Các báo cáo tổng kết của các phòng, ban thuộc huyện Phổ Yên đưa ra một số giải pháp, phương hướng để tối ưu hoá vốn đất nông nghiệp của Huyện, tận dụng hết vốn đất hiện có cho phát triển
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố ở bất cứ công trình khoa học nào
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thu Hồi
Xác nhận Xác nhận
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo
trong tổ Lịch sử Việt Nam, khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo hướng dẫn khoa học: Giáo sư – Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Cơ đã chỉ bảo tận tình, ân cần, động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Huyện ủy, UBND huyện Phổ Yên cùng toàn thể các ban ngành, đoàn thể trong huyện đã cung cấp các tư liệu để tác giả hoàn thành luận văn Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2014
Hoàng Thị Thu Hồi
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu viết tắt iv
Danh mục các bảng v
ơ MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục nội dung luận văn 6
Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHỔ YÊN 7
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện địa lý tự nhiên 7
1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 13
1.2.1 Về kinh tế 13
1.2.2 Về xã hội 16
1.3 Khái quát tình hình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên trước năm 1997 23
Chương 2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN PHỔ YÊN GIAI ĐOẠN 1997-2012 30
2.1 Một số vấn đề lý luận về đất nông nghiệp, tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 30
2.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp 30
2.1.2 Vấn đề sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp 33
2.1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 36 2.2 Tình hình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên giai đoạn
Trang 62.2.1 Tình hình chung 44
2.2.2 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên 53
2.2.3 Tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên hiện nay 62
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997-2012 72
3.1 Một số nhận xét về đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên 72
3.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Phổ Yên có sự khác nhau giữa các vùng 72
3.1.2 Cơ cấu cây trồng trên đất nông nghiệp có sự thay đổi theo hướng sản xuất hàng hoá 76
3.1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên đã tạo tiềm năng cho thâm canh tăng vụ và chuyển dịch cơ cấu cây trồng 80
3.2 Nhận xét về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên giai đoạn 1997-2012 81
3.2.1 Hiệu quả kinh tế 82
3.2.2 Hiệu quả xã hội 86
3.2.3 Hiệu quả môi trường 88
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Số lượng và cơ cấu dân số Phổ Yên năm 2008 17
Bảng 1.2: Diện tích, Dân số, Mật độ dân số năm 2012 phân theo xã 18
Bảng 1.3: Đặc điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên năm 1997 26
Bảng 2.1: Tài nguyên đất Việt Nam và những biến động về dân số 39
Bảng 2.2: Biến động đất nông nghiệp của cả nước (Đơn vị: ha) 40
Bảng 2.3 Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam 42
Bảng 2.4.Biễn động quỹ đất chưa sử dụng ở Việt Nam 1994-2001 43
Bảng 2.5: Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối núi đá huyện Phổ Yên so sánh với các huyện khác trong tỉnh Thái Nguyên 45
Bảng 2.6: Diên tích đất sản xuất nông nghiệp huyện Phổ Yên so với các huyện thị trong tỉnh qua các năm 47
Bảng 2.7: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Phổ yên 1997-2005 51
Bảng 2.8: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Phổ yên 2006-2012 52
Bảng 2.9: Tổng diện tích cây ăn quả qua các năm (Đơn vị: ha) 60
Bảng 2.10: Diện tích và sản lượng chè huyện Phổ Yên qua các năm 61
Bảng 2.11: Diện tích đất ở của huyện Phổ Yên qua các năm 63
Bảng 2.12: Nhu cầu sử dụng gạch đất nung của huyện Phổ Yên qua các năm và trong những năm tới 69
Bảng 2.13: Phân tích nguyên nhân tăng giảm diện tích đất nông nghiệp huyện Phổ Yên qua số liệu thống kê từ năm 1997-2000 70
Bảng 3.1: Hiệu quả kinh tế của mô hình 1 73
Bảng 3.2: Hiệu quả kinh tế của mô hình 2 74
Bảng 3.3: Hiệu quả kinh tế của mô hình 3 74
Bảng 3.4: Diện tích các loại cây trồng ở huyện Phổ Yên qua các năm 77
Bảng 3.5: Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt 78
Bảng 3.6: Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây màu 79
Bảng 3.7: Diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm 80
Trang 9Vấn đề ruộng đất là nội dung cơ bản trong chính sánh “Liên minh công nông” của Đảng của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta Ngay trong “Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt” Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đã nêu rõ đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Vấn đề ruộng đất cho nhân dân được Hồ Chí Minh rất coi trọng Người đặt nó song hành cùng nhiệm vụ dân tộc, phải có ruộng đất thì nhân dân ta mới mở mang được nông nghiệp, công nghiệp tạo
cơ sở vật chất để đánh thắng kẻ thù giải phóng dân tộc
Đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam đất nông nghiệp giữ một vai trò rất lớn, nó là nguồn tư liệu sản xuất quan trọng nhất bảo đảm cho ngành nông nghiệp phát triển ổn định, bền vững, và đảm bảo đời sống đầy đủ ấm no cho nhân dân Dưới thời phong kiến các triều đại đã liên tục đưa ra các chính sách khai hoang mở rộng đất đai khắc phục tình trạng kiêm tinh chiếm đoạt ruộng đất của địa chủ quan lại Tuy vậy,
do tình trạng chiếm đoạt của địa, chủ quan lại đã vượt ra tầm kiểm soát của các nhà nước phong kiến nên mới có cảnh nông dân nghèo phiêu tán khắp nơi, không có đất đai cày cấy, đời sống nhân dân không được đảm bảo, ruộng đất hoang hoá khắp nơi…
Sang thời kì đấu tranh chống Pháp giải phóng dân tộc Đảng ta đã chỉ rõ một trong những nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là “ruộng đất cho dân cày”, có ruộng đất thì nhân dân mới có đất đai cày cấy đảm bảo đời sống và như vậy cách mạng Việt Nam mới thực sự thành công
Trang 10Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân
ta, dưới ánh sáng của đường lối “trường kì kháng chiến”, “dựa vào sức mình là chính” đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, Đảng ta luôn chú trọng vấn đề phát triển sản xuất nông nghiệp vừa đảm bảo lương thực để nuôi quân vừa tạo cơ sở nền tảng cho nền kinh tế Việt Nam phát triển Cũng nhờ đó nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đánh bại hai tên đế quốc sừng sỏ của thế giới giải phóng dân tộc đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, kinh tế nông nghiệp vẫn được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư và phát triển, nông nghiệp được coi là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế Việt Nam Vì vậy Đảng ta đã nhanh chóng đưa ra các chương trình đầu tư cho nông nghiệp điển hình là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Do đó, vai trò của đất đai trong sản xuất nông nghiệp càng được nâng lên một bậc
Đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sản xuất nông nghiệp Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất – văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Ngay từ xa xưa ông cha ta đã khẳng định:
Hơn nữa, do vị trí địa kinh tế thuận lợi, là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên nói riêng của cả vùng trung du với thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng sông
Trang 11Hồng, cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại thuận lợi với các hệ thống đường liên tỉnh, liên huyện đi qua và không ngừng được nâng cấp Do đó, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước, Phổ Yên là huyện có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các khu công nghiệp, khu đô thị mới không ngừng được hình thành và mở rộng Điều đáng nói là các khu công nghiệp hầu hết được hình thành trên nền đất nông nghiệp, trong khi đất được lấy bị bỏ hoang vì chưa thể lấp đầy thì cùng với đó có biết bao người nông dân bị rơi vào cảnh thiếu đất sản xuất Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, các
dự án phát triển đến đâu hộ nông dân mất đất đến đó, không còn đất làm ruộng phần lớn hộ nông dân không có trình độ phải lên thành phố bỏ làng đi kiếm sống điều này làm gia tăng dân số và tệ nạn xã hội ở các đô thị và tràn về cả vùng nông thôn
Trước tình trạng đó cần có sự nghiên cứu để thấy rõ thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang các mục đích khác, sự chuyển đổi đó có ảnh hưởng và tác động như thế nào đối với tình hình kinh tế, xã hội của huyện, đến việc đảm bảo nhu cầu lương thực cho đời sống nhân dân…Không những vậy trên cơ sở nghiên cứu cụ thể có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá cụ thể và đặc biệt là đưa ra được những biện pháp để hạn chế vấn đề thu hẹp đất nông nghiệp của huyện hiện nay và đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đất nông nghiệp hiện có, đồng thời có những biện pháp khai phá mở rộng them diện tích đất nông nghiệp Mặt khác, cần nghiên cứu về các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp hiện có trên địa bàn huyện Phổ Yên để có các biện pháp thâm canh tăng vụ phù hợp với điều kiện địa lý tự nhiên của địa phương
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi xin chọn vấn đề “Tình
hình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh Tháí Nguyên giai đoạn (1997-2012)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam đất đai luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là quỹ đất phục vụ cho nông nghiệp Do đó, vấn đề khai thác, sử dụng đất nông nghiệp trong cả nước luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ nhanh như hiện nay Đặc biệt, với các huyện, tỉnh nằm ở trung du và miền núi như huyện Phổ Yên vấn đề khai thác sử dụng hợp lý quỹ đất nông nghiệp hiện có lại càng được chú ý đến Hiện nay, đã có một số công
Trang 12trình nghiên cứu thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau đề xuất phương hướng giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện như:
Luận văn thạc sĩ của Lê Thanh Minh, Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá huyện Phổ Yên
Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND Thái Nguyên (2009), Địa chí Thái Nguyên, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Các tài liệu trên đã khái quát những nét chung nhất về tình hình nông nghiệp
và đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên, về những điều kiện thuận lợi, khó khăn của huyện trong khai thác và sử dụng đất nông nghiệp Các báo cáo tổng kết của các phòng, ban thuộc huyện Phổ Yên đưa ra một số giải pháp, phương hướng để tối ưu hoá vốn đất nông nghiệp của Huyện, tận dụng hết vốn đất hiện có cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng các loại rau màu vì đất nông nghiệp của huyện rất phù hợp
để phát triển cây ngắn ngày mang lại hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu của huyện và cung ứng cho các huyện khác trong tỉnh và đưa về miền suôi
Cũng có công trình nghiên cứu đã mô tả được tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ngày nay Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào làm rõ và đầy đủ về thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên, đặc biệt là quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghịêp đang diễn ra phổ biến trên địa bàn huyện, một nguyên nhân khiến quỹ đất nông nghiệp hiện có của huyện bị thu hẹp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên một cách hệ thống và khoa học Cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu quỹ đất chưa sử dụng trên địa bàn huyện để đưa ra những giải pháp khai thác sử dụng quỹ đất này cho sản xuất nông nghiệp
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tác giả luận văn muốn được góp phần cùng với các nhà nghiên cứu làm rõ hiện trạng khái thác và sử dụng đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên dưới góc nhìn của một người học sử Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét sắc đáng, những kết luận khoa học có căn cứ thực tế tạo điều kiện cho các nhà quy hoạch, hoạch định chính sách có thể đưa ra những giải pháp hợp lý không ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của huyện, đời sống của quần chúng nhân dân khi triển khai các dự án cần sử dụng đất nông nghiệp làm mặt bằng xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp hay nâng cấp cơ sở hạ tầng của huyện
Trang 133 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tình hình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2012
đề sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu về tình hình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên
Phác họa rõ nét hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên Trên cơ
sở đó giúp các nhà hoạch định đưa ra những giải pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện, và làm rõ hơn tầm quan trọng của kinh tế nông nghiệp và mối quan hệ giữa việc sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp và phát triển kinh tế tổng thể ở huyện Phổ Yên trong xu thế công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay
Làm rõ thực trạng thu hẹp quỹ đất nông nghiệp của huyện và quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, từ đó giúp các nhà quản lý đánh giá đúng hệ quả và đưa ra hướng giải quyết hợp lý cho vấn đề này
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi khai thác triệt để nguồn tư liệu lịch
sử liên quan đến vấn đề đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên: Các văn kiện của Đảng
bộ huyện trong thời kì từ năm 1997-2012; các bảng thống kê về tình hình sử dụng đất nông nghiệp của phòng thống kê, phòng nông nghiệp và phòng tài nguyên môi trường huyện Phổ Yên và của tỉnh Thái Nguyên
Một số tác phẩm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin và các lãnh tụ của Nhà nước ta đề cập đến vấn đề ruộng đất, các văn kiện của Đảng làm cơ sở lý
Trang 14Các công trình nghiên cứu về tình hình phát triển kinh tế xã hội tại huyện Phổ Yên
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài cũng sử dụng phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh nhằm làm rõ sự thay đổi trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huỵên qua các thời điểm cũng như giữa địa bàn với các huyện khác trong tỉnh
Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp điền dã và phương pháp hệ thống hóa tư liệu
Do các nguồn tư liệu báo cáo, số liệu thống kê còn nhiều chỗ cần làm rõ Vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát thực địa tại một số nơi để sưu tầm, phát phiếu điều tra trong nhân dân mà các báo cáo, số liệu thống kê không phản ánh đầy đủ
5 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở các nguồn tư liệu, đề tài góp phần làm rõ những biến đổi về tình hình
sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên từ năm 1997-2012 trên các phương diện hình thức sử dụng, mục đích sử dụng, hiệu quả sử dụng, thực tế tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đang diễn ra trên địa bàn huyện Phổ Yên…
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên, đề tài đưa ra góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân huyện Phổ Yên một cách hợp lý - khoa học - bền vững Qua đó, mong muốn đóng góp thêm cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định đề ra được những chính sách phù hợp thúc đẩy nông nghiệp của huyện Phổ Yên phát triển phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của huyện
6 Bố cục nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được xây dựng thành
3 chương:
Chương 1 Khái quát về huyện Phổ Yên
Chương 2.Tình hình khai thác và sử dụng đất nộng nghiệp huyện Phổ Yên từ
năm 1997 đến năm 2012
Chương 3.Một số nhận xét về đặc điểm và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1997-2012
Trang 15Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHỔ YÊN
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện địa lý tự nhiên
Phổ Yên là huyện nằm phía Nam tỉnh Thái Nguyên, dưới thời Trần huyện Phổ Yên được gọi là huyện An Định (là 1 trong 11 huyện của trấn Thái Nguyên) Thời Lê
Sơ, Phổ An (Phổ Yên) là là một trong số bẩy huyện của phủ Phú Bình, thuộc thừa tuyên Ninh Sóc, huyện được chia làm 6 tổng gồm 24 xã, 1 trang (trang Tân Yên thuộc tổng Thống Thượng), 1 phường (phường Đại Hữu thuộc tổng Nhã Luật)
Dưới thời Pháp thuộc: Từ tháng 10/1890 đến tháng 9/1892, huyện Phổ Yên nằm trong phủ Phú Bình, thuộc tiểu Quân khu Thái Nguyên - Đạo quan binh Phả Lại
Từ tháng 10/1982, Phổ Yên là một huyện thuộc phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp bỏ đơn vị hành chính cấp phủ, Phổ Yên là một huyện thuộc Tỉnh Thái Nguyên gồm 6 tổng với 24 làng Năm
1918, Phổ Yên là một phủ (trong số 2 phủ, 3 huyện, 3 châu của tỉnh Thái Nguyên) gồm có 8 tổng với 36 làng
Sau cách mạng tháng 8/1945 theo Sắc lệnh số 148/SL ngày 25/3/1948 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phủ Phổ Yên được đổi thành huyện Phổ Yên Năm 1956, Khu tự trị Việt Bắc được thành lập, theo Sắc lệnh số 268/SL ngày 1/7/1956 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, huyện Phổ Yên tách khỏi tỉnh Thái Nguyên, để trở thành một huyện của tỉnh Vĩnh Phúc Ngày 15/6/1957, huyện Phổ Yên được nhập lại về tỉnh Thái Nguyên
Sau nhiều lần chia tách và sáp nhập các xã trong huyện với các huyện giáp gianh như Đồng Hỷ, Đại Từ, Thị xã Sông Công đến năm 2003 theo Theo quyết định
số 2869/QĐ-UB ngày 4/11/2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, huyện Phổ yên có 18 đơn vị hành chính gồm 15 xã (Thuận Thành, Trung Thành, Đông Cao, Tân Hương, Tiên Phong, Tân Phú, Đồng Tiến, Hồng Tiến, Nam Tiến, Đắc Sơn, Vạn Phái, Thành Công, Minh Đức, Phúc Thuận, Phúc Tân), 3 thị trấn ( Ba Hàng, Bắc Sơn, Bãi Bông) với 309 xóm và 18 tổ dân phố [41]
Phổ Yên là huyện trung du nằm ở phía Nam tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc); phía bắc, tây bắc giáp thành phố Thái Nguyên,
Trang 16huyện Đại Từ và thị xã Sông Công (tỉnh Thái Nguyên); phía đông và đông bắc giáp các huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang) và Phú Bình (Thái Nguyên) Trụ sở Huyện Phổ Yên đặt tại thị trấn Ba Hàng cách thành phố Thái Nguyên 26km về phía Nam và cách Thủ đô Hà Nội 56km về phía Bắc [17] Xưa nay Phổ Yên đều giữ vị trí cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và trung du miền núi phía Bắc nói chung, phên dậu quan trọng trong bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long xưa kia, nhất là trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Với vị trí địa lý như vậy, huyện Phổ Yên gần với trung tâm tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, thủ đô Hà Nội và gần các khu công nghiệp lớn như khu công nghiệp Sông Công (Thái Nguyên), các khu công nghiệp của Hà Nội nên có điều kiện giao lưu hàng hóa dễ dàng
và có khả năng phát triển kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp hóa và đô thị hóa Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, Phổ Yên càng thể hiện rõ tầm quan trọng của vị trí “cửa ngõ” phía Nam tỉnh Thái Nguyên Hàng loạt các dự án đầu tư trong và ngoài nước tập trung vào huyện làm cho bộ mặt huyện thay đổi nhanh chóng, kinh tế, xã hội phát triển mạnh, đời sống của người dân ngày càng nâng cao Tuy vậy, tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh đã gây ra những vấn đề bất cập trong quản lý sử dụng đất đai, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội trên địa bàn huyện
Với hai dải đất nằm dọc Sông Cầu, Sông Công nhiều làng ven sông trên bến dưới thuyền, Phổ Yên được coi là một trong những nơi có thắng cảnh đẹp từ ngàn xưa của
xứ Thái Nguyên, là cái nôi của nền văn hóa lâu đời trên đất Việt: Khu di tích lich sử
xã Tiên Phong , đền Lục Giáp (xã Đắc Sơn), đến Gía xã Đông Cao… được xây dựng với kiến trúc nghệ thuật độc đáo đã tạo nên vẻ đẹp thanh bình cho vùng quê lấy gieo trồng lúa nước làm cơ sở sinh tồn và phát triển
Từ ngày căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn – Võ Nhai ra đời, vùng quê này đã đi vào lịch sử như những “địa chỉ đỏ”, nơi nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che cho nhiều cán bộ cấp cao của Đảng trong những năm cách mạng còn trong bóng tối đầy gian nan thách thức, là nơi được Đảng và Chính phủ trọn để xây dựng ATK II trong giai đoạn 1941-
1945 Qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, nhiều tên đất, tên làng đã trở thành di tích cách mạng, được nhà nước công nhận như điểm di tích tại nhà bà Lưu Thị Phận, ông Ngô Hải Long, cụm di tích xã Tiên Phong…
Trang 17Huyện Phổ Yên có tổng diện tích đất tự nhiên 25187,27 ha trong đó đất nông nghiệp là 10647,61 ha, đất lâm nghiệp 1283,02 ha, đất thổ cư 4429,9 ha, đất khác 5451,95 ha [18] Địa hình Phổ Yên thấp dần về phía nam và đông nam, vùng tây và tây bắc huyện là vùng đồi núi, xen kẽ với những dải ruộng hẹp, thích hợp việc trồng cây công nghiệp và phát triển chăn nuôi Phía nam huyện là vùng đồng bằng được tạo lập bởi sự bồi đắp lâu đời của hai con sông là sông Cầu và sông Công, ở đây thuận lợi cho việc trồng lúa nước
Trên địa bàn huyện Phổ yên có 10 loại đất chính cụ thể là:
Một, đất phù sa được bồi, có diện tích là 2.348ha, phân bố chủ yếu ven hai hệ thống sông Cầu và sông Công, thuộc các xã Minh Đức, Đắc Sơn, Thành Công, Nam Tiến, Vạn Phái, Tiên Phong, Tân Phú, Thuận Thành, Trung Thành
Hai, đất phù sa không được bồi, có diện tích 1.148ha, chủ yếu phân bố ở các
xã vùng thấp như Đông Cao, Tân Phú, Đồng Tiến, Thuận Thành, Trung Thành
Ba, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, diện tích chiếm 273ha phân bố ở hai
Bẩy, đất vàng nhạt trên đá cát, có diện tích 3.619ha, phân bố ở phía Tây sông Công, thuộc các xã Minh Đức, Thành Công, Vạn Phái
Tám, đất nâu vàng trên phù sa cổ, diện tích là 2.944ha, phân bố rải rác vùng đồi bát úp thuộc các xã Phúc Thuận, Đắc Sơn, Nam Tiến Loại đất này có độ dốc
Chín, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, diện tích 384ha, đất có tầng dày trên
Mười, đất dốc tụ, có diện tích 3.330ha, phân bố rải rác ở hầu hết các xã trong
Trang 18Trong 10 loại đất trên, các loại đất phù sa, bạc màu, dốc tụ và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa thường có độ dốc thấp, tầng đất dày >100cm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng nó chỉ chiếm 35% diện tích tự nhiên của toàn huyện Mặt khác trong những năm gần đây, loại đất này chuyển sang đất sản xuất cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị…rất lớn làm giảm nhanh chóng diện tích đất nông nghiệp của toàn huyện Điều này, buộc ngành nông nghiệp Phổ Yên phải chuyển hướng theo đầu tư chiều sâu, sản xuất sản phẩm hàng hoá chất lượng cao Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù sa cổ có
vốn đất mà trong quy hoạch cần lưu ý bố trí cây trồng và áp dụng các công nghệ sử dụng đất dốc để hạn chế xói mòn, rửa trôi
Như vậy, căn cứ vào các chỉ tiêu về loại đất, tầng dày và độ dốc của đất toàn
hợp cho sản xuất lâm nghiệp.Trên 50% diện tích đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên là đất bạc màu, đất vàng nhạt trên đá cát, độ phì kém
Khí hậu Phổ Yên mang đậm tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Độ ẩm trung bình các tháng từ 79% đến 98,3% Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 2000mm đến 2500mm [41] Nhìn chung khí hậu Phổ Yên tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm Tuy nhiên, do mưa tập trung vào mùa nóng, lượng mưa lớn, chế độ thuỷ văn không đều nên thường gây ngập úng lũ lụt đặc biệt là các xã dọc hai con sông lớn chảy qua địa bàn huyện là sông Công và sông cầu Sông Cầu xuôi xuống phía Đông và Đông Nam của huyện tạo gianh giới tự nhiên giữa huyện Phổ yên với huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang) Sông Công có dòng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tạo ra gianh giới như
2 phần thành 2 vùng rõ nét, tả ngạn gần như đồng bằng còn hữu ngạn có nhiều đồi núi Hai con sông này hợp lại tại ngã ba Vát (thôn Phù Lôi, Thuận Thành) Với lưu lượng nước lớn vào mùa mưa mang nhiều phù sa đem lại nguồn lợi tự nhiên cho huyện nhưng lịch sử cũng đã ghi nhận nhiều lần 2 con sông này đã đưa lũ về gây thiệt hại cho nhân dân trong vùng Mới đây là đợt lũ cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 2013 đã làm ngập úng toàn bộ lúa hè thu của các xã Thuận Thành, Trung Thành, Nam Tiến, Tiên Phong…
Trang 19Bên cạnh hai con sông lớn này hệ thống ao hồ trên địa bàn huyện cũng góp phần quan trọng trong sinh hoạt và cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, nguồn lợi để nuôi trồng thuỷ sản Phần lớn ao hồ nằm rải rác trong các xóm xã có mật
độ dân số lớn thường có độ sâu từ 1-2m Điển hình là trên địa bàn huyện có hồ Suối Lạnh nằm trên địa bàn xã Thành Công, đây là hồ nhân tạo lớn nhất của huyện Phổ Yên Hồ Suối Lạnh cũng là nơi cung cấp một lượng nước tưới tiêu cho nông nghhiệp tương đối lớn và hiện tại Hồ Suối Lạnh nằm trong dự án phát triển khu du lich Suối Lạnh của Huyện, tương lai sẽ là nơi thu hút khách du lịch lớn
Hai hệ thống sông Cầu và sông Công không chỉ thuận lợi cho tưới tiêu, cung cấp thuỷ sản cho nhân dân trong huyện mà còn là hệ thống giao thông đường thuỷ hết sức quan trọng Trong đó, cảng Đa Phúc trên sông Công là cảng sông lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên hiện nay Trong suốt chiều dài lịch sử sông Cầu không chỉ là biên giới tự nhiên bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long mà còn là tuyến đường huyết mạch giao lưu kinh tế nối đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi phía Bắc Hơn nữa dọc sông Cầu đoạn qua Phổ Yên còn có bến Đại Phùng (nay là chợ Chã) là trung tâm giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền lớn nhất trong khu vực, từ đây hàng hoá ngược lên Bến Thượng (Thái Nguyên) và xuôi đến tận Hải Phòng
Với vị trí cửa ngõ của tỉnh Thái Nguyên, bên cạnh những tuyến đường liên huyện, liên xã được xây dựng và phát triển trong quá trình xây dựng về kinh tế xã hội, huyện Phổ Yên còn có các tuyến đường quốc gia đi qua Đó là đường quốc lộ số
3 từ Hà Nội đi Cao Bằng Song song với đường bộ này là đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên Đặc biệt, là tuyến đường Quốc lộ 3 mới Hà Nội – Thái Nguyên đã chính thức đi vào hoạt động vào cuối năm 2013 Các tuyến đường quốc gia này cùng hệ thống đường liên huyện, liên xã đã trở thành mạng lưới giao thông thuận tiện cho phát triển kinh tế xã hội và việc đi lại của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế văn hoá của Phổ Yên ngày càng phát triển mạnh
Hiện nay, Phổ yên là một trong những trung tâm công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên và được Đảng Nhà nước hết sức quan tâm, hàng loạt các khu công nghiệp được xây dựng Ngoài các dự án công nghiệp như khu công nghiệp Nam Phổ yên,
Trang 20khu công nghiệp Tây Phổ yên…còn có nhiều dự án về các lĩnh vực du lịch, phát triển
đô thị: khu du lịch đồi Trinh Nữ, Khu du lịch Hồ Suối lạnh, khu đô thị mới Thái Thịnh…và nhiều dự án khác Điển hình là khu công nghiệp tổ hợp công nghệ cao của Tập đoàn Samsung được khởi công xây dựng vào tháng 3/2012 tại khu công nghiệp Yên Binh Do đó một loạt các tuyến đường giao thông quốc gia được xây dựng mới như Đường cao tốc Hà Nội-Thái Nguyên (hay còn gọi là Quốc lộ 3 mới), đường Phổ yên-Phú Bình.Tuyến đường Quốc lộ 3 cũ cũng đang được sửa chữa mở rộng tạo thuận lợi cho giao lưu đi lại
Nhìn chung, điều kiện địa lý tự nhiên của huyện Phổ Yên rất thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp Nó đã góp phần đưa huyện Phổ Yên trở th ành vựa thóc và cũng là nguồn cung cấp thực phẩm (trâu, bò, lợn, rau quả…) rất quan trọng cho thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp phía Nam của tỉnh Thái Nguyên Trong những năm tháng dựng nước giữ nước nơi đây đã trở thành vùng trung chuyển giữa miền xuôi với miền ngược là nơi thuận lợi cho việc “tiến, thoái, thủ”, hơn nữa lại có hệ thống giao thông thuỷ bộ phát triển càng thuận lợi cho cách mạng phát triển đi lên Vì vậy, ta có thể khẳng định:
“mảnh đất và con người Phổ yên đã không tách khỏi những sự kiện lịch sử quan trọng trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược, duy trì và bảo vệ nền độc lập của đất nước Qúa trình lịch sử đó cũng là quá trình tạo lập trong nhân dân Phổ yên truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất chống thù trong giặc ngoài” và cùng nhân dân cả nước làm nên nhiều thắng lợi lơn: kháng chiến chống quân Nam Hán, Cách mạng tháng 8/1945, Kháng chiến chống Pháp, Mỹ
Còn trong thời bình, cả nước đi lên Chủ nghã xã hội, thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa với vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi Phổ yên ngày càng khẳng định vai trò tầm quan trọng của mình trong sự phát triển của tỉnh, của vùng núi phía Bắc
và trong sự phát triển chung của cả nước
Tuy nhiên, với tốc độ phát triển kinh tế xã hội của huyện như hiện nay lại đặt
ra nhiều vấn đề cần giải quyết, điển hình là trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai,
do đó phương án quy hoạch và kế hoạch sử dụng phải lưu ý đặc thù này nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng đất hiệu quả đảm bảo về cảnh quan và môi trường sinh thái Đồng thời phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Trang 211.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Dưới thời Pháp thuộc, Phổ yên là vùng đất được thực dân Pháp rất coi trọng và đầu tư bởi nơi đây có tiềm lực lớn để phát triển các đồn điền trồng lúa và thầu dầu: đồn điền Chã, Thác Nhái, Sơn Cốt, Phúc Thuận…
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ nhân dân Phổ Yên đã vượt qua mất mùa, thiên tai, gắng sức bám đất sản xuất phục vụ cho kháng chiến, đầu năm
1954 nhân dân Phổ Yên đã đóng góp cho Nhà nước 630 tấn thóc đưa ra chiến trường nuôi bộ đội Năm 1967 là năm cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra trên địa bàn huyện Phổ Yên ác liệt nhất, nhưng quân và dân trong huyện vẫn giữ vững và phát triển sản xuất nông nghiệp Từ năm 1986 thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội đại biểu biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đề ra, Phổ Yên đã tập trung thực hiện “Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cải tổ cơ cấu kinh tế nông thôn” do đó kinh tế nông nghiệp của huyện phát triển mạnh cả về trồng trọt và chăn nuôi [41]
Đặc biệt, Phổ Yên là huyện có diện tích rau xanh lớn nhất trong các huyện, thành, thị của tỉnh Thái Nguyên Năm 2006 huyện có diện tích trồng rau xanh đạt
1375 ha, sản lượng đạt 17140 tấn (chiếm tỷ lệ 20,11% sản lượng rau xanh toàn tỉnh) Năm 2012 là 1627ha với sản lượng đạt 25264 tấn
Cùng với trồng lúa, các loại rau xanh nhân dân Phổ yên đã và đang đẩy mạnh phát triển kinh tế vườn, phát triển các loại cây công nghiệp: mía lạc, đậu tương, chè Năm 2006, toàn huyện trồng được 17ha mía, 733ha lạc, 689ha đậu tương, diện tích chè cùng tăng nhanh năm 1995 là hơn 400ha đến năm 2005 là 1008ha và đến năm
2012 tăng lên 1462ha Diện tích và sản lượng cây ăn quả cũng tăng nhanh qua các
Trang 22năm Ví dụ năm 1998 là 636ha với 1034 tấn đến năm 2006 là 1839ha với 2131 tấn, năm 2009 là 2.814ha với sản lượng đạt 3.559 tấn [6]
Điểm nổi bật là ngành chăn nuôi của huyện không ngừng phát triển được chú trọng đầu tư và có những bước nhảy vọt về cả quy mô và chất lượng Nếu như dưới thời Pháp thuộc ngành này phụ thuộc hoàn toàn vào trồng trọt kết hợp với trồng trọt trở thành một cơ cấu không thể tách rời Sau ngày đất nước độc lập, ngành chăn nuôi
đã được chú trọng Chăn nuôi gia súc, gia cầm của huyện tiếp tục được giữ vững và phát triển trong thời gian gần đây Trên địa bàn huyện đã có nhiều mô hình trang trại
hộ gia đình chăn nuôi lợn ngoại, bò sữa, gà thịt…Đây là những tiền đề quan trọng để chuyển dịch mạnh chăn nuôi của huyện theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường Năm 2009 đàn trâu bò trong toàn huyện có 25481 con (tăng 12729 con so với năm 1985); đàn lợn 101432 con (tăng 58757 con so với năm 1985) Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản năm 2009 toàn huyện có 828,48ha sản lượng thủy sản đạt
545 tấn (trong đó có 522 tấn cá) Kết thúc năm 2012, tổng đàn trâu của huyện có 13.520 con, đạt 92,5% kế hoạch, tăng 5,9% so với năm 2011; Tổng đàn bò là 10.071 con đạt 121% kế hoạch, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2011; Tổng đàn lợn 109.963 con, đạt 100% kế hoạch, tăng 6,2% so cùng kỳ; Tổng đàn gia cầm 994.000 con, đạt 95% kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ [8]
Đạt được những kết quả trên là do huyện Phổ Yên đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, tập huấn hướng dẫn nhân dân thực hiện gieo trồng đúng thời vụ, chăm sóc thâm canh theo quy trình kỹ thụât, chuẩn bị đủ vật tư, phân bón, giống phục vụ cho sản xuất, chi ngân sách huyện hỗ trợ tu sửa các trạm bơm, nạo vét kênh mương nội đồng, đảm bảo đủ nước tưới cho cây trồng, hỗ trợ giá cả giống lúa lai, ngô lai
và đầu tư xây dựng mô hình điểm về phát triển sản xuất Đặc biệt, hàng năm huyện tổ chức thành công “Lễ hội mừng xuân xuống đồng vì nông thôn mới tươi đẹp” và tết trồng cây mừng xuân để khuyến khích sản xuất trong nhân dân
Với nguồn tài nguyên đất lâm nghiệp lớn trong những năm gần đây huyện Phổ Yên đã đẩy mạnh trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, đưa tổng diện tích trồng rừng lên 7717ha (2012) Kinh tế nông thôn Phổ Yên có bước phát triển mới theo hướng đa dạng hoá ngành nghề, các làng nghề truyền thống đang được khôi phục phát triển như nghề mộc, mây tre đan…
Trang 23Thực hiện luật hợp tác xã, toàn bộ huyện đã chuyển đổi và thành lập được
43 hợp tác xã dịch vụ, góp phần phục vụ tốt sản xuất và đời sống của nhân dân Năm 2005 cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện: trồng trọt 63,49%, chăn nuôi 34,99% và dịch vụ là 1,52% Đến năm 2008 cơ cấu trong ngành nông nghiệp Phổ Yên đã có sự thay đổi mạnh: trồng trọt chiếm 56,4%, chăn nuôi chiếm 39,9% và dịch vụ chiếm 3,6% [3]
Trên cơ sở các ngành thủ công truyền thống: mây tre đan, đóng gạch ngói, làm chè, khai thác cát sỏi, làm đồ hàng mã…trong những năm qua ngành thủ công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp truyền thống của huyện có bước phát triển mới Bên cạnh những ngành thủ công củ đã xuất hiện một số ngành nghề mới du nhập và phát triển trên địa bàn huyện: làm đồ thủ công mỹ nghệ, đóng đồ gỗ, gò hàn xì…Đặc biệt, các nhà máy cơ khí như nhà máy cơ khí Phổ Yên đã cổ phần hoá, sản xuất đạt hiệu quả cao hơn Sản xuất gạch, ngói, cát, sỏi, đất nung, mây tre đan xuất khẩu không ngừng phát triển và từng bước thu lại kết quả cao đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của toàn huyện Đến năm 2005 toàn huyện đã quy hoạch 8 khu công nghịêp nhỏ, 3 khu đô thị mới và 2 khu du lịch sinh thái, thu hút 12 dự án đầu tư với tổng số vốn 600
tỷ đồng Trong đó, các công ty trách nhiệm hữu hạn Chế biến thực phẩm đồ uống Vĩnh Phúc, Dụng cụ y tế Mani, Nhà máy gạch Tuynel, Nhà máy giấy Trường Xuân, Công ty che Bắc Sơn đã hoàn thành đầu tư và đi vào sản xuất Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện đạt 300 tỷ đồng Trong
đó, giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp địa phương đạt 115 tỷ đồng tăng gấp 21,7 lần so với năm 1986, tạo ra bước chuyển biến tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp- dịch vụ
Kết thúc năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp tăng 15% so vơi cùng kỳ.một số sản phẩm chủ yếu đạt sản lượng khá như: Gạch Granit đạt 18,5 triệu
các loại đạt 161 nghìn lít, dụng cụ y tế đạt 86,4 triệu sản phẩm Trong năm 2012, huyện Phổ Yên đã được UBND Tỉnh công nhận 3 làng nghề truyền thống, nâng tổng số làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện lên 18 làng nghề, hiện nay huyện đã hoàn tất hồ sơ
đề nghị tỉnh công nhận thêm 7 làng nghề truyền thống trong năm 2013 [8]
Trang 24Không chỉ công – nông nghiệp phát triển mà hệ thống thương nghiệp của huyện Phổ Yên cũng khá phát triển Nếu như trước kia người đi buôn lấy công làm lãi, mua chỗ rẻ bán chỗ đắt Sự tồn tại và phát triển của hệ thống chợ làng họp theo phiên, một tháng họp 3-4 lần Các mặt hàng chính của chợ làng chủ yếu là nông sản
và sản phẩm thủ công nghiệp do chính người dân làm ra mang trao đổi Thì trong những năm gần đây nhờ sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại thuận lợi hơn nên trao đổi buôn bán trên địa bàn huỵên được đẩy mạnh,
đa dạng về hàng hoá, mẫu mã sản phẩm, đặc biệt chợ Ba Hàng (chợ Phổ Yên) đã trở thành chợ đầu mối lớn không chỉ của huyện Phổ Yên mà còn của tỉnh Thái Nguyên
về các mặt hàng nông sản, thực phẩm…
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của Phổ Yên được chuyển dịch tích cực theo hướng phát triển công nghiệp-dịch vụ Tỷ trọng kinh tế các ngành nông lâm nghiệp từ 64,01% (năm 2000) giảm xuống còn 49,55% (năm 2005); công nghiệp từ 20,69% (năm 2000) tăng lên 29,44% (năm 2005); dịch vụ tăng từ 15,3% (năm 2000) lên 21,02% (năm 2005) Đến năm 2012, cơ cấu kinh tế của huyện Phổ Yên đã có sự thay đổi mạnh công nghiệp-xây dựng chiếm 66,7%, dịch vụ 22%, nông – lâm thuỷ sản chiếm 11,3% Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong năm 2012 toàn huyện đạt 20,3%, GDP bình quân đấu người đạt 55 triệu đồng/người/năm; đời sống nhân dân được cải thiện, góp phần ổn định chính trị và an ninh xã hội trong vùng
1.2.2 Về xã hội
Dân cư huyện Phổ Yên do nhiều bộ phận hợp thành Bên cạnh một bộ phận lớn là dân bản địa định cư từ lâu đời là một bộ phận dân cư do bọn điền chủ người Pháp và người Việt mộ vào làm thuê cho chúng ở các đồn điền Một bộ phận khác là đồng bào ở các tỉnh vùng địch tạm chiếm lên tản cư kháng chiến, rồi ở lại định cư lâu dài và một bộ phận là đồng bào các địa phương khác tự do di cư đến địa bàn huyện sinh cơ, lập nghiệp Cụ thể, ngoài người Kinh chiếm 92,42% còn có người Sán Dìu chiếm 6,25%, người Tày chiếm 0,59%, người Dao và người Nùng đều chiếm 0,29%, người Mường chiếm 0,06%, còn lại 0,1% là người các dân tộc khác [41]
Trong suốt quá trình phát triển dân số của huyện Phổ Yên không ngừng tăng lên qua các năm và theo từng thời kì ví như năm 1932 toàn huyện có 14.183 người đến năm 2006 tăng lên 139.961 người, với 34.990 hộ gia đình (bình quân 4,35
Trang 25người/hộ), dân số thành thị chiếm 9,35%, dân số nông thôn chiếm 90,47% Mật độ
bàn huyện Dân cư tập trung khá đông ở các thị trấn và ở những nơi thuận lợi giao
) [19] Tốc độ tăng dân số bình quân trong 3 năm 2004-2006 là 1,82% mỗi năm bình quân tăng 1.350 người Như vậy, vấn đề việc làm và đất ở cần được lưu ý trong phương
án quy hoạch của toàn huyện Tính đến năm 2008, toàn huyện có 91.230 lao động trong
độ tuổi (chiếm 66% tổng dân số toàn huyện), trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 86.000 người, tập trung trong ngành nông lâm nghiệp là chủ yếu chiếm 86% Đến năm 2012 dân số Phổ Yên đã tăng lên 140.492 người với mật độ dân số 543
nhưng dân số của
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Phổ yên)
Trang 26Bảng 1.2: Diện tích, Dân số, Mật độ dân số năm 2012 phân theo xã
TT Địa phương Diện tích
(Km 2 )
Số thôn,
ấp, bản số hộ Tổng
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km 2
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phổ Yên năm 2013)
Trước tình hình phát triển của dân số và lao động như trên trong những năm qua, huyện Phổ Yên đã không ngừng chú ý và giải quyết việc làm bằng nhiều hình thức khác nhau: tăng cường đào tạo đội ngũ lao động có trình độ đáp ứng nhu cầu thị trường, đẩy mạnh phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp tạo việc làm góp phần giải quyết 4.500 – 5000 việc làm/năm, năm 2012 huyện đã giải quyết việc làm mới cho 5.827 lao động; GDP đầu người tăng từ 24,6 triệu đồng năm 2010 lên đến 55
triệu đồng năm 2012
Trang 27Cùng với sự phát triển chung của cả nước và toàn tỉnh Thái Nguyên, đời sống của nhân dân huyện Phổ Yên ngày càng được cải thiện Tuy nhiên mức thu nhập ở các ngành kinh tế rất khác nhau Những người hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ thường có thu nhập cao hơn (công nghiệp có thu nhập từ 1-1,4 triệu đồng/người/tháng, dịch vụ từ 0,7-1,0 triệu đồng/người/tháng) Trong khi đó thu nhập của lao động trong ngành nông nghiệp thấp hơn nhiều chỉ khoảng 280-300 ngàn đồng/người/tháng
Về giáo dục, ngay từ thời phong kiến Phổ Yên đã là một vùng đất giàu truyền thống hiếu học với rất nhiều người đỗ đạt cao: tiến sĩ Nguyễn Cấu đỗ Tiến sĩ năm Quý Mùi (1463), Đỗ Cận đỗ tiến sĩ năm Mậu Tuất (1478) dưới thời vua Lê Thánh Tông Cả 2 vị đều được nhà Lê Sơ trọng dụng và được giữ những trọng trách quan trọng của triều đình Ngoài ra còn nhiều nhân tài khác đã đỗ cử nhân: Phạm Quang Vinh, Trần Mậu Khải và Phạm Xuân Sắc đỗ tú tài [17]
Dưới thời Pháp thuộc do chúng thực hiện chính sách ngu dân, nên chỉ mở ở Phổ Yên 1 trường tiểu học thu hút khoảng 100 người chủ yếu là con em của bon quan lại, địa chủ phong kiến và những gia đình giàu có vào học Hầu hết con em nhân dân
và người lao động Phổ Yên mù chữ Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, nhờ đẩy mạnh phong trào diệt dốt, đến năm 1949, toàn huyện đã thanh toán xong nạn mù chữ Hơn 10 năm sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc, cuối năm 1965 Phổ Yên đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giáo dục phổ thông từ cấp I đến cấp III với 8.976 học sinh Bình quân cứ 10 người dân có 2 người được đi học phổ thông Sau năm 1986 tình hình giáo dục của toàn huyện có nhiều biến chuyển tích cực đến năm 2006, huyện Phổ Yên có 23 trường mẫu giáo với 240 giáo viên và 4.600 học sinh; 48 trường phổ thông (28 trường tiểu học, 17 trường trung học cơ sở và 3 trường trung học phổ thông) với 1284 giáo viên và 25.927 học sinh các cấp
Năm 2012 Huyện uỷ Phổ Yên đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/HU về phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cả giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 và giáo dục trung học Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được đẩy mạnh, trên toàn huyện
đã có 65/70 trường đạt chuẩn chiếm 95%
Trang 28Hệ thống các trường cao đẳng, trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và giáo dục thường xuyên, các cơ sở liên kết phối hợp đào tạo nghề nghiệp tiếp tục hoàn thiện đổi mới cả về nội dung, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo, cơ bản đáp ứng nhu cầu tạo nguồn nhân lực cho huyện Điển hình là trường Cao đẳng công nghệ và kinh tế công nghiệp đã đẩy mạnh công tác đào tạo cho hơn 5.200 học viên/năm; Trung tâm dạy nghề Nam Thái Nguyên đã đào tạo nghề cho 4.700 lao động, đưa tổng số lao động qua đào tạo nghề toàn huyện chiếm 20% nguồn lao động của địa phương [9]
Cùng với giáo dục y tế huyện Phổ Yên đã có nhiều chuyển biến tích cực Nếu như dưới thời Pháp thuộc, toàn huyện chỉ có một y tá chữa bệnh cho quan lại và binh lính, người dân Phổ Yên ốm đau bệnh tật chỉ biết cúng bái hoặc trông chờ vào sự may rủi của số phận Trong kháng chiến chống Pháp công tác y tế, chăm lo sức khoẻ nhân dân đã được các cấp bộ đảng, chính quyền trong huyện chăm lo phát triển Năm
1953, toàn huyện có trên 100 cán bộ y tế, mỗi xã có một tủ thuốc Năm 1955, huyện Phổ Yên đã tiêu diệt được bệnh sốt rét Từ khi hoà bình lập lại (tháng 7/1954) đến năm 1960, huyện Phổ Yên xây dựng được một trung tâm khám chữa bệnh cấp huyện
và 16 trạm xá ở các xã Năm 1965 trung tâm khám chữa bệnh cấp huyện được nâng cấp thành bệnh viện huyện Trong những năm kháng chiến chống Mỹ (1965-1975), ngành y tế huyện Phổ yên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân, cứu chữa người bị thương do máy bay Mỹ đánh phá và khám tuyển quân xây dựng lực lượng vũ trang chi viện cho chiến trường [41]
Trong những năm gần đây hệ thống khám chữa bệnh cho cán bộ nhân dân từ huyện xuống cơ sở được các cấp quan tâm đầu tư cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán
bộ y tế Năm 2006, huyện Phổ Yên có 21 cơ sở y tế với 155 giường bệnh, 141 cán bộ
y tế…Hệ thống y tế Phổ Yên mỗi năm khám chữa bệnh cho khoảng 40.000 lượt người Năm 2012, huyện Phổ Yên đạt 100% trạm y tế xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia
về Y tế Tổ chức khám chữa bệnh cho 62.611 lượt người, đạt 104,3%; điều trị nội trú được 7.085 lượt người so với kế hoạch đạt 151% Sang năm 2012, công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình được triển khai có hiệu quả giảm tỷ lệ sinh Đồng thời huyện cũng đẩy mạnh tăng cường quản lý nhà nước về hành nghề y-dược và vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm tra các quầy thuốc, các bếp ăn…phát hiện 12 cơ sở vi phạm, xử phạt thu
Trang 29nộp vào ngân sách nhà nước gần 40 triệu đồng Nhìn chung cơ sở y tế của huyện đã được nâng cấp toàn diện đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong huyện và các huyện lân cận Đặc biệt trong năm 2013, Bệnh viện đa khoa đã được đầu tư xây mới nâng cấp toàn diện và đi vào hoạt động vào tháng 1/2014 đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong toàn huyện và các huyện lân cận
Không
, đầu độc và chia rẽ nhân dân cũng là một thủ đoạn thâm độc của bọn thống trị, đáng chú ý là bọn chúng lợi dụng đạo Thiên chúa để mê hoặc giáo dân, chia rẽ lương và giáo Trên thực tế, tuy số giáo dân chỉ chiếm 2% số dân toàn huyện nhưng vì một số người lạc hậu, cuồng tín nên dễ bị
kẻ xấu lợi dụng
Có thể nói, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Phổ Yên trước cách mạng tháng Tám 1945 đã phản ánh đặc trưng của một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, chứa chất đầy mâu thuẫn, sâu sắc nhất là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn thực dân cướp nước
C
Trang 30Cùng với sự phát triển của hệ thống giáo dục, y tế thì hệ thống giao thông, thuỷ lợi trên địa bàn huyện Phổ yên từng bước được hoàn thiện nâng cấp phục vụ tích cực cho phát triển kinh tế của huyện
Về giao thông bên cạnh các trục đường quan trọng như Quốc lộ 3, đường sắt Hà Thái Nguyên, hai tuyến giao thông đường thuỷ thuộc hai hệ thống sông Cầu (đoạn qua huyện dài 17km) và Sông Công (đoạn qua huyện dài 68km) Còn có các tuyến đường liên huyện dài 27km bao gồm các tuyến Ba Hàng – Tiên Phong, đường 261 (Ba Hàng – Phúc Thuận); tư Quốc lộ 3 đi Chã và từ đường 261 đi Thành Công, các tuýên đường này đều đã được nâng cấp và dải nhựa Đường liên xã có khoảng 19km, liên thôn khoảng 30km
Nội-Trong những năm gần đây, dưới tác động của công cuộc xây dựng nông thôn mới thì phong trào làm đường giao thông nông thôn đã mang lại những kết quả thiết thực phục vụ phát triển kinh tế - dân sinh, cải thiện đời sống của nhân dân Tuy vậy, mạng lưới giao thông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển cao trong thời gian tới, nhất là các xã vùng cao, vùng xa Vì vậy, trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cần nguồn kinh phí lớn đầu tư giao thông nông thôn
Về thủy lợi: công trình thuỷ lợi đầu mối trên địa bàn huyện có 3 công trình lớn
là Hồ Suối Lạnh, Bình Sơn và trạm bơm Cống Táo Ngoài ra còn có trên 30 trạm bơm lớn nhỏ Kênh Hồ Núi Cốc cấp I với tổng chiều dài trên 18km đã được kiên cố hoá, kênh nhánh cấp 2 + 3 dài 240 km, kênh hồ đập dài 16 km kênh chính, 23 km kênh nhánh tập trung tập trung ở các xã Phúc Thuận, Minh Đức, Thành Công, Vạn Phái Đến năm 2012 đã bê tông hoá hơn 300 km kênh mương nội đồng, xây dựng thêm được một số trạm bơm dầu, bơm điện Nhờ đó, đã đưa đến kết quả tốt trong vụ đông xuân huyện đã gieo cấy được 4.230 ha lúa, trong đó diện tích lúa lai là 963, 96
ha (chiếm 22,78%) Năng suất bình quân đạt 55,8 tạ/ha Diện tích các cây màu, rau các loại hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao [20]
Hệ thống điện-Bưu chính viễn thông: Tính đến năm 2012, 100% số xã, thị trấn trong huyện được sử dụng điện lưới quốc gia, số hộ dùng điện đạt 100% Trạm biến
áp trung gian 110 KV đặt tại xã Tân Hương đã được hoàn thành đưa vào sử dụng góp phần tăng thêm nguồn điện trung thế cho toàn huyện Phổ Yên Tuy nhiên, mạng lưới điện của huyện hiện còn bộc lộ những bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất và sinh hoạt
Trang 31Hệ thống thông tin liên lạc và viễn thông của huyện khá hoàn chỉnh Đến nay mạng điện thoại cố định đã phủ 18/18 xã, thị trấn, sóng điện thoại di động phủ 15/15
xã Theo đó, số máy điện thoại cố định và di động tăng nhanh, đảm bảo nhu cầu thông tin liên lạc thuận lợi, phục vụ nhu cầu sản xuất và dân sinh của cộng đồng dân
cư trong huyện
Hệ thống cung cấp nước sạch: ngày càng được nâng cấp với hai nhà máy nước sạch là nhà máy nước Sông Công và nhà máy nước sạch của huyện được đặt tại xã Nam Tiến do Nhật Bản tài trợ Cuối năm 2012, huyện khởi công xây dựng nhà máy nước sạch thứ 3 tại xã Tân Hương nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nước sạch của nhân dân trong huyện
1.3 Khái quát tình hình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên trước năm 1997
Tính đến năm 1997 tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Phổ Yên là 25667,63ha, trong đó:
Đất nông nghiệp là 13.995,39ha chiếm 54,5%
Đất phi nông nghiệp là 9672,24ha chiếm 37,7%;
Đất chưa sử dụng là 2000ha chiếm 7,8%;
Từ khi giành được chính quyền sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, cùng với việc thi hành các chính sách ruộng đất, sở hữu và sử dụng ruộng đất ở huyện Phổ Yên đã có những thay đổi lớn lao Ruộng đất từ chỗ tập trung trong tay thực dân Pháp, địa chủ, phú nông… người nông dân không có hoặc có rất ít ruộng đất tới chỗ ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước, người nông dân làm chủ trên mảnh ruộng được giao Những thay đổi đó đã tạo tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của huyện Phổ Yên có những bước tiến lớn Người nông dân từ chỗ chỉ áp dụng những biện pháp lạc hậu để khai thác ruộng đất tới chỗ đẩy mạnh sử dụng khoa học kĩ thuật tiến bộ, đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, đưa giống mới vào sản xuất… tạo điều kiện thâm canh tăng vụ
Cũng như các huyện, tỉnh khác trong cả nước, đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên được sử dụng vào bốn mục đích chính: Đất trồng cây hàng năm; Đất trồng cây lâu năm; Đất đồng cỏ phục vụ chăn nuôi; Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và đất lâm nghiệp
Trang 32Đất trồng cây hàng năm: Bao gồm phần diện tích đất nông nghiệp dành để trồng cây các loại cây ngắn ngày bao gồm: diện tích đất trồng lúa, diện tích đất trồng lúa cộng với trồng màu, diện tích đất gieo mạ, diện tích đất nương rẫy, diện tích đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm: Là toàn bộ diện tích đất được dùng để trồng các cây dài ngày, trồng một lần có thể cho thu hoạch nhiều lần và có chi phí kiến thiết cơ bản đáng kể: như trồng, mía, chuối, vải, nhãn
Đất trồng cỏ phục vụ chăn nuôi: Là loại đất dùng chủ yếu cho chăn nuôi đó là diện tích đất chuyên trồng có cho chăn nuôi, đất đồng cỏ tự nhiên đã được quy hoạch, cải tạo và chăm sóc nhằm mục đích nuôi gia súc
Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: Là toàn bộ diện tích mặt nước sử dụng vào mục đích nuôi tôm có, nuôi trồng thuỷ sản khác như: ao, hồ, đầm Ngoài ra các loại đất mặt nước có thể nuôi thuỷ sản nhưng không nhằm mục đích thuỷ sản như các hồ sông phục vụ chủ yếu cho thuỷ lợi trong nông nghiệp
Phổ Yên là một trong những huyện có nhiều thế mạnh để phát triển các loại cây trồng hàng năm nhưng việc sử dụng các loại đất để phát triển các loại cây này còn chưa hợp lý dẫn đến tình trạng lãng phí tiềm năng đất đai Nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày phù hợp với thổ nhưỡng của vùng và có khả năng mang lại giá trị kinh tế cao như lạc, đậu tương… nhưng chưa được quan tâm đúng mức Do đó, mặc dù sản lượng cây trồng có tăng nhưng lại thất thường không ổn định, giá cả còn phụ thuộc nhiều vào thị trường nông sản Người nông dân vẫn đứng trước nỗi lo mất giá mỗi khi hoa quả được mùa Nên vấn đề đặt ra là làm sao để xây dựng được những quy hoạch mang tính chất chiến lược, phải tính toán được đầu ra cho sản phẩm để tránh tình trạng “đuợc mùa mất giá” và khai thác triệt để nguồn đất trồng cây hàng năm tránh lãng phí, hoang hoá đất
Đất lâm nghiệp: Trước năm 1997 lâm nghiệp và kinh tế lâm nghiệp của huyện Phổ Yên vẫn chưa có điều kiện phát triển mạnh Diện tích đất sản xuất lâm nghiệp rất lớn nhưng chưa có biện pháp khai thác hiệu quả vì vậy sản xuất lâm nghiệp chưa có vai trò nhiều trong giá trị của ngành nông nghiệp nói chung Trong giai đoạn này
Trang 33nhân dân vẫn chủ yếu dựa vào diện tích rừng tự nhiên hiện có khoảng 679,6ha vừa khai thác và vừa bảo vệ nguồn lợi từ rừng phòng hộ này Riêng đối với rừng sản xuất trong giai đoạn này chưa có nhiều biện pháp khai thác hiệu quả do vậy đất có điều kiện trồng và phát triển rừng vẫn còn bỏ trống nhiều do đó mới có hiện tượng diện tích đất chưa sử dụng của huyện trước năm 1997 lên tới hơn 2000ha
Với diện tích đất nông nghiệp chiếm hơn 54,5% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, Phổ Yên có nguồn đất tương đối lớn để phát triển kinh tế nông nghiệp Trong những năm qua với hơn 13.000 ha đất sản xuất nông nghiệp nhân dân trong huyện đã sử dụng quỹ đất này để phát triển các loại cây trồng hàng năm, trồng lúa, lúa màu; phát triển các cây trồng lâu năm và tận dụng diện tích mặt nước phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản, ngành nuôi trồng thuỷ sản hiện vẫn là tiềm năng của huyện và đang được chú trọng đầu tư phát triển
Trang 34Bảng 1.3: Đặc điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên năm 1997
có tầng loang lổ; đất phù sa sông suối
Trồng lúa, rau màu thực phẩm, đậu, lạc, ngô, khoai…
2lúa + 1 màu; 2 lúa; chuyên màu
ăn quả
chè, cây ăn quả 4.Đất có vườn cỏ
Bao gồm các loại đất như đất đỏ vàng trên sét, đất vàng nhạt trên đá cát
5.Đất mặt nước
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phổ Yên)
Trang 35Phần lớn quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên được khai thác và đưa vào sử dụng với mục đích phát triển cây hàng năm chiếm 8.160,44 ha tổng quỹ đất nông nghiệp toàn huyện Trong đó chủ yếu để phát triển các loại cây lương thực có hạt
và cây công nghiệp ngắn ngày như lúa, ngô, khoai sắn, đậu tương… Đất vườn tạp, có diện tích lớn thứ hai trong tổng quỹ đất nông nghiệp của huyện nhưng chưa được đẩy mạnh khai thác, nguồn đất này chủ yếu sử dụng để phát triển cây rau màu, cây ăn quả trong quy mô hộ gia đình Vì vậy, trong thời gian tới huyện Phổ Yên cần đưa ra những biện pháp hợp lý để tối ưu hoá quỹ đất này phục vụ cho phát triển nông nghiệp
Ngành nuôi trồng thuỷ sản đang được coi là tiềm năng của huyên nhưng quỹ đất
sử dụng vào mục đích này chỉ có 314,5 ha, nó chưa tương xứng với định hướng phát triển ngành này trong những năm tới của toàn huyện Quỹ đất giành cho đồng cỏ có diện tích thấp nhất 35,2 ha điều này ảnh hưởng khá lớn tới mục tiêu phát triển ngành nông nghiệp của huyện trong những năm tới là đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên tương xứng với tiềm năng có được từ trồng trọt
Trước năm 1997, mặc dù đất chuyên dùng và đất ở chiếm tỉ lệ thấp nhưng trong tương lai nhu cầu về các loại đất này sẽ tăng lên Nó sẽ trở thành nguyên nhân gây sức ép trực tiếp cho đất nông nghiệp Vì vậy cần phải có biện pháp sử dụng đất tiết kiệm trên nguyên tắc hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp
Để có được nền kinh tế phát triển thì cơ sở hạ tầng cần thay đổi, nhiều hệ thống giao thông thuỷ lợi sẽ được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới Sức ép lớn trong việc giành quỹ đất để nâng cấp, cải tạo, mở rộng các tuyến đuờng hiện có và xây dựng các tuyến đường từ trục lộ đến các đường trong khu dân cư, công trình thuỷ lợi, hệ thống mương máng, hồ đập trong thời gian tới sẽ yêu cầu quỹ đất rất lớn và không tránh khỏi lấy vào đất nông nghiệp Thực tế đó đòi hỏi các cấp chính quyền phải xây dựng những chính sách quy hoạch hợp lý để tránh tình trạng xâm lấn đất nông nghiệp một cách tự do, bất hợp lý và thiếu khoa học
Hiện tượng mua bán, tích tụ, tập trung ruộng đất một cách tự do đang có xu hướng gia tăng và ngày một phổ biến trên phạm vi huyện Phổ Yên nói riêng và cả nước nói chung Thực trạng đó một mặt phản ánh xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường, mặt khác cũng làm nảy sinh những vấn đề phức tạp Phần lớn quá trình
Trang 36chuyển nhượng ruộng đất diễn ra dưới hình thức mua bán trao tay, không thực hiện đúng quy định của pháp luật Phần lớn các gia đình vì có con cái thoát li, không có lao động mà phải bán hoặc cho thuê ruộng đất Trong quá trình trao đổi mua bán ruộng đất, hầu hết người bán và người mua đã quen biết nhau nên chỉ trao đổi qua tay
mà không trên giấy tờ và có sự chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền Trong trường hợp cho thuê thì sau mỗi vụ thu hoạch thường là người đi thuê ruộng sẽ trả một phần thóc cho người chủ ruộng Ví dụ như gia đình ông Hoàng Văn Toàn ở xóm Đình, xã Tân Hương, huyện Phổ Yên có tổng 12 sào ruộng, do con cái ông thoát ly làm công chức nên toàn bộ gia đình chuyển lên thành phố Thái Nguyên sinh sống Tổng số 12 sào ruộng của gia đình ông Toàn cho năm người thuê gồm: gia đình chị Nguyễn Thị Thiết (hai sào), gia đình chị Dương Thị Tuyết (3 sào), gia đình chị Dương Thị Hải (3 sào)… Theo ông Toàn, mỗi một sào thuê như vậy, người đi thuê trả cho người có ruộng (cụ thể là ông Thành) 2,5 nồi trên một sào (mỗi nồi là 25 kg), tức là một sào người thuê phải trả 62,5 kg Tuy nhiên, ông Toàn phải đóng các khoản thuế ruộng, các loại phí cho uỷ ban nhân dân xã Tân Hương Tình trạng tập trung mua bán, tích tụ ruộng đất một cách tự do kéo dài sẽ gây nên khó khăn cho nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai
Cũng như nhiều địa bàn khác trên tỉnh Thái Nguyên, trong những năm gần đây, tại huyện Phổ Yên, phương thức khai thác và sử dụng ruộng đất còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết Đó là tình trạng manh mún của ruộng đất dưới tác động của chính sách khoán ruộng theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, đó là tình trạng để lãng phí tiềm năng đất nông nghiệp, tình trạng tích tụ ruộng đất một cách tự
do đang có xu hướng gia tăng… Thực trạng này đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cần được xem xét và giải quyết kịp thời, nhằm đưa nền nông nghiệp của huyện phát triển theo hướng kinh tế hàng hoá có tính chất bền vững
Hơn nữa trước năm 1997, tình hình khai thác nguồn đất chưa sử dụng của huyện Phổ Yên vẫn chưa được đẩy mạnh và chưa thu được hiệu quả cao do trình độ kĩ thuật, công nghệ còn yếu kém nên quỹ đất chưa sử dụng của toàn huyện vẫn còn hơn 2000ha Quỹ đất này có nhiều yếu tố rất thuận lợi để phát triển các trang trại chăn nuôi lớn, phát triển cây lâu năm và khai thác phát triển du lịch Vì vậy trong thời gian tới các cấp chính quyền địa phương cần đưa ra những chính sách ưu đãi khuyến khích nhân dân khai hoang đưa vào sản xuất để mở rộng thêm diện tích đất nông nghiệp cho địa phương
Trang 37Với vị trí địa lý thuận lợi Phổ yên có điều kiện để phát triển kinh tế toàn diện,
dễ dàng giao lưu với bên ngoài, tiếp thu nhanh tiến bộ xã hội nâng cao dân trí đưa các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống, phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt, huyện Phổ Yên đã và đang trở thành nơi thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước rất mạnh để phát triển công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, sự phát triển của công nghiệp và đô thị với tốc độ nhanh là nhân tố sẽ gây sức ép lớn đối với đất đai của huyện đặc biệt là đất nông nghiệp, đây cũng là những yếu tố tác động mạnh đến vấn
đề khai thác và sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện hiện nay
Từ năm 2000 đến nay trên địa bạn huyện đã hình thành nhiều khu công nghiệp mới, các điểm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, du lịch - dịch vụ Quỹ đất dành cho mục đích này rất lớn và không ngừng tăng lên Việc nâng cấp và làm mới hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, thuỷ lợi, các công trình văn hoá phúc lợi…cũng đòi hỏi một quỹ đất đáng kể Sự gia tăng dân số và sự hình thành các khu
đô thị, khu tái định cư phải cần một quỹ đất lớn để xây dựng nhà ở, bố trí sắp xếp lại dân cư, mà hầu hết nguồn đất này được lấy ra từ quỹ đất nông nghiệp
Nhu cầu sử dụng quỹ đất cho các mục đích trên sẽ gây áp lực lớn đến đất sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa Đó là điều bất khả kháng đối với một huyện có lợi thế phát triển công nghiệp và đang trong thời kỳ đô thị hoá mạnh Điều quan trọng là trong phương án quy hoạch, khi chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích khác phải xem xét cân nhắc kỹ lưỡng theo hướng tận dụng triệt để không gian
Vì vậy, trong mỗi hợp phần quy hoạch phải đảm bảo khai thác quỹ đất một cách khoa học, hợp lý, tiết kiệm đạt hiệu quả cao về kinh tế, môi trường và xã hội
Trang 38Chương 2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN PHỔ YÊN GIAI ĐOẠN 1997-2012
2.1 Một số vấn đề lý luận về đất nông nghiệp, tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, con người sinh ra trên trái đất sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất Tuy vậy không phải ai cũng hiểu đất là gì? Đất sinh ra từ đâu? Tại sao lại phải giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên này? Vai trò của đất trong nông nghiệp như thế nào?
Học giả người Nga Docutraiep cho rằng: “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian”
Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập tới sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên
Học giả người Anh Wiliam đã đưa ra khái niệm về đất như sau: “Đất là lớp
C.Mác đã viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và sinh sống của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” [6]
Theo quan điểm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” [6]
Theo quan điểm kinh tế học: “Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động, đồng thời là sản phẩm lao động” [40] Về mặt đời sống kinh tế-xã hội, đất đai
Trang 39là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thay thế được của ngành sản xuất nông – lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và
an ninh quốc phòng Nhưng đất đai là tài nguyên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thi nghiệm về nông nghiệp Khi nói đến nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của ngành nông nghiệp bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp
đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi
là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tuỳ theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính)
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng hoa màu như ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ và những loại cây được coi là cây lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thuỷ sản hay để trồng cây lâu năm, trồng và phát triển kinh tế lâm nghiệp
Theo Luật đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42 như sau:
“Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” [26] Với quy định của Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam chia làm
6 loại như sau: Đất nông nghiệp; Đất lâm nghiệp; Đất khu dân cư nông thôn; Đất đô thị; Đất chuyên dùng; Đất chưa sử dụng
Theo sự phân chia này, đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại khác nhau Tuy nhiên sự phân loại này dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau, vừa căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất đã dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai Để khăc phục những hạn chế đó đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong sử dụng đất
Trang 40Luật đất đai năm 2003 đã chia đất đai làm 3 loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn
cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu Trên cơ sở đó đất đai chia thành 3 phân nhóm:
- Nhóm đất nông nghiệp;
- Nhóm đất phi nông nghiệp;
- Nhóm đất chưa sử dụng
Như vậy,chúng ta đã mở rộng khái niêm “Đất nông nghiệp” với tên gọi
“Nhóm đất nông nghiệp” thay cho “Đất nông nghiệp” theo quan niệm trước đây Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác” [27] Như vậy theo Luật đất đai năm 2003 ta có thể hiểu Đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông – lâm nghiệp
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 2003 nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thuỷ sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
Như vậy, có thể thấy đất nông nghiệp là loại đất sử dụng chủ yếu vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Sử dụng nguồn đất này phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: Trong nông nghiệp đất đai giữ vai trò vô cùng quan trọng không thể thay thế và nó không phải nguồn tài nguyên vô hạn Vì vậy, trong quá trình khai thác
và sử dụng chúng ta phải dựa trên những nguyên tắc nhất định để đảm bảo tận dụng triệt để nguồn đất đai trong nông nghiệp và sử dụng hợp lý
Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này có nghĩa là toàn
bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất