Đóng góp mới của luận văn - Bước đầu đã xác định được tính đa dạng ở mức độ ngành, chi, họ, loài, thành phần dạng sống , tài nguyên cây có ích, các nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
NGUYỄN HỮU QUYỀN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TRONG MỘT
SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT TỰ NHIÊN Ở XÃ KÝ PHÖ, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN LÀM CƠ SỞ
CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN – 2011
Trang 2- -
NGUYỄN HỮU QUYỀN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TRONG MỘT
SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT TỰ NHIÊN Ở XÃ KÝ PHÚ, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN LÀM CƠ SỞ
CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN
CHUYÊN NGÀNH: SINH THÁI HỌC
MÃ SỐ: 60.42.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ NGỌC CÔNG
THÁI NGUYÊN – 2011
Trang 3người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để em có thể hoàn thành luận văn này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo Khoa KTNN trường Đại học Sư phạm, khoa Sau Đại học - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Sinh-Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND xã Ký Phú, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên, phòng Thống kê huyện Đại Từ!
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến trường THPT Lưu Nhân Chú- Đại Từ và Trường PT Vùng Cao Việt Bắc – tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học Cao học!
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua!
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về mặt thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn bè, đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 9 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Hữu Quyền
Luận văn đã được chỉnh sửa theo góp ý của hội đồng bảo vệ luận văn ngày 24/09/ năm 2011 tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Trưởng khoa Sinh – KTNN
PGS TS Lê Ngọc Công
Trang 4tính đa dạng thực vật trong một số trạng thái thảm thực vật tự nhiên
ở xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở cho công tác bảo tồn ” là hoàn toàn của tôi
Trang 5Viết tắt Viết đầy đủ
Nature and Natural Resources - Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế
Trang 6Bảng 4.1: Số lượng và tỷ lệ (%) sự phân các taxon thực vật ở KVNC ………… 38
Bảng 4.2: Số lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm thực vật
KVNC ……… 41
Hình 4.3 Biểu đồ : Thành phần dạng sống trong khu vực nghiên cứu………… 66 Hình 4.4 Biểu đồ : Thành phần dạng sống trong các trạng thái thảm thực vật… 67
Trang 71 Đặt vấn đề……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu……… ……….2
3 Phạm vi nghiên cứu……… ……… 3
4 Đóng góp mới của luận văn……… ……… 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… ……… 4
1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật……… … 4
1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật……… ………… 7
1.2 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc… …9
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài……… ………9
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống……….……… 14
1.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng……….………… 17
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng… 20
1.4 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ở Thái Nguyên và khu vực nghiên cứu……….….22
Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU… ….24
2.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu……… ………24
2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới 24
2.1.2 Địa hình 24
2.1.3 Đất đai 25
2.1.4 Khí hậu, thủy văn 25
2.1.5 Tài nguyên khoáng sản 27
2.1.6 Tài nguyên rừng 28
2.2 Điều kiện xã hội vùng nghiên cứu……… ……… 28
2.2.1 Dân số, dân tộc 28
2.2.2 Hoạt động nông lâm nghiệp 30
2.2.3 Giao thông, thủy lợi 31
2.2.4 Văn hóa, giáo dục, y tế 31
2.2.5 Điện, nước sạch 31
Chương 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… …………33
3.1 Đối tượng nghiên cứu……….………… 33
Trang 83.2.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật 34
3.2.4 Phương pháp điều tra trong nhân dân 35
3.2.5 Phương pháp kế thừa 35
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… ……… 36
4.1 Đa dạng các trạng thái thảm thực vật ở KVNC……… ……… 36
4.1.1 Trạng thái thảm cỏ……… ………36
4.1.2 Trạng thái thảm cây bụi……… ………36
4.1.3 Trạng thái rừng thứ sinh nhân tác 37
4.1.4 Trạng thái rừng trồng 37
4.1.5 Trạng thái cây nông nghiệp 37
4.2 Đa dạng về hệ thực vật trong KVNC……… ……… 37
4.2.1 Đa dạng các bậc taxon trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC……… 38
4.2.2 Đa dạng về số chi và số họ trong các trạng thái thảm thực vật……… 40
4.2.3 Đa dạng thành phần dạng sống trong các trạng thái thảm thực vật…………65
4.2.4 Đa dạng tài nguyên cây có ích trong các trạng thái thảm thực vật………….71
4.2.5 Các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng trong KVNC……… … 72
4.3 Các nguy cơ gây suy giảm đa dạng sinh học ở KVNC……… ……… 73
4.3.1 Khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép………74
4.3.2 Sự suy giảm do cháy rừng……….………… 76
4.3.3 Sự suy giảm do gia tăng dân số……….………… 77
4.3.4 Sự suy giảm do đói nghèo của các cộng đồng dân cư sinh sống trong khu vực nghiên cứu……….……… 78
4.4 Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn các trạng thái thảm thực vật ở KVNC……… ……….79
4.4.1 Các biện pháp về chính sách……… ……….79
4.4.2 Các biện pháp về quản lý, bảo vệ và phục hồi thảm thực vật……… 80
4.4.3 Các biện pháp về kỹ thuật……… ……….81
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… ……… 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO.……… …84
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người Nếu không có rừng thì xã hội loài người sẽ không thể tồn tại được Trong vài thập kỷ gần
đây do sự tàn phá của chiến tranh, do những sai lầm trong công cuộc “ phát
triển nhanh” của đất nước làm cho rừng của nước ta bị suy thoái nặng nề, độ
che phủ giảm sút đến mức báo động, chất lượng của rừng cũng bị hạ thấp quá mức Những sự mất mát về rừng là khó có thể bù đắp được và đã gây nhiều tổn thất lớn về kinh tế, về công ăn việc làm và cả về phát triển kinh tế xã hội một cách lâu dài Loài người đã và đang phải hứng chịu những tổn thất do việc mất rừng gây ra
Hiện nay khi dân số tăng nhanh, nhu cầu cải thiện đời sống con người ngày càng được nâng cao, sự phát triển mạnh của công nghiệp đã dẫn tới khai thác quá mức tài nguyên rừng, thu hẹp diện tích đất rừng… gây hậu quả nghiêm trọng cho các vùng sinh thái trên thế giới Ban đầu diện tích rừng chiếm 6 tỉ ha trên bề mặt trái đất, diện tích này còn 4,4 tỉ ha năm 1958 đến năm 1973 còn 3,8 tỉ
ha Hiện nay diện tích rừng còn khoảng 2,9 tỉ ha Các nhà khoa học đã dự báo rằng hàng năm trên thế giới bị mất 16,7 triệu ha rừng Nếu tiếp tục đà này trong vòng 166 năm nữa, trên trái đất sẽ không còn rừng [60]
Ở Việt Nam, theo P.Maurand thì năm 1943 có 14,352 triệu ha rừng chiếm 43% diện tích đất nước [60]
Từ năm 1945 – 1975 nước ta mất 3 triệu ha, tỉ lệ che phủ của rừng giảm
từ 43% (1943) xuống còn 38% (1975) Từ năm 1975 – 1995 tỉ lệ che phủ của rừng giảm xuống còn 28% (1995), cả nước chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha rừng ( trong đó có 1 triệu ha rừng trồng) [9] Hiện nay diện tích rừng bị giảm ước tính vào khoảng 200.000 ha/năm trong đó 60.000 ha bị chặt để chuyển thành đất nông nghiệp ngoài kế hoạch, 50.000 ha bị cháy và 90.000 ha bị khai thác
Trang 10làm gỗ củi Trong khi đó tốc độ trồng rừng khoảng 50.000 – 100.000 ha/năm không thể bù lại tốc độ mất rừng [52]
Chính vì vậy, những năm gần đây Đảng và nhà nước ta hết sức chú trọng vấn
đề bảo vệ, phát triển và phục hồi rừng nói riêng và thảm thực vật nói chung Thảm thực vật là đối tượng chịu tác động không ngừng của các nhân tố vô sinh và hữu sinh, đồng thời còn là nơi xảy ra quá trình diễn thế, quá trình phục hồi và suy thoái rừng Để xây dựng kế hoạch trong việc bảo vệ, phục hồi
và khai thác có hiệu quả tài nguyên rừng cũng như nắm vững quy luật phát triển của nó, chúng ta cần hiểu biết về tính đa dạng thực vật
Đại Từ là huyện trung du miền núi, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên và nằm ở sườn Đông của dãy núi Tam Đảo, có diện tích tự nhiên 57.790 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 28.021 ha với diện tích rừng tự nhiên 16.022 ha, rừng trồng 11.999 ha [37] Xã Ký Phú nằm ở phía Nam huyện Đại Từ, phía Bắc giáp xã Lục Ba, Đông giáp xã Vạn Thọ, Tây giáp xã Văn Yên và phía Nam giáp xã Cát Nê Với diện tích đất tự nhiên 1.949,62 ha trong đó có 693,24 ha là đất lâm nghiệp Đây là một xã có nhiều rừng của huyện Đại Từ rất thuận lợi cho nghiên cứu tính đa dạng thực vật làm cơ sở
cho công tác bảo tồn Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu tính đa
dạng thực vật trong một số thảm thực vật tự nhiên ở xã Ký Phú, huyện Đại
Từ tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở cho công tác bảo tồn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tính đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp cụ thể để bảo tồn đa dạng thực vật ở khu vực nghiên cứu
Trang 114 Đóng góp mới của luận văn
- Bước đầu đã xác định được tính đa dạng ở mức độ ngành, chi, họ, loài, thành phần dạng sống , tài nguyên cây có ích, các nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học của 3 trạng thái thảm thực vật ở xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Xác định được một số loài thực vật quý hiếm theo Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2007)
- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật
1.1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo J.Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của
nó Thái Văn Trừng (1978) [51] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1998) [29] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn
1.1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
H.G Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện
đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao
J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ
và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm [31]
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [60]
1.1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam
Trang 13Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam đến nay còn ít Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [57]
Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng Miền nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa
bị phá hoại, cần khai thác hợp lý
Thomasius (1965) đưa ra bảng phân loại các kiểu lập quần vùng Quảng Ninh dựa trên các điều kiện địa hình, đất đai, đá mẹ, khí hậu và các loài cây ưu thế Phan Nguyên Hồng (1970) [20], phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển Miền bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống
Trang 14Trần Ngũ Phương (1970) [33] đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Thái Văn Trừng (1978) [47] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân
gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay [49]
đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông
Nguyễn Hải Tuất (1991) [50] nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: kiểu rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới; kiểu rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao; kiểu rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần
thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan
hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu
Trang 15rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Thái Văn Trừng (1998) [48] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu
tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Nguyễn Thế Hưng (2003) [23] cũng dựa trên nguyên tắc phân loại UNESCO (1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh)
Lê Ngọc Công (2004) [11] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành
4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa
Ngô Tiến Dũng (2004) [15] dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau
1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật
1.1.2.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới
Tổng số loài thực vật hiện nay trên thế giới có nhiều biến động và chưa
cụ thể, tuỳ từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ Các nhà
Trang 16thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.000 – 600.000 loài
Năm 1965, Al A Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 – 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 – 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 – 18.000 loài rêu; 19.000 – 40.000 loài tảo; 15.000 – 20.000 loài địa y; 85.000 – 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác
Năm 1962, G N Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân bố ở các châu lục như sau:
Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1.000 loài
Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.000 loài
Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500 loài; Madagasca: 7.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc
và các vùng phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài
Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài
Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.500 loài [58]
1.1.2.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Ở nước ta, trong thực vật chí Đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực
Trang 17vật bậc cao có mạch [64] Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta [3] Gần đây, Phan Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước
ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia – Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á [30] Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình
Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: hầu hết các tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục, một quốc gia, hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên cứu và điều tra đầy đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao động và cao hơn nhiều
1.2 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933),
Trang 18Creepva (1978)…Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của
nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật [31]
Ramakrishman (1981 – 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá
Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ,
134 chi và 167 loài [44]
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1978) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ [28]
Khi nghiên cứu về thành phần loài, Hoàng Hữu Hiếu (1970) đã đề nghị
áp dụng công thức đánh giá tổ thành loài rừng nhiệt đới
a
N
Một số loài được gọi là thành phần chính của loại hình phải có số lượng
cá thể bằng hoặc lớn hơn X [31]
Nguyễn Đăng Khôi (1971) đã bổ sung thêm 26 loài không được F Gagnepain ghi nhận ở Miền bắc Việt Nam trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương”
Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Văn Phú (1975) đã thống kê 39 loài cây
bộ Đậu thân bò và thân leo làm thức ăn giàu protein cho gia súc Miền Bắc
Trang 19Việt Nam Thái Văn Trừng (1975) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [46]
Phan Kế Lộc (1978) điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ Trinh
nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin [28]
Hoàng Chung (1980) [6] khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [19]
Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác (dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn [21]
Lê Mộng Chân (1994) điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia Ba
Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên [4]
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [27]
Trần Đình Đại (2001) căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây bắc bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1050 chi và 3074 loài thuộc
6 ngành thực vật bậc cao có mạch [16]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau [9]
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng
đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài [22]
Trang 20Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu
(Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của
họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng [40]
Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ [10]
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây
bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê – Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào – Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem – Myrsinaceae) [48]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và
1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ [40],[41]
Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định [13]
Lê Đồng Tấn (2000) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi
10 có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài [38]
Trang 21Đặng Kim Vui (2002) [51] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi 1 – 2 tuổi, thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ, trong đó họ Hoà thảo có số lượng lớn nhất là 10 loài, tiếp đến là họ Thầu dầu (6 loài)…; giai đoạn 3 – 5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ; giai đoạn 5 – 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 11 – 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ
Nguyễn Thế Hưng (2003) đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở Huyện Hoành Bồ, Thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch [23]
Phạm Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như nguồn giống, địa hình, thoái hoá đất, con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật cây gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11 – 25 loài, trên đất xấu 8 – 12 loài [44]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống
kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi,
654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[11]
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La
đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ [26]
Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 – 5m [43]
Trang 221.2.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm [31]
Braun – Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn [1]
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là
hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [9] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
Trang 23Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB):
SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu
tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản…
Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái học hơn của Raunkiaer Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần hay một lần trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ Trong bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh Trong bảng phân loại này ông còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường [7] Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Doãn Ngọc Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ Hoà thảo Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng
cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [6]
Trang 24Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [47]
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a: ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ [5]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật
có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [7]
Phan Nguyên Hồng (1991) [23] khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
ký sinh (K), bì sinh (B)
Áp dụng theo nguyên tắc của Raunkiaer, Nguyễn Bá Thụ, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn (1995) đã xây dựng phổ dạng sống của hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương [40] là:
SB = 57,8Ph + 10,5Ch + 12,4He + 8,3Cr + 11,0Th
Phạm Hồng Ban (1999) [2] nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái tái sinh sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống là:
SB = 67,40Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th
sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời
Trang 25ông đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi) Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80% [23].
Phạm Ngọc Thường (2003) [44] khi nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho kết quả phổ dạng sống của hệ thực vật là:
SB = 56,37Ph + 12,73Ch + 14,23He +8,80Cr + 7,87Th
Lê Ngọc Công (2004) [11] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật thành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo
Ngô Tiến Dũng (2004) [15] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống của thực vật Yok Don là:
SB = 71,73Ph + 1,41Ch + 7,77He + 4,59Cr + 6Th
Vũ Thị Liên (2005) [26] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer Kết quả phổ dạng sống như sau:
SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Dương Hữu Thời (1961) đã lập phổ dạng sống của các quần xã cỏ trên bãi cát sông Hồng [2]
1.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trọng hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn
Trang 26phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau Các nhân tố trong cấu trúc rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu trúc tuổi…
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng của nước ta có một số tác giả như: Phạm Minh Nguyệt (1994) [32] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp nhàng Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu dài Nguyễn Văn Trương (1982) [49] đưa ra một số cấu trúc tiêu chuẩn cần được đảm bảo điều chế rừng theo phương pháp chặt chọn Ông cho rằng nếu
áp dụng chặt chọn như hiện nay thì không thể tạo lại vốn rừng như trước khi chặt nên dùng thuật ngữ khai thác nuôi dưỡng rừng
Vũ Đình Phương (1987) trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên ở nước ta, ông cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh rừng tự nhiên cần phải hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của rừng Những quy luật tự nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng, nghiên cứu về cấu trúc rừng hỗn loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là cơ sở cho việc đề xuất biện pháp thâm canh rừng [34] Nguyễn Hải Tuất (1991), nghiên cứu quy luật cấu trúc quần thể cây rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng [50]
Trang 27Trần Văn Con (1992) ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai Kon Tum)
đã cho rằng, sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa) Mô phỏng toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng rừng và các tương quan nhất định [8]
Võ Đại Hải (1996), đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn nước của thảm thực vật Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ đầu nguồn là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng hộ về điều tiết nước và xói mòn Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng [18]
Những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực
cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần
có những nghiên cứu cụ thể hơn rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia
Về thành phần dạng sống: khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tuỳ từng tác giả Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, hầu hết các tác giả đều
sử dụng cách phân chia dạng sống của Raunkiaer trong những nghiên cứu của mình Hệ thống phân chia của ông có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học và dễ áp dụng Ông chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm làm tiêu chuẩn để phân chia các kiểu dạng sống Vì lẽ đó, trong nghiên cứu của mình, tôi cũng chọn lựa cách phân chia dạng sống này của Raunkiaer
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác giả đều đưa ra những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích hợp Cấu trúc thích hợp tức
Trang 28là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tuỳ từng giai đoạn mà cấu trúc rừng có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng, các nguồn tài nguyên sinh học không ngừng bị suy giảm Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cứ liệu quan cho công tác bảo tồn, từ năm 1964, hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã cho xuất bản các Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới [53] Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)…
Ở Việt Nam, tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của tập thể
tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007 Trong
cuốn “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” năm 2007 đã công bố 847 loài
(thuộc 201 họ) quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ
Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” thống kê số loài thực vật
có nguy cơ tuyệt chủng của cả nước, thì các công trình nghiên cứu về các loài
có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít Một số công trình đáng chú ý là:
Trang 29Nguyễn Thị Yến (2003) [53] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong
đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của Sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN
Hoàng Thanh Thủy (2009), Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng thực vật trong một số trạng thái thảm thực vật ở xã Thần Sa, huyện Võ Nhai , tỉnh Thái nguyên cho thấy, số loài thực vật quý hiếm thống kê được là
17 loài, trong đó có 8 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU); 6 loài ở mức nguy cấp (EN), 2 loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng và 4 loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Nếu không có các biện pháp bảo vệ thì sẽ có nguy cơ tuyệt chủng trong thời gian không xa [54]
Lê Ngọc Công (2010) khi điều tra các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở Thái Nguyên đã ghi nhận được 71 loài Trong đó có một loài bị tuyệt chủng thiên nhiên (EW), 2 loài trong tình trạng rất nguy cấp ( CR) loài nguy cấp (EN) và 37 loài sẽ nguy cấp (VU) Tác giả xác định được 7 loài thuộc nhóm IIA ( theo nghị định 32/2006-NĐ-CP của chính phủ [12]
Trương Thị Tố Uyên (2010), Nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc trong một số trạng thái thảm thực vật ở xã Vũ Chấn, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho thấy, số loài thực vật quý thống kê được là 18 loài, trong đó có 10 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU); 5 loài ở mức nguy cấp (EN), 2 loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng và 5 loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Số loài thực vật quý là cây thuốc thống kê được là 11 loài, trong đó có 6 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU); 4 loài ở mức nguy cấp (EN), 2 loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng và 3 loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại [56]
Trang 30Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà số lượng loài thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng Tuỳ từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và phải đánh giá thường xuyên nhằm có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
1.4 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ở Thái Nguyên
và khu vực nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật và đa dạng thực vật ở Thái Nguyên còn rất ít và tản mạn Cuối năm 70, Sở Nông lâm Thái Nguyên
đã nghiên cứu một số mô hình rừng trồng nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc như mô hình Lim, Dẻ, Trám…ở xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ Mô hình Bạch đàn hoặc Bạch đàn - Keo ở vùng hồ Núi Cốc, huyện Đại Từ Các
mô hình này có hiệu quả kinh tế tốt đối với người dân, rừng đã được phục hồi Năm 1986 – 1987 Vụ Khoa học kỹ thuật - Bộ Lâm nghiệp tiến hành nghiên cứu một số mô hình nông lâm kết hợp, trong đó có mô hình cây màu xen cây công nghiệp (chè) hoặc cây màu trồng xen với cây ăn quả (Mít, Dứa…) ở xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ đã có kết quả tốt [52]
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995) nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống của quần hệ sa van cây bụi trên vùng đồi trung du Thái Nguyên,
đã đưa ra một số loại hình khoanh nuôi phục hồi và một số mô hình rừng trồng (Lim, Dẻ, Trám…)[9]
Lê Ngọc Công (2004) đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến… [11]
Trang 31Nguyễn Xuân Quát (1995) nghiên cứu mô hình rừng tự nhiên, mô hình vườn chè tại các vùng đồi núi thấp, đất đai bị thoái hoá mạnh của các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, Định Hoá, Đại Từ và thành phố Thái Nguyên [35]
Đặng Kim Vui (2002) [51] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã thống kê số họ và
số loài thực vật ở từng giai đoạn phục hồi, đó là: giai đoạn phục hồi 1 – 2 tuổi, thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 3 – 5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ; giai đoạn 5 – 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 11 – 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ
Ở khu vực nghiên cứu (xã Ký Phú), các công trình nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật ở đây chưa có
Nhằm bước đầu có số liệu về thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu để làm cơ sở cho công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và đầu tư phát triển khu du lịch sinh thái (Hồ Gò Miếu) Đề tài luận văn Thạc sĩ của tác giả góp phần nghiên cứu giải quyết các yêu cầu đó
Trang 32Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới
Đại Từ là huyện trung du miền núi, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, có diện tích đất tự nhiên 57.790 ha, phía Đông giáp huyện Phú Lương, phía Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía Bắc giáp huyện Định Hóa, phía Tây Bắc và Đông Nam giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang Huyện Đại Từ nằm ở sườn đông núi Tam Đảo, có đường Quốc lộ 37 đi qua 8 xã, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 25 km
Xã Ký Phú là khu vực nghiên cứu, có tổng diện tích tự nhiên là 1.949,62 ha nằm trong vành đai rừng quốc gia Tam Đảo, thuộc huyện Đại Từ,
có ranh giới như sau:
+ Phía Tây giáp xã Văn Yên – Huyện Đại Từ
+ Phía Bắc giáp xã Lục Ba – Huyện Đại Từ
+ Phía Đông giáp xã Vạn Thọ – Huyện Đại Từ
+ Phía Nam giáp xã Cát Nê – Huyện Đại Từ
2.1.2 Địa hình
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc-Nam và thấp dần xuống phía Nam Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đá phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ
Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590 m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn cũng chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc
Trang 33Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác
Huyện Đại Từ nói chung và xã Ký Phú nói riêng đều có địa hình tương đối phức tạp, mang những đặc trưng của vùng trung du miền núi Đông Bắc, đồi núi
có độ dốc vừa phải, nhiều cánh đồng rộng bằng phẳng xen lẫn những vùng đồi thấp, có 10 xã nằm dưới chân sườn đông của dãy núi Tam Đảo Xã Ký Phú có địa hình tương đối bằng phẳng có chiều cao trung bình 27 đến 185m so với mực nước biển, núi cao nhất là 720m, phần đồi núi chủ yếu là núi đất
2.1.3 Đất đai
Theo kết quả phúc tra do Viện Thiết kế xây dựng thực hiện năm 2006 thì toàn huyện Đại Từ có các nhóm đất chính sau:
- Đất xám mùn trên núi : 16.400 ha chiếm 28,37% diện tích
- Đất feralit phát triển trên đá biến chất: 15.107 ha chiếm 26,14% diện tích
- Đất feralit phát triển trên đất phù xa cổ: 13.036 ha chiếm 22,55% diện tích
- Đất phù sa phát triển trên phù sa cổ: 13.247 ha chiếm 22,94% diện tích Nhìn chung Đại Từ có nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng Trong đó đất nông nghiệp chiếm 26,87%, đất lâm nghiệp 45,13%, phi nông nghiệp 28%
2.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
* Khí hậu: Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm chia làm
2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Mùa đông được chia thành 3 vùng
rõ rệt: Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai; Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai; Vùng ấm gồm
Trang 34các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Nhìn chung, khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp
C, nhiệt độ cao nhất 38 –
gió mùa Hàng năm chia làm 2 mùa rõ rệt là mua khô và mùa mưa, nhiệt độ trung bình mùa khô là 18,50 C với số giờ nắng trung bình 4 giờ/ngày và nhiệt
độ trung bình mùa mưa là 27,50C, số giờ nắng trung bình 7,5 giờ/ ngày
* Thuỷ văn: Do ảnh hưởng của vị trí địa lí, đặc biệt là các dãy núi bao
bọc Đại Từ thường có lượng mưa lớn nhất Tỉnh, lượng mưa trung bình hàng năm 1400-1600mm, độ ẩm trung bình năm 70-80% Hệ thống sông Công chảy chảy từ Định Hoá xuống theo hướng Bắc Nam chiều dài qua huyện Đại
Từ khoảng 2km Hệ thống các suối, khe như suối La Bằng, Hoàng Nông, Mỹ Yên, Văn Yên, Ký Phú, Cát Nê, Quân Chu…cũng là nguồn nước quan trọng phục vụ đời sống và sản xuất của nhân dân trong huyện
Hồ đập: Hồ Núi Cốc với diện tích 769 ha, Gò Miếu 320 ha, Phượng Hoàng
124 ha Đập Minh Tiến, Phú Xuyên, Na Mao, Lục Ba, Đức Lương với diện tích khoảng 40-50 ha mỗi đập Qua điều tra thăm dò khảo sát thì nguồn nước ngầm toàn huyện tương đối phong phú, chất lượng tốt đảm bảo phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất
Xã Ký Phú có lượng mưa bình quân mỗi tháng mùa mưa là 205,25mm,
hồ Gò Miếu diện tích 320ha và nhiều khe, suối Mạng lưới thuỷ lợi của xã có 86,7km kênh mương trong đó có 28,7 km kênh mương đã được kiên cố hoá đảm bảo cung cấp nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
Trang 352.1.5 Tài nguyên khoáng sản
Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ 2 trong các tỉnh thành cả nước bao gồm than mỡ, than đá được phân bố tập trung ở 2 huyện Đại từ và Phú Lương Tiềm năng than mỡ có khoảng trên 15 triệu tấn, trong đó trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn, chất lượng tương
đối tốt, tập trung ở các mỏ: Phấn Mễ, Làng Cẩm, Âm Hồn
- Than đá với tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn tập trung ở các mỏ: Bá Sơn, Khánh Hoà, Núi Hồng
Khoáng sản kim loại có nhiều ở Thái Nguyên
- Quặng Sắt: Có 47 mỏ và điểm quặng trong đó có 2 cụm mỏ lớn: Cụm
mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng khoảng 20 triệu tấn có hàm lượng Fe 58,8% - 61,8% Cụm mỏ sắt Tiến Bộ nằm trên trục đường ĐT 259 có tổng trữ lượng quặng khoảng 30 triệu tấn; Quặng Titan: Đã phát hiện 18 mỏ và điểm quặng
sa khoáng và quặng gốc phân bố chủ yếu ở huyện Phú Lương và Đại Từ, trong đó có 01 mỏ đã thăm dò và khai thác (mỏ Cây Châm, Phú Lương), thành phần chính của quặng là Ilmenít Tổng trữ lượng dự kiến khoảng 18 triệu tấn
- Ngoài ra còn có đồng, thủy ngân, thiếc, chì, kẽm, vàng , có rải rác ở các địa phương trong tỉnh
- Khoáng sản phi kim loại: Có pyrít, barít, phốtphorít trong đó đáng chú ý là phốtphorít ở một số điểm quặng: Núi Văn, Làng Mới, La Hiên Tổng trữ lượng khoảng 60.000 tấn
- Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng trong đó đáng chú
ý là đất sét xi măng ở 2 mỏ Cúc Đường và Khe Mo, trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn Đá Cacbônat bao gồm đá vôi xây dựng, đá vôi xi măng, Đôlômit tìm
, trong
đó 3 mỏ Núi Voi, La Hiên, La Giang có trữ lượng 222 triệu tấn, ngoài ra gần đây mới phát hiện mỏ sét cao lanh tại xã Phú Lạc, Đại Từ có chất lượng tốt,
Trang 36hàm lượng Al2CO3 cao, trữ lượng dự kiến 20 triệu m3 Đó là vùng nguyên liệu dồi dào cho sự phát triển ngành vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng và đá ốp lát Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phong phú
về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa lớn trong cả nước Tiềm năng quặng sắt tạo cho Thái Nguyên một lợi thế lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước
2.1.6 Tài nguyên rừng
Đại Từ là huyện có diện tích đất lâm nghiệp là 28.021 ha trong đó diện tích rừng tự nhiên là 16.021, rừng trồng 11.999 ha, là huyện miền núi có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thuận lợi cho hệ thực vật phát triển Rừng già và rừng trung bình chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là ở vùng sườn Đông của dãy núi Tam Đảo Thay vào đó chủ yếu là rừng thứ sinh gồm cây gỗ nhỏ, trung bình rừng tre, nứa
Xã Ký Phú thuộc khu vực nghiên cứu có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.949,62 ha Trong đó rừng tự nhiên có 375ha gồm: rừng gỗ có 121 ha; rừng tre nứa 17ha; rừng hỗn giao 237 ha và rừng trồng 219,4 ha
Hệ động vật tương đối phong phú, đa dạng, gồm các loại thú rừng, bò sát, chim Hiện nay số lượng động vật đang bị suy giảm nhiều do nạn săn, bắn bừa bãi và chặt phá rừng làm mất nơi cư trú
2.2 Điều kiện xã hội vùng nghiên cứu
2.2.1 Dân số, dân tộc
Dân số cuối năm 2009 toàn huyện Đại Từ có 168.807 hộ với 159.667 người, nữ chiếm 50,06% dân số Trong đó:
- Nhân khẩu nông nghiệp: 148.490 người
- Nhân khẩu phi nông nghiệp: 11.177 người
Trang 37Mật độ dân số trung bình: 276,29 người/km2
, phân bố khá đồng đều giữa các
xã, tuy nhiên đông nhất ở trung tâm huyện và dọc Quốc lộ 37, ở các xã vùng sâu
Về trình độ lao động nhìn chung khá tốt Số người được bồi dưỡng về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây trồng 87% tổng số hộ Số lao động có văn hoá bậc tiểu học chiếm 97,8%, trình độ bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông chiếm 85% Số còn lại có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học và trên Đại học 15% Hầu hết số hộ gia đình được giao lưu với bên ngoài qua truyền thanh, truyền hình, internet, các hoạt động dịch vụ khác
Tổng số hộ, số khẩu và các dân tộc trên địa bàn xã Ký Phú được nêu cụ thể trong bảng sau:
Bảng 2.1 Số hộ, số khẩu và các dân tộc trên địa bàn xã Ký Phú
TT Tên xóm Tổng
số hộ
Tổng
số khẩu
Trong đó dân tộc (theo khẩu) Kinh Tày Nùng Dao
Trang 382.2.2 Hoạt động nông lâm nghiệp
Trong 5 năm qua, giá trị sản xuất trong toàn ngành nông, lâm nghiệp của huyện Đại Từ đều tăng qua các năm, mức tăng bình quân đạt gần 8%/năm Các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao được phát triển mạnh như: cây chè, lúa, ngô, lạc, sắn, tạo ra thu nhập đáng kể cho người dân Hệ số sử dụng đất hiện nay là 2,19 lần, đạt giá trị 20,3 triệu đồng/ha canh tác Sản lượng lương thực có hạt tăng từ 65.922 tấn (năm 2003) lên 72.616 tấn (năm 2010) Sản xuất lương thực đủ đáp ứng nhu cầu toàn huyện Các mô hình chăn nuôi quy mô, tập trung ngày càng phát triển Đàn lợn được duy trì ổn định ở mức 62.457 con, đàn bò tăng nhanh từ năm 2003 với số lượng hiện nay là 4.300 con, riêng đàn Trâu có xu hướng giảm với số lượng hiện nay là 16.556 con
Ngành lâm nghiệp đã chuyển hướng khai thác sang trồng rừng và chăm sóc, bảo vệ rừng Hàng năm, diện tích trồng mới đạt từ 100 đến 150 ha rừng các loại Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề, tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh Nhiều trang tại vừa và nhỏ chăn nuôi công nghiệp bước đầu làm ăn có hiệu quả
Xã Ký Phú nằm trong vành đai rừng quốc gia Tam Đảo, vì vậy sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lâm nghiệp được quan tâm Số hộ được nhận đất rừng: 293 hộ chiếm 14,20% hộ/xã và bước đầu đã mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho người dân trong xã
2.2.3 Giao thông, thuỷ lợi
Trang 39Hệ thống đường giao thông với 25,2 km, trong đó có 5,2 km đường bê tông, 20 km đường cấp phối Có 5 km đường nhựa tỉnh lộ Đại Từ đi Phổ Yên,
xã chủ yếu vẫn là đường đất, số km đường nhựa và bê tông rất ngắn chỉ vài
km Hiện nay với chính sách nhà nước và nhân dân cùng làm, trên địa bàn xã đang triển khai công tác xây dựng đường bê tông hoá nông thôn
Tại Ký Phú, hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt được cung cấp bởi hồ Gò Miếu, các khe suối nhỏ và hệ thống nước ngầm khá phong phú đã cung cấp đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp
2.2.4 Văn hoá, giáo dục, y tế
- Về văn hoá: Dân số của xã chủ yếu là người kinh có trình độ dân trí khá tốt, việc giao lưu và thông thương với bên ngoài được đẩy mạnh do đó nhận thức của đại bộ phận người dân được nâng cao
- Về hệ thống giáo dục: Trong xã có đầy các trường từ mầm non đến trung học cơ sở đã đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I Toàn xã đã đạt phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Có 1 trường THPT đóng trên địa bàn xã rất thuận lợi cho con em trong xã theo học
- Về y tế: Xã Ký Phú có 1 trạm y tế đóng tại trung tâm xã, được xây dựng kiên cố với 1 phòng làm việc, 3 phòng điều trị, 12 giường bệnh, 2 bác sĩ, 6 y tá, 1
nữ hộ sinh Cơ sở, dụng cụ khám chữa bệnh còn khá hiện đại Công tác y tế ở đây
đã làm tốt công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh truyền nhiễm, kế hoạch hoá gia đình Công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em được quan tâm tốt, thể hiện 100% trẻ trong xã được tiêm phòng các loại bệnh theo chương trình tiêm chủng quốc gia, phụ nữ mang được khám định kì
2.2.5 Điện, nước sạch
Có 100% số hộ trong xã được hưởng nguồn điện lưới quốc gia
Trang 40Hệ thống nước sạch phục vụ cho sinh hoạt của người dân đều lấy từ nguồn nước ngầm (nước khoan, giếng khơi) tương đối đảm bảo vệ sinh môi trường