Ngày 14/09/2007 thực hiện theo quyết định 439/QĐ-GVN.HN của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty giấy Việt Nam, Lâm trường Vĩnh Hảo chính thức chuyển đổi thành Công ty Lâm nghiệp Vĩnh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
CAO VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRỒNG RỪNG NGUYÊN LIỆU GIẤY TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP VĨNH HẢO, HUYỆN BẮC QUANG
Trang 2Đặt vấn đề
Trong bối cảnh phần lớn rừng tự nhiên của nước ta là rừng thứ sinh nghèo với khả năng cung cấp gỗ ở thời điểm hiện tại rất hạn chế thì việc phát triển rừng trồng sản xuất là rất cần thiết, góp phần giảm áp lực lên rừng tự nhiên Hiện nay, nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy ở nước ta rất lớn, các loài cây mọc nhanh, có khả năng đáp ứng nhu cầu nguyên liệu giấy như Keo, Bạch đàn, đã và đang được gây trồng rất rộng rãi trên phạm vi cả nước, trong đó ở một số nơi đã được quy hoạch thành các vùng nguyên liệu tập trung để cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy giấy Theo Chiến lược Phát triển ngành Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 thì nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy nước ta sẽ tăng từ 3,388 triệu m3/năm (năm 2010) lên 8,283 triệu
m3/năm (năm 2020) Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm tới, nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy của nước ta sẽ tăng gấp khoảng 2,4 lần so với thời điểm năm 2010, điều này đòi hỏi cần phải có sự nỗ lực rất lớn trong gây trồng rừng nguyên liệu giấy ở nước
ta Thực tế hiện nay cho thấy, phần lớn trồng rừng nguyên liệu giấy của nước ta mới chỉ được đầu tư theo chiều rộng, tức là chúng ta cố gắng đẩy mạnh mở rộng về diện tích gây trồng nhưng lại kém có sự đầu tư thâm canh theo chiều sâu về giống, phân bón, kỹ thuật trồng, chăm sóc,… dẫn tới năng suất và hiệu quả trồng rừng đạt được
là không cao Sự yếu kém trong công tác quy hoạch đất đai, quy hoạch vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến, khả năng đầu tư và kỹ thuật thâm canh, lựa chọn loài cây trồng, công tác dự báo thị trường,… là những nguyên nhân gây cản trở trồng rừng sản xuất nói chung và trồng rừng nguyên liệu giấy nói riêng ở nước ta trong thời gian vừa qua Chính vì vậy, trong thời gian tới, để đẩy mạnh phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy thì cần làm rõ những khó khăn và biện pháp tháo gỡ có hiệu quả là thực sự cấp bách
Lâm trường Vĩnh Hảo được thành lập theo quyết định số 11/TCCB ngày 31/3/1961 của UBND tỉnh Hà Giang với nhiệm vụ chủ yếu là trồng rừng nguyên liệu giấy mới, khai thác vầu, nứa để cung cấp cho nhà máy nguyên liệu giấy Việt Trì Ngày 01/02/2005 thực hiện Quyết định 29/2005/QĐ-TTg và Quyết định
Trang 309/2005/QĐ-BCN ngày 04/3/2005 về việc chuyển Tổng Công ty giấy Việt Nam sang mô hình hoạt động công ty mẹ - công ty con, Lâm trường Vĩnh Hảo được thành lập lại theo Quyết định số 1096/QĐ-HĐQT ngày 27/6/2005 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty giấy Việt Nam với tổng diện tích được giao là 4.907,88
ha thuộc địa bàn 4 xã Hùng An, Vĩnh Hảo, Đồng Yên, Tiên Kiều Ngày 14/09/2007 thực hiện theo quyết định 439/QĐ-GVN.HN của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty giấy Việt Nam, Lâm trường Vĩnh Hảo chính thức chuyển đổi thành Công
ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện trồng, chăm sóc, khai thác các loài cây trồng rừng nguyên liệu giấy đáp ứng nhu cầu nguyên liệu và chỉ tiêu kế hoạch của Tổng Công ty giấy Việt Nam giao, các loài cây được gây trồng như: Keo tai tượng, Bồ đề, Luồng, Keo lai, trong đó Keo tai tượng được gây trồng phổ biến nhất, tuy nhiên năng suất đạt được là rất thấp, trung bình Keo tai tượng sau
8 năm trồng chỉ đạt trữ lượng 70 m3/ha, trong khi đó khoảng 60% sản lượng khai thác được phải bán về Tổng Công ty giấy Việt Nam với giá bán thường là thấp hơn
so với giá của thị trường, điều này dẫn tới lợi nhuận thu được của Công ty là thấp, đời sống của cán bộ nhân viên gặp nhiều khó khăn, Công ty hầu như không có vốn tích lũy để phát triển Hiện nay, trong thời điểm Công ty vừa mới tiến hành chuyển đổi từ hình thức Lâm trường sang Công ty Lâm nghiệp, mở rộng cả về quy mô sản xuất lẫn phương hướng kinh doanh, do vậy rất cần có những phương án mới có hiệu quả để phát triển rừng trồng nguyên liệu, nâng cao năng suất cây trồng từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của Công ty, đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên và cộng đồng địa phương tham gia vào phát triển nghề rừng
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu các giải pháp phát triển trồng
rừng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh
Trang 4loài E maculata ngay từ những năm 1952; Mỹ bắt đầu với loài E robusta
160 cây trội cho loài E regnans và
170 cây trội có thân hình thẳng đẹp và tỉa cành tự nhiên tốt ở loài E grandis Tương
tự như vậy, 150 cây trội đã được chọn ở rừng tự nhiên cho loài E diversicolor
và loài E deglupta ở Papua New Guinea (dẫn theo [26])
Nhờ những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống mới tới nay ở nhiều nước đã có những giống cây trồng năng suất rất cao, gấp 2-3 lần trước đây như ở Brazil đã tạo được những khu rừng có năng suất 70-80 m3/ha/năm, tại Công Gô năng suất rừng cũng đạt 40 - 50 m3/ha/năm Theo Covi
khu rừng cung cấp nguyên liệu giấy cũng đạt năng suất 40 - 50 m3/ha/năm, kết quả
là hàng ngàn ha đất nông nghiệp được chuyển đổi thành đất lâm nghiệp để trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy đạt hiệu quả kinh tế cao Theo Swoatdi, Chamlong (1990) (dẫn theo [52]) tại Thái Lan rừng Tếch cũng đã đạt sản lượng 15 - 20
m3/ha/năm,
Ngoài Bạch đàn, trong những năm qua các công trình nghiên cứu về giống
Trang 5cũng đã tập trung vào các loài cây trồng rừng công nghiệp khác như các loài Keo và L
, các giống Lõi thọ địa phương từ các nơi khác nhau ở Mindanao Trên cơ sở kết quả lựa chọn các xuất xứ tốt nhất và những cây trội đã xây dựng vùng sản xuất giống và dán nhãn các cây trội lựa chọn
Chọn giống kháng bệnh và lai giống cũng là những hướng nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm Tại Braxin, Ken Old, Alffenas và các cộng sự từ năm 2000-
2003 đã thực hiện một chương trình chọn giống kháng bệnh cho các loài Bạch đàn
chống bệnh gỉ sắt Puccinia Các công trình nghiên cứu về lai giống cũng đã mang
lại nhiều kết quả tốt phục vụ trồng RSX (Assis, 2000), (Paramathma, Surendran, 2000), (FAO, 1979),…
1.1.2 Về kỹ thuật lâm sinh
Bên cạnh công tác giống cây trồng, các biện pháp kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng cũng đã được quan tâm nghiên cứu J.B Ball, Tj Wormald,
L Russo (1995) [49] khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã quan tâm đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loại Matthew, J Kelty (1995) (dẫn theo [53]) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu Đặc biệt, ở Malaysia người ta đã xây dựng rừng nhiều tầng hỗn loài trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và rừng Tếch, đã sử dụng 23 loài cây có giá trị trồng theo băng 10m, 20m, 30m, 40m, và phương thức hỗn giao khác nhau Nhiều nơi người ta đã cải tạo những khu đất đã bị thoái hoá mạnh để trồng rừng mang lại hiệu quả cao
Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết Nghiên cứu về lĩnh vực này điển hình có tác giả Matti Leikola (1995) [51] đã nghiên cứu tạo lập mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính Nghiên cứu về phương thức, mật độ và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng khác cũng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, tạo cơ sở khoa học cho phát triển trồng RSX trong thời gian qua
Trang 6Vấn đề giải quyết đời sống trước mắt của người dân tham gia phát triển RTSX cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Bradford R Phillips (2001) [46] ở Fuji người ta trồng một số loài tre luồng trên đồi vừa để bảo vệ đất và phát triển kinh tế cho 119 hộ gia đình
, trong đó có nước ta [46] Azmy Hj Mohamed và Abd Razak Othman (2003) [45] cho biết ở Malaysia người ta đã sử dụng các loài tre, luồng để phục hồi những lâm phần đã thoái hoá rất có hiệu quả Tre luồng có thể trồng ở những khu rừng sau khai thác trắng hoặc ở những khu vực bị khai thác quá mức
1.1.3 Về chính sách và thị trường
Hiệu quả của công tác trồng RSX chính là hiệu quả về kinh tế Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài Đồng thời, phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ
vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế có thể giải quyết được thông qua những kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách “đòn bẩy” nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng Thom R Waggener (2000)(dẫn theo [37]), để phát triển trồng RSX đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn
2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất này nên tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Canada, nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Trên quan điểm “thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá
Trang 7Theo quan điểm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B Durst (2004) đã dẫn
ra rằng rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau:
- Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước
- Sở hữu cá nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ
- Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội
Liu Jinlong (2004) [50] dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng ở Trung Quốc là:
i) Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá;
ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước;
iii) Giảm thuế đánh vào các lâm sản;
iv) Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng
v) Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ quan điểm chung
về quản lý lâm nghiệp, vấn đề đất đai, thuế,… cho tới mối quan hệ giữa các công ty trồng rừng và người dân Đây có thể nói là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng ở Trung Quốc nói riêng trong những năm qua và là những định hướng quan trọng cho các nước đang phát triển nói chung, trong đó có Việt Nam
Các hình thức khuyến khích trồng RSX cũng được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu như Narong Mahannop (2004) [52] ở Thái Lan, Ashadi and Nina Mindawati (2004) [44] ở Indon
, 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi rừng trồng
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân
Trang 8Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang giải quyết để thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia trồng RSX, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng
Vì vậy, quan điểm chung để phát triển trồng RSX có hiệu quả kinh tế là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh rừng trồng (Hoàng Liên Sơn, 2005)
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Về giống cây trồng rừng
Những nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng thuộc Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam, đặc biệt là của Lê Đình Khả (1996, 1999, 2000), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000-2001), Hà Huy Thịnh (1999, 2002) [13], [14], [16], [26], [27], đã nghiên cứu tuyển chọn các xuất xứ, giống Keo lai tự nhiên, Bạch đàn và lai giống nhân tạo giữa các loài keo, kết quả đã chọn và tạo ra được các dòng lai có sức sinh trưởng gấp 1,5 - 2,5 lần các loài cây bố mẹ, năng suất rừng trồng ở một số vùng đạt từ 20 - 30 m3/ha/năm, có nơi đạt 40 m3/ha/năm
Nguyễn Việt Cường (2002, 2004) [3], [4] đã nghiên cứu khá toàn diện về lai
giống 3 loài Bạch đàn Urophylla, Camaldulensis và Exserta từ việc nghiên cứu cơ
sở khoa học của lai giống như thời kỳ nở hoa, cất trữ hạt phấn, cho đến đánh giá, khảo nghiệm các tổ hợp lai Tác giả cho biết từ 9 tổ hợp lai và 5 dòng Bạch đàn lai
đã chọn được 7 tổ hợp lai U29C3, U15E4, U15C1, E1U29, U29E1, U2U29 và U29E2 đạt năng năng suất từ 20 - 27 m3/ha/năm, gấp 1,5 - 2 lần giống sản xuất hiện nay; 3 dòng Bạch đàn lai 81, 85 và HH có năng suất vượt các giống PN2 và PN14
từ 23 - 84% Bên cạnh các loài Keo và Bạch đàn, các nghiên cứu cũng đã tập trung vào một số loài cây trồng rừng chủ lực khác như Thông Caribê, Thông nhựa, Tràm
có năng suất cao,…
Từ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa dạng hơn, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là việc tìm kiếm cây bản địa được
ưu tiên hàng đầu phục vụ chương trình 327 [30]
Trang 9thực hiện từ đầu những năm 1990 và hiện nay cây luồng đã và đang được phát triển rộng rãi ở một số tỉnh MNPB như Phú Thọ, Hoà Bình,… và đã trở thành cây cung cấp nguyên liệu có giá trị, cây xoá đói giảm nghèo cho người dân miền núi
Với những kết quả nghiên cứu đạt được trong những năm qua nhiều giống cây trồng rừng đã được Bộ NN & PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật Hiện nay, công tác nghiên cứu giống cây rừng đang phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu Nhiều nghiên cứu đang hướng vào tuyển chọn các dòng, xuất xứ cây trồng kháng bệnh như công trình của Nguyễn Hoàng Nghĩa và Phạm Quang Thu, 2 dòng Bạch đàn SM16 và SM23 đã được Bộ NN & PTNT công nhận là giống tiến
bộ kỹ thuật theo Quyết định số 1526 QĐ/BNN-KHCN ngày 6/6/2005 Công nghệ nhân giống như hom, mô, ghép, chiết, cũng đã có những bước tiến đáng kể (Nguyễn Hoàng Nghĩa [27])
Hiện nay, ở hầu hết các vùng đều đã có vườn ươm công nghiệp với quy mô sản xuất hàng triệu cây một năm Những thành công trong công tác nghiên cứu giống cây trồng rừng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển RTSX
ở nước ta trong những năm qua Tuy nhiên, những giống cây mới, có năng suất cao mới chủ yếu được thử nghiệm và phát triển ở một số vùng như Đông Nam Bộ, Đông Hà, Quy Nhơn, Kon Tum, đối với vùng Tây Nguyên
rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác trồng rừng, thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân vào xây dựng rừng Đây cũng là mong muốn và chủ trương của Bộ
NN & PTNT, Bộ KHCN trong những năm qua và hiện nay
1.2.2 Về kỹ thuật lâm sinh
Trang 10Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số ít các loài cây như Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, thì gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, chúng ta đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu như Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn Urophylla, Thông Caribê, Các công trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến là:
- Hoàng Xuân Tý và các cộng sự (1996) [41] về nâng cao công nghệ thâm canh rừng trồng Bồ đề, Bạch đàn, Keo và sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và nâng cao sản lượng rừng
- Phạm Thế Dũng (1998) [5] về ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học để xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao làm nguyên liệu giấy, dăm
- Đặc biệt, gần đây Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) [35] đã thực hiện đề
tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả đề án 5 triệu ha rừng và hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên”, trong
đó đã tập trung nghiên cứu năng suất rừng trồng Bạch đàn Urophylla, Bạch đàn
trắng camaldulensis và tereticornis, Keo mangium, Keo lai, tại vùng Trung tâm
Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Nghiên cứu này đã giải quyết khá nhiều các vấn đề
- Phạm Văn Tuấn (2001) [40] đã xây dựng mô hình rừng trồng công nghiệp phục vụ nguyên liệu bằng một số dòng Keo lai và Bạch đàn Urophylla kết quả cho thấy Keo lai sinh trưởng đạt năng suất từ 25 - 30 m3/ha/năm tại một số vùng (Bầu Bàng - Bình Dương, Sông Mây - Đồng Nai), Bạch đàn sinh trưởng đạt 18 - 20
m3/ha/năm ở nhiều vùng thí nghiệm (Vĩnh Phúc, Ba Vì, Quảng Trị, )
- Mai Đình Hồng (1997) [11], Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh Bạch đàn Urophylla tại Thanh sơn - Phú Thọ kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của cây rừng đạt 18- 25 m3/ha/năm
Trang 11- Nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm như Phùng Ngọc Lan (1986) đã gây trồng rừng hỗn loài Thông đuôi ngựa, Keo
lá tràm và Bạch đàn trắng ở núi Luốt - Xuân Mai [17]
- Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (1994) đã nghiên cứu
cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn loài Bạch đàn + Keo lá tràm [43]
Các loài cây bản địa trong thời gian qua cũng đã được chú ý nghiên cứu hơn như: Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [25] đưa ra nghịch lý cơ bản về cây bản địa trong đó nêu rõ những thuận lợi khó khăn khi đưa ra cây bản địa vào trồng rừng ở nước ta; Trần Quang Việt (2001) [42] nghiên cứu kỹ thuật trồng Hông; Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất (1998) [1] nghiên cứu cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ chương trình 327; Nguyễn Xuân Quát và cộng tác (1989-1991) [31] đã trồng hỗn giao Bồ Đề + Dó (giấy),
Về gây trồng cây đặc sản cũng đã có nhiều nghiên cứu như: Lê Đình Khả và các cộng sự (1976-1980) [15] nghiên cứu chọn giống Ba Kích có năng suất cao; Lê Thanh Chiến (1999) [2] nghiên cứu thăm dò khả năng trồng Quế có năng suất tinh dầu cao từ lá; Đinh Văn Tự [38] nghiên cứu di thực và gây trồng Trúc Sào về Hoà Bình; Nguyễn Hoàng Nghĩa (1995) [24] nghiên cứu chọn và nhân giống Sở có năng suất cao, Gần đây Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản đã triển khai khá đồng bộ các nội dung nghiên cứu về tình hình gây trồng, thị trường và xây dựng mô hình trồng cây đặc sản ở vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn) và Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) Có thể nói nghiên cứu về vấn đề này cũng khá nhiều, kỹ thuật gây trồng đã được đúc rút nhưng khâu chuyển giao và dịch vụ kỹ thuật còn yếu, đặc biệt là vấn đề thị trường
công ở nhiều nơi, góp phần đáng kể vào công tác phát triển RTSX ở nước ta trong thời gian qua
Trang 121 trồng
Trong những năm gần đây công tác quy hoạch và phân chia lập địa cho trồng rừng nguyên liệu cũng đã được quan tâm nghiên cứu và chú trọng hơn Đáng chú ý nhất là các công trình của Viện Điều tra quy hoạch rừng (1999) về phân chia các loại rừng phòng hộ, kinh tế và sản xuất trên cơ sở ứng dụng Hệ thống thông tin địa
lý (GIS) và thiết lập các hàm số tương quan; Công trình của Ngô Đình Quế, Đỗ
Đình Sâm và cộng sự (2001) [33] đã nghiên cứu xác định tiêu chuẩn phân chia lập
địa vi mô cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam, trong
đó có vùng Trung tâm Bắc Bộ dựa trên 4 yếu tố:
, nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng RSX ở Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã được quan tâm nhiều hơn, song cũng chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp
và một số nghiên cứu nhỏ về thị trường Các công trình quan trọng có thể kể đến là:
Trang 13- Đỗ Doãn Triệu (1997) [36] đã nghiên cứu xây dựng một số luận cứ khoa học và thực tiễn góp phần hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp
- Võ Nguyên Huân (1997) [12] đã đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở Thanh Hoá, nghiên cứu các loại hình chủ RSX và khuyến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý và sử dụng bền vững Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giao đất khoán rừng và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng
- Vũ Long (2000, 2004) [19], [20] đã đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi
Trung (2003) [55] đã đánh giá hiệu quả trồng rừng công nghiệp ở Việt Nam
- Phạm Xuân Phương (2003, 2005) [28], [29] đã rà soát các chính sách liên quan đến rừng như chính sách về đất đai, đầu tư tín dụng và chỉ rõ các chủ trương, chính sách là rất kịp thời rất, có ý nghĩa nhưng trong quá trình triển khai thực hiện còn gặp nhiều bất cập Tác giả cũng định hướng hoàn thiện các chính sách để có quy hoạch tổng thể cho vùng trồng rừng nguyên liệu, chủ rừng có thể vay vốn trồng rừng đảm bảo có lợi nhuận, đảm bảo rừng được trồng với tập đoàn giống tốt
- Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (2003) [32] đã đánh giá thực trạng trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong thời gian qua;
Lê Quang Trung và cộng sự (2000) [37] đã nghiên cứu và phân tích các chính sách khuyến khích trồng rừng Thông nhựa đã đưa ra 10 khuyến nghị mang tính định hướng để phát triển loại rừng này
Nghiên cứu thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm vì đây là vấn đề có quan hệ mật thiết tới trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau: Nguyễn Văn Tuấn (2004) [39] đã nghiên cứu hiện trạng và xu hướng phát triển thị trường gỗ nguyên liệu giấy vùng Trung tâm Bắc Bộ; Ngô Văn Hải (2004) [
, tác giả đã phân tích những lợi thế, bất lợi và hiệu
Trang 14quả của sản xuất nông sản hàng hoá ở miền núi; Nguyễn Văn Dưỡng (2004) [6] nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến định giá sản phẩm gỗ và LSNG tại Hoành
- Các công trình nghiên cứu trên thế giới được triển khai tương đối toàn diện
và có quy mô lớn trên tất cả các lĩnh vực từ khâu kỹ thuật cho tới kinh tế - chính sách,… nhiều nghiên cứu về chọn và tạo giống, kỹ thuật trồng, sinh trưởng và sản lượng rừng đã được tiến hành đồng bộ tạo cơ sở khoa học cho phát triển trồng RSX
ở các nước, đặc biệt với quy mô công nghiệp, góp phần ổn định sản xuất, nâng cao đời sống người dân và phát triển kinh tế - xã hội miền núi từ nhiều năm nay
ý trong những năm gần đây, nhất là từ khi chúng ta thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, phát triển các nhà máy giấy và các khu công nghiệp lớn Tuy vậy, các công trình nghiên cứu trong những năm qua cũng khá toàn diện về các lĩnh vực,
từ nghiên cứu chọn, tạo và nhân giống cây trồng rừng cho tới các biện pháp kỹ thuật
Trang 15gây trồng và chính sách, thị trường thúc đẩy phát triển RTSX, nhờ những kết quả nghiên cứu này mà công tác trồng RSX ở nước ta đã có những bước tiến đáng kể Tuy vậy, đối với tỉnh Hà Giang nói chung và Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang nói riêng - một vùng tương đối đặc thù về điều kiện tự nhiên và kinh tế -
xã hội, Việc trồng rừng nguyên liệu giấy đã được chú trọng từ lâu tuy nhiên năng suất và hiệu quả mang lại vẫn chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của vùng đặc biệt khi Công ty vừa chuyển đổi từ hình thức Lâm trường thành Công ty Lâm nghiệp
Tr
Xuất phát từ những yêu cầu đó, đề tài “Nghiên cứu các giải pháp phát triển trồng
rừng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo,huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
Trang 16
Chương 2 : MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trồng rừng nguyên liệu giấy nhằm góp phần ổn định đời sống của cán bộ công nhân viên Công ty, thu hút cộng đồng địa phương vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là rừng trồng nguyên liệu giấy thuộc Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
* Giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài tiến hành đánh giá một cách tổng
thể về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá các mô hình trồng rừng nguyên liệu giấy đã được Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo xây dựng ở các khía cạnh: Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng, mức độ đầu tư, năng suất rừng đạt được, đánh giá ảnh hưởng của các chính sách tới sự phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty, bước đầu thử nghiệm đánh giá công tác quản lý rừng bền vững hướng tới được cấp chứng chỉ rừng của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo theo tiêu chuẩn của
Trang 17FSC Việt Nam từ đó phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty theo mô hình phân tích SWOT làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp để phát triển và nâng cao hiệu quả của trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty trong thời gian tới
- Giới hạn về địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty
Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
- Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5/2011 đến
tháng 6/2012
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài đặt ra các nội dung sau:
- Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
- Đánh giá thực trạng phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
- Đánh giá các cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức trồng rừng nguyên liệu giấy và tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
- Đánh giá công tác quản lý rừng nguyên liệu giấy ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh hảo theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC
- Đề xuất một số giải pháp tổng thể phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy bền vững ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài
- Trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo là một quá
trình phát triển, vì vậy quan điểm lịch sử sẽ được quán triệt trong nghiên cứu này
Đề tài không chỉ chú ý đến hiện trạng rừng trồng nguyên liệu giấy hiện nay mà sẽ xem xét và đánh giá nó trong quá trình phát triển từ quá khứ, hiện tại và dự đoán trong tương lai
- Hiệu quả của rừng trồng cung cấp nguyên liệu giấy được xem xét trong đề tài chủ yếu là về mặt kinh tế Tuy nhiên, dựa trên quan điểm phát triển rừng trồng
Trang 18nguyên liệu giấy một cách bền vững các giải pháp đưa ra còn phải đáp ứng được cả yêu cầu về mặt xã hội và môi trường.
- Để phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh
Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, quan điểm và cách tiếp cận của đề tài là
tổng hợp và có sự tham gia của cộng đồng và người dân địa phương
- Hiện nay, Tổng Công ty giấy đang chỉ đạo các Công ty thành viên thực hiện các giải pháp quản lý rừng bền vững để tiến đến cấp chứng chỉ rừng Đã có 2 công ty con được cấp chứng chỉ với diện tích 6.000 ha rừng trồng Phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo cũng phải đặt trên quan điểm bền vững và hướng đến cấp chứng chỉ rừng
- Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn nên cách tiếp cận chín
Trang 19
Các bước tiến hành cụ thể được sơ đồ hoá như sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ các bước giải quyết vấn đề của đề tài
Thu thập các thông tin,
tài liệu đã có
Khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu
Lựa chọn địa điểm và đối tượng
điều tra chi tiết
ty
Ảnh hưởng của chính sách, mô hình
SX, tiêu thụ
SP tới phát triển rừng nguyên liệu giấy của Công
ty
Đánh giá tình hình thực hiện quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC của Công
ty
Phân tích SWOT
Đề xuất giải pháp
Trang 202.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Để triển khai thực hiện đề tài kế thừa các số liệu, tài liệu chủ yếu sau:
- Các báo cáo, thông tin, số liệu về lịch sử hình thành của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, lịch sử phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty
- Các báo cáo về thành phần loài cây, quy mô diện tích, bản đồ phân bố, hồ
sơ thiết kế trồng rừng của từng loài cây được trồng rừng để cung cấp nguyên liệu giấy của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
- Các báo cáo, các tài liệu khoa học đã công bố có liên quan tới phát triển rừng trồng sản xuất và rừng trồng sản xuất cung cấp nguyên liệu giấy
- Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
2.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp chủ đạo của đề tài là sử dụng bộ công cụ điều tra tiếp cận có sự tham gia PRA (phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia), thông qua việc phỏng vấn các đối tượng khác nhau, khảo sát ngoài thực địa theo lát cắt để từng bước thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài
* Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty
Các vấn đề quan tâm nghiên cứu là:
- Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty, chức năng và nhiệm vụ hiện nay của công ty
- Cơ cấu tổ chức hiện tại, các tiềm lực về vốn, lao động, kỹ thuật,… hiện có của Công ty
- Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn
2004 - 2011
Phương pháp áp dụng chủ yếu là phỏng vấn các đối tượng khác nhau: Lãnh đạo Tổng công ty giấy; lãnh đạo công ty, cán bộ kỹ thuật, công nhân Số lượng người phỏng vấn là 15 người Trong quá trình phỏng vấn, chú trọng làm rõ về những điểm mạnh, điểm yếu, tiềm lực của Công ty trong việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy trong thời gian sắp tới
Trang 21* Đánh giá thực trạng phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty
Thực trạng phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty được đánh giá trên các khía cạnh:
- Quá trình trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy của Công ty qua các thời kỳ
- Loài cây, quy mô diện tích gây trồng, năng suất và lợi nhuận đạt được của rừng cung cấp nguyên liệu giấy đã được Công ty triển khai trong giai đoạn 2004 -
2011
- Tổng kết và đánh giá các biện pháp kỹ thuật đã sử dụng trong trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty
Trong quá trình đánh giá, các số liệu sau đây sẽ được kế thừa: các báo cáo,
số liệu công bố hàng năm, các hướng dẫn kỹ thuật, thiết kế trồng rừng
Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, tiến hành lựa chọn ra 4 mô hình trồng rừng sản xuất cung cấp nguyên liệu giấy chủ yếu của Công
ty, bao gồm:
+ Mô hình 1: Trồng Keo tai tượng thuần loài
+ Mô hình 2: Trồng Keo lai thuần loài
+ Mô hình 3: Trồng Luồng thuần loài
+ Mô hình 4: Trồng Bồ đề thuần loài
Đối với mỗi mô hình rừng trồng, đề tài bố trí 3 OTC diện tích 500 m2
, trên OTC thu thập các số liệu sinh trưởng về tỷ lệ sống, D1,3, Hvn, đánh giá khả năng sinh trưởng
Hiệu quả kinh tế của mô hình được đề tài đánh giá dựa trên tổng thu nhập đạt được ở cuối chu kì kinh doanh trừ đi tổng chi phí tạo rừng và lãi xuất ngân hàng, có tính tới sự biến động về giá theo từng năm
Hiệu quả xã hội của từng mô hình được đánh giá dựa trên khả năng tạo việc làm, nâng cao thu nhập của các mô hình từ khâu trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác vận xuất rừng
* Đánh giá các cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức trồng rừng nguyên liệu giấy và tiêu thụ sản phẩm tại Công ty
Trang 22Đây là một nội dung nghiên cứu rất quan trọng, trong đó từ phía Công ty cần phải đặc biệt làm rõ những khó khăn, thuận lợi gặp phải từ việc thực hiện các cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức trồng rừng và tiêu thụ sản phẩm của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo tới cán bộ công nhân viên của Công ty và với đại diện từ phía Tổng công ty giấy Việt Nam để bàn biện pháp tháo gỡ, cụ thể:
- Tác động của các chính sách của trung ương và địa phương tới việc phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty
- Làm rõ tác động từ việc thực hiện cơ chế, chính sách đầu tư về vốn và bao tiêu sản phẩm của Tổng Công ty tới việc sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, trong đó cần đặc biệt làm rõ những khó khăn về vốn và lợi nhuận thu được và tác động của nó tới đời sống của cán bộ, nhân viên Công ty
- Tình hình thực hiện các mô hình hợp tác trồng rừng giữa Công ty với cán
bộ, công nhân viên của Công ty và người dân địa phương Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu và tác động của từng mô hình hợp tác
- Sự tham gia và vai trò của cộng đồng địa phương đối với việc phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nguyên liệu giấy của Công ty trong những năm qua và xu hướng trong thời gian tới
- Xu hướng phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty trong thời gian tới
* Đánh giá công tác quản lý rừng nguyên liệu giấy ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC
Dựa vào bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC bao gồm 10 tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn 1: Tuân theo pháp luật và tiêu chuẩn FSC Việt Nam
- Tiêu chuẩn 2: Quyền và trách nhiệm sử dụng đất
- Tiêu chuẩn 3: Quyền của người dân sở tại
- Tiêu chuẩn 4: Quyền của cộng đồng và trách nhiệm của công dân
- Tiêu chuẩn 5: Những lợi ích từ rừng
Trang 23- Tiêu chuẩn 6: Tác động môi trường
- Tiêu chuẩn 7: Kế hoạch quản lý
- Tiêu chuẩn 8: Giám sát, đánh giá
- Tiêu chuẩn 9: Duy trì những rừng có giá trị bảo tồn cao
- Tiêu chuẩn 10: Rừng trồng
Trong mỗi tiêu chuẩn đều được chia nhỏ ra thành các tiêu chí và chỉ số Căn
cứ vào thang điểm và cách thức đánh giá của FSC Việt Nam và căn cứ vào thực tiễn công tác quản lý rừng của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, đề tài tiến hành đánh giá cho điểm theo từng tiêu chuẩn của bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững, từ đó đánh giá được những mặt đã đạt và chưa đạt để tìm biện pháp khắc phục nhằm thực hiện quản lý rừng bền vững hướng tới được cấp chứng chỉ rừng cho rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty, cụ thể thang điểm đánh giá của FSC như sau:
3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Các số liệu thu thập sẽ được tính toán và xử lý trên các phần mềm máy vi tính thông dụng
Trang 24Chương 3:
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.3.1 Điều kiện tự nhiên
3.3.1.1 Vị trí địa lý
Công ty lâm nghiệp Vĩnh Hảo nằm ở phía Nam huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang Địa bàn hoạt động nằm trên 4 xã: Đông Thành, Tiên Kiều, Hùng An, Vĩnh Hảo Tổng diện tích Công ty được giao quản lý kinh doanh là: 4.907 ha
+ Phía Đông giáp Sông Lô, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
+ Phía Tây giáp xã Đồng Yên, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
3.3.1.2 Khí hậu, thủy văn
- Khí hậu:
Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa,
hàng năm có 2 mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 4 - 10
+ Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau
+ Nhiệt độ cao nhất trong năm : 380C
+ Nhiệt độ thấp nhất trong năm: 80C
+ Nhiệt độ trung bình trong năm: 230C
+ Độ ẩm trung bình là: 85%
Lượng mưa bình quân: 2.600 mm/năm, đặc biệt có năm tới 4.600 mm (đây là vùng rốn mưa của miền Bắc)
- Thủy văn:
Trang 25Trong địa phận của Công ty có 2 con sông chảy qua là sông Lô và sông Con cùng nhiều dòng suối lớn nhỏ ở hầu hết các đội sản xuất tạo thành hệ thủy có phân
bố tương đối đều trên toàn khu vực
Với điều kiện khí hậu thủy văn như trên có thuận lợi cho công tác trồng rừng, có thể trồng rừng cả vụ Thu Tuy nhiên, do lượng mưa lớn kéo dài nên cũng gây khó khăn cho việc khai thác, vận xuất, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm
Đất gồm có các loại chủ yếu sau:
+ Feralit màu vàng phát triển trên phiến thạch mica
+ Feralit màu vàng nhạt phát triển phiến thạch sét
Qua thực tế trồng rừng nguyên liệu giấy nhiều năm cho thấy hai loại đất này rất phù hợp cho gây trồng các loài cây làm nguyên liệu giấy nhất là cây Keo tai tượng
3.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bắc Quang là huyện miền núi nằm ở phía Nam tỉnh Hà Giang, tiếp giáp với các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái có quốc lộ 2 chạy qua và được xác định là vùng động lực trong phát triển kinh tế của tỉnh Hà Giang Toàn huyện có 23 xã và 207 thôn bản, với tổng diện tích tự nhiên là: 109.880 km2
Trang 263.3.2.1 Cơ cấu dân số, dân tộc
- Dân số: Toàn huyện Bắc Quang có 110.763 khẩu, 22.519 hộ, gồm 19 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 47,39 %, dân tộc Kinh chiếm: 26,12
%, dân tộc Dao chiếm: 12,44 %, H'Mông chiếm 0,04%, còn lại là các dân tộc khác
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là: 1,2 %
3.3.2.2 Văn hóa, giáo dục, y tế
- Về văn hóa:
+ Số xã có nhà văn hóa kiên cố: 21/23 xã;
+ Tỷ lệ phủ sóng truyền hình: 98%;
+ Tỷ lệ hộ dùng điện: 100% trong đó 95% số hộ dung điện lưới;
+ Tỷ lệ hộ có điện thoại: 10 máy/100 dân
- Về giáo dục:
+ Số xã đạt chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục THPT là 15/23 xã;
+ Số xã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học là: 23/23 xã;
+ Số xã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở là: 23/23 xã; + Tỷ lệ trẻ (6 - 14 tuổi) đến trường học: 99,5 %;
+ Tỷ lệ trẻ từ 3 đến 5 tuổi đi học mẫu giáo: 85,3 %;
+ Số trường đạt chuẩn quốc gia là: 13/23 xã
3.3.2.3 Kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải
+ Đường lâm nghiệp thuộc Công ty quản lý là: 35,0 km
Trang 27+ Hệ thống giao thông tương đối thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và đi lại có quốc lộ 2 và 183 đường nhựa liên xã
+ Công ty tự mở đường vận xuất, vận chuyển đến các lô, khoảnh, thuận lợi cho việc vận chuyển gỗ nguyên liệu giấy và phát triển dân sinh kinh tế - xã hội trên địa bàn, việc đi lại từ Công ty tới các đội tương đối thuận lợi
+ Hình thức vận chuyển gỗ trong Công ty là hình thức vận chuyển bằng đường bộ, phương tiện vận chuyển bằng xe ô tô
+ Kết cấu hạ tầng khác: Công ty có 6 đội sản xuất được xây dựng nhà cấp 4
có chỗ để cho cán bộ, công nhân ở và điều hành sản xuất Công ty có trạm biến áp
220 - 350 KWA đủ điện cho sản xuất, kinh doanh dịch vụ Điện lưới quốc gia đã đến tới các đội sản xuất của Công ty
3.3.2.4 Tình hình kinh tế địa phương
- Sản xuất Nông - Lâm nghiệp chiếm tỷ trọng: 25,6 %
- Thương mại - Dịch vụ chiếm tỷ trọng: 36,6 %
- Sản xuất công nghiệp xây dựng cơ bản chiếm tỉ trọng: 38,0 %
- Lương thực tính bình quân đầu người: 450 kg/người/năm (2011);
- Thu nhập bình quân 8 triệu đồng/người/năm;
- Giải quyết việc làm cho người lao động 2000 người/năm
- Tỉ lệ đói nghèo theo tiêu chí mới còn 12 % tập trung vào nhóm dân tộc Dao, dân tộc vùng cao khó khăn
Tỷ trọng đóng góp cho nền kinh tế của địa phương đối với ngành Nông - Lâm nghiệp là còn quá thấp mới chỉ chiếm 25,6% trong cơ cấu đóng góp của các ngành kinh tế, điều này chưa tương xứng với tiềm năng của vùng Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, trung bình mới chỉ đạt 8 triệu đồng/người/năm nên kinh tế
hộ dân còn nghèo, cuộc sống phụ thuộc rất lớn vào tài nguyên rừng, lương thực bình quân đầu người thấp mới chỉ đạt 450 kg/người/năm nên tình trạng phá rừng đốt nương làm rẫy vẫn thường xuyên diễn ra gây khó khăn cho công tác bảo vệ rừng
3.3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.3.3.1 Thuận lợi:
Trang 28- Điều kiện địa hình tuy có hơi phức tạp, độ dốc lớn, bị chia cắt tuy nhiên nhìn chung đất đai trong khu vực vẫn còn khá tốt, thuận lợi cho nhiều loài cây trồng đặc biệt là các loài cây lâm nghiệp phát triển
- Lượng mưa lớn, hệ thống sông suối có khả năng cung cấp nước ngay cả trong mùa khô nên đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và phục vụ sản xuất của vùng
- Công ty nằm trong vùng quy hoạch nguyên liệu giấy cung cấp nguyên liệu cho nhà máy Giấy Bãi Bằng, đã có hệ thống cơ sở hạ tầng như: Đường vận xuất, vận chuyển, bãi bến đã được quy hoạch và xây dựng ổn định từ các chu kỳ trước
- Lực lượng lao động còn trẻ nhưng yêu ngành yêu nghề, có ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao
- Cán bộ công nhân viên trong Công ty và nhân dân trên địa bàn đã dần làm quen với việc canh tác trồng cây nguyên liệu giấy từ nhiều năm qua
- Công ty luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Tổng công ty Giấy Việt Nam về: Kế hoạch sản xuất kinh doanh, kĩ thuật canh tác, vốn và giống cây trồng
- Được sự quan tâm giúp đỡ của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các xã, các phòng chức năng của huyện Bắc Quang và các xã trên địa bàn
- Nguồn vốn vay cho khâu tạo rừng vừa thiếu, vừa chậm mà lãi suất lại cao
- Tình trạng xâm canh xâm cư, tranh chấp đất đai vẫn còn phổ biến chưa được Công ty và các cấp chính quyền địa phương giải quyết kịp thời
- Địa bàn sản xuất kinh doanh của lâm trường có địa hình rất phức tạp, chia cắt bởi nhiều song suối, độ dốc lớn (trung bình là 290) Đất đai phân tán xen kẽ với đất của dân địa phương
Trang 29- Dân sinh kinh tế, cơ sở hạ tầng chưa phát triển; xa trung tâm tiêu thụ sản phẩm; chi phí sản xuất lớn, nhất là chi phí khai thác, vận xuất và vận chuyển nguyên liệu giấy
- Việc áp dụng kỹ thuật trong quá trình sản xuất kinh doanh chưa được chú trọng đúng mức (nhất là chuyển đổi loại cây trồng phù hợp) Do vậy hiệu quả kinh doanh của 1 số diện tích rừng trồng còn hạn chế, đặc biệt là Bồ đề và Luồng
- Đất đai của Công ty được UBND tỉnh Hà Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất của nhân dân do UBND huyện cấp Trong quá trình cấp vẫn xảy ra chồng chéo từ đó việc tổ chức sản xuất gặp nhiều khó khăn cho cả nhân dân địa phương cùng Công ty Trong nhiều năm qua đến năm 2008 mới giải quyết dứt điểm
- Việc tổ chức khoán rừng góp vốn liên doanh, liên kết chưa hài hoà về lợi ích của các bên do vậy không tạo được sự hăng hái của người dân địa phương tham gia vào công tác trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng
Trang 30Chương 4:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, kết quả chi tiết được thể hiện tại bảng 4.1
Bảng 4.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
Giai đoạn Quyết định thành lập Đặc điểm
- Thuộc Ty Lâm nghiệp Hà Giang quản lý
- Nhiệm vụ chủ yếu: Khai thác lâm sản phụ phục vụ phát triển kinh tế của tỉnh; khai thác sợi dài (vầu, nứa) cung cấp cho Nhà máy giấy Việt Trì và các nhà máy khác thuộc khu vực phía Bắc; Trồng rừng nguyên liệu giấy cung cấp cho nhà máy giấy Việt Trì
23/12/1976
-28/5/1993
485/TTg của Chính phủ ngày 23/12/1976 phê chuẩn thiết kế xây dựng Lâm trường Vĩnh Hảo
- Ngày 29/11/1978 Bộ Lâm nghiệp có Quyết định số 2004/TC thành
- Thuộc Liên hiệp nguyên liệu giấy Bắc Quang - Tỉnh Hà Tuyên
- Địa bàn hoạt động trên 11 xã của Huyện Bắc Quang
- Diện tích rừng và đất rừng theo quy hoạch được giao quản lý là: 31.000 ha
- Năm 1977-1978 Lâm trường Vĩnh hảo được giao cho Đoàn 344 thuộc tổng cục kinh tế (Bộ Quốc phòng) quản lý
- Năm 1978 Lâm trường Vĩnh Hảo trở thành đơn vị thành viên của Công ty Nguyên liệu giấy Bắc Quang
Trang 31lập Công ty Nguyên liệu giấy Bắc Quang
- Ngày 24/03/1983 Bộ Lâm nghiệp có quyết định số 265/TC thành lập Liên hiệp
- QĐ 226/TCCB ngày 31/03/1986 của Bộ Lâm nghiệp về việc thành lập Liên hiệp các
Xí nghiệp nguyên liệu giấy Vĩnh Phú
- Năm 1983 Lâm trường Vĩnh Hảo là thành viên của Liên hiệp Lâm Công nghiệp Bắc Yên
- Năm 1986 là thành viên của Liên hiệp các
Xí nghiệp nguyên liệu giấy Vĩnh Phú
- Chức năng chủ yếu : Trồng và khai thác rừng nguyên liệu giấy theo kế hoạch được giao
28/5/1993 –
31/12/1996
386/TCLĐ của Bộ Lâm nghiệp về việc
- Địa bàn hoạt động: Trên 11 xã của Huyện Bắc Quang
- Diện tích được giao quản lý là : 5.968 ha
31/12/1996
-31/12/2003
QĐ 1130/QĐ-HĐQT ngày 31/12/1996 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Giấy Việt Nam
- Thành lập Lâm trường Vĩnh Hảo trực thuộc Công ty Nguyên liệu giấy Vĩnh Phú thuộc Tổng Công ty giấy Việt Nam
- Địa bàn hoạt động: Trên 4 xã Vĩnh Hảo, Hùng An, Đồng Yên, Tiên Kiều
- Diện tích được giao quản lý: 4.907 ha Nhiệm vụ: Quản lý bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng; Sản xuất kinh doanh nông lâm kết hợp; khai thác gỗ, lâm sản,…
01/01/2004 - QĐ số 173/2003/QĐ- - Là thành viên của Công ty giấy Bãi Bằng
Trang 32- Chức năng, nhiệm vụ, quy mô sản xuất vẫn giữ nguyên so với giai đoạn trước đó
Giai đoạn từ
01/7/2005 -
13/09/2007
QĐ 1096/QĐ-HĐQT ngày 27/6/2005 của Chủ tich Hội đồng quản trị Tổng công ty giấy Việt Nam
- Hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công
ty con với Tổng Công ty giấy Bãi Bằng
- Diện tích được giao quản lý: 4.907,88 ha
- Địa bàn hoạt động: Trên 4 xã của Huyện Bắc Quang
- Nhiệm vụ: Trồng rừng, chăm sóc rừng, quản lý bảo vệ rừng; khai thác rừng, vận tải cung ứng lâm sản theo tiến độ và kế hoạch của Tổng công ty Giấy Việt Nam
14/09/2007 -
nay
QĐ 439/QĐ-GVN.HN ngày 14/09/2007 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty giấy Việt Nam
- Chính thức chuyển đổi từ hình thức Lâm trường sang Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
- Rà soát, quy hoạch lại đất đai và trả lại diện tích 1.107,88 ha đất rừng cho các xã
- Diện tích Công ty quản lý là 3.800 ha Địa bàn hoạt động: 4 xã của Huyện Bắc Quang gồm: Hùng An, Vĩnh Hảo, Đồng Yên, Tiên Kiều
- Chức năng nhiệm vụ: Tổ chức trồng rừng, chăm sóc rừng, quản lý bảo vệ rừng; tổ chức khai thác rừng, vận tải cung ứng lâm sản; dịch vụ vật tư kỹ thuật lâm sinh, theo đúng quy định và kế hoạch của Tổng công ty Giấy Việt Nam
Trang 33Trong quá trình hình thành và phát triển đến nay, với từng giai đoạn lịch sử
và các thay đổi về cơ chế chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước, Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo luôn thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch được cấp trên giao, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt nghĩa vụ xây dựng địa phương, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đời sống của cán bộ công nhân viên ngày được nâng lên
4.1.2 Cơ cấu tổ chức, tiềm lực hiện tại của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
4.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Cơ cấu tổ chức của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo được thể hiện ở sơ đồ 4.1
Quan hệ chỉ đạo trực tiếp
Quan hệ phối hợp chức năng
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
Đội
6 Đông Thành
Đội
7 Đông Thành
Đội
9 Tiên Kiều
Đội
11 Vĩnh Hảo
Ban Giám Đốc
Trang 34Như vậy, có thể nhận thấy, bộ máy tổ chức sản xuất của Công ty Lâm
nghiệp Vĩnh Hảo là tương đối tinh gọn nhưng vẫn giúp cho mọi hoạt động sản xuất của Công ty diễn ra một cách thuận lợi nhất và bộ máy tổ chức này không ngừng được Công ty có sự điều chỉnh, sắp xếp cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của mình Trong kế hoạch quản lý rừng bền vững của mình, Công ty đã tiến hành sát nhập 2 phòng chức năng trước đó là phòng kế hoạch và phòng kỹ thuật thành một phòng đó là phòng kế hoạch - kỹ thuật, bên cạnh đó 2 xưởng sản xuất bột giấy không đem lại hiệu quả là xưởng bột Ngòi Sảo và xưởng bột Vĩnh Hảo cũng đã được Công ty cho ngừng hoạt động, chuyển hướng đầu tư vào lĩnh vực khác mang lại hiệu quả hơn, điều này đã giúp công ty tinh chỉnh lao động từ 170 người trước
đó chỉ còn lại 134 người, nhưng vẫn đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi
4.1.2.2 Tiềm lực phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
* Tiềm lực về đất đai:
Hoạt động sản xuất trồng rừng nguyên liệu thì đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản nhất để có thể phát triển trồng rừng Công ty muốn mở rộng diện tích trồng rừng và tăng năng suất sản phẩm thì đòi hỏi phải có diện tích đất rộng, đất màu mỡ thuận lợi cho cây trồng phát triển Kết quả điều tra về hiện trạng đất đai thuộc quản
lý của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo được tổng hợp tại bảng 4.3
Số liệu tại bảng 4.3 cho thấy, diện tích đất do Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo quản lý là 3.841,46 ha đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chiếm 100% tổng diện tích của công ty Diện tích rừng trồng hiện nay của công ty là 2.503,6 ha, chiếm 65,2%, đất rừng sản xuất trồng liên kết với dân là 104,3 ha chiếm 2,7% tổng diện tích của công ty Có thể thấy đây là một diện tích rất lớn để phát triển rừng nguyên liệu giấy và nếu được đầu tư theo hướng sử dụng giống mới có năng suất cao và tăng cường thâm canh thì sẽ mang lại hiệu quả rất lớn Bên cạnh
đó, hiện nay công ty vẫn còn 899,41 ha đất trống, trong đó có 443,29 ha là vẫn có khả năng phát triển tiếp rừng nguyên liệu giấy trong thời gian tới
Trang 35Bảng 4.2 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo
(Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, 2011)
* Tiềm lực về lao động:
Lao động là lực lượng cơ bản tác động vào tư liệu sản xuất là đất đai để tạo
ra của cải vật chất, cụ thể ở đây là năng suất rừng trồng nguyên liệu giấy Nguồn lao động dồi dào, có trình độ chuyên môn cao, lao động hăng say và sáng tạo là điều kiện kiên quyết để thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của Công ty
Trang 36Kết quả đánh giá tiềm lực lao động hiện tại của công ty được thể hiện tại bảng 4.3
Bảng 4.3 Tiềm lực lao động của công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo năm 2011
(người)
Tỷ lệ (%)
Ghi chú
bộ của công ty đi học và tăng cường tuyển thêm cán bộ có trình độ cao về làm việc
* Tiềm lực về vốn:
Vốn là yếu tố cơ bản và quan trọng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn ở đây được hiểu theo giá trị là tiền tệ thông qua quy đổi các giá trị tài sản cố định, lưu động của công ty Vốn là cơ sở để trả lương cho nhân công lao động, đầu
tư mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất và mở rộng quy mô đầu tư,… Chính vì vậy, đơn vị muốn phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy được tốt thì đòi hỏi phải có đầy đủ vốn Kết quả điều tra về tiềm lực vốn kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo được tổng hợp tại bảng 4.4
Trang 37Bảng 4.4 Nhu cầu vốn và kế hoạch vay vốn kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo giai đoạn 2004 - 2011
Năm Hạng mục Khối lƣợng công việc Đơn vị
tính
Nhu cầu vốn (triệu đồng)
Tổng vốn vay (triệu đồng) Tổng
công ty
Nguồn khác
Trang 38ty Giấy Việt Nam là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự khó khăn trong chủ động nguồn vốn, phương án kinh doanh cũng như hạn chế nguồn lợi ích mang lại từ hoạt động trồng rừng của công ty
* Tiềm lực về khoa học kỹ thuật:
Khoa học kỹ thuật cũng là một trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng tới năng suất lao động, giá trị của sản phẩm tạo ra và cuối cùng là ảnh hưởng tới lợi nhuận thu được Đối với trồng rừng nguyên liệu giấy thì yếu tố biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp, giống tốt và phù hợp với điều kiện lập địa, trồng rừng thâm canh, biện pháp chăm sóc kịp thời, hợp lý,… là các yếu tố cơ bản có ảnh hưởng tới năng suất cây trồng rừng nguyên liệu
Trang 39Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo là đơn vị thành viên của Tổng công ty Giấy Việt Nam, hàng năm cán bộ công nhân viên của công ty đều được Tổng công ty tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, thâm canh rừng trồng, cập nhật những giống tiến bộ kỹ thuật mới có năng suất cao Do vậy, cán bộ nhân viên của công ty đều có trình độ chuyên môn vững chắc, nắng vững các tiến bộ về
kỹ thuật trồng và thâm canh rừng nguyên liệu
* Tiềm lực về thị trường tiêu thụ sản phẩm:
Khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp chính là khả năng tìm kiếm thị trường tiêu thụ, sự đảm bảo vững chắc cho đầu ra của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra từ đó quyết định tới sự mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất, sự tồn tại hay dẫn tới phá sản của Công ty
Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo là một đơn vị thành viên (công ty con) của Tổng công ty Giấy Việt Nam, là tổ chức hàng đầu trong sản xuất giấy tại Việt Nam phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài Thực tế hiện nay cho thấy hàng năm nhu cầu gỗ nguyên liệu phục vụ cho sản xuất giấy của Tổng công ty luôn luôn thiếu, không đủ phục vụ cho sản xuất, bình quân mỗi năm thiếu khoảng 100.000 tấn nguyên liệu giấy Mặt khác, theo Chiến lược Phát triển ngành Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 thì nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy nước ta sẽ tăng từ 3,388 triệu m3/năm (năm 2010) lên 8,283 triệu m3/năm (năm 2020) tức là chỉ trong vòng 10 năm tới, nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy của nước ta sẽ tăng khoảng 2,4 lần so với thời điểm năm 2010, điều này đòi hỏi cần phải có sự nỗ lực rất lớn trong gây trồng rừng nguyên liệu giấy ở nước ta Chính vì vậy, có thể thấy rằng thị trường đầu ra cho sản phẩm gỗ nguyên liệu giấy của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo là vô cùng rộng mở
4.1.3 Đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh rừng nguyên liệu giấy của Công
ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo giai đoạn 2004 - 2011
Trong giai đoạn 2004 - 2011 hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo là trồng và khai thác rừng nguyên liệu giấy, với loài cây chủ yếu là Keo tai tượng và một phần từ diện tích rừng Bồ đề, Keo lai và
Trang 40Luồng Kết quả cụ thể về hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được tổng hợp tại bảng 4.5
Kết quả tại bảng 4.5 cho thấy, trong giai đoạn 2004 - 2011 Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo đã trồng được 2.618 ha rừng nguyên liệu, chăm sóc rừng được 8.252 ha, bảo vệ rừng được 11.249 ha, khai thác rừng được 1.538,2 ha với tổng sản lượng lên tới 88.378 m3, tổng thu nhập đạt được là 65.250 triệu đồng Mặc dù tổng thu nhập đạt được từ khai thác rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty là rất lớn nhưng sau khi trừ đi các khoản chi phí và trả lương cho công nhân thì lượng vốn tích lũy hàng năm của Công ty là không đáng kể chỉ dao động từ 3,02 - 49 triệu đồng/năm Như vậy, có thể thấy Công ty hầu như không có vốn tích lũy cho sản xuất chu kỳ sau Một số nguyên nhân chủ yếu được xác định như sau:
- Năng suất rừng trồng nguyên liệu của Công ty đạt rất thấp bình quân chỉ đạt 57 m3/ha ở cuối chu kỳ kinh doanh do lập địa trồng rừng xấu, Công ty vẫn chưa đầu tư mạnh trong lĩnh vực thâm canh rừng nguyên liệu, đặc biệt là công tác giống cây trồng
- Sản phẩm gỗ rừng trồng của Công ty phải bán về Tổng Công ty Giấy Việt Nam với giá thậm chí còn thấp hơn so với giá thu mua ngoài thị trường, trong khi
đó giá trị của sản phẩm chủ yếu sinh ra ở khâu tinh chế và tiêu thụ thì Công ty lại không được tham gia bước công việc này
Mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty là hầu như không có vốn tích lũy nhưng mức lương bình quân đầu người của công ty liên tục tăng trong giai đoạn 2004 - 2011 từ 1,1 triệu đồng/người/tháng năm 2004 tăng lên 2,8 triệu đồng/người/tháng năm 2011 cho thấy đời sống của cán bộ công nhân viên công ty dần được cải thiện từ việc tham gia phát triển rừng nguyên liệu của Công