1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tuyển chọn và áp dụng một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất chuối tiêu xuất khẩu tại phú hộ phú thọ

119 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Eumusa có các nòi chuối dại có thể không hoặc ít khi có ích nhưng lại có giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu về phân loại ví dụ Musabasjvo sicb, cây dùng để lấy sợi, chịu rét tốt có

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

TRIỆU TIẾN DŨNG

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN VÀ ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT CHUỐI TIÊU XUẤT KHẨU TẠI PHÚ HỘ - PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRIỆU TIẾN DŨNG

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN VÀ ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT CHUỐI TIÊU XUẤT KHẨU TẠI PHÚ HỘ - PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thanh Vân

Thái Nguyên - 2010

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Triệu Tiến Dũng

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Để hoàn thành luận án này ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự tận tình giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới:

PGS.TS Đào Thanh Vân, Trưởng bộ môn Cây ăn quả - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, giáo viên hướng dẫn đã có nhiều công sức trong việc hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này

Ban Giám đốc cùng tập thể lãnh đạo Trung tâm NC&PT rau hoa quả đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian cũng như kinh phí trong quá trình học tập và bảo vệ luận văn

Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Người cảm ơn

Triệu Tiến Dũng

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chuối là loại trái cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia và vùng miền trên thế giới, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thương mại rau quả của toàn cầu, là cây có ưu thế xuất khẩu đứng đầu về khối lượng và đứng thứ hai về kim ngạch, sau cam trong cơ cấu xuất khẩu trái cây của thế giới Đây cũng là loại hàng hóa nhạy cảm về kinh tế, chính trị, xã hội Theo đánh giá của FAO, tổng kim ngạch xuất khẩu chuối đạt 16,8 triệu tấn vào năm 2006 Cùng với gạo, lúa mì, ngũ cốc, chuối cũng là một trong số những mặt hàng chủ lực của nhiều nước đang phát triển

Tuy nhiên, xuất khẩu chuối của một số nước sản xuất chính như Ấn

Độ, Braxin lại không cao Trên thực tế thì chỉ có 1/5 số lượng chuối sản xuất

ra được dùng để xuất khẩu

Ngành công nghiệp chuối đem lại nguồn thu nhập quan trọng, tạo nhiều việc làm và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu lớn cho những nước xuất khẩu chuối chính trên thế giới, cả những nước đang phát triển ở Mỹ Latinh và Caribean, cũng như là Châu Á và Châu Phi Theo FAO, xuất khẩu chuối của

cả thế giới đạt được trên 5,8 tỷ USD một năm (theo thống kê năm 2006)

đã đem lại nguồn thu nhập lớn cho nhiều nước Sự biến động về nguồn cung chuối cho xuất khẩu và giá chuối có tác động lớn tới thu nhập của người lao động trực tiếp trong ngành này, từ những hộ gia đình trồng chuối cho đến những công nhân làm ở những đồn điền lớn Không những thế, ngành chuối còn có tác động lớn tới cả những người làm trong ngành công nghiệp thứ 2 và thứ 3

Chuối là loại cây cây ăn quả dễ trồng, yêu cầu đầu tư thấp, quả ít bị ảnh hưởng độc hại do có vỏ dày, hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là hàm lượng đường Trong 100gr thịt quả chuối tươi tỷ lệ đường chiếm 27%, prôtêin 1,8%,, lipit 0,3%, chuối cung cấp một lượng calo đáng kể 173 Kcal/100gr thịt

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

quả, trong khi đó cam chỉ có cho 53 Kcal/100gr Đối với chuối luộc (Cooking Banana) thì tỷ lệ Gluxit 31%, lipit 0,2%, prôtêin 1% và cho 128 Kcal/100gr thịt quả [2] Ngoài ra, trong quả chuối còn có nhiều loại vitamin khác nhau, đặc biệt là Vitamin A, B1, B12,… (FAO 1985) [39] Chính vì vậy chuối trở thành thức ăn cho mọi tầng lớp nhân dân chẳng những ở các quốc gia nhiệt đới mà khắp mọi nơi trên thế giới

Ở Việt Nam cây chuối đã đuợc trồng phổ biến từ lâu đời rải rác trong các vườn gia đình khắp cả nước từ đồng bằng, trung du, đến miền núi và có vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân Quả chuối được sử dụng làm lương thực, ăn tươi, làm bánh, kẹo, nước giải khát, bột dinh dưỡng cho trẻ em… Ngoài sản phẩm quả các bộ phận khác của cây chuối đều có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau như thân giả dùng để chăn nuôi, lá dùng làm để gói, cây non và hoa dùng để làm rau, các phần khác có thể làm phân bón… hoặc phơi khô làm chất đốt Chuối là cây xuất khẩu có giá trị với nhiều loại mặt hàng như quả tươi, chuối sấy khô…

Chính vì vậy chuối được đánh giá là một trong ba cây ăn quả chính cam, chuối, dứa và diện tích trồng không ngừng tăng lên Năm 2002 diện tích chuối trong cả nước là 96.000ha, năm 2004 là 102.091 ha và đến năm 2005 tăng lên là 103.400ha chiếm 13,4,% cây ăn quả trong cả nước Cho đến năm

2005 sản lượng chuối 1.354,300 tấn

Tuy có vai trò chiến lược như vậy, song cho đến nay công tác nghiên cứu về cây chuối ở nước ta còn chưa đầy đủ và hệ thống, có thể nói chưa xứng với vai trò kinh tế của nó trong sản xuất và xuất khẩu Việc sản xuất ở nước ta còn gặp một số khó khăn do chuối trồng phân tán, thu hoạch không đồng đều, giống chuối quá đa dạng, năng suất, phẩm chất không ổn định Để

có một giống tốt phục vụ cho xuất khẩu cần phải tiến hành nghiên cứu và tuyển chọn giống có định hướng rõ rệt để quy hoạch sản xuất vùng trồng chuối với số lượng lớn, tập chung có quy mô theo hướng sản xuất hàng hoá đặc biệt cho xuất khẩu Chính vì thế, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu

Trang 7

tuyển chọn và áp dụng một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất chuối tiêu xuất khẩu tại Phú Hộ - Phú Thọ”

2 Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống chuối trong tập đoàn VN1 tại Phú Hộ, Phú Thọ Sơ bộ chọn ra một số giống có triển vọng cho xuất khẩu và nội tiêu, phù hợp với điều kiện sinh thái Phú Thọ

- Khảo nghiệm các giống có triển vọng và nhập nội, tìm ra các giống chuối phục vụ cho việc sản xuất chuối thương mại ở miền Bắc Việt Nam

- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh sản xuất chuối tiêu vụ đông

ở miền Bắc

2.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

* Cung cấp cho các nhà chọn giống cây trồng nói chung và chuối nói riêng những thông tin cơ bản về các giống chuối ở Việt Nam trong vườn tập đoàn VN1

* Tạo cơ sở bước đầu cho việc tuyển chọn các giống chuối ở miền Bắc Việt Nam Áp dụng BPKT sản xuất chuối tiêu đông nhằm giải vụ thu hoạch cho người dân trồng chuối

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu gồm các giống chuối dòng AAA trồng trong vườn tập đoàn VN1 và các giống nhập nội Trung Quốc

* Phạm vi nghiên cứu đề tài: Tiến hành năm 2008 - 2009 tại Trung tâm NC&PT rau hoa quả và các vùng phụ cận dọc theo sông Hồng (Thị xã Phú Thọ - Phú Thọ, huyện Lâm Thao - Phú Thọ)

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Cơ sở khoa học của đề tài

Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của các giống chuối để phát hiện các biểu hiện hình thái, các hiện tượng sinh lý của cây, nhằm xác định được giai đoạn, chu kỳ sinh trưởng khác nhau của cây chuối như thân, lá, hoa, quả Trên cơ sở đó nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác, có ảnh hưởng tốt đến năng suất, chất lượng chuối Góp phần nâng cao sản lượng chuối, tăng thu nhập cho người dân

2 Đặc điểm thực vật học của cây chuối

Cây chuối nằm trong họ Musaceae là một trong 8 họ trong bộ gừng Zingiberales (trước kia gọi là Csitaminales) [3]

Trong Bộ gừng, Musaceae là họ nguyên thủy nhất, chúng gồm những

cây thân thảo lớn có rễ, sống lâu năm, lá mọc xoắn ốc có bẹ lá ôm lấy nhau tạo thành thân giả, phiến lá rất lớn Cụm hoa mọc theo kiểu hoa tự bông vô hạn được hình thành ở ngọn từ thân khí sinh Trục mang hoa và thân thật được mọc lên từ củ dưới lòng đất Lá bắc lớn trong chứa từ 1 - 3 hàng hoa Những hoa ở gốc của cụm hoa là hoa cái, hoa ở giữa là hoa lưỡng tính, hoa trên cùng là hoa đực Bao hoa gồm 2 hoặc 3 vòng nhưng tạo thành 2 cánh, cánh ngoài cùng được tạo bởi 3 đài đính liền với 2 cánh hoa và thường có mầu vàng ươm hay mầu vàng nhạt, cánh hoa trong nằm đối diện với mảnh ngoài thường ngắn, màu trong suốt và được hai mép của cánh ngoài bao phủ

Có 5 nhị, bộ nhụy, lá noãn hợp bầu dưới, quả mọng, chứa nhiều hạt tuy nhiên

ở loài chuối trồng hạt thui đi rất sớm [3]

Trang 9

Cheesman (1947 - 1950) [27] Bake và Simmonds (1951) [21] Simmonds (1960 [57] đã đưa ra sơ đồ giới thiệu tổng quan

Bảng 1.1: Các đặc điểm phân loại chuối

Bộ Ordo Họ Family Đặc điểm của họ Chi Genus

Có 2 chi Ensete Musa

Trelibziaceae Lá và lá bắc xếp thành 2 dãy đối

xứng nhau Gân chính nằm song song không rõ đường phân nhánh ngang của gân, lá đài rời, hoa lưỡng tính cánh hoa ở giữa rộng hơn các phần bên, quả nang hoặc quả thịt chứa từ 1 đến 3 hạt

Có 3 chi Strelitzia Ravennala

Phenakospermun

Heliconiaceae Lá và lá bắc xếp thành 2 dãy gân

phụ của lá dạng lông chim hoặc hơi ngang, hoa lưỡng tính lá bắc rất to, dài mở rộng

Có 1 chi Heliconia

Lowiaceae Gân chính song song, gân phụ

được nối với gân chính lá đài dính nhau tạo hình ống cánh hoa giữa hẹp, có mầu sắc

dãy xoắn ốc Bộ nhị hình cánh hoa có một bao phấn 2 ô nhỏ

Có khoảng 45 chi, 1 số chi chính:

(Globa, Zingiber, Alpin, Cureuma, Hedychium Marantaceae Lá không có mùi thơm, không

xếp xoắn ốc luôn tạo thành 2 dãy, phiến lá hình gối, hoa rất hiếm hoặc (không có) hoa rộng màu đỏ sặc sỡ, chỉ có 1 nhị (hoặc ½) có

Có khoảng 25 chi trong đó:

Maranta, Colathea

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

một noãn trong mỗi ô

Cannaceae Lá thon dài, hoa to sặc sỡ noãn

nhiều trong mỗi ô, bầu hạ, chỉ có một phần, ½ nhị nửa còn lại lép phát triển hình thành cánh

Có 1 chi Canna

Năm 1957, Moore đã đưa ra một bản liệt kê về chuối trồng ở Mỹ, trong đó ông đặc biệt chú ý đến chuối có giá trị kinh tế như Grosmichel

và Lacatan [2, 34]

Ở họ Musaceae có 2 chi Ensete và Musa, chúng rất giống nhau ở bộ lá

và dạng cây, song có một đặc điểm lại rất khác nhau:

Chi Ensete do Horaninov đặt tên, vì có bộ lá giống lá chuối nên một

thời gian dài người ta xếp chúng vào chi Musa Đây là loại cây thân thảo, chỉ

sinh sản một lần, thân ngầm không bao giờ đẻ nhánh, hoa và lá bắc dính liền nhau và vào cuống buồng, chúng sinh sản hữu tính, không cây nào trong chi này có quả tươi được vì quả của chúng chỉ có một lớp vỏ mỏng bên trong chứa đầy hạt có đường kính to từ 1 - 1,2cm Chi này có cây Ensete vetricosum thường trồng ở Đông Phi, người ta lấy bẹ của chúng làm rau ăn hoặc lấy chất bột trong bẹ ủ làm men để làm bánh ăn

Chi Musa có 4 phân chi (chi phụ Subgenus) Austrilimusa, Callimusa, Eumusa và Rohdochilamys trong đó 2 phân chi đầu có số nhiễm sắc thể cơ sở

là X = 10, 2 phân chi sau có số nhiễm sắc thể cơ sở là X = 11 [76]

Austrilimusa là phân chi cổ nhất trong họ Musaceae, các cây M.testilis

và M.abaca chỉ sử dụng làm dây buộc, chúng chỉ có ý nghía về khía cạnh

nghiên cứu nguồn gốc của chuối, không có ý nghĩa về kinh tế

Callimusa gồm chỉ một loài dùng làm cảnh do các lá bắc mầu đỏ tươi

Musacocinea

Rohdochilamys tuy có số nhiễm sắc thể X = 11 nhưng có đặc điểm là

bông đứng và rất ít hoa trong mỗi lá bắc (từ 1 - 5 hoa) Cây chuối kiềng đỏ

Trang 11

Musa ornata roxb có lá bắc mầu hồng tím nhạt, hoa mầu vàng tươi, loại này giống Calimusa chỉ trồng để làm cảnh

Eumusa là một phân chi đáng chú ý nhất không chỉ vì nó lớn nhất,

phong phú về nòi nhất mà còn vì giá trị kinh tế của nó đặc biệt trong lĩnh vực

ăn tuơi và làm lương thực Buồng quả của Eumusa ít nhiều cụp xuống, có thể

ngang hoặc hơi ngang, hay buồng thõng xuống, mỗi nải có số quả nhiều xếp

thành hai hàng Trong Eumusa có các nòi chuối dại có thể không hoặc ít khi

có ích nhưng lại có giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu về phân loại (ví dụ

Musabasjvo sicb, cây dùng để lấy sợi, chịu rét tốt có nguồn gốc ở các đảo cực

nam của Nhật Bản, có thể trồng được trong các vườn phía nam của nước

Pháp) Musa intinerans - cheesm có nguồn gốc ở Miến Điện với đặc điểm là

những cây con mọc rất xa những cây mẹ Nhưng các nòi chuối ăn được theo E.E Cheesman và học trò của ông là Simmonds và Shepherd cho rằng chúng

có nguồn gốc từ hai loài quan trọng nhất là M acuminata colla và M balbisiana colla Trải qua nhiều quá trình biến đổi chúng đã trở thành loài

không hạt ăn được Thực ra điều phát hiện này đã được Skuaz 1965 nói đến nhưng sau này Cheesman và cộng sự của ông đã khẳng định lại

Musa acuminata colla là một thứ đa dạng, sống trong một khu địa lý rất

rộng thuộc châu Á từ các đảo Samoa ở nam Ấn Độ qua các đảo lớn của Indonesia, bán đảo Đông Dương và Malaysia Chúng rất đa dạng về hình dạng và ổn định về di truyền, bởi vậy cho đến nay trên thế giới chưa có một thống kê chính xác nào về các dòng, chúng có thể khác nhau về lớp sáp ở bẹ

lá, mầu sắc thân giả, góc tạo bởi buồng và thân, độ dài của buồng, hình dạng của quả…, Mỗi đặc điểm khác nhau này đều được xếp vào một loại phụ

Musa balbisiana colla là một thứ chuối khỏe, có thân giả mầu sáng, mập mạp, có rất nhiều ở Ấn Độ, Miến Điện, Philippines Đặc điểm của Musa balbisiana là buồng thõng đứng, quả mập ngắn, ít cong và ít số lượng về

chủng loại [71]

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ngoài ra N.W Simmonds còn tìm thấy ở Guinea có hai loài mới không

xếp được vào chi nào có số nhiễm sắc thể cơ sở X = 7 (Musa ingcusimm) và

X = 9 ( Musabaccriisinm) [2]

3 Lịch sử phát triển cây chuối

Từ xa xưa việc trồng và nhân giống chuối đã tồn tại Ở châu Đại Dương nghề nông đã có sớm nhất khoảng 8.000 năm trước Công nguyên vùng này đầu tiên đã thấy xuất hiện chuối Austramusa, loài này đã được coi là một trong những cây nông nghiệp đầu tiên Chúng được thu thập nhờ các cuộc thám hiểm, người ta tìm thấy chúng đầu tiên ở New Guinea (Simmonds 1966) [59] và được di chuyển đến Thái Bình Dương từ thời tiền sử (Krich 1978) [46] Khoảng 4000 năm trước Công nguyên việc giao lưu văn hóa và nông nghiệp được phát triển sớm nhất ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á (Yên 1993) Philippine cũng là một nước được trao đổi các cây trồng khác nhau trong đó có những cây thuộc Emusa (Krich 1978) [37], mà sau này được xác định là nhóm chuối có kiểu gen AAB và ABB (Simonds 1996)[59]

Về sau người châu Âu đã quay trở lại thăm dò nhiều dạng chuối ở khu vực này để xác minh lại, trong đó có cả những nơi xa xôi như châu Đại Dương (Longdon 1993) [47]

Việc sử dụng và trồng chuối ở Ấn Độ cũng đã xuất hiện từ hàng nghìn năm trước đây, chúng đã được viết trong kinh thánh và được khắc họa trên tường ở các thánh đường (Rcynolds 1927) [49], (Kervegant, 1935) [51,35] Ở

về phía tây của trái đất diện tích trồng chuối và chuối ăn luộc cũng ngày càng được mở rộng trong thời gian gần đây (Kervegant 1935) [44] đã đưa ra giả thiết về sự có mặt của chuối ở Trung Đông và châu Phi là do người Ả rập cổ xưa mang đến

Trang 13

Sự mô tả về chuối một cách rõ ràng và sớm nhất do người Hy Lạp cổ xưa thực hiện từ 325 năm trước Công nguyên Trong cuộc hành trình của Alexrander đến Ấn Độ (Rcynolds 1927, Kervegand 1935) Sau đó khoảng

100 năm sau Công nguyên người Ả rập đã thống trị mảnh đất từ Ấn Độ đến Tây Ban Nha (Kinder và Higeman, 1974) [45] và chuối lại được quan tâm phát triển Nhất là chuối ăn quả tươi và chuối ăn luộc đã được đưa đến Bắc Phi và phát triển rộng ở đây, mặc dù mảnh đất này rất khô cằn (Rcynolds, 1927) đã dựa vào những hóa thạch và các bức vẽ trên các hang động cho rằng chuối cũng được trồng và phát triển được 15 thế kỷ ở châu Phi, trong đó Đông Phi chủ yếu trồng 2 loài chuối có kiểu gen AA và AAA vùng gần xích đạo phát triển chủ yếu chuối ăn luộc mang kiểu gen AAB (Vansina, 1984 - 1990) [66 - 68] đã giải thích về sự xuất hiện chủ yếu của chuối mang kiểu gen AAB

ở châu Phi và cả ở Ấn Độ là một phần do sự thích nghi về khí hậu, song chủ yếu là nhu cầu cấp bách về lương thực ở những nước này [41,52] Đến thế kỷ

10 do ảnh hưởng của nền văn minh Ả rập, mối quan hệ giữa các nước được

mở rộng Thời kỳ chuối là mặt hàng được trao đổi mạnh nhất trên thị trường,

cả ở những nước xa xôi như Trung Quốc (Davidson, 1974) [29] Người ta cho rằng chuối được di chuyển đến Mỹ nhờ người Bồ Đào Nha từ thế kỷ 14 và sau đó được phát triển mạnh vào năm 1607 (Kervegant, 1935) [28] Trong thời gian gần đây sự thu thập và phổ biến về chuối đã có cơ sở khoa học, hơn nữa chuối đã được đưa ra thương trường làm mặt hàng xuất khẩu chính [62] Điều này đã gây sự chú ý đầu tư của các nhà khoa học về chất lượng và năng suất của các giống Ngày nay chuối đã được phát triển rộng khắp trên thế giới, không chỉ nó quan trọng do việc xuất khẩu mà còn ở sự đa dạng về mặt hình thái và chủng loại [64]

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Như vậy chuối đã có một lịch sử phát triển lâu dài đầu tiên là những dạng hoang dại mọc rải rác ở New Guinea sau đó được thuần hóa và lan rộng nhờ dân chúng, các nhà thám hiểm và qua các cuộc chinh chiến Ở châu Á chuối đã được xuất hiện từ 4000 năm trước Công Nguyên (Yên, 1993) [67],

vì vậy có thể nói chuối có nguồn gốc từ Châu Á Điều này không những thể hiện ở sự phát triển mạnh của chuối ăn quả tươi và chuối ăn luộc do thích hợp khí hậu mà còn ở sự đa dạng các chủng loại chuối

Ở Philippine có 43 giống chuối, Malaysia có 32 loại chuối, Indonesia

có 9 loại, New Guinea có 54 loại, Eestarn Astralia có 8 loài, Fili có 10 loài, Hawai 19 loài, Thái Lan 18 loài, Ấn Độ 57 loài (N.W Simmonds 1959) [78]

4 Những nghiên cứu vể cây chuối

4.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

4.1.1 Công tác đánh giá và thu thập tập đoàn quỹ gen chuối

INIBAP (International Network for the Improvement of Banana and Plantain) được thành lập năm 1984 tại Montpellier France Đây là một tổ chức Quốc tế nghiên cứu về cây chuối lớn nhất nằm trong hệ thống của GGIAR INIBAP có quan hệ rộng rãi với tất cả các tổ chức Quốc tế nghiên cứu về nông nghiệp khác và đặc biệt rất quan tâm đến các chương trình Quốc gia Mục tiêu của INIBAP là hợp tác nghiên cứu, cung cấp thông tin và huy động tài trợ ủng hộ các hoạt động nghiên cứu và phát triển về chuối Nhận thức đầy

đủ vai trò của Đông Nam Á trong các vấn đề cây chuối, INIBAP đã đang và

sẽ tập trung nghiên cứu, tài trợ cho các hoạt động thu thập, đánh giá sử dụng

và bảo quản nguồn gen cây chuối trong vùng

Bảng 1.2: Một số nước có tập đoàn quỹ gen chuối lớn nhất

thế giới giai đoạn (1951 - 1977)

Trang 15

Địa điểm Tổng số mẫu Thời gian thu

thập Chuối trồng Chuối dại

(Theo báo cáo của nhóm hoạt động IBPGR năm 1977 )

Ngoài ra những tập đoàn có quy mô lớn của thế giới một số nước ở châu Á nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng cũng đã quan tâm tới việc thu thập, đánh giá sử dụng và bảo quản chuối trong tập đoàn của họ

Theo thống kê của INIBAP (1990) tổng số các mẫu chuối trồng của

Philippines là 80 mẫu trong đó các mẫu thuộc loại M.acuminata và M.balbisiana là 27 mẫu và chỉ duy nhất có 1 mẫu là chưa xác định được kiểu

di truyền Ở đây còn giữ và duy trì 29 mẫu giống của Malaysia, 35 mẫu giống của Thailand, 16 mẫu giống của Indonesia, 148 mẫu giống của Papua Newguinea Ngoài ra còn có 10 mẫu giống của các loại khác trong chi Musa

và các loại họ hàng Như vậy tính đến nay Philippines có 318 mẫu giống, được coi là nước có tập đoàn chuối lớn nhất trên thế giới Mặt khác INIBAP cũng đang tiếp tục đẩy mạnh việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá và bảo quản tập đoàn chuối ở khu vực này

Ở Thai Lan tổng số mẫu là 49 mẫu trong đó 17 mẫu giống thuộc nhóm AA/AAA, 1 mẫu thuộc nhóm BB/BBB và 21 mẫu giống là còn lai của

M.accuminata và M balbisiana, 10 mẫu giống là các loài hoang dại và loài có

quan hệ họ hàng gần gũi

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ở Malaysia tổng số có 62 mẫu giống trong đó có 30 mẫu giống thuộc nhóm AA/AAA, 4 mẫu giống thuộc nhóm BB/BBB, 20 mẫu là con lai của

M.acuminata và M.balbisiana, các loài dại và có quan hệ họ hàng gần gũi

Tập đoàn chuối của Indonesia có 37 mẫu giống trong đó có 18 mẫu giống thuộc nhóm AA/AAA, 2 mẫu giống thuộc nhóm BB/BBB, 15 là con lai

của M.acuminata và M.balbisiana, các loài dại và có quan hệ họ hàng gần gũi

chỉ có 2 mẫu giống Trong việc nghiên cứu thực vật nói chung và cây chuối nói riêng thỉ công tác thu tập mặc dù là bước rất quan trọng và không thể thiếu được nhưng nó chỉ là bước khởi đầu Vấn đề ở chỗ phân tích, đánh giá,

mô tả sự đa dạng ấy để sử dụng chúng vào mục đích khác nhau phục vụ cuộc sống con người Chính vì vậy INIBAP đã đưa ra một cái mẫu dùng để mô tả đặc điểm hình thái, đánh giá khả năng thích nghi, khả năng kinh tế chung cho tất cả các vườn tập đoàn trên thế giới, thuận tiện cho công tác chọn tạo giống

và trao đổi hợp tác

4.1.2 Vấn đề về phân loại

Các nhà thám hiểm châu Âu là những người nghiên cứu đầu tiên về

cây chuối, mặc dù nguồn gốc phát sinh của cây chuối không phải từ những nước này Chline (1707 - 1778) người Anh, nhà phân loại học đã có công sắp xếp và đặt tên cho các giống thực vật nói chung và cây chuối nói riêng Musa

là tên ông đặt cho chuối để tưởng nhớ đến Antonius Musa một thầy thuốc vào

thời hoàng đế Roma thứ nhất Octavius Agnstus, tên Musa Sapientum.L cho

dòng chuối quả thịt không hạt, ăn tươi được ý nghĩa của tên này là quả của

người Musa Pradisiaca.L là dòng chuối ăn được thuộc “Plantain” ngày nay Pradisiaca có ý nghĩa là quả của thiên đường hoặc quả của các vườn cây [2]

Mặc dù chuối đã được trồng từ lâu nhưng mãi đến thế kỷ 19 mới có một vài tác giả nói về sự phát triển và dinh dưỡng của nó như Fonrcroy và

Trang 17

Vanquclin (1807) [2] Thực tế các công trình nghiên cứu có hệ thống về chuối thực sự bắt đầu và thế kỷ 20 Thời kỳ đầu người ta cũng sắp xếp vào 2 loại chuẩn theo Linmaur chuối ăn tươi và chuối ăn luộc vì tinh bột ở những quả này khi chín không chuyển hóa thành đường dễ tan Nhưng sau đó các dòng được thu thập ngày càng nhiều, có những dòng có thể vừa ăn tươi vừa ăn luộc được (khi quả xanh có thể ăn luộc, khi quả chín tinh bột lại chuyển hóa thành đường dễ tiêu) [53] Việc xếp loại thật khó khăn người ta đã nghĩ ra cách đặt tên cho một dòng là những đuôi latinh chỉ căn cứ vài đặc điểm ngoại hình

không cần quan tâm đến nguồn gốc di truyền Ví dụ Musa Nanalonr và Musa Cavendishulamb được đề nghị đặt cho cây Dway cavendish, Musa rubra, Fiming nonwall đặt cho Morado Red, hoặc Pisang udang, Musa corniculata lour cho chuối Eahorn, Tindok hay Pisang tamduk… [2] như những cây này

đôi khi chỉ có những biến đổi đơn giản Việc tăng nhanh các tên khoa học do

số lượng cây giống ngày càng nhiều đã gây nhiều lộn xộn trong phân loại [50] Trong khi chờ đợi có những hiểu biết mới, nhất là quan hệ gần gũi của các dòng họ, Giáo sư E E Cheesman cho rằng tốt nhất là dùng các tên thông thường của địa phương cùng với sự mô tả tỉ mỉ [25]

Do thấy được vai trò của cây chuối đối với nhu cầu ngày càng tăng của nhân loại Các nhà khoa học ngày càng quan tâm chú ý nghiên cứu toàn diện

về nó như phân loại, di truyền, sinh hóa, sinh lý, cũng như ảnh hưởng của quan hệ sinh thái môi trường (chế độ dinh dưỡng, nước, nhiệt độ, ẩm độ và sâu bệnh) đến năng suất và phẩm chất của chuối [29] Chuối là cây trồng sinh sản chủ yếu bằng con đường vô tinh nên rất phức tạp về chủng loại Tuy nhiên nhờ quan sát nhiều lần những tiêu bản sống (trong vườn tiêu bản ICTA

- Trimida) mà E.E Cheerman và cộng sự của ông đã xác định được sự tương

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tác mạnh của hai loài Musa acuminata colla (ký hiệu là A) và Musa balbisiana colla (ký hiệu là B)

Ngay từ năm 1922 người ta đã cho lai phân tích, lấy phấn của

M.acuminata colla thụ cho hoa cái của giống Grosmichel là cây có quả không

hạt sẽ thu được giống chuối rất ít hạt Những hạt tốt có thể mọc thành loài

M.Acuminata [2] Trên cơ sở lập luận nguồn gốc các loại chuối trồng 2 ông đã

đưa ra một hệ thống phân loại mới, hệ thống phân loại này dựa vào tỷ lệ đóng

góp của 2 loài M.A cuminata Colla và M Balbisiana Colla trong mỗi dòng,

cụ thể là: AA, AAA, AB, AAB, ABB, ABBB, BB, BBB

Để xác định mức độ pha trộn Simmonds và Shepherd (1985) đã đưa ra

15 chỉ tiêu cơ bản có sự khác biệt rõ ràng giữa M.acuminata Colla và M.balbisiana Colla

Trang 19

Bảng 1.3 Thang điểm phân loại các dòng chuối

của Simmonds và Shepherd

1 Thân giả Nhiều vệt nâu đen Ít hoặc không có

Mép thẳng, trải rộng, có cánh, không ôm thân giả

Mép tròn kín, không có cánh phía dưới ôm thân

giả

3 Cuống buồng Nhiều lông Không có lông (nhẵn)

6 Vai lá bắc Cao (X/Y < 0,28) Thấp (X/Y >3)

7 Tập tính lá Bắc Cuộn ngược Không cuộn ngược

8 Hình thái lá bắc Bóp nhọn từ vai Bình thường đều

11 Sự chuyển mầu của

lá bắc Nhạt dần đến gốc Không thay đổi

13 Cánh hoa đực tự do Gấp nhiều nếp Ít hoặc không gấp nếp

14 Mầu hoa đực Trắng mượt Ánh đỏ khác nhau

15 Mầu đầu nhụy Da cam, vàng đậm Mầu kem đỏ nhạt Thang điểm cho mỗi chỉ tiêu biến động trong khoảng 1 - 5 trong đó

điểm 1 dành cho chỉ tiêu nào nghiêng nhiều nhất về phía M.acuminata Colla

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

và điểm 5 cho chỉ tiêu nào nghiêng nhiều nhất M.balbisiana Colla Những chỉ

tiêu thể hiện trung gian thì tùy theo mức độ tham gia của (A) hoặc (B) mà cho

2, 3 hoặc 4 điểm và như vậy các loài chuối trồng sẽ có tổng số điểm dao động

từ 15 - 75 điểm Trên cơ sở tổng số điểm của mỗi dòng, giống có được, Simmonds và Shepherd đã chia toàn bộ chuối ra làm 6 nhóm: AA, AAA, AAB, AB ABB và ABBB

Nhóm AA/AAA tổng số điểm 15 - 23 điểm, nhóm AAB tổng số điểm

24 - 46 điểm, nhóm AB: 47 - 49 điểm, nhóm ABB: 59 - 63 điểm, nhóm ABBB: 64 - 67 điểm

Hệ thống phân loại này mang tính thuyết phục mạnh mẽ và dần dần thay thế cho hệ thống phân loại của Linnaeur trong phân loại chuối

Cho đến nay mặc dù nhiều phương pháp phân loại bổ xung khác song phương pháp này vẫn là phương pháp có vai trò quan trọng không thể thiếu được Hiện nay ở hầu hết các ngân hàng gen chuối lớn nhất thế giới phương pháp phân loại này được sử dụng rộng rãi để đánh giá nguồn tài liệu di truyền cây chuối Mặc dù vậy cách phân loại của Simmonds và Shepherd vẫn có

nhược điểm và không đề cập đến sự có mặt của dòng thuần M.balbisiana Colla và không đưa ra giới hạn cho nhóm này (nhóm BB/BBB) Cho đến tận

bây giờ thì ông cũng không công nhận có giống chuối trồng không hạt có

nguồn gốc từ M balbisiana Colla, bởi vì khi kiểm tra hoa đực của tiêu bản

thực vật giống Saba, ông quan sát thấy lá bắc cuộn lên, (Simmonds Weatherup 1990 [60] Một số các nhà nghiên cứu về chuối khác lại cho rằng

sự cuộn lên của lá bắc chỉ là đặc tính nhỏ của giống Saba, giống này đạt tổng

số điểm 72 chỉ thấp hơn 3 điểm so với điểm tuyệt đối (75) điểm cho loài dại

M.balbisiana Colla Các nhà phân loại ở châu Á thấy rằng nếu theo

Simmonds và Shepherd giới hạn 9 điểm (15 -23) là có thể chấp nhận đối với

các loài trồng trọt xuât phát từ M.balbisiana Colla Silayoi và Chomehalow

(1987) [42] khi phân loại nguồn gốc cây chuối của Thái Lan đã thấy được sự

Trang 21

chưa hoàn thiện của hệ thống phân loại theo phương pháp cho điểm của Simmonds và Shepherd Mặc dù thừa nhận tính ưu việt của phương pháp này Nhưng 2 ông đã sửa đổi lại và xếp nhóm các loại chuối chúng thành các nhóm sau: AA/AAA, AAB, ABB, ABBB, BB/BBB

Silayoi và Chomchalonw đã sử dụng hệ thống phân loại theo thang điểm có sửa đổi này để phân loại chuối và thấy nó là công cụ hữu hiệu hơn Tất cả các loại chuối trồng ở Trung tâm đa dạng nguồn gen chuối Đông Nam

Á (Dvao - Philippines) và tất cả các cây trồng đại diện điển hình cho từng

nhóm đều đạt được số điểm trong giới hạn này Các tác giả thấy giống Amas

và Bungalan lại xếp vào các loại chuối trồng trọt có nguồn gốc từ M.acuminata Colla tương ứng với số điểm là 23 và 19 điểm Các con lai được

trồng trọt phổ biến là Latudan và Matavia có số điểm tương ứng là 33 và 62

do đó được xếp vào nhóm AAB và ABB Giống Saba với tổng số điểm 73

điểm dường như gần gũi với loài dại M.balbisiana Colla và được xếp vào nhóm BB/BBB Thực tế Saba gần gũi với loài M.balbisiana Colla hơn là Amas với loài M.acuminata Song với nhóm BB/BBB thì vẫn có nhiều ý kiến

khác nhau Simmonds (1966 - 1976) cho rằng những loài chuối trồng ở nhóm BB/BBB thực chất lại là nhóm ABBB, Saba cũng thuộc loại này Nhưng Valiki (1967) [64] lại cho rằng Saba thuộc nhóm BB/BBB bởi vì khi phân loại bằng cho điểm giống này có tổng số điểm gần với loài chuối dại

M.balbisiana Colla

Ở đây cần phải nhấn mạnh là các tác giả ở Đông Nam Á không phủ nhận hệ thống phân loại cua Simmonds và Shepherd Nhưng họ cho rằng hệ thống phân loại này phải được sửa đổi để phù hợp với sự đa dạng của các loài chuối trồng ở trung tâm khởi nguyên của nó

Một số nhà khoa học khác cho rằng tất cả 15 chỉ tiêu phân loại của Simmonds và Shepherd chỉ là chỉ tiêu hình thái và do vậy sự phân loại theo

Simmonds chỉ là phân loại hình thái (Morphotaxonomy) Nhưng thực tế, khi

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

xác định các loài trồng trọt Simmonds có sử dụng những so sánh thực nghiệm, đưa ra những quan sát và mô tả của ông ngoài đồng ruộng Ông cho rằng mà không có sự trợ giúp của những so sánh thực nghiệm thì chỉ là thử nghiệm bởi vì tương tác giữa kiểu gen và môi trường là rất đáng kể

Phân loại hình thái mặc dù là thống nhất và không thể thay thế được nhưng nó cũng cần được bổ sung bằng những yếu tố khác nhằm xác định một cách chính xác kiểu gen bên trong (Genotip)

Một thí dụ dễ thấy là rất nhiều loại trồng trọt có các chỉ tiêu hình thái tương tự như nhau nhưng lại khác nhau rất đáng kể về phản ứng của chúng với 1 hoặc 1 vài loại sâu bệnh nhất định Ví dụ như loài chuối trồng Ấn Độ Rajpury và Newdrapara có hình thái giống nhau song phản ứng của chúng với nòi 2 của nấm gây bệnh héo Panama lại rất khác nhau Hoặc một số giống chuối có đặc điểm hình thái rất khác nhau lại được nhóm vào một nhóm (tạo thành nhóm phụ) bởi vì chúng có các phản ứng tương tự với một loài sâu bệnh

Nhiều nhà khoa học trên thế giới cho rằng việc thiếu những công cụ và phương pháp phân loại tiêu chuẩn là một trong những nguyên nhân cơ bản làm chậm những tiến bộ về cây chuối Trong rất nhiều trường hợp những kết quả nghiên cứu chỉ áp dụng cho những giống nhất định ở những nước nhất định, mà các nước khác trong cộng đồng không thể sự dụng được nhận biết sâu sắc và tên địa phương thực chất không có ý nghĩa gì cả J.W.Daniells (1990)[30] cho rằng các chỉ tiêu hình thái được sử dụng để phân biệt các giống cây trồng khác nhau (hoa đực, lá…) rất ít có giá trị ứng dụng trong việc phân biệt các giống trong nhóm Cavendish (AA/AAA), ngay cả những chỉ tiêu mà IBPGR đưa ra năm 1984 cũng chỉ có giá trị sử dụng để phân biệt các nhóm khác nhau chứ không dùng để phân biệt các giống trong cùng một nhóm phụ

Trang 23

Để phân loại một cách chính xác, hiện nay ngoài phương pháp phân loại theo hình thái người ta dùng rất nhiều phương pháp như: RELP (Restriction Fragment Length Polymorphism) Phân tích Isozyme (Analysis Enzyme Polymerphism)

Theo Masterbrock và Van Bredorode (1986) [12] có thể chia sự đa dạng về sinh hóa ra làm 3 loại Đa dạng về con đường đồng hóa, đa dạng Protein và Enzyme, đa dạng DNA Mặc dù cả 3 loại này đều xuất phát từ đa dạng di truyền nhưng đa dạng về con đường đồng hóa chỉ phản ứng sự đa dạng về quá trình thích nghi và chọn lọc, đa dạng Protein và Enzyme phản ánh một cách trực tiếp hơn có cơ sở di truyền hơn và đa dạng DNA phản ánh chính xác bản chất di truyền của cơ thể sinh vật Nhưng việc phân tích DNA hết sức đắt tiền không cho phép nghiên cứu đại trà Do đó phương pháp phân tích đa hình của enzyme (phương pháp Isozyme) gần đây đã trở thành một phương pháp được sử dụng rộng rãi Khái niệm Isozyme (đồng nghĩa với Isoenzyme được Maket và Moller đưa ra đầu tiên năm 1959 Isozyme là những Enzyme có dạng phân tử khác nhau nhưng chúng cùng xúc tác cho những phản ứng xác định (Gottbieb 1971 [9] Trong phương pháp này những loại prôtêin (Enzyme) tan trong nước được tách ra từ mô của cây trồng và chúng được phân tích bởi kích thước, sự tích điện và cấu trúc trên đường điện

di (các gen tinh bột hoặc gen điện di acrylamide) Sự khác biệt về khả năng tích điện phản ánh bằng độ điện di của chuối Polypeptide là do sự khác biệt của các Axit Amin trong chuỗi Polypetide và sự khác biệt này lại phản ánh trong chuỗi Nucleotide của gen cấu trúc tương ứng Khi những dạng phân tử khác nhau được tách biệt trên đường điện di bằng phương pháp nhuộm thích hợp, ta có thể thấy hoạt động của Enzyme thông qua những vạch trên gen Những thí nghiệm về di truyền được tiến hành sau đó nhằm xác định xem vạch nào đại diện cho các sản phẩm của gen đã được mã hóa bởi các gen ở các vị trí khác nhau

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phân tích Isozyme bằng điện di là phương pháp mô tả hình thái dựa trên hình ảnh của gen Nó cung cấp thông tin về đặc tính di truyền và ít bị ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh hơn là việc đánh giá chỉ dựa vào những đặc tính hình thái và đặc điểm trong nông học (A.D.H.Brown, O.H.Frankcl, D.R.Marshall, J.T.Williams 1986) [22]

Gorman và Kiang (1977) [41] cho rằng phương pháp phân tích Isozyme

đã và đang được sử dụng như là phương pháp đánh dấu di truyền (Genetic Marker) dùng để phân loại các dòng vô tính Tansley và Ortor (1983), Weeden và Lamb 1985) [65] lại sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu phân loại và tiến hóa Brettell (1986) [22] lại cho rằng phương pháp này rất có ích trong nghiên cứu sự ổn định gen trong nuôi cấy mô

Phân tích điện di các hệ Isozyme có thể sử dụng để xác định mối quan

hệ chủng loại giữa các dạng và chị em những dấu hiệu này được tính ra tần số alen của các locut Isozyme có thể dùng để phân biệt các đơn vị dưới loài và các loài chị em (Trịnh Đình Đạt và cộng sự 1986)[6]

Trong phương pháp phân tích Isozyme các kỹ thuật chiết dịch nói chung không thật phức tạp có thể tiến hành được Như vậy cùng một lúc có thể làm một số lượng lớn mẫu, cho vài thế hệ Enzyme khác nhau Thông thường chỉ cần dùng 1g mô thực vật là đủ để có thể phân tích một vài hệ thống Isozyme Các phương tiện để tạo ra trường điện di có thể cũng không đến nỗi khó khăn, kể cả kỹ thuật sử dụng Lợi ích chủ yếu của kỹ thật này so với đánh giá hình thái là nó có thể được tiến hành với tốc độ nhanh, với nhiều loại mẫu riêng biệt (hạt hoặc cây con) mà không cần sử dụng các thử nghiệm đồng ruộng Trong ngân hàng gen kỹ thuật Isozyme rất có ý nghĩa trong việc xác định các mẫu thực vật (Aceession) Mặc dù vậy phương pháp này vẫn còn một số hạn chế: Phương pháp đánh dấu bằng Isozyme có thể chỉ đại diện cho một phần nhỏ bộ Genome, không sử dụng cho những gen mã hóa những protein không tan trong nước, Protein ở màng hay những gen điều khiển (Gottbib, 1971) [12], một số Enzyme phát triển một cách không ổn định Nhìn

Trang 25

chung phân Isozyme đã được sử dụng như một phương pháp đánh dấu di truyền cho cây chuối Có nhiều bằng chứng chứng minh rằng phương pháp này có thể sử dụng để phân biệt các dòng vô tính và sử dụng trong nghiên cứu phân loại (M.J-Simpson, L.A Winther 1986 [31], Bonner 1974 [23] đã phân

tích, Enzyme Peroydase (POX) để xác định sự da dạng của các giống trồng

trọt trong chi Musa (Musa SPP)

Việc sử dụng phương pháp Isozyme nhằm xác định các con lai trong chi Musa đã được Jarret và Litz đề cập đến năm 1986 Các tác giả kết luận

rằng SKDH (Shikimid acid dehydrogenase) và MHD (Malate dehydrogenase) là loại đặc trưng và sử dụng có hiệu quả trong việc phân biệt

các cá thể lai giữa M.Acuminata Colla và M.Balbisiana Colla SKDH và

GOT (Ghetamate Oxaloacetate Tiasperase) có rất ít giá trị sử dụng trong

việc phân loại giữa các giống trồng trọt thuộc nhóm BB/BBB Rivera (1982)

[52] đã tiến hành phân tích Isozyme Peroydase và Polyphenol oxydase nhằm

phân biệt nhóm BBB và ABB Espino và Pimentel (1980) [32] đã chú ý tập

trung vào việc sử dụng Enzyme Malaty Dehydrogenase (MDH) để phân tích

dòng thuần AA/AAA với dòng thuần BB/BBB và các con lai AAB, ABB

4.1.3 Những nghiên cứu về chọn tạo giống chuối

Đối với mọi cây trồng nói chung và cây chuối nói riêng giống là khâu quan trọng nhất cho hiệu quả kinh tế cao việc tạo ra giống mới có thể bằng nhiều cách như đột biến, chọn lọc trong sản xuất tập đoàn Đi đầu trong vấn

đề chọn giống chuối phải kể đến Viện Nghiên cứu chuối Đài Loan Ở đây phần lớn các giống chuối được chọn lọc để sản xuất chuối thương mại thuộc

về nhóm Cavendish

Theo thống kê của Mạng lưới quốc tế cải thiện nguồn gen cây chuối (INIBAP), ở mỗi khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ Latin và Caribe, châu Phi và các khu vực khác đều đã thu thập và lưu giữ trên 2000 mẫu giống chuối Các vườn tập đoàn giống chuối lớn nhất là Papua New Guine gồm trên

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

500 mẫu giống, các vườn tập đoàn tại Honduras, Guadeloup, Philippine và Giamaica đều lưu giữ khoảng 400 mẫu giống Việc sử dụng, khai thác nguồn gen phong phú này vào mục đích tuyển chọn giống tốt là một hướng đi phổ biến và hiệu quả ở nhiều nước Các giống chuối đạt năng suất cao và chất lương quả tốt nổi tiếng được tuyển chọn nhờ phương pháp này bao gồm: Dwarf Cavendish, Giant Cavendish, Pisang masak hijau, Robusta, Valery …

Việc nhập nội và khảo nghiệm giống cũng được nhiều nước quan tâm, đặc biệt là thông qua Chương trình khảo nghiệm giống chuối quốc tế (ITMP)

do INIBAP chủ trì Các giống chuối thương mại đang được sản xuất quy mô lớn tại Malaisia như Pingsan Baragan và Pingsan Mas đều có nguồn gốc từ Indonesia

Công tác nghiên cứu tạo giống mới đã và đang được chú trọng thực hiện ở nhiều nước với mục tiêu tạo ra những giống chuối có thời gian sinh trưởng ngắn, thấp cây, đạt năng suất, chất lượng cao hơn các giống thuộc nhóm phụ Cavendish và nhất là kháng một số bệnh hại nguy hiểm như héo

rũ Fusarium, Sigatoka và tuyến trùng … Một trong những phương pháp chủ yếu tạo giống mới là lai hữu tính Chỉ trong thời gian ngắn, hàng loạt giống chuối mới đã được tạo ra như FHIA 01, FHIA 03, FHIA 21 (Philippine), Udhayam, H1, H2, H59, H65, H1009 (Ấn Độ) Phương pháp tạo giống quan trọng khác là nuôi cấy tế bào trần và tạo đột biến Các giống chuối của Đài Loan nổi tiếng về kháng bệnh Fusarium chủng 4 như Hshien Jinchao, Tai Chiao 1 đã được tạo ra nhờ chọn lọc từ các đột biến tế bào chất xảy ra ở vườn chuối bị bệnh

- Giống Peichiao: Giống này cao và thích ứng rộng thời gian sinh trưởng khoảng 11 - 12 tháng trọng lượng buồng trung bình 25 kg và có thể đạt 30kg ở điều kiện chăm sóc tốt

- Giống Hsien Jinchiao là một đột biến của giống chống bệnh BBTV nhưng chống bệnh không được lâu, lá của nó cao và hẹp hơn Peichiao

Trang 27

Lá bắc rụng sau khi nở, giống này thích nghi tốt với vùng đất dốc

- Giống Tai chiao No1 (GCT CV 215 - 1) là giống mới đưa ra giống này

là giống chống bệnh Fusarium chủng 4 Giống này được chọn lọc từ những giống đột biến tế bào chất ở vườn bị bệnh

- Giống Semi Dwarp cuptivar cavendish B.F là giống có khả năng thay thế các giống cao cây [68; 19]

Trung tâm tài nguyên chuối Đông Nam Á tại Davao Philippine đang duy trì 80 giống chuối Philipine, từ nguồn tài nguyên này đã lai tạo ra được những con lai tứ bội cho năng suất cao và kháng được bệnh Black Leaf Streak/black Sigatoka giống ăn tươi FHIA - 01, giống chuối là FHIA - 21 và giống chuối FHIA - 03 [43, 117]

Ở Nam Phi giống được chọn chủ yếu để sản xuất chuối thương mại là Wiliams, Dwarf cavendish, Grand - nain [68;75]

Ở Brazin tạo được giống kháng bệnh Panama và đốm lá Ấn Độ từ việc

sử dụng nguồn gen di truyền đã chọn được một giống chuối Bằng kỹ thuật cấy mô và xử lý phóng xạ ở Australia tạo ra giống Cavendish chịu lạnh giống lai kháng bệnh Sigatoka và kháng nòi 4 của bệnh Panama

Tóm lại: Việc chọn tạo giống từ nguồn gen sẵn có là rất phổ biến ở các nước trồng chuối suất khẩu trên thế giới Trong chọn giống ngoài việc chọn giống có năng suất cao, người ta còn rất chú ý đến chọn các giống kháng bệnh đặc biệt là những bệnh nguy hiểm

4.1.4 Một số nghiên cứu khác về cây chuối

a, Về nhân giống:

Các biện pháp kỹ thuật nhân giống chuối truyền thống như nhân bằng

củ và bằng chồi có rất nhiều hạn chế về thời gian nhân giống, hệ số nhân, độ đồng đều và chất lượng cây giống nên chủ yếu được áp dụng ở quy mô sản xuất nhỏ lẻ phục vụ nội tiêu Đối với sản xuất quy mô lớn và nhằm vào mục đích xuất khẩu, cây giống chủ yếu được nhân bằng nuôi cấy mô tế bào

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Theo Reuveni (1986), nhân giống bằng nuôi cấy mô có nhiều ưu điểm như hệ số nhân rất cao, cây con đồng đều, sạch bệnh, rẻ và thời gian sinh trưởng ngắn Cho đến nay nuôi cấy mô tế bào đã được ứng dụng rộng rãi ở hầu khắp các nước trồng chuối Chỉ tính riêng ở Đài Loan, từ năm 1983 đến nay, mỗi năm đã sản xuất 1,5-2,0 triệu cây phục vụ sản xuất Trong khi đó, nhờ ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô, một lượng rất lớn cây giống sạch các bệnh nguy hiểm như Bunchy top, Fusarium wilt, Black Sigatoka đã được nhân nhanh, góp phần khôi phục nhiều vùng trồng chuối có nguy cơ tàn lụi ở Australia

Chuối được nhân giống bằng phương thức nhân giống vô tính thường

có 3 cách như sau:

Nhân cây con trên đồng ruộng là phương thức lâu đời được áp dụng các vùng chuối trồng Cây con được tách khỏi cây mẹ để đem trồng với hệ số nhân không cao 1:3 Khi có vườn cây mẹ và chăm sóc tốt thì hệ số nhân có thể đạt :8 lần [20] Nhược điểm của phương pháp này là cây con không đồng đều

Nhân giống bằng củ (thân thật) phương pháp này dùng thân thật để nhân cây con hệ số nhân 1:10 hoặc 1:15 Song cần phải có vườn cây giâm, gơ cây con tốt Các thân thật nhân giống có thể để nguyên, cắt đôi, cắt 4 hoặc cắt thành các mảnh nhỏ thích hợp để đem gơ, giâm trong vườn ươm tạo ra cây con

Ở Đài Loan hệ thống nuôi cấy mô đươc thiết lập từ năm 1983 nhằm cung cấp cây giống sạch bệnh cho sản xuất chuối thương mại Chỉ sau 10 năm tổng số 15 triệu cây giống đã được cung cấp cho những cánh đồng trồng chuối Được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.4: Tổng số cây chuối nhân bằng nuôi cấy mô được sản xuất

để trồng thương mại từ năm 1983 - 1992 [68, 177]

Trang 29

Bảng 1.5: So sánh giữa trồng chuối mô và chuối chồi (truyền thống)

Bảng trên cho thấy rõ ràng trồng bằng chồi có tỷ lệ sống thấp, chi phí trồng chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cao, tỷ lệ đồng đều thấp, đặc biệt tỷ lệ quả xuất khẩu thấp Mặt khác trồng bằng chồi có thể mang mầm bệnh như héo rũ, Bunchytop … Đối với cây cấy mô có chiều cao đồng đều hơn thuận tiện cho việc chăm sóc, tỷ lệ sống cao và tuổi thọ của lá cao hơn trồng bằng chồi Hơn thế nữa giống cấy mô rẻ hơn và dễ nhân giống hơn [68, 176]

b, Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh chuối

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thời vụ trồng chuối rất khác nhau tùy thuộc vào các vùng trồng nhưng được xác định là thích hợp nhất từ cuối mùa khô đến đầu mùa mưa Ở Puertorico và một số vùng trồng lý tưởng có thể trồng chuối quanh năm Trong khi đó, ở những vùng khác thời vụ trồng cần phải sắp xếp sao cho tránh được nắng gắt đầu vụ và nhất là tránh rét khi trỗ buồng Nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định thời vụ trồng khác nhau ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian

từ trồng đến thu hoạch, năng suất và chất lượng quả

Mật độ và khoảng cách trồng thay đổi giữa các giống, tùy thuộc độ màu mỡ của đất trồng và nhiều yếu tố khác Trồng dày giúp vườn chuối tăng khả năng chống gió bão nhưng hạn chế ra chồi, khó phòng trừ sâu bệnh và chỉ đạt lợi nhuận cao ở vụ đầu Những vụ sau, quả nhỏ dần, hay bị chín ép và thịt quả nhão Mật độ trồng phổ biến ở các nước vùng Trung Mỹ là 1235 cây/ha Trồng dày đến 1976 cây/ha, năng suất tăng 4 tấn/ha Tuy nhiên, nếu tăng mật

độ đến 3212 cây/ha năng suất có chiều hướng giảm Mật độ trồng ở Surinam biến động rất lớn trong khoảng từ 600-4400 cây/ha nhưng mật độ 2000-2500 cây/ha được xác định là thích hợp nhất

c, Nghiên cứu phân bón cho chuối

Nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây chuối là công việc thường xuyên của những nước trồng chuối tiên tiến trên thế giới Vì sự thiếu hụt dinh dưỡng trong đất luôn diễn ra theo thời gian Trên cơ sở đó người ta đã xây dựng công thức phân bón phù hợp với điều kiện sinh thái và hoàn cảnh cụ thể

ở mỗi vùng chuối

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu chuối Đài Loan với giống Pei chiao vòng đời 11 - 12 tháng trọng lượng buồng 25 - 30 kg, mật độ trồng 2.200 cây/ha thì bón với tỷ lệ N:P:K = 11 : 5,5 : 22 = 38,5 đơn vị; 1 đơn

vị bằng 52gam Lượng phân nguyên chất sẽ là 572g N + 286g P2O5 + 1.144g

K2O [68 ; 20] Có thể nói rằng tùy điều kiện đất đai ma người ta “điều chỉnh”

Trang 31

chế độ phân bón cho phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế cao

Các kết quả nghiên cứu ở Ecuador đã xác định với lượng bón N - P2O5

- K2O tính cho 1 ha là 600 - 100 - 600 kg, năng suất quả vụ 1 chỉ đạt 30 tấn ở mật độ trồng 1500 cây/ha nhưng lại đạt tới 55 tấn nếu trồng dày đến 3000 cây/ha Năng suất quả vụ 2 cao hơn với các giá trị tương ứng là 47 tấn và 65 tấn Không có sự khác biệt đáng kể về các chỉ tiêu chất lượng quả giữa các mật độ trồng kể trên Để duy trì năng suất cao ở những vụ tiếp theo thì cần chú trọng đánh tỉa chồi và đối với mật độ trồng dày hơn thì lượng phân bón phải nhiều hơn Tuy nhiên, mật độ trồng quá dày thì lợi nhuận có xu hướng giảm Những năm gần đây, ở Philippine, Australia, Đài Loan và nhiều nước trồng chuối xuất khẩu bắt đầu chú trọng thiết kế vườn chuối theo kiểu trồng hàng kép gồm 2- 4 hàng đơn và để đường đi rộng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chăm sóc, thu hoạch và vận chuyển

Việc xác định liều lượng và phương pháp bón phân đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Phần lớn các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng cây chuối rất phàm ăn và nhấn mạnh sự cần thiết phải bón phân cân đối Ở Puertorico, lượng bón phổ biến 1 ha là 250 - 325 kg đạm, 125 -

163 kg lân và 500 - 650 kg kali Tuy nhiên, lượng bón thích hợp đối với mỗi vùng phải qua nghiên cứu mới xác định được do tùy thuộc rất nhiều vào đặc điểm giống, loại đất và mật độ trồng … Vì vậy, liều lượng và phương pháp bón thích hợp ở vùng này đôi khi lại không đạt hiệu quả cao ở nhiều vùng khác Mặc dù vậy, tỷ lệ bón NPK được khuyến cáo ở nhiều nước là 8:10:8 Các loại phân vô cơ đạt hiệu quả cao nhất trong điều kiện bón cân đối kết hợp với bón phân hữu cơ và tưới nước

Nhiều biện pháp kỹ thuật thâm canh chuối khác đã được xác định có tác dụng làm tăng năng suất và chất lượng quả như bón phân vi sinh, phun chất điều tiết sinh trưởng Che phủ nilon đen kết hợp với tưới nước đã làm tăng nhiệt độ của đất trong mùa đông lên 2 - 30C và có tác dụng làm cho một

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

số giống chuối thuộc nhóm phụ Cavendish ra hoa sớm hơn 16 ngày

Ví dụ: Đối với giống Grand nai Mật độ 2.500 cây/ha Khi đạt 20 tấn/ha cần bón N: 50 kg; P2O5 : 12,5kg; K2O: 150 kg (nguyên chất) cho một ha Nếu muốn đạt 40 tấn/ha thì lượng phân nguyên chất phải bón 80kg N + 20kg P2O5 + 240kg K2O [20]

Nhu cầu dinh dưỡng của chuối khá cao đặc biệt là phân kaly, đạm là yếu tố ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến thời gian sinh trưởng, năng suất quả

mà còn đến phẩm chất quả và khả năng vận chuyển cất giữ quả Lượng chất khoáng mà chuối lấy đi từ đất trong một chu kỳ kinh tế theo Martil Prevel (1980), Lahav và Tner (1983), Marchal, Mallerad (1979) đối với giống grand nain như sau:

Bảng 1.6: Lƣợng chất khoáng mà chuối lấy đi từ đất

trong một chu kỳ kinh tế

Nguyên tố dinh

dƣỡng

Lƣợng chất khoáng mà chuối lấy đi từ đất

trong một chu kỳ kinh tế

Trang 33

K: 2,47 - 3,50%

(% trọng lượng chất khô của lá) [20]

Về nguyên tắc khi cây lấy đi của đất bao nhiêu cần phải bổ sung bấy nhiêu nguyên tố cho đất, tùy thuộc vào loại đất, khí hậu mà lượng phân bón trả lại có thể khác nhau

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 1.7: Lƣợng phân bón cho 1 ha một năm ở một số vùng trồng chuối

d, Nghiên cứu phòng trừ sâu bệnh hại chuối

Các nghiên cứu ở Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Philippine, Malaysia… đều xác định trên các giống chuối tiêu thuộc nhóm phụ Cavendish

có những loại bệnh thường xuyên xuất hiện và gây hại nhiều như chùn ngọn, héo vàng lá, đốm đen lá, đốm vàng lá Ngoài ra còn có tuyến trùng u rễ, sâu đục thân và sâu gặm quả non và các loại bệnh hại khác

- Bệnh chùn ngọn (BBTV) do virus gây hại và môi giới truyền bệnh là rệp Pentalonia nigronervora Theo Drew at all (1989) và Dr Jones (1994), biện pháp phòng trừ hiệu quả nhất là sử dụng cây giống sạch bệnh, trừ rệp bằng phun 3 lần liên tiếp theo định kỳ 7 ngày Dipoxylin 2 SL tỷ lệ 1/250 và

Trang 35

bón bổ sung phân kali

- Bệnh héo vàng lá (FOC) do nấm gây hại Nấm bệnh tồn tại trong đất

và cây bệnh, lan truyền qua nước tưới và cây con qua chóp rễ và vết thương

cơ giới Các biện pháp phòng trừ hóa học và canh tác ít hiệu quả Chế phẩm sinh học Trichoderma đạt hiệu quả phòng trừ cao ở quy mô nghiên cứu thử nghiệm

e, Nghiên cứu bảo quản và chế biến chuối

Một trong những nguyên nhân chính gây tổn thất sau thu hoạch là do các loại bệnh hại Quả bị nhiễm bệnh nặng suy giảm cả giá trị dinh dưỡng và giá trị thương phẩm Các loại bệnh chính gồm thối cuống, thối đầu quả, thối quả và bệnh than Tác nhân gây những bệnh kể trên là vi sinh vật thường xâm nhập vào quả từ trên cây, trong giai đoạn thu hoạch Vì vậy trong thu hái, vận chuyển và xử lý quả phải giữ vệ sinh và hết sức cẩn thận, tránh gây ra những vết thương cơ giới

- Các phương pháp bảo quản chuối:

+ Bảo quản nhiệt độ thấp

+ Bảo quản trong khí quyển điều chỉnh (CA)

+ Bảo quản trong khí quyển cải biến (MA)

+ Bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ

+ Bảo quản ở áp suất thấp và bảo quản bằng hóa chất

- Các sản phẩm chế biến chuối:

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chuối được chế biến thành nhiều sản phẩm như chuối sấy hoặc chuối

bột thô, bột mịn, chíp, nước quả, puree, mứt v.v… Chuối nghiền và pure

chuối hiện nay là sản phẩm chiếm sản lượng lớn nhất Ngoài ra có nước hỗn hợp, bánh chuối, chuối lát, chiên dòn, chip, sữa chua hương chuối và kem chuối Philipinnes là nước xuất khẩu chủ yếu sản phẩm chíp chuối vào thị trường Mỹ Chíp được chiên bằng dầu dừa nên có giá trị dinh dưỡng có lợi cho sức khoẻ vì vậy nó được so sánh với chíp khoai tây Sản phẩm chuối miếng trong xi rô loãng được sản xuất ở Honduras, Philippines và Thái Lan với số lượng nhỏ Sản phẩm tinh bột chuối được sử dụng như tinh bột sắn ở vùng Nam Mỹ và là thức ăn chính của người tây Samoa và nhiều nơi khác như ở Puerto Rico Nhu cầu chuối trên thế giới khá lớn, lên đến hàng chục triệu tấn/năm dưới dạng quả tươi và các sản phẩm chế biến

4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở nước ta chuối đã được trồng và sử dụng ăn tươi, ăn luộc, chuối sấy, làm cảnh… từ lâu đời và khắp mọi nơi, từ Đông sang Tây, từ Nam ra Bắc [1, 5] Song việc nghiên cứu về cây chuối chưa nhiều và chưa cơ bản [11]

Có thể kể ra đây một số nhà nghiên cứu đã quan tâm đến cây chuối ở Việt Nam, mà người đầu tiên trong công cuộc này là M.H.Leconte (nhà phân loại học người Pháp)

Trong thực vật chí đại cương Đông Dương (tập 6, 1932) [2] dựa trên những đặc điểm hình thái ông cho rằng ở Đông Dương có 6 loài chuối trong

Việt Nam có 2 loài M.Uranoscoposlons và M Coocinea E.D.Merrill đã giới

thiệu 3 loài

M nana lonr (chuối dùi hay chuối già lùn)

M paradisiaca L.SPP (Chuối mật, chuối sứ)

M uranoscopas lonr (Coceinca andr)

Trang 37

Võ Văn Tiến và Dương Đức Tiến 1978 [3] cho rằng Musaceae có 2 chi

và bảy mươi loài trong đó chi Ensete có 10 loài phân bố chủ yếu ở Châu Phi, chi Musa phân bố ở các vùng nhiệt đới Ở nước ta có 4 - 5 loài thuộc chi Musa mọc dại, ngoài ra còn một số loài được trồng để lấy quả Trong rừng

Việt Nam thường gặp chuối rừng Musa uranaoscopas lonr (Musa coinea andr) Các ông cho rằng chuối ở Việt Nam có lẽ bắt nguồn từ miền nam

Trung Quốc và Bắc Ấn Độ

Phạm Hoàng Hộ (1972) cho rằng chi Musa ở Việt Nam có 2 loài hoang dại và 8 loài trồng trọt

- Hai loài hoang dại gồm:

1- M balbisiana trục không lông quả tròn dài, và hột to (4 - 6mm),

cuống xanh

2- M.acuminata trục có lông, quả thường dài, vàng, hột to (6 - 7mm)

cuống xanh có sọc đỏ

- Tám loài hoang dại là:

1- M.brachycarpa chuối hột lấy lá gói bắp để ăn gỏi

2- M.nana chuối già lùn (chuối tiêu lùn)

3- M.parasidiaca chuối được trồng ở khắp mọi nơi

4- M.chiliocarpa (trăm nải)

5- M.textilis

6- M.sanguinea

7- M.ornata (chuối sen)

Mới đây nhất trong cây cỏ Việt Nam tập 3 (1993) [7] Phạm Hoàng Hộ

đã nâng chuối Việt Nam lên 13 loài và có tên la tinh tương ứng

1- M.Parasidiaca L

2- M.nana lour

3- M Balbisiana colla

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13- Ensete glaucum (roxl) chesm

Theo ông M.parasisioca L; M.nana lonr; và M.bakeri mook f là loài

chuối trồng, trong đó hầu hết các loài chuối trồng hiện nay đều được

M.parasisioca L Còn M.acuminata colla và M balbisiana đều là những loài

chuối hoang dại với bộ nhiễm sắc thể X = 10 Người ta chỉ trồng để lấy lá gói

bánh và ăn quả non như loài chuối hột Chiliocarpa back, hoặc sử dụng để trồng trọt khi đã lai tạo giữa hai loài M.acuminata colla và M.balbisiana

Những loài còn lại chủ yếu dùng để lấy sợi và làm cảnh

Như vậy Phạn Hoàng Hộ phân loại chủ yếu dựa vào hệ thống phân loại của Linnaeur (1707 - 1778), ông dựa vào đặc điểm bộ nhị để phân loại bởi vậy ông đã xếp loài chuối trồng không có hạt và có hạt vào 2 loài riêng biệt Điều này dẫn đến nhiều điểm mâu thuẫn nhau, ví dụ: Ông xếp các loài chuối

trồng như chuối tây, chuối tiêu, chuối ngự vào nhóm M.parasidioca L, nhưng chuối già lùn (chuối tiêu lùn) lại xếp vào loài riêng (M.nana lour)

Ngoài việc nghiên cứu tính tổng quát của M.H Lecomte và Phạm Hoàng Hộ việc nghiên cứu các giống chuối trồng cũng bắt đầu được quan tâm Ở miền Nam từ những năm 1960 người ta đã tiến hành thu thập các giống chuối trồng ở các địa phương tập trung vào các vườn tập đoàn ở trung

Trang 39

tâm Nông nghiệp Thủ Đức Cần Thơ, Nha Hố Sau khi miền Nam giải phóng chỉ còn lại vườn tập đoàn ở Trung tâm Nha Hố [13] Năm 1968 - 1969 trong hai năm Nader vakili chuyên viên phân loại về chuối ở Mỹ đã sang miền Nam Việt Nam cùng với Lê Văn Thái và Võ Ngọc Đỉnh đã điều tra thu thập các giống chuối trồng ở miền Nam, xây dựng vườn tập đoàn ở Trung tâm Nha Hố

và bước đầu phân loại theo phân loại của Simmomds Sau đó lần lượt một số kết quả và cơ quan cùng tiến hành thu thập và phân loại chuối ở Nam Bộ Tôn Thất Trình (1973) [13] đã đưa ra các phân loại chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái của buồng quả lúc chín, các đặc tính khác rất ít được đề cập đến Căn cứ vào mức độ có lông trên cuống buồng tác giả đã chia chuối trồng thành 3 nhóm lớn

- Nhóm có cuống buồng nhiều lông

- Nhóm có cuống buồng ít lông

- Nhóm có cuống buồng không lông

Các giống trong từng nhóm được phân biệt qua đặc điểm về cuống quả,

vỏ quả và đầu quả Bộ môn cây ăn quả dài ngày của Viện khoa học kỹ thuật miền Đông Nam Bộ (1977) Lâm Quang Phổ (1977) [13], Trần Văn Minh và Nguyễn Văn Uyển (1993) [12] Các tác giả đều công nhận chuối trồng có

nguồn gốc từ 2 loài hoang dại M.acuminata colla và M.balbisiana colla và sơ

bộ phân loại chuối trồng theo một số nhóm theo đặc tính di truyền và mức độ hòa hợp của 2 loài

A (M.acuminata colla) và B (M.balbisiana colla) trong mỗi dòng Tuy

nhiên các tác giả đều thừa nhận tính chủ quan trong việc cho điểm của mỗi người Ngay cả đến số lượng nhiễm sắc thể cũng dựa chủ yếu vào tổng số điểm của mỗi giống mà không trực tiếp đếm số lượng nhiễm sắc thể

Ở miền Bắc công trình nghiên cứu trong nhiều năm ở những vùng sinh thái khác nhau của giáo sư Trần Thế Tục [15;12] (công bố vào năm 1997) đã

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đề cập đến những kết quả bước đầu cho việc phân loại chuối Theo ông tập đoàn chuối ở nước ta có khoảng hơn 30 giống và ông đã sắp sếp như sau:

1- Dựa vào đặc điểm sinh lý và yêu cầu sinh thái của các giống ông chia chuối trồng thành 2 loại

- Nhóm trồng trên đất phù sa ven sông, đất nhẹ, thoáng xốp đủ ẩm phù hợp với chuối tiêu, chuối già…, mới trồng

- Nhóm trồng trên đất đồi gồm các giống có khả năng chịu hạn như chuối tây, chuối mật…

2- Dựa theo khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ ông chia chuối trồng thành 6 nhóm:

Năm 1970, bộ môn cây ăn quả thuộc Viện nghiên cứu cây công nghiệp

và cây ăn quả nay là Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển rau hoa quả thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đã tiến hành thu thập các mẫu giống chuối về đặt tại Trung Tâm Dựa trên vườn tập đoàn này năm 1989 Lê Đình Danh [5] và cộng sự đã tiến hành phân loại 27 dòng chuối Miền Bắc theo phương pháp cho điểm của Simmonds và Shepherds, 5 nhóm chuối đã được Lê Đình Danh xác định là: AA, AAA, AAB, ABB, ABBB Mỗi nhóm này gồm các nhóm phụ mỗi nhóm phụ lại có sự mô tả chi tiết đặc

Ngày đăng: 25/03/2021, 08:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w