Việc phát triển thành công vector chuyển gen mang cấu trúc gen RNAi BYMV tạo được cây thuốc lá chuyển gen có tính kháng đối với SMV và BYMV cao hơn cây đối chứng đã khẳng định cơ sở kho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LÒ THỊ MAI THU
PH¢N LËP §O¹N GEN CP Tõ SOYBEAN MOSAIC VIRUS
Vµ PH¸T TRIÓN VECTOR CHUYÓN GEN MANG CÊU TRóC RNAi PHôC Vô T¹O C¢Y §ËU T¦¥NG CHUYÓN GEN KH¸NG BÖNH
Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 62 42 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS Chu Hoàng Mậu
2 PGS.TS Chu Hoàng Hà
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực, một phần đã đƣợc công bố trên các Tạp chí khoa học với sự đồng ý và cho phép của các đồng tác giả, phần còn lại chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS Chu Hoàng Mậu, PGS.TS Chu
Hoàng Hà đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ gen, cảm ơn
Công nghệ tế bào thực vật thuộc Viện Công nghệ Sinh học đã tận tình giúp đỡ,
truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài luận án Xin cảm ơn sự giúp đỡ ThS
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Tâm cùng tập thể cán bộ
Bộ môn Di truyền & Sinh học hiện đại đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận án
Tôi xin cảm ơn các thầy cô Khoa Sinh-Kỹ thuật nông nghiệp và Bộ phận
quản lý nghiên cứu sinh, Phòng đào tạo, trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái
Nguyên, xin cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Sư phạm và Lãnh đạo Đại học
Thái Nguyên
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban chủ nhiệm khoa
Sinh- Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và thực hiện thành công luận án này
Nghiên cứu sinh
Mai Thu
Trang 4MỤC LỤC Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
vi
viii
x
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề ……… ……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu……… ……… 2
3 Nội dung nghiên cứu……… ……… 3
4 Những đóng góp mới của luận án……… 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn……… ………… 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 5
1.1 BỆNH KHẢM DO VIRUS Ở CÂY ĐẬU TƯƠNG……… …… 5
1.1.1 ệnh virus ở cây đậu tương……… …… 5
1.1.2 Sự xâm nhập của SMV và BYMV vào tế bào đậu tương… …… 9
1.1.3 Hệ gen của SMV và BYMV……… ……… 10
1.2 NGHIÊN CỨU CHUYỂN GEN Ở CÂY ĐẬU TƯƠNG 16
1.2.1 … 16
1.2.2 Định hướng ứng dụng và một số thành tựu về chuyển gen ở cây đậu tương……… ……… 23
Trang 51.2.3 Tình hình nghiên cứu tạo cây đậu tương biến đổi gen ở Việt Nam… 28 1.3 KỸ THUẬT RNAi TRONG TẠO CÂY CHUYỂN GEN KHÁNG
VIRUS……… ……… 29
1.3.1 Các cơ chế RNAi ức chế gen ở thực vật……… ………… 30
1.3.2 Ứng dụng kỹ thuật RNAi trong nghiên cứu tạo cây chuyển gen kháng virus……… 36
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU … 40
2.1 VẬT LIỆU, THIẾT BỊ, HÓA CHẤT VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 40
2.1.1 Vật liệu thực vật……… ………… 40
2.1.2 Vector và chủng vi khuẩn ……… ……… 42
2.1.3 Hóa chất và thiết bị ……… ……… 42
2.1.4 Địa điểm nghiên cứu……… ……… 42
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… ……… 43
2.2.1 Nhóm các phương pháp phân lập gen……… 43
2.2.2 Nhóm các phương pháp thiết kế vector chuyển gen mang cấu trúc RNAi 48
2.2.3 Phương pháp chuyển gen thông qua A tumefaciens 52
2.3.4 Nhóm các phương pháp phân tích cây chuyển gen 58
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN… … 60
3.1 TÁCH DÒNG VÀ PHÂN TÍCH TRÌNH TỰ ĐOẠN GEN CP CỦA SMV……… …… 60
3.1.1 Tách dòng và xác định trình tự nucleotide đoạn gen CP từ SMV.…… 60
3.1.2 Phân tích sự đa dạng của trình tự gen CP của các dòng SMV 67
Trang 63.2 THIẾT KẾ VECTOR CHUYỂN GEN MANG CẤU TRÚC RNAi … 74
3.2.1 Thiết kế vector chuyển gen mang cấu trúc RNAi kháng đơn loài SMV……… ……… 74
3.2.2 Thiết kế vector chuyển gen mang cấu trúc RNAi kháng hai loài SMV và BYMV……… 81
3.3 KẾT QUẢ TẠO CÂY THUỐC LÁ CHUYỂN GEN KHÁNG SMV VÀ BYMV……… ………… 89
3.3.1 Kết quả chuyển cấu trúc CPi (SMV-BYMV) vào cây thuốc lá… 89
……… ……… 92
3.4 K RNAi … 96
u t - … 96
các dòng cây đậu 0………… 99
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… ……… 106
1 KẾT LUẬN……… ……… 106
2 ĐỀ NGHỊ……… ……… 107
108
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 109
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
A tumefaciens Agrobacterium tumefaciens
BYMV Bean yellow mosaic virus
CAMV Cauliflower mosaic virus
CPi –SMV Đoạn bảo thủ được thiết kế từ gen CP của SMV
CPi(SMV-BYMV) Đoạn bảo thủ được thiết kế từ gen CP của cả SMV và BYMV
dNTP Deoxynucleoside triphosphate
đtg Đồng tác giả
E coli Escherichia coli
EDTA Ethylene diamine tetraacetic acid
GM Germination medium (môi trường nảy mầm)
gus Gen mã hóa enzyme β-Glucuronidase
IBA Indole-3-butyric acid
Trang 8MS Murashige & Skoog (1962) -Môi trường cơ bản
nptII Neomycin phosphotransferase gene
OD Optical density – Mật độ quang
PCR Polymerase Chain Reaction – Phản ứng chuỗi Polymerase
pK7GW-CPi-SMV: Vector chuyển gen mang cấu trúc CPi-SMV pK7GW-CPi (SMV-BYMV) Vector chuyển gen mang cấu trúc CPi (SMV-
BYMV)
RM Rooting medium (môi trường ra rễ)
RNAi RNA interference )
SEM Shoot elongation medium (môi trường kéo dài chồi) SIM Shoot induction medium (môi trường tạo chồi)
SMV Soybean mosaic virus )
Taq Thermus aquaticus
T-DNA Vùng DNA plasmid chuyển vào thực vật
Ti- plasmid Plasmid tạo khối u
TYLCV Tomato yellow leaf curl virus
Vir Virulence Region
X-gluc 5-bromo-4-chloro-3-indolyl glucuronide
Trang 9Bảng 3.2 Các vị trí sai khác giữa trình tự đoạn gen CP của SMV
dòng SL2 so với dòng SL1 và trình tự có mã số X63771 65 Bảng 3.3 Các vị trí sai khác giữa trình tự amino acid của protein
suy diễn dòng SL2 so với dòng SL1 và trình tự có mã số
Bảng 3.4
Ngân hàng gen quốc tế
Trang 10Bảng 3.5
Bảng 3.6 Trình tự cặp mồi SMV-CPi-Fi/SMV-CPi-Ri ……… 76 Bảng 3.7 Trình tự cặp mồi SMV-CPi-Fi/BYMV-CPi-Ri ………… 83 Bảng 3.8 Kết quả biến nạp cấu trúc CPi (SMV-BYMV) vào mảnh
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ mô phỏng quá trình xâm nhiễm của SMV và
Hình 1.2 Bản đồ hệ gen của SMV và dự đoán các điểm cắt của
Hình 1.3 Sơ đồ phương pháp phân tích cây chuyển gen………… 21
Hình 1.4 Mô phỏng các con đường làm câm gen thông qua RNAi 31
Hình 1.5 Con đường ức chế gen của siRNA và miRNA………… 35
Hình 2.1 Hình ảnh các mẫu lá đậu tương nghi nhiễm SMV và
BYMV thu thập từ một số tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam 40
Hình 2.3 Sơ đồ mô tả các bước thiết kế vector mang cấu trúc
Trang 123.5 So sánh trình tự amino acid của vùng Poty-coat của
dòng SL1, SL2 và của protein có mã số CAA45307…… 67 3.6
3.7 Sơ đồ hình cây đƣợc thiết lập dựa trên trình tự amino
acid suy diễn từ gen CP của SMV……… 71
Hình 3.8 Trình tự đoạn CPi-SMV thiết kế từ vùng bảo thủ của
Hình 3.12 A: Hình ảnh điện di kiểm tra kết quả tách plasmid tái tổ
hợp pEN-CPi-SMV; B: Sản phẩm PCR nhân đoạn CPi – SMV từ pEN-CPi-SMV bằng cặp mồi SMV-CPi-Fi/SMV-CPi-Ri………
79
plasmid pK7GW-CPi-SMV ………
Hình 3.16 Trình tự đoạn gen CPi (SMV-BYMV) thiết kế từ vùng
Trang 13Hình 3.17 Kết quả điện di kiểm tra sản phẩm PCR nhân đoạn gen
Hình 3.18 Sơ đồ vị trí gắn đoạn CPi (SMV-BYMV) trong vector
pENTRTM/D-TOPO và vị trí gắn cặp mồi F/BYMV-CPi-R và cặp mồi M13-F/M13-R………… 84 3.19 Sơ đồ ghép nối và kết quả điện di kiểm tra sản phẩm
SMV-CPi-colony-PCR đoạn CPi (SMV-BYMV) trong vector
3.20 A: Kết quả điện di kiểm tra tách plasmid; B: Sản phẩm
PCR nhân đoạn CPi (SMV-BYMV) từ plasmid bằng cặp
Hình 3.21 Sơ đồ cấu trúc vector chuyển gen pK7GW-CPi
Hình 3.22 Kết quả kiểm tra điện di sản phẩm cắt Vector pK7GW bằng
enzym Xba Hind III……… 87 Hình 3.23 Kết quả điện di sản phẩm colony-PCR trực tiếp từ khuẩn
Trang 14Hình 3.29 Kết quả điện di kiểm tra DNA tổng số của các dòng cây
đậu tương chuyển gen giống ĐT12 (A) và giống
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây trồng ngắn ngày, có giá trị
kinh tế, dinh dưỡng cao, là nguyên liệu cho công nghiệp và có tác dụng cải tạo đất trồng và bảo vệ môi trường Hiện nay, năng suất và sản lượng đậu tương ở nước ta còn thấp, chất lượng hạt chưa cao do mức độ ổn định của giống, ảnh hưởng của nấm, côn trùng, vi khuẩn, virus gây và các tác động bất lợi khác từ ngoại cảnh Đậu tương là một trong số các cây trồng dễ
bị nhiễm nhiều loại virus, như virus gây bệnh khảm lá (Soybean mosaic virus – SMV), virus gây bệnh khảm vàng hại đậu đỗ (Bean yellow mosaic virus – BYMV) và một số virus gây bệnh khác Trong đó, SMV và BYMV là những loại virus gây bệnh khảm nhất đến cây đậu tương
SMV và BYMV được lây nhiễm từ cây bệnh sang cây khoẻ do rệp là môi giới virus có thể truyền qua hạt Khi cây đậu tương bị bệnh, lá cây có những phần xanh nhạt, đậm và biến vàng xen kẽ, lá non ở ngọn bị biến dạng, đọt non xoăn lại, các đốt thân co ngắn, cây chậm phát triển, số lượng quả ít và biến dạng, sần sùi, có vị đắng và thường lép Bệnh khảm do SMV và BYMV gây thiệt hại đáng kể về năng suất, chất lượng và sản lượng hạt đậu tương Năng suất đậu tương có thể giảm tới 40% khi các cây bị nhiễm virus trước khi
ra hoa và 91% hạt đậu thu được có vết lốm đốm, chất lượng kém [87] Việc nhiễm cùng lúc nhiều loại virus khác nhau sẽ
[95]
Hiện nay, trong sản xuất đậu tương chủ yếu mới dừng ở biện pháp phòng mà vẫn chưa có thuốc trị bệnh khảm do SMV và BYMV Do đó các biện pháp phòng bệnh bao gồm chọn lọc cây sạch bệnh để làm giống, vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng, thu dọn tàn dư cây bệnh trên đồng ruộng, diệt trừ côn trùng truyền bệnh Tuy nhiên, các biện pháp trên thường có hiệu quả
Trang 16thấp và tốn nhiều công sức Biện pháp có hiệu quả nhất để phòng hai loài SMV
và BYMV là sử dụng các giống đậu tương kháng bệnh, nhưng nguồn giống đậu tương kháng bệnh tự nhiên đối với SMV và BYMV là rất hạn chế Chính
vì vậy hướng tiếp cận tạo cây đậu tương chuyển gen kháng virus được quan tâm nghiên cứu, đó là chuyển các gen có nguồn gốc từ chính loài virus gây bệnh theo nguyên lý của kỹ thuật RNA interference (RNAi)
RNAi được xem là một kỹ thuật hiện đại và có hiệu quả được ứng dụng
để kháng lại các loài virus gây bệnh ở thực vật Dựa trên nguyên lý bất hoạt gen sau phiên mã, một số tác giả đã ứng dụng thành công kỹ thuật RNAi trong chiến lược tạo cây chuyển gen kháng virus [3], [31], [98]
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân lập
đoạn gen CP từ Soybean mosaic virus và phát triển vector chuyển gen mang cấu trúc RNAi phục vụ tạo cây đậu tương chuyển gen kháng bệnh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Tạo được dòng cây chuyển gen kháng virus gây bệnh khảm trên cây đậu tương bằng kỹ thuật RNAi
2.2 Mục tiêu cụ thể
(i) Xác định được trình tự đoạn gen CP từ SMV gây bệnh khảm ở cây đậu
tương Việt Nam
(ii) Phát triển được vector chuyển gen mang cấu trúc RNAi chứa gen
(iii) Tạo được cây thuốc lá chuyển gen mang cấu trúc RNAi có khả năng
(iv) Tạo được cây đậu tương chuyển gen mang cấu trúc RNAi
Trang 173 Nội dung nghiên cứu
(1) Nghiên cứ
(2) Nghiên cứu phát triển vector
gen CPi của hai loài SMV và BYMV bằng kỹ thuật Gateway
CPi đã thiết kế vào A tumefaciens
CPi
trên cây đậu tương chuyển gen
4 Những đóng góp mới của luận án
nucleotide, 240 amino acid Hai trình tự đoạn gen CP của SMV đã
được đăng ký trên Ngân hàng gen quốc tế với mã số HG965102, HG965103
Trang 18
Việc phát triển thành công vector chuyển gen mang cấu trúc gen RNAi
BYMV tạo được cây thuốc lá chuyển gen có tính kháng đối với SMV
và BYMV cao hơn cây đối chứng đã khẳng định cơ sở khoa học và tính hiệu quả của biện pháp sử dụng các gen có nguồn gốc từ chính loài virus gây bệnh để chuyển vào cây trồng nhằm tạo cây chuyển gen kháng virus theo nguyên lý của kỹ thuật RNAi
Năm bài báo đăng tải trên các tạp chí khoa học công nghệ quốc tế và trong nước cùng với 2 trình tự gen đăng ký trên Ngân hàng gen quốc tế là
5.2 Về thực tiễn
Kết quả lây nhiễm vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens (A
tumefaciens) tái tổ hợp vào mô đậu tương đã tổn thương và tái sinh thành
công cây đậu tương chuyển gen mang cấu trúc RNAi chứa đoạn gen CPi của
SMV và BYMV đã cho thấy khả năng ứng dụng kỹ thuật chuyển gen và kỹ thuật RNAi trong chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam
Kết quả thiết kế vector chuyển gen mang đoạn gen CPi của SMV và
BYMV theo nguyên lý kỹ thuật RNAi để tạo được cây chuyển gen đối với thuốc lá và đậu tương đã khẳng định hướng nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật RNAi và mở ra triển vọng trong thực tiễn chọn giống cây trồng
Trang 19
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 BỆNH KHẢM DO VIRUS Ở CÂY ĐẬU TƯƠNG
Cây đậu tương có tên khoa học là Glycine max (L.) Merill (2n = 40) thuộc họ đậu (Fabaceae), họ phụ cánh bướm (Papilinoideae) Đậu tương là
loại cây trồng quan trọng bởi giá trị dinh dưỡng và giá trị cải tạo đất Hạt đậu tương chứa khoảng 40% protein, 20% lipid và chứa nhiều chất quan trọng cho hoạt động sinh lý của cơ thể người và động vật, như: isoflavone, lecithin, tocopherol và saponin Thêm nữa hạt đậu tương còn chứa nhiều protein chức năng và là nguồn thực phẩm rẻ tiền, có vai trò trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người [149], [158] Các sản phẩm từ đậu tương đã tăng lên đáng kể
so với các loại cây trồng khác do nhu cầu về protein và dầu [82]
Cây đậu tương là cây trồng cạn ngắn ngày, lấy hạt và thuộc nhóm cây hàng năm Rễ của cây đậu tương là loại rễ cọc, gồm rễ chính và các rễ bên Rễ tập trung ở tầng đất mặt 30 – 40 cm, ăn lan khoảng 20 – 40 cm Trên rễ có
nhiều nốt sần chứa vi khuẩn Rhizobium japonicum có khả năng cố định đạm
[1] Thân cây đậu tương ít phân cành, cây thảo, dạng bụi, có hình trụ, nhiều lông, mang nhiều đốt, thân thường đứng, có khi dạng bò hay nửa bò Cành đậu tương mọc ra từ các đốt trên thân, đốt đầu tiên của thân chính mang hai lá mầm, đốt thứ hai mang hai lá đơn đối nhau, từ đốt thứ ba trở lên mỗi đốt mang một lá kép Đậu tương là cây tự thụ phấn, hoa lưỡng tính, hoa được phát sinh từ nách lá, đầu cành hoặc đầu thân Hoa thuộc hoa cánh bướm, mọc thành chùm,
có màu tím hay trắng, thời kỳ cây ra hoa sớm hay muộn, thời gian dài hay ngắn tuỳ thuộc vào giống và thời vụ gieo do chịu ảnh hưởng phối hợp của ánh sáng
và nhiệt độ [1], [2] Quả đậu tương là loại quả giáp, bên ngoài vỏ quả thường
có lớp lông bao phủ, màu sắc vỏ khi chín có màu vàng hoặc xám đen Quả
Trang 20thẳng hoặc hơi cong Mỗi quả thường có từ 1 - 4 hạt nhưng phổ biến là 2 hạt Hạt đậu tương có nhiều hình dạng như bầu dục, tròn dài, tròn dẹt Vỏ hạt thường nhẵn và có màu vàng nhạt, vàng đậm, xanh, nâu, đen… nhưng đa số là hạt màu vàng Khối lượng hạt dao động từ 200 – 400 mg/hạt và khối lượng
1000 hạt dao động trung bình 100-200g Hình dạng và màu sắc rốn hạt là dấu hiệu đặc trưng cho mỗi giống đậu tương [1], [2]
Với những giá trị kinh tế và giá trị sử dụng, đậu tương được xem là loại cây trồng chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới, với vị trí đứng thứ tư chỉ sau lúa, ngô và lúa mỳ Ở Việt Nam, cây đậu tương được trồng từ rất lâu
và nhu cầu tiêu thụ đậu tương cũng rất lớn, nên sản xuất đậu tương trong nước đang được chú trọng Đậu tương được trồng ở cả 7 vùng nông nghiệp, ở 28 tỉnh nh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Cây đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ (khoảng 65%) và 35% được trồng ở những vùng đất thấp,
ở khu vực đồng bằng sông Hồng Theo số liệu của Tổng cục thống kê, từ năm
1.1) Nguồn giống đậu tương kháng bệnh và chống chịu cao là một trong các nguyên nhân chính có thể giải thích cho sự phát triển chậm của ngành sản xuất đậu tương ở nước ta Vì vậy, nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học nhằm cải thiện tính kháng bệnh của cây đậu tương là cách tiếp cận mới, có hiệu quả đối với ngành chọn giống đậu tương hiện nay
ản lượng đậu tương 2014
Trang 21Cây đậu tương có thể mắc một số bệnh do vi khuẩn, nấm hoặc virus, như bệnh khảm do SMV hoặc BYMV, bệnh gỉ sắt hại đậu tương do nấm
Phakopsora pachyrhizi, bệnh Sương mai (đốm phấn) do nấm Peronospora manshurica, bệnh lở cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani hoặc Fusarium solani fsp Phaseoly, bệnh đốm lá vi khuẩn hại đậu tương và một số
bệnh hại khác Thống kê trên thế giới cho thấy có hơn 100 loại virus gây hại trên cây đậu tương Bệnh virus đậu tương phân bố rộng khắp và gây thiệt hại lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm Tại những nơi bị nhiễm bệnh nặng, năng suất có thể bị giảm đến 50% ở ngoài đồng, mức giảm có thể lên đến 93% - 95% lây nhiễm trong thí nghiệm [17] Một số nước
có tỷ lệ thiệt hại lớn do bệnh virus ở đậu tương, như vùng Georgia ở Mỹ (37%), Australia và Thái Lan (60%), New Zealand và khu vực Bắc Mỹ (40-50%) [28], [80], [158]
Bệnh khảm đậu tương do virus nhóm khảm (Potyvirus) gây ra Bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1900 và đến nay virus khảm đậu tương đã có mặt hầu hết ở các vùng trồng đậu tương trên thế giới [80] Việt Nam cũng đã công bố phát hiện loại virus này từ năm 1994, chủ yếu tập trung
ở những vùng trồng đậu tương lớn, như khu vực trung du, miền núi , khu vực Đồng Bằng Sông Hồng Tây Nguyên [1], [12]
Các nhà khoa học đã xác định có một số loài virus đặc biệt nguy hiểm, gây hại trên cây đậu tương, trong đó có SMV và BYMV [17], [73] SMV là loài virus gây bệnh khảm ở cây đậu tương, thuộc nhóm Potyvirus, họ
Potyviridae, và là một trong những virus chủ yếu nhất gây bệnh ở cây đậu
tương bệnh xảy ra trên toàn thế giới [44] SMV gây thiệt hại đáng kể về năng suất, thậm chí ở một số trường hợp tổn thất có thể lên đến 94% tổng sản lượng đậu tương Những cây đậu tương bị nhiễm SMV thường
bị nhiễm ở giai đoạn muộn sẽ làm giảm sản lượng và chất lượng hạt [85] [86] Họ
Trang 22Potyviridae được biết đến là có số lượng loài lớn nhất trong các loài virus gây
bệnh ở thực vật Nếu nhiễm Potyvirus và các loài virus khác thì thiệt hại về
năng suất và chất lượng hạt đậu tương tăng lên gấp bội [32], [145] Những cây bị nhiễm Potyvirus cũng dễ bị nhiễm nấm gây bệnh hơn [145] SMV có thể lây nhiễm qua hạt với tỷ lệ trung bình là 10% và thay đổi theo chủng virus, kiểu gen thực vật thời gian bị nhiễm [104]
Phản ứng khác biệt của giống về sức đề kháng với SMV
cây đậu tương mẫn cảm với bệnh khảm hoặc khảm hệ thống (S), chết hoại (N), và không có triệu chứng hoặc kháng (R) ược Cho và Goodman (1982) sử dụng để phân loại SMV thành các nhóm, chủng SMV từ G1 đến G7 [49]
BYMV là loài virus cũng thuộc nhóm Potyvirus, có thể tìm thấy ở các cây thuộc họ đậu đỗ (đậu tương, lạc, đậu xanh, đậu đen, …) và một số loài thực vật khác [28], [80] Khi cây đậu tương nhiễm BYMV sẽ xuất hiện những vết khảm và đường biến vàng ngoằn ngoèo trên bề mặt lá, làm cây không phát triển được và dẫn tới bị chết Bệnh khảm vàng do BYMV cũng gây thiệt hại đáng kể về năng suất và chất lượng hạt, đặc biệt đối với các cây đậu đỗ, trong
đó có đậu tương [137] Khi cây đậu tương bị nhiễm BYMV, năng suất hạt bị giảm một số trường hợp có thể giảm tới 74% - 80% [96]
Đối với cây đậu tương, SMV và BYMV có thể nhiễm đồng thời trên cùng một cây và triệu chứng rất khó phân biệt Ảnh hưởng của việc nhiễm cùng lúc nhiều loại virus khác nhau dẫn tới năng suất đậu tương có thể bị giảm
từ 66% - 80% [80], [91] Bằng các quan sát thực địa nhóm tác giả ở Ukraine
đã xác định được triệu chứng nhiễm hai loại SMV và BYMV ở đậu tương vùng Cherkassy, Vinnitsa, Kiev và kết quả đã được xác nhận bằng kính hiển
vi điện tử và kỹ thuật ELISA [103] Trên cơ sở phân tích gen và thiết lập cây phát sinh loài một số tác giả cho rằng BYMV phân lập từ các vùng thuộc Cộng hòa Séc được phân bố ở ba nhóm trên sơ đồ hình cây và không phụ thuộc vào
Trang 23cây chủ [142] Phản ứng của cây đậu tương đối với SMV và BYMV phụ thuộc vào kiểu gen của giống, chủng virus, tuổi cây, thời gian lây nhiễm, nhiệt độ không khí và các điều kiện môi trường khác [41]
1.1.2 Sự xâm nhập của SMV và BYMV vào tế bào đậu tương
SMV và BYMV có thể xâm nhiễm trực tiếp vào tế bào đậu tương hoặc
có thể xâm nhiễm qua môi giới trung gian là rệp Virus và cơ thể côn trùng có mối quan hệ sinh học với nhau, virus có thể tiềm ẩn một thời gian dài trong cơ thể côn trùng, qua tuyến nước bọt để đi vào hệ thống tiêu hoá thấm qua thành ruột vào máu rồi trở lại tuyến nước bọt Sau giai đoạn tiềm ẩn, virus được nhân lên trong cơ thể côn trùng và ở thời điểm này côn trùng có khả năng truyền bệnh một cách nhanh chóng Tuy nhiên khả năng truyền bệnh của côn trùng cũng có những hạn chế do tuổi của côn trùng thường rất ngắn [12], [13]
SMV có khả năng xâm nhập vào tế bào qua các vết thương nhẹ do cọ xát giữa các cây với nhau, hoặc còn có thể truyền bệnh trong trường hợp hạt phấn bị nhiễm virus rơi vào noãn của cây SMV di chuyển trong tế bào chất
và có thể di chuyển sang tế bào khác thông qua các sợi liên bào Sau 3 ngày virus mới nhiễm hết một lá đơn, sau 4 ngày thì mới nhiễm hết đoạn gân của
lá kép và một phần đoạn thân sát gốc [80], [145] Sau 5 ngày virus nhiễm hết dọc thân chính và các lá ngọn, khoảng sau 25 ngày virus có thể nhiễm trên toàn bộ cây Virus có thể nhiễm qua nhân giống vô tính, qua hạt giống, qua phấn hoa, hoặc qua côn trùng [108] Cách thức truyền virus gây bệnh qua trung gian làm cho cây đậu tương có khả năng nhiễm bệnh rất cao, khi cây trưởng thành có thể bị nhiễm virus từ 90 - 100% ở các mức độ biểu hiện bệnh khác nhau [80], [161]
SMV và BYMV có cấu tạo đơn giản, gồm hai thành phần chính là protein (60 - 95%) và nucleic acid (5 - 40%) [80], [91] Hệ gen SMV và BYMV là RNA sợi đơn dương (RNA (+)) Đời sống của Potyvirus sau khi
Trang 24xâm nhập vào các tế bào chủ qua mô tổn thương bao gồm quá trình dịch mã,
xử lý polyprotein, nhân lên của mRNA, quá trình lắp ráp RNA và protein vỏ thành hạt virus và di chuyển đến các tế bào khác, tới các bộ phận của cây và các cây khác [145] Quá trình xâm nhiễm của SMV và BYMV cùng với quá trình nhân lên của RNA được mô tả ở hình 1.1
Hình 1.1 Sơ đồ mô phỏng quá trình xâm nhiễm của SMV và
BYMV vào tế bào cây đậu tương
1. Virus xâm nhập vào tế bào qua màng; 2. Phân tử RNA (+) của virus được giải phóng vào nhân tế bào chủ; 3 RNA (+) virus làm khuôn để tổng hợp sợi RNA(-); 4. RNA (-) phiên
mã tổng hợp mRNA; 5. mRNA dịch mã tạo các protein của virus; 6. RNA(-) t các RNA (+) tức hệ gen virus; 7. Các phân tử RNA(+) kết hợp với protein vỏ tạo thành các virus mới; 8. Virus phá vỡ màng tế bào ra ngoài và xâm nhiễm vào các tế bào khác
1.1.3 Hệ gen của SMV và BYMV
1.1.3.1 Đặc điểm hệ gen của SMV, BYMV và Potyvirus
Các Potyvirus có dạng thanh, khúc khuỷu dài khoảng 750 nm và đường kính là 11-15 nm và bao gồm các protein vỏ được sắp xếp đối xứng, xoắn ốc xung quanh phân tử RNA sợi đơn dương có khoảng 10.000 nucleotide Hệ gen
Trang 25RNA có đầu 3‟gắn đuôi poly A và một protein virion kết nối gen (VPg) ở đầu 5‟ RNA virus được dịch mã một polyprotein được phân cắt bởi protease ít nhất 10 phân tử protein [93]
Các gen trong hệ gen của virus đang được sử dụng ngày càng nhiều để phân tích các loài virus và các chủng virus khác nhau Jayaram và đtg (1992)
đã lập bản đồ và xác định trình tự nucleotide của các chủng SMV G2 và G7
và trình tự CP của của một số chủng SMV cũng được mô tả [93] Các vùng trong hệ gen của các Potyvirus chứa hầu hết các gen mã hóa protein thể vùi ở dạng hình trụ (Cl), gen RNA polymerase - phụ thuộc- RNA (POL hoặc Nib
và gen protein vỏ (CP) [93], [132] Các protein 21K và 27K ở SMV là giống như protein NIa ở TEV và VPg, NIa, PI, P3 và HC-Pro là các loại protein chịu trách nhiệm về hoạt động xử lý protein sau khi được tổng hợp [61], [93]
Nghiên cứu của Jayaram & đtg (1992) lưu ý rằng sự khác biệt lớn nhất về trình tự NIa giữa các dòng SMV G2 và G7 biểu hiện ở vùng đầu 5' của hệ gen virus, chủ yếu ở ở các gen PI, P3, Cl và HC - Pro của hệ gen
virus [93] Kim & đtg đã sử dụng enzyme giới hạn EcoRI để cắt các sản
phẩm RT-PCR của gen Cl phân lập từ SMV và phân biệt được năm chủng (G5H, G5, G3, G6 và G7) [102] Các chủng gây bệnh đốm vòng đu đủ Potyviruses và virus khảm xà lách cũng đã được phân loại bằng cách sử dụng enzyme giới hạn [35], [109]
Hệ gen của SMV gồm các gen mã hóa 3066 amino acid trong 10 chuỗi polypeptid: P1 proteinase (P1), Helper component proteinase (HC-pro), Protein P3 (P3), 6 kDa protein 1(6K1), Cytoplasmic inclusion protein (CI), 6 kDa protein 2 (6K2), Protein liên kết hệ gen virus (VPg), Nuclear inclusion protein A (NIa), Nuclear inclusion protein B (NIb), Capsid protein (CP) (Hình 1.2) Hệ gen của BYMV gồm các gen mã hóa 3056 amino acid, và cũng gồm
10 chuỗi polypeptid giống như ở SMV [182]
Trang 26Won-Seok Lim và đtg (2003) đã thông báo trình tự nucleotide hoàn chỉnh của hệ gen SMV chủng G5 (SMV-G5), G7H (SMV-G7H) gồm 9588 nucleotide (chưa kể đuôi poly A), chứa một khung đọc mở (ORF) mã hóa cho một polyprotein mà sau đó được phân cắt thành 10 phân tử protein chức năng So sánh trình tự amino acid của 2 chủng G5 và G7 với các chủng SMV khác cho thấy sự tương đồng lớn giữa chúng Hệ số tương đồng về trình tự nucleotide và trình tự amino acid suy diễn giữa chủng SMV-G5 và SMV-G7H là 99% [168] Trình tự đầy đủ các nucleotide của các chủng này có thể cung cấp những cơ sở
để xác định các yếu tố quyết định đến triệu chứng bệnh khảm ở cây đậu tương,
từ đó có các biện pháp hiệu quả để phòng trừ SMV cho cây đậu tương
Hình 1.2 Bản đồ hệ gen của SMV và dự đoán các điểm cắt của protease
Bản đồ được xây dựng dựa trên cơ sở trình tự gen của SMV chủng G2 và G7 theo Jayaram và đtg, 1992 [95] Các hộp đề cập đến các gen khác nhau và UTR là vùng chưa dịch mã ở 5 'và 3' Các số ở dưới đề cập đến vị trí amino acid cắt từ polyprotein và các con số trong ngoặc đơn đề cập đến vị trí nucleotide cắt từ trình tự gen của SMV G2 và G7 CP là protein vỏ của virus, CI là protein hình trụ; HC-Pro là thành phần trợ giúp và protease; NIb là RNA polymerase phụ thuộc RNA; P1, P3, và NIa là protease; VPg là protein liên kết
Gen P1 mã hóa proteinase serine, tương tự trypsin – nằm ở đầu N của polyprotein tự động tách từ polyprotein P1 không có vai trò trong sự lây nhiễm virus vào tế bào chủ mà nó kích thích sự tái bản hệ gen và cùng với
Trang 27HC-Pro hoạt động theo hướng tăng cường khả năng gây bệnh bằng cách ức chế gen của tế bào chủ [159]
HC - Pro là một proteinase nhiều thành phần tham gia vào quá trình lây nhiễm virus của rệp, khuếch đại gen và vận chuyển polyprotein trong cây chủ Kasschau và đtg (1997) đưa ra giả thuyết rằng, HC-Pro có thể hoạt động như một chất ức chế sao chép, hạn chế phản ứng phòng vệ và vận chuyển trong cây chủ [99] HC-Pro của virus khảm đậu tương ức chế sự tích lũy mRNA ở cây chủ trong sự thúc đẩy việc lây nhiễm virus ở phôi hạt đậu non [164] Vùng trung tâm của HC-Pro có chức năng trong sự di chuyển của virus trong cây thuốc lá và có liên quan đến sự ức chế làm bất hoạt gen sau phiên mã
[99] Mặc dù đã có nghiên cứu về gen Rsv4 kháng SMV trên cây đậu tương,
nhưng vai trò tiềm năng của HC-Pro trong sự tương tác của SMV với cây đậu tương vẫn chưa được nghiên cứu nhiều
Chức năng của sản phẩm từ gen P3 không được biết nhiều, nhưng nó được cho là có vai trò trong sự lây nhiễm của virus và được minh chứng bằng kết quả nghiên cứu đột biến liên quan đến việc gây cảm ứng héo ở cây [159]
Gen mã hóa protein Cl của các Potyvirus có chức năng trung gian trong
sự di chuyển của virus từ tế bào này đến tế bào khác trong cây chủ Sự thay thế amino acid ở vùng đầu N của protein Cl đã ức chế sự di chuyển của virus trong
cây Nicotiana tabacum Xanthi [47] Protein Cl của Potyvirus hạn chế các cấu
trúc có tổ chức đặc biệt, các thể vùi, gắn vào plasmodesmata ngay sau khi nhiễm virus [90]
Gen NIa mã hóa protein NIa bao gồm cả VPg và miền proteinase ở vùng đầu C NIa nằm ở thể vùi trong nhân tế bào bị nhiễm VPg của nhiều Potyvirus được cho là có liên quan đến sự di chuyển của virus [140], [116] VPg liên kết với màng và có liên quan đến việc nhân lên của virus [135] NIb là RNA
polymerase phụ thuộc RNA (RdRp) cần cho sao chép của hệ gen và protein
Trang 28này có liên quan đến hoạt động liên kết với RNA [159]
Bằng chứng về tầm quan trọng của VPg là sự kháng lại sức đề kháng đối với Potyvirus của thực vật khi nghiên cứu TVMV ở các giống thuốc lá
Burley TN86 [119] và ở Pea seed-borne mosaic virus (PSMV; chi Potyvirus) trên cây Pisum sativum [100] Những phát hiện từ kết quả nghiên cứu TVMV
đã chỉ ra rằng, có sự thay đổi ở một trong bốn amino acid ở miền 6 amino acid (Cys, Ser, Lys, và Ser ở các vị trí tương ứng là: 1928, 1929, 1932 và 1923) của vùng TVMV-S VPg có chức năng phá vỡ sức đề kháng virus của cây chủ Đây là báo cáo đầu tiên về yếu tố quyết định trong vùng mã hóa của protein VPg ở virus có liên quan đến sự phá vỡ khả năng kháng bệnh ở cây
Sự thay đổi amino acid có thể phá vỡ sức đề kháng đối với PVY ở cây thuốc
lá “Virgin A Mutant” cũng đã được Masuta & đtg (1998) báo cáo [116]
1.1.3.2 Gen CP và sự đa dạng của các Potyvirus
Các Potyvirus lây nhiễm trên cây họ đậu biểu hiện sự đa dạng về đặc tính sinh học hơn là sự đa dạng về trình tự nucleotide trong nucleic acid Một cách để phân biệt virus về loài, chủng là so sánh trình tự nucleotide, đặc biệt
là vùng đầu 3‟ không mã hóa và trình tự gen CP Gen CP là gen đặc trưng
nhất ở các Potyvirus, mã hóa protein CP và được chia thành ba vùng: vùng đầu N, vùng lõi và vùng đầu C Chức năng của CP thể hiện trong sự nhân lên,
capsid hóa, di chuyển của virus từ tế bào đến tế bào và trong sự truyền virus
của rệp [159]
Thành phần và trình tự amino acid của CP là đặc trưng cho loài virus và
từng cá thể Rất ít có tương đồng về trình tự của CP giữa các chi virus thực
vật khác nhau Tuy nhiên, sản phẩm của các gen ở Potyvirus (trừ sản phẩm của
gen CP) lại có sự tương đồng về trình tự amino acid so với các chi và họ virus
thực vật khác Điều này cho thấy sự phân loại các thành viên của nhóm
Potyvirus có thể dựa trên trình tự gen CP và trình tự amino acid của CP [144]
Trang 29Phân tích trình tự amino acid của CP và trình tự nucleotide của gen CP
từ các Potyvirus đã được coi là công cụ mạnh mẽ không chỉ để nghiên cứu phân loại các virus thuộc chi mà còn đối với các chủng trong Potyvirus [118] Phân tích sự phát sinh loài dựa trên trình tự nucleotide của Potyvirus cho thấy, các thành viên có trình tự với hệ số tương đồng là 38% - 71% được nhận dạng
là các loài virus khác nhau; còn các thành viên có trình tự với hệ số tương đồng ít nhất là 90% được nhận dạng là cùng chủng virus [144]
Trình tự gen CP phân lập từ bốn chủng SMV đã khẳng định vị trí của gen CP ở vùng đầu 3, tiếp theo là vùng không dịch mã (UTR) và đến đuôi polyA [93], [132] Trong vùng đầu N của CP ở Potyvirus, bộ ba amino acid DAG được biết là có liên quan đến côn trùng truyền bệnh và các vùng của CP
giữ vai trò khác nhau đối với sự di chuyển của virus trong tế bào [92] Bộ ba amino acid GRD ở vị trí 2120 đến 2122 trong protein VPg tồn tại giống nhau
ở một số Potyvirus khác nhau [82] Bộ ba amino acid GRD có ở SMV G2, nhưng không có ở SMV G7, trong đó lysine được thay thế cho arginine tại vị trí amino acid 2121, kết quả tạo ra bộ ba GKD Sự thay thế amino acid này có liên quan với khả năng kháng SMV chủng G7 ở cây đậu tương [93]
Gen CP ở SMV có kích thước là 807 nucleotide, vùng mã hóa gồm 804
nucleotide mã hóa 267 amino acid, và từ amino acid thứ 33 đến 264 trong CP
được gọi là vùng Poty-coat [93] Ở BYMV, gen CP có kích thước 933
nucleotide, vùng mã hóa gồm 822 nucleotide, mã hóa 273 amino acid, trong
đó vùng Poty-coat từ amino acid thứ 37 đến 272 [103] Các số liệu so sánh cho thấy có sự khác biệt lớn về kích thước và trình tự amino acid của CP, tuy nhiên lại có sự tương đồng cao về trình tự ở vùng đầu C của CP [75]
Các chủng virus cũng được phân biệt bởi những thay đổi trong hệ gen
của chúng Sử dụng enzyme giới hạn RsaI và HinfI cắt sản phẩm PCR khuếch đại gen CP từ Citrus tristeza virus (Chi Closterovirus) kết quả cho thấy đã có
Trang 30sự thay đổi về trình tự gen CP [74] Sự khác biệt được xác định bằng phương
pháp PCR có liên quan chặt chẽ với sự khác biệt về mặt sinh học của virus gây
bệnh đốm vòng (Chi Ilarvirus) [77] Phân tích sự phát sinh loài cũng được sử
dụng để phân biệt Potyvirus khác nhau [35], [132]
1.3 NGHIÊN CỨU CHUYỂN GEN Ở CÂY ĐẬU TƯƠNG
1.2.1 Ứng dụng tiến bộ trong chuyển gen ở cây đậu tương
Cho đến nay, các nhà khoa học đã và đang sử dụng nhiều hệ thống sinh học, bao gồm vi khuẩn, nấm, các dòng tế bào côn trùng, thực vật, động vật có
vú, virus của côn trùng, của thực vật, các sinh vật đa bào,… để tạo protein tái
tổ hợp So với các hệ thống truyền thống, thực vật có nhiều lợi thế trong việc sản xuất protein tái tổ hợp, bởi vì: (1) Khả năng glycosit hoá các protein, bởi các glycoprotein là nhóm protein có vai trò quan trọng trong các phản ứng miễn dịch; (2) Protein tạo thành từ thực vật tương đối an toàn so với protein
có nguồn gốc động vật bậc cao; (3) Thực vật có thể trồng trên diện tích lớn với chi phí thấp về phân bón, công chăm sóc và nguyên liệu đầu vào, nên giá thành thấp
Kỷ nguyên Genomics (Hệ gen học) đang được ứng dụng trên cây đậu tương và ở nhiều cây trồng khác Gần đây dữ liệu hệ gen học được phát triển dựa trên những thông tin về trình tự các gen trong hệ gen của cây đậu tương [45] và một lượng lớn thông tin về giải mã hệ gen cây đậu tương có thể tìm thấy ở Ngân hàng gen quốc tế [182] Ngoài ra, nguồn thông tin khác cũng được phát triển, như dữ liệu EST (expressed sequence tag), thư viện cDNA, microarray [182] Những nguồn thông tin này là cơ hội của việc ứng dụng các tiến bộ chọn giống đậu tương bằng chỉ thị phân tử và kỹ thuật chuyển gen, là cơ sở của những hiểu biết về chức năng gen trên cơ sở tách dòng gen và phương pháp di truyền ngược Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng một hệ thống chuyển gen ổn định và có hiệu
Trang 31quả ở cây đậu tương là điều cần thiết đi tới thành công trong chiến lược chọn giống đậu tương bằng kỹ thuật chuyển gen
Hai nhóm phương pháp được ứng dụng trong nghiên cứu chuyển gen
ở thực vật là chuyển gen trực tiếp và chuyển gen gián tiếp Trong đó, phương pháp chuyển gen trực tiếp bằng súng bắn gen và chuyển gen gián
tiếp thông qua A tumefaciens đã được ứng dụng phổ biến và thành công
đối với cây đậu tương [56]
1.2.1.1 Chuyển gen bằng súng bắn gen vào phôi soma đậu tương
Chuyển gen trực tiếp là kỹ thuật chuyển đoạn DNA trực tiếp vào tế bào thực vật với sự giúp đỡ của các phương tiện hóa học hay vật lý
chuyển gen bằng súng bắn gen đã được ứng dụng thành công ở cây đậu tương [171]
Chuyển gen bằng súng bắn gen ở thực vật là kỹ thuật dẫn các hạt nhỏ bằng vàng hoặc bằng tungsten được bọc bởi gen chuyển vào tế bào, mô đích [50], [171] Ưu điểm của phương pháp bắn gen là thao tác dễ dàng, bắn một lần được nhiều tế bào, nguyên liệu để bắn gen đa dạng (hạt phấn, tế bào nuôi cấy,
tế bào của các mô biệt hóa và mô phân sinh) Giống đậu tương chuyển gen đầu tiên được tạo ra bằng kỹ thuật sử dụng súng bắn gen từ năm 1988, đến nay phương pháp chuyển gen này đã được cải tiến, phát triển và áp dụng cho hầu hết các giống đậu tương [117], [171], và hàng loạt các công bố về biến nạp thành công trên cây lúa, đu đủ, mía, bông,… kết quả này đã khẳng định tính ưu việt của phương pháp bắn gen Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là tần số biến nạp còn thấp, cây tạo ra có thể ở dạng thể khảm
Kể từ khi súng bắn gen được sử dụng lần đầu tiên trên cây đậu tương,
kỹ thuật chuyển gen đã đạt được thành công đối với phôi mầm hạt chưa chín [117], phôi soma [66] và đỉnh mô phân sinh [30] Phôi soma được tạo ra từ lá mầm non nuôi cấy trong môi trường có bổ sung 2,4D với nồng độ cao và
Trang 32được sử dụng để tạo ra các phôi mầm có thể tái sinh và tạo cây hoàn chỉnh [66] Vì quá trình hình thành mô phân sinh phụ thuộc vào kiểu gen cho nên chỉ có một số ít giống đậu tương sử dụng chuyển gen thành công Căn cứ vào tiềm năng của phôi soma, phôi tăng sinh và tái sinh cây mà giống đậu tương
“Jack” được xem là có đủ các đặc tính cần thiết cho chuyển gen và được sử dụng để tạo ra cây đậu tương chuyển gen [154], bởi sự thay đổi quy trình nuôi cấy mô chỉ có thể khắc phục được một phần ảnh hưởng của kiểu gen đến hiệu quả chuyển gen Phôi soma là một đặc tính di truyền nhưng cũng có thể cải thiện được nhờ lai giống [125] Khả năng tạo phôi soma có thể thành công đối với các kiểu gen đậu tương khác nhau [106]
Các quá trình vật lý trong chuyển gen có xu hướng dẫn đến sự kết hợp, phân mảnh và tái cấu trúc gen chuyển, điều này đôi khi dẫn đến làm bất hoạt gen chuyển Việc sử dụng các gen thông báo và gen chỉ thị chọn lọc có thể trợ giúp làm giảm sự bất hoạt gen chuyển của hệ thống chuyển gen vật lý và tạo điều kiện cho sự phục hồi cây chuyển gen cũng như sự thể hiện của gen đích giữa hai gen chỉ thị [120]
Phôi soma đậu tương đã thu hút sự chú ý như một mô hình phôi zygotic Phôi soma tăng sinh có thể duy trì các đặc tính tái sinh trong hơn một năm và khi cần nó có thể được làm cho trở lại trạng thái biệt hóa và phát triển một cách nhanh chóng [66] Phôi soma sinh trưởng tích lũy protein dự trữ hạt
có các đặc tính như hạt đang phát triển [56] và thành phần acid béo của chúng cũng tương tự như ở hạt [57] Phôi chuyển gen thường được tạo ra sau 7 tuần
kể từ khi dùng súng bắn gen để biến nạp gen chuyển vào phôi [101], các khối
mô đồng nhất chuyển gen có thể dễ dàng và liên tục tạo ra sự biệt hóa Vì vậy phôi soma đã được sử dụng để đánh giá đặc tính của hạt chuyển gen trước khi tạo cây hoàn chỉnh, và sau đó là quá trình chọn lọc các dòng cây chuyển gen
tái sinh in vitro [84], [121]
Trang 331.2.1.2 Chuyển gen ở đậu tương nhờ vi khuẩn A tumefaciens lây nhiễm qua nách lá mầm tổn thương
Khác với các phương pháp chuyển gen trực tiếp ở thực vật, phương
pháp chuyển gen gián tiếp được thực hiện thông qua vi khuẩn đất A
tumefaciens Đối với cây đậu tương, phương pháp chuyển gen nhờ A tumefaciens được ứng dụng từ năm 1988 và hiện nay đã đạt được những
thành tựu rất đáng khích lệ [87]
Chuyển gen gián tiếp ở đậu tương thông qua vi khuẩn Agrobacterium
bao gồm : (i) Nghiên cứu thu thập thông tin về gen liên quan đến đặc tính, tính trạng quan tâm và phân lập gen; (ii) Thiết kế vector chuyển gen; (iii) Tạo vi khuẩn mang cấu trúc gen chuyển; (iv) Lây nhiễm vào
mô tế bào thực vật; (v) Chọn lọc các thể biến nạp và tái sinh cây biến nạp; (vi) Phân tích cây chuyển gen
Agrobacterium là loài vi khuẩn đất Gram âm gây bệnh khối u ở thực
vật và có khả năng lây nhiễm một cách tự nhiên giữa các loài thực vật khác
nhau [58] Agrobacterium có thể gây ra bệnh khối u (A tumefaciens) và gây bệnh rễ tơ (A rhizogenes) phổ biến trên nhiều loài thực vật [72] A
tumefaciens chủ yếu lây nhiễm vào thực vật qua các vết thương và do vậy có
thể coi A tumefaciens là một công cụ sử dụng để chuyển các gen mong muốn vào cây đậu tương [37] Ưu điểm của phương pháp chuyển gen thông qua A
tumefaciens là đơn giản, quen thuộc và yêu cầu tối thiểu về dụng cụ, dễ dàng
chuyển một gen đơn lẻ vào cây chủ hoặc chỉ cần số bản copy thấp [79]
Chuyển gen thông qua A tumefaciens ở đậu tương trong môi trường đồng
nuôi cấy được tiến hành trên nách lá mầm [87] mà khởi nguồn phương pháp
này dựa vào kiểu gen đậu tương mẫm cảm với A tumefaciens và khả năng tái
sinh cây từ nách lá mầm [123] Nách lá mầm là phần nối giữa lá mầm và thân chứa các tế bào mầm có khả năng phát sinh chồi và tăng sinh trong môi trường
Trang 34nuôi cấy chứa cytokinin Mức độ hình thành chồi ở nách lá mầm phụ thuộc vào loại cây sử dụng chuyển gen Nhìn chung gây tổn thương nách lá mầm bằng các vết cắt và kim châm đòi hỏi phải có kỹ thuật và sự khéo léo để tạo ra đủ mô đích cho sự nhiễm khuẩn [181] Tuy nhiên, nếu sử dụng bàn chải làm từ thép không gỉ để tạo các vết thương ở nách lá mầm thì không yêu cầu nhiều về mặt
kỹ thuật [171]
Những cây đậu tương chuyển gen đầu tiên mang cấu trúc gen npII đã
sử dụng kháng sinh kanamycin làm chất chọn lọc [87] và đến nay các dòng tế bào chuyển gen đã sử dụng các chất chọn lọc bởi sự kết hợp gen bar và glufosinate Nồng độ chất chọn lọc có ảnh hưởng lớn đối với tần suất chuyển gen [176], vì thế phương pháp lựa chọn chất chọn lọc là khác nhau giữa các kiểu gen đậu tương Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn có thể sử dụng
để phát triển các dòng đậu tương chuyển gen Paz và đtg (2006), Zeng và đtg (2004) cho rằng, hiệu suất chuyển gen có thể đạt từ 0,2% đến khoảng 10% và hiệu quả chuyển gen phụ thuộc vào kỹ thuật và kiểu gen của đậu tương [125], [176] Ở Mỹ, cây đậu tương chuyển gen chủ yếu được tạo ra từ phương pháp
chuyển gen nhờ A tumefaciens qua nách lá mầm và các các giống đậu tương
chuyển gen được cung cấp bởi các cơ sở nghiên cứu do chính phủ quản lý, bao gồm Trung tâm Plant Transformation Facility thuộc Đại học Iowa State, Trung tâm Plant Transformation Core Facility thuộc Đại học Missouri [171] Điều này đã gợi ý sự cần thiết và kinh nghiệm tổ chức và quản lý chặt chẽ quá trình nghiên cứu chuyển gen ở đậu tương ở các quốc gia trên thế giới, trong
đó có Việt Nam
1.2.1.3 Phân tích cây đậu tương chuyển gen
Kỹ thuật chuyển gen ở thực vật nói chung và chuyển gen ở cây đậu tương nói riêng được hiểu đẩy đủ là: (i) gen ngoại lai (gen chuyển) phải được hợp nhất vào hệ gen tế bào chủ; (ii) gen chuyển phải được biểu hiện ở tế bào chủ; (iii) gen
Trang 35chuyển phải được di truyền cho các thế hệ sau; (iv) trong mỗi thế hệ sản phẩm của gen chuyển phải được biểu hiện, và (v) sản phẩm của gen chuyển biểu hiện được chức năng sinh học Chính vì vậy quá trình chọn lọc, phân tích cây chuyển gen trong mỗi thế hệ được thực hiện bằng hệ thống chọn lọc tế bào và
mô chuyển gen, xác định sự có mặt của gen chuyển trong tế bào cây chủ, kiểm tra sự biểu hiện của gen chuyển thông qua xác định sản phẩm biểu hiện
là mRNA, protein và phân tích sự biểu hiện chức năng sinh học của gen chuyển Có thể mô tả khái quát các thí nghiệm chuyển gen và phân tích cây chuyển gen ở sơ đồ hình 1.3
Hình 1.3 Sơ đồ phương pháp phân tích cây chuyển gen
Quá trình tạo cây chuyển gen đòi hỏi một phương tiện hiệu quả để xác định và lựa chọn các tế bào và mô chuyển gen và không phụ thuộc vào hệ thống chuyển gen được sử dụng Gen chỉ thị chọn lọc có thể sử dụng gen
Trang 36kháng kháng sinh hoặc kháng thuốc diệt cỏ sẽ cho phép chọn được các vật liệu biến đổi gen [43] Kháng sinh hygromycin đã được sử dụng thành công như một nhân tố chọn lọc và trở thành kháng sinh tiêu chuẩn cho việc chọn lọc các mô chuyển gen ở đậu tương, đặc biệt là các mô phát sinh phôi [88], [111] và các tế bào của nách lá mầm đậu tương [122] Điều này đã chứng minh hygromycin giúp loại bỏ những mô không mang gen chuyển và làm giảm thời gian nuôi cấy
Biện pháp tăng hiệu quả chuyển gen ở cây đậu tương qua nách lá mầm được thực hiện bằng cách sử dụng mức tối ưu glufosinate [176], đồng thời một hệ thống mới cũng được phát triển để chọn lọc tế bào mô phân sinh biến đổi gen từ phôi trục đạt được khả năng kháng thuốc diệt cỏ imidazolinone
bằng cách đưa vào một gen đột biến của cây Arabidopsis (csr1-2) Rao và đtg
(2009) đã phát triển thành công một hệ thống chọn phôi soma bằng cách sử
dụng gen E coli dap A, mà sản phẩm của gen này có khả năng kháng
glufosinate, glyphosate, S-(2 aminetyl)-L-cysteine và imidazolinones [133]
Hệ thống gen gus (gus, gusA và uidA) mã hóa cho β-glucuronidase lần đầu tiên được phân lập từ E coli [95] và ngay sau khi phát hiện, nó nhanh
chóng được phát triển thành hệ thống chỉ thị cho chuyển gen ở thực vật [94]
Ngày nay, việc sử dụng gen gus trong chuyển gen thực vật ngày càng rộng
rãi, nhất là trong những thí nghiệm khảo sát quy trình chuyển gen vào một giống cây mới [114]
Trên nguyên tắc gen ngoại lai khi được biến nạp có thể tồn tại trong tế bào chủ ở ba trạng thái: (1) Tạm thời ở dạng DNA tự do; (2) Lâu dài dưới dạng một thể plasmid độc lập và (3) ổn định như một đoạn DNA của hệ gen
tế bào chủ và được nhân lên trong tế bào chủ Phương pháp sinh học phân tử được ứng dụng nhằm xác định sự có mặt, sự di truyền và sự biểu hiện của gen chuyển trong tế bào chủ Có thể sử dụng PCR để phân tích cây chuyển gen, tuy nhiên phương pháp lai Southern blot xác định số bản sao trong cây
Trang 37chuyển gen là phương pháp tin cậy và thông dụng nhất Gần đây, một kỹ thuật thường sử dụng để hỗ trợ cho lai Southern blot trong việc phát hiện số bản sao
trong cây chuyển gen là Quantitave real-time PCR (Q-PCR) Q-PCR có thể
tiến hành với số lượng cây cần phân tích nhiều, do dễ thực hiện, tiết kiệm nguyên liệu chi phí và công sức [92]
Biểu hiện gen là quá trình hoạt động của gen để tạo ra sản phẩm cuối cùng là protein Quá trình biểu hiện gen được thể hiện qua hai giai đoạn: (1) Phiên mã từ DNA sang mRNA và (2) Dịch mã từ mRNA tổng hợp các phân
tử protein thông qua bộ máy ribosome Để xác định sự có mặt của sản phẩm phiên mã có thể sử dụng kỹ thuật RT-PCR, real-time RT-PCR, thực hiện lai Northern blot Đối với các bệnh do virus ở thực vật người ta có thể sử dụng
kỹ thuật real-time RT-PCR để đánh giá cây chuyển gen kháng virus thông qua phiên mã để phát hiện và định lượng virus trên cây nhiễm bệnh [137] Để đánh giá sự có mặt của protein do gen chuyển tạo ra có thể thực hiện một số
kỹ thuật khác nhau như kỹ thuật lai Western blot, ELISA và các kỹ thuật phát hiện hoạt động của protein (hoặc enzyme)
1.2.2 Định hướng ứng dụng và thành tựu nghiên cứu chuyển gen ở cây đậu tương
1.2.2.1 Tiếp cận kỹ thuật chuyển gen nhằm cải thiện các thành phần của hạt
Cải thiện hàm lượng và chất lượng protein
Kỹ thuật chuyển gen được ứng dụng nhằm tăng cường hàm lượng, chất lượng protein trong hạt đậu tương Protein đậu tương có hàm lượng dinh dưỡng được xem tương đương với protein của thịt và trứng, ngoại trừ sự khác biệt về amino acid chứa lưu huỳnh đặc biệt là methionine [65] Vì vậy để tăng cường các loại protein có hàm lượng methionine cao ở hạt đậu tương, người
ta đã chuyển gen mã hóa β-casein phân lập từ trâu, bò và zein phân lập từ ngô
Trang 38vào cây đậu tương theo nguyên tắc thiết kế vector chuyển gen chứa promoters biểu hiện ở hạt [112] Mặc dù chưa có thông tin về hiện tượng tăng hàm lượng amino acid tự do chứa các gốc lưu huỳnh trong hạt đậu tương, nhưng
amino acid quan trọng khác là lysine, tryptophan và threonine đã tăng đáng kể trong hạt đậu tương bởi sự biểu hiện gen mã hóa các enzyme liên quan đến chuỗi phản ứng tổng hợp các amino acid này [130] Cải thiện hàm lượng các loại amino acid trong hạt đậu tương được xem là một cách tiếp cận đáng tin cậy để nâng cao chất lượng dinh dưỡng hạt đậu tương
Đậu tương cũng được xem là một lò phản ứng sinh học sản xuất protein
có hiệu quả nhất trong nông nghiệp Các protein có hoạt tính dược học như hormone sinh trưởng người, nhân tố sinh tế bào sợi và vaccine
ăn được đã được tích lũy trong hạt của cây đậu tương chuyển gen [55] Mặc
dù các loại protein có hoạt tính sinh học chiếm tới 3% so với tổng hàm lượng protein trong hạt, nhưng các loại protein có hoạt tính dược học gần như là con
số không so với hàm lượng protein dự trữ trong hạt Thay vào đó, một giải pháp khác là sử dụng các protein dự trữ chính trong hạt, -conglycinin và glycinin, như là một chất vận chuyển các peptid có hoạt tính sinh học [172] Một peptid sáu vòng có hoạt tính sinh học, novo-kinin đã được ghép vào tiểu đơn vị α của -conglycinin ở 4 vị trí bằng cách thay thế amino acid, và các hạt đậu chuyển gen chứa các protein đã được thay đổi với sự biểu hiện các đặc tính mong muốn [172]
Cải thiện thành phần dầu
Khoảng 75% lượng dầu thực vật trên thế giới từ dầu dừa, hạt đậu tương, hạt cải dầu, hạt hướng dương và một số cây trồng khác Dầu đậu tương được sử dụng rộng rãi làm dầu ăn, trong công nghiệp mực in, dầu nhờn và xăng sinh học Với mục đích cải thiện hàm lượng dầu và thành phần dầu trong hạt đậu tương người ta sử dụng kỹ thuật chuyển gen Dầu được chứa trong hạt
Trang 39ở dạng triacylglycerol, gen mã hóa acyltransferase đã được chuyển vào đậu tương để tăng cường sinh tổng hợp triacylglycerol kết quả làm tăng tối đa 3,2% hàm lượng dầu trong hạt [133]; hoặc tăng sự tích tụ của acid vernolic và 12-epoxy-18: 2Delta (9,15) trong hạt đậu tương chuyển gen [46]
Đặc tính của dầu được quyết định bởi thành phần lipid Các phương pháp chuyển gen có thể cung cấp nhiều lựa chọn để làm thay đổi thành phần dầu trong hạt đậu tương cho các mục đích sử dụng khác nhau Dầu đậu tương
có các thành phần palmitic, stearic, oleic, linoleic và acids linoleic [170] Hàm lượng cao của các axit béo không no trong dầu đậu tương làm cho dầu không
ổn định và có mùi khó chịu Phương pháp chuyển gen mang cấu trúc RNAi làm bất hoạt gen liên quan đến sự tổng hợp acid béo không no đã được ứng dụng để cải thiện đặc tính này ở cây đậu tương [98]
Vitamin E bao gồm các dạng khác nhau như tocopherol và tocotrienols (dạng , , và ) Tất cả đều có khả năng chống oxy hoá lipid, trong đó mạnh nhất là -tocopherol [42], [82] Vitamin E được dùng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm như chất chống oxy hoá, đồng thời cũng được dùng cho người và động vật để giúp phòng bệnh Trong chế biến đậu tương, tocopherol được chiết xuất cùng dầu Thành phần của chúng chỉ chiếm 1,5% hàm lượng dầu được chiết xuất, nhưng chúng có vai trò quan trọng đối với sự
ổn định và không bị oxi hoá của dầu [89] Tác động vào bước chính để chuyển đổi -tocopherol sang -tocopherol làm tăng hàm lượng - tocopherol lên 95% của tocopherol toàn phần trong hạt đậu tương chuyển gen [153]
Cải thiện một số thành phần khác
Isoflavones là các thành phần quan trọng được tổng hợp trong cây họ đậu Ngoài vai trò kiểm soát quá trình tương tác giữa cây và vi sinh vật, chúng còn được biết đến như chất nội tiết phyloustogen và các chất hoạt tính sinh học khác liên quan đến sức khoẻ con người, như có hiệu quả chống ung
Trang 40thư, giảm nguy cơ bệnh mạch vành [143] Saponins là một nhóm chất có cấu trúc đa dạng phân bố nhiều trong các loài thực vật Dựa trên cơ sở cấu trúc hoá học người ta đã xác định saponins ở đậu tương được phân bố trong bốn nhóm (A, B, E và DDMP) và chúng có tác dụng dược học khác nhau như chống phù lipid, chống lại sự nhân lên của tế bào ung thư trực tràng Theo Takagi và đtg (2011), gen mã hóa -amyrin synthase tham gia tổng hợp một loại chất trong quá trình sinh tổng hợp saponins của hạt đậu tương chuyển gen
đã bị ức chế bởi cơ chế RNAi [152]
Hạt đậu tương chứa số lượng lớn các phytic acid và chúng sẽ giải phóng phosphor và myoinositol trong quá trình hạt nảy mầm Cây đậu tương chuyển gen có nồng độ phosphor tăng gấp 3 lần và phytate giảm 3 lần [48]
1.2.2.2 Tiếp cận kỹ thuật chuyển gen nhằm cải thiện tính kháng đối với các tác nhân hữu sinh và vô sinh
Tăng cường khả năng kháng côn trùng và vi sinh vật
Protein tinh thể có tác dụng diệt côn trùng (cry hoặc -endotoxin) là
protein hoạt tính độc tố của Bacillus thuringiensis (Bt), một loại thuốc trừ sâu sinh học [151] Biểu hiện của gen cry Bt ở đậu tương đã được chứng minh là
có hiệu quả cao trong việc kiểm soát côn trùng gây bệnh [148] và kháng lại các loại bướm đã được kiểm chứng trên thực địa [162] Tuy nhiên, việc phát
hiện côn trùng có thể thích ứng với protein cry Bt đã gây nên mối lo ngại về việc sử dụng lâu dài và liều lượng cao cry Bt [117] Giải pháp cho vấn đề này
là sự kết hợp gen cry Bt với gen mã hóa protein diệt côn trùng khác để chuyển vào cây đậu tương [180]
Sản xuất đậu tương trên thế giới đã đạt được những thành tựu đáng kể
về năng suất và sản lượng, tuy nhiên ở nhiều vùng sản xuất đậu tương còn
có hạn chế về năng suất, chất lượng do các tác nhân gây bệnh, như sâu bệnh,
vi khuẩn, virus [81] Bệnh khảm ở cây đậu tương do SMV gây ra là loại