2.3 Phương pháp dạy học tích cực [36] 8
1.2.4 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực [14] 9
1.2.5 Các phương pháp dạy học có khả năng tích cực hóa hoạt động nhận thức vật lý của học sinh 12
1.3 Phương tiện dạy học[33,14] 17
1.3.1 Phương tiện dạy học 17
Trang 51.3.2 Phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí [14] 20
1.3.3 Ưu điểm và nhược điểm của phương tiện dạy học hiện đại 22
1.4 Phối hợp các phương pháp và phương tiện hiện đại trong dạy học Vật lý 23
1.4.2 Các biện pháp phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học vật lí 26
1.5.Tính tích cực, sáng tạo 27
1.5.1 Tính tích cực 27
1.5.2 Tính sáng tạo 30
1.6 Tìm hiểu thực tế dạy học một số kiến thức về “Dao động” 40
1.6.1 Mục đích 40
1.6.2 Phương pháp tìm hiểu thực tế dạy và học 40
1.6.3 Kết quả điều tra 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 46
Chương II: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI VỀ DAO ĐỘNG VẬT LÝ 12 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 47
2.1 Sự phát triển kiến thức về dao động ( Chương trình vật lý 12 ) 47
2.1.1 Đặc điểm các kiến thức về “Dao động” trong chương trình vật lý 12 47
2.1.2 Phân tích logic hình thành và phát triển các kiến thức về “Dao động”- Vật lí 12 .48
2.2 Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức về “Dao động” 49
2.2.1 Định hướng chung của tiến trình xây dựng phương án dạy học một số bài cụ thể theo hướng nghiên cứu của đề tài .49
2.2.2 Thiết kế tiến trình dạy học bài: “Con lắc lò xo” .52
2.2.3 Thiết kế tiến trình dạy học bài: “Mạch dao động” 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 79
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 80
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 80
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 80
3.2 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 80
Trang 63.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 81
3.4 Khống chế các tác động ảnh hưởng đến kết quả TNSP 82
3.5 Chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 82
3.5.1 Chọn lớp thực nghiệm và đối chứng 82
3.5.2 Các bài thực nghiệm sư phạm 83
3.6 Giáo viên cộng tác thực nghiệm sư phạm 83
3.7 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 83
3.7.1 Tiêu chí đánh giá 83
3.7.2 Đánh giá, xếp loại 85
3.7.3 Xây dựng ma trận đề kiểm tra – Đánh giá, thực nghiệm 85
3.8 Tiến hành thực nghiệm sư phạm và xử lý kết quả 88
3.8.1 Yêu cầu chung về xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 88
3.8.2 Phân tích và xử lý các kết quả định tính của thực nghiệm sư phạm 89
3.8.3 Phân tích và xử lý các kết quả định lượng của TNSP 91
KẾT LUẬN CHUNG 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109
Trang 7CÁC DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BT Bài tập CNGD Công nghệ giáo dục CNTT Công nghệ thông tin
DH Dạy học
ĐC Đối chứng GQVĐ Giải quyết vấn đề
QN Quan niệm SBT Sách bài tập SGK Sách giáo khoa STK Sách tham khảo THPT Trung học phổ thông
TN Thực nghiệm T/N Thí nghiệm TNSP Thực nghiệm sư phạm TTC Tính tích cực
VTCB Vị trí cân bằng CLLX Con lắc lò xo
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, CÁC BIỂU, CÁC ĐỒ THỊ
CÁC BẢNG Bảng 1.1 Sử dụng sách phục vụ cho giảng dạy của giáo viên 42
Bảng 1.2 Phương pháp dạy học của giáo viên 43
Bảng 1.3 Mục đích, động cơ, hứng thú và cách thức học môn vật lý của HS 44
Bảng 1.4 Khả năng nhận thức, mức độ tích cực, tự lực của HS 45
Bảng 3.1 Đặc điểm chất lượng học tập của các lớp TN và ĐC 82 Bảng 3.2 Bảng phân phối thực nghiệm - Bài kiểm tra số 1 91
Bảng 3.3 Bảng xếp loại - Bài kiểm tra số 1 92
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất - Bài kiểm tra số 1 93
Bảng 3.5 Bảng kết quả tính các tham số thống kê - Bài kiểm tra số 1 93
Bảng 3.6 Bảng tần số luỹ tích hội tụ lùi Σ ω - Bài kiểm tra số 1 94
Bảng 3.7 Bảng phân phối thực nghiệm - Bài kiểm tra số 2 96
Bảng 3.8 Bảng xếp loại - Bài kiểm tra số 2 97
Bảng 3.9 Bảng phân phối tần suất - Bài kiểm tra số 2 98
Bảng 3.10 Bảng kết quả tính các tham số thống kê - Bài kiểm tra số 2 98
Bảng 3.11 Bảng tần số luỹ tích hội tụ lùi Σ ω - Bài kiểm tra số 2 99
Bảng 3.12 Thống kê tỷ lệ trả lời sai các câu hỏi KT về QN của HS 101
Trang 9CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị biểu diễn tần suất lần 1 94
Đồ thị biểu diễn tần suất lùi lần 1 95
Đồ thị biểu diễn tần suất lần 2 99
Đồ thị biểu diễn tần suất lùi lần 2 100
CÁC BIỂU
Biểu đồ 1 Biểu đồ phân loại lần 1 92 Biểu đồ 2 Biểu đồ phân loại lần 2 97
Trang 10MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa và hội nhập quốc tế Bối cảnh lịch sử đặt ra những yêu cầu mới về nhân tố con người và đặt ra những thách thức mới cho ngành giáo dục
Thực hiện theo những định hướng đổi mới đã được xác định trong các nghị quyết
Trung ương được thể chế hoá trong Luật giáo dục và được cụ thể hoá trong trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Một trong những giải pháp hữu
hiệu nhằm thực hiện những mục tiêu trên là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Vì vậy, dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng của giáo dục phổ thông hiện nay
Qua tìm hiểu và thực tế giảng dạy ở trường phổ thông cho thấy: Sự đổi mới PPDH ở trường phổ thông (PT) đang được tiến hành, phát triển tương đối nhanh ở các trường thuộc khu vực thành phố, song chuyển biến còn chậm ở các trường miền núi, vùng sâu
Trong chương trình vật lý lớp 12 cơ bản thì dao động điều hoà là dao động quan
trọng nhất chi phối hầu như mọi hiện tượng trong chương trình vật lý lớp 12 cho dù
là cơ hay là điện đều dựa trên các kiến thức này Dao động là kiến thức quan trọng không những về mặt lí thuyết mà còn có ý nghĩa trong thực tế Nếu phối hợp hợp lí các phương pháp và phương tiện dạy học, đồng thời xây dựng được tiến trình dạy học phù hợp với logic phát triển các kiến thức về dao động(vật lý 12 cơ bản) thì có thể nâng cao tính tích cực, sáng tạo của học sinh miền núi, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn vật lý ở trường THPT(Trung học phổ thông)
Như vậy, để việc dạy kiến thức về dao động có hiệu quả, ta cần có một sự nghiên cứu cặn kẽ về nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy; trong đó,
Trang 11việc phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh miền núi là vấn đề mà chúng tôi
hướng tới Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Phối hợp phương pháp và
phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức về dao động ( Vật lý 12 cơ bản) theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh miền núi ”
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học vật lý và logic phát triển các kiến thức
về dao động (vật lý 12), xây dựng tiến trình dạy học với sự phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học theo hướng phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh miền núi
III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Khách thể: Quá trình dạy học vật lý ở trường THPT miền núi
- Đối tượng: : Các phương pháp và phương tiện dạy học, hoạt động dạy và học vật lý các trường THPT tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi nghiên cứu: Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học khi dạy các kiến thức về dao động( vật lý 12) ở các trường THPT miền núi
IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu phối hợp hợp lí các phương pháp và phương tiện dạy học, đồng thời xây dựng được tiến trình dạy học phù hợp với logic phát triển các kiến thức về dao động(vật lý 12) thì có thể nâng cao tính tích cực, sáng tạo của học sinh miền núi, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn vật lý ở trường THPT
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, vận dụng phương pháp và phương tiện dạy học thích hợp để dạy học các kiến thức về dao động ( Chương trình lớp12 cơ bản) theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh miền núi
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa Vật lý 12
- Tìm hiểu thực trạng học các kiến thức về dao động của học sinh lớp 12 ở các trường THPT và phương tiện dạy học ở các trường phổ thông
Trang 12- Soạn thảo tiến trình dạy học sử dụng phương tiện dạy học hiện đại theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT nhằm xác định mức độ phù hợp, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của tiến trình sau đó rút kinh nghiệm để hoàn thiện
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu lý luận
2 Khảo sát thực tế
3 Thực nghiệm sư phạm
VII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Lý luận: Góp phần cụ thể hóa lý luận về việc lựa chọn và phối hợp phương
pháp và phương tiện dạy học vào thực tế dạy học vật lý
Thực tiễn: Các bài soạn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên để
đổi mới phương pháp dạy học
VIII CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục luận văn gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phối hợp phương pháp và phương
tiện dạy học khi dạy các kiến thức về dao động ( Vật lý 12) theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh miền núi
Chương II: Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức về “Dao động” (Vật lý 12) Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHỐI HỢP PHƯƠNG PHÁP
VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KHI DẠY CÁC KIẾN THỨC VỀ DAO ĐỘNG( VẬT LÝ 12) THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH MIỀN NÚI
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
* Những nghiên cứu về phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình dạy học Cùng một nội dung nhưng HS (học sinh) học tập có hứng thú, có tích cực hay không?
Có để lại những dấu ấn sâu sắc và khơi dậy những tình cảm lành mạnh trong tâm hồn các
em hay không? Phần lớn phụ thuộc vào phương pháp dạy học của người thầy
Nội dung dạy học đã được quy định trong SGK (Sách giáo khoa) còn phương pháp dạy học phụ thuộc nhiều vào khả năng của thầy và điều kiện dạy học cụ thể Vì vậy, tìm tòi những phương pháp dạy học thích hợp cho mỗi bài học là hoạt động sáng tạo chủ yếu và thường xuyên của thầy giáo
Do tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của các vấn đề lý thuyết và thực tiễn sư phạm, PPDH( phương pháp dạy học) luôn luôn là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục các nước Nhưng cho đến nay PPDH vẫn là một hiện tượng sư phạm nhiều quan điểm Các khái niệm, phạm trù, cách phân loại, xu thế phát triển cũng như nhiều vấn đề khác của PPDH còn là những vấn đề đang được tranh luận, chưa có ý kiến thống nhất.[33]
*Lịch sử phát triển về bản chất và cấu trúc của phương pháp dạy học
Nhìn lại những thành quả đã đạt được, đặc biệt trong mấy chục năm gần đây, việc nghiên cứu PPDH là hết sức cần thiết Nhưng do tính chất rộng lớn của nó mà việc giới thiệu lịch sử vấn đề cũng chỉ có giới hạn trong phạm vi kinh nghiệm Liên Xô, nơi mà trước đây vấn đề PPDH đã được tổ chức nghiên cứu một cách có hệ thống và đã đạt được những kết quả quan trọng cần học tập Nhìn chung, lý luận về phương pháp dạy học đã được xây dựng trên cơ sở thừa kế và phát triển những thành tựu về tâm lý học sư phạm và LLDH đặc biệt là những tư tưởng mới về DH và phát triển…[33 ]
Trang 14Ở Việt Nam, từ những năm 1990 nghiên cứu về PPDH đã được đề cập đến nhiều dưới góc độ lí luận DH và được vận dụng cho một số lĩnh vực dạy học cụ thể,
và đã được công bố rộng rãi trên các tạp chí khoa học Nhiều công trình nghiên cứu, các luận án tiến sĩ, có thể kể đến các tác giả tiêu biểu sau: Nguyễn Đức Thâm, Phạm Hữu Tòng, Phạm Xuân Quế, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Khải [30, 32, 27,
35, 14,15,16 ] Các luận văn thạc sĩ như: Lê thị Bạch [2 ], Phạm Thị Thanh Nga [19], Lê Thị Thu Ngân [20] luận án tiễn sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hà [10]… Các tác giả đều đã làm rõ vai trò cơ bản của PPDH trong việc phát huy TTC nhận thức của HS trong quá trình dạy học Tuy nhiên việc tìm tòi những PPDH thích hợp cho mỗi bài học là hoạt động sáng tạo chủ yếu và thường xuyên của mỗi GV
* Những nghiên cứu về PP&PTDH đối với chủ đề "Dao động"
" Dao động" là một trong những chủ đề lớn và khó đối với HS THPT, khi học về
phần này HS ít được quan sát các hiện tượng bằng TN, nên chưa hiểu đầy đủ bản chất của hiện tượng Đối với GV cũng gặp không ít khó khăn khi dạy phần này Qua việc tìm hiểu ở các thư viện lớn, chúng tôi thấy rất ít luận văn nghiên cứu về lĩnh vực này Chưa thấy luận văn nào nghiên cứu phối hợp các PP&PTDH khi dạy các kiến thức về
dao động chương trình lớp 12 Như vậy có thể thấy việc nghiên cứu: “Phối hợp các
phương pháp và phương tiện dạy học khi dạy các kiến thức về Dao động (Vật lý 12) nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh THPT miền núi” là cần thiết
1.2 Lý luận về phương pháp dạy học
1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH [ 8, 33]
- PPDH là cách thức tương tác giữa GV và HS nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình DH (Iu.K.Babanski 1983)
- PPDH là cách thức tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích DH Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật lôgic, các dạng hoạt động độc lập của HS và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của GV (I.D Dverev - 1980)
Trang 15- PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS, đảm bảo cho HS lĩnh hội nội dung học vấn (I Ia - Lecne - 1981)
+ Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định
+ Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của HS nhằm đạt được mục đích đề ra
+ Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa GV và HS
+ Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức: Kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức, KT và đánh giá kết quả hoạt động
1.2.2 Những phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông hiện nay
Hiện nay đã có nhiều PPDH khác nhau Đa số các phương pháp này có thể được nhóm lại theo ba dấu hiệu chung nhất:
- Nguồn kiến thức
- Đặc trưng hoạt động của giáo viên
- Đặc trưng hoạt động của học sinh
Ba dấu hiệu này xuất phát từ việc xem dạy và học như là hai mặt của một quá trình thống nhất, trong đó nguồn kiến thức được xem như gắn liền với hoạt động của giáo viên
và của học sinh Theo cách phân loại này, các PPDH Vật lí có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm các PP dùng lời, nhóm các PP trực quan và nhóm các PP thực hành
Trang 16a Nhóm các phương pháp dùng lời
Trong các phương pháp dùng lời, người giáo viên khi hình thành kiến thức cho học sinh đã dùng phương tiện chính là lời nói, đôi lúc có thể dùng thí nghiệm hoặc các phương tiện trực quan để minh hoạ, đàm thoại … và cũng có thể diễn giảng thông qua phương tiện thông tin đại chúng như các phương tiện truyền thanh, truyền hình, video, phương tiện công nghệ thông tin … Hoạt động của học sinh trong nhóm này chủ yếu biểu hiện ở việc lắng nghe bài giảng, tư duy và tham gia vào các hoạt động dưới sự tổ chức của giáo viên để chủ động nắm vững kiến thức như trả lời câu hỏi bằng các hình thức dùng lời nói hoặc trình bày ra giấy, thảo luận… Ở đây thông tin của lời nói là nguồn kiến thức chính trong nhóm các phương pháp dùng lời
b Nhóm các phương pháp trực quan
Trong nhóm các phương pháp trực quan, việc biểu diễn các hiện tượng và đối tượng cần nghiên cứu đóng vai trò cơ bản, giáo viên dùng lời nói trong trường hợp này để tổ chức hoạt động quan sát và tư duy lôgic của học sinh, làm chính xác hoá các tri giác của học sinh Trong quá trình quan sát, học sinh tư duy trên cơ sở các kết quả quan sát, các sự kiện thực nghiệm, thảo luận và chính xác hoá các kết luận dưới
sự chỉ đạo của giáo viên và từ đó thu nhận được các kiến thức mới Việc sử dụng các thí nghiệm biểu diễn, giới thiệu các hình ảnh slide, các sơ đồ, hình vẽ, các phim video giáo khoa… trong bài học, thực chất là người giáo viên đã sử dụng phương pháp trực quan Đôi lúc các thí nghiệm thực hành đồng loạt mà học sinh thực hiện ngay khi nghiên cứu tài liệu mới dưới sự chỉ dẫn của giáo viên, nhờ đó học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mới mà cả những kĩ năng đơn giản, cần thiết … cũng
có thể xem như một hình thức trực quan Nguồn kiến thức cơ bản trong nhóm phương pháp này là các đối tượng quan sát, còn hoạt động của người giáo viên thể hiện ở sự điều khiển quá trình nhận thức của học sinh Hoạt động của học sinh là quan sát và kể về những điều quan sát được, là lặp lại thí nghiệm, đôi lúc là nghe và trả lời, tham gia thảo luận…
Trang 17c Nhóm các phương pháp thực hành
Học sinh thực hiện các thí nghiệm thực hành và các thí nghiệm thực hành tổng hợp, các thí nghiệm và quan sát ngoài lớp học, giải các bài toán Vật lí Trong quá trình áp dụng các phương pháp này học sinh không chỉ nhận được kiến thức mới mà còn thu được kĩ năng và thói quen thực nghiệm, đo đạc và nghiên cứu, thói quen áp dụng các kiến thức để giải các bài toán Lời nói của giáo viên ở đây chỉ đóng vai trò chỉ dẫn và tổ chức, giới thiệu mục đích công việc Hoạt động của giáo viên cũng tập trung vào tổ chức hoạt động của học sinh, giúp học sinh thảo luận, rút ra kết luận Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, học sinh có thể sử dụng bản chỉ dẫn của giáo viên đã soạn sẵn Bằng quá trình tư duy độc lập, hoạt động thực hành và hoạt động
tư duy độc lập của học sinh hoàn thành được các nhiệm vụ thực hành Kết quả của các hoạt động như vậy là nguồn chủ yếu của các kiến thức và kĩ năng
1.2.3 Phương pháp dạy học tích cực [36]
PPDH truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ Theo Frire – nhà xã hội học, giáo dục học nổi tiếng người Braxin đã gọi PPDH này là “Hệ thống ban phát kiến thức”, là quá trình chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang đầu trò Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là “kho tri thức” sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo Ở phương pháp này, nội dung bài dạy có tính hệ thống và tính lôgic cao Song do quá đề cao vai trò của người dạy nên nhược điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lí luận, ít chú ý đến kĩ năng thực hành của người học; do
đó kĩ năng thực hành, ứng dụng vào thực tiễn bị hạn chế
PPDH hiện đại xuất hiện ở các nước phương Tây (ở Mĩ, Pháp,…) từ đầu thế kỉ
XX và được phát triển mạnh nửa sau của thế kỉ, có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đó là lối dạy học theo cách thức phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Vì thế thường gọi phương pháp này là phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC) PPDHTC hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
Trang 18học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động PPDH này rất chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao quyền năng cho người học Trong giờ học, giáo viên là người giữ vai trò trọng tài, người điều khiển tiến trình giờ dạy, hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm Các hoạt động cụ thể của người giáo viên là nếu ra các tình huống học tập, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học sinh, từ đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những kiến thức cần nắm vững
Việc thiết kế giáo án dạy học theo PPDHTC được thực hiện kiểu chiều ngang theo hai hướng song hành giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Ưu điểm của PPDHTC rất chú trọng kĩ năng thực hành, vận dụng giải quyết vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học Đặc điểm của dạy học theo PP này là giảm bớt thuyết trình, diễn giải; tăng cường dẫn dắt, điều khiển, tổ chức, xử lí tình huống, song nếu không tập trung cao thì học sinh sẽ không có được hệ thống và logic kiến thức
1.2.4 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực [14]
Các phương pháp dạy học tích cực có các đặc trưng sau:
a Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp tổ chức người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đỏ tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề dặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm dược phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình Theo cách dạy học này người giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Nội dung và phương pháp dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
Trang 19b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học hiện nay Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, biến từ học thụ động sang tự học chủ động, phát triển
tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối nên khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá càng lớn Việc cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của học sinh có thể được thực hiện trên cơ sở áp dụng công nghệ thống tin trong dạy học
Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Trong lớp học môi trường giao tiếp thầy - trò trò - trò tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; Tính cách, năng lực của mỗi thành viên
Trang 20được bộc lộ, uốn nắn; Phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội được đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; Năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và diều chỉnh hoạt động dạy của thầy Theo phương pháp dạy học truyền thống giáo viên đóng vai trò độc quyền đánh giá học sinh Ngược lại, trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá và tạo điều kiện để học sinh dược tham gia đánh giá lẫn nhau từ đó để tự điều chỉnh cách học Tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh Kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cấu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc vận dụng tri thức đã học vào việc giải quyết những tình huống thực tế Với sự trợ giúp của các phương tiện kĩ thuật như máy vi tính, các phương pháp kiểm tra, đánh giá
phong phú như tự luận, trắc nghiệm khách quan sẽ giúp người giáo viên bớt vất vả mà lại
cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực người giáo viên không còn đóng vai trò là
người truyền đạt kiến thức mà là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động
độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình
Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên là người gợi mở, xúc tác, động viên,
cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi, tranh luận sôi nổi của học sinh
Trang 211.2.5 Các phương pháp dạy học có khả năng tích cực hóa hoạt động nhận thức vật lý của học sinh
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ PPDH truyền thống Trong hệ thống các PPDH quen thuộc đã được sử dụng trong mấy thập kỉ gần đây cũng đã có nhiều PP tích cực Việc đổi mới PPDH cần kế thừa và phát triển những PPDH đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số PPDH mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện ở nước ta, để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc
Theo quan điểm về PPDHTC, một số PPDH dưới đây cần được quan tâm trong việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh
a Dạy học vấn đáp, đàm thoại
Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời hoặc tranh luận với nhau, với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học
Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ học bằng cách tăng cường hình thức hỏi – đáp, đàm thoại giữa giáo viên và học sinh, rèn luyện cho học sinh bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể Muốn thực hiện điều đó, đòi hỏi giáo viên phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát đối tượng, xác định vai trò, chức năng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các yếu tố kết nối các câu hỏi, thứ tự hỏi Giáo viên cũng cần dự kiến các phương án trả lời của HS để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ, tránh đơn điệu, nhàm chán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học tập của học sinh và tăng hấp dẫn của giờ học
Căn cứ vào trình độ nhận thức của học sinh, mục tiêu của mỗi hoạt động nhận thức mà người giáo viên lựa chọn các mức độ vấn đáp cho phù hợp Có ba mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh hoạ và vấn đáp tìm tòi
- Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại những kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Đây là một
Trang 22biện pháp được dùng khi cần đặt mối quan hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức mới chuẩn bị tiếp cận, hoặc củng cố kiến thức vừa mới học
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục tiêu làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để làm học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng phương tiện nghe nhìn
- Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng dẫn học sinh tứng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến (kể cả tranh lụân) giữa thầy và cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy [1]
b Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
Trong một xã hội phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành đạt trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù PPDH, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với PPDH
Nội dung cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là đặt ra trước học sinh một hệ thống tình huống có vấn đề, những điều kiện đảm bảo việc giải quyết
Trang 23các vấn đề đó và những chỉ dẫn nhằm đưa học sinh vào con đường tự lực giải quyết các vấn đề đã đặt ra Bằng con đường đó, không những học sinh thu được những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới mà họ còn rèn luyện năng lực tự lực nhận thức và phát triển được năng lực sáng tạo
Quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể chia thành ba giai đoạn:
• Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức: Công việc của giai đoạn này là:
- Tạo tình huống có vấn đề
- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Mục đích chính của giai đoạn này là làm xuất hiện trước học sinh mâu thuẫn nhận thức, giúp học sinh xác định rõ nhiệm vụ nhận thức và tiếp nhận nó, tức là tạo
ra nhu cầu nhận thức của học sinh Kích thích ở học sinh hứng thú nhận thức sao cho các em phấn khởi, sẵn sàng giải quyết vấn đề một cách liên tục Cấn chú ý khi đưa ra tính huống có vấn đề là phải đảm bảo tính vừa sức, đòi hỏi tư duy của học sinh những không quá khó làm học sinh mất hứng thú Khi học sinh giải quyết được các khó khăn gặp phải sẽ củng cố niềm tin cho các em
• Giải quyết vấn đề đặt ra Các công việc của giai đoạn này là:
- Đề xuất các giả thuyết
- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
- Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
Mục đích của giai đoạn này là đưa học sinh vào con đường tự lực, khai thác kiến thức; làm cho học sinh quen dần với phương pháp khoa học trong nghiên cứu và giải quyết vấn đề Để đạt được mục đích ấy, giai đoạn này gồm hai yếu tố cơ bản: Xây dựng giả thuyết và kiểm chứng giả thuyết
• Kiểm tra, vận dụng kết quả Các công việc cụ thể của giai đoạn này là:
Trang 24- Thảo luận kết quả và đánh giá
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ra
- Phát biểu kết luận
- Đề xuất vấn đề mới
Trong giai đoạn này, chú ý cho học sinh vận dụng sáng tạo các tri thức đã thu nhận được, tức là vận dụng để giải quyết những tình huống mới, khai thác những tình huống mới gặp phải khi thu nhận kiến thức
Tuỳ theo mức độ tham gia của học sinh vào quá trình nghiên cứu và giải quyết vấn
đề, người ta phân chia dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thành bốn mức độ:
Mức 1: Giáo viên nêu vấn đề và nêu cách giải quyết vấn đề; học sinh thực hiện
cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề
Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống, học sinh phát hiện và xác
định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp, học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên cùng học sinh đánh giá
Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình
hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng và hiệu quả
c Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
PPDH hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy những gì mình cần học hỏi thêm Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên
Trang 25Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng học sinh với sự việc chung của cả lớp Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và điều quan trọng trong phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và
đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp càng đổi mới Thực hiện theo phương pháp này, lớp học được chia thành nhóm nhỏ từ 4 đến
6 người Tuỳ mục đích yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chỉ định, được duy trì ổn định hoặc thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau Mỗi nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ mỗi người đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào thành quả học tập chung của cả lớp
Tiến trình của một tiết học (hoặc một buổi học) hoạt động theo nhóm có thể thực hiện như sau:
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện (hoặc phân công) người trình bày kết quả
Trang 263 Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong giờ học
1.3 Phương tiện dạy học[33,14]
1.3.1 Phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học (còn gọi là đồ dùng, thiết bị dạy học) là các vật thể hoặc tập hợp các vật thể mà giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này
Các phương tiện dạy học theo nghĩa rộng có thể bao gồm: các thiết bị dạy học, phòng dạy học, phòng thí nghiệm, bàn ghế, các phương tiện kĩ thuật, …
a Vị trí của các phương tiện trong quá trình dạy học
Trong mọi hoạt động của con người, 3 phạm trù: nội dung, phương pháp, phương tiện luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Mỗi nội dung đòi hỏi phương pháp, phương tiện tương ứng Ngược lại, sự cải tiến và sáng tạo những phương tiện lao động làm nảy sinh những nội dung và phương pháp mới có chất lượng cao hơn, vai trò của trực quan giảm dần
- Bình diện hành động đối tượng - thực tiễn: Ví dụ sử dụng các thiết bị thí nghiệm dùng cho thí nghiệm của học sinh
- Bình diện trực quan trực tiếp: ví dụ như việc sử dụng các vật thật, các ảnh chụp, các thiết bị dùng cho thí nghiệm của giáo viên, các phim học tập quay các cảnh thật
- Trong dạy học, mối quan hệ giữa nội dung, phương pháp, phương tiện cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Có thể thấy rằng, sự phát triển của phương tiện dạy học cũng phải trải qua các thời kì thủ công nghiệp, cơ khí, tự động như các công cụ lao động khác Sự thay đổi về số lượng và chất lượng của thiết bị dạy học đã làm thay đổi vị trí của chúng trong quá trình dạy học (QTDH)
Trang 27Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, vai trò của thiết bị dạy học ngày càng mở rộng Các thiết bị dạy học hiện đại đã cho phép đưa vào QTDH những nội dung diễn cảm và hứng thú, làm thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, tạo ra trong QTDH một nhịp độ, phong cách và trạng thái tâm lí mới
b Các chức năng của phương tiện dạy học
* Theo quan điểm lí luận dạy học, các phương tiện dạy học có các chức năng sau:
- Sử dụng phương tiện dạy học để tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh đặc biệt trong giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu
- Sử dụng phương tiện dạy học để hình thành kiến thức, kĩ năng mới
- Phương tiện dạy học có thể được sử dụng để củng cố kiến thức, kĩ năng của học sinh (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá)
- Sử dụng phương tiện dạy học để kiểm tra kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã thu được
- Phương tiện dạy học góp phần phát triển năng lực nhận thức của học sinh
- Việc sử dụng phương tiện dạy học đem lại hiệu quả xúc cảm, thẩm mĩ cho học sinh
- Hiệu quả của việc điều khiển quá trình nhận thức của học sinh sẽ được nâng cao
- Phương tiện dạy học góp phần thực hiện một trong các nội dung dạy học Vật
lí là phát triển tối ưu nhân cách của từng học sinh [10]
* Theo quan điểm tâm lí học học tập, hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập có thể diễn ra trên các bình diện khác nhau: bình diện hành động đối tượng - thực tiễn, bình diện trực quan trực tiếp, bình diện trực quan gián tiếp và bình diện nhận thức khái niệm ngôn ngữ, trong đó vai trò của ngôn ngữ tăng dần và Bình diện trực quan gián tiếp: Khi sử dụng các thí nghiệm mô hình, các phim hoạt hình, các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện tượng, quá trình Vật lí, các mô hình vật chất, các hình vẽ, sơ đồ
- Bình diện nhận thức khái niệm – ngôn ngữ: Các phương tiện dạy học như sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo, các phần mềm vi tính dùng cho ôn tập
Trang 28… tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhận thức trên cơ sở các khái niệm, các kết luận khái quát, tức là hoạt động trên bình diện khái niệm – ngôn ngữ
c Các loại phương tiện dạy học
* Các phương tiện dạy học truyền thống:
1 Các vật thật trong đời sống kĩ thuật
2 Các thiết bị thí nghiệm dùng để tiến hành các thí nghiệm của giáo viên và các thí nghiệm của học sinh
d Một số yêu cầu chung khi sử dụng phương tiện trong quá trình dạy học
Để việc sử dụng thiêt bị có hiệu quả, phải thoả mãn một số yêu cầu chung sau:
1 Phải xác định rõ nhiệm vụ của thiết bị trên bài học Điều này phải bắt đầu từ
sự phân tích nội dung và phương pháp dạy học, trên cơ sở đó lựa chọn thiế bị và xác định phương pháp sử dụng thích hợp
2 Xác định vị trí của thiết bị Thiết bị có thể sử dụng ở các bước khác nhau của
quá trình dạy học nhằm tạo ra mâu thuẫn, kích thích, hứng thú của học sinh, minh hoạ những vấn đề phức tạp, củng cố, vận dụng kiến thức,…
3 Thiết bị phải góp phần tích cực hoá quá trình nhận thức và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Điều đó có thể thực hiện qua việc sử dụng các thiết bị
dạy học theo tinh thần dạy học nêu vấn đề, tăng cường các dạng thực hành khác nhau, đặc biệt là thực hành đồng loạt
4 Sử dụng phối hợp các dạng thiết bị với nhau để phát huy ưu điểm đặc thù của mỗi loại
Trang 295 Thiết bị phải được trình bày dưới dạng động, có lượng thông tin và thời gian hợp
lí
1.3.2 Phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí [14]
a Phim học tập
* Các loại phim học tập được sử dụng trong dạy học Vật lí:
- Phim đèn chiếu: Chiếu các phim dương bản về đối tượng của Vật lí học, các phép đo trong Vật lí, các ứng dụng của Vật lí…
- Phim chiếu bóng quay các cảnh thật hoặc phim hoạt hình
- Phim truyền hình
- Phim trên băng video, đĩa VCD, DVD, …
* Các trường hợp sử dụng phim học tập trong dạy học Vật lí:
- Giới thiệu các thí nghiệm cơ bản mà không thể tiến hành trong điều kiện lớp học
- Khi đối tượng quan sát có kích thước rất nhỏ, khó quan sát, hoặc quá lớn, hoặc hiện tượng diễn ra ở những nơi, vào thơi điểm không quan sát trực tiếp được như nhà máy điện, các thiên thể, …
- Các quá trình Vật lí diễn ra quá nhanh hoặc rất chậm, ví dụ như sự rơi tự do, hiện tượng khuếch tán, …
- Khi nghiên cứu các ứng dụng của Vật lí
- Khi trình bày lịch sử phát triển của một vấn đề Vật lí, một phát minh khoa học, kĩ thuật, …
* Lợi ích của việc sử dụng phim học tập trong dạy học Vật lí:
- Phim học tập giúp thu nhận thế giới tự nhiên vào lớp học, xoá bỏ những hạn hẹp không gian của lớp học và thời gian hạn chế của tiết học
- Cho phép quan sát với tốc độ mong muốn hoặc có thể dừng hình ảnh, nhờ vậy có thể quan sát được rõ ràng các quá trình, hiện tượng Vật lí, làm cho học sinh
có biểu tượng đúng đắn về chúng
Trang 30- Làm tăng tính trực quan và hiệu quả cảm xúc khi tri giác các đối tượng và hiện tượng Vật lí do các phim học tập có sự kết hợp hài hoà kĩ thuật âm thanh và hình ảnh…
- Phim học tập có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học, ở trong lớp học, ngoài lớp học, trong và ngoài giờ học chính khoá
* Phương pháp sử dụng đoạn phim học tập trong dạy học Vật lí:
Các giai đoạn chủ yếu làm việc của giáo viên với phim học tập
- Đặt kế hoạch sử dụng phim trong kế hoạch tổng thể của một chương, một phần cụ thể kế hoạch dạy học
- Xác định công việc chuẩn bị với học sinh trước khi sử dụng phim
- Trong khi xem phim, giáo viên cần quan sát, đưa ra các gợi ý nhằm hướng sự chú ý của học sinh vào cái cơ bản, cái đặc biệt
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phim học tập
b Máy vi tính
Do có những tính năng mới và ưu việt nên trong khoảng ba, bốn mươi năm gần đây, máy vi tính đã được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực của xã hội Trong lĩnh vực giáo dục người ta cũng đã và đang nghiên cứu sử dụng máy vi tính vào dạy học [27]
* Các tính năng ưu việt của máy vi tính đối với quá trình dạy học[14]
- Máy vi tính là thiết bị tạo nên, lưu trữ và hiển thị một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh nên máy vi tính được sử dụng để
hỗ trợ giáo viên trong quá trình minh hoạ các hiện tượng, quá trình tự nhiên cần nghiên cứu Tất cả những văn bản, hình ảnh hay âm thanh có thể được chọn lọc, sắp xếp trong máy vi tính và được trình bày nhanh chóng với chất lượng cao theo một trình tự bất kì trong giờ học Máy vi tính thể hiện tính ưu việt của nó hơn hẳn các phương tiện dạy học khác còn ở chỗ: ngay tức khắc, theo ý muốn của giáo viên, nó
có thể phóng to, thu nhỏ, làm chậm, làm nhanh, dừng lại quá trình đang xảy ra hay chuyển sang nghiên cứu quá trình khác
Trang 31- Nhiều chương trình (phần mềm) đã được xây dựng nhằm hỗ trợ cho việc tự học, tự ôn tập của học sinh, trong đó các yếu tố kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực, tự lực cũng như trí lực của học sinh được hết sức chú trọng Việc kiểm tra, đánh giá với sự hỗ trợ của máy tính cũng đã và đang được thử nghiệm trong lĩnh vực dạy học, để đảm bảo được tính khách quan, chính xác cao của công việc kiểm tra, đánh giá Nhiều chương trình (phần mềm) tự kiểm tra, đánh giá đã đảm bảo các mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học
- Máy vi tính còn sử dụng trong việc mô phỏng, mô hình hoá các hiện tượng, quá trình cần nghiên cứu Nhờ máy vi tính và các phần mềm, ta có thể xây dựng và quan sát mô hình tĩnh hay mô hình động ở các góc độ khác nhau, trong không gian
1, 2 hay 3 chiều, với đủ loại màu sắc khác nhau có trong tự nhiên
- Máy vi tính được kết nối với mạng internet và được sử dụng như một phương tiện dạy học trên mạng Internet
1.3.3 Ưu điểm và nhược điểm của phương tiện dạy học hiện đại
a Ưu điểm:
- Truyền thụ cho học sinh khối lượng kiến thức lớn, chính xác và diễn cảm trong thời gian tương đối ngắn
- Giảng dạy cho một số lớn học sinh mà không đòi hỏi nhiều giáo viên
- Tăng cường tính trực quan của quá trình dạy học
- Các máy dạy học cho phép giải phóng người thầy khỏi những công việc sự vụ đơn thuần để họ có thể tham gia các hoạt động sáng tạo
- Phương tiện hiện đại hỗ trợ tích cực cho việc kiểm tra, đánh giá của giáo viên đối với học sinh và tự kiểm tra, đánh giá của học sinh
Trang 32- Sử dụng công nghệ thông tin đòi hỏi học sinh phải tham gia tích cực, tốc độ nhanh, nên những học sinh ở mức trung bình, yếu có thể không theo kịp
1.4 Phối hợp các phương pháp và phương tiện hiện đại trong dạy học Vật lý
1.4.1 Các căn cứ lí luận và thực tiễn lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học [27], [33]
Trong thực tế lập kế hoạch và tiến hành dạy học, người thầy giáo luôn phải đối diện với câu hỏi: làm thế nào để lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp và có hiệu quả? Các nhà lí luận dạy học đều đưa ra lời khuyên: mỗi phương pháp dạy học đều có giá trị riêng, không có phương pháp dạy học vạn năng, cần phối hợp sử dụng các phương pháp Để lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp với mỗi bài dạy, mỗi hoạt động dạy học, chúng ta cần quan tâm mối quan hệ của nó với các yếu tố liên quan, đó là mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, điều kiện giảng dạy
và học tập, nhu cầu, hứng thú, thói quen học tập của học sinh, năng lực, sở trường, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên
Dưới đây là mấy cơ sở căn bản cần quan tâm khi lựa chọn phương pháp dạy học:
a Chọn những PPDH có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học
Mỗi một PPDH có những điểm mạnh hay yếu nhất định Tuy nhiên, khi xem xét thực hiện một mục tiêu dạy học thì có một số PPDH có khả năng cao hơn các PPDH khác Bảng dưới đây là kết quả nghiên cứu về khả năng của các PPDH trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học (Nguồn: Tủ sách khoa học VLOS) [6]
Trang 33Từ bảng phân loại trên, ta nhận thấy vai trò tích cực của phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm, thảo luận, phát triển năng lực tự lực học tập nhằm thực hiện mục tiêu dạy học hiện nay
Một kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy sự hạn chế của các phương pháp dùng lời nói và đồng thời khuyến khích tổ chức các hoạt động tự lập của học sinh, phối hợp các phương pháp nhằm huy động đồng thời nhiều giác quan của học sinh tham gia vào quá trình tri giác các đối tượng lĩnh hội (Nguồn: Tủ sách khoa học VLOS) [6]
Trang 34
b Lựa chọn các PPDH tương thích với nội dung
Giữa nội dung và phương pháp dạy học có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định quy định lẫn nhau Ở bình diện kĩ thuật dạy học, PPDH cần tương thích với nội dung dạy học Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định
c Lựa chọn PPDH cần chú ý tới hứng thú , thói quen của học sinh, kinh nghiệm của giáo viên
- Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các PPDH Đối với việc trình bày thông tin, cần ưu tiên lựa chọn các phương pháp sử dụng các phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt Đối với hoạt động phân tích và xử lí thông tin cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh càng tốt
- Chú ý thay đổi PPDH và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh
Trang 35- Ưu tiên lựa chọn các PPDH mà học sinh, giáo viên đã thành thạo
d Lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học
- Ở đây đề cập đến PPDH diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học Đương nhiên là cần phải lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện của nhà trường, của phòng thí nghiệm, của tình trạng đang có
- Trong khuôn khổ điều kiện cho phép, cần chọn thứ tự ưu tiên tôt nhất
- Các thiết bị dạy học hiện đại không luôn đồng nghĩa với các thiết bị dạy học đắt tiền Tính hiện đại của thiết bị đại học thể hiện ở việc sử dụng các thiết bị sao cho đạt yêu cầu cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, thể hiện rõ tư tưởng sư phạm hiện đại
1.4.2 Các biện pháp phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học vật lí
Để có thể phối hợp các phương pháp dạy học và phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí, giáo viên nên thực hiện đồng bộ những biện pháp sau đây:
1 Nắm vững ưu, nhược điểm của từng phương pháp dạy học và cách vận dụng các phương pháp đó vào dạy học
2 Nắm vững chức năng và cách sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại
3 Nghiên cứu kĩ các nội dung kiến thức cần truyền tải trong giờ học, phân tích các hiện tượng Vật lí xảy ra để thấy rõ cơ chế của hiện tượng
4 Lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp với từng mục tiêu kiến thức Sử dụng các chức năng của phương tiện dạy học hiện đại để phát huy ưu điểm của PPDH đã lựa chọn
5 Mỗi đối tượng học sinh cần có sự điều chỉnh phương pháp dạy học khác nhau và mức độ đòi hỏi tư duy khác nhau Do vậy khi thiết kế phương án dạy học, cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi, hình ảnh mô phỏng, minh hoạ theo cấp độ yêu cầu đối với tư duy
Trang 366 Sử dụng các tính năng ưu việt của máy vi tính để đổi mới hình thức kiểm tra, hình thức đặt vấn đề, tổng hợp kiến thức của từng bài học, từng chương, của từng phần
Trên đây là những biện pháp cơ bản mà chúng tôi vận dụng để phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học trong giảng dạy Vật lí nhằm phát triển tính tích cực và sáng tạo củaHS ở trường THPT
Tác giả Bùi Hiển coi tính tích cực là nét tính cách rất quan trọng của nhân cách, một thuộc mục tiêu lâu dài, bao quát các hoạt động của con người Tiến sĩ I.F Khalamốp thì coi nó là trạng thái hoạt động của các chủ thể, nghĩa là của người hành động chỉ đề cập trong quá trình nhận thức, thuộc mục đích trước mắt Như vậy, khi vận dụng vào PPDH thì quan niệm của I.F Khalamốp là phù hợp hơn Nói chung, tính tích cực là trạng thái hoạt động của các chủ thể, nghĩa là của người hành động Vậy tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức
GS Trần Bá Hoành cũng quan niệm, "Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, có gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Nói cách khác, là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập- nhận thức " Chúng tôi thấy quan niệm của hai tác giả trên là
có ý nghĩa cao trong hoạt động giáo dục
Trang 37Tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác:
Mặt tự phát của TTC nhận thức là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, hiếu động linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà ở trẻ đều có trong các mức độ khác nhau
Mặt tự giác của TTC là trạng thái tâm lý mà TTC có mục đích và đối tượng rõ rệt
Do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó, thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học
1.5.1.2 Vai trò và biểu hiện của tính tích cực trong học tập[20]
a Vai trò: Trong học tập, HS chỉ có thể chiếm lĩnh được kiến thức và phát
triển được tư duy của mình khi họ tích cực hoạt động nhận thức Hoạt động nhận thức là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình học tập của HS Thông qua hoạt động nhận thức, HS chiếm lĩnh được kiến thức và năng lực tư duy cũng đồng thời được phát triển
b Biểu hiện: Để phát hiện xem HS có tích cực hoạt động nhận thức không, ta
dựa vào các dấu hiệu sau:
+ HS có chú ý học tập không? Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không?
+ Có hoàn thành nhiệm vụ được giao không?
+ Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
+ Có hiểu bài không? Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?
+ Có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không?
+ Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
+ Thực hiện yêu cầu của thày giáo tối thiểu hay tối đa?
+ Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?
+ Tốc độ học tập có nhanh không?
+ Có hứng thú trong học tập không hay vì một ngoại lực nào đó mà phải học?
Trang 38+ Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
+ Có sáng tạo trong học tập không?
Trong hoạt động học tập nói chung, trong hoạt động học Vật lí nói riêng, tính tích cực hoạt động nhận thức của HS thường thể hiện ở:
+ Hoạt động trí tuệ: tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho được lời giải hay của một bài toán khó
+ Hoạt động chân tay: say sưa lắp ráp tiến hành và quan sát thí nghiệm
Hai hình thức biểu hiện này thường đi kèm nhau, tuy có lúc biểu hiện riêng lẻ với những dấu hiệu thường thấy như sau: HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn và thích được phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay thắc mắc và đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn
đề trình bày chưa rõ; chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã có để nhận thức các vấn đề mới; mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới nhận từ các nguồn kiến thức khác nhau có thể vượt ra ngoài phạm vi bài học
1.5.1.3 Các biện pháp nâng cao tính tích cực trong học tập của học sinh
Phát huy TTC nhận thức của HS, có thể tóm lược như sau:
+ Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu + Nội dung DH phải mới, nhưng không qúa xa lạ với HS mà cái mới phải liên
hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS
+ Phải dùng các PP dạy học đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, tổ chức thảo luận, sêmina và phối hợp chúng với nhau
+ Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ
+ Sử dụng các phương tiện DH hiện đại để kích thích hứng thú học HS
Trang 39+ Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan, làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm
+ Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới
+ Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức + Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
+ Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội
+ Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt
+ Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội
Trong thời gian tới nên điều chỉnh công tác nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề TTC hóa hoạt động nhận thức của HS theo một số hướng cơ bản sau:
+ Nghiên cứu PP nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức sáng tạo chứ không dừng lại mức độ tái hiện như hiện nay
+ Phát huy sức mạnh bản chất của người học, mà theo K.Mark đó là: trí tuệ, tâm hồn và ý chí Đặc biệt là sức mạnh tâm hồn (hứng thú, xúc cảm ) là điều lâu nay chưa được chú ý đúng mức
+ Phối hợp chặt chẽ và khoa học hơn nữa giữa các thày giáo, các nhà quản lí, các nhà văn hóa và phụ huynh HS
1.5.2 Tính sáng tạo
1.5.2.1 Khái niệm về tính sáng tạo [5][14]
Theo nghĩa thông thường, sáng tạo là một tiến trình phát kiến ra các ý tưởng
và quan niệm mới, hay một kết hợp mới giữa các ý tưởng và quan niệm đã có Hay
đơn giản hơn, sáng tạo là một hành động làm nên những cái mới
Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (Nga): "Sáng tạo là một loại hoạt động mà
kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa
xã hội, có giá trị"
Trang 40Hay từ điển bách khoa Việt Nam (tập 3): Sáng tạo là "Hoạt động tạo ra cái
mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có "
Khó tìm được một định nghĩa rõ ràng nào cho khái niệm sáng tạo và năng lực sáng tạo Các từ điển thường chỉ cho ta một vài hiểu biết khái quát và phiến diện về nội dung phong phú của các khái niệm đó Ta biết hoạt động sáng tạo là một loại hoạt động tinh thần riêng có của con người, mà sản phẩm của nó thường là những phát minh hoặc phát hiện mới mẻ, độc đáo của tư duy và trí tưởng tượng Có người
nói " sáng tạo là nhìn cùng một việc như mọi người nhưng nghĩ về một điều nào đó
khác" Tính mới, tính độc đáo là những tính chất cốt yếu của kết quả sáng tạo; khả năng tư duy và trí tưởng tượng là những năng lực cần thiết cho sáng tạo
Như vậy, có thể hiểu năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới
Năng lực sáng tạo phản ánh hoạt động lí tính của con người, đó là khả năng nhận thức thế giới, phát hiện ra các quy luật khách quan và sử dụng những quy luật
đó vào việc cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ loài người Năng lực sáng tạc biểu hiện trình độ tư duy phát triển ở mức độ cao của con người
Phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh là bồi dưỡng cho hệ cách suy nghĩ, phong cách học tập, làm việc khoa học, rèn luyện các thao tác tư duy logic, tư duy biện chứng, rèn luyện các kĩ năng, phát triển ở họ tư duy khoa học, tư duy Vật lí và năng lực vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau
1.5.2.2.Vai trò và những biểu hiện của tính sáng tạo
a Vai trò của tính sáng tạo [14]
- Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp diễn với nhịp độ cao, đã đặt ra nhiều vấn đề mới không chỉ trong các lĩnh vực Khoa học - Công nghệ mà cả những vấn đề rất chung, rất tổng quát như trong lĩnh vực tư duy và hoạt động kinh tế xã hội
Mỗi phát minh xuất hiện kéo theo hàng loạt phát minh khác, nó được ứng dụng nhanh chóng vào kĩ thuật và sản xuất, đưa lại những thành tựu kì diệu cho khoa học