ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NÔNG THỊ LUYẾN NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÂM SINH NHẰM PHỤC HỒI RỪNG SAU CANH TÁC TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ LUYẾN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÂM SINH NHẰM PHỤC HỒI RỪNG SAU CANH TÁC TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ
SINH CẢNH VƯỢN CAO VÍT, TẠI HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ LUYẾN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÂM SINH NHẰM PHỤC HỒI RỪNG SAU CANH TÁC TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ
SINH CẢNH VƯỢN CAO VÍT, TẠI HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Lâm học
M· sè : 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Quốc Hưng
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập được và kết quả xử lý, tính toán
là trung thực và được trích dẫn rõ ràng kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nông Thị Luyến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau ba năm học tập và rèn luyện, khóa học Cao học lâm nghiệp K19 (2011 - 2013) đã bước vào giai đoạn kết thúc Được sự nhất trí của của nhà trường và Phòng đào tạo Sau đại học, tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề
tài "Nghiên cứu khả năng tái sinh và một số biện pháp lâm sinh nhằm
phục hồi rừng sau canh tác tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, tại Huyện Trùng Khánh, Tỉnh Cao Bằng" Sau gần một năm thực hiện,
đến nay đề tài đã hoàn thành
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới
TS Trần Quốc Hưng, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành
đề tài này
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo thuộc phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã động viên, giúp tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ KBT Loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, Tỉnh Cao Bằng cùng bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất, giúp đỡ động viên và chia sẻ với tôi một phần công việc trong những ngày thu thập số liệu tại hiện trường
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, tuy nhiên do đối tượng nghiên cứu tại vùng lõi khu bảo tồn đi lại khó khăn vì vậy rất khó thu thập số liệu Hơn nữa, do điều kiện về thời gian và tư liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nông Thị Luyến
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích 4
3 Mục tiêu 4
3.1 Mục tiêu tổng quát 4
3.2 Mục tiêu cụ thể 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Giới hạn nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa của đề tài 6
6.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 6
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Trên thế giới 7
1.2 Ở Trong nước 10
1.3 Đặc điểm cơ bản của khu vực nghiên cứu 18
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 18
1.3.1.1 Vị trí địa lí 18
1.3.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng 20
Trang 61.3.1.3 Khí hậu thuỷ văn 21
1.3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội 22
1.3.2.1 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội xã Ngọc Khê 22
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Nội dung nghiên cứu 30
2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm cây tầng cao (cây non) và khả năng tái sinh tự nhiên của khu vực bỏ hóa sau canh tác tại vùng lõi khu bảo tồn 30
2.1.2 Nghiên cứu vai trò của vách rừng tới khả năng gieo giống và phục hồi rừng khu vực sau canh tác 30
2.1.3 Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp lâm sinh nhằm tăng khả năng phục hồi rừng tại khu vực bỏ hóa sau canh tác ở khu bảo tồn 30
2.1.4 Đề xuất một số biện pháp nhằm phục hồi rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao Vít được tốt hơn 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Cách tiếp cận 31
2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 32
2.2.2.1 Xác định khu vực nghiên cứu 32
2.2.2.2 Phương pháp lập ô nghiên cứu và thử nghiệm kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng 34
2.2.2.3 Phương pháp lập Vườn ươm đánh giá khả năng nhân giống của một số loài cây làm thức ăn cho Vượn 35
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 36
2.2.3.1 Cây tầng cao (cây non chưa trưởng thành) 36
2.2.3.2 Cây tái sinh 37
2.2.3.3 Tính chất đất và độ che phủ: 37
2.2.3.4 Ảnh hưởng của vách rừng tới khả năng phục hồi rừng 37
2.2.4 Phương pháp tính toán xử lí số liệu 38
Trang 72.2.4.1 Cây tái sinh và cây tầng cao (cây non) 39
2.2.4.2 Vách rừng 40
2.2.4.3 Tính chất đất khu vực nghiên cứu 42
2.2.5 Phương pháp thu hái xử lý mẫu 42
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Đặc điểm cây tầng cao (cây non) và khả năng tái sinh tự nhiên của khu vực bỏ hóa sau canh tác tại vùng lõi khu bảo tồn 44
3.1.1 Tổ thành cây tầng cao (cây non) tại khu vực nghiên cứu 44
3.1.2 Tổ thành cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu 46
3.1.3 Nguồn gốc và chất lượng tái sinh 49
3.1.4 Đánh giá về phân bố cây tái sinh của các ô nghiên cứu 51
3.1.5 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến tái sinh rừng tại khu vực nghiên cứu 54 3.1.5.1 Ảnh hưởng của tính chất đất đến tái sinh 54
3.1.5.2 Ảnh hưởng của cây bụi thảm tươi đến tái sinh 56
3.2 Vai trò của vách rừng tới khả năng gieo giống và phục hồi rừng khu vực sau canh tác 59
3.2.1 Xác định thành phần loài cây chính (cây mẹ) trong khu vực rừng (vách rừng) xung quanh khu vực bỏ hóa sau canh tác 59
3.2.1.1 Thành phần các loài cây mẹ có trong các khu vực 59
3.2.1.2 So sánh thành phần loài cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu với thành phần loài cây mẹ trong vách rừng xung quanh 64
3.2.1.3 Đánh giá khả năng phát tán hạt giống của một số loài chính xuất hiện tại khu vực nghiên cứu 67
3.3 Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp lâm sinh nhằm tăng khả năng phục hồi rừng sau canh tác tại Khu bảo tồn 71 3.3.1 Đánh giá khả năng nhân giống trong vườn ươm tại chỗ của một số loài
Trang 83.3.1.1 Vườn ươm tại tại xóm Nà Thông xã Phong Nậm 71
3.3.2 Xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung 75
3.2.2.1 Xúc tiến tái sinh 75
3.2.2.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây trồng dặm 85
cây trồng dặm 86
cứu năm 2012 87
cứu năm 2013 88
3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm phục hồi rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao Vít 88
3.3.1 Giải pháp quản lý 88
3.3.2 Giải pháp chính sách 89
3.3.3 Giải pháp kỹ thuật 89
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 92
Kết luận 92
Kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Dân số xã Ngọc Khê năm 2012 22
Bảng 1.2 Dân số xã Ngọc Côn năm 2012 25
Bảng 1.3: Dân số xã Phong Nậm năm 2012 27
Bảng 3.1: Tổ thành và mật độ cây tầng cao khu vực nghiên cứu 45
Bảng 3.2: Tổ thành và mật độ cây tái sinh khu vực nghiên cứu 47
Bảng 3.3 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu 49
Bảng 3.4 Bảng phân bố cây tái sinh trong 2 ô nghiên cứu 52
Bảng 3.5 Thành phần tính chất đất tại 2 OTC 54
Bảng 3.6 Thành phần và độ che phủ thảm tươi TB trong 2 OTC 56
Bảng 3.8 Công thức tổ thành vách rừng theo từng khu vực 61
Bảng 3.9 Các chỉ số trung bình về đường kính và chiều cao cây mẹ ở các khu vực vách rừng 63
Bảng: 3.10 Tổ thành cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu năm 2013 65
Bảng: 3.11 So sánh tổ thành cây tái sinh tại khu vực điều tra gần vách rừng và 2 OTC 2013 với cây mẹ điều tra 2 tuyến vách rừng năm 2013 66 Bảng 3.12 Đặc điểm sinh thái học của cây tái sinh chính năm 2012 -2013 67
Bảng 3.13 So sánh các ô nghiên cứu làm cỏ và ô không làm cỏ giữa 2 OTC 77
Bảng 3.14 So sánh tăng trưởng chiều cao và đường kính gốc bình quân của các cây tái sinh giữa ô làm cỏ và ô không làm cỏ trong 2OTC 80
Bảng 3.15 Sinh trưởng phát triển dưới điều kiện hỗ trở về hạn chế cạnh tranh cỏ dại bằng che phủ gốc 82
Bảng 3.16 So sánh chiều cao và đường kính ban đầu của cây tái sinh tầng cao giữa cây phủ gốc và tự nhiên 84
Bảng 3.17 Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của 86
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Vị trí khu vực nghiên cứu huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng 19
Hình:2.2 Sơ đồ Khu bảo tồn Vượn Cao Vít 20
Hình 2.3: Sơ đồ thiết lập ô tiêu chuẩn và các ô dạng bản nghiên cứu 34
Hình: 3.1 Biểu đồ so sánh nguồn gốc tái sinh giữa 2 OTC 50
Hình: 3.2 Biểu đồ so sánh chất lượng tái sinh của 2 OTC 51
Hình: 3.3 Sơ đồ khu vực nghiên cứu vách rừng tại lũng Đảy năm 2012 59
Hình: 3.4 Sơ đồ khu vực nghiên cứu vách rừng tại lũng Đảy năm 2013 59
Hình 3.5 : Vườn ươm tại thôn xóm Nà Thông 73
Hình 3.6: Vườn ươm tại Lũng Nặm 75
Hình: 3.7 Hiệu quả của việc phát hiện cây tái sinh mới bằng bằng việc phát trắng ô nghiên cứu 80
Hình: 3.8 Hiệu quả của việc giảm cạnh tranh cỏ dại tại chỗ bằng việc che phủ gốc tái sinh 85
Hình: 3.9 Cây Nhội và Xoan nhừ được trồng dặm trong ô nghiên 87
Hinh 3.10: Cây Nhội và Xoan nhừ được trồng dặm trong ô nghiên 88
Trang 11DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đúng
BQL KBT : Ban quản lí Khu bảo tồn
BV&PTR : Bảo vệ và phát triển rừng
KBT : Khu bảo tồn
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
KHLNVN : Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
ODB : Ô dạng bản
OTC : Ô tiêu chuẩn
PRCF : People Resources and Conservation Foundation - Tổ chức con
người, tài nguyên và bảo tồn QLBVR : Quản lí bảo vệ rừng
TSTN Tái sinh tự nhiên
THCS : Trung học cơ sở
TB : Trung bình
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus) là một trong những loài linh
trưởng hiếm nhất trên thế giới và đang trong tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng cao trên phạm vi toàn cầu, danh lục đỏ IUCN (2010) [ 22 ] xếp Vượn Cao Vit vào mức cực kỳ nguy cấp – CR Năm 2002, một quần thể nhỏ Vượn đen đông bắc khoảng 26 cá thể được phát hiện gần biên giới Trung Quốc thuộc các xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đây cũng là nơi duy nhất tại Việt Nam cũng như trên thế giới còn tồn tại một quần thể Vượn này Tháng 5/2007 UBND tỉnh Cao Bằng và Chi cục Kiểm lâm Cao Bằng với sự hỗ trợ về kỹ thuật của tổ chức FFI chính thức thành lập Khu bảo tồn (KBT) Vượn Cao Vít nằm trên địa phận ba xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Trần Văn Phùng
và cs (2006) [18 ]
Kể từ khi tái phát hiện quần thể còn sót lại của loài linh trưởng đang bị
đe doạ này vào năm 2002, đến nay số lượng cá thể Vượn ở Cao Bằng vào khoảng 110 con, nhiều chương trình dự án được thực hiên tại đây Tổ chức FFI triển khai thực hiện một số hoạt động; Nhóm tuần rừng dựa vào cộng đồng đã được thành lập và có nhiệm vụ tuần tra rừng, triển khai việc tuyên truyền nâng cao nhận thức tại các làng xung quanh Khu bảo tồn, các hoạt động làm giảm thiểu các đe doạ bằng việc xây bếp lò cải tiến và hầm Biogas
để giảm nhu cầu về củi đun, cùng với sự hỗ trợ của các chương trình dự án, năm 2010 Quỹ bảo tồn Việt Nam (VCF) đã vận động được người dân, không canh tác nương bãi tại vùng bảo vệ nghiêm ngặt ( khu vực Lũng Đẩy 3,5ha Kha Mỉn 0,4ha, trung tâm KBT, việc chăn thả gia súc tự do và làm nương bãi
Trang 13đã có từ nhiều năm nay của người dân xung quanh khu bảo tồn, và ngay tại vùng bảo vệ nghiêm ngặt đã được hạn chế
Tuy nhiên cũng như ở bất cứ KBT nào trên thế giới khi cuộc sống người dân chưa ổn định, áp lực lên KBT và nguy cơ xâm hại giá trị ĐDSH, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên vẫn còn phổ biến Hệ sinh thái rừng của KBT Vượn Cao Vít hàng ngày vẫn phải chịu sức ép của cộng đồng người dân sống xung quanh Các nhu cầu cơ bản hàng ngày về gỗ làm mới nhà cửa, phai nước, sử dụng củi để đun nấu, thu hái các LSNG , vẫn được người dân khai thác sử dụng phục vụ cho đời sống hàng ngày, kết hợp với quá trình canh tác, chăn thả gia súc không hợp lí của người dân , Tất cả đã góp phần làm cho diện tích các khu rừng trong KBT bị suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng, điều quan trọng nhất là diện tích rừng suy giảm cùng với các hoạt động săn bắt, khai thác tài nguyên rừng đã là những nguyên nhân chính gây chia cắt sinh cảnh sống làm giảm nguồn thức ăn, khu vực cư trú và di chuyển của VCV
Một chiến lược dài hạn cho bảo tồn các loài thực vật để mở rộng sinh cảnh Vượn là rất cần thiết, đặc biệt trong vùng bảo tồn nơi mà bị tác động mạnh Các nghiên cứu đã được tiến hành về cấu trúc rừng cũng như tái sinh tự nhiên tại các khu vực bị tác động này
Việc nghiên cứu, tìm hiểu về khả năng tái sinh và đề xuất biện pháp kỹ thuật cho công tác quản lý, bảo vệ, phục hồi và sử dụng hợp lý rừng tự nhiên là rất cần thiết để góp phần giải quyết những tồn tại nêu trên, xuất phát từ thực
tiễn đó chúng tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu khả năng tái sinh và một số
Trang 14biện pháp lâm sinh nhằm phục hồi rừng sau canh tác tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, tại Huyện Trùng Khánh, Tỉnh Cao Bằng"
Kết quả đề tài sẽ là nền tảng để phục hồi rừng không chỉ cho khu bảo tồn
Vượn Cao Vít mà còn cho các khu vực khác có địa hình tương tự
Trang 152 Mục đích
Đánh giá được khả năng phục hồi rừng từ các vách rừng, trên cơ sở lựa chọn được các biện pháp lâm sinh nhằm phục hồi và mở rộng sinh cảnh rừng đáp ứng nhu cầu sinh sống và phát triển đàn Vượn trong khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao Vít
3 Mục tiêu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu khả năng tái sinh và bước đầu sử dụng các kỹ thuật lâm sinh
để phục hồi diện tích rừng, khu vực sau canh tác nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi loài và sinh cảnh tại khu bảo tồn Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, đảm bảo về không gian sống và nguồn thức ăn cho vượn Cao Vít
3.2 Mục tiêu cụ thể
1 Đánh giá được khả năng tái sinh khu vực sau canh tác nương rẫy trong
vùng lõi khu bảo tồn;
2 Đánh giá được ảnh hưởng của vách rừng ảnh hưởng tới khả năng gieo giống và hình thức gieo giống trong quá trình tái sinh trên đất sau canh tác
trong vùng lõi Khu Bảo Tồn;
3 Đánh giá được hiệu quả bước đầu của một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi rừng sau canh tác tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn
Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài chọn đối tượng là trạng thái thảm thực vật rừng thứ sinh nghèo phục hồi sau canh tác tại khu vực bảo tồn Vượn Cao Vít, đây là các khu vực
Trang 16lũng được bỏ hóa canh tác trong vài năm trở lại đây và là điểm nối giữa các khu vực sinh sống của vượn Cao Vít
Trang 175 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi về khả năng tái sinh, ảnh hưởng của vách rừng tới khả năng tái sinh và một số biện pháp lâm sinh cần thiết nhằm phục hồi rừng tại vùng bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Giúp cho học viên củng cố kiến thức lý thuyết và kiến thức thực hành
áp dụng vào thực tế
Bước đầu nghiên cứu được các biện pháp kỹ thuật phục hồi sinh cảnh
và đề xuất được các ý kiến cá nhân trong việc bảo tồn và phát triển
Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong phục hồi rừng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Làm sáng tỏ được khả năng gieo giống, hình thức phát tán hạt giống của cây mẹ ở vách rừng, làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thúc đẩy tái sinh ở khu vực trước đây đã làm nương bãi
Khôi phục, phát triển hệ sinh thái rừng tại khu vực nhất là đối với các diện tích rừng trước đây đã bị khai phá làm nương bãi, để làm cơ sở cho công tác bảo tồn có ý nghĩa lớn này
Trang 18
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trong nhất của ngành lâm nghiệp Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây Nghiên cứu về tái sinh rừng là những nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái, nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên có khả năng tái sản xuất mở rộng nếu con người nắm bắt được quy luật tái sinh và điều khiển nó phục vụ cho kinh doanh rừng Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên trên thế giới rất nhiều, một số nghiên cứu và được tóm tắt như sau:
- Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ chỉ khả năng tự tái tạo, hay sự hồi sinh từ mức độ tế bào đến một quần lạc sinh vật trong tự nhiên, các tác giả như Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ này để diễn tả sự lặp lại của quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Tái sinh rừng (Forestry regeneration) cũng để mô tả sự tái tạo của lớp cây con dưới tán rừng
Về đặc điểm tái sinh, theo Van Steenis (1956) [25], đối với rừng nhiệt
Trang 19đới có hai đặc điểm tái sinh phổ biến là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh
mà còn thấy ở cả rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa lớp cây con và tầng cây gỗ được nhiều nhà khoa học quan tâm như Mibbre-ad (1930), Richards (1952), Baur G.N (1964) và Rollet (1969)
Theo Van Stennit (1956) [25] thì đặc điểm tái sinh là “tái sinh phân tán, liên tục”, vì rừng mưa nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạp, khác tuổi nên thời kỳ tái sinh của quần thể diễn ra quanh năm
- Phương thức lâm sinh liên quan đến tái sinh phục hồi rừng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của các phương thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ kết quả nghiên cứu kiểu tái sinh các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh như: Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức kinh doanh rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Taylor (1954), Jones (1960) phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann; Donis và Maudouz (1951, 1954) với phương thức đồng nhất hóa tầng trên ở Java,…
Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng trên những diện tích
Trang 20đã bị mất rừng Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu
Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán Trần Đình Lý (1995) [ 9 ] Các phương thức lâm sinh cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên có hai dạng chính: (i) Duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi bằng cách lợi dụng lớp thảm thực vật tự nhiên hiện có và sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên để thực hiện tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên, hoặc trồng bổ sung Ngoài ra còn có thể sử dụng phương thức chặt chọn từng cây hay từng đám, phương thức cải thiện quần thể và chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên để dẫn dắt rừng có cấu trúc gần với cấu trúc của rừng tự nhiên nguyên sinh (ii)- Tác động rừng theo hướng đều tuổi, có một hoặc một số loài cây bằng phương thức chủ yếu là cải biến tổ thành rừng tự nhiên, tạo lập rừng đều tuổi bằng tái sinh tự nhiên đều tuổi, như các phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng nhiệt đới ; phương thức cải tạo rừng bằng chặt trắng trồng lại; phương thức trồng rừng kết hợp với nông nghiệp (Taungya)
- Thành tựu nghiên cứu phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi ở
ngoài nước
Viện khoa học Quảng Tây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi như: Toona sinensis, Delavaya toxocarpa, Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis trong thời kỳ (1985 -1998) Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của nước này và những hướng dẫn
Trang 21tạm thời về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng Tuy nhiên, những nguyên lý về phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam còn khiêm tốn và đang trong giai đoạn thử nghiệm
- Nghiên cứu khả năng gieo giống từ vách rừng
Đã có một số ít tài liệu đề cập tới ảnh hưởng của tầng cây mẹ đến tái sinh rừng, nhưng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng tái sinh cho một loài cây nhất định Nghiên cứu ảnh hưởng cho cả một hệ sinh tái rừng cho một khu vực hay một sinh cảnh còn rất ít Joshua B Plotkin 2006 [23] trong sự phân tán hạt giống và mẫu không gian cây nhiệt đới (Sự phân tán hạt giống và mô thức không gian trong cây nhiệt đới) khi nghiên cứu 561 loài cây nhiệt đới chính trên 50 ha rừng tại bán đảo Malaysia chứng minh rằng mức độ
và quy mô của sự kết hợp không gian là có tương quan với chế độ phát tán hạt giống, mối quan hệ này giữ cho cây con cũng như đối với cây trưởng thành Căn cứ để Joshua B Plotkin phân chia sự ảnh hưởng của khả năng phát tán của cây rừng dựa trên 5 yếu tố chính đó là: Khả năng tự phát tán của quả (đạn đạo); Trọng lực quả (lực hấp dẫn); hồi chuyển; Nhờ gió và động vật, trong động vật căn cứ vào cấu tạo của quả (Tinh bột, vị) kích thước quả (đường kính) để định lượng mức độ tổng thể của không gian tập hợp cho mỗi loài và
sử dụng quá trình Poission cho phát tán của các loài
1.2 Ở Trong nước
Ở Việt Nam, tái sinh rừng đã quan tâm nghiên cứu từ những thập kỷ 60
Trang 22- Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh rừng
Các kết quả nghiên cứu được Nguyễn Vạn Thường (1991) [16] tổng kết
về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng ở miền Bắc Việt Nam; hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của một số loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ, sự phân bố số cây tái sinh không đều tuổi, số cây mạ
có chiều cao < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở cấp kích thước khác nhau Những loại cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loại cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mản
Lê Đồng Tấn - Đỗ Hữu Thư (1998) [11] Nghiên cứu thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy tại Sơn La qua 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn I (tuổi từ 4 đến 5), giai đoạn II (tuổi 9 đến 10), giai đoạn III (tuổi 14 đến 15) và nhận xét: Trong 15 năm đầu, thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy có
số lượng loài đều tăng lên qua các giai đoạn phát triển Sau 3 giai đoạn phát triển thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy thể hiện một quá trình thay thế tổ thành rất rõ ràng, lượng tăng trưởng của thảm thực vật không cao
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia ra 3 mức độ tái sinh: (i) tái sinh nhân tạo, (ii) tái sinh bán nhân tạo (xúc tiến TSTN), (iii) tái sinh tự nhiên Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [8], biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng
là sự xuất hiện một thế hệ cây của những loài cây ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, còn Trần Xuân Thiệp (1995) [14] cho rằng, nếu thành phần cây tái sinh giống như thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây khác
Trang 23Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009) [ 10 ], thử nghiệm một số phương pháp điều tra tái sinh rừng tự nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy, các phương pháp điều tra tái sinh khác nhau sẽ thu được những số liệu biểu thị tái sinh khác nhau về tổ thành, mật độ, nguồn gốc, chất lượng và hình thái phân bố cây tái sinh Căn
cứ vào sai số giữa các chỉ tiêu biểu thị tái sinh ở các phương pháp điều tra với phương pháp điều tra toàn diện trên 6 ô tiêu chuấn có diện tích 1000m2, tác giả đã lựa chọn được hai phương pháp phù hợp là phương pháp điều tra 5 ô dạng bản với diện tích mỗi ô là 25m2 (5x5m) và phương pháp điều tra theo dải để điều tra tái sinh rừng tự nhiên
Như vây, đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều có nguồn gốc từ hạt và chồi sẵn có, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo
- Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh
Theo Thái Văn Trừng (1978) [17] đã xây dựng quan niệm “Sinh thái phát sinh quần thể ” trong thảm thực vật rừng nhiệt đới và vận dụng để xây dựng biểu phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Theo tác giả một công trình nghiên cứu về thảm thực vật mà không đề cập đến hoàn cảnh thì đó là một công trình hình thức, không có lợi ích thực tiễn Trong các nhân tố sinh thái thì ánh sáng là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá trình TSTN cả ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh
Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và
Trang 24theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường
Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa địa hình và khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật: Ngô Quang Đê, Lê Văn Toán, Phạm Xuân Hoàn (1994) nghiên cứu mật độ cá thể và số lượng loài cây phục hồi sau nương rẫy bỏ hóa tại Con Cuông - Nghệ An; Lâm Phúc Cố (1996) nghiên cứu ở Púng Luông - Yên Bái; Phùng Tửu Bôi - Trần Xuân Thiệp (1997) nghiên cứu ở vùng Bắc Trung Bộ
Mặt khác, cũng theo Thái Văn Trừng [17] một kiểu thảm thực vật có xuất hiện hay không trước hết phụ thuộc vào khu hệ thực vật ở đó và điều kiện khí hậu thổ nhưỡng thích hợp Việc tái sinh phục hồi lại rừng trên đất chưa có rừng ngoài việc bị chi phối bởi khu hệ thực vật thì nó còn chịu ảnh hưởng bởi khoảng cách từ nơi đó đến các khu rừng lân cận Thực vật có khả năng tự phát tán để gieo giống hoặc gieo giống nhờ gió, nhờ nước, nhờ động vật Tuy vậy, phạm vi phát tán để gieo giống của bất kỳ cách thức nào cũng không phải là vô hạn, nên khoảng cách càng xa thì khả năng tái sinh của thực vật càng kém vì càng xa thì mật độ hạt giống đưa đến càng thấp Phạm Ngọc Thường (2001) [15] đã nghiên cứu mối liên quan giữa khoảng cách từ nguồn giống tự nhiên đến khu vực tái sinh trên đất sau canh tác nương rẫy và kết luận: “khoảng cách từ nơi tái sinh đến nguồn cung cấp giống càng xa thì mật
độ và số loài cây tái sinh càng thấp”
- Nghiên cứu về giải pháp về tái sinh phục hồi rừng
Các nghiên cứu liên quan đến phục hồi rừng tự nhiên ở Việt Nam đã được bắt đầu từ những năm 1960, các đề tài nghiên cứu về phân loại rừng, nghiên cứu cấu trúc, động thái, các kỹ thuật khai thác bảo đảm tái sinh, kỹ thuật làm giàu
Trang 25rừng, với các hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam Trong giai đoạn 1991 -
2000, các nghiên cứu về rừng tự nhiên hầu như bị gián đoạn để tập trung cho nghiên cứu trồng rừng, bắt đầu từ năm 2001 trở lại đây, các nghiên cứu về rừng tự nhiên mới được khởi động trở lại
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên (1988) khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ
đó làm cơ sở định hướng các giai pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu Tiếp theo, sự ra đời của thuật ngữ phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” những năm 1990 được coi như một bước tiến vượt bậc về mặt khoa học trong phục hồi rừng
- Nghiên cứu về phục hồi thảm thực vật rừng trên núi đá vôi
Bùi Thế Đồi (2001) [1] đưa ra một số giải pháp phục hồi rừng trên núi
đá vôi:
+ Đối với kiểu phục thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương sẩu ít bị
tác động: khoanh nuôi bảo vệ và cải tạo rừng
+ Kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đá vôi xương sẩu sau khai thác:
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung bằng gieo hạt thẳng
+ Kiểu phụ tái sinh nhân tạo phục hồi sau khai thác: khoanh nuôi xúc
tiến tái sinh có trồng bổ sung và trồng rừng bằng cây con có bầu, không bầu
và gieo hạt thẳng
- Nghiên cứu khả năng gieo giống từ vách rừng
Đã có nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của cây mẹ tới tái sinh cây loài cây
có giá trị và ý nghĩa sinh thái như các nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng tái
Trang 26sinh tự nhiên rừng Dẻ Anh - Castanopsis piriformis Hickel & A Camus Ngô
Văn Cầm Trung tâm Lâm nghiệp Nhiệt đới - Viện KHLNVN, Nguyễn Toàn
Thắng, Nguyễn Bá Văn đã đưa ra kết quả lượng cây tái sinh không những phụ thuộc vào tuổi và chất lượng cây mẹ mà còn phụ thuộc độ cao phân bố Nghiên cứu đặc điểm phân bố và nguy cơ tuyệt chủng loài cây Pơ mu
Xuân Liên - Thồng Xuân - Thanh Hoá, Bùi Thị Huyền đã có kết luận Pơ mu
có khả năng tái sinh chồi, khả năng tái sinh của loài phụ thuộc rất lớn vào sức
ra hoa quả của cây mẹ Pơ mu ( Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Thông hai lá dẹt (Pinus krempfii) tại
lâm phần thuộc quyền quản lý của VQG Bidoup – Núi Bà Phòng Kỹ thuật & NCKH – VQG Bidoup – Núi Bà đã đưa ra kết quả sự phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất rừng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng hình thành rừng trong tương lai, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiện lập địa, đặc tính sinh vât học, phân bố các cây mẹ gieo giống của loài cây tức là loài cây mẹ cần có hệ số tổ thành lớn hơn 5 trở lên
Về nghiên cứu quần thể có liên quan tới tái sinh trong nghiên cứu đặc
điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) ở các trạng
thái rừng tự nhiên phục hồi tại huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang,
Võ Đại Hải và cộng sự [ 3] đã chỉ ra rằng kết quả nghiên cứu cho thấy Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) là loài có khả năng tái sinh rất mạnh với
hệ số tổ thành có nơi lên tới 5,3 đối với trường hợp Vối thuốc (Schima
wallichii Choisy) tái sinh dưới tán rừng trạng thái IIa và biến động từ 2,1-3,0
Trang 27đối với trạng thái rừng IIb; Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng trung bình đạt
56%; Tỷ lệ cây Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) tái sinh có chất lượng
trung bình và tốt chiếm tỷ lệ rất cao từ 86 - 100%; Cây tái sinh có chiều cao dưới 1m chiếm tỷ lệ 48 - 53%; Mạng hình cây tái sinh có phân bố đều Sở dĩ
có kết qủa trên là do tại các trạng thái IIb tỷ lệ cây mẹ gieo giống đã vựợt trội các trạng thái rừng khác
- Nghiên cứu về sinh cảnh Vượn Cao Vít
VCV cũng như các loài vượn mào khác sống trong nhiều sinh cảnh rừng, phụ thuộc vào độ cao có thể là sở thích hoặc sự thích nghi đặc thù của loài Theo nghiên cứu trước đây, vượn mào thường sống tại các khu rừng thứ sinh còn có khả năng đáp ứng được điều kiện sống cho chúng và những khu rừng nguyên sinh, chúng hầu như không có mặt ở những khu rừng bị tàn phá mạnh Theo Đào Văn Tiến, 1985 [12] thì VCV sống tại trung tâm của khu vực miền Bắc, trong các khu rừng trên núi đá vôi và rừng núi thấp, trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm ướt, ở độ cao 50-900m Chúng kiếm ăn ban ngày và sống ở trên cây và rất hiếm khi xuống đất, thức ăn chứa trong dạ dày chủ yếu
là các loại quả (Geissmann, 2000) [ 21 ]
Hiện trạng rừng khu vực VCV đang sinh sống là rừng trên núi đá vôi, bị tác động mạnh của con người từ rất nhiều năm trước, nên rừng có chất lượng
kém Các loài cây gỗ lớn đặc trưng như nghiến (Burretiodendron hsienmu) bị
khai thác mạnh, chỉ còn ít cây tái sinh Độ che phủ của rừng ở Trùng Khánh là 33%, tuy nhiên trữ lượng rừng lại rất thấp, rừng chỉ có hai tầng đó là tầng cây cao và tầng cây bụi xen lẫn cây tái sinh Ở tầng cây cao không có cây lớn, chỉ còn cây nhỡ và nhỏ phân bố rải rác, độ tàn che thấp Đây là điều không thuận
Trang 28lợi cho mọi hoạt động sống của vượn Theo Nguyễn Thị Hiền, 2009 [ 4 ] các kết quả quan sát ghi nhận vị trí xuất hiện, kiếm ăn, vị trí ngủ của VCV nhận thấy VCV thường xuyên xuất hiện và kiếm ăn ở các kiểu rừng như sau: kiểu rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở thung lũng núi đá vôi, kiểu rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở sườn núi đá vôi; kiểu rừng á nhiệt đới thường xanh hỗn giao cây lá rộng và hạt trần ở đỉnh và phụ cận đỉnh núi đá vôi; kiểu trảng bụi nhiệt đới thường xanh thứ sinh Theo nghiên cứu của Pengfei, 2010 [24] khi thực hiện nghiên cứu cấu trúc sinh cảnh của VCV bằng việc đo đếm các chỉ tiêu về chiều cao cây, chiều cao thân cây cho 911 cây có đường kính từ 10cm trở lên đã xác định được 114 loài của 79 chi và 40 họ tham gia vào cấu trúc của rừng, cây có chiều cao từ 9 – 32m Cũng trong nghiên cứu này, Pengfei xác định được vùng sống của VCV dao động từ 1,024 – 1,191km2/đàn sau khi theo dõi 3 đàn vượn bên Trung Quốc
Theo quan điểm của tác giả, sinh cảnh sống của VCV phải bao gồm tất
cả các mối quan hệ về mặt cấu trúc lâm phần bởi sự tham gia của tất cả các loài thực vật và động vật khác mà giúp chúng có thể di chuyển, kiếm ăn và duy trì được cuộc sống tại nơi đó, các nghiên cứu trên chưa phản ảnh hết được các mối quan hệ này
Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng, biện pháp phục hồi rừng và nghiên cứu về sinh cảnh sống của Vượn Cao Vít trên đây đã làm sáng tỏ phần nào cho chúng ta để hiểu biết về đặc điểm tái sinh rừng, các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng, các phương pháp phục hồi rừng chủ yếu hiện nay Tuy nhiên các nghiên cứu về phục hồi rừng ở khu vực miền núi phía Bắc còn ít ỏi và tản mạn nhất là các khu vực rừng trên núi đá vôi, hạn
Trang 29chế này gây khó khăn cho việc phục hồi và phát triển tài nguyên rừng Xuất
phát từ những tồn tại nêu trên, việc nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu khả năng
tái sinh và một số biện pháp lâm sinh nhằm phục hồi rừng sau canh tác tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, tại Huyện Trùng Khánh, Tỉnh Cao Bằng" là hướng đi đúng đắn và thiết thực trong công tác phục hồi
và phát triển rừng
1.3 Đặc điểm cơ bản của khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lí
Khu bảo tồn Vượn Cao Vít tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (KBTVCV) được thành lập theo quyết định số 2536/QĐ – UBND ngày 15 tháng 11 năm 2006 của tỉnh Cao Bằng, nằm hoàn toàn trong địa phận 3 xã Phong Nậm, Ngọc Côn, Ngọc Khê – 3 xã phía Bắc của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Khu bảo tồn tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Tây Bắc Khu Bảo tồn Vượn Cao Vít có tọa độ địa lý trong phạm vi:
+ Từ 22053’ đến 22056,4’ Vĩ độ bắc
+ Từ 106030’ đến 106033’ Kinh độ đông.
Trang 30Trùng Khánh
Hình 2.1 Vị trí khu vực nghiên cứu huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
(Nguồn: BQL Khu bảo tồn Vượn Cao Vít)
Hình 2.2: Bản đồ Khu bảo tồn Vượn đen Cao Vít Trùng Khánh
Trang 31Hình:2.2 Sơ đồ Khu bảo tồn Vƣợn Cao Vít
( Nguồn: FFI)
Tổng diện tích của Khu bảo tồn Vượn Cao Vít là 1656,8 ha, nằm hoàn toàn trên địa bàn 3 xã Ngọc Côn, Ngọc Khê và Phong Nậm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Vùng đệm xung quanh KBT với diện tích 5723 ha, là toàn bộ phần diện tích còn lại của ba xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn
1.3.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng
Địa hình gồm các dãy núi đá vôi xen lẫn các thung lũng Các dãy núi đá vôi bị chia cắt hình thành các dốc đứng và tháp nhọn riêng biệt, nằm rải rác ở một số nơi tại các thung lũng bằng và nhỏ Độ cao so với mặt nước biển trung bình của khu vực từ 500 đến 800m, cao nhất là 921m Ở độ cao 500m so với mực nước biển nằm dọc bên sông Quây Sơn và lấp bằng bởi phù sa và một phần bởi lớp đá vôi xốp mỏng Phần đất thấp nhất này của khu vực được sử dụng để canh tác nông nghiệp Còn ở độ cao từ 600- 800m so với mặt nước biển chủ yếu là các đồi núi đá vôi Các đồi núi đá vôi này có sườn rất dốc và nhiều vách dựng đứng Đá ở phần dưới và giữa sườn thường có lớp đất đá nhưng ở phần trên, đường đỉnh và đỉnh có kết cấu cứng với dạng bào mòn thẳng đứng đặc trưng Song đó lại là môi trường sống độc đáo cho một số loài thực vật bám đá khác biệt, đặc hữu và hiếm và cũng là nơi sinh sống của Vượn Cao Vít - một trong những loài vượn quí hiếm nhất và có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ
Các loại đất chính gồm:
- Đất phù sa không bồi đắp
- Đất các bon nát
Trang 32ở phía Đông và Đông Nam chủ yếu là đồi trọc đã được giao khoán, khoanh nuôi
và trồng rừng cho các hộ gia đình Núi đá vôi chủ yếu nằm ở phía Tây và Tây Bắc dọc theo biên giới Việt - Trung Trong rừng còn có các thung lũng nằm trong các khe của các dãy núi, nhân dân thường khai phá để trồng màu
1.3.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Khu vực hai xã Ngọc Khê, Ngọc Côn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới,
á nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng như: Nhiệt độ không khí bình quân trong năm là 19,80C Mùa lạnh thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong đó từ tháng 12 đến tháng 2, nhiệt độ trung bình thấp hơn 150C Trong đó tháng 1 nhiệt độ trung bình la 11.60 C nhiệt độ thấp nhất trong năm qua là - 30C Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt độ trung bình 26.20
C Lượng mưa trung bình năm là 1.665,5 mm Mưa tập trung vào các tháng 6, 7,
8 hàng năm và thường gây lũ dọc hai bờ sông Quây Sơn làm ngập lúa và sạt
lở hai bên bờ sông Độ ẩm 81 %
Gió: Mùa hè có gió Nam và Đông Nam Mùa Đông có gió mùa Đông Bắc thường bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 3 năm sau là loại gió lạnh thường kèm theo mưa nên có nhiều đợt rét đậm, rét hại Ngoài ra còn xảy ra băng giá, sương muối, mưa đá
Trang 33Hệ thống thủy văn gồm hai nhánh sông chính của sông Quây Sơn bắt nguồn
từ Trung Quốc chảy theo hai hướng từ Ngọc Côn qua Ngọc Khê và qua Phong Nậm Bắt đầu từ Đông Si - Nà Dào - Tẩu Bản - Pác Ngà - Bó Hay (xã Ngọc Côn) với chiều dai 18km rộng trung bình 9m Nhánh thứ hai chảy qua Đà Bè -
Nà Hau - Nà Chang - Giộc Rùng (xã Phong Nậm) rồi chảy về xã Ngọc Khê qua Giộc Sung - Pác Thay - Đỏng Dọa với chiều dài 14m rộng trung bình 8m Hai nhánh này chảy qua ba xã và bao quanh KBT rồi gặp nhau tại Giàng Nốc Ngoài
ra khu vực các xã còn có nhiều ao, hồ đặc biệt xã Ngọc Côn còn có hồ Bó Yươi (Bản Mài) rộng khoảng 2ha cung cấp một lượng lớn tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp của 2 xóm Mìa và Nhom (xã Ngọc Khê)
1.3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội
1.3.2.1 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội xã Ngọc Khê
Tổng diện tích của xã là 2.810,37 ha đất tự nhiên Xã có 10 xóm gồm: Giộc Sung, Nà Lỏng - Nà Gạch, Pác Phiao - Pác Thay - Đỏng Dọa, Ta Nay,
Đỏng Ỏi, Giộc Sâu, Lũng Hoài, Nhom, Nà Bai - Kha Muông
* Dân số và dân tộc
Theo số liệu điều tra năm 2012 xã Ngọc Khê có 602 hộ với 2443 khẩu
Gồm các dân tộc cùng chung sống đó là Tày, Nùng, Kinh
Bảng 1.1 Dân số xã Ngọc Khê năm 2012
TT Dân tộc
Số hộ Số nhân khẩu
Ghi chú
Số lượng (hộ)
(khẩu)
Tỉ lệ (%)
Trang 342 Nùng 107 17.8 428 17.52%
Tổng 602 100 2443 100
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của ban dân số KHHGĐ xã Ngọc Khê)
Bảng 1.1 Thành phần dân tộc xã Ngọc Khê chủ yếu là dân tộc Tày 495
hộ chiếm 82.2% với 2014 khẩu chiếm 82.44%, dân tộc Nùng có 107 hộ chiếm 17.8% với 428 khẩu chiếm 17.52%, dân tộc Kinh có 1 người chiếm 0.04%, dân tộc Kinh là người từ dưới xuôi lên lấy vợ (chồng) người Tày con cái của
họ khai sinh lấy dân tộc Tày và sinh hoạt theo phong tục Tày
* Văn hóa xã hội
Giáo dục: Xã Ngọc Khê có 02 trường tiểu học là Trường tiểu học An Hỷ
và Tiểu học Ngọc Khê và 01 trường THCS Ngọc Khê Trong năm học
2010-2012, xã có 09 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 35 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, 2 giáo viên chưa đạt chỉ tiêu, có 23 học sinh giỏi, 118 học sinh khá, 278 học sinh trung bình, 50 học sinh yếu Qua đánh giá việc thực hiện, công tác giáo dục đã đạt được nhiều kết quả tích cực Luôn duy trì nâng cao chất lượng dạy và học kiểm tra thường xuyên hệ thống thành
tích đảm bảo sĩ số học sinh trong các trường
Về y tế: Trạm xã có 3 cán bộ trong đó 1 y sỹ; 1 y học cổ truyền và 2 nữ
hộ sinh, 1 nữ hộ sinh kiên dược tá Có 10 y tế thôn bản trong đó đã qua đào tạo 9 tháng là: 7, qua đào tạo 3 tháng là 2, chưa qua đào tạo 1 Chăm sóc khám chữa bệnh cho nhân dân duy trì được thường xuyên 4033 lượt người Nhìn chung đội ngũ cán bộ làm công tác Y tế dân số KHHGD hoạt động đều
Trang 35đã tuyên truyền trực tiếp được 33 lần, 1615 lượt người nghe, thăm hộ 2314 lần, tạp san 298 quyển, mặc dù gặp không ít khó khăn nhưng với sự cố gắng của tập thể cán bộ từ xóm đến xã làm tốt công tác tuyên truyền vận động
Hệ thống điện lưới: Trên địa bàn toàn xã Ngọc Khê đã có điện, nhờ có điện mà mọi sinh hoạt của người dân được thuận lợi hơn
Về hệ thống đường giao thông: Các xóm được hỗ trợ làm đường bê tông nông thôn, hiện nay hoàn thành và nghiệm thu đưa vào sử dụng tại các xóm như: Xóm Pác Phiao, Nà Bai - Khả Mong, Ta Nay, Pác Thay, Đỏng Ỏi, Lũng Hoài Đường giao thông liên xóm tuyến Pác Thay - Giộc sung- Nà lỏng khởi công từ tháng 8 năm 2009 đến 30 tháng 11 năm 2012 hiện nay đã hoàn thành
và bàn giao đưa vào sử dụng Tuyến đường giao thông Giộc Sâu - Hang Ngườm Hoài, Bản Nhom đã giải phóng mặt bằng và hiện nay đang thi công Thông tin liên lạc: Việc liên lạc của người dân phụ thuộc vào bưu điện văn hóa xã, đồng thời là thư viện để bà con trong xã đến đọc và tìm hiểu kỹ thuật phục vụ sản xuất, cuộc sống Hiện nay khoảng 95% số hộ được xem truyền hình, 80% số hộ có điện thoại Đặc biệt là có thể hiểu được những
chính sách của Đảng và nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội
Hệ thống thủy lợi: Xã có hệ thống kênh mương Bắc Trùng Khánh chạy dọc hai bên bờ sông Quây Sơn, hiện nay đang thi công xây dựng tuyến mương nội đồng, xã hỗ trợ 8 giếng khoan tại 5 xóm cung cấp nước sạch cho người dân
1.3.2.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội xã Ngọc Côn
Theo Nghị định số:183/2007/NĐ- CP của Chính phủ, xã Ngọc Côn được thành lập với 2.367,63 ha diện tích đất tự nhiên, đến năm 2011 cả xã có 535
hộ với 2.523 nhân khẩu Xã Ngọc Côn gồm có 09 đơn vị hành chính trong đó
Trang 36có 07 xóm giáp biên giới quốc gia, đường biên giới dài 13,5km đó là Đông Si
- Nà Dào, Pác Ngà - Bó Hay, Phia Muông, Pò Peo, Phia Mạ, Khưa hoi, Keo giáo, Bản mài, Phia Siểm
* Dân số và dân tộc
Theo số liệu điều tra năm 2012 xã Ngọc Côn có 535 hộ với 2523 khẩu Với
3 dân tộc cùng chung sống đó là Tày, Nùng, Kinh
Bảng 1.2 Dân số xã Ngọc Côn năm 2012
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của ban dân số KHHGĐ xã Ngọc Côn)
Thành phần dân tộc Tày có 533 hộ, chiếm 99.63% với 2509 khẩu chiếm 99.45%; dân tộc Nùng có 2 hộ chiếm 0.37 % với 10 khẩu chiếm 0.4 %; dân tộc Kinh có 4 người chiếm 0.15%, dân tộc Kinh là người từ dưới xuôi lên lấy
vợ (chồng) người Tày con cái của họ khai sinh lấy dân tộc Tày và sinh hoạt theo phong tục Tày
* Văn hóa xã hội:
Về giáo dục: Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, tỉ lệ con em đến trường đạt 100%, phát động phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, nói không với tiêu cực trong thi cử Xã có 01 trường mầm non, 02 trường tiểu học Trong đó có 163 học sinh tiểu học với 20 giáo viên giảng dạy, số trẻ mẫu giáo
Trang 37119 em với 08 giáo viên Theo kết quả kiểm tra của phòng Giáo dục các trường đều đạt loại khá Cơ sơ vật chất trường học được nhà nước quan tâm đầu tư, nhà trường đã chăm lo bán trú được cả lớp 1, 2 Bên cạnh đó xã còn nhiều khó khăn như thiếu trang thiết bị dạy và học, nơi vui chơi cho các cháu mầm non…
Về y tế: Hàng tháng có tổ chức tiêm phòng thực hiện đầy đủ chương trình mục tiêu quốc gia như chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ mang thai, cân trẻ hàng tháng phòng chống suy dinh dưỡng, tổ chức tuyên truyền vận động bà
mẹ trẻ em khám sức khoẻ định kỳ, cấp thuốc bảo hiểm cho nhân dân theo đúng quy định Tuy nhiên, hiện nay Trạm y tế xã Ngọc Côn chưa được xây dựng nên công tác khám chữa bệnh còn phụ thuộc vào trạm y tế xã Ngọc Khê
do đó vẫn còn nhiều khó khăn trong việc chăm sóc sức khoẻ của người dân Giao thông: Các xóm đã có đường bê tông nông thôn với chiều dài 3030m Công trình đường cầu ngầm Phia Siểm - Keo Giáo đang được tiếp tục
thi công Trụ sở UBND, mở rộng trụ sở Trạm y tế xã với diện tích 659.2m2đang được khởi công xây dựng
Hệ thống điện lưới: 100% các xóm trong xã đã có điện để phục phụ cho sinh hoạt hàng ngày cũng như trong sản xuất
Hệ thống thủy lợi được xã quan tâm chú trọng Trong năm qua xã đã chỉ đạo các xóm chủ động tu sửa, nạo vét mương phai, đảm bảo nguồn nước tưới cho sản xuất được 3000m kênh mương
Thông tin liên lạc: Việc liên lạc của người dân phụ thuộc vào bưu điện văn hóa xã, đồng thời là thư viện để bà con trong xã đến đọc và tìm hiểu kỹ
Trang 38thuật phục vụ sản xuất, cuộc sống Hiện nay khoảng 95% số hộ được xem truyền hình, 80% số hộ có điện thoại
1.3.2.3 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội xã Phong Nậm
* Dân số và dân tộc
Số liệu thống kê 2012 cho thấy xã Phong Nậm có 308 hộ với 1.358 nhân khẩu Trong đó 100% số hộ làm nghề nông nghiệp Trong tổng số 1.358 nhân khẩu có 1.146 dân tộc tày chiếm 84,39%; dân tộc nùng có 211 chiếm 15,54%; dân tộc khác chi có 1 người chiếm 0.07%
Bảng 1.3: Dân số xã Phong Nậm năm 2012
TT Dân tộc
chú
Số lượng (hộ)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: UBND xã Phong Nậm năm 2012)
* Văn hóa xã hội:
Về giáo dục: Xã Phong Nậm có hệ thống giáo dục từ mầm non đến trung học cơ sở Hiện nay, trường lớp đã hoàn thành đáp ứng đủ nhu cầu của con em trong xã, cơ sở vật chất của trường tương đối đầy đủ có tủ sách phòng đọc trong xã 100% trẻ đều đi học
Trang 39Về y tế: Trạm y tế xã có 3 người trong đó có 2 y sĩ và 1 hộ sinh Ngoài ra còn có 9 y tế thôn bản, cả xã có 5 tủ thuốc y tế thôn bản tại các xóm Về công tác y tế đã quan tâm chăm sóc sức khoẻ nhân dân thường xuyên, trạm luôn đẩy mạnh triển khai các hoạt động tuyên truyền vận động các chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình đạt kết quả tốt
Giao thông: Xã có đường giao thông trục chính chạy dọc xã từ Bắc xuống Nam qua xã Khâm Thành tới trung tâm huyện Với sự quan tâm của nhà nước, hệ thống này được nâng cấp tương đối tốt xe ôtô có thể đi vào đến trung tâm xã và một số nơi của xã, nhưng vẫn có một số xóm ở sâu giao thông chưa được thuận lợi như Đà Bè, Lũng Điêng
Hệ thống điện lưới: Được đầu tư của nhà nước, phần lớn số hộ trong xã đều có điện lưới quốc gia phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân cải thiện rõ
bộ mặt nông thôn miền núi
Hệ thống thuỷ lợi: Cả xã có hệ thống kênh mương tự chảy (kênh Cò Pao) chạy dọc theo 2 bên sông Quây Sơn từ đầu xã đến cuối xã, đây là công trình thuỷ lợi chủ yếu cung cấp nước cho toàn xã
* Nhận xét chung
- Thuận lợi
Địa bàn ba xã Ngọc Khê, Ngọc Côn, và Phong Nậm được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều và hệ thống sông Quây Sơn chạy xung quanh địa bàn hai xã rất thuận lợi cho việc gây trồng các loại cây nông nghiệp, địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi và thung lũng thảm thực vật phong phú có nhiều loài đặc hữu, đây cũng là tiềm năng cho phát triển ngành lâm nghiệp và sinh kế cho người dân vùng đệm KBT
Trang 40Là các xã vùng sâu, vùng xa, giáp biên giới nhưng nhân dân ba xã luôn nhận được sự quan tâm, ưu ái của nhà nước Cơ sở hạ tầng đang dần hoàn thiện, công tác giáo dục, y tế luôn được quan tâm phát triển, 100% các xóm
có điện, phần lớn các xóm đã có đường bê tông thôn bản tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu buôn bán của người dân, đồng thời là các xã giáp biên giới nên có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu, buôn bán trao đổi hàng hóa với nước bạn
Thông tin liên lạc phát triển, người dân được tiếp thu với nhiều nền văn hóa mới qua các phương tiện báo chí, truyền hình, điện thoại
Cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn và thiếu thốn đặc biệt là về y tế và trường học, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân
Trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế việc tiếp thu với nền văn hóa mới, chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng còn gặp nhiều khó khăn Các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm về tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho người dân còn ít và không đồng đều