1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài báo cáo về chuyến đi thực tế tại thư viện Quốc Gia Việt Nam

13 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 32,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự đồng ý của Đoàn trường Đại học Văn Hóa Hà Nội, lớp Thư viện 45 và lớp Thông tin 3 đã tổ chức một chuyến đi thực tế tại thư viện Quốc Gia vào ngày 30 tháng 06 năm 2015,thầy cô tổ

Trang 1

Bài báo cáo về chuyến đi thực tế tại thư viện Quốc Gia Việt Nam

Bài báo cáo gồm 3 phần:

Phần một : Hoàn cảnh và mục đích tham quan thư viện quốc gia Phần hai: Vài nét về thư viện Quốc Gia

Phần ba: Cảm nhận của bản thân về chuyến đi thực tế ở thư viện Quốc Gia

Phần một: Hoàn cành và mục đích đi tham quan thư viện Quốc Gia

Được sự đồng ý của Đoàn trường Đại học Văn Hóa Hà Nội, lớp Thư viện 45 và lớp Thông tin 3 đã tổ chức một chuyến đi thực tế tại thư viện Quốc Gia vào ngày 30 tháng 06 năm 2015,thầy cô tổ chức chuyến đi thực tế nhằm giúp sinh viên 2 lớp có cơ hội tiếp xúc với môi trường làm việc cuả thư viện quốc gia một thư viện lớn nhất cả nước

và tăng thêm tình đoàn kết ,gắn bó với các bạn sinh viên

Phần hai: Vài nét về thư viện Quốc Gia Việt Nam

Thư viện Quốc gia Việt Nam

2.1 Thư viện Quốc gia Việt Nam (tên giao dịch quốc

tế: National Library of Vietnam - NLV) là thư viện cấp quốc gia

của Việt Nam, đứng đầu trong hệ thống thư viện công cộng và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam

Thư viện tọa lạc tại phố Tràng Thi và có một cổng lớn mở ra hướng đường Hai Bà Trưng,quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Năm 1917, Toàn quyền Đông Dương, chấp nhận kế hoạch của P Boudet, đã ban hành nghị định ngày 29 tháng 11 năm 1917 thành lập

Trang 2

Thư viện Trung ương cho Liên bang Đông Dương Kế hoạch này được chấp nhận với mục đích củng cố sự thống trị, truyền bá văn hoá Pháp và văn hóa phương Tây, cũng như đưa công tác phát triển văn thư lưu trữ, thư viện của Pháp vào nề nếp ở Đông Dương Đây chính

là văn bản hành chính đầu tiên khi đó và là dấu mốc cho sự ra đời của Thư viện Quốc gia Việt Nam hôm nay Sau hai năm xây dựng, ngày 1 tháng 9 năm 1919 thư viện đã chính thức mở cửa

Những ngày đầu tiên, Thư viện có tên gọi là Thư viện Trung ương Đông Dương hay còn gọi là Thư viện Trung ương trực thuộc

Nha Lưu trữ hay Thư viện Đông Dương

Đến năm 1935, theo nghị định ngày 28 tháng 2 năm 1935 Thư

viện được đổi tên thành Thư viện Pierre Pasquier (một người Pháp

có nhiều đóng góp cho Thư viện)[3]

Sau Cách mạng tháng Tám, theo nghị định ngày 20 tháng 10 năm 1945 Thư viện được đổi tên thành Quốc gia Thư viện (Thư viện toàn quốc)[3] Sau đó Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc được sát nhập vào Nha Giám đốc Đại học vụ và được đổi tên thành Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc

Năm 1947, Pháp chiếm lại Hà Nội, theo nghị định ngày 25 tháng

7 năm 1947 Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương tái thành lập, thư

viện mang tên là Thư viện Trung ương ở Hà Nội.

Năm 1953, theo hiệp nghị Việt Pháp ngày 9 năm 7 tháng 1953, Thư viện Trung ương Hà Nội được sát nhập vào Viện Đại học Hà Nội

và đổi tên là Tổng Thư viện Hà Nội

Trang 3

atiếp quản Tổng Thư viện Trên văn bản thư viện mang tên Thư viện Trung ương Hà Nội

Ngày 21 tháng 11 năm 1958, Thư viện được chính thức mang tên Thư viện Quốc gia theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa

2.2 Về cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện bao gồm giám đốc, các phó giám đốc và 13 phòng ban chức năng[4]:

1 Phòng Tin học

2 Phòng Phân loại – Biên mục

3 Phòng Hành chính-Tổ chức

4 Phòng Nghiên cứu và Hướng dẫn nghiệp vụ

5 Phòng Bảo quản tài liệu

6 Phòng Bổ sung – Trao đổi quốc tế

7 Phòng Đọc Báo – Tạp chí

8 Phòng Đọc sách

9 Phòng Quan hệ Quốc tế

10 Phòng Thông tin Tư liệu

11 Phòng Lưu chiểu

12 Phòng Tạp chí Thư viện Việt Nam

13 Phòng Bảo vệ 2.3 Về trữ lượng tài liệu

800.752đầu sách với 1.300.968 bản ,8.677 tên báo tạp chí ,3.154 hộp phim dương bản ,1.612 phim âm bản

2.4 Về việc làm thẻ ở thư viện Quốc gia

2.4.1 Đối tượng được cấp thẻ đọc:

Trang 4

 Tất cả các công dân Việt Nam và người nước ngoài đang lưu trú tại Việt Nam cóCHỨNG MINH THƯ (HOẶC HỘ CHIẾU)

2.4.2 Điều kiện làm thẻ trong thư viện:

 Mang theo Chứng minh thư hoặc Hộ chiếu (Xin lưu lý bạn đọc không cần mang theo ảnh, ảnh sẽ được chụp trực tiếp khi đến làm thẻ)

2.4.3 Thời gian nhận lại thẻ đọc:

 Bạn đọc có thể nhận lại thẻ 5-10 phút sau khi khai form thông tin người làm thẻ

2.4.4 Lệ phí: (Áp dụng cho cả việc cấp thẻ mới và đổi thẻ đã hết hạn):

 Đối với cá nhân là người Việt Nam hoặc người nước ngoài

sống và làm việc tại Việt Nam: 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn

đồng)/thẻ/năm (12 tháng)

Đối với cán bộ hưu trí: 50.000đ (Năm mươi nghìn

đồng)/thẻ/năm (12 tháng)

 Thẻ đọc dành cho Nhà nghiên cứu và Doanh nhân (thẻ

vàng): Loại 1 năm: 120.000đ(Một trăm hai mươi nghìn đồng)

+ 540.000đ lệ phí tham gia Câu lạc bộ Nhà nghiên cứu - Doanh Nhân

2.4.5 Những trường hợp được miễn lệ phí làm thẻ thư viện:

 Miễn phí làm thẻ với các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi – hưởng thụ văn hóa, được qui định tại điều 2, quyết định

số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 của Thủ tướng chính phủ, Thư viện Quốc gia Việt Nam không thu phí Thẻ bạn đọc

2.4.6 Thời gian làm việc:

Trang 5

 Sáng: từ 8.00 đến 11h30

 Chiều: từ 13h30 đến 16h30

Từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần (trừ các ngày nghỉ lễ quốc gia, và ngày nội dịch theo qui định TVQG [Chi tiết lịch phục vụ]

2.4.7 Liên hệ trực tiếp bộ phận cấp thẻ:

 Bộ phận cấp thẻ TVQG

 Địa chỉ: Số 31 Tràng Thi - Hoàn Kiếm - Hà Nội

 Số điện thoại: 04 – 38254938

2.5 Nội quy thư viện

2.5.1Bạn đọc đến đọc sách, ngoài việc chấp hành các quy định chung của thư viện cần thực hiện các quy định sau đây:

 Không mang túi xách, cặp, sách, báo – tạp chí in vào phòng đọc (chấp nhận sách, báo dạng photocopy)

 Xuất trình thẻ đọc, chứng minh thư, giấy giới thiệu tại bộ phận thủ thư

 Chỉ đọc tại chỗ, không mang tài liệu ra khỏi phòng đọc, ra ngoài thư viện

 Không cắt xén, xé trang tài liệu, khi phát hiện sách thiếu trang, yêu cầu báo ngay cho thủ thư, nếu không bạn đọc hoàn toàn chịu trách nhiệm

 Bạn đọc nào vi phạm nội quy, tùy từng mức độ sẽ có hình thức xử lý thích hợp: thu thẻ đọc, bồi thường, thông báo về cơ quan, trường học…hoặc truy tố trước pháp luật

Trang 6

 Không hút thuốc, chất dễ cháy nổ vào phòng đọc, giữ gìn

vệ sinh chung

 Không nói chuyện riêng, không nghe điện thoại tại phòng đọc, yêu cầu điện thoại để chế độ rung

 Khi có nhu cầu photocopy tài liệu, cần liên hệ với thủ thư

để được chỉ dẫn cụ thể

2.5.2 Lịch phục vụ

Mở cửa từ 8.00 – 20.00, từ Thứ 2 – Chủ nhật

Nghỉ ngày lễ quốc gia:

Tết Dương Lịch (1/1),Ngày giỗ tổ Hùng Vương(10-3 âm

lịch),ngày giải phóng miền Nam(30-4),ngày quốc tế lao động(1-5),ngày quốc khánh(2-9),ngày tết âm lịch.Nghỉ mỗi tháng 01 ngày Nội

dịch (TVQG sẽ có thông báo cụ thể trên website thư viện và các bảng thông báo tại thư viện, bạn đọc chú ý để nắm rõ lịch phục vụ).

2.6 Sự cần thiết của bảng phân loại trong tổ chức kho tự chọn Trong xã hội hiện đại ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học, thì việc lưu trữ và phổ biến tài nguyên tri thức là rất quan trọng Thư viện trở thành yếu tố không thể thiếu trong hoạt động truyền bá thông tin đó Ngôn ngữ tìm tin theo phân loại là một trong những phương thức tra cứu thông tin, giúp phổ biến tài nguyên tri thức một cách có tổ chức, có chất lượng cao được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng thư viện trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam

Đối với bộ máy tra cứu truyền thống, khung phân loại là xương sống cho mục lục phân loại, còn đối với CSDL, ký hiệu phân loại là một điểm truy cập tìm tin đáng tin cậy Tổ chức kho tài liệu mở theo

Trang 7

ký hiệu phân loại là hình thức phục vụ đọc sách hiện đại và thuận tiện cho người đọc, đang được các cơ quan thông tin – thư viện áp dụng nhiều hiện nay, nhất là đối với các thư viện có số lượng vốn tài liệu lớn

Khi tổ chức kho mở theo phân loại, các thư viện và cơ quan thông tin sẽ giúp bạn đọc bớt thời gian viết phiếu và chờ đợi, có thể tiếp cận với nhiều tài liệu trong cùng một lĩnh vực Người đọc và người dùng tin có thể nhanh chóng nhận biết được vị trí của tài liệu thông qua việc tập hợp tất cả các tài liệu có cùng một nội dung vào một vị trí xác định ở trên giá Ở các nước phương Tây, ngay từ cuối thế kỷ XIX, phân loại đã được sử dụng như một công cụ chủ yếu để xếp giá trong hầu hết các thư viện

Các thư viện đều xác định bước quan trọng nhất để tổ chức kho

mở là tiến hành xác lập ký hiệu xếp giá cho mỗi cuốn sách, làm cơ sở sắp xếp tài liệu trong kho Ký hiệu xếp giá được kết hợp bởi 2 yếu tố chính là: chỉ số phân loại và một ký hiệu khác do thư viện xác lập (có thể là ký hiệu tác giả hoặc ký hiệu tên sách, số đăng ký cá biệt…) Cách thức tổ chức tài liệu trong kho tự chọn được sắp xếp trật tự theo các ngành khoa học từ chung đến riêng, từ tổng quát đến chi tiết (theo cấu tạo bảng phân loại thư viện đang sử dụng) Trong từng khuông (mục) có quy định số lượng tài liệu sắp xếp và có các tiêu đề chỉ dẫn

Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG) là nơi thu nhận và tàng trữ xuất bản phẩm trong cả nước, với vốn tài liệu lớn cùng số lượng độc giả đông đảo, sử dụng hàng ngày thì việc tổ chức phục vụ người dùng tin theo hệ thống kho mở là rất phù hợp Từ trước năm 2002,

Trang 8

TVQG đã hình thành một số phòng đọc tự chọn nhưng với những điều kiện hạn chế vào thời điểm tổ chức các phòng đọc đều có quy mô nhỏ,

áp dụng các chuẩn nghiệp vụ khác nhau và một số phòng chưa sử dụng các thiết bị an ninh

Sau năm 2002, TVQG đã tổ chức lại hệ thống phòng đọc sách tự chọn theo tiêu chuẩn quốc tế về kỹ thuật, tổ chức kho với sự góp mặt của công nghệ thông tin và hệ thống thiết bị an ninh như: chỉ từ, cổng

từ, hệ thống camera, máy quét mã từ hiện đại, sách được sắp xếp theo môn loại của khung phân loại BBK Tuy nhiên, chỉ số phân loại BBK kết hợp cả chữ và số, vì vậy nhãn xếp giá có thể bị trùng lặp giữa chữ cái và môn loại với chữ cái tên tác giả hoặc tên sách gây khó khăn cho thủ thư và người tìm đọc trong khi tìm và xếp tài liệu lên giá

Đến cuối năm 2007 cùng với sự chuyển đổi áp dụng chuẩn nghiệp vụ, TVQG đã chuyển sang sử dụng khung phân loại DDC 14

và các kho mở cũng được xắp sếp theo khung phân loại này

Cuối năm 2010, TVQG đã tổ chức lại các phòng đọc tự chọn với

4 kho mở được sắp xếp theo các ký hiệu phân loại DDC 14 và ký hiệu xếp giá theo tên tác giả hoặc tên sách (đã được tự động hóa gọi là mã cutter) và chia theo các nội dung:

- Phòng đọc tự chọn đa ngôn ngữ

- Phòng đọc tự chọn khoa học xã hội và nhân văn (Tiếng Việt)

- Phòng đọc tự chọn khoa học tự nhiên và ứng dụng (Tiếng Việt)

- Phòng đọc tự chọn dành cho doanh nhân và các nhà nghiên cứu Trong các thư viện lớn như TVQG, việc sắp xếp kho mở theo ký hiệu phân loại đang rất phổ biến, nghĩa là sắp xếp tài liệu trên giá theo

Trang 9

các ngành khoa học của một bảng phân loại cụ thể Tuy nhiên có sự khác nhau giữa ký hiệu sắp xếp kho và ký hiệu phân loại trong từng quyển sách, ký hiệu kho có mức độ khái quát hơn DDC là một khung phân loại mang đầy đủ ba tính chất liệt kê, tổng hợp và phân cấp, trong đó phân cấp là tính chất đặc thù của DDC, do đó rất thuận tiện cho việc áp dụng phân loại này vào việc tổ chức kho mở

Kết hợp với ký hiệu phân loại, từ năm 2007, TVQG bắt đầu sử dụng biện pháp dán mã màu vào gáy sách trong các kho tự chọn Đây

là phương pháp mới dùng mã màu dán gáy sách để phân loại sách theo giá giúp cho cán bộ thủ thư tiết kiệm công sức và dễ dàng trong việc sắp xếp lại sách lên giá cuối mỗi ngày làm việc Nguyên tắc gán màu được dựa theo 10 môn loại chính của bảng phân loại DDC (chỉ số đầu tiên của mỗi lớp) ứng với 10 màu

* Mỗi lớp phân loại chính nếu được tạo nhóm dưới 10 lớp nhỏ, thì nhãn màu sẽ có 2 màu, màu thứ 2 là thứ tự từ màu 0-9 như bảng trên

Ví dụ: nhóm phân loại 005/005.1 thuộc nhóm 8 lớp thì sẽ có 2 màu là: 0 và 3 tương đương màu đỏ - tím Huế

* Mỗi lớp phân loại chính nếu được tạo nhóm trên 10 lớp nhỏ, thì nhãn màu sẽ có 3 màu 7 lớp đầu có màu thứ 2 là màu 0 và có màu thứ 3 từ màu 0-6 Tương tự 7 lớp tiếp có màu thứ 2 là màu 1 và có màu thứ 3 từ màu 6,… (lẽ ra có thể 10 lớp thứ 2 có màu thứ 3 từ

0-9, nhưng chỉ để 7 lớp, phòng trường hợp chia nhỏ hơn)

Trang 10

Ví dụ: nhóm 340/341 thuộc nhóm 40 lớp tương ứng với 3 màu là màu tím - xanh lam - xanh lá cây

* Toàn bộ ký hiệu phân loại được chia thành 159 nhóm theo nguyên tắc chung phân chia nhóm mã màu và được cài đặt tự động phân chia màu khi in mã tự chọn giống như mã cutter tên sách

Áp dụng DDC 14 trong tạo kí hiệu xếp giá tại các phòng đọc tự chọn ở TVQG

* Phòng Đọc tự chọn đa ngôn ngữ: Toàn bộ tầng 5 của nhà D

-TVQG được dành cho phòng đọc này Đây là phòng đọc tự chọn với đặc trưng là kho sách gồm 3 hệ ngôn ngữ là: Slaver, Latinh và hệ ngôn ngữ tượng hình được tổng hợp từ các kho sách Quỹ Châu Á, kho sách liên hiệp quốc, kho sách tiếng Anh, tiếng Trung ở các phòng đọc sách nhỏ trước đây Tài liệu chủ yếu của kho này là sách biếu; tặng và trao đổi của Đại sứ quán các nước; Viện Goethe Việt Nam và các Hiệp hội thư viện Thế giới; một phần nhỏ nữa là sách đặt mua của Thư viện

Tổng số sách hiện có trong kho tính đến tháng 10/2010 gồm 19.725 đầu sách (chỉ chọn những sách từ năm 2004 đến 2010)

- Hệ ngôn ngữ Slaver gồm 1.909 cuốn, trong đó sách tiếng Bungaria có 11 cuốn; sách tiếng Seck & Slovakia có 358 cuốn; còn lại

là sách tiếng Nga là 1540 cuốn

- Hệ ngôn ngữ tượng hình gồm 6018 cuốn trong đó tiếng Trung Quốc là 1.787 cuốn, tiếng Nhật là 602 cuốn; tiếng Hàn là 3629 cuốn

- Hệ ngôn ngữ Latinh là nhiều nhất gồm 11.798 cuốn; trong đó, sách tiếng Pháp là 1.263 cuốn; sách tiếng Anh là 2.903 cuốn, sách Tây

Trang 11

Ban Nha là 919 cuốn; sách do tổ chức WTO tài trợ là 500 cuốn; sách Hoa Kỳ là 131 cuốn, sách do tổ chức Liên hợp quốc tặng là 830 cuốn; sách theo seri bộ tập là 900 cuốn, sách tiếng Đức là 800 cuốn; sách tiếng Anh do Quỹ châu Á tài trợ là 3.552 cuốn; ngoài ra Quỹ châu Á còn tài trợ cho phòng đọc mở này 3 máy tính dùng để phục vụ độc giả tra cứu tại chỗ

Kho sách này được xắp sếp theo các lớp cơ bản ở mỗi đầu giá sách gồm 3 đơn vị chữ số của khung phân loại DDC 14 ví dụ: lớp 000,

100, 200, 300, 400, 500, 600 chứ không chia nhỏ hơn như các kho khác vì lượng sách ở phòng đọc này không nhiều như các phòng tự chọn còn lại của TVQG Trong mỗi môn loại sách được sắp xếp theo

ký hiệu phân loại và ký hiệu xếp giá (mã cutter tên sách hoặc tên tác giả), riêng giá sách hệ ngôn ngữ tượng hình chỉ xắp xếp theo ký hiệu phân loại

Mã màu ở kho này được dán theo ngôn ngữ, ví dụ: Sách tiếng Pháp được dán mã màu vàng, tiếng Bungari dán mã màu đen; tiếng Anh có mã màu xanh lá cây, tiếng Trung Quốc có mã màu tím, tiếng Tây Ban Nha có mã màu đỏ…

* Phòng Đọc sách tự chọn khoa học xã hội: Nằm toàn bộ ở tầng

4 của TVQG, tổng số sách ở đây gần 25.000 cuốn được rút từ tổng kho 3 năm gần nhất (2008, 2009, 2010) bao gồm những sách có nội dung về khoa học xã hội Việc phân loại sách ở đây được chia theo nhóm, chỉ số phân loại của mỗi nhóm được chia sâu hơn so với kho

mở Đa ngôn ngữ Mỗi nhóm phân loại được dùng đến phân cấp chữ số thứ 3 của 10 lớp phân loại chính trong bảng phân loại, sau đó chia tiếp

Trang 12

đến số thập phân thứ 4 sau dấu chấm và tiếp theo nếu nhóm đó có số lượng sách nhiều

Phần ba:Cảm nhận của cá nhân về chuyến đi thực tế ở Thư viện

Quốc Gia Việt Nam Chuyến đi thực tế tại thư viện Quốc Gia ngày 30 thang 6 vừa qua đã đem lại cho em nhiều điều bổ ích,em có cơ hội tìm hiểu về cơ cấu tổ chức các phòng ban, các cách xếp sách trên giá một thư viện lớn,Và có thể trò chuyện biết thêm kinh nghiệm nghề thư viện cùng với các cô ,các bác ,các chị và bạn đọc ở thư viện Quốc Gia.Em tin rằng trong tương lai thư viện quốc Gia sẽ phát triển hơn nữa và thực hiện toota các định hướng đặt ra

Định hướng phát triển cuả thư viện quốc gia

Thư viện Quốc giaViệt Nam đã, đang và sẽ phấn đấu không ngừng để trở thành nơi lưu truyền tri thức và khơi nguồn cảm hứng thực sự tin cậy, thân thiện của bạn đọc trong và ngoài nước, có

uy tín và vị thế xứng đáng trong cộng đồng thư viện Việt Nam, khu vực và thế giới Để hoàn tát thành tốt các mục tiêu này, Thư viện Quốc gia Việt Nam sẽ tập trung thực hiện

Thứ nhất: Tăng cường công tác thu thập, bảo tồn, phát huy di

sản văn hóa chữ viết và xây dựng Bảo tàng tư liêu Việt Nam (trên các chất liệu: đất nung, đá, gốm, sứ, lá, gỗ, tre, nứa, giấy, đồng )

Thứ hai: Tiếp tục làm tốt công tác bồi dưỡng, rèn luyện, nâng

cao năng lực chuyên môn, giáo dục phẩm chất nghề nghiệp, lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với công việc cho mỗi viên chức và người lao động

Ngày đăng: 25/03/2021, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w