1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy tính tích cực tự lực và sáng tạo của học sinh qua dạy học nhóm khi dạy chương chất khí lớp 10 thpt

120 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 590,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC NHÓM MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” VẬT LÝ 10 THPT ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH.... Đánh giá hiệu quả dạy học nhóm đối với v

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯƠNG THỊ DUNG

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH QUA DẠY HỌC NHÓM KHI DẠY

CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” LỚP 10 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯƠNG THỊ DUNG

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH QUA DẠY HỌC NHÓM KHI DẠY

CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” LỚP 10 THPT

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tô Văn Bình

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS

Tô Văn Bình đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp giảng dạy vật lý, Ban chủ nhiệm khoa vật lý, Phòng sau đại học – Trường ĐHSP Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường THPT Đồng Hỷ, trường THPT Gang Thép, trường THPT Bắc Sơn đã tạo điều kiện sẵn sàng giúp đỡ em hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân, các anh chị bạn đọc đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Tác giả:

Lương Thị Dung

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình đề tài nghiên cứu này là của tôi, do chính tôi viết, nghiên cứu và hoàn thành chưa được công bố ở đâu trên bất kì tạp chí nào

Thái Nguyên, Tháng 4 năm 2013

Tác giả

Lương Thị Dung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các biểu đồ v

Danh mục các đồ thị v

Các chữ viết tắt trong luận văn vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH QUA DẠY HỌC NHÓM 4

1.1 Tính tích cực tự lực và sáng tạo của học sinh 5

1.1.1 Tính tích cực của học sinh 5

1.1.2 Tính tự lực của học sinh 9

1.1.3 Tính sáng tạo của học sinh 16

1.2 Nội dung của dạy học hiện đại 21

1.2.1 Thế nào là dạy học hiện đại 21

1.2.2 Chức năng của hoạt động dạy và hoạt động học trong dạy học hiện đại 23

1.2.3 Dạy học theo xu hướng tích cực 26

1.3 Các hình thức tổ chức dạy học 28

1.3.1 Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH) 28

1.3.2 Các HTTCDH ở trường phổ thông 29

1.4 Dạy học nhóm 31

1.4.1 Khái niệm 31

1.4.2 Các cách thành lập nhóm 32

1.4.3 Tiến trình dạy học nhóm 34

Trang 6

1.4.4 Ưu điểm và hạn chế của dạy học nhóm 36

1.5 Thực trạng dạy học vật lí ở trường THPT 37

1.5.1 Nội dung điều tra 37

1.5.2 Phương pháp điều tra 37

1.5.3 Kết quả điều tra 38

Chương 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC NHÓM MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” VẬT LÝ 10 THPT ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 42

2.1 Phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh qua dạy học nhóm trong dạy học vật lý 42

2.1.1 Đặc điểm bộ môn vật lý 42

2.1.2 Phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh qua dạy học nhóm trong dạy học vật lý 43

2.2 Phân tích cấu trúc đặc điểm của chương chất khí 46

2.2.1 Vị trí đặc điểm của chương 46

2.2.2 Phân tích cấu trúc kiến thức của chương 47

2.2.3 Phân tích nội dung chương 48

2.2.4 Phân tích đánh giá thực trạng dạy học của chương 49

2.3 Thiết kế tiến trình dạy học nhóm một số kiến thức chương “Chất khí” vật lý 10 THPT để phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh 49

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 73

3.1.1 Mục đích 73

3.1.2 Nhiệm vụ 73

3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 73

3.3 Phương pháp đánh giá thực nghiệm sư phạm 74

3.4 Tiến hành thực nghiệm 75

3.4.1 Công tác chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 75

3.4.2 Tổ chức thực hiện 75

Trang 7

3.5 Kết quả thực nghiệm 76

3.5.1 Yêu cầu chung về xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 76

3.5.2 Đánh giá hiệu quả dạy học nhóm đối với việc phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh qua các biểu hiện trong giờ học 78

3.5.3 Đánh giá hiệu quả dạy học nhóm đối với việc phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh qua bài kiểm tra 78

KẾT LUẬN CHUNG 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 94

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phương pháp và phương tiện dạy học 38

Bảng 1.2 Tổ chức hoạt động dạy học 39

Bảng 3.1 Đặc điểm chất lượng học tập bộ môn của các lớp TN và ĐC 74

Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả, thái độ , tình cảm, tác phong của HS 78

Bảng3.3 Kết quả bài kiểm tra số 1 79

Bảng 3.4 Xếp loại bài kiểm tra số 1 79

Bảng3.5 Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 1 80

Bảng 3.7 Kết quả bài kiểm tra số 2 82

Bảng 3.8 Xếp loại bài kiểm tra số 2 82

Bảng 3.9 Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 2 83

Bảng 3.11 Kết quả bài kiểm tra số 3 85

Bảng 3.12 Xếp loại bài kiểm tra số 3 85

Bảng 3.13 Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 3 86

Bảng 3.14 Các thông số thống kê của bài kiểm tra số 3 87

Bảng 3.15 Tổng hợp các thông số thống kê qua bài kiểm tra TNSP 88

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 1 80 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 2 83 Biểu đồ 3.3 Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 3 86

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

Đồ thị 3.1 Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 1 81

Đồ thị 3.3 Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 2 84

Đồ thị 3.3 Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 3 87

Trang 10

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Giáo dục và đào tạo GD-ĐT

Phương pháp PP

Phương pháp dạy học PPDH

Phương pháp dạy học tích cực PPDHTC Tính tích cực TTC

Tự lực trong học tập TLTHT

Hoạt động tổ chức dạy học HĐTCDH Hình thức tổ chức dạy học HTTCDH Giáo viên GV

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì sự năng động

và sáng tạo của con người là một trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại, sự phát triển nhanh hay chậm của xã hội Để đất nước ta có thể hòa nhập với sự phát triển chung của thế giới, sánh ngang với cường quốc năm châu đòi, hỏi ngành Giáo dục và đào tạo phải có những đổi mới mạnh mẽ, nhanh chóng để tạo ra những con người có đủ trình độ, năng lực sáng tạo, sự năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và khả năng hội nhập để làm chủ đất nước trong tương lai

Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật với sự bùng nổ thông tin khoa học đã làm cho kho tàng tri thức phát triển một cách đáng kể Do đó mâu thuẫn giữa quỹ thời gian dành cho việc dạy học trong nhà trường và lượng kiến thức cần trang bị cho học sinh ngày càng trở nên gay gắt Vì vậy phương pháp giáo dục cổ truyền chủ yếu là thông báo truyền thụ kiến thức một chiều mà hiện nay đang phổ biến ở nước ta không đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp đào tạo thế

hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải thay đổi quan niệm dạy học, phải đổi mới một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học cũng như phương pháp đánh giá kết quả học tập nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010( ban kèm quyết định số 201/2001/QĐ – TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001) của Thủ tướng Chính phủ ở mục

5.2 ghi rõ “ Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động tích cực của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập….”

Trang 12

Vài thập kỉ gần đây đã có nhiều nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS Việc đổi mới phương pháp

và hình thức tổ chức dạy học, trong đó có dạy học nhóm nhằm phát triển tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của HS trong học tập đang được nhiều GV quan tâm, nghiên cứu và vận dụng Tuy nhiên ở nhiều trường PT vẫn còn tình trạng thầy đọc, trò ghi xen kẽ vấn đáp, giải thích minh họa, không tổ chức hoạt động nhóm

Môn vật lý là một môn khoa học thực nghiệm vì vậy có nhiều điều kiện phát huy khả năng tự lực, sáng tạo, làm chủ kiến thức cho HS Để đạt kết quả đó, GV phải biết kết hợp các hình thức tổ chức, các PPDH với các phương tiện dạy học hợp lí theo một tiến trình nhất định Hiện nay các trường PT đã được trang bị nhiều phương tiện dạy học, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đổi mới trong dạy học Trên thế giới, việc đổi mới nội dung chương trình và cách tiếp cận nội dung chương trình dạy học của nhiều quốc gia có xu hướng theo chủ đề tự chọn thông qua hoạt động nhóm Ở nước ta, phương thức dạy học thông qua hoạt động nhóm cũng đã được áp dụng ở phổ thông nhưng nhưng nhìn chung còn ít Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy, dạy học nhóm đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực của mỗi học sinh trong quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức mới Vì nó chú ý đến sự tương tác giữa thầy và trò, giữa trò và trò Phương pháp này đề cao vai trò tích cực, tự chủ của học sinh, học sinh có nhiều cơ hội, bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình trước một vấn

đề được đặt ra cũng như cách bảo vệ ý kiến của mình

Hiện nay, việc dạy học nhóm theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh đã có một số tác giả nghiên cứu:

Đào Thị Hạt- Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương dòng điện xoay chiều lớp 12 trung học phổ thông theo hướng tổ chức hoạt động nhóm nhằm phát triển hoạt động tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh

Trần Hưng Đạo – Thiết kế tiến trình dạy học nhóm một số kiến thức chương

“ Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 THPT theo hướng phát huy tính tích cực, tự chủ

và sáng tạo của học sinh

Trang 13

Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh qua dạy học nhóm khi dạy chương Chất khí, vật lý 10 cơ bản

được công bố Vì vậy trên cơ sở thực tiễn tôi chọn đề tài : “Phát huy tính tích cực,

tự lực và sáng tạo của học sinh qua dạy học nhóm khi dạy chương ‘Chất khí’ Vật

lý 10 cơ bản”

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng lí luận dạy học hiện đại vào hình thức dạy học nhóm trong dạy học vật lí để phát huy tinh tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh THPT khi day chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT

3 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức dạy học nhóm trong dạy học vật lí phù hợp với lí luận dạy học hiện đại và đặc điểm DH vật lí thì sẽ phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh THPT

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

* Khách thể

- Dạy và học vật lí trong trường THPT

* Đối tượng nghiên cứu

- Day học nhóm trong dạy học vật lí

- Chương “Chất khí” vật lý 10 THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh THPT

- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của LLDH hiện đại và hình thức tổ chức dạy học nhóm

- Nghiên cứu vận dụng cơ sở lý luận dạy học hiện đại vào dạy học nhóm trong dạy học vật lí để phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh THPT

- Điều tra thực trạng dạy học nhóm phần kiến thức chương “Chất khí” Vật lí

10 THPT theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh THPT

Trang 14

- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc, đặc điểm chương “Chất khí” Vật lí 10 THPT

- Thiết kế dạy học nhóm một số kiến thức chương “Chất khí” Vật lí 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh

- TNSP để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu thực tiễn ( Điều tra thực tế )

- Thực nghiệm sư phạm ( Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí

số liệu)

7 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu và thiết kế tiến trình dạy thông qua hoạt động nhóm của phần kiến thức về chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT

8 Đóng góp của luận văn

Thông qua việc thiết kế các tiến trình dạy học các kiến thức cụ thể làm sáng

tỏ và cụ thể hóa cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy học nhóm và tổ chức hoạt động tích cực, tự chủ và sáng tạo của HS

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các GV dạy Vật lí THPT, sinh viên các trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm

Trang 15

Theo nghĩa khác thì tích cực là đem hết khả năng và tâm trí vào việc làm Ví

dụ học tập tích cực

Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao

Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá ra các quy luật, định luật để phục vụ cho con người, giúp con người có thể làm việc hiệu quả, giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên, hay dự đoán trước được hiện trượng.Tuy vậy TTC có mặt tự phát và tự giác Theo TSKH Thái Duy Tuyên mặt

tự phát của TTC là những yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh thể hiện ở tính tò

mò, hiếu kỳ, linh hoạt trong đời sống hàng ngày Mặt tự giác của TTC là trạng thái tâm lý TTC có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, tính tò mò trong khoa học… Nhờ TTC tự giác, có ý thức, con người có thể đạt được những tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn so với tính tích cực tự phát Vì vậy hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong các nhiệm

vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng

+ Tích cực trong học tập

Trang 16

Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi hoc Thông qua quá trình học tập, con người nhận thức được, lĩnh hội được những tri thức loài người đã tích luỹ được, đồng thời có thể nghiên cứu và tìm ra những tri thức mới cho khoa học

TTC trong hoạt động học tập về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng… và được thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng phong phú

1.1.1.2 Các hình thức biểu hiện

- Xúc cảm học tập : Thể hiện ở niềm vui, sốt sắng thực hiện yêu cầu của giáo viên, hăng hái rả lời các câu hỏi của giáo viên, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra Hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ

- Chú ý : Thể hiện ở việc tập trung chú ý học tập, lắng nghe theo dõi mọi hành động của giáo viên

- Sự nỗ lực của ý trí : Thể hiện ở sự kiên trì nhẫn lại, vượt khó khăn khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn Có quyết tâm, có ý trí vươn lên trong học tập

- Hành vi : Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập, hay giơ tay phát biểu ý kiến, bổ sung các câu trả lời của bạn, ghi chép cẩn thận đầy đủ,

cử chỉ khẩn trưong khi thực hiện các hành động tư duy

- Kết quả lĩnh hội : Nhanh đúng, tái hiện được khi cần, chủ động vận dụng được kiến thức, kĩ năng khi gặp tình huống mới để nhận thức những vấn đề mới

Đặc biệt TTC học tập có mối liên hệ nhân quả với các phẩm chất nhân cách của người học như:

- Tính tự giác: Đó là sự tự nhận thức được nhu cầu học tập của mình và thúc đẩy hoạt động học tập có kết quả

- Tính độc lập tư duy : Đó là sự tự phân tích, tìm hiểu, giải quyết các nhiệm

vụ nhận thức Đây là biểu hiện cao của tính tích cực

- Tính chủ động: Thể hiện ở việc làm chủ các hành động trong toàn bộ hoặc trong từng giai đoạn của quá trình nhận thức như đặt ra nhiệm vụ, lập kế hoạch thực

Trang 17

hiện nhiệm vụ đó, tự đọc thêm, làm thêm các bài tập… Lúc này TTC đóng vai trò như một tiền đềcần thiết để tiến hành các hoạt động học tập của người học

- Tính sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị phụ thuọc vào cái đã có.Đây là mức độ biểu hiện cao nhất của TTC

1.1.1.3 Các cấp độ của tính tích cực

Nói về TTC người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người học trong quá trình thực hiện mục đích dạy học chung Một cách khái quát I.F.Kharlamop viết : “TTC trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, được dặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ, Với nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức cho chính mình”

+ Các cấp độ của tính tích cực

- Tính tích cực bắt trước tái hiện: Xuất hiện do tác động kích thích bên ngoài ( yêu cầu của giáo viên), nhằm chuyển đối tượng từ ngoài vào trong theo cơ chế “ hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc” Nhờ đó kinh nghiệm hoạt động được tích luỹ thông qua kinh nghiệm của người khác

Tái hiện và bắt chước là TTC ở mức độ thấp Có thể giáo viên thay đổi một chút dữ kiện là học sinh lúng túng không làm được Nhưng nó lại là tiền đề

cơ bản giúp các em nắm được nội dung bài giảng để có điều kiện nâng TTC lên mức cao hơn

- Tính tích cực tìm tòi: xuất hiện cùng với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở

có tính tự giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý trí của học sinh Loại này xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên mà còn hoàn toàn tự phát trong quá trình nhận thức Nó tồn tại không chỉ ở trạng thái, cảm xúc mà còn ở dạng thuộc tính bền vững của hoạt động Ở mức độ này tính độc lập cao hơn mức trên, cho phép học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho mình phương tiện thực hiện

Ý thức tìm tòi giúp các em say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến thức

đã học theo nhiều hướng khác nhau, kiểm tra lại những kiến thức đã học trước đó

Trang 18

Ý thức tìm tòi là phẩm chất của trí tuệ Đó là sự độc lập trong tư duy, tự mình phát hiện ra vấn đề, tự mình xác định phương hướng và tìm cách giải đáp, tự mình kiểm tra, thử lại đánh giá kết quả đạt được Đây cũng là tiền đề cơ bản của tính tích cực sáng tạo

- Tính tích cực sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức mới, tự tìm ra phương thức hành động riêng và trở thành phẩm chất bền vững của

cá nhân Đây là mức độ biểu hiện tính tích cực cao nhất Học sinh có tính tích cực sáng tạo sẽ có thể tìm được các kiến thức mới không nhờ vào sự gợi ý của người khác, thực hiên tốt các yêu cầu do giáo viên đưa ravà có tính sáng tạo trong phương pháp Ở mức này học sinh có khả năng tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, tương tự…để tìm tòi phát hiện kiến thức mới

1.1.1.4 Các biện pháp tích cực hoá hoạt đông nhận thức của học sinh

Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh có liên quan đến nhiều vấn

đề, trong đó các yếu tố như động cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý trí của các nhân, không khí dạy học ….đóng vai trò rất quan trọng Các yếu tố đó liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong học tập Trong đó có nhiều yếu tố là kết quả của quá trình hình thành lâu dài

và thường xuyên, không phải là kết quả của một giờ học mà là kết quả của cả một giai đoạn, là sự kết hợp của nhiều người, nhiều lĩnh vực và cả xã hội

Có thể đưa ra một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh như sau:

+ Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của HS

+ Tiến hành dạy học ở mức độ thích hợp với trình độ phát triển của học sinh Nếu nội dung quá dễ để gây nhàm chán cho HS, không phát huy được mặt tích cực của học sinh, nếu nội dung quá khó cũng không phát huy được TTC và còn làm phản tác dụng Vì vậy cần biết dẫn dắt HS luôn phát hiện thấy cái mới, nhu cầu cần thiết phải giành lấy

+ Tạo không khí thuận lợi cho lớp học, làm cho HS thích được đến lớp, chờ đợi giờ học Đồng thời tạo ra môi trường giao tiếp thuận lợi giữa GV và HS, Giữa

Trang 19

HS và HS, chiếm được lòng tin yêu từ học sinh, có phương pháp tổ chức điều khiển lớp học hợp lý và gây được hứng thú học tập, tạo điều kiện học sinh phát huy hết khả năng của mình

+ Ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo niềm tin khoa học cho HS, kích thích óc sáng tạo của học sinh trong lớp học tập

Tuy nhiên để thực hiện được các biện pháp trên thì học sinh phải có những điều kiện:

+ Có phương tiện vật chất kĩ thuật tối thiểu cho học tập

+ Có kiến thức, kĩ năng cơ bản, biết cách khắc phục khó khăn, niềm tin vào năng lực bản thân

+ Phải ý thức được nhiệm vụ, cũng như mục đích học tập của bản thân học sinh, tạo được hứng thú nhận thức cá nhân

+ Phải biết tiến hành các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá…và các suy luận logic: Quy nạp, diễn dịch…để rút ra kết luận

+ Biết tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập, từ đó tự chỉnh quá trình học tập cho phù hợp

+ Được học trong môi trường sư phạm thuận lợi

1.1.2 Tính tự lực của học sinh

1.1.2.1 Quan điểm về tính tự lực của học sinh

+ Theo nghĩa rộng:

Bản chất của tính tự lực trong học tập là sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho sự

tự học Sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọng cho hoạt động học tập có mục đích, cho sự điều chỉnh đảm bảo hoạt động có hiệu quả Nó giúp cho người học thực hiện có kết quả trách nhiệm học tập của mình, sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm

và những phẩm chất cá nhân của mình một cách đúng đắn hợp lý giữa sự tự kiểm tra và biết xây dựng lại hoạt động của mình khi gặp những trở ngại mà bản thân chưa có sự đề phòng trước

Sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho sự tự học thường biểu hiện ở việc:

Trang 20

- Học sinh tự ý thức được nhu cầu học tập của mình, yêu cầu của xã hội tập thể hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra đối với việc học tập của mình

- Học sinh ý thức được mục đích học tập và thực hiện mục đích đó sẽ làm thoả mãn nhu cầu nhận thức của mình

- Học sinh suy nghĩ kĩ, đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tập của mình, tích cực hoá những kiến thức kinh nghiệm đã tích luỹ có liên quan đến việc giải quyết các yêu cầu và nhiệm vụ học tập Trên cơ sở đó xác định những cách thức hợp lý hơn để giải quyết yêu cầu và nhiệm vụ học tập

- Học sinh dự đoán trước được diễn biến những quá trình trí tuệ, cảm xúc động cơ, ý chí của mình Đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyện vọng và sự cần thiết phải đạt được kết quả học tập nhất định

- Học sinh biết động viên mọi sức lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ học tập đòi hỏi

+ Theo nghĩa hẹp:

Tính tự lực trong học tập là khả năng nhu cầu học tập có tính tổ chức học tập cho phép học sinh tự học Năng lực học tập là hệ thống những thuộc tính và phẩm chất trí tuệ mà hiệu quả học tập phụ thuộc vào đó Năng lực học tập càng cao thì người học càng dễ dàng và nhanh chóng độc lập lĩnh hội tri thức từ các nguồn tri thức khác nhau, vận dụng tri thức tiếp thu được vào hoàn cảnh mới để tự học Nhờ vậy mà nhịp điệu phát triển trí tuệ càng cao Điều đó chứng tỏ rằng năng lực học tập một mặt phản ánh kết quả học tập của bản than, quá trình lĩnh hội tài liệu học tập, mặt khác nó biểu lộ bằng nhịp điệu lĩnh hội tri thức và những biện pháp hành động trí tuệ, nhịp điệu vận dụng chúng trong các hoàn cảnh khác nhau Năng lực học tập càng cao thì càng tạo khả năng phát triển trí tuệ Đồng thời phát triển trí tuệ càng cao thì càng tạo điều kiện phát triển năng lực học tập

1.1.2.2 Biểu hiện của tính tự lực của học sinh

- Ý thức được nhu cầu học tập của mình, yêu cầu của xã hội, của tập thể, hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra đối với việc học tập của mình

Trang 21

- Ý thức được mục đích học tập, thực hiện được mục đích đó, làm thoả mãn nhu cầu nhận thức của mình

- Suy nghĩ kĩ, đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tập của mình, tích cực hoá những kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được

- Dự đoán trước những diễn biến tâm lý: cảm xúc động cơ, ý chí….đánh giá đúng mối tương quan giữa khẳnng nguyện vọngvà sự cần thiết phải đạt được kết quả học tập nhất định

Tính tự lực nhận thức bao gồm những thành phần cấu trúc sau:

- Động cơ nhận thức: Thể hiện ở nhu cầu, hứng thú nhận thức, động cơ có tính chất xã hội và thế giới quan, thiếu động cơ nhận thức thì không thể diễn ra hoạt động nhận thức học tập

- Năng lực học tập : Đặc trưng bằng tri thức, kĩ năng kĩ sảo vững vàng làm chỗ dựa cho hoạt động nhận thức, bằng sự phát triển trí tuệ, phương pháp suy nghĩ Nhờ đó, người học có thể dễ dàng tự mình xác định được nhiệm vụ nhận thức, thay đổi những cách thức hành động của mình để phù hợp với những hoàn cảnh mới và biết đánh giá đúng những yêu cầu và nhiệm vụ đã đề ra Từ đó mới có thể tự lĩnh hội tri thức mới từ những nguồn nhận thức khác nhau, có thái độ phê phán, bình phẩm trong học tập, biết vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được để tự học, giải quyết nhiệm vụ do thực tiễn học tập và thực tiễn cuộc sống đặt ra Nhờ đó, niềm tin

để bảo vệ ý kiến của mình, bảo vệ chân lý

- Sự tổ chức học tập là sự thống nhất giữa phương pháp suy nghĩ và phương pháp lao động chung của hoạt động tự lực nhận thức

- Hành động ý chí: thể hiện ở tính mục đích, tính kiên trì, tinh thần kắc phục khó khăn, nhằm thực hiện có kết quả nhiệm vụ học tập

1.1.2.3 Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính TLTHT của học sinh như Giáo viên, cha mẹ học sinh, việc học tập hợp tác với bạn, bản thân người học sinh

- Giáo viên : Trong quá trình giảng dạy, giáo viên sử dụng các thủ thuật để hình thành ở học sinh nhu cầu hiểu biết, hứng thú nhận thức, từ đó hình thành động

Trang 22

cơ nhận thức Năng lực học tập của học sinh có được là nhờ giáo viên giúp họ phương pháp suy nghĩ, các phương pháp tự học như phương pháp tiếp nhận và sử lý thông tin, phương pháp giảp quyết vấn đề để tích luỹ tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo Trong quá trình học tập tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên thì trí tuệ của họ cũng phát triển Ngay đến tính tổ chức học tập

và hành động ý trí cũng được hình thành nhờ vào sự giúp đỡ của giáo viên Tuỳ theo trình độ học vấn và sự quan tâm của cha mẹ học sinh mà ảnh hưởng của họ đến việc hình thành tính TLTHT ở con em họ nhiều hay ít Những bậc cha mẹ có hiểu biết và có kinh nghiệm thường biết khơi gợi nhu cầu hiểu biết, tạo hứng thú nhận thức, hình thành kỹ năng tổ chức lao động học tậpcho con trẻ mình Không những thế, họ còn biết giúp con em mình, biết xác định mục đích, rèn luyện phương pháp học tập, động viên chúng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ

- Việc hợp tác với bạn trong học tập: Hoạt động này nếu được phân công rõ ràng và học sinh có ý thức học tập lao động sẽ có tác dụng hình thành từng bước khả năng TLTHT của các em, vì hoạt động học tập hợp tác bao giờ cũng bắt đầu bằng tự học cá nhân Mỗi học sinh phải hoàn thành phần việc của mình trước khi tham gia vào hoạt động học tập hợp tác Phần việc đó có thể là tường trình, giải thích một nội dung lý thuyết đã học, giải một bài lý hay làm một bài văn Khi hoàn thành nhiệm vụ, tính TLTHT của học sinh từng bước được hình thành

- Bản thân người học sinh với tất cả những đặc điểm tâm sinh lý của nó : Những yếu tố tâm lý có ảnh hưởng đến tính TLTHT của học sinh bao gồm: nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập, khả năng nhận thức, giao tiếp…tức là bản thân người học sinh cần có ý thức phát huy tính TLTHT bằng cách hình thành nhu cầu, động cơ học tập, phất triển hứng thú học tập bộ môn dưới tác động của các biện pháp của giáo viên Mỗi học sinh phải là một chủ thể năng động, tích cực trong việc hình thành nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập Các quá trình nhận thức của học sinh THPT đã có tính chủ định Các em đã có khả năng tư duy lý luận và tư duy trừu tượng, nhưng khả năng này chưa trở thành phổ biến ở tất cả Cho nên giáo viên

Trang 23

cần chỉ ra cho các em thấy điểm mạnh, điểm yếu của mình trong khả năng tư duy

để rèn luyện

Đối với học sinh THPT, nhu cầu và khả năng giao tiếp trong nhóm bạn là yếu tố thuận lợi cho việc hình thành và phát triển tính TLTHT vì thông qua giao tiếp học sinh tập được ở bạn phương pháp học tập bộ môn, kinh nghiệm và kiến thức

Tóm lại, bản thân mỗi học sinh THPT đều có đầy đủ các yếu tố tâm lý cho sự hình thành và phát triển TLTHT, chỉ có điều là họ có đầy đủ ý thức và lòng quyết tâm hay không cũng như giáo viên bộ môn có sử dụng một cách nhiệt tình các biện pháp để phát huy phẩm chất này ở họ hay không

1.1.2.4 Biện pháp dạy học phát huy tính tự lưc trong tự trong học tập

* Biện pháp dạy học:

Chúng tôi nhận thấy “khái niệm học tập” có nội dung tương đồng với khái niệm “thủ thuật về phương pháp” của N.V.Savin cho rằng: “nhưng chi tiết về riêng biệt của phương pháp, những yếu tố cấu thành nó được gọi là các thủ thuật về phương pháp Nếu như nhờ vào phương pháp mà dẫn đến việc nắm nội dung cơ bản của tài liệu học tập, thi những thủ thuật phương pháp này hay thủ thuật phương pháp khác sẽ đảm bảo việc nắm vững sâu sắc hơn vấn đề riêng biệt của đối tượng hay chủ đề Trong thực tế có thể bắt gặp một khối kượng lớn các thủ thuật phương pháp đa dạng Một số trong số đó là chung cho nhiều môn học, những cái khác chỉ đươc áp dụng khi dạy một môn học nào đó

Như vậy ta có thể đưa ra một định nghĩa về biện pháp dạy học như sau : Biện

pháp hay thủ thuật dạy học là những chi tiết riêng biệt hay những yéu tố cấu thành của phương pháp

Người giáo viên chọn ra những phương pháp và thủ thuật công tác nào có thể đảm bảo cho học sinh những tri thức cần thiết, thức tỉnh tính tích cực tư duy ở các

em, làm phát triển và duy trì hứng thú dối với việc học tập của các em

Về những yếu tố cấu thành của phương pháp, theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì phương pháp là tổ hợp những hành động tự giác và liên tiếp của con người nhằm đạt tới những kết quả phù hợp với mục đích dự kiến Vì vậy , bất cứ

Trang 24

phương pháo nào cũng đòi hỏi một mục đích dự kiến nhất định do chủ thể vạch ra cho mình Không có mục đích dự kiến thi không thể có bất cứ hoạt đông tự giác nào, và như thế cũng không thể có phương pháp được Khi đã ý thức được mục đích của hoạt động, con người thực hiện hoạt động đó bằng những phương tiện thích hợp Những phương tiện này có thể là những công cụ vật chất, cũng có thể là những thao tác trí tuệ và ngôn ngữ, hoặc cũng có thể là cả hai kết hợp với nhau Khi chủ thể thực hiện những hành động bằng những phương tiện nhằm vào khách thể thì bản thân khách thể sẽ biến đổi đi, lúc này diễn ra vận động của bản thân khách thể hướng tới đích Kết thúc sự biến đổi của khách thể, ta thu được một kết quả, nếu kết quả đạt tới đồng nhất với mục đích dự kiến thì phương pháp là hiệu nghiệm

Tóm lại , phương pháp bao gồm những thành phần hợp thành sau đây:

- Mục đích dự kiến của chủ thể, tức là kết quả cuối cùng của phương pháp, được hình dung trườc bằng tư duy và hy vọng sẽ đạt tới

- Hoạt động của chủ thể

- Phương tiện của hoạt động đó

- Sự vận động của khách thể tới đích

- Kết quả đạt được

Chính những phàn hợp thành nêu trên là những biện pháp của phương pháp

*Các biện pháp dạy học nhằm phát huy tính TLTHT của học sinh

Thế nào là biện pháp phát huy tính TLTHT của học sinh?

Đó là những thủ thuật do giáo viên sử dụng nhằm tác động vào các thành phần của tính TLTHT của học sinh Về phía học sinh, họ phải tích cực hưởng ứng

và làm theo sự hướng dẫn của giáo viên Chẳng hạn như khi giáo viên nêu câu hỏi

có liên quan đến nội dung bài học thì học sinh phải chú ý lắng nghe, tích cực suy nghĩ để trả lời Từ đó hình thành nhu cầu nhận thức là yếu tố tiền đề, nền tảng của tính TLTHT của học sinh

Theo các quan điểm dạy học mới thì vai trò truyền thụ tri thức của giáo viên từng bước giảm dần, thay vào đó là vai trò tự học của học sinh có sự hướng dẫn của giáo viên ngày càng tăng lên Cho nên các biện pháp nhằm phát huy tính TLTHT

Trang 25

của học sinh chính là các biện pháp tác động vào các yếu tố tâm lý của tính TLTHT

theo hướng nâng cao vai trò của học sinh, tạo điều kiện để học sinh trực tiếp làm

việc với đối tượng của hoạt động học là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thay vì thụ động tiếp thu tri thức đã chế biến sẵn từ giáo viên như trong hoạt động dạy học truyền thống hiện nay Học sinh trực tiếp làm việc với đối tượng của hoạt động học có thể diễn ra dưới hình thức tự học cá nhân hay học tập hợp tác với các bạn Hoạt động học của học sinh hay nói đúng hơn là hoạt động tự học có hướng dẫn sẽ trỏ thành trung tâm của quá trình dạy học

Dựa vào cơ sở lý luận đã nêu ở các phần trên, chúng tôI chia các biện pháp phát huy tính TLTHT của học sinh thành bốn nhóm

Một là nhóm các biện pháp tác động vào ý thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú học tập

Hai là nhóm các biện pháp giúp học sinh tự học

Ba là nhóm các biện pháp giúp học sinh rèn luyện tính TLTHT

Bốn là nhóm các biện pháp kiểm tra, giám sát và giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình

1.1.2.5 Mối liên hệ giữa tính tích cực và tự lực trong học tập

Các nhà tâm lý học và giáo dục học đều khẳng định tính TLTHT không thể nghiên cứu ngoài mối liên hệ với tính tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức không những là điều kiện cần thiết mà còn là sự biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển tính TLTHT Trong tính TLTHT đã thể hiện tính tích cực nhận thức và đồng thời trong sự thể hiện tính tích cực đó lại có tác dụng hướng cá nhân đến tính TLTHT ở mức độ cao hơn Song từ đó không thể đồng nhất khái niệm tính tự lực và tính tích cực nhận thức với nhau được

Xét về nguồn gốc thì cả tính tích cực và tính TLTHT đều bắt nguồn từ nhu cầu học tập nhận thức Người học sinh tích cực, tự giác học tập khi bản thân họ có nhu cầu tự khẳng định mình, hoặc nhu cầu đạt một mục tiêu nào đó trong học tập

Từ nhu cầu đó học sinh sẽ huy động các chức năng tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí) trong mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện

Trang 26

kĩ năng Nhưng để có tính TLTHT thì học sinh phải có phương pháp học tập có năng lực và tính tổ chức học tập nữa Chính vì vậy có thể nói tính tích cực nhận thức có liên hệ với TLTHT nhưng hai phẩm chất này không đồng nhất với nhau được vì về mặt cấu trúc chúng có sự khác nhau

1.1.3 Tính sáng tạo của học sinh

1.1.3.1 Khái niệm về sáng tạo

Sáng tạo là một tiến trình phát kiến ra các ý tưởng và quan niệm mới, hay một kết hợp mới giữa các ý tưởng và quan niệm đã có Hay đơn giản hơn sáng tạo

là một hành động làm nên những cái mới hay sáng tạo là phải có các ý tưởng

Theo định nghĩa trong từ điển thì sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có Nội dung sáng tạo gồm hai ý chính :

- Có tính mới( khác với cái cũ, cái đã biết) Như vậy sự sáng tạo cần thiết cho bất kì lĩnh vực hoạt động nào của xã hội loài người Trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, trong sản xuất, đó là các sáng tác, tác phẩm…Về thực chất sáng tạo không chỉ là một đặc trưng chỉ sự khác biệt giữa người và sinh vật mà còn là đặc trưng chỉ sự khác biệt về sự đóng góp cho xã hội, giữa người này và người khác mà trong kho tàng của giá trị loài người chưa từng có Có người nói “…sáng tạo là nhìn cùng một việc như mọi người nhưng nghĩ về một điều nào đó khác” Tính mới, tính độc đáo là những tính chất cốt yếu của kết quả sáng tạo

- Khả năng tư duy và trí tưởng tượng là những năng lực cần thiết cho sáng tạo 1.1.3.2 Biểu hiện của tính sáng tạo

Người có tư duy sáng tạo thường có các đặc trưng sau: có óc tư duy độc lập và óc phê phán, không suy nghĩ gò bó, không phụ thuộc vào cái cũ, không theo đường mòn, luôn luôn đi vào các vấn đề bản chất nhằm tìm ra quy luật, có khả năng say sưa nung nấu những ý tưởng mới, trước một tình huống, một vấn

đề phải giải quyết, họ luôn tìm ra giải pháp mới, độc đáo tối ưu…và đôi khi họ

có các phát minh,kiến giải mà một số người đương thời chưa hiểu, cho họ là phiêu lưu mạo hiểm…

Trang 27

Theo Guiford và Loowenfield (hai nhà nghiên cứu Mĩ có công trình độc lập, một người có nghiên cứu về sáng tạo khoa học, người kia về tính sáng tạo nghệ thuật đã thống nhất về tiêu chí của tính sáng tạo: Có tính nhạy cảm về thế giới, tính linh hoạt và năng động tư duy, có cá tính, năng khiếu biến đổi sự vật, tư duy phân tích và tổng hợp, năng lực tổ chức

1) Trong rất nhiều trường hợp quá trình sáng tạo đòi hỏi phải có sự tự lực chuyển các tri thức và kĩ năng sang một tình huống mới, sự liên hệ giữa tri thức cũ

và tình huống mới càng xa nhau bao nhiêu thì độ sáng tạo càng cao

2) Nhìn thấy vấn đề mới trong những điều kiện quen biết đúng quy cách 3) Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết

4) Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng nghiên cứu thực chất của đối tượng này

là nhanh chóng nhìn thấy cấu trúc của đối tượng như các bộ phận, các yếu tố, các mối quan hệ giữa chúng

5) Kĩ năng nhìn thấy nhiều lời giải cho một bài toán thực chất của kĩ năng này là tâm lý chấp nhận những lời giải khác nhau, những cách giải quyết khác nhau, xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau đôi khi mâu thuẫn nhau

6) Kĩ năng biết phối hợp các phương thức giải quyết vấn đề đã biến thành một phương thức mới

7) Kĩ năng sáng tạo một phương thức giải độc đáo khi đã biết các phương thức giải mới

8) Biết kiểm tra đánh giá giải quyết vấn đề của bản thân và của những người khác 9) Biết điều chỉnh các phương án giải quyết một cách nhanh chóng và phù hựop với điều kiện thực tiễn

10) Tự chủ, tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề bản thân không nản trí trước một vấn đề khó mà tìm mọi cách để có phương án giải quyết tốt nhất

1.1.3.3 Điều kiện của sáng tạo

Sáng tạo là một loại lao động phức tạp và vất vả Nhà phát minh nổi tiếng Edison nói “ Trong mỗi phát minh có 1% cảm hứng và 99% việc đổ mồ hôi” Vậy

để con người hăng say và sáng tạo phải có những động lực mạnh mẽ

Trang 28

- Sự bất ngờ trong sáng tạo : Sự mô tả về những tình huống đa dạng nói trên trước hết cho ta một ý nghĩ rằng trong thực tế không có một thời gian nào trong ngày mà con người có đầu óc sáng tạo lại không nảy ra ý kiến về cách giải quyết nhiệm vụ phức tạp trước đó không giải quyết được Thường con người khi đã tìm ra được cách giải quyết mới, một cấu trúc mới hay một quy luật mới thì lại coi như là một khám phá ngẫu nhiên, một món quà bất ngờ và may mắn

- Tâm trạng sảng khoái của sự sáng tạo: Hemhon, một nhà vật lý, nói về quá trình sáng tạo của ông như sau “Theo như tôi nhớ rõ thì những ý nghĩ hay không bao giờ đến trên bàn viết khi óc đã mệt” Bao giờ cũng cần phải nghiên cứu trước một cách toàn diện vấn đề tới một mức độ để giữ lại được trong óc mình những góc sắc cạnh, những khía cạnh phức tạp, có thể trở lại với chúng một cách tự do, thoải mái mà không cần ghi chép Thường nếu không có sự nghiên cứu trước một cách lâu dài, bền bỉ thì sẽ không thể đưa vấn đề đến tình trạng đó được Sau đó khi sự mệt mỏi do quá trình lao động đó qua đi, khi ta có một trạng thái hoàn toàn trong sạch về thể chất, nhẹ nhõm về tinh thần thì lúc đó những ý tưởng hay sẽ đến

- Sự hiểu biết trong sáng tạo : Muốn tư duy sáng tạo trước hết cần nắm được những quy luật khách quan của sự vật và đối tượng nghiên cứu Lenin đã từng nhấn mạnh “ Biện chứng của sự vật tạo lập biện chứng của ý tưởng chứ không phải ngược lại” Và lời khuyến cáo của Oirstic là “Hãy suy nghĩ theo những quy luật khách quan về sự phát triển, chắc chắn bạn sẽ có những sáng kiến, cải tiến cao hơn những sáng chế, phát minh”

- Nhiệt tình hay lòng hăng say nghiên cứu : Nhà khoa học Prikhotco viết “ Công tác nghiên cứu khoa học là quá trình sáng tạo rất công phu và phức tạp, đòi hỏi thường xuyên phải có lòng hăng say cao độ, có nhiệt tình công tác Còn Newton nói “Thiên tài là lao động” Ông nói đến một quá trình kiên trì và bền bỉ bao gồm việc tích lũy tri thức về vấn đề nghiên cứu, việc khắc phục các khó khăn để thực hiện các thí nghiệm

- Vai trò của phương pháp : Nhiều nhà khoa học đã nhấn mạnh đến phương pháp Theo họ phương pháp là điều kiện đầu tiên, điều kiện quan trọng nhất Tất cả

Trang 29

tính nghiêm túc của nghiên cứu phụ thuộc và phương pháp, cách thức hoạt động Landau nói “ Phương pháp quan trọng hơn phát minh, bởi vì phương pháp nghiên cứu đúng sẽ dẫn đến những phát minh mới giá trị hơn”

- Phải có phương tiện làm việc: Galileo đã không thể nhìn thấy những mặt trăng của sao mộc nếu không có kính viễn vọng Ông bà Curie cũng phải có những dụng cụ đo lường để thử nghiệm Nhiều khám phá nổi tiếng đã có thể không bao giờ được thực hiện nếu như các nhà khoa học không có những dụng cụ để làm việc Ngày nay sự tham gia đắc lực của công nghệ thông tin và truyền thông trong việc cung cấp các kho thông tin và tri thức ngày càng phong phú và các phương tiện xử

lý tri thức ngày càng tinh tế Đó là sự cộng năng sức mạnh của công nghệ tri thức hiện đại với trí tuệ sáng tạo riêng có của con người để làm nên năng lực sáng tạo chung của mỗi dân tộc

- Cần có sự ủng hộ của xã hội đối với lao động sáng tạo của nhà khoa học 1.1.3.4 Các biện pháp hình thành và phát triển tính sáng tạo của HS

+ Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới

Tổ chức quá trình nhận thức vật lý theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho HS trên con đường hoạt động sáng tạo để nhận biết được: Chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới Việc tập trung vào chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo của HS có hiệu quả, rèn luyện cho tư duy trực giác nhạy bén, phong phú

+ Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết

Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc

về mỗi lĩnh vực, có thể có các cách dự đoán sau đây trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức vật lí của HS

- Dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm nào đó

- Dựa trên sự tương tự

- Dựa trên sự xuất hiện đồng thời của hai hiện tượng mà giữa chúng có quan hệ nhân quả

Trang 30

- Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình

- Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một số kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác

- Dự đoán về mối quan hệ định hướng

+ Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra phỏng đoán, dự đoán, giả thuyết

Muốn kiểm tra xem một phỏng đoán, một dự đoán, giả thuyết đó biểu hiện trong thực tế như thế nào, có thể quan sát được những dấu hiệu nào Muốn vậy phải đề xuất một phương án kiểm tra, sau đó tiến hành TN để kiểm tra xem dự đoán đó có phù hợp với kết quả TN không

Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là đề xuất được phương án kiểm tra hệ quả đã rút ra được

+ Giải các bài tập sáng tạo

Trong dạy học vật lí, ngoài việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS trong quá trình xây dựng kiến thức mới, người GV còn có thể rèn luyện cho HS trong việc giải các bài tập sáng tạo Trong loạt bài tập này, ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học, HS bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ không thể suy

ra một cách logic từ những kiến thức đã học

1.1.3.5 Mối quan hệ giữa tự học và sáng tạo

Cố giáo sư Tạ Quang Bửu trong một buổi nói chuyện với sinh viên Bách khoa Hà Nội đã nhấn mạnh “ Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng sự sáng tạo Ai giỏi tự học ở trường người đó sẽ tiến xa”

Theo các chuyên gia giáo dục và khoa học của tổ chức UNESCO, kĩ năng tự học và giá trị biểu hiện của việc tự học là những thước đo của tâm lý sáng tạo và sản phẩm sáng tạo Bước vào thế kỉ XXI, kỹ năng đó sẽ tồn tại như một trong những kỹ năng sống mà con người không thể thiếu Đồng thời giá trị đó giúp cho mỗi cá nhân tự khẳng định chính mình trong xu thế nhảy vọt của thời đại thông tin

Tự học và sáng tạo là hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau, sẽ không có sáng tạo nếu không có tự học tích cực, sẽ không thể tự học hiệu quả nếu không mài sắc trí sáng tạo Tự học để khám phá nhận thức và khai phá sáng tạo

Trang 31

1.2 Nội dung của lý luận dạy học hiện đại

1.2.1 Thế nào là dạy học hiện đại

Trong bất kì quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba yếu tố: người dạy, người học và đối tượng dạy học

Ngày nay ai cũng biết đến đối tượng của hoạt động dạy là hoạt động học của người học hoặc chính bản thân người học, là các chủ thể có ý thức, năng động, sáng tạo, có tâm hồn nhạy cảm và đang trong quá trình phát triển Đối tượng và nội dung hoạt động dạy học có nhiều điểm khác với các loại lao động khá Vì thế tác động của người dạy đến người học hoàn toàn khác với các loại lao động khác Đây không phải là quan hệ chủ thể - khách thể( người lao động- đối tượng lao động) như vẫn thấy trong các loại hình lao động sản xuất mà là quan hệ chủ thể - chủ thể ( người dạy và người học) Trong hệ thống giáo dục trước đây, với mục tiêu là nhào lặn trẻ

em trở thành những sản phẩm theo khuôn mẫu định trước của xã hội ( những chiến binh, người sản xuất, người thừa hành….v.v.) còn bản thân đứa trẻ được coi là đối tượng của sự nhào lặn đó Điều này giống như trong bất kì quá trình sản xuất nào, với mối quan hệ đặc trưng là chủ thể - đối tượng Trong đó người thợ cố gắng bằng mọi cách tác động nhằm đưa hết hiểu biết, kĩ năng và năng lực của mình vào trong vật liệu để biến nó thành sản phẩm mong muốn Hiệu quả lao động và chất lượng sản phẩm được quyết định bởi sức lực và tài năng của người thợ, còn vật liệu đơn thuân là cái cho trước, thụ động Dạy học theo mô hình này cũng diễn ra tương tự như vậy Ở đó mối quan hệ giữa người dạy và người học được hiểu là chủ thể - đối tượng, trong đó giáo viên là chủ nhân toàn quyền quyết định mục tiêu, nội dung và phương thức tác động đến người học, còn người học là vật thụ động trước uy lực của người thầy Vì vậy hướng tác động chính là từ giáo viên đến học viên thông qua kênh chủ yếu là truyền giảng và các phương pháp giáo dục độc đoán khác của thầy

Ngày nay những người có hiểu biết về dạy học không còn quan niệm như vậy, trẻ em ngay từ nhỏ đến khi trưởng thành luôn luôn là chủ thể của chính nó, quyết định số phận hiện tại và tương lai của nó Sự phát triển trưởng thành của mỗi đứa trẻ phụ thuộc vào việc nó chiếm lĩnh và sử dụng đối tượng như thế nào Tuy nhiên do đặc thù là trẻ thơ trước thế giới tự nhiên và xã hội đầy phức tạp, bí hiểm

Trang 32

nên trẻ em thường xuyên dứng trước mâu thuẫn giữa một bên là phải tự mình trực tiếp tiếp xúc và chiếm lĩnh những yếu tố cần thiết cho cuộc sống và phát triển của mình, mà những yếu tố đó vốn đã có trong thế giới đối tượng phong phú với một bên là hạn chế trong việc định hướng sư lựa chọn và khả năng tác động vào đối tượng học tập để tách ra những điều có ích cho sự phát triển của riêng mình, mà những yếu tố đó vốn đã có trong thế giới đối tượng phong phú, với một bên là hạn chế trong việc định hướng sự lựa chọn và khả năng tác động vào đối tượng học tập

để tách ra những điều có ích cho sự phát triển của riêng mình Muốn giải quyết được mâu thuẫn này trẻ em nhất thiết cần sự trợ giúp của người lớn Đây chính là bản chất của dạy học hiện đại Hoạt động dạy được quy về hoạt động định hướng, giúp đỡ tổ chức điều chỉnh và động viên các hoạt động học tập của học sinh Các cung bậc hoạt động của người dạy tuỳ thuộc vào khả năng người học

Trường hợp lý tưởng nhất, người dạy chỉ đóng vai trò hướng đạo, chủ yếu là định hướng cho người học hoạt động trong môi trường đối tượng, còn người học tự mình giải quyết nội dung công việc Sự định hướng của người dạy được thực hiện thông qua việc tạo ra môi trường sư phạm, trong đó bao hàm các yếu tố cần có đối với sự phát triển của người học mà xã hội đặt ra và các cách để giải quyết chúng

Ở mức thấp hơn, người học vừa cần có sự định hướng vừa cần có sự trợ giúp của người dạy trong quá trình thực hiện Trong trường hợp này, người học không thể tự mình hoạt động có hiệu quả trong môi trường sư phạm Vì vậy để giảm bớt sai lầm cho họ, một mặt giáo viên tạo ra môi trường sư phạm, định hướng cho người học hoạt động trong đó, mặt khác thường xuyên ở bên cạnh họ để trợ giúp khi cần thiết

Ở mức thứ ba, người học chưa thể tự mình giải quyết việc tự học tập và tu dưỡng Trong trường hợp này cần có sự can thiệp trực tiếp của người dạy, với tư cách là người tổ chức cho người học hoạt động trong môi trường sư phạm Quá trình này bao hàm cả chỉ dẫn, tổ chức và điều khiển hoạt động của người học bằng nhiều phương pháp khác nhau Trong cả ba mức độ, người học cần có sự điều chỉnh

và động viên kịp thời của người dạy thông qua các tác động ngược Điều cần nhấn mạnh là theo quan niệm dạy học hiện đại, trong mọi trường hợp người dạy không

Trang 33

phải là người đại diện chủ yếu(càng không phải là duy nhất) của nền văn hoá mà người học phải tiếp nhận Ngược lại, người học phải trực tiếp đối mặt với đối tượng học tập (các hiện tượng, các khái niệm, các định luật, các ứng dụng…), còn người dạy chỉ là tác nhân, giúp người học khắc phục những trở ngại chủ quan và khách quan nảy sinh trên con đường chinh phục đối tượng Nói cụ thể, đối tượng tác động của hoạt động học chính là nội dung học vấn được hoạch định trong chương trình, nội dung môn học và được hiện thực hoá trong SGK, sách bài tập và trong các tài liệu học tập khác

Như vậy, hiện đang có sự chuyển biến trong nhận thức và thực tiễn về vai trò của giáo viên: người truyền đạo sang người tham vấn, người trợ giúp

Có thể mô hình hoá hai sơ đồ quan hệ người dạy – người học và đối tượng dạy học trong quá trình dạy học truyền thống và dạy học hiện đại như sau:

Dạy học truyền thống Dạy học hiện đại

Giáo viên Học sinh

Đối tượng học

Giáo viên Học sinh

Đối tượng học

Vai trò của người giáo viên

truyền thống : Đối tượng học của người

học được khúc xạ qua thầy và tác động

một chiều lên người học Còn sự tác

động của người học lên đối tượng và lên

thầy là thứ yếu, phụ Đây là tác động

một chiều

Vai trò của người giáo viên hiện đại: Đối tượng học của người học là đối tượng làm việc của cả người dạy và người học Sự tác động của người dạy đến người học thông qua sự tác động của người học đến người dạy Sự tác động giữa đối tượng học với người học

là trực tiếp, hai chiều Đây là quá trình tương tác đa phương

[1, tr 32-35 ]

1.2.2 Chức năng của hoạt động dạy và hoạt động học trong dạy học hiện đại

* Chức năng của hoạt động dạy

Trang 34

Chức năng xã hội bao trùm của hoạt động dạy là truyền thụ hệ thống kinh nghiệm của xã hội cho thế hệ trẻ Ngày nay, sự phát triển của dạy học hiện đại dẫn đến sự phân hoá chức năng tổng thể thành các chức năng thành phần:

1 Chức năng định hướng, bao gồm cả việc xác định mục đích, mục tiêu dạy học được thể hiện trong chương trình, môn học, bài học …và định hướng hành động học của người học trong một quá trình dạy học cụ thể

2 Chức năng uỷ thác: Đây là chức năng cơ sở của hoạt động dạy trong dạy học hiện đại Chức năng này thể hiện ở việc dạy phân tích đối tượng học vấn (cái

mà người học phải chiếm lĩnh, xã hội phải truyền thụ) và định vị, thực hiện hoá chúng vào trong tài liệu học tập, trước hết là SGK, sau đó là vào các tình huống dạy học Nói rộng ra, người dạy tạo ra môi trường học tập, mà người học có thể tiếp nhận được đối tượng học

3 Chức năng kích thích động viên, làm nảy sinh nhu cầu, tạo động cơ, phát triển hứng thú học tập của người học

4 Chức năng trợ giúp và tham vấn, giúp đỡ người học : Giáo viên giống như

bà đỡ cho sản phụ Trong điều kiện tự nhiên, việc sinh con là của bà mẹ, còn bà đỡ

có vai trò trợ giúp, chứ không thể thay thế Trong dạy học cũng vậy việc học là hoàn toàn của người học

5 Chức năng tổ chức hành động học của người học: Đây là chức năng trong tâm, đặc biệt đối với người học còn nhỏ tuổi hoặc gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức hoạt động học trong học tập, điều có ý nghĩa quyết định là người học phải biết

tổ chức hoạt động học của mình Nói cách khác trong dạy học ngày nay, câu hỏi học như thế nào quan trọng hơn học cái gì? Trong khi đó, hoạt động này không tự nhiên có ở người học Nó được hình thành và được tổ chức một cách có khoa học trong quá trình học tập Điều này người học không thể tự mình giải quyết mà phải

có sự hướng dẫn của người dạy Vì vậy việc hướng dẫn người học hình thành cho mình hoạt động học và tổ chức được việc học của mình một cách khoa học là sứ mệnh quan trọng nhất của người dạy trong dạy học hiện đại

Trang 35

6 Chức năng kiểm soát: Bất kì một hoạt động nào cũng cần phải có sự kiểm soát để củng cố những việc làm phù hợp và khắc phục những việc chưa phù hợp Việc kiểm soát được thực hiện nhờ sự trao đổi thông tin hai chiều người dạy – người học, thông qua sự đánh giá và tự đánh giá của người dạy và người học cũng như các thông tin đánh giá khác

7 Chức năng đánh giá: Trong cá hệ thống dạy học đơn giản, ở trình độ thấp nội dung dạy học chưa phong phú thì việc đánh giá chưa được coi trọng và thường được gắn vào các hoạt động khác trong dạy học Tuy nhiên, trong dạy học hiện đại Việc đánh giá được tách khỏi các hoạt động khác và được tách khỏi các hoạt động khác và trở thành một hoạt động độc lập, có chức năng riêng

8 Chức năng điều chỉnh : bao hàm cả hoạt động dạy và hoạt động học Trong thực tiễn dạy học các chức năng trên thường được thực hiện bởi hệ thống việc làm trong dạy hcọ của người dạy

Hệ thống việc làm của người dạy rất phong phú, linh hoạt và tuỳ thuộc vào các yếu tố: a) Quan hệ chức năng và vị thế của người dạy trong sự tương tác với người học ; b) Lĩnh vực khoa học cần dạy cho học sinh ; c) Môi trường kinh tế - xã hội - văn hoá - khoa học trong đó diễn ra quá trình dạy học và các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy và học Tuy nhiên, xét đại thể hệ thống việc làm của người dạy tập trung vào các nội dung sau :

1 Xác định mục đích dạy học: xác định mục tiêu chung, mục tiêu dạy học cụ thể

2 Thiết kế nội dung học tập, soạn thảo chương trình môn học, bài học, SGK, tài liệu dạy và học, các tình huống học tập cho người học … Tức là tạo ra môi trường học tập cho học sinh

3 Tổ chức các hành động học của người học trong các hình thức và tình huống học tập khác nhau, với các phương pháp và phương diện phù hợp

4 Các hành động tham dự, tham vấn trao đổi, lắng nghe, chia sẻ với người học

Trang 36

5 Các hành động lôi cuốn, hấp dẫn, kích thích, củng cố, động viên, trách phạt ….của người dạy đối với người học

6 Các hành động kiểm soát : thu thập và xử lý thông tin phản hồi, soạn thảo

và quản lí tài liệu, hồ sơ…

7 Đánh giá, kiểm tra, thanh tra dạy học

8 Các hành động điều chỉnh vi mô và vĩ mô : chỉnh lí, cải tiến, cải cách (mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học)…

* Chức năng của hoạt động học

Chức năng chủ yếu của hoạt động học là tiếp nhận và chuyển hoá những kinh nghiệm đó thành của bản thân Nói cách khác, người học có chức năng cấu trúc lại, tái tạo lại các kinh nghiệm xã hội trong hoạt động của bản thân, nhằm phát triển bản thân – chức năng phát triển

Để thực hiện chức năng trên, người học phải thực hiện nhiều hành động học với các mục đích khác nhau Nếu bỏ qua tính đặc thù của các quá trình học tập riêng, về đại thể, trong hoạt động học tập của người học có các hành động học phổ biến:

1 Hành động định hướng cho việc học

2 Hành động tiếp nhận và phân tích đối tượng học

3 Các hành động mô hình hoá đối tượng học với các vật liệu mới

4 Hành động phát triển mô hình sang dạng mới, với các vật liệu mới

5 Hành động đối chiếu với vật mẫu của đối tượng học

[1, tr 35-39 ]

1.2.3 Dạy học theo xu hướng tích cực

Trong chiều hướng phát triển của lí luận dạy học hiện đại, mấy thập niên gần đây nổi lên xu hướng tích cực hóa trong dạy học Theo hướng này, các phương pháp dạy học thường được chia thành ba nhóm: các phương pháp hướng vào người

dạy, các phương pháp tích cực và các phương pháp hướng vào người học

Nhiều nhà sư phạm, nhất là các học giả phương Tây thường cho rằng: dạy học được tiến triển qua ba thời kì: dạy học hướng vào người người dạy à dạy học

Trang 37

tích cực à dạy học hướng vào người học Dạy học hướng vào người dạy, hay còn gọi với các tên khác: dạy học thụ động, dạy học truyền thống, là dạy học xuất phát

từ lợi ích của người lớn (của người dạy), dựa trên hiểu biết của người dạy về nội dung dạy học Người dạy quyết định sự tồn tại của quá trình dạy học Các hoạt động dạy của người dạy chủ yếu tập trung vào việc truyền thụ nội dung dạy học theo kênh truyền giảng của người dạy Còn các yếu tố thuộc về người học (động cơ, nhu cầu của người học, đặc điểm tâm lí, trình độ hiểu biết của người học, tính tích cực tương tác của người học vào quá trình dạy học, sự phát triển của người học v,v) thường ít được tôn trọng trong dạy học Vì vậy các phương pháp dạy học thường có tính thông báo một chiều, áp đặt từ phía người dạy đến người học Dạy học tích cực được coi là bước chuyển tiếp giữa dạy học hướng vào người dạy lên dạy học hướng vào người học Trong đó, dạy học vẫn chủ yếu phục vụ lợi ích của người lớn và người dạy vẫn giữ vai trò chủ động, điều khiển trực tiếp người học Tuy nhiên, về phương pháp dạy học, các yếu tố kĩ thuật đã được thiết kế dựa trên đặc điểm tâm lí của người học và đã chú trọng khai thác và phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực tham gia của người học vào quá trình tương tác giữa người dạy và người học Đồng thời làm tăng tính cá thể hóa quá trình dạy học Dạy học hướng vào người học là bước tiến trong dạy học của xã hội Điểm nổi bật của mức dạy học này trước hết là dạy học vì sự phát triển của người học, tôn trọng và thỏa mãn nhu cầu của người học, hướng đến sự phát triển mọi tiềm năng và sự sáng tạo của người học Đồng thời khai thác và phát huy vai trò chủ thể và tính tích cực, chủ động của người học trong quan hệ tương tác với người dạy Trong dạy học hướng vào người học, người học giữ vai trò chủ động việc học của mình, còn người dạy có chức năng trợ giúp, với các mức độ khác nhau trong những tình huống cụ thể

Tính tích cực (và dạy học hướng vào người học) có hai cấp độ: cấp độ xã hội

và cấp độ cá nhân Ở cấp độ xã hội, tính tích cực trong dạy học được thể hiện qua mức độ đáp ứng các yêu cầu về sự phát triển của xã hội và sự phát triển nhân cách người học, phù hợp với các chuẩn mực, quy định chung Mức độ đáp ứng càng cao, dạy học càng tích cực và ngược lại Cấp độ tích cực cá nhân thể hiện qua mức độ

Trang 38

đáp ứng nhu cầu cá nhân của người học, qua đó phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Trong dạy học cần kết hợp cả hai cấp độ tích cực nêu trên Nếu chỉ tính đến cấp độ cá nhân sẽ dẫn đến xu hướng học tập tự do, thỏa mãn

và thúc đẩy những nhu cầu trước mắt, thiển cận của người học Ngược lại, nếu chỉ quan tâm tới cấp độ tích cực xã hội (bỏ qua cấp độ cá nhân) sẽ dẫn đến xu thế dạy học áp đặt, cưỡng bức, nhồi nhét, xuất hiện nguy cơ làm thui chột, tàn lụi nhu cầu, tính tích cực và cá tính người học Nếu quan niệm như vậy thì dạy học tích cực và hướng vào người học không phải là phương pháp dạy học cụ thể, mà nó chỉ là quan điểm chỉ đạo việc lựa chọn và thiết kế nội dung, sử dụng các phương pháp dạy học

cụ thể Trong thực tế, không có phương pháp dạy học nào có tên là phương pháp tích cực hay không tích cực Dạy học tích cực, bao hàm các hoạt động của người học, qua đó người học đạt được mục tiêu dạy học bằng cách khám phá ra nó Tùy theo đặc trưng chủ thể (người học) mà phương pháp này yêu cầu các mức độ tham gia của chủ thể vào việc xây dựng kiến thức, phát huy sáng kiến, sáng tạo của người học, thay vì phải thụ động tiếp thu chúng từ người dạy hay sách giáo khoa Bản chất của các phương pháp tích cực là phát huy tính tích cực, sức sáng tạo, khám phá của bản thân người học

Với quan niệm như trên về xu thế phát triển của dạy học hiện đại, từ trước tới nay, trong lí luận dạy học xuất hiện nhiều phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực Dưới đây là một số phương pháp dạy học điển hình theo hướng này

1.3 Các hình thức tổ chức dạy học

1.3.1 Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH)

HTTCDH là hình thức vận động của nội dung dạy học cụ thể trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học

HTTCDH là hình thức vận động của từng nội dung dạy học cụ thể, nó phản ánh quy mô, địa điểm và thành phần của học sinh tham gia vào đơn vị nội dung dạy học đó

Trang 39

HTTCDH khác nhau chủ yếu tuỳ theo mối quan hệ giữa việc dạy học có tính tập thể hay tính cá nhân, vào mức độ tính tự lực nhận thức của học sinh, sự chỉ đạo chuyên biệt của giáo viên, chế độ làm việc, thành phần học sinh, địa điểm và thời gian học tập

HTTCDH có quan hệ chặt chẽ với các thành tố khác của quá trình dạy học HTTCDH hình thành và phát triển cùng với sự thay đổi các điều kiện về văn hoá, khoa học và công nghệ

Đặc điểm của HTTCDH trên lớp:

- Lớp học có thành phần không đổi trong mỗi giai đoạn của quá trình dạy học

- Giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp đông thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh

- Học sinh nắm tài liệu một cách trực tiếp tại lớp

* HTTCDH ngoài lớp

HTTCDH ngoài lớp là HTTCDH trong đó giáo viên tổ chức chỉ đạo hoạt động của học sinh ở địa điểm ngoài lớp học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học

Trang 40

sinh nắm vững, mở rộng kiến thức thông qua các hoạt đọng và các mối quan hệ đa dạng từ môi trương học tập

Đặc điểm của HTTCDH ngoài lớp:

- Là HTTCDH linh hoạt, cho phép kiến tạo các môi trường học tập đa dạng, kích thích được sự hứng thú học tập của học sinh

- Làm cho việc học tập trong nhà trường gân fhơn với thực tiễn cuộc sống

- Giúp học sinh có điều kiện để trải nghiệm và thực hiện phương thức học tập bằng chia sẻ có hiệu quả

1.3.2.2 Căn cứ vào sự chỉ đạo của giáo viên đối với toàn lớp hay với nhóm học sinh trong lớp, có HTTCDH toàn lớp, theo nhóm, cá nhân

HTTCDH theo nhóm được phân thành hai loại : hình thức học tập theo nhóm thống nhất và hình thức học tập theo nhóm phân hoá

- Hình thức học tập theo nhóm thống nhất: Tất cả học sinh trong lớp thực hiện những nhiệm vụ giống nhau

Ngày đăng: 25/03/2021, 09:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm