1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp duy trì bền vững kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở huyện đầm hà tỉnh quảng ninh trong giai đoạn hiện nay

91 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 777,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Công tác phổ cập giáo dục nói chung và phổ cập giáo dục THCS nói riêng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ mục ti

Trang 1

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

Đồng thời, tác giả cũng xin chân thành cảm ơn:

- Thường trực Huyện ủy, HĐND, UBND huyện và các phòng ban chức năng của huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh;

- Lãnh đạo và chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh;

- Đảng ủy, HĐND, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh;

- Các đồng chí Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường MN, TH, THCS và THPT trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh;

- Các bạn đồng nghiệp

Đã động viên, khích lệ, đóng góp ý kiến, cung cấp tài, số liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Mặc dù, bản thân đã hết sức cố gắng nhƣng chắc chắn rằng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong có sự đóng góp quý báu và giúp đỡ thêm của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2012

Tác giả luận văn

Tô Xuân Lợi

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DUY TRÌ BỀN VỮNG KẾT QUẢ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ 6

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Tổng quan về công tác PCGD THCS 6

1.1.2 Một số khái niệm 9

1.2 Cơ sở lý luận định h ướng về phổ cập giáo dục THCS và pháp lý cho hoạt động quản lý, duy trì bền vững kết quả PCGD THCS 13

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và quan điểm của Đảng ta về giáo dục và PCGD 13

1.2.2 Cơ sở pháp lý của công tác phổ cập giáo dục 21

1.3 Những vấn đề cơ bản trong công tác duy trì bền vững kết quả PCGD nói chung và PCGD THCS nói riêng 30

1.3.1 Phổ cập giáo dục THCS 30

1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả PCGD THCS 32

1.3.3 Tính chất của PCGD THCS 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34

Trang 4

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PCGD THCS Ở HUYỆN ĐẦM HÀ TRONG NHỮNG NĂM QUA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA 35

2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Đầm Hà 35 2.1.1 Đặc điểm chung về huyện Đầm Hà 35 2.1.2 Đối với công tác Giáo dục của huyện 37 2.2 Thực trạng công tác PCGD THCS huyện Đầm Hà giai đoạn

2006-2010 38 2.2.1 Quản lý, điều hành công tác PCGD THCS 39 2.2.2 Về chỉ đạo, điều hành của Ban Chỉ đạo PCGD các cấp và của

nhà trường THCS 41 2.2.3 Về kiểm tra, thanh tra, đánh giá 43 2.2.4 Kết quả phổ cập giáo dục THCS huyện Đầm Hà giai đoạn

2006-2010 44 2.2.5 Thực trạng chất lượng học sinh sau khi PCGD THCS tại

huyện Đầm Hà 46 2.2.6 Một số bài học rút ra từ thực tiễn tổ chức thực hiện công tác

phổ cập giáo dục THCS trên địa bàn toàn huyện Đầm Hà từ năm 2006 đến 2010 46 2.3 Một số vấn đề đặt ra trong quản lý, duy trì bền vững kết quả công tác PCGD THCS ở huyện Đầm Hà 47 2.3.1 Quá trình điều tra, khảo sát 47 2.3.2 Thuận lợi trong thực hiện công tác PCGD THCS 52 2.3.3 Khó khăn trong công tác duy trì bền vững kết quả PCGD

THCS ở huyện Đầm Hà 55 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 58

Trang 5

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM DUY TRÌ BỀN VỮNG KẾT QUẢ PCGD THCS Ở HUYỆN ĐẦM

HÀ, TỈNH QUẢNG NINH 59

3.1 Phương hướng đề xuất các biện pháp nhằm duy trì bền vững kết quả phổ cập giáo dục THCS 59

3.2 Các biện pháp 60

3.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng và điều hành của Chính quyền đối với công tác phổ cập giáo dục 60

3.2.2 Nâng cao nhận thức cho phụ huynh học sinh và cán bộ làm công tác giáo dục về PCGD 61

3.2.3 Duy trì bền vững kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học và chống mù chữ 62

3.2.4 Đầu tư đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học 63

3.2.5 Nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở 65

3.2.6 Phối hợp giữa gia đình - nhà trường và đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục 67

3.2.7 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên, đặc biệt là cán bộ tham gia quản lý công tác PCGD THCS 69

3.2.8 Đa dạng hoá các loại hình đào tạo và tăng cường công tác hướng nghiệp cho học sinh 71

3.3 Khảo nghiệm tính phù hợp và khả thi của các biện pháp 72

3.3.1 Đối tượng khảo nghiệm 72

3.3.2 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp 73

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 76

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Khuyến nghị 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 81

Trang 6

6 GD THCS Giáo dục Trung học cơ sở

7 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

24 TT-TH Truyền thanh Truyền hình

25 TT HN&GDTX Trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số trường MN, TH và THCS trên địa bàn huyện năm học

2011-2012 37

Bảng 2.2: Kết quả học sinh tốt nghiệp THCS và Bổ túc THCS (lớp 9) từ 2006 đến 2010 vào học THPT và Bổ túc THPT 46

Bảng 2.3: Kết quả phiếu lấy ý kiến đánh giá mức độ đạt được về chất lượng và tính bền vững của công tác phổ cập giáo dục THCS huyện Đầm Hà giai đoạn 2006-2010 49

Bảng 2.4: Kết quả phiếu lấy ý kiến đánh giá mức độ ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố đến tính bền vững của công tác phổ cập giáo dục THCS huyện Đầm Hà giai đoạn 2006-2010 49

Bảng 2.5: Kết quả phiếu lấy ý kiến đánh giá mức độ đạt được về hiệu quả và tính phù hợp của các biện pháp quản lý công tác PCGD THCS của Phòng GD&ĐT Đầm Hà đã tiến hành trong giai đoạn 2006-2010 50

Bảng 2.6: Số phòng học năm học 2011-2012 53

Bảng 2.7: Số CBGV năm học 2011-2012 54

Bảng 2.8: Số học sinh bỏ học cấp THCS giai đoạn 2006-2010 56

Bảng 2.9: Số phòng học chưa đạt tiêu chuẩn hoặc bị xuống cấp năm học 2011-2012 57

Bảng 3.1: Các đối tượng khảo nghiệm 73

Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm các biện pháp (200 đối tượng) 73

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công tác phổ cập giáo dục nói chung và phổ cập giáo dục THCS nói riêng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Xây dựng kế hoạch phổ cập giáo dục phải gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và sát với tình hình thực tế của địa phương; phải coi trọng chất lượng giáo dục thực chất từ việc xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch, đảm bảo các điều kiện đến quy trình kiểm tra, đánh giá, công nhận kết quả; phải coi thực hiện phổ cập giáo dục để nâng cao dân trí là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất

“Nhà trường - Gia đình - Xã hội” chưa tốt Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn đến công tác PCGD THCS Vì vậy, một yêu cầu bức thiết được đặt ra là phải tìm ra biện pháp nhằm duy trì bền vững kết quả PCGD THCS, tránh tình trạng mất chuẩn

Trang 9

Đầm Hà là huyện miền núi ven biển của tỉnh Quảng Ninh, trước năm

2006 có 8 xã và 01 thị trấn, hiện nay với 10 đơn vị hành chính (9 xã, 01 thị trấn), trong đó có 3 xã có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình

135 của Chính phủ; dân số trên 3,6 vạn người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 28% Tuy nhiên cơ sở vật chất trường lớp, điều kiện học tập của con em còn gặp nhiều khó khăn Tình trạng học sinh bỏ học nửa chừng vẫn xảy ra, ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập, nên việc duy trì, củng cố và phát triển kết quả phổ cập chưa thật sự bền vững, vì thế nguy cơ mất chuẩn PCGD THCS có thể xẩy ra

Bàn về tương lai không thể kh ông bàn đến giáo dục bởi "GD&ĐT là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai " "Đi lên bằng giáo dục " đó chính là chân lý của thời đại chún g ta, thời đại mà trí tuệ con người trở thành tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia Mặt bằng dân trí cao cùng với nguồn lực nhân tài là điều kiện tiên quyết để mỗi quốc gia đi đến phát triển KT -XH trong cuộc cạnh tranh quyết liệt mang tính toàn cầu Vì thế trong Nghị quyết BCH Trung ương Đảng (khoá VII ) đã xác định : "GD&ĐT, cùng với Khoa học và Công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản bảo đ ảm việc thực hiện các mục tiêu KT -XH, xây dựng và bảo vệ đất nước Phải coi đầu tư cho giáo dục là một hướng chính của đầu tư và phát triển" Định hướng chiến lược phát triển GD &ĐT thời kỳ CNH , HĐH đất nước cũng khẳng định: "Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh GD&ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển mạnh và bền vững” [7]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của BCH Trung ương (khoá IX) đã chỉ

rõ: "Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đang đứng trước những đòi

hỏi thúc bách , những nhiệm vụ rất nặng nề , cần tập trung phát triển mạnh hơn, nhanh hơn, khẩn trương hơn , tốt hơn mới có thể đáp ứng các yêu cầu

Trang 10

của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá" Tiếp tục quán triệt

thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khoá VIII ), Nghị quyết 41/2000/QH10 ngày 09/12/2000 của Quốc hội, Chỉ thị 61/CT-TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị, Nghị định 88/2001/NĐ-CP ngày 22/11/2001 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở Huyện Đầm Hà đã nỗ lực triển khai, thực hiện công tác PCGD THCS và đạt chuẩn từ năm 2005 và duy trì đến nay Trong thời gian tiếp theo huyện quyết tâm duy trì bền vững kết quả PCGD THCS để làm tiền đề phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục Trung học

Tìm ra biện pháp để duy trì bền vững kết quả PCGD THCS là một

trong những nhiệm vụ quan trọng của huyện, vì vậy tôi chọn đề tài “Biện pháp duy trì bền vững kết quả phổ cập giáo dục Trung học cơ sở ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác phổ cập giáo dục Trung học

cơ sở ở huyện Đầm Hà , tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006-2010, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm duy trì bền vững kết quả PCGD THCS và chuẩn bị điều kiện cho cập giáo dục Trung học của huyện vào năm 2015

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý nhằm duy trì bền vững kết quả PCGD THCS ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh

- Khách thể nghiên cứu : Quá trình quản lý và thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở huyện Đầm Hà

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Các Trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đầm Hà , tỉnh Quảng Ninh Tổ chức khảo sát điều tra , nghiên cứu tại các Trường THCS trên địa bàn huyện Đầm Hà

Trang 11

+ Các cán bộ quản lý giáo dục của huyện, của các trường TH, THCS và một số giáo viên của các trường THCS huyện Đầm Hà

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát cơ sở lý luận của việc quản lý và đề xuất biện pháp quản lý duy trì bền vững kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở của huyện Đầm

5 Giả thuyết khoa học

Huyện Đầm Hà đã đạt chuẩn PCGD THCS, tuy nhiên kết quả đạt được chưa thật vững chắc bởi tỷ lệ đạt chuẩn ở một số xã vùng cao còn thấp, cơ sở vật chất của một số trường đang dần bị xuống cấp, nên ảnh hưởng đến công tác phổ cập bậc trung học cơ sở Mặt khác hoạt động của Ban Chỉ đạo phổ cập giáo dục các cấp còn tập trung chủ yếu ở cơ quan thường trực , dẫn đến chất lượng phổ cập chưa cao Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp , khả thi sẽ khắc phục được những khó khăn , hạn chế để duy trì bền vững kết quả PCGD THCS của huyện, tạo điều kiện đến năm 2015 có thể hoàn thành

công tác phổ cập giáo dục Trung học

6 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu lý luận:

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

+ Phân loại hệ thống hoá lý thuyết

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi (questionare)

Trang 12

+ Phương pháp phỏng vấn

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

+ Phương pháp đánh giá qua ý kiến của các chuyên gia

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận và khuyến nghị, kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn được trình bày trong 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về duy trì bền vững kết quả phổ cập giáo

dục trung học cơ sở

- Chương 2: Thực trạng công tác PCGD THCS ở huyện Đầm Hà trong

những năm qua và những vấn đề đang đặt ra

- Chương 3: Phương hướng và biện pháp quản lý nhằm duy trì bền

vững kết quả PCGD THCS ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh

Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DUY TRÌ BỀN VỮNG KẾT QUẢ PHỔ CẬP

GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan về công tác PCGD THCS

Tư tưởng của C Mark về thực hiện một nền giáo dục cưỡng bách cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động : Những tư tưởng về thực hiện một nền giáo dục cưỡng bách - giáo dục bắt buộc - giáo dục phổ cập cho những người đang lớn lên - những người lao động trong tương lai , đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đ ề cập đến Trong tác phẩm C Mác,

Ph Ănghen, V.I Lênin bàn về giáo dục , NXB Giáo dục , Hà Nội , 1981, tr

38 đã trích lời của K Mark: “Trong quá nhiều trường hợp , giai cấp công nhân bị dốt nát đến mức không hiểu được những lợi ích chân chính của con cái mình hoặc những điều kiện phát triển bình t hường của con người Dù sao, thì những người công nhân tiên tiến nhất cũng hoàn toàn nhận thức

được rằng tương lai của giai cấp họ , và do đó , của cả loài người , hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên Họ biết rằng trước hết cần phải bảo vệ trẻ em và thiếu niên lao động khỏi sự tác động có tính chất huỷ hoại của chế độ hiện nay Chỉ có thể đạt đến điều ấy bằng cách biến ý thức xã hội thành sức mạnh xã hội và trong những điều kiện hiện nay thì điều ấy chỉ có thể đạt được nhờ có các biện pháp chung do chính quyền nhà nước thi hành”

Đất nước ta , từ bao đời nay đã có truyền thống hiếu học Nhưng do hoàn cảnh đất nước luôn bị đô hộ nên những truyền thống đó đã không được phát triển theo mong muốn của cả dân tộc trong suốt một chặng đường dài lịch sử Năm 1930 sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử củ a dân tộc ta Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên Đảng

Trang 14

ta đã đề ra : Chính sách PCGD phổ thông cho trẻ em và nhân dân lao động Điều đó càng thể hiện rõ tinh thần hiếu học để vươn lên của dân tộc ta và khẳng định sự quan tâm đến giá o dục của Đảng ta ngay từ những ngày đầu Nhưng do hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta lúc bấy giờ còn gánh vác sứ mệnh nặng nề trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc , thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp mà chưa thực hiện được chính sách đó

Đến năm 1945 khi đất nước giành được độc lập , trong tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam d ân chủ cộng hòa do Hồ Chủ t ịch đọc trên Quảng trường Ba Đình cũng như khi nói về những nhiệm vụ với quan điểm nhất quán có tính chiến lược , Người đã chỉ rõ : “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.Ước vọng của Người là : “đồng bào ta ai cũng được ăn cơm no , ai cũng

có áo mặc , ai cũng được học hành ”, và Người luôn mong mỏi là m cho “Dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái ” Đáp ứng lòng mong mỏi và ước nguyện của Người, phong trào bình dân học vụ để diệt “giặc dốt” được tổ chức sôi động trên khắp các miền quê , từ thành thị đến nông t hôn, không kể trẻ, già với khẩu hiệu : “Người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ , người biết nhiều dạy cho người biết ít” Như vậy ước nguyện của Bác là muốn trang

bị cho mọi người một trình độ học vấn nhất định để nâ ng cao nhận thức tối thiểu trong lao động sản xuất để tăng năng suất lao động , thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu

Năm 1960 Đại hội II của Đảng đã chính thức đưa chính sách PCGD cho thiếu niên vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhấ t (1960 - 1965) của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Nhiệm vụ mục tiêu cơ bản là thực hiện phổ cập vỡ lòng cho vùng đồng bằng (trẻ 6 tuổi) và hoàn thành xoá mù chữ cho miền núi, để tiến tới phổ cập cấp phổ thông Đến n ăm 1986 dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đất nước ta bước vào cuộc đổi mới Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KT -XH, giáo dục cũng từng bước phát triển

Trang 15

đáp ứng với yêu cầu xã hội Mục tiêu PCGD đã đư ợc nhiều tỉnh , thành phố đặc biệt quan tâm Trong những năm gần đây sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng càng được thể hiện rõ nét như : Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 2

(khoá VIII),

Qua những vấn đề nêu trên chứng tỏ rằng : Trong suốt chặng đường phát triển lịch sử cách mạng Việt Nam , Đảng và Nhà nước ta không ngừng chăm lo và định rõ mục tiêu , chiến lược phát triển sự nghiệp GD&ĐT phù hợp với điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng của dân tộc, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội Tính ưu việt của Nhà nước ta đối với việc học tập còn được thể hiện rõ trong hiến pháp năm 1992 : “học tập

là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân ” Điều đó càng được khẳng định việc nâng cao trình độ học vấn tối thiểu cho mọi người (phổ cập THCS ) là công việc hết sức quan trọng và cần thiết đố i với một đất nước đang tiến tới CNH, HĐH, càng không thể thiếu được đối với thế hệ trẻ Như vậy việc trang

bị trình độ học vấn tố i thiểu cho thế hệ trẻ (11 - 18 tuổi) là PCGD THCS Mục đích của PCGD THCS là đem lại cho m ọi trẻ em những tri thức , những khả năng và những giá trị cần cho sự phát triển về nhân cách , về các mặt cơ thể, tình cảm, trí tuệ, tâm hồn

Nghị quyết 41/2000/QH10 về thực hiện phổ cập THCS - Quốc hội khoá X quy định : “Nhà nước thực hiện chính sách PCGD THCS bắt buộc từ lớp 6 đến hết lớp 9 đối với tất cả trẻ em Việt nam trong độ tuổi từ 11 đến 18 tuổi” Chính sách trên của Nhà nước thể hiện vừa đảm bảo quyền cơ bản của trẻ em là được học tập và phát triển, vừa tạo điều kiện để nâng cao dân trí làm cho mỗi người , mỗi gia đình ngày càng văn minh và hạnh phúc Đó chính là

lý do mà quyền học tập và phát triển của trẻ được quan tâm không chỉ của cá c bậc cha mẹ , của dân tộc , của một quốc gia , mà là mối quan tâm chung của

Trang 16

toàn thế giới Trong công ước của Liên hiệp quốc về quyền của trẻ em điều 28 quy định: “Trẻ em có quyền được học hành và tiếp thu một nền giáo dục tiến bộ” Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, năm

2010 Việt Nam đã hoàn thành công tác PCGD THCS trên phạm vi cả nước

Song trong công cuộc CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, bất kỳ quốc gia nào cũng cần có nguồn nhân lực kế cận, có đủ trình độ sử dụng, sáng tạo ra công cụ lao động Hay nói cách khác là có đủ trình độ để tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại thì cần quan tâm phát triển GD&ĐT Vì giáo dục là đòi hỏi của sự phát triển giữa khoa học , giáo dục và kỹ thuật - sản xuất là những thành tố cấu tạo nên hệ thống KT -XH Chúng gắn bó và thúc đẩy lẫn nhau phát triển Trong đó giáo dục là cầu nối từ khoa học đến kỹ thuật sản xuất Chỉ có những người có trình độ học vấn mới có thể áp dụng khoa học vào sản xuất được mà không thể có học vấn nếu không có nền giáo dục

1.1.2 Một số khái niệm

1.1.2.1 Quản lý

Quản lý là một khái niệm khó xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau Thực chất của quản lý là gì? cũng có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học, quản lý đã cơ bản được làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất Có thể dẫn ra một số cách hiểu sau:

- Quản lý là nghệ thuật biến rõ ràng, chính xác cái gì đó cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất [5];

- Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các

cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức [1];

- Quản lý là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan [21];

Trang 17

- Quản lý là việc thực hiện các mục đích của tổ chức một cách hiệu quả

và đạt hiệu xuất tốt, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức;

- Quản lý là quá trình tập hợp và sử dụng các nhóm nguồn lực theo định hướng mục tiêu để thực hiện các nhiệm vụ trong bối cảnh tổ chức;

Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất

Quản lý bao gồm các yếu tố:

- Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một một đối tượng bị quản lý Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể

là liên tục nhiều lần

- Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêu này là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động

1.1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đ eo đuổi những mục đích của mình trong lĩnh vực đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

Khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều quan niệm khác nhau Trong khuôn khổ của đề tài này , tôi lựa chọn một vài định nghĩa mà tôi thấy là phù hợp Ở cấp vĩ mô:

- Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức , có mục đích , có kế hoạch , có hệ thống , hợp quy luật ) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao n hất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường ) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mụ c tiêu phát triển giáo dục [1];

Trang 18

- Quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức

và có hướng đích của chủ thể qu ản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống, nhằm mục đích đảm bảo cho sự hình thành chung của xã hội, cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em [15];

- Quản lý giáo dục là hoạt độn g tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát , một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội [1];

- Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích , có kế hoạch , có hệ thống , hợp quy luật ) của chủ thể đến giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng

xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [23]

Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý giáo dục là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường 1.1.2.3 Quản lý nhà trường

Quản lí nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường [22]

Công tác quản lý nhà trong nhà trường bao gồm các nội dung:

- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh;

- Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước và của ngành Giáo dục;

Trang 19

- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường;

- Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của

Bộ GD&ĐT, của các cấp chỉ đạo;

- Quản lý nhà trường là chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên và công nhân viên;

- Quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT

1.1.2.4 Biện pháp quản lý

Biện pháp quản lý được hiểu là cách thức hay cách tiến hành một công

việc cụ thể nào đó của nhà quản lý nhằm đạt được một mục tiêu của thể nào đó

1.1.2.5 Phổ cập giáo dục

Từ “Phổ cập giáo dục” mang một nghĩa chung là làm cho ai cũng được giáo dục; làm cho ai cũng đạt được một trình độ giáo dục nhất định

PCGD là làm "lan ra", rộng thêm ở một địa điểm nào đó , với một lứa tuổi nào đó có một trình độ văn hoá (học vấn) nhất định

Phổ cập giáo dục là tổ chức việc dạy và việc học nhằm làm cho toàn thể thành viên trong xã hội , đến một độ tuổi nhất định (thường là độ tuổi bắt đầu chính thức tham gia lao động xã hội) đều có được một trình độ giáo dục nhất định (theo số năm học hoặc theo bậc học) [16]

1.1.2.6 Phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Thuật ngữ “Phổ cập giáo dục tr ung học cơ sở” là thực hiện giáo dục cưỡng bách với mọi người trình độ giáo dục phổ thông lớp 9

Khi pháp luật đã quy định đối tượng , độ tuổi và trình độ phổ cập giáo dục, trách nhiệm và nghĩa vụ của cá nhân, các điều kiện để bảo đảm thực hiện thì phổ cập giáo dục đã trở thành chế độ bắt buộc (cưỡng bách)

1.1.2.7 Quản lý PCGD THCS

Quản lý phổ cập giáo dục trung học cơ sở là toàn bộ những hoạt động

có ý thức của nhà quản lý giáo dục nhằm đ ạt được các mục tiêu, tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 20

1.2 Cơ sở lý luận định hướng về phổ cập giáo dục THCS và pháp lý cho hoạt động quản lý, duy trì bền vững kết quả PCGD THCS

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và quan điểm của Đảng ta về giáo dục và PCGD

Tiếp tục những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã có sự phát triển và vận dụng sáng tạo trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam

1.2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về giáo dục và PCGD:

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục, đào tạo luôn

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở nước ta, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khỏe, thẩm mỹ… Tư tưởng

Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành quả của sự chắt lọc tinh tế tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, vừa mang đậm hơi thở của cuộc sống Do vậy, ở Hồ Chí Minh, lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau Đúng như Nghị quyết UNESCO đánh giá: “Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”

Trang 21

Theo Hồ Chí Minh, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới Người nói: “Thiện, ác vốn chẳng phải

là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên”

Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ

và xây dựng đất nước Người kêu gọi:

“ Quốc dân Việt Nam!

Muốn giữ vững nền độc lập,

Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,

Mọi người Việt Nam phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”

Từ thực trạng nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã vạch trần và lên án chính sách giáo dục của thực dân Pháp là làm cho

“ngu dân dễ trị” Người viết: “Phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ Và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân” Thật vậy, ngay từ những năm đầu vào đời, khi tham gia giảng dạy

ở trường Dục Thanh - Phan Thiết, tại đây, bên cạnh việc truyền bá những kiến thức về văn hóa, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú trọng đến việc truyền thụ tinh thần, truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc

Mục đích cao cả của Hồ Chí Minh là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Bởi, đối với Người, “ Nếu nước nhà độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” Suốt đời, Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Và để xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào

Trang 22

khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa

Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa

“chuyên” trong thời đại mới Và như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa”, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức” Cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật Cần phải lý luận Mác - Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày

Người chỉ rõ: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng

ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ Nâng cao trình

độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc làm cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, văn minh và giàu mạnh” Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là

vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phù hợp

Tuy Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm, một hệ thống lý luận về phương pháp giáo dục, nhưng những việc làm thiết thực, những bài viết ngắn gọn, súc tích của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực Người lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục Nguyên tắc này được Người sử dụng trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên…

Để nâng cao trình độ nhận thức của người lao động, Hồ Chí Minh cho rằng cần có quan điểm dân chủ, thẳng thắn, không nhồi sọ và cần có sự đối thoại trong quá trình học tập, nhận thức Người chỉ rõ: “Mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy Song không được nói gàn, nói vòng quanh” “ Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân

Trang 23

lý” Từ đó, Hồ Chí Minh kêu gọi cán bộ, nhà giáo phải biết tôn trọng ý kiến người khác, không nên có thành kiến đối với các ý kiến trái với ý kiến mình

Trong giáo dục, theo Hồ Chí Minh, cần có phương pháp phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục Giáo dục phải căn cứ vào “trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng” Cần có phương pháp tổ chức giáo dục sao cho đảm bảo được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh giáo dục với đối tượng giáo dục Đối với Hồ Chí Minh, tất cả các phương pháp giáo dục như phương pháp đối thoại, phương pháp học đi đôi với hành,

lý luận gắn với thực tiễn, phương pháp làm gương, phương pháp kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội đều nhằm mục đích “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”, nâng cao nhận thức, chất lượng và hiệu quả giáo dục Các phương pháp này vừa có tính khoa học, hệ thống lại đảm bảo tính thực tiễn, thời đại

Tư tưởng bàn về phổ cập giáo dục ở Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rất sớm , ngay trong những tác phẩm đầu tiên của Người Trong cuốn "Đường cách mệnh ", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cập đến khái niệm giáo dục phổ cập đối với tất cả trẻ em , thông qua việc Người viện dẫn những lời tuyên bố của Công xã Paris - một nhà nước kiểu mới của những người cách mạng Pháp: “ Khi vừa lấy được Paris rồi, thì Công xã lập lên Chính phủ dân

và tuyên bố rằng Công xã sẽ thực hành những việc này: Tất cả trẻ con trong nước, bất kỳ con trai con gái, đều phải đi học Học phí Nhà nước phải cho”

Chính cương của Việt Minh , mà Chủ tịch H ồ Chí Minh đã nói đến trong thư gửi tướng Trần Tu Hoà , ngày 19/12/1945, cũng đề cập đến phổ cập giáo dục: “Thực hành chế độ giáo dục bắt buộc, mở nhiều trường học, rạp hát, tổ chức các lớp bình dân học vụ , giúp đỡ n hững người nghèo mà hiếu học , phát triển thể dục , đức dục, bãi bỏ học phí nhập họ c do người Pháp đặt ra ” [12, Tr.118]

Trang 24

Việc phổ cập một trình độ giáo dục cho nhân dân đã được Bác phát triển trong thư gửi nam nữ chiến sỹ bình dân học vụ , đề ngày 2 tháng 9 năm 1948: “Trong ba năm, đã được gần 8 triệu đồng bào thoát nạn mù chữ Trong phong trào thi đua ái quốc , tôi mong các bạn cũng hăng hái xung phong

Vùng nào còn sót nạn mù chữ , thì các bạn cố gắng thi đua diệt cho hết giặc

dốt trong một thời gian mau chóng”

Sau khi đã hoàn thành mục tiêu phổ cập xoá mù chữ , Người yêu cầu :

“Vùng nào đã hết nạn mù chữ , thì các bạn thi đua để tiến lên một bước nữa , bằng cách dạy cho đồng bào:

1 Thường thức vệ sinh, để dân bớt ốm đau

2 Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm

3 Bốn phép tính, để làm ăn có ngăn nắp

4 Lịch sử và địa dư nước ta (tóm tắt bằng thơ hoặc ca ), để nâng c ao lòng yêu nước

5 Đạo đức của công dân, để thành người công dân đứng đắn

Các bạn hãy làm cho được chừng ấy đã , sau chúng ta tiến lên những bước cao hơn " [12, tr.489]

Hơn 50 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm, chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo nói chung và PCGD nói riêng luôn soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam Tư tưởng đó không chỉ

là cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta qua các thời

kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục nói riêng, ngành giáo dục nói chung hiện nay

1.2.1.2 Đường lối, quan điểm của Đảng ta về giáo dục và PCGD:

Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và PCGD, Đảng ta qua nhiều kỳ Đại hội, đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề xuất

Trang 25

những quan điểm có tính chiến lược và đột phát về phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương khóa VIII đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là

“nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…” Và tại Đại hội Đảng lần thức IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học,

tự hoàn thiện học vấn và tay nghề”

Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI gần đây, một lần nữa Đảng ta lại nhấn mạnh hệ thống các quan điểm có tính chiến lược về phát triển sự nghiệp giáo dục:

Một là: Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam

phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Giáo dục và đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động

có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo,

có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về giáo dục từ nội dung, phương pháp dạy học đến việc xây dựng những môi trường giáo dục lành mạnh và thuận lợi, giúp người học có thể chủ động, tích cực, kiến tạo kiến thức, phát triển kỹ năng và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống

Trang 26

Hai là: Phát triển nền giáo dục của dân, do dân và vì dân là quốc sách

hàng đầu Giáo dục phải chăm lo nhiều hơn đến việc học tập của các tầng lớp nhân dân, tạo điều kiện cho mọi người, đặc biệt là con em các đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh ở các vùng kinh tế chậm phát triển, học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với giáo dục có chất lượng Với quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng và Nhà nước tiếp tục dành sự ưu tiên cho giáo dục, không chỉ thể hiện ở những chính sách đầu tư

mà còn ở sự lãnh đạo trực tiếp và triệt để hơn nữa đối với sự nghiệp giáo dục của nước nhà Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, những giải pháp chỉ đạo giáo dục của Đảng và Nhà nước cũng cần có những đổi mới, sáng tạo và linh hoạt hơn để thích ứng với thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Ba là: Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội, vừa thỏa mãn nhu cầu

phát triển của mỗi cá nhân, mang đến niềm vui học tập cho mỗi người và tiến tới một xã hội học tập Vì người học có những mong muốn, nhu cầu khác nhau, điều kiện sống và học tập khác biệt, giáo dục chỉ thực sự có hiệu quả nếu không đồng nhất với tất cả mọi đối tượng Giáo dục phải chú trọng nhiều

hơn đến “cơ hội lựa chọn” trong học tập cho mỗi người học Các chương

trình, giáo trình và các phương án tổ chức dạy học phải đa dạng hơn, tạo cơ hội cho mỗi người học những gì phù hợp với chuẩn mực chung nhưng gắn với nhu cầu, nguyện vọng và điều kiện học tập của mình

Bốn là: Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về giáo dục phải dựa trên cơ sở bảo

tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng nền giáo dục giàu tính nhân văn, tiên tiến, hiện đại Cần vận dụng những kinh nghiệm giáo dục của nhiều nước tiên tiến trên thế giới để tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nước ta và các nước trên thế giới Tuy nhiên, việc tiếp nhận những mô hình giáo dục của nước ngoài phải được xem xét thận trọng để phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội Vận

Trang 27

dụng những bài học kinh nghiệm của quốc tế phải được tiến hành đồng thời với việc nhấn mạnh hơn những yếu tố dân tộc trong nội dung và phương pháp giáo dục

Năm là: Phát triển dịch vụ giáo dục và tăng cường yếu tố cạnh tranh

trong hệ thống giáo dục là một trong những động lực phát triển giáo dục Sự quan tâm của nhà nước trong nhiều năm qua đã được thể hiện rõ thông qua đầu tư ngày một tăng cho giáo dục Tuy nhiên, với một đất nước còn nghèo như nước ta, đầu tư trong ngân sách nhà nước cho giáo dục dù đã tăng nhưng vẫn còn nhỏ bé so với yêu cầu phát triển giáo dục và so với sự đầu tư cho giáo dục của các nước tiên tiến trên thế giới Phát triển những dịch vụ giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN là cần thiết, nhằm thu hút nhiều hơn các nguồn vốn đầu tư, tạo điều kiện mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu học ngày càng tăng của nhân dân Bên cạnh đầu tư của Nhà nước và của xã hội cho giáo dục, mỗi cá nhân tham gia vào sự nghiệp giáo dục phải có những đóng góp tích cực góp phần tạo nên chất lượng giáo dục Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục và giữa các

cá nhân tham gia giáo dục là một trong những động lực phát triển giáo dục

Sáu là: Giáo dục đào tạo phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều

nghiệm và “mô hình” giáo dục, đào tạo của các nước tiên tiến, tích cực đổi

mới phương pháp dạy học, thực hiện tiết kiệm, chống tiêu cực trong giáo

Trang 28

dục, thu hút các nhà khoa học, nhà giáo giỏi trong và ngoài nước tham gia giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học… là những giải pháp cần được chú trọng nhằm sử dụng tối ưu các nguồn đầu tư và hỗ trợ để nâng cao chất lượng giáo dục

Đề cập đến vấn đề PCGD, ngay từ Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị năm

1979 đã xác định rõ mục tiêu , yêu cầu , nội dung của công tác phổ cập giáo dục Nghị quyết nhấn mạnh : Phấn đấu thực hiện chế độ cả xã hội chăm sóc

nuôi dạy trẻ, làm cho mọi trẻ em đều được học tập một cách bình đẳng, không

tuỳ thuộc vào hoàn cảnh riêng về gia đình, dân tộc và địa phương

Thực hiện phổ cập giáo dục trong toàn dân , góp phần xây dựng quyền

làm chủ tập thể của nhân dân lao động , tạo điều kiện thuậ n lợi cho việc tiến

hành ba cuộc cách mạng Phấn đấu cho công nhân, nông dân và mọi người

lao động ở tất cả các địa phương , thuộc tất cả các dân tộc , được hưởng đầy đủ quyền học tập , từng bước đạt trình độ văn hoá phổ t hông trung học , để

không ngừng nâng cao ý thức và năng lực làm chủ tập thể , đủ sức tiến hành

ba cuộc cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi

Nghị quyết cũng đã định rõ hệ thống giáo dục , trong đó xác định giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá của một nước , là sức mạnh tương lai của một dân tộc Trường phổ thông có nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ từ 6 tuổi đến tuổi trưởng thành , và được chia làm hai bậc : trường phổ thông

cơ sở và trường phổ thông trung học Trường phổ thông cơ sở là một thể

thống nhất từ lớp 1 đến lớp 9; đó là bậc học phổ thông bắt buộc cho tất cả nhi đồng và thiếu niên từ 6 tuổi tròn đến 15 tuổi tròn

1.2.2 Cơ sở pháp lý của công tác phổ cập giáo dục

Trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng ta về giáo dục và PCGD qua các Nghị quyết và văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, Quốc hội, Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể hóa

Trang 29

trong Luật Giáo dục, trong các Nghị định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Theo trình tự thời gian có thể dẫn ra cụ thể như sau:

Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Điều 15 của Hiến pháp , đã được Quốc hội nước Việt Nam d ân chủ Cộng hoà thông

qua ngày 11/9/1946 quy định: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí Ở

các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình Học trò nghèo được Chính phủ giúp đỡ Trường tư đ ược mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước”

Đến Hiến pháp năm 1959, tại Điều 33, quy định: “Công dân nước Việt

Nam dân chủ Cộng hoà có quyền học tập Nhà nước thực hiện từng bước chế

độ giáo dục cưỡng bách , phát triển các trường học và cơ quan văn hoá , phát

triển các hình thức giáo dục bổ túc văn hoá , kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và nông thôn , để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó”

Trong điều kiện cả nước đang có chiến tranh , ngày 05-5-1965, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 88/CT-TTg về việc chuyển hướng công tác giáo dục trước tình hình nhiệm vụ mới , đã đề ra phương hướng chung t rong việc chuyển hướng công tác giáo dục nói chung , giáo dục phổ thông nói riêng Chỉ thị đã nêu: “ Trong bất cứ tình hình nào , nền giáo dục phổ thông cần được tiếp tục phát triển Trong những năm trước mắt , hệ thống c ác cấp

học tạm thời vẫn để như hiện nay Cần khuyến khích việc hoàn thành phổ cập

cấp I càng sớm càng hay Phát triển mạnh cấp II, tích cực đưa dần trường cấp

II về xã Tiếp tục phát triển cấp III , cố gắng mở trường cấp III ở các huyện chưa có ” [19]

Chỉ thị số 186/CT-TTg ngày 28-6-1972 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển hướng công tác giáo dục trong tình hình mới đã nêu: “ Trên cơ sở bảo đảm an toàn cho các trường học , cố gắng phát triển các ngành học :

Trang 30

phát triển mẫu giáo bé ở những nơi có điều kiện , thực hiện phổ cập lớp vỡ

lòng và cấp I, phấn đấu trong vài năm tới phổ cập cấp II, giữ tốc độ phát triển

cấp III như hiện nay, giữ vững các trường bổ túc văn hoá tập trung và các lớp bổ túc văn hoá tại chức ở các cơ sở Trong việc đẩy mạnh và mở rộng phong trào thi đua “hai tốt” theo gương các đơn vị tiên tiến , cần tiếp tục nắm vững khâu trung tâm là đưa lao động sản xuất vào nhà trường do đó mà từng bước cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục, bảo đảm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ”

Ở trường phổ thông cơ sở , việc giáo dục cho học sinh ý thức và thói quen giữ gìn vệ sinh và rèn luyện thân thể là rất quan trọng Về phương pháp giáo dục , cần coi trọng cho học sinh tính chủ động trong học tập và thói quen tự học Kết hợp với việc học tập văn hoá , cần tổ chức cho học sinh tham gia lao động sản xuất theo mức độ phù hợp với lứa tuổi Tăng cường sinh hoạt đoàn thể và hoạt động xã hội của học sinh thông qua Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và Đội n hi đồng Hồ Chí Minh Sau khi tốt nghiệp tr ường phổ thông cơ sở , học sinh có thể tiếp tục vào học các loại trường phổ thông trung học hoặc các loại trường chuyên nghiệp , nhất là những trường dạy nghề hoặc có thể tham gia lao động ở các cơ sở sản xuất (trong trườn g hợp này , các cơ sở sản xuất có trách nhiệm mở những

trường, lớp bồi dưỡng nghề nghiệp và bồi dưỡng văn hoá , giúp cho lớp lao động trẻ tuổi đó có thể vừa làm vừa học ”

Tại một số Đ iều của Hiến pháp năm 1980 đã luật hoá các quan điểm của Đảng về phương hướng cải cách giáo dục:

Điều 40: “Nền giáo dục Việt nam được phát triển và cải tiến theo nguyên lý học đi đôi với hành , giáo dục kết hợp với lao động sản xuất , nhà trường gắn liền với xã hội, nhằm đào tạo có chất lượng những người lao động

xã hội chủ nghĩa và bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”

Trang 31

Điều 41: Sự nghiệp giáo dục do Nh à nước thống nhất quản lý “Nhà nước chăm lo phát triển cân đối hệ thống giáo dục : giáo dục mầm non , giáo dục phổ thông , giáo dục chuyên nghiệp , giáo dục đại học ; phát triển các

trường dạy nghề, trường vừa học vừa làm , hệ thống học tại chức ; hoàn thành

thanh toán nạn mù ch ữ, tăng cường công tác bổ túc văn hoá , không ngừng

nâng cao trình độ văn hoá và nghề nghiệp của toàn dân Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh , gia đình và xã hội cùng với nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”

Điều 60: Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân “Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục phổ thông bắt buộc , thực hiện chế độ học không phải trả tiền và chính sách cấp học bổng , tạo điều kiện th uận lợi cho công dân học tập”

Như vậy đến Hiến pháp năm 1980, học tập không chỉ được quan niệm

là một quyền cơ bản của công dân Việt N am, mà đã được mở rộng , được coi

là một nghĩa vụ của công dân

Hiến pháp năm 1992, đã phát triển thêm các quan điểm về giáo dục: Điều 35: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách , phẩm chất và năng lực của công dân ; đào tạo những người lao động có nghề , năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc , có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nướ c mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Điều 36, quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu , chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục , tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục : giáo dục mầm non , giáo dục phổ thông , giáo dục nghề

Trang 32

nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học , phổ cập giáo dục tiểu học , xoá nạn

mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập , dân lập và các hình thức

giáo dục khác Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục , khuyến khích các nguồn đầu tư khác Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi , các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn Các đoàn thể nhân dân , trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội , các tổ chức kinh tế , gia đình cùng nhà trườ ng có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”

Điều 59: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân Bậc Tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng Nhà nước có chính sách học phí , học bổng Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hoá

và học nghề phù hợp”

Định hướng phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước , Nghị quyết Tr ung ương 2 (khoá VIII) của Đảng ban hành vào tháng 12-1996, đã phân tích , đánh giá sâu sắc thực trạ ng giáo dục , đặc biệt phân tích nguyên nhân của những yếu kém của hệ thống giáo dục , đề ra các định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công

nghiệp hoá, hiện đại hoá Đề ra mục tiêu hoàn thành phổ cập giáo dục trung

học cơ sở vào năm 2010 và trung học phổ thông vào năm 2020 Phát triển

giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn , phấn đấu giảm chênh lệch về phát triển giáo dụ c giữa các vùng lãnh t hổ Tại thời điểm đó đã xác định mục tiêu đến năm 2000 là: phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước, phần lớn học sinh tiểu học được học đủ và tốt 9 môn theo chương trình quy định Thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy Phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm và những nơi có điều kiện

Trang 33

Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX), họp từ 04-7 đến 15-7-2002, đã đưa ra các kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), kiểm điểm việc thực h iện Nghị quyết Trung ương

2 (khoá VIII) về giáo dục đào tạo và phương hướng phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ đến năm 2005, và đến năm 2010 Hội nghị Trung ương 6 tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 Tiếp tục củng cố và phát huy kết quả phổ cập giáo dục tiểu học , đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa Tiếp tục xoá mù chữ , bổ túc trên tiểu học , giáo

dục cho người lớn Sau phổ cập trung học cơ sở tiến hành ngay phổ cập bậc

trung học theo Chỉ thị 61/CT-TW ngày 28/02/2000 của Bộ Chính trị

Quốc hội khoá X , kỳ họp thứ 8, họp từ ngày 14 tháng 11 đến ngày 9

tháng 12 năm 2000 đã thông qua Nghị quyết số 41/2000/QH10 về chủ trương

thực hiện PCGD THCS trong cả nước từ năm 2001 đến năm 2010 Nghị quyết

đã nêu rõ mục tiêu PCGD THCS giai đoạn 2001-2010 là phải bảo đảm cho hầu hết thanh niên , thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết tuổi 18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệ p hoá, hiện đại hoá đất nước Với tầm của một văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất , Nghị quyết đã quy định tr ách nhiệm của công dân, gia đình, tổ chức và Nhà nước đối với việc PCGD THCS

1 Đối với công dân trong độ tuổi 11 đến 18 tuổi, có quyền, đồng thời

có nghĩa vụ học tập theo những chương trình bậc học trung học cơ sở mà Nhà nước đã ban hành để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi tròn 18 tuổi

2 Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ PCGD THCS

3 Nhà nước có chính sách bảo đảm các điều kiện về giáo viên , trường lớp, sách giáo khoa, trang thiết bị và tài chính để PCGD THCS ; tiếp tục thực

Trang 34

hiện thu học phí ở trung học cơ sở , đồng thời miễn, giảm học phí cho các đối tượng nghèo, đối tượng được hưởng chính sách xã hội ; cấp sách giáo khoa , học phẩm cho đối tượng có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn

4 Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân đóng góp công sức

và vật chất cho việc PCGD THCS

5 Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận c ó trách nhiệm động viên toàn dân tích cực thực hiện và giám sát việc PCGD THCS

Tại Nghị quyết này, Quốc hội cũng giao trách nhiệm chỉ đạo thực hiện , tổ chức triển khai PCGD THCS cho Chính phủ; và trách nhiệm giám sát việc triển khai thực hiện PCGD THCS cho các ban chức năng , các đại biểu của Quốc Hội và hội đồng nhân dân các cấp

Nghị định số 88/2001/NĐ-CP ngày 22/11/2001 của Chính phủ về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã khẳng định lại mục tiêu , các loại chương trình, phương thức giáo dục cụ thể áp dụng cho PCGD THCS ; quy định trách nhiệm c ủa trường trung học cơ sở , Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm kỹ thuật - hướng nghiệp và các cơ sở giáo dục khác của hệ thống quốc dân trong việc thực hiện PCGD THCS ; trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước, của UBND các cấp

Đến kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khoá X, họp từ ngày 20-11 đến

25-12-2001, chủ trương thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã được đưa vào Hiến pháp Quốc hội đã ra Nghị quyết sửa đổi một số điều của Hiến pháp

1992, trong đó có 3 điều liên quan đến giáo dục, Cụ thể:

Điều 35: “Phát triển giáo dục là q uốc sách hàng đầu Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách , phẩm chất và năng lực của công dân ; đào tạo những người lao động có nghề , năng

Trang 35

động và sáng tạo , có niềm tự hào dân tộc , có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh , đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xâ y dựng

và bảo vệ Tổ quốc”

Điều 36: “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu , chương trình , nội dung, kế hoạch giáo dục , tiêu chuẩn giáo viên , quy chế thi cử và hệ thống văn bằng Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục gồm giáo dục mầm non , giáo dục phổ thông , giáo dục nghề nghiệp ,

giáo dục đại học và sau đại học; thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở;

phát triển các hình thức trường quốc lập , dân lập và các hình thức giáo dục khác Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục , khuyến khích các nguồn đầu

tư khác Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn Các đoàn thể nhân dân , trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh , các tổ chức xã hội , các tổ chức kinh tế , gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”

Điều 59: “Học tập là qu yền và nghĩa vụ của công dân Bậc Tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng Nhà nước có chính sách học phí , học cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp”

Luật Giáo dục 2005 , Điều 11 quy định:

1 Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là c ác cấp học phổ cập Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục , bảo đảm các điều kiện

để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước

2 Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập

3 Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập

Trang 36

Cũng tại Luật Giáo dục 2005:

Điều 26, khoản 1, điểm b , quy đị nh: Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học , từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi;

Điều 27, khoản 3: Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố

và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Điều 28 Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông

1 Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông , cơ bản , toàn diện , hướng nghiệp và có hệ thống ; gắn với thực tiễn cuộc sống , phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh , đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học

"Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố , phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc ; kiến thức về khoa học xã hội , khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết , tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp"

2 Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học , khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác động đến tình cảm , đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Điều 45 Yêu cầu về chương trình , nội dung , phương pháp giáo dục thường xuyên, khoản 2 quy định các hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Vừa học vừa làm;

Trang 37

b) Học từ xa;

c) Tự học có hướng dẫn;

Và: "Phương pháp giáo dục thường x uyên phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học , coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, sử dụng phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học"

* Tóm lại: PCGD THCS là công việc cấp bách, cần thiết, nhưng để thực hiện tốt giáo dục THCS, trước hết phải làm sao để mọi người phải nắm và hiểu được Luật Giáo dục là điều tiên quyết Đồng thời cần nhận thức đúng vị trí, tính chất, nhiệm vụ của cấp THCS và nhận thức rõ ràng rằng : “Những gì không làm tốt ở cấp THCS thì sau này khó có thể bù đắp được” Muốn vậy cần phải coi giáo dục THCS là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội

Có như vậy chúng ta mới ưu tiên tạo điều kiện để đầu tư cho THCS hoàn thành

và duy trì bền vững kết quả PCGD THCS , tạo cơ sở vững chắc cho việc thực hiện PCGD ở các bậc học cao hơn, từng bước “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, tiến tới xây dựng nước ta thực sự trở thành một đất nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

1.3 Những vấn đề cơ bản trong công tác duy trì bền vững kết quả PCGD nói chung và PCGD THCS nói riêng

1.3.1 Phổ cập giáo dục THCS

- Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục THCS nhằm hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản để trẻ tiếp tục học lên trung học hoặc đi vào cuộc sống lao động Để được công nhận đạt trình độ học vấn bậcTHCS (có bằng TN THCS) học sinh phải đạt các yêu cầu sau:

+ Có lòng nhân ái m ang bản sắc con người Việt N am: Yêu quê hương, đất nước, hoà bình và công bằng bác ái , kính trên nhường dưới , đoàn kết và

Trang 38

sẵn sàng hợp tác với mọi người ; Có ý thức về bổn phận của mình đối với người thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng và môi trường sống; Tôn trọng

và thực hiện pháp luật và các qui định ở nhà trường , khu dân cư nơi công cộng; sống hồn nhiên, mạnh dạn tự tin, trung thực

+ Đảm bảo mục tiêu : Hầu hết thanh niên, thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết tuổi 18, đáp ứng yêu cầu “Nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài ” phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

+ Đảm bảo các tiêu chí quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Nội dung trọng tâm của công tác PCGD THCS là: Huy động tối đa học sinh tốt nghiệp tiểu học (100%) vào học lớp 6, duy trì, chống lưu ban,

bỏ học ở cấp THCS; mở rộng các loại hình trường lớp như lớp bổ túc phổ cập giáo dục THCS đối với đối tượng học sinh không có điều kiện tiếp tục đến trường học cấp THCS

- Tiêu chuẩn PCGD THCS của xã, thị trấn phải đạt được:

* Tiêu chuẩn 1:

Đơn vị đạt và duy trì được chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ Huy động số trẻ em 6 tuổi đi học lớp 1 đạt tỷ lệ từ 90% trở lên ; có ít nhất 80% số trẻ em ở độ tuổi 11 đến 14 tốt nghiệp tiểu học, số trẻ em còn lại trong độ tuổi này đang học tiểu học ; Đối với vùng

có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn huy động số trẻ em

6 tuổi đi học lớp 1 đạt tỷ lệ từ 80% trở lên và có ít nhất 70% số trẻ em ở độ tuổi 11 đến 14 tốt nghiệp tiểu học , số trẻ em còn lại trong độ tuổi này đang học tiểu học;

Huy động 95% trở lên học sinh tốt nghiệp tiểu học hàng năm vào học lớp 6 trung học cơ sở ; ở những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn từ 80% trở lên

Trang 39

Các cơ sở giáo dục bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện dạy

đủ các môn học của chương trình phổ cập giáo dục THCS

* Tiêu chuẩn 2:

Hằng năm, bảo đảm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở từ 90% trở lên ; ở những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn từ 75% trở lên

Bảo đảm tỷ lệ thanh , thiếu niên trong độ tuổi 15 đến 18 tốt nghiệp THCS hoặc bổ túc THCS từ 80% trở lên; ở những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn từ 70% trở lên

1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả PCGD THCS

- Chủ trương, chính sách: Cần có các chủ trương, chính sách đúng

đắn, đi vào lòng dân, làm cho người dân nhận thức được rằng: phổ cập GD THCS sẽ đem lại lợi ích to lớn cho chính họ

- Công tác tuyên truyền vận động, huy động: Đây là một trong những

công tác trọng tâm, làm nồng cốt cho việc nâng cao chất lượng, quyết định

sự thành công của việc PCGD THCS

- Chế tài: Chế tài góp phần thành công cho công tác PCGD THCS, vì

vậy phải xây dựng bộ chế tài hợp lí để áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

- Điều kiện kinh tế của địa phương, cơ sở vật chất phục cho công

tác: Điều kiện kinh tế của địa phương và cơ sở vật chất là yếu tố ảnh

hưởng rất lớn đến công tác PCGD THCS Địa phương nào có kinh tế phát triển, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học đảm bảo thì địa phương đó

sẽ làm tốt công tác PCGD THCS

- Công tác quản lý, vai trò của lãnh đạo các cấp: Khi công tác quản

lí được tổ chức, thực hiện nghiêm túc, khoa học; vai trò của lãnh đạo được phát huy thì công tác PCGD THCS sẽ thành công

Trang 40

- Tính thống nhất của PCGD THCS được quy đ ịnh thành những chuẩn mực (tiêu chí) về số lượng, chất lượng học tập của trẻ trong một độ tuổi nhất định Thời gian học tập và chất lượng phát triển các mặt nhân cách của học sinh THCS ở nước ta đươc qui định thống nhất về độ tuổi (ở độ 18 tuổi ít nhất phải đạt 80% tốt nghiệp THCS) Về chương trình của bậc học cũng đ ược thống nhất chung trên toàn quốc Việc công nhận đạt trình độ học vấn THCS (có bằng THCS) phải qua các kỳ thi TN THCS mang tính chất quốc gia theo qui chế hiện hành của Bộ GD&ĐT

- PCGD luôn mang tính chất triệt để là PCGD cho toàn bộ trẻ em Thực hiện PCGD THCS không nên bằng lòng hoặc dừng lại ở tỷ lệ phần trăm đạt được theo quy định Công tác PCGD THCS khó khăn , vất vả, triền miên và bất tận không bao giờ dừng được khi chưa đạt tối đa , việc không ngừng nâng cao tỷ lệ các tiêu chuẩn PCGD THCS là yêu cầu bức thiết , là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp quản lý xã hội , nhằm làm cho PCGD THCS luôn mang tính nhân đạo cao cả và tính vững chắc Tính triệt để cần thể hi ện triệt

để cho các bậc học PCGD THCS tạo cơ sở cho tiến tới PCGD các bậc học cao hơn Do đó, phải đảm bảo đặc trưng cơ bản của THCS đó là: Cấp THCS

là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân , nhằm chuẩn bị cơ sở ban đầu thật vững chắc của học vấn phổ thông cho mọi người lao động

Ngày đăng: 25/03/2021, 08:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w