Trên khắp các vùng trồng chè của nước chúng ta thấy rằng những chỗ đất tốt, có độ dốc thích hợp đã được trồng chè, những diện tích quy hoạch trồng chè còn lại ở vùng trung du miền núi hầ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NGUYỄN THỊ CẨM MỸ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU
CHE PHỦ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHÈ GIAI ĐOẠN KIẾN THIẾT CƠ BẢN VÀ ĐỘ PHÌ ĐẤT
Trang 2Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn của tôi hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Cẩm Mỹ
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo giảng dạy, thầy giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể, cá nhân và nhân dân địa bàn nơi thực hiện đề tài Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
TS Nguyễn Thị Ngọc Bình - Phó trưởng bộ môn Nông Lâm kết hợp-
Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
GS TS Nguyễn Thế Đặng - Trưởng phòng Hành chính tài vụ -
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
Trang 4Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Nghiên cứu sử dụng đất dốc 4
2.1.2 Vai trò của lớp vật liệu che phủ 11
2.2 Một kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 13
2.2.1 Một số nghiên cứu về kỹ thuật tủ rác và tưới nước cho chè trên Thế giới 13
2.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật tủ rác, tưới nước cho chè ở Việt Nam 14
2.2.3 Một số nghiên cứu về đất dốc ở nước ngoài 17
2.2.4 Đất dốc ở Việt Nam và biện pháp canh tác 20
3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 26
3.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 26
3.2.1.1 Tình hình sản xuất 26
3.2.1.2 Tình hình tiêu thụ 30
3.2.2 Tình hình sản xuất và phương hướng phát triển của ngành chè Việt Nam 32
3.2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè 32
3.2.2.2 Phương hướng phát triển ngành chè 37
Trang 53.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 42
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 42
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 42
3.2 Vật liệu nghiên cứu 42
3.2.1 Cây trồng 42
3.2.2 Vật liệu che phủ 42
3.2.3 Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 42
3.2.4 Các vật dụng khác 43
3.3 Nội dung nghiên cứu 43
3.4 Phương pháp nghiên cứu 43
3.4.1 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 43
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp quan trắc 44
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 49
Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 50
4.1.1 Địa hình 50
4.1.2 Thổ nhưỡng đất đai 50
4.1.3 Khí hậu thuỷ văn 51
4.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 53
4.2 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của cây chè 54
4.2.1 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều rộng tán chè 54
4.2.2 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến đường kính thân chè 55
4.2.3 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều cao cây 56
4.2.5 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng kiểm soát cỏ dại 59
Trang 64.2.6.2 Bọ Cánh Tơ (Physotrips setivenetris Bagn) 62
4.2.6.3 Bọ Xít Muỗi: (Helopeltis theivora Watrhouse) 64
4.2.7 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến yếu tố cấu thành năng suất 68
4.2.7.1 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến mật độ búp chè 68
4.2.7.2 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khối lượng búp chè 70
4.2.7.3 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều dài búp chè 72
4.2.7.4 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến tỷ lệ mù xòe 73
4.2.7.5 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chất lượng nguyên liệu 74
4.2.7.6 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến thành phần sinh hóa búp chè 75
4.2.7.7 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến năng suất và sản lượng chè 77
4.3 Tác dụng của vật liệu che phủ đến khả năng bảo vệ và cải thiện độ phì của đất 78
4.3.1 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến độ ẩm đất 79
4.3.2 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến độ xốp đất 81
4.3.3 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến hạn chế xói mòn đất 82
4.3.4 Ảnh hưởng của lớp phủ thực vật đến lượng dinh dưỡng bị xói mòn 83
4.3.5 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến độ phì đất 84
4.3.6 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến hoạt đông của vi sinh vật đất 86
4.3.7 Mức độ hoai mục của lớp phủ thực vật 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 89
2 Đề nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 96
Trang 7Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ 27
Bảng 2.2: Sản lượng chè thế giới qua các năm 28
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của thế giới và một số nước trồng chè chính năm 2004 29
Bảng 2.4: Nhu cầu sử dụng chè của một số nước trên thế giới năm 2000 - 2005 và dự báo năm 2010 31
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam từ năm 1996 - 2006 34
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu đạt được từ năm 2002 - 2008 38
Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng đất đai của xã Phú Hộ 51
Bảng 4.2: Diễn biến thời tiết khí hậu tại Phú Hộ 11 tháng năm 2009 52
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều rộng tán chè 55
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến đường kính thân chè 55
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều cao cây 56
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chỉ số diện tích lá 57
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khối lượng cỏ dại ở các công thức 59
Bảng 4.8: Diễn biến mật độ rầy xanh ở các công thức 61
Bảng 4.9: Diễn biến mật độ bọ cánh tơ ở các công thức 63
Bảng 4.10: Diễn biến mật độ bọ xít muỗi ở các công thức 65
Bảng 4.11: Diễn biến mật độ nhện đỏ ở các công thức 67
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến mật độ búp chè 69
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khối lượng búp chè 71
Bảng 4.14: Ảnh hưởng của lớp phủ thực vật đến chiều dài búp 72
Bảng 4.15: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến tỷ lệ mù xoè 73
Trang 8búp chè 76 Bảng 4.18: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến năng suất và sản
lượng chè 77 Bảng 4.19: Ảnh hưởng của lớp phủ thực vật tới độ ẩm đất 79 Bảng 4.20: Ảnh hưởng của vật liệu tủ đến độ xốp đất 81 Bảng 4.21: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sự xói mòn đất (năm
2009 tại Phú Hộ - Phú Thọ) 82 Bảng 4.22: Ảnh hưởng của lớp phủ thực vật đến lượng dinh dưỡng bị
xói mòn (kg/ha) 84 Bảng 4.23: Sự thay đổi một số tính chất hoá học của đất sau khi được
che phủ 85 Bảng 4.25: Mức độ hoai mục của vật liệu che phủ 87
Trang 9Hình 4.1: Diễn biến mật độ rầy xanh các tháng 61
Hình 4.2: Diễn biến bọ cánh tơ qua các tháng 63
Hình 4.3: Diễn biến bọ xít muỗi qua các tháng 66
Hình 4.4: Diễn biến mật độ nhện đỏ nâu ở các công thức 68
Hình 4.5: Mật độ búp chè ở các công thức 69
Hình 4.6: Khối lượng búp chè ở các công thức 71
Hình 4.7: Năng suất chè ở các công thức 78
Hình 4.8: Động thái ẩm độ đất tầng 0 - 20cm nhờ lớp phủ thực vật 80
Hình 4.9: Khả năng kiểm soát xói mòn của vật liệu che phủ (năm 2009 tại Phú Hộ - Phú Thọ) 83
Hình 4.10: Diễn biến độ hoai mục của vật liệu che phủ 87
Trang 10Phần I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có tỷ lệ đất đồi núi (đất dốc) chiếm trên 3/4 diện tích trong tổng số 33,12 triệu ha đất tự nhiên Nhìn chung đây là những loại đất khó khai thác và sử dụng kém hiệu quả, đặc biệt là khi đất đã mất đi lớp thảm thực vật che phủ Đất đồi núi (đất dốc) phân bố ở cả 7 vùng sinh thái của Việt Nam, nhưng chủ yếu tập trung ở miền núi phía Bắc, Tây Trung Bộ và Tây Nguyên Phần lớn diện tích đất có độ dốc dưới 15º (chiếm 21,9%) đã được sử dụng cho sản xuất nông lâm nghiệp, diện tích đất có độ dốc từ 15 - 25º (chiếm 16,4%), còn lại là đất có độ dốc lớn hơn 25º (chiếm 61,7%) Đây là những vùng đất bị thoái hóa nặng rất khó phục hồi để tái sử dụng cho nông nghiệp
Trong những năm gần đây, nhờ có sự đầu tư tái trồng rừng của Chính phủ Việt Nam và việc áp dụng rộng rãi các kỹ thuật tiến bộ trong thâm canh đất thung lũng và đất ruộng bậc thang nên sức ép khai thác đất dốc đã giảm,
độ che phủ rừng dần được hồi phục Năm 2007, theo số liệu của Tổng cục thống kê thì diện tích đất có rừng đã đạt 12,74 triệu ha (đạt 38,48% so diện tích đất tự nhiên của Việt Nam)
Dân số gia tăng dẫn đến diện tích bình quân trên đầu người bị giảm, bên cạnh đó người dân miền núi vẫn chưa được tiếp cận với những tiến bộ kỹ thuật mới trong canh tác bền vững trên đất dốc, do vậy xói mòn, rửa trôi, và thoái hóa đất vẫn thường xuyên xảy ra ngày càng trầm trọng hơn Thêm vào
đó hiện tượng thiên tai như lũ quét, lũ ống thường xuyên xảy ra và ngày càng gia tăng, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản cho người dân, không chỉ miền núi mà cả miền xuôi
Trang 11Trước những thách thức trên, cần phải có những phương thức canh tác hợp lý vừa đảm bảo đời sống cho người dân, vừa bảo vệ cải tạo đất để có thể sản xuất lương thực một cách bền vững, trong đó việc nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật canh tác bền vững giữ một vai trò rất quan trọng và cấp thiết, để giúp người dân miền núi thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo
Việt Nam là một trong những nước có lịch sử trồng chè lâu đời Hiện nay cả nước có khoảng 120.000 ha chè, tuy nhiên năng suất, chất lượng chè của nước ta còn thấp so với nước trên thế giới Nhưng nhiều hộ trồng chè ở vùng trung du vẫn đạt 15 - 20 tấn/ha Chè cho thu hoạch quanh năm kể cả những tháng khô hạn Trên khắp các vùng trồng chè của nước chúng ta thấy rằng những chỗ đất tốt, có độ dốc thích hợp đã được trồng chè, những diện tích quy hoạch trồng chè còn lại ở vùng trung du miền núi hầu hết là đất bạc màu, mới phá bỏ cây trồng trước, hoặc trồng lại 2 - 3 chu kỳ do vậy khi trồng chè phải tiến hành cải tạo đất, áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế
Ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, đất trồng chè (thường là đất dốc) có độ xói mòn cao, hàm lượng dinh dưỡng nghèo đặc biệt là hàm lượng mùn và độ
ẩm thấp Do vậy phải bổ sung chất hữu cơ cho đồi chè bằng phân chuồng Tuy nhiên, biện pháp này còn gặp nhiều hạn chế, hàng năm sự bào mòn, rửa trôi lượng mùn, dinh dưỡng khá cao Sự thoái hóa đất là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng, đặc biệt là vùng đồi núi
Vùng Phú Hộ - tỉnh Phú Thọ là một điển hình của trung du miền núi phía Bắc, có địa hình kiểu đồi bát úp trung du, có độ dốc từ 8 - 10º xen kẽ các thửa ruộng bậc thang Đất đai có 2 loại là đất ferarit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch mica, tầng đất mịn khá sâu 1 - 3m, và đất ferarit phát triển trên đá Gnai, phiến thạch pecmatit có tầng dày Cây chè là thế mạnh của vùng, phần lớn diện tích gò đồi được trồng chè Tuy nhiên người làm chè mới chỉ chú trọng đến khai thác sản phẩm mà chưa chú ý đầu tư đúng mức
Trang 12Xuất phát từ yêu cầu sản xuất nông nghiệp bền vững, hiểu được vai trò của lớp thực vật trong bảo vệ đất chống xói mòn, làm cho đất mầu mỡ hơn, kiểm soát cỏ dại, giữ ẩm, tăng năng xuất cây trồng, tăng thu nhập cho người
dân, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ
đến sinh trưởng, phát triển của chè giai đoạn kiến thiết cơ bản và độ phì đất tại Phú Hộ - tỉnh Phú Thọ”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định được loại vật liệu dùng phủ cho chè (Vật liệu hữu cơ)
- Đánh giá được ảnh hưởng của các biện pháp phủ đất tới sinh trưởng
và năng suất của chè
- Đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp che phủ đất tới bảo vệ độ
- Là cơ sở khoa học cho việc định hướng cải tạo, bảo vệ và khai thác hiệu quả tiềm năng đất dốc đặc biệt ở vùng trung du miền núi phía Bắc
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Hướng tới một phương thức canh tác chè cải tiến trên đất dốc hiệu quả hơn nhưng vẫn bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng) và bảo vệ môi trường
- Tăng năng suất, giảm chi phí đầu tư, cải thiện thu nhập cho người trồng chè
- Giảm nhẹ gánh nặng cho người lao động nhất là phụ nữ và trẻ em khỏi những lao động nặng nhọc như làm đất, làm cỏ
Trang 13Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Nghiên cứu sử dụng đất dốc
* Phương pháp luận
Theo Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne (2005) [5] đã đưa ra: Đất dốc là hệ sinh thái rất đa dạng về thành phần các loài và các yếu tố địa hình, khí hậu, tài nguyên v.v Nhưng cũng rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương Ở những nơi địa hình đất càng dốc thì hệ sinh thái càng dễ bị phá vỡ
Đất dốc hàm chứa nhiều tiềm năng phát triển, là nơi cư trú ngày càng đông của con người và là nguồn đất sản xuất chính trong tương lai Trên thế giới có hơn 750 triệu người sống ở miền núi, do nhiều nguyên nhân khác nhau
mà phần lớn nông dân miền núi đều là người nghèo, thiếu ăn Do không sản xuất đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và tiêu dùng, họ buộc phải khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn đã cạn kiệt Kết quả là môi trường sống bị suy thoái với sự gia tăng của thiên tai như hạn hán và lũ lụt kéo dài, đất đai bị nghèo kiệt, năng suất cây trồng giảm làm cho đời sống của người dân càng gặp nhiều khó khăn
Vì vậy, đất dốc cần được quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc nhiều hơn nữa nhằm sử dụng hiệu quả những tiềm năng của vùng cao để tăng và ổn định năng suất cây trồng Cần có một cái nhìn khác và đổi mới về quan niệm sử dụng và quản lý đất dốc đặc biệt là chống thoái hoá đất, tăng độ phì và dung tích hấp thu bằng các biện pháp sinh học Các giải pháp duy trì và bảo vệ độ phì của đất phải đa dạng và mang tính hệ thống, phải kết hợp đồng bộ để phát triển giữa trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp trên vùng đất dốc
Trang 14* Các giải pháp chủ yếu:
Sự thoái hóa của đất thường kéo theo sự mất nước và thiếu hụt dinh dưỡng, theo kết quả nghiên cứu của Mutert E và Fairhurst T (1997) [9] thì các yếu tố dinh dưỡng mà đất dốc thường thiếu nhất là đạm, lân, kali, canxi và manhê Ngoài ra khi đất bị thoái hoá thường có biểu hiện bị chua, độ pH thấp của nhiều loại đất dốc có liên quan đến độ độc nhôm và sắt làm giảm hiệu lực của phân bón Do vậy việc hiệu chỉnh sự thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu (N, P, K, Ca, Mg) nhờ bón phân hợp lý và đặc biệt là phải có các giải pháp quản lý tổng hợp thì mới phát huy được thế mạnh của đất dốc vùng nhiệt đới nóng ẩm Bên cạnh đó sức sản xuất của nhiều loại đất dốc cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố vật lý như: Khả năng giữ nước kém, đất bị đóng váng, rửa trôi và đặc biệt là bị nén chặt Các tác giả cho rằng muốn quản lý sử dụng hiệu quả đất dốc nhiệt đới ẩm thì con đường duy nhất là phải xây dựng một nền nông nghiệp bền vững dựa trên cơ sở chống xói mòn, rửa trôi, cải tạo độ phì của đất và bố trí cây trồng hợp lý
Qua nhiều năm, nhiều nhà khoa học, nhiều quốc gia và nhiều tổ chức trên thế giới đã và đang quan tâm nghiên cứu để tìm ra các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất dốc, chống xói mòn, rửa trôi, cải tạo và bảo vệ đất Các giải pháp trước đây đã được áp dụng như:
- Kiến thiết ruộng bậc thang bờ đất hoặc bờ đá nếu có đủ nước thì cấy lúa nước, thiếu nước thì trồng lúa cạn và hoa màu Cách làm này rất hiệu quả
và bền vững nhưng mất nhiều thời gian làm diện tích bậc thang
- Thiết kế băng cây xanh chống xói mòn và canh tác theo đường đồng mức, đây là cách làm tốt song chưa đủ hiệu quả trong ngăn chặn xói mòn và thoái hoá đất dốc
- Làm rào cản cơ giới, xếp tường đá làm hàng rào bảo vệ, đào hào giữ nước và dẫn nước thoát khỏi khu vực canh tác để chống xói mòn
Trang 15- Làm bậc thang vẩy ốc, xếp đá
- Trồng cây che phủ, sử dụng phân xanh, xen canh gối vụ, luân canh Tuy đã được áp dụng nhiều năm song các giải pháp trên không đạt được những thành tựu về ổn định năng suất trong điều kiện kinh tế xã hội, môi trường ngày nay, điều đó chứng tỏ cần phải thay đổi cách làm cũ thì mới không bị tiếp tục sa lầy trong thảm hoạ thoái hoá đất mặc dù đầu tư ngày càng cao Có nghĩa là những cách làm truyền thống không còn đủ hiệu quả để ổn định năng suất trên đất dốc Tính ổn định về năng suất chỉ có thể đạt được nhờ các kỹ thuật tái tạo các điều kiện sinh thái đất dốc giống như hệ sinh thái rừng càng nhiều càng tốt Hướng quản lý tiến bộ nhất là phải phát triển các kỹ thuật tối đa hoá sinh khối, tạo độ che phủ mặt đất và tính liên tục của lớp phủ, tăng cường hoạt tính sinh học để tăng cường các quá trình tái tạo dinh dưỡng, tái tạo các tính chất cơ bản của đất như: Cấu tượng đất hàm lượng hữu cơ, độ xốp, hoạt tính sinh học, độ pH, độ độc nhôm sắt… Song song với quá trình che phủ là phải giảm thiểu các hoạt động gây xáo trộn đất như cày bừa, xới xáo Đẩy mạnh các kỹ thuật làm đất tối thiểu hoặc không làm đất, đảm bảo không đốt mà phải sử dụng triệt để tàn dư cây trồng, cỏ dại để trả lại chất hữu
cơ cho đất, bảo vệ và cải tạo đất thông qua che phủ Có như vậy mới đảm bảo sức sản xuất của đất một cách bền vững (Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ,
Hà Đình Tuấn, 2005) [4]
Sử dụng biện pháp tổng hợp như cơ cấu cây trồng thích hợp, tăng vụ cùng với các biện pháp canh tác luân canh, xen canh, trồng bằng cây xanh theo đường đồng mức để tạo lớp phủ thực vật tối đa trong mùa mưa, kết hợp với các biện pháp xẻ rãnh, tạo bồn, bón phân đã giảm được lượng nước chảy tràn bề mặt và lượng đất bị xói mòn tùy theo lượng mưa và cường độ mưa:
Trang 16- Với cây hàng năm: Lượng đất bị xói mòn giảm 48 - 50% trên đất phù
sa cổ Ba Vì, 22% trên đất đồi thoái hóa Tam Đảo, 53% trên đất phiến thạch sét Hòa Sơn so với không áp dụng các biện pháp chống xói mòn và đất trống
- Với cây lâu năm: 84% trên đất phiến thạch sét Hòa Sơn, 65% trên đất badan Hòa Thắng, Đắc Lắc, 60% trên đất phiến sét Co Càng, Lạng Sơn so với không áp dụng các biện pháp chống xói mòn và đất trống (Trần Đức Toàn 2006)[29]
Theo tác giả Uexkull H.R và Mutert E (1995) [44] cho rằng có thể cải tạo độ phì của đất, làm cho tầng đất mặt dày lên, giàu dinh dưỡng hơn là tăng sức sản xuất của đất dốc bằng cách trồng các loài cây họ đậu và che phủ đất
để làm giàu hoạt động sinh học, làm giàu dinh dưỡng của tầng đất mặt, ngăn chặn sự xói mòn, đóng váng, nén chặt đất Đây là một trong những bước đầu tiên rất quan trọng
Tóm lại, hạn chế thoái hóa đất, rửa trôi là công việc thường xuyên và lâu dài, đòi hỏi có sự nỗ lực chung của các cấp, các ngành, đoàn thể và cộng đồng dân cư Giải pháp chung nhất là phải sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, tích cực khôi phục cải tạo các vùng đất bị thoái hóa, bạc màu, áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến, nông lâm kết hợp trên vùng đất hoang hóa, sa mạc hóa, trồng, chăm sóc và bảo vệ các loại cây phát triển lá nhanh, ít rụng lá hoặc các đai cây xanh chắn gió, tăng khả năng giữ nước và giảm tốc độ bốc hơi nước; phủ xanh đất trống, đồi núi trọc… nhằm cân bằng môi trương sinh thái
* Nguyên nhân gây thoái hóa đất:
Thoái hóa đất và hoang mạc hóa đang là những vấn đề môi trường bức xúc mà nước ta và nhiều quốc gia đang phải đối mặt Trên thế giới hiện có khoảng 30% diện tích bề mặt trái đất là hoang mạc hoặc đang bị hoang mạc hóa Sự gia tăng nhanh chóng diện tích hoang mạc ở các vùng khô hạn, bán khô hạn và một số vùng ẩm ướt không chỉ do sự biến đổi khí hậu, mà còn là
Trang 17sức ép của sự gia tăng dân số, hoạt động sống của con người Hàng năm trên thế giới có khoảng 11-13 triệu ha rừng bị chặt phá, hàng chục triệu hécta đất
bị suy thoái dẫn đến hoang mạc
Ở nước ta trong nhiều năm qua, do nhận thức và hiểu biết về đất đai của nhiều người còn hạn chế, đã lạm dụng và khai thác không hợp lý tiềm năng, dẫn đến nhiều diện tích đất bị thoái hóa, hoang mạc hóa, làm mất đi từng phần hoặc toàn bộ tính năng sản xuất Làm cho nhiều loại đất vốn rất màu mỡ lúc ban đầu, nhưng sau một thời gian canh tác đã trở thành những loại đất bạc màu, muốn sử dụng có hiệu quả cần phải đầu tư để cải tạo khá tốn kém Đây là hậu quả của tốc độ khai thác rừng ngày càng tăng, nạn chặt phá rừng trái phép, đốt rừng làm rẫy, khai hoang tự phát không quản lý được và nạn cháy rừng
Hiện tượng thoái hoá đất đang là mối quan tâm lo lắng lớn trong sự nghiệp phát triển của nước ta Đất bị thoái hoá không những làm mất đi độ mầu mỡ mà còn kéo theo sự mất nước, kéo theo quá trình hoang mạc hoá và
sa mạc hoá (Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1999) [28]
Quá trình thoái hoá đất diễn ra theo hai xu hướng lớn là: Thoái hoá tự nhiên (thoái hoá tiềm năng) và thoái hoá do con người (nhân tác)
- Thoái hoá tự nhiên (thoái hoá tiềm năng)
Đây là quá trình thoái hoá đất tự nhiên diễn ra ngay trong giai đoạn phát triển của đất khi chưa có sự tác động của con người Qúa trình này thể hiện như một giai đoạn biến đổi trong đại tuần hoàn vật chất Ở nước ta, đất Feralit là một thí dụ phổ biến, sự phát triển sâu sắc đất Feralit trong điều kiện địa lý nhất định đã hình thành lớp kết von đá ong trong phẫu diện đất Chính lớp kết von này mặt chắn tách rời quan hệ phẫu diện đất với vỏ phong hoá và mẫu chất Và quá trình phong hoá đất đồng thời xảy ra (Thái Phiên, Nguyễn
Tử Siêm, 1998) [24]
Trang 18Ngoài ra, dưới tác động của thiên nhiên như: Gió, mưa lớn tập trung và giông bão lụt lội, những cực đoan thoái hoá đất ở miền núi dốc là những hiện tượng trượt lở sườn, vùi lấp thung lũng dang diễn ra phổ biến Tuy nhiên, thoái hoá tự nhiên không gây lên những biến động có ảnh hưởng lớn đến đời sống cộng đồng
- Thoái hoá do con người (nhân tác)
Ở Việt Nam có nguồn gốc do chặt phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy, huỷ hoại môi trường sống Đây là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng xâm nhập và gia tăng mạnh mẽ diện tích đất thoái hoá, sa mạc hoá ở Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung
Đất đồi núi ở nước ta vốn được hình thành dưới tán rừng nhiệt đới ẩm,
đó là nơi có cấu trúc đất tốt và hàm lượng các chất dinh dưỡng cao Tuy nhiên khi được khai phá để dùng trong các mục đích nông lâm nghiệp thì lập tức đất rừng bị suy thoái Tốc độ và mức độ suy thoái đất rừng phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật canh tác và điều kiện phát sinh Trên thực tế, quá trình thoái hoá đất xảy ra rất mạnh khi đất rừng được sử dụng cho canh tác các cây lương thực ngắn ngày như: Lúa nương, ngô, sắn… (Thái Phiên, Nghiêm Tử Siêm, 1998) [24]
Tổng diện tích đất bị thoái hoá liên tục tăng theo các năm, đồng nghĩa với sự lớn dần về diện tích của các sa mạc, hoang mạc trên thế giới Ở Việt Nam, mặc dù đất sa mạc hoá không tập trung và hình thành nên những hoang mạc rộng hàng trăm ngàn ha như ở một số quốc gia trên thế giới nhưng với khoảng 1/3 diện tích đất canh tác đang bị tác động bởi sa mạc hoá cũng đang
là vấn đề phức tạp, nan giải Theo Sajjpongse A (1993) [43] thì đất dốc bị chua chiếm trên 600 triệu ha ở các nước nhiệt đới, trong đó có gần 188 triệu
ha ở các nước Đông Nam Á
Trang 19Đất bị chua là một biểu hiện của thoái hoá đất Khi đất bị chua thường kéo theo nghèo dinh dưỡng và bị độc Nhôm hoặc Sắt (Uexkull H R, 1996) [45] Độ chua của đất cũng là một đặc trưng cơ bản có tác động mạnh mẽ đến hoạt động sống và năng suất của cây trồng
Theo Robert M (1992) [42), thì thoái hoá đất biểu hiên ở 3 mặt sau:
- Lý tính: Xói mòn, rửa trôi, chai đất, khô cằn, giữ nước kém
- Hoá tính: Bị chua, nghèo chất dinh dưỡng, bị độc nhôm hoặc sắt
- Sinh học: Nghèo mùn, nghèo sinh vật và vi sinh vật đất
Đây là những yếu tố quan trọng quyết định đến hoạt động sống cũng như năng suất cây trồng trên đất dốc
Bell L.C và Edwards D.G (1991) [38] cho rằng nguyên nhân đất chua
Bên cạnh các nguyên nhân tác động trực tiếp thì còn có các nguyên nhân gián tiếp tác động đến là:
- Tăng dân số: Tăng dân số nhanh là một trong những nguyên nhân
chính là suy thoái đất dốc và dạng sinh học ở miền núi Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp Sự gia tăng về mật độ dân đã dẫn đến nạn phá rừng và sự suy thoái nghiêm trọng về các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên
Trang 20- Sự di dân tự do
- Sự nghèo đói: Với khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam là
một nước nông nghiệp phụ thuộc và tài nguyên thiên nhiên Đất nông nghiệp
ở nhiều nơi thiếu nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời sống rất thấp, khoảng 50% gia đình thuộc vào diện đói nghèo Vì thiếu ruộng, thiếu vốn đầu tư, những người nghèo đói thường phải đến sinh sống tại những nơi không thuận lợi, phải bóc lột đất và tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống làm cho các loại tài nguyên này bị suy thoái nhanh chóng
- Tập quán du canh du cư: Du canh là tập quán sản xuất nông nghiệp
lâu đời của nhiều dân tộc ít người của Việt Nam Có khoảng 9 triệu người thuộc 50 dân tộc ít người ở Việt Nam có tập quán du canh Do tăng dân số mà tập quán du canh đã trở thành một nguyên nhân quan trọng làm mất rừng, thoái hoá đất và kết quả là đã tạo nên cả một vùng đất trống, đồi núi trọc rộng lớn như hiện nay
Sự thoái hoái hoá của đất dốc do con người gây ra ở vùng Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng do các nguyên nhân sau:
2.1.2 Vai trò của lớp vật liệu che phủ
Độ che phủ bề mặt đất và tính liên tục của lớp phủ thực vật là hai yếu
tố cơ bản để chống xói mòn, tăng cường hoạt tính sinh học và tăng các quá trình tái tạo dinh dưỡng, tái tạo những tính chất cơ bản của đất như: Cấu tượng đất, độ xốp, hàm lượng mùn, hoạt tính sinh học, độ pH, giảm độ độc nhôm, sắt Hướng đi cơ bản để canh tác bền vững trên đất dốc ở vùng cao nhiệt đới là cải thiện và giữ gìn đất, biện pháp rẻ tiền và đa dụng nhất là tái sử dụng tàn dư cây trồng làm vật liệu che phủ (Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ,
Hà Đình Tuấn, 2005) [4]
Che phủ bề mặt đất bằng xác thực vật có những lợi ích sau:
Trang 21* Lợi ích tại chỗ:
- Giảm xói mòn đất do mưa gió
- Đất tới xốp, tăng độ hấp thu nước, giảm dòng chảy bề mặt,
- Giảm bốc hơi nước, tăng độ ẩm đất
- Dung hoà nhiệt độ bề mặt đất (ấm trong mùa đông, mát trong mùa hè)
- Tăng độ ổn định các cấu trúc bề mặt đất, chống kết von và đóng váng, tạo độ thông thoáng cho đất
- Giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân bón
- Tăng hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng trong đất, giảm độc tố gây hại cho cây trồng
- Giảm đầu tư: Công làm đất, làm cỏ, bón phân
- Tạo điều kiện thuận lợi cho hạt nảy mầm tôt, bộ rễ phát triiển khoẻ, cây sinh trưởng tốt
- Tăng và ổn định năng suất, chất lượng cây trồng một cách bền vững
* Lợi ích về môi trường và quản lý tài nguyên:
- Hạn chế du canh du cư, tạo điều kiện cải thiện nguồn tài nguyên đất, nước và rừng
- Giảm lũ lụt ở miền xuôi
- Chống lắng đọng các lòng sông hồ, đặc biệt là hồ thuỷ điện
- Giảm ô nhiễm hoá học ở các vùng lân cận
- Việc không đốt tàn dư thực vật sẽ giảm nguy cơ cháy rừng, giảm lượng CO2 thải vào không khí
- Giảm nhu cầu sử dụng phân vô cơ, cũng có nghĩa là giảm ô nhiễm nguồn nước, tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính
* Lợi ích về xã hội:
- Phụ nữ và trẻ em được giải phóng khỏi các công việc nặng nhọc và tốn thời gian như làm đất, làm cỏ Phụ nữ có nhiều thời gian chăm sóc sức
Trang 22khỏe gia đình, nuôi dạy con cái và phát triển nghề phụ Trẻ em sẽ có nhiều thời gian đến trường, học hành nâng cao kiến thức
- Đất và nước ít hoặc không bị ô nhiễm, bệnh tật giảm, sức khoẻ cộng đồng được cải thiện
- Hiệu quả kinh tế cao nên xã hội sẽ phát triển nhanh và bền vững hơn Nhìn chung, khi áp dụng các biện pháp che phủ đất đã mang lại nhiều lợi ích và đáp ứng được hầu hết các yêu cầu trong canh tác đất dốc bền vững góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân miền núi và bảo vệ môi trường
Tóm lại, quá trình canh tác không hợp lý trên đất dốc đã làm mất đi lớp phủ thực vật rất quan trọng gây ra hậu quả rất xấu cho cho đất như: đất bị thoái hoá, xói mòn, rửa trôi do mưa, bị khô hạn và bốc hơi vật lý mạnh, bị chai cứng, đóng váng Đất bị mất nước làm cho quá trình khoáng hoá chất hưu cơ nhanh, giảm mùn, mất khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng
Sử dụng các loại vật liệu che phủ đất khác nhau trong quá trình canh tác trên đất dốc đã khắc phục được những hạn chế đó Che phủ đất ngăn chặn được xói mòn, rửa trôi đất, tăng dần độ phì và cải thiện các tính chất của đất, giúp cho đất giữ ẩm, tăng độ pH làm cho quá trình khoáng hoá chất hữu cơ chậm lại tạo điều kiện hình thành mùn, tăng khả năng giữ nước, tăng cường các hoạt động sinh học đất, giảm các độc tố có hại đối với cây trồng Nâng cao năng suất cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế, duy trì ổn định sức sản xuất lâu dài của đất một cách bền vững Tuy nhiên, sử dụng loại vật liệu gì và mức
độ phủ bao nhiêu là phù hợp thì cần phải được làm rõ
2.2 Một kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
2.2.1 Một số nghiên cứu về kỹ thuật tủ rác và tưới nước cho chè trên Thế giới
Theo M.K.Daraselia (1989) thì những nghiên cứu của tủ rác và tưới nước cho chè ở Liên Xô lần đầu tiên được tiến hành ở Viện nghiên cứu chè và cây trồng á nhiệt đới ở Gludia vào những năm 1934 - 1936 sau đó vào những
Trang 23năm 1936 - 1937 đều cho thấy hiệu quả của tủ rác và tưới nước đối với năng suất và chất lượng chè, (Lê Tất Khương, 1997) [13]
Các tác giả CFKozopkin (1950) G.V.Lêbêdep (1954,1957) N.X.Petinop bằng nghiên cứu của mình đã cho thấy: Vùng cận nhiệt đới chỉ có thế trồng chè khi tưới nước đều đặn, các tác giả cho rằng: Tưới nước cho chè làm tăng thời gian thu hoạch búp, làm tăng chất lượng chè nguyên liệu [13]
M.K.Daraselia (1989) tủ chè, tưới nước làm thay đổi điều kiện quang hợp, thay đổi hoạt tính các men trong rễ chè, kể cả polifenol-oxydaza là mên cáo mặt trong việc tạo tanin của chè (Lê Tất Khương, 1997) [13]
2.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật tủ rác, tưới nước cho chè ở Việt Nam
Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Thị Ngọc Bình
và các cộng tác viên (Viện nghiên cứu chè) thực hiện đề tài “ Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật canh tác để sản xuất chè an toàn chất lượng cao” (2004) đã trích dẫn một số kết quả nghiên cứu sau:
Đỗ Ngọc Qũy Trại thí nghiệm chè Phú Hộ và Nguyễn Hanh Thông
Pḥòng Nông hóa Thổ nhưỡng Viện Trồng Trọt Bộ Nông nghiệp (1960-1961), Nghiên cứu chế độ ẩm và nhiệt độ đất chè , tưới chè Trung du 2-3 tuổỉ tại gọ̀ Rọc, trên đất feralit phiến thạch vàng đỏ Vẽ được đồ thị diễn biến nhiệt độ và
độ ẩm đất chè 0-300cm; năng suất chè có tưới so với đối chứng không tưới là 138% (Đỗ Ngọc Quỹ - 2003) [ 27]
Nguyễn Phong Thái, Ngô Minh Tú , Trại thí nghiệm chè Phú hộ (1969- 1970), tưới chè Trung Du gieo hạt trên đất feralit phiến thạch vàng đỏ tại gọ̀ Lim, Phú Hộ cho chè non 1, 6, 9 tuổi; Thời vụ tưới quanh năm, vụ xuân, vụ đông; Và tưới định kỳ 5, 10, 15 ngày Kết quả đạt năng suất 105, 113,7, 115,5% so với đối chứng không tưới: Thời vụ tưới tốt nhất là vụ Đông 115%
so với đối chứng; Tưới đinh kỳ hiệu quả cao nhất là khoảng cách 15 ngày giữa 2 lần tưới
Trang 24Nguyễn Hữu Phiệt (1966-1967) đă kết luận tác dụng và kỹ thuật của tủ chè kinh doanh trên đất phiến thạch và phù sa cổ tại Nông trường Quốc doanh Tân Trào và Trường Trung cấp Nông Lâm Tuyên Quang Kết quả cho thấy:
Độ ẩm chè tầng 0- 30cm có tủ tăng hơn so đối chứng là 4,57-5,56 % ở đất Diệp Thạch và 6,50 % ở đất phù sa cổ; Nhiệt độ đất chè có tủ tầng đất mặt 10
cm và tầng đất 30cm thấp và ổn định Hàm lượng mùn và đạm dễ tiêu đất chè
có tủ sau 5 tháng đều tăng hơn so đối chứng; Chè con có tủ có tốc độ sinh trưởng gấp 2 lần so đối chứng; Nông trường Quốc doanh Tân Trào có tủ chè góp phần tăng sản lượng chè Trung Du trên 15 tấn búp/ha
Nguyễn Thị Dần-Viện Nông hóa Thổ nhưỡng, Võ Thị Tố Nga - Trại thí nghiệm chè Phú Hộ (1974- 1977) Biện pháp chống hạn cho chè vụ đông (tháng 11- tháng 4) bằng tủ ni lông toàn bộ hàng sông, để cỏ mọc tự nhiên , trồng cỏ Stilo giữa hàng sông , giống chè Trung Du gieo hạt 14 tuổi trên đất Feralit phiến thạch vàng đỏ Gọ̀ Trại cũ Kết quả cho thấy có tủ, độ ẩm đất chè
vụ đông xuân và sản lượng chè có tủ đều tăng, trồng mục túc và để cỏ tự nhiên, sản lượng đều giảm so với đối chứng, (Đỗ Ngọc Quỹ - 2003) [27]
Từ năm 1968-1970 HTX chè Tiên Phú được Ty Thủy lợi Vĩnh Phú chỉ đạo đă dùng bơm dầu hút nước chân đồi tưới chè kinh doanh nhưng không hiệu quả, vì hạch toán giá bán búp thấp theo chè chính vụ, giá xăng dầu cao, lại hay hỏng hóc
Những năm 1970, các Nông trường Quốc doanh Mộc Châu , Sông Cầu
và Chí Linh tủ cỏ tế cho chè kinh doanh có tác dụng rất tốt , chống được xói ṃòn, cỏ dại, tăng được chất mùn cho đất và tăng được sản lượng búp ở Mộc Châu đạt 146,6% so với đối chứng không tủ Tại các Nông trường Quốc doanh Sông Lô, Phú Sơn, Sông Cầu đă đầu tư dàn tưới phun mưa Tiệp Khắc, nhưng giá xăng dầu cao, bảo vệ đường ống khó khăn, giá bán búp chè cố định theo giá giữa vụ nên hiệu quả thấp không tồn tại
Trang 25Lê Tất Khương (1997) - ĐH Nông Lâm Thái Nguyên Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng chè vụ Đông xuân ở Bắc Thái Kết quả cho thấy: Sản lượng chè có tủ, tưới nước và tủ + tưới nước của 3 tháng 10,
11, 12 tăng tương ứng từ 17- 110% Tỷ trọng vụ chè Đông xuân so cả năm, của đối chứng đốn ngày 25/12 không tưới tủ là 22,9%, có tưới tủ là 32,2%; đốn ngày 25/2 có tưới là 37,0%, đốn 25/4 có tưới là 56,7% Đốn chè vào tháng 4 năm sau
có tưới + tủ, sản lượng chè Đông - xuân thu trong 3 tháng 10, 11, 12 cao nhất đạt 2.271 kg/ha so với đối chứng là 210,7% Hiệu quả kinh tế lớn nhất v́ì bán trước tết với giá cao, nên lãi lớn, (Đỗ Ngọc Quỹ - 2003) [27]
Kết quả nghiên cứu của PGS.TS Lê Tất Khương (1997) cho thấy: Các công thức được tủ và giứ ẩm, tưới nước hoặc kết hợp giữa tủ và tưới nước đã tăng tỉ lệ búp có tôm từ 3,7 -18,7% và tăng tỷ lệ chè loại A, B lên từ 5,0 - 17,3%, tăng hàm lượng tanin từ 0,7 - 2,1% và làm tăng hàm lượng chất hòa tan từ 1,0 - 1,5%, (Đỗ Ngọc Quỹ - Lê Tất Khương, 2000) [26]
Bộ môn Canh tác (Viện Nghiên cứu chè) 1999 - Điều tra khảo nghiệm tưới nước chè kinh doanh ở vùng đồi núi Miền Bắc Việt Nam cho nhận xét
Tưới phun mưa là tốt nhất ; có hai phương pháp tưới phun ṿòi rồng và tưới phun mưa bán di động, với mức đầu tư 15-30 triệu đồng/ha
Kết quả khảo nghiệm ở Long Phú và điều tra khảo sát tại một số điểm đă tưới chè, có thể áp dụng kỹ thuật tưới: vụ hè thu (T4-T11) tưới 10-15 ngày/ lần (c̣òn phụ thuộc lượng nước mưa, việc thực hiện tưới còn phải xác định nguồn nước và quy mô diện tích tưới chè chọn ṿòi phun, đường kính ống và công suất bơm)
Từ những thí nghiệm và thực nghiệm sản xuất cho kết luận:
- Tủ chè có tác dụng tốt giữ ẩm , giảm nhiệt độ đất vườn chè , chống xói ṃòn và tăng năng suất chè , với nguyên liệu tủ như cây cỏ dại, rác hữu cơ, phế liệu thực vật
Trang 26- Nghiên cứu lắp đặt hệ thống thiết bị tưới (ṿòi cầm tay , phun mưa); kỹ thuật tưới như thời vụ, liều lượng, số lần, cho các vùng sinh thái khác nhau; xây dựng những chỉ tiêu quan trắc độ ẩm đất, chuẩn đoán sinh lư lá cây chè;
từ đó xây dựng những chỉ tiêu cảm quan cho người sản xuất dễ dàng ứng dụng được tại ruộng đồng
2.2.3 Một số nghiên cứu về đất dốc ở nước ngoài
“Sử dụng, quản lý đất dốc Châu Á” là tên gọi một mạng lưới của Tổ chức
quốc tế về nghiên cứu và quản lý đất dốc (IBSRAM) (Sajjpongse A., 1973) [64]
Tổ chức này đã thực hiện nghiên cứu, quản lý đất dốc để phát triển nông nghiệp ở 7 nước Châu Á: Indonesia, Malaisia, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Thực trạng chung của các nước này là canh tác trên đất dốc không hợp lý làm cho đất bị xói mòn rửa trôi dẫn đến thoái hoá
Các nghiên cứu được tiến hành với một số biện pháp kỹ thuật như:
- Trồng cây theo đường đồng mức với các băng cây rộng 4 - 5 m, và được phân cách bởi các cây chắn là những cây bụi hoặc cây phân xanh họ đậu;
- Băng cỏ rộng 1m theo đường đồng mức với khoảng cách 4 - 6m một băng;
- Đào mương để ngăn dòng chảy, giữ đất, nướctheo đường đồng mức;
- Đào các hố chứa nước nhỏ trên sườn dốc để giữ nước cho thấm dần xuống dưới nhằm giảm tốc độ dòng chảy và giữ ẩm đất;
- Nông lâm kết hợp, phối hợp giữa cây lâu năm, cây ăn quả và cây hoa màu hàng năm
Kết quả nghiên cứu bước đầu của IBSRAM cho thấy, canh tác trên đất dốc phải có mô hình cây trồng và kỹ thuật phù hợp để vừa thu được năng suất cao vừa bảo vệ được đất dốc, bảo về môi trường Một yếu tố quan trọng mà
Trang 27các nghiên cứu trong hệ thống này đề cập là các biện pháp kỹ thuật muốn được nông dân áp dụng phải là biện pháp có hiệu quả kinh tế cao, Tuy nhiên với các hộ dân nghèo thì cần phải xem xét mức đầu tư tiền mặt cho phù hợp
Theo công trình nghiên cứu về hệ thống canh tác trên đất dốc của Intosh J.L.Mc (1980) [40], ở Indonesia và nhiều nơi khác, những vùng đất nông nghiệp rộng lớn chỉ thích hợp cho hoa màu cạn, tài nguyên đất dốc chưa được sử dụng đúng mức và trong nhiều trường hợp còn bị lãng phí Ở Indonesia có khoảng 15 - 20 triệu ha đất dốc địa hình lượn sóng nhẹ có thể trồng hoa màu nhưng chưa được khai thác sử dụng có hiệu quả Tác giả cũng
đã chỉ ra những nhân tố kiềm chế sự phát triiển sản xuất hoa màu trên đất dốc Đất dốc Đông Nam Á khác nhau rất nhiều về địa hình, độ phì tự nhiên, tính chất lý, hoá và sinh học Sự mất độ phì nhanh chóng là biểu hiện rõ nhất, thường đất khai hoang đưa vào sản xuất sau 2 - 3 năm thì mất độ phì vốn có
và khả năng sản xuất Nguyên nhân là sau khi thảm thực vật bị phá bỏ, đất được cày bừa xới xáo, chất hữu cơ bị oxy hoá nhanh và quá trình rửa trôi xảy
ra mạnh Trên đất dốc, đất có thành phần sét cao giữ được độ phì tốt hơn đất cát Do đó trong quá trình canh tác việc bảo vệ độ phì và cải thiên độ phì bằng cách dùng phân chuồng, phân xanh và đặc biệt là sử dụng cây họ đậu để cải thiên tính chất đất là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất cây trồng
Tác giả Bell L.C và Ewards D.G (1986) [36], nghiên cứu sử dụng phân xanh, phân chuồng và các loại phân hữu cơ hoặc chế, phụ phẩm nông nghiệp
đã làm tăng lân dễ tiêu cho cây dễ hấp thụ, đồng thời làm giảm độ độc nhôm
và sắt Trong dung dịch đất, các axít hữu cơ tạo phức với kim loại AL, Fe Chúng tồn tại ở dạng phức hữu cơ - nhôm, hữu cơ - sắt trong dung dịch đất không độc đối với cây trồng
Trang 28Ở các nước như Ấn Độ tác giả Meane L.M (1996) [41], đã thử nghiệm về bón phân tổng hợp và các chất hữu cơ trên vùng nhiệt đới của Ấn Độ, năng suất cây trồng tăng tối đa và đạt độ ổn định cao Còn ở Philippines theo Garrity D.P
và ctv (1993) [39], cây ngô được trông nhiều trên đất đồi chua ở Bukidnon, năng suất đật cao nhất khi bón phân compost với lượng 0,5 tấn/ha Bón compost giảm
Al di động, tăng P dễ tiêu, tăng K, Ca, và Mg trao đổi trong đất
Hầu hết nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về hệ thống nông nghiệp trên đất dốc đều hướng vào đánh giá lợi ích kinh tế của mô hình cây trồng mang lại, kết hợp với đánh giá lợi ích về môi trường do hệ thống cây trồng đó có tác động như: Chống xói mòn, bảo vệ và cải thiện độ phì đất, bảo
về và duy trì nguồn nước, lợi dụng tối đa điều kiện tự nhiên như ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa
Tóm lại, qua những công trình nghiên cứu về đất dốc và biện pháp canh tác trên đất dốc của các tác giả trong và ngoài đã chỉ ra rằng:
Đất dốc là hệ sinh thái rất đa dạng về thành phần các loài và các yếu tố địa hình, khí hậu, tài nguyên vv Nhưng cũng rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương - Đất dốc hàm chứa nhiều tiềm năng phát triển, là nơi cư trú ngày càng đông của con người và là nguồn đất sản xuất chính trong tương lai Song lại chứa đựng rất nhiều khó khăn và bất cập Canh tác trên đất dốc không hợp
lý dẫn đến môi trường sống bị suy thoái với sự gia tăng của thiên tai như hạn hán và lũ lụt kéo dài, đất đai bị nghèo kiệt, năng suất cây trồng giảm làm cho đời sống của người dân càng gặp nhiều khó khăn
Muốn giải quyết những vấn đề miền núi thì về đất dốc cần được quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc nhiều hơn nữa nhằm sử dụng hiệu quả những tiềm năng của vùng cao để tăng và ổn định năng suất cây trồng Cần có một cái nhìn khác
và đổi mới về quan niệm sử dụng và quản lý đất dốc đặc biệt là chống thoái hoá đất, tăng độ phì và dung tích hấp thu bằng các biện pháp sinh học Sử dụng các
Trang 29loại vật liệu che phủ đất khác nhau từ xác hữu cơ, không đốt tàn dư cây trồng mà giữ lại toàn bộ làm vật liệu che phủ, duy trì vật liệu che phủ cho đất liên tục và gieo trồng không thông qua làm đất Các giải pháp duy trì và bảo vệ độ phì của đất phải đa dạng và mang tính hệ thống, phải kết hợp đồng bộ để phát triển giữa trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp trên vùng đất dốc Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật kết hợp với kiến tức bản địa áp dụng vào cuộc sống
2.2.4 Đất dốc ở Việt Nam và biện pháp canh tác
Diện tích đất dốc ở nước ta là 25,265 triệu ha chiếm 76,6% diện tích đất tự nhiên Trong đó đất có độ dốc dưới 15o
(chiếm 21,9%) đã được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp, diện tích đất có độ dốc từ
15o đến 25o chiếm khoảng 16,4%, còn lại là đất có độ dốc trên 25o (chiếm 61,7%) (Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ, Hà Đình Tuấn, 2003) [4]
Theo Lê Thái Bạt (1996) [2], đất nông nghiệp vùng Tây Bắc có nhiều hạn chế và sử dụng chưa hiệu quả, cây hàng năm chiếm đến 67,4% trong cơ cấu cây trồng nên lượng đất bị xói mòn, rủa trôi rất lớn Theo các nhà thổ nhưỡng, hàng năm trên đất rẫy trồng lúa, ngô lượng đất mất đi từ 119 - 276 tấn/ha; nếu tính cứ 1 tấn đất bị trôi mất đi 1,2 - 2,1 kg đạm, 1 - 1,5 kg lân (P2O5), 15 - 35 kg kali (K2O), và 75 kg mùn thì trên 1 ha bị trôi 100 tấn đất trong một năm thực tế mất đi 120 - 216 kg đạm tương đương 300 - 500 kg dậm urê, 100 - 150 kg lân tương đương 600 - 1000 kg lân supe, 1500 - 3000
kg kali tương đương 5 - 11 tấn kali sun phát, 7500 kg mùn tương đương 50 tấn phân chuồng; đồng thời trị số pHKCL bình quân trong 5 năm giảm 1 đơn vị (Tủ sách kiến thức gia đình, 2004) [32]
Thói quen làm nương rẫy cùng việc canh tác trên đất có độ dốc từ 15o
đến trên 25o nên xói mòn rửa trôi đất đã xảy ra mạnh và là yếu tố chủ yếu làm giảm độ phì đất dẫn đến thoái hoá đất Theo kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Bùi Quang Toản (1991) [33] trên đất nương rẫy Tây Bắc cho thấy
Trang 30tầng đất mặt bị bào mòn đi hàng năm từ 1,5 - 3 cm, tương đương với lượng đất mất đi mỗi ha đất 200 - 300 tấn, canh tác theo kiểu đốt lương làm rẫy hàm lượng mùn bị giảm đi đáng kể, giảm lượng lân đễ tiêu, giảm lượng kiềm trao đổi, tăng độ chua và các chất độc gây hại cho cây trồng Canh tác trên đất dốc
có nhiều hạn chế mà hầu hết những hạn chế này là kết quả của quá trình canh tác bất hợp lý Ở nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra 3 hạn chế lớn là:
- Xói mòn, rửa trôi;
- Cỏ dại;
- Khô hạn đất
Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1992) [18] cũng chỉ ra 9 hạn chế của vùng đất dốc là:
- Xói mòn rửa trôi
- Thiếu nước, khô hạn
- Địa hình không đồng đều
- Phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội bên ngoài
- Tập quán canh tác thô sơ, đầu tư thấp
- Thiếu vốn để kinh doanh các loại cây có hiệu quả cao nhưng dài ngày
- Tiếp cận tiến bộ khoa học khó khăn
- Có những quan điểm sai lệch về canh tác trên đất dốc
- Cơ sở hạ tầng yếu kém
Các nghiên cứu khác trên đất dốc như: Đoàn Triệu Nhạn, Nguyễn Tri Chiêu, (1973) [16], Lương Đức Loan, Nguyễn Tử Siêm, (1979) [15], cũng chỉ ra: Quá trình chua hoá là kết quả của xói mòn, rửa trôi Do mất kiềm, kiềm thổ
mà pH đất giảm xuống nhanh chóng, đất càng dốc quá trình chua hoá diễn ra càng nhanh
Trang 31Quá trình hấp thu và giữ chặt lân trong đất nhiệt đới cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Vùng đất đồi chua giả phóng ra một lượng sắt, nhôm di động lớn, các chất này có khả năng giữ chặt lân thông qua nhóm hydroxyl, khi chất hữu cơ bị mất, lân bị giữ chặt tăng vọt từ vài trăm đến
1000 ppm (Thái Phiên, Nghiêm Tử Siêm, 1998) [24] Cũng theo Nguyễn Vi, Trần Khải, (1978) [35], pH thấp là nguyên nhân gây nên khả năng hấp thu và khả năng giữ chặt lân
Tóm lại, vùng đất dốc Việt Nam rất đa dạng, giàu tiềm năng, là nơi cư trú của nhiều triệu người nhưng vẫn đang chứa đựng nhiều khó khăn và bất cập Muốn giải quyết những vấn đề miền núi cần phải có những giải pháp vĩ
mô đồng bộ và mang tính hệ thống cao: đưa tiến bộ khoa học áp dụng vào đời sống nhưng phải biết kết hợp khoa học với kiến thức bản địa
* Một số giải pháp canh tác bến vững trên đất dốc
Để chống tình trạng thoái hoá đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất cần thực hiện một số giải pháp sau:
Về chính sách, pháp luật: Bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện hơn nữa các
chính sách và pháp luật về quyền sở hữu, sử dụng và quản lí nhà nước về đất đai Xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống thông tin về tài nguyên đất; Quy hoạch và quản lí sử dụng tài nguyên đất đối với tất cả các đối tượng
sử dụng đất; Tiếp tục xây dựng và ban hành các chính sách, các quy định về quản lí đất dốc; Cần lồng ghép có hiệu quả các chính sách quốc gia với các
kế hoạch hành động quốc tế về việc chống thoái hoá và sử dụng đất bền vững; Phổ biến, nâng cao nhận thức của người dân về Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai… để mọi người tự giác thực hiện bảo vệ đất
Trang 32Về kinh tế: Cần quy hoạch, sắp xếp lại dân cư giữa các vùng, miền
nhằm giảm áp lực của dân số đối với tài nguyên đất Hạn chế tình trạng di cư
tự do, chặt đốt phá rừng; Có những giải pháp hợp lý nhằm bảo đảm an ninh lương thực ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, định canh định cư, bảo vệ và phát triển rừng, chống xói mòn đất; Nghiên cứu và áp dụng công nghệ sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp liên hoàn ở các vùng sinh thái khác nhau nhằm bảo đảm hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường;
Có chế tài xử phạt kinh tế nghiêm minh những đối tượng gây thoái hoá đất
Về kỹ thuật: Thực hiện quản lí lưu vực để bảo vệ đất và nước, phát triển
thuỷ lợi, giữ cân bằng sinh thái và điều hoà các tác động qua lại giữa đồng bằng và miền núi; áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp (nông học, sinh học, hoá học, cơ học…) và đầu tư thâm canh sử dụng đất theo chiều sâu; Tái tạo lớp phủ thực vật bằng cây rừng hoặc tổ hợp nông - lâm kết hợp để bảo vệ
độ phì nhiêu của đất và sử dụng bền vững đất dốc; Thực hiện tuần hoàn hữu cơ trong đất Trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế, thương mại cao nhưng ít phải xới xáo đất và thực hiện các hệ thống nông-lâm và chăn nuôi gia súc kết hợp ở vùng đất dốc
Đối với miền núi thì việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc là hữu ích và thiết thực để chống xói mòn, hạn chế thoái hoá đất Canh tác bền vững trên đất dốc cần thực hiện các biện pháp để làm giảm tối
đa tác hại của mưa và dòng chảy do mưa tạo ra, đồng thời làm tăng độ phì nhiêu cho đất Có nhiều biện pháp như: làm ruộng bậc thang, xếp bờ đá, bón phân hữu cơ, trồng băng cây xanh… Nhưng biện pháp quan trọng nhất và bền vững nhất đem lại hiệu quả kinh tế nhất là chọn và bố trí cơ cấu cây trồng hợp
lý trên đất dốc
Trang 33Trồng cây lâm nghiệp: Trồng cây lâm nghiệp trên đỉnh đồi, theo hàng
quanh đường đồng mức, nơi đất tốt trồng cây đặc sản như: quế, hồi, tre hay trám, lát, giổi…, nơi đất xấu trồng cây cải tạo đất như các loại cây keo, kết hợp trồng xen cây nông nghiệp khi rừng chưa khép tán
Trồng cây băng xanh: Tạo các băng xanh trồng các cây họ đậu, cốt khí
có tác dụng chống xói mòn đất, tăng độ phì cho đất, cung cấp phân xanh, thức
ăn cho gia súc Các băng xanh được bố trí giáp phần trồng cây lâm nghiệp trở xuống, khoảng giữa các băng từ 5-10m, mỗi băng rộng 1m, đất trong băng được cuốc xới rồi gieo hạt với mật độ dày
Trồng cây nông nghiệp: Trên khoảng đất trống giữa các băng cây xanh
trồng các cây lương thực (ngô, khoai, sắn, đỗ, đậu, lạc vừng ) hoặc trồng cây công nghiệp (chè, cây ăn quả…), mỗi băng nên trồng một loại cây, hàng năm luân canh các loại cây giữa các băng để phòng trừ sâu bệnh và bồi dưỡng đất Mùa khô cắt các cây ở băng xanh phủ vào gốc cây nông nghiệp để giữ ẩm, làm giàu đất, vừa che phủ mặt đất chống xói mòn
Trồng cây ăn quả dưới chân đồi: Chọn cây ăn quả phù hợp với điều
kiện khí hậu, đất ở từng địa phương, trồng cây ăn quả phải đầu tư phân bón (tốt nhất là phân hữu cơ), chăm sóc tốt mới cho hiệu quả kinh tế cao
Cùng với các giải pháp trên cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên đất; đào tạo và huấn luyện để nâng cao kiến thức của người dân về công nghệ, kỹ thuật sử dụng và quản lí đất; Tổ chức tuyên truyền và phát động phong trào quần chúng áp dụng các mô hình hiệu quả sử dụng bền vững tài nguyên đất
Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về đất dốc, đã đưa ra những giải pháp cho canh tác bền vững trên đất dốc đó là:
Trang 34Theo Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1992) [21], phát triển hệ thống cây trồng trên đất dốc phải gắn liền với sự giữ gìn và quản lý đất, nước, dinh dưỡng, công tác quản lý này không chỉ ảnh hưởng đến sản lượng cây trồng
mà còn ảnh hưởng đến nguồn nước, môi trường sống của con người một cách lâu dài Để canh tác trên đất dốc cần có những biện pháp ký thuật thích hợp kèm theo hạn chế xói mòn rửa trôi, giữ ẩm, hạn chế cỏ dại cho cây trồng
Biện pháp chống xói mòn hữu hiệu và rẻ tiền nhất là trồng cây phân xanh họ đậu, vừa cải tạo đất vừa lấy thân lá làm vật liệu che phủ Cây phân xanh có thể trồng gối hoặc trồng theo băng, trồng theo ranh giới nương… trường hợp trồng xen mặc dù cây họ đậu chiiếm 10% diện tích nhưng tổng sản lượng cây trồng chính các năm sau tăng dần và ổn định hơn so với đối chứng không trồng (Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Trần Đức Toàn (1997) [23]
Bùi Quang Toản (1991) [33], đã đưa ra giải pháp cơ bản để sử dụng tốt đất đồi dốc là phải có những hệ thống cây trồng và và kỹ thuật canh tác phù hợp Các hệ thống canh tác miền núi rất đa dạng và mang tính bản địa Các hệ thống cổ truyền đơn giản nhưng không đảm bảo phát triển, các hệ thống chuyển tiếp tiến bộ hơn nhưng không ổn định và có xu hướng dễ bị phá vỡ để trở về hệ thống cổ truyền, các hệ thống hiện đại mang tính chất sản xuất hàng hoá và yêu cầu đầu tư cao kể cả vốn và kỹ thuật cũng theo tác giả dù hệ thống nào cũng đạt yêu cầu về độ che phủ tối đa, nhiều tầng và che phủ liên tục quanh năm, đồng thời cây trồng có bộ rễ khoẻ nhiều tầng thì sẽ là hệ thống tối ưu nhất và bền nhất
Theo Nguyễn Đậu (1991) [8], cho rằng hiệu quả của một số mô hình canh tác trên đất dốc ở vùng trung du miền núi phía Bắc: ở công thức trồng băng phân xanh lâu năm theo đường đồng mức, để cắt dòng chảy, chống xói mòn và lấy thân lá làm vật liệu che phủ; kết hợp trồng xen và sử dụng phân hoá học đã cho hiệu quả cao hơn so với đối chứng là: mức độ che phủ đạt
Trang 3585,6% còn đối chứng chỉ đạt 11,7% (tăng 7,3 lần) Xói mòn đất giảm 4,5 lần, lượng chất xanh thu được để làm phân đạt 8,24 tấn/ha Sau 3 năm nghiên cứu
ở công thức thí nghiệm đã làm tăng hàm lương hữu cơ (OM), tăng dung tích hấp thu của keo đất, tăng độ pH lên 0,5 đơn vị và giảm ion AL3+, giảm dung trọng đất, tăng độ xốp đất so với đối chứng Hiêu quả kinh tế của công thức thí nghiệm rất lớn: Lãi thần tăng 19 lần so với đối chứng
Trồng cây che phủ bằng cây họ đậu không chỉ có vai trò chống xói mòn đất dốc, mà còn có tác dụng tốt trong cải thiện cấu trúc và lý tính đất Đất được che phủ luôn luôn ẩm, ngoài ra nguồn hữu cơ từ cây che phủ khi phân huỷ làm tăng độ mùn, tăng hoạt động của hệ sinh vật và vi sinh vật trong đất Một mặt đất sẽ tơi xốp hơn nên dung tích hấp thu lớn, mặt khác độ phì của đất cũng được cải thiện nhanh (Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne, 2005) [5]
Nhiều tác giả cho rằng: vấn đề trước hết trong canh tác đất dốc là mặt đất phải luôn được che phủ, lượng phủ đủ dày bằng các loại vật liệu sống hoặc đã chết (Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne, 2005) [5], kết hợp luân canh và xen canh trong sản xuất sẽ góp phần ổn định độ phì của đất (Nguyễn Hữu Tề, Phạm Chí Thành, Đoàn Văn Điếm, 1994 [30], đồng thời làm hạn chế sự phát triển của sâu bệnh hại, hạn chế cỏ dại và tăng ổn định năng suất cây trồng
3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam
3.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
3.2.1.1 Tình hình sản xuất
Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (trên 4000 năm) Lúc đầu chè chủ yếu được dùng làm dược liệu, sát trùng, rửa các vết thương Ngày nay chè là thứ nước uống phổ biến và chủ yếu với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo
Trang 36Trong vài thập kỷ gần đây, sản lượng chè ở các nước tăng cao Sản lượng đạt trên 200 nghìn tấn gồm 4 nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Srilanka Sản lượng đạt trên 100 nghìn tấn gồm 2 nước: Indonesia và Thổ Nhĩ
Kỳ Trên 20 nghìn tấn có 9 nước, trong đó có Việt Nam [6]
Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ được thể hiện ở bảng 2.1:
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè thế giới qua các thời kỳ
(1000ha)
Năng suất (tạ khô/ha)
Sản lƣợng (1000 tấn)
(Theo số liệu của FAO, 2005)
Qua số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới 50 năm qua cho thấy:
- Diện tích chè thế giới tăng mạnh trong 30 năm từ năm 1954-1984, trong 20 năm trở lại đây diện tích chè có chiều hướng tăng chậm lại khoảng 1% trong vòng 10 năm Theo thống kê năm 2005, diện tích chè thế giới tương đối cao, trong đó diện tích chè Châu Á chếm 86,7%, Châu Phi
là 8,05%
- Năng suất chè thế giới tăng nhanh qua các năm, từ 8,97 tạ khô/ha (năm 1954) đến 12,99 tạ khô/ha (năm 2004)
Trang 37Sản lượng chè tăng nhanh qua các thập kỷ, năm 2004 đạt 319,69 vạn tấn, với nhịp độ tăng sau mỗi thập kỷ từ 13,4% - 49,7%, tăng mạnh nhất vào giai đoạn từ năm 1964-1984
Dưới đây là sản lượng chè thế giới qua các năm thể hiện qua bảng 2.2
Bảng 2.2: Sản lƣợng chè thế giới qua các năm
(Nguồn theo thống kê của FAO, tháng 5/2008)
Mặc dù có tới 58 quốc gia trồng chè trên thế giới với quy mô khác nhau, phân bố khắp 5 châu: Châu Á (20 nước), Châu Phi (21 nước), Châu Mỹ (12 nước), Châu Đại Dương (3 nước), Châu Âu (Liên Xô (cũ) và Bồ Đào Nha) Tuy nhiên sản xuất chè của thế giới chỉ tập trung ở một số nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Srilanka, Nhật Bản…[12]
Trang 38Dưới đây là diện tích, sản lượng một số nước trồng chè chính năm
Sản lƣợng khô (1000 tấn)
(Nguồn theo thống kê của FAO năm 2005)
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về diện tích đạt 943,100 nghìn ha, chiếm 37,96% diện tích chè thế giới, tuy nhiên năng suất chè Trung Quốc không cao, chỉ đạt 8,7 tạ khô/ha, cho nên sản lượng chè Trung Quốc chỉ đứng thứ 2 trên thế giới (sau Ấn Độ) đạt 821 nghìn tấn, chiếm 25,68% sản lượng chè thế giới
Ấn Độ có diện tích chè đứng thứ 2 thế giới, nhưng có năng suất chè khá cao (18,98 tạ khô/ha), nên sản lượng chè Ấn Độ cao nhất thế giới đạt 845 nghìn tấn, chiếm 26,43% sản lượng chè toàn thế giới
Kenya đứng thứ 4 về diện tích chè đạt 140 nghìn ha, nhưng là nước có năng suất chè cao nhất (20,71 tạ khô/ha), đạt sản lượng 290 nghìn tấn, chiếm 9,07% sản lượng chè toàn thế giới
Trang 393.2.1.2 Tình hình tiêu thụ
Đã hàng ngàn năm nay, người Châu Âu và Châu Mỹ hài lòng với những chén trà đen trong buổi sáng tinh sương hay sau bữa cơm gia đình ấm cúng Còn ở châu Á và một số quốc gia khác ở Trung Đông, chè xanh lại trở thành thứ nước uống truyền thống
Nhiều chuyên gia dự đoán chè sẽ thay thế cà phê và ca cao cho vị trí
“đồ uống vua” của thế kỷ 21 Để đưa ra dự đoán này, họ đã dựa vào những nghiên cứu cho rằng chè tốt hơn cà phê hay ca cao trong việc bảo vệ sức khỏe Ding Junzhi, chủ tịch danh dự của Viện nghiên cứu chè Quốc tế và là giáo sư Đại học Nông nghiệp Nam Hoa, cho biết: chè không chứa muối, chất béo và có tác dụng giải nhiệt Theo ông Ding, việc uống chè phù hợp với cách sống của người hiện đại, những người quan tâm hơn tới sức khỏe của chính mình [37]
Khoảng 50 năm trở lại đây, lượng tiêu dùng chè và sản lượng chè trên thế giới tăng trưởng nhanh Nguyên nhân tăng trưởng lượng tiêu dùng một là
do nhân khẩu tăng, hai là do mức tiêu dùng bình quân đầu người tăng
Năm 2000 tiêu thụ chè thế giới là 2,214 nghìn tấn dự báo đến năm 2010
sẽ tăng lên 2413 nghìn tấn Tốc độ tiêu thụ giai đoạn 1999 - 2000 là 2,2%, dự báo giai đoạn 2000-2010 sẽ là 0,8% [10]
Mức tiêu thụ bình quân (kg/người) trên toàn thế giới tăng từ 0,19kg (năm 1900) lên 0,51kg (năm 1990) Đến năm 2003, mức tiêu dùng bình quân trên thế giới là 0,56g/đầu người Mức tiêu thụ cao có các nước như: Anh (6,5 kg/người/năm), Ailen (4 kg/người/năm), Hồng Kông, Iran, Mỹ…[10]
Nhu cầu sử dụng chè của một số nước qua các năm được thể hiện qua bảng 2.4
Trang 40Bảng 2.4: Nhu cầu sử dụng chè của một số nước trên thế giới
năm 2000 - 2005 và dự báo năm 2010
(Nguồn: Tạp chí Thế giới chè tháng 4 năm 2005)
Qua bảng 2.4 cho ta thấy: hai nước có diện tích và sản lượng chè lớn nhất là Trung Quốc và Ấn Độ, cũng là hai nước có khả năng tiêu thụ chè lớn nhất thế giới Còn lại các nước như: Anh, Pháp, Mỹ… sẽ là thị trường tiềm năng cho các nước xuất khẩu chè
Có 10 nước có mức tiêu thụ trên 5 vạn tấn chia thành 4 loại:
- Các nước thuần nhập khẩu để tiêu dùng như: Anh, Pakistan, Mỹ,
Ai Cập…
- Các nước ngoài phần tự sản xuất để tiêu dùng còn nhập khẩu nhiều như: Nga, Nhật Bản, Iran,…
- Các nước sản xuất chủ yếu để dùng: Thổ Nhĩ Kỳ
- Các nước sản xuất chủ yếu để tiêu dùng, còn một phần cho xuất khẩu như: Trung Quốc, Ấn Độ
Ngày nay, tỷ lệ chè đen trong tổng sản lượng chè thế giới đang tăng lên (khoảng 80%) tập trung ở các thị trường Châu Âu, Châu Mỹ và Trung Đông, với các chủng loại đa dạng như: chè rời, cao chè, chè túi lọc… Về sản xuất chè xanh, Trung Quốc là nước đứng đầu chiếm khoảng 63% tổng sản lượng chè xanh thế giới