Xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng là một trong những giải pháp có hiệu quả để phòng chống nguy cơ sa mạc hoá đất vùng đồi núi, góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho hàng chục triệu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lâm sản, bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinh thái và phòng hộ môi trường Ngày nay, giá trị phòng hộ môi trường đã vượt xa giá trị cung cấp lâm sản truyền thống Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với 3/4 diện tích là đồi núi và thường xuyên phải chịu những trận mưa, bão lớn thì rừng phòng hộ, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn có vai trò rất quan trọng Xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng là một trong những giải pháp có hiệu quả để phòng chống nguy cơ sa mạc hoá đất vùng đồi núi, góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho hàng chục triệu người, cung cấp thêm nhiều loại gỗ và lâm sản ngoài gỗ có giá trị phục vụ cuộc sống và phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Hồ Yên Lập là công trình thuỷ lợi lớn nhất tỉnh Quảng Ninh được xây dựng từ những năm 1980 trên khu vực huyện Hoành Bồ với tổng diện tích là 18.502 ha, lưu vực hồ Yên Lập rộng 9.120 ha với dung tích thiết kế là 127 triệu m3 nước Hồ có nhiệm
vụ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho cho các vùng lúa trọng điểm ở thị xã Yên Hưng, Hoành Bồ và thành phố Uông Bí, trong tương lai được thiết kế mở rộng lấy nước phục vụ cho khu vực đảo Tuần Châu, cảng Cái Lân, thành phố Hạ Long…
Theo thời gian, rừng nơi đây đã bị khai thác và lợi dụng với nhiều mục đích, đến nay nguồn tài nguyên rừng đã bị suy giảm đáng kể về số lượng và chất lượng Kết quả sau 18 năm hoạt động (1980 - 1998) công suất cung cấp nước của hồ chỉ còn 60% theo thiết kế (GS Lê Quý An, dẫn theo báo nhân dân 5/6/1998) Diện tích mặt nước của hồ chỉ còn từ 5.000 - 6.000 ha So với yêu cầu từ 10.000 - 15.000 ha Một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm công suất hoạt động của hồ là sự suy giảm lớp thảm thực vật ở lưu vực lòng hồ Chỉ tính riêng năm 2003 và 6 tháng đầu năm 2004 đã có hơn 100 ha rừng tự nhiên trên lưu vực hồ bị tàn phá để lấy đất trồng cây ăn quả và cây lương thực (Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập, năm 2007) Điều này đã dẫn đến suy giảm khả năng duy trì
Trang 3nguồn nước của hồ, đồng thời làm giảm tuổi thọ của hồ do quá trình rửa trôi, bồi lắng đất, đá xung quanh xuống lòng hồ
Là một công trình thủy lợi chứa nước lớn của tỉnh Quảng Ninh, khu vực phòng hộ hồ Yên Lập được rất nhiều dự án phát triển lâm nghiệp trong huyện, tỉnh
và quốc gia quan tâm như dự án 327, dự án 661, với mục tiêu chủ yếu là phát triển rừng phòng hộ, tăng độ che phủ của rừng trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội và ổn định đời sống người dân địa phương
Dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010 tại vùng hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh được triển khai với mục tiêu bảo vệ diện tích rừng hiện có, trồng phủ xanh những diện tích đất trống để làm tăng độ che phủ của rừng, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống đồi núi trọc tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo,…Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất của Dự án là xây dựng rừng phòng hộ cho khu vực hồ Yên Lập Ngoài ra, dự án 661 đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao độ che phủ của rừng toàn tỉnh từ 36,3% của năm 1999 lên 52,02% vào năm 2010
Kết quả và ý nghĩa mà dự án 661 mang lại trong việc xây dựng và phát triển rừng phòng hộ là rất lớn đối với khu vực hồ Yên Lập, huyện Hoành Bồ nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu, đánh giá nào một cách toàn diện và hệ thống vấn đề này, chủ yếu mới dừng lại đánh giá tình hình triển khai thực hiện kế hoạch Xuất phát từ yêu cầu đó, việc thực
hiện đề tài "Đánh giá kết quả thực hiện dự án 661 tại khu vực rừng phòng hộ hồ
Yên Lập - Quảng Ninh giai đoạn 1998 - 2010" là rất cần thiết và có ý nghĩa thực
tiễn to lớn nhằm tổng kết và đánh giá được kết quả trồng rừng, bảo vệ rừng phòng
hộ đầu nguồn dự án 661 tại vùng hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh, rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất một số khuyến nghị cho việc phát triển mở rộng
Trang 4Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Đánh giá dự án
Ngày nay, “Dự án” đã được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới Dự
án có nhiều quy mô khác nhau, có những dự án tầm cỡ quốc tế, quốc gia, có những
dự án của doanh nghiệp và có cả những dự án của cá nhân hay hộ gia đình [1]
- Theo Cleland và King (1975) thì Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố nhân lực và trí lực trong một thời gian nhất định để đạt được mục tiêu cụ thể Vấn đề quan trọng được đặt ra là dự án phải có mục tiêu nhất định và quá trình thực hiện dự
án phải hướng tới các mục tiêu đó
- Theo Clipdap: Dự án là một tập hợp các hoạt động để giải quyết một vấn
đề hay hoàn thiện một trạng thái đặc biệt nào đó Nội dung được nhấn mạnh ở đây là các hoạt động có tính định hướng của dự án để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó
- Theo tài liệu hội thảo PIMES [28] đã đưa ra hai khái niệm:
+ Dự án là quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm đạt được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó
+ Dự án là quá trình phát triển có kế hoạch, được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu cụ thể với khoản ngân sách xác định trong thời gian xác định
Thông thường thì trong vòng 3 năm hoặc 5 năm sau khi kết thúc dự án thì các Bộ hay Công ty độc lập sẽ tiến hành đánh giá dự án Tâm điểm là đánh giá tác động và tính bền vững của dự án so với mục tiêu ban đầu Trong sổ tay hướng dẫn Giám sát đánh giá của Ngân hàng thế giới cũng đã đưa ra nhiều khái niệm và phương pháp đánh giá tác động cho các dự án Tuy nhiên, tất cả chỉ mang tính khái quát chung chung do đó việc áp dụng các lý thuyết và hướng dẫn này cũng cần phải linh hoạt [47]
Trong quá trình thực hiện dự án, hoạt động đánh giá có thể được tiến hành vào những giai đoạn quan trọng, thường gọi là đánh giá giai đoạn Có nhiều tác giả
Trang 5cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan mà quan trọng nhất là người hưởng lợi từ dự án [41]
Theo tài liệu nghiên cứu của các tác giả trên thế giới như Jim Woodhill, Lisa Robins, Joachim Theis, Heather M Grady [dẫn theo 8] đã phân chia thành hai loại đánh giá: Đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình Đánh giá mục tiêu là xem xét liệu dự án có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào phân tích các chỉ số đo đạc, hiệu quả thu được Đánh giá tiến trình là mở rộng diện đánh giá hơn
so với loại đánh giá trên, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét nhiều vấn đề của dự án
Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả dự án trong đó có hiệu lực thực thi Từ sau năm 1990, các hoạt động đánh giá được thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tác động dự án, tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000) Hiện nay, việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá, bao gồm tất cả các thay đổi về sinh thái, văn hoá - xã hội, kinh
tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi các hoạt động của một chương trình,
dự án
FAO (1979) đã xuất bản tài liệu “Phân tích các dự án Lâm nghiệp” do Hans
M - Gregersen và Amoldo H Contresal biên soạn Đây là tài liệu giảng dạy dùng cho các địa phương mà tổ chức FAO có đầu tư dự án trồng rừng và phát triển lâm nghiệp; tài liệu này tương đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả các dự án lâm nghiệp ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta
FAO [37] nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng Cũng theo FAO (1996) [38], một dự án đầu tư trong lâm nghiệp dù có đạt được hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, B/C ) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm tạo thêm thu nhập cho cộng đồng, ) và hiệu quả môi trường (ô nhiễm, xói mòn đất, ) thì không được coi là một dự án bền vững
Trang 61.1.2 Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng
Để có cơ sở khoa học cho việc xây dựng và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn thì việc tìm hiểu nguyên nhân xói mòn và hiện tượng xói mòn của đất vùng đầu nguồn rất được quan tâm Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu Ảnh hưởng của kích thước hạt mưa, cường độ mưa, phân bố mưa tới xói mòn đất như công trình nghiên cứu của Hudson HW (1971), Zakharop P.X (1981) Ảnh hưởng của các yếu tố độ dốc, chiều dài dốc, loại đất, lớp thực bì cũng được nghiên cứu và công bố rộng rãi trong nhiều công trình khoa học của các tác giả như Smith D.D và Wischmeier W.H (1957), Ching J.G (1978), Giacomin (1992)
Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất và dòng chảy được nhà bác học Volni người Đức thực hiện trong giai đoạn từ 1877 đến 1885 (Hudson N., 1981) [15] Những ô thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Thực bì, loại đất, độ dốc mặt đất, lượng mưa tới dòng chảy và xói mòn đất Trong công trình này Volni cũng nghiên cứu ảnh hưởng của loại đất và độ dốc mặt đất tới dòng chảy và xói mòn đất Tuy nhiên, phần lớn các kết luận chưa được định lượng rõ ràng
Bằng thí nghiệm trong phòng, Ellison (dẫn theo Hudson N, 1981) [15] cho thấy rằng các loại đất khác nhau có biểu hiện khác nhau trong các pha xói mòn đất
do nước Ellison là người đầu tiên phát hiện ra vai trò của lớp phủ thực vật trong việc hạn chế xói mòn đất và vai trò cực kỳ quan trọng của hạt mưa rơi đối với xói mòn Phát hiện của Ellison đã mở ra một phương hướng mới trong nghiên cứu xói mòn đất, đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mòn và khẳng định khả năng bảo vệ đất của lớp thảm thực vật
Kết quả quan trọng của nghiên cứu xói mòn và khả năng bảo vệ đất, bằng các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã xây dựng được phương trình mất đất ở trường Đại học Tổng hợp Pardiu (Mỹ) vào cuối năm 1950 (Hudson
N, 1981) [15]) Sau đó phương trình này được W H Wischmeier hoàn chỉnh dần (W H Wischmeier, 1978) [46] Phương trình mất đất làm sáng tỏ vai trò của từng nhân tố ảnh hưởng tới xói mòn Nó còn có tác dụng định hướng cho nhiều nghiên
Trang 7cứu sau này nhằm xác định quy luật xói mòn và nghiên cứu các mô hình canh tác bền vững ở các khu vực có điều kiện địa lý khác nhau
Việc nghiên cứu định lượng ảnh hưởng của các yếu tố tới xói mòn đất lần đầu tiên được V.A Sing (1940) đưa ra khi tìm cách xác định ảnh hưởng của chiều dài sườn dốc (L) và độ dốc (S) tác động của xói mòn Sau đó Smith D.D (1941) đã xác định lượng đất xói mòn cho phép và lần đầu tiên đã đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố cây trồng (C), cũng như việc áp dụng các biện pháp bảo vệ đất (P) ở các mức độ khác nhau đến xói mòn đất bằng các công trình nhân tạo Tiếp đó, nhiều phương trình dự báo xói mòn đã được nghiên cứu và công bố, trong đó phương trình của Wischmeier W.H - Smith D.D đã được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi Lượng nước mưa giữ lại trên tán là một trong những chỉ tiêu phản ánh khả năng giữ nước, từ đó ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng Các công trình nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lượng nước mưa giữ lại trên tán lá rừng lá kim ôn đới chiếm tới 20 - 40% (Vương Lễ Tiên và Lý Á Quang, 1991) [22] Những nghiên cứu
về tỷ lệ lượng mưa ngăn giữ bởi tán rừng ở các kiểu thảm thực vật rừng tương ứng với các đới khí hậu khác nhau ở Trung Quốc cho thấy phạm vi biến động của tỷ lệ lượng mưa bị ngăn giữ lại trong khoảng từ 11,4 - 34,3%, hệ số biến động 6,68 - 55,05% Trong đó, tỷ lệ lượng nước mưa giữ lại trên tán rừng lá kim thường xanh á nhiệt đới, trên núi cao ở miền Tây là lớn nhất, của rừng hỗn giao cây lá rộng thường xanh với cây lá rộng rụng lá á nhiệt đới, miền núi là nhỏ nhất (Vu Chí Dân - Christohp Peisert - Dư Tân Hiểu, 2001) [2]
Lượng nước mưa lọt tán đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu Tuy nhiên, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu đảm bảo được độ tin cậy cần thiết khi đưa ra số liệu về thành phần cân bằng nước này (Bruijnzeel L.A., 1990a, 1990b) [34], [35] Nhìn chung, kết quả nghiên cứu lượng nước mưa lọt tán còn rất khiêm tốn, mới đưa ra một số thông tin ban đầu như: tỷ lệ phần trăm lượng nước mưa lọt tán so với tổng lượng mưa của các loại rừng thường đạt từ 75% trở lên, phụ thuộc vào cấu trúc tán lá, chỉ số diện tích lá, đặc điểm mưa và nhân tố gió; năng lượng nước mưa lọt qua tán ở rừng cây gỗ thường lớn hơn năng lượng của mưa ngoài nơi
Trang 8trống; hàm lượng chất dinh dưỡng khoáng trong thành phần của nước mưa lọt tán cao hơn so với nước mưa ngoài nơi trống (Jordan và C F Herrea 1981) [40]
Vật rơi rụng có khả năng ngăn giữ nước tương đối lớn, nên có tác dụng bổ sung nước cho đất và cung cấp nước cho thực vật (Vu Chí Dân & Vương Lễ Tiên, 2001) [3] Ngoài ra, do vật rơi rụng có những lỗ hổng lớn và nhiều hơn so với đất, nên lượng nước ngăn giữ lại dễ dàng bốc hơi Những nghiên cứu của Black và Kelliher, 1998; (dẫn theo Vu Chí Dân & Vương Lễ Tiên, 2001) [3] cho thấy lượng nước bốc hơi từ vật rơi rụng của các kiểu rừng khác nhau chiếm khoảng 3 - 21% tổng lượng nước bốc hơi trên mặt đất rừng
Nhìn chung, đất rừng tự nhiên có khả năng thấm nước cao và ít khi xuất hiện dòng chảy bề mặt Tuy nhiên, khi rừng bị chặt hạ trở nên thưa thớt và độ dốc mặt đất lớn, có thể tạo ra nhiều lượng nước chảy trên bề mặt (Ruxton B P, 1967) [45]; (Imeson A C và Vis, 1982) [39]
Cấu trúc rừng có ý nghĩa rất lớn, nó quyết định đến khả năng phòng hộ của rừng Việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm tìm ra những cấu trúc hợp lý, có khả năng phòng hộ cao là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ Công trình nghiên cứu của Moltranov A.A (1960, 1973) và Matveev P.N (1973)
là những công trình lớn đề cập tới cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn nước Với trang thiết bị tạo mưa nhân tạo, các tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân
tố cấu trúc tới khả năng điều tiết nước, bảo vệ đất của rừng như: cấu trúc tổ thành loài, cấu trúc tuổi, cấu trúc tầng thứ và độ tàn che Những nghiên cứu này đã đặt cơ
sở cho việc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng như việc xác định các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng ôn đới Tuy vậy, do cấu trúc của rừng ôn đới không có lớp thảm tươi cây bụi dày như ở nước ta nên các tác giả chưa chú ý nhiều đến vai trò của tầng mặt đất Ngoài ra, cấu trúc tầng thứ cũng chưa được các tác giả nghiên cứu sâu Những thiếu xót này đã được Lui Wenyao và các cộng sự (1992) bổ sung khi nghiên cứu ở tỉnh Yunnan, Trung Quốc
Trang 91.1.3 Các biện pháp kỹ thuật xây dựng và các mô hình rừng phòng hộ
Ở Liên Xô và Trung Quốc thường dùng công thức để xác định diện tích rừng
chống xói mòn ở đất dốc là: F =
h
K P K
A* 1 * 2
, với F là diện tích rừng bảo vệ dốc
(ha), A là diện tích bậc thang mà diện tích rừng bảo vệ dốc phải phòng chống xói mòn (ha), P là diện tích đồng cỏ mà diện tích rừng bảo vệ dốc phải phòng chống (ha); K1 là độ dày tầng nước mặt lớn nhất của dòng nước mặt sản sinh ra trên mỗi
ha ruộng bậc thang (mm/phút); K2 là độ dầy tầng nước mặt lớn nhất của dòng nước mặt sản sinh ra trên mỗi ha đồng cỏ (mm/phút) và h là sức hút nước của đất rừng (mm/phút) [33]
Đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, một số nước trên thế giới đã áp dụng phương pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, trồng bổ sung, bảo vệ ngăn ngừa các tác động xấu tới rừng Tại Malaysia đã xây dựng rừng nhiều tầng với việc sử dụng 2 loài cây trồng khác nhau; Nhật Bản cũng đã tạo rừng nhiều tầng bằng cách khai thác rừng theo băng rộng 4-5 m và sau đó trồng mới vào các băng rừng đã chặt
Biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ ven biển cũng được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu của V.A Lômitcôsku (1809), Dokuchaep (1982), X A Timiriazep (1983, 1909, 1911) đều cho rằng trên các hoang mạc muốn cải thiện tiểu khí hậu và cải tạo đất phải trồng rừng phòng hộ thành hệ thống đai theo mạng lưới ô vuông, có kết cấu kín, có hỗn giao nhiều tầng Ở Trung Quốc
và các nước Trung Đông, miền Đông và Tây Châu Phi thì Phi lao được coi là loài cây chủ đạo trồng trên các vùng cát thành các hệ thống đai có chiều rộng ít nhất 100
- 200 m Sau đai rừng Phi lao là các đai rừng hỗn giao hoặc thuần loài của Bạch đàn, Keo, Thông nhựa, phía trong cùng sau các đai rừng dùng để canh tác nông nghiệp
1.1.4 Các chính sách tổ chức, quản lý rừng phòng hộ
Từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị giảm sút nghiêm trọng, môi trường sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền núi bị đe doạ thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích hợp nữa Người ta
đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua việc ban bố một số
Trang 10chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên rừng Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippin, ) [dẫn theo 17]
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học cũng
đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng như: Các nhà lâm học Đức (G L Hartig, 1840; Heyer, 1883; Hundeshagen, 1926) [44] đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi; Các nhà lâm học Pháp (Gournand, 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley, 1922) đã đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi,
Vào cuối thế kỷ XX, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì con người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là có hạn và đang bị suy giảm nhanh chóng, nhất là tài nguyên rừng nhiệt đới Nếu theo đà mất rừng mỗi năm khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng nhiệt đới hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ chịu những thảm hoạ khôn lường về kinh tế, xã hội và môi trường [38]
Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999), tại Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hằng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng [42]
Trang 11hoạch can thiệp để giúp cộng đồng dân cư hoặc cá nhân cải thiện điều kiện sống trên một địa bàn nhất định
Ở Việt Nam, các dự án đầu tư cho phát triển rừng đã được tiến hành cách đây trên nửa thế kỷ nhưng chỉ vài chục năm gần đây mới được thực hiện trên quy mô lớn Thời kỳ đầu chúng ta mới chỉ chú trọng đến hiệu quả kinh tế còn hiệu quả về
xã hội và môi trường sinh thái hầu như chưa được quan tâm đến
Phạm Xuân Thịnh (2002) [21], Đàm Đình Hùng (2003) [9] đã đề cập đến một số tác động của dự án về mặt kinh tế, xã hội và môi trường, đúc kết các kinh nghiệm, rút ra những mặt làm được và những mặt còn tồn tại làm cơ sở định hướng phát triển ở giai đoạn hậu dự án và cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, các báo cáo mới chỉ mô tả các hoạt động của dự án, còn đánh giá tác động của dự án mang nhiều tính chất định tính cảm quan hơn là các số liệu định lượng
Lại Thị Nhu (2004) khi “Đánh giá tác động của dự án trồng rừng nguyên
liệu ván dăm giai đoạn 1999 - 2003 của Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên” [14] đã
đánh giá về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, quá trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực mà chưa đi sâu phân tích những tác động tiêu cực của dự án
Dự án “Đánh giá tác động môi trường Lâm nghiệp Việt Nam qua một số mô
hình liên kết quản lý rừng cộng đồng tại Yên Bái và Hà Giang” cũng đã có các
nghiên cứu đánh giá chính sách Lâm nghiệp thông qua các mô hình liên kết quản lý rừng tại hai tỉnh miền núi phía Bắc và cũng có những kết luận và kiến nghị để có thể duy trì thành công của các dự án: (i) rà soát lại các quỹ đất rừng do Lâm nghiệp quản lý; (ii) rà soát lại các hợp đồng khoán QLBV, khoanh nuôi và trồng rừng do các đơn vị kinh doanh quản lý; (iii) kết hợp chặt chẽ chức năng phòng hộ với chức năng sản xuất; (iv) có chính sách cho người hưởng lợi từ khi được giao đất giao rừng hay khoán BVR và trồng rừng; (v) phát triển thị trường lâm sản địa phương; (vi) xây dựng quỹ bảo vệ và tái tạo rừng của thôn bản; (vii) khẳng định vị trí pháp
lý của cộng đồng thôn bản để quản lý sử dụng rừng như những chủ thể khác [25]
Trang 121.2.2 Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng
Nghiên cứu về xói mòn đất là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn Ở nước ta vấn đề này được nhiều tác giả rất quan tâm Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) [11] thì vấn đề xói mòn đất đã bắt đầu được quan tâm ở nước ta từ trước những năm 1954, bước đầu mới chỉ là những biện pháp chống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè cống
Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói mòn đất và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là ở các tỉnh vùng Tây Nguyên Trong thời gian này nhiều khu nghiên cứu quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch và xi măng, gỗ, kim loại, Hàng loạt công trình mang nhiều sắc thái và đi vào định lượng như công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ, Quách Cao Yêm, Hoàng Xuân Cơ (1984) [11] Những công trình nghiên cứu này đã làm rõ ảnh hưởng của nhân tố địa hình tới xói mòn, vai trò chống xói mòn của một số thảm thực vật nông nghiệp, đã chú ý tới độ che phủ gắn liền với các giai đoạn phát triển của cây trồng, định hướng cho việc xây dựng các giải pháp phòng chống xói mòn trên sườn dốc Tuy nhiên, khả năng giữ nước của các thảm thực vật còn ít được chú ý (Phạm Văn Điển, 2004) [4]
Trong công trình nghiên cứu xói mòn đất ở Thanh Hoà (Vĩnh Phúc), Nguyễn Quang Mỹ và Đào Đình Bắc (1985) [dẫn theo 13] đã đưa ra một số nhận xét về đặc điểm xói mòn đất ở Việt Nam như sau: quá trình xói mòn đất ở Việt Nam hiện tượng xói mòn theo bề mặt gây tác hại to lớn hơn cả, tiếp sau là xói mòn theo dòng, còn xói mòn do gió chỉ hoạt động ở một số nơi có điều kiện thích hợp như ở Tây Nguyên và giải đồng bằng hẹp ven biển miền Trung Việc chống xói mòn ở Việt Nam phải mang đặc điểm riêng của miền nhiệt đới ẩm, chứ không thể theo khuôn mẫu của các nước Châu Âu, Châu Mỹ; cường độ xói mòn đất ở Việt Nam rất mạnh (150 - 200 tấn/ha/năm), song các biện pháp chống xói mòn còn rất thô sơ và chưa được triển khai rộng rãi Nhận định này của tác giả có lẽ hơi phiến diện, vì lượng đất xói mòn 150 - 200 tấn/ha/năm chỉ xảy ra ở một số nơi có độ dốc lớn, đất có kết
Trang 13cấu không tốt, nghèo mùn, thảm thực vật trơ trụi, chứ không thể là lượng đất xói mòn bình quân ở nước ta
Nghiên cứu của Phạm Văn Sơn (1994) [20] cho thấy bình quân mỗi năm lòng hồ thủy điện Hòa Bình bị bồi lắng bình quân từ 0,3 - 0,5 m Bồi lắng ở sông
Đà sẽ làm cho hồ chứa nước Hòa Bình bị giảm tuổi thọ từ 250 năm theo thiết kế xuống chỉ còn 50 - 100 năm
Vai trò của rừng trong việc giữ nước là rất quan trọng Nghiên cứu của Võ Minh Châu, 1993 (dẫn theo Vương Văn Quỳnh, 1999) [16] cho thấy sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn sông Ngàn Mọ từ 23.971 ha xuống còn 6.000 ha đã làm cho lượng nước hồ Kẻ Gỗ giảm đi đáng kể từ 340 triệu m3 xuống còn 60 triệu m3 nước,
do đó không đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trên diện tích 6 nghìn ha
Các nghiên cứu của Bùi Ngạnh và Vũ Văn Mễ (1995) [13]; Bùi Ngạnh và Nguyễn Ngọc Đích (1985) [12] cho thấy sự thay đổi dòng chảy mặt ở một số dạng rừng khác nhau, trên cơ sở đó các tác giả đã đề xuất những mô hình bố trí các đai rừng giữ nước trên sườn dốc Năm 1981, Lê Đăng Giảng và Nguyễn Thị Hoài Thu (1981) [5] đã tổng kết kết quả nghiên cứu về khả năng giữ nước, điều tiết dòng chảy của rừng thứ sinh hỗn giao lá rộng tại núi Tiên, Hữu Lũng, Lạng Sơn Các tác giả đã
đề nghị việc xây dựng và thiết kế rừng phòng hộ ở các triền sông phải phát huy được khả năng giữ nước cao nhất của nó trong những thời điểm lượng mưa mùa tập trung cao
Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) [6], Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải (1997) [10] cho thấy vai trò điều tiết nước, chống xói mòn đất của rừng rất lớn: lượng nước mưa bị tán rừng ngăn cản dao động từ 5,75 - 11,6% tùy thuộc vào từng loại rừng; lượng nước tạo thành dòng chảy ngầm và các dạng khác từ 88,2% - 92,5% tổng lượng nước mưa; lượng nước tạo thành dòng chảy bề mặt ở những nơi
có rừng rất thấp, qua đó hạn chế khả năng hình thành lũ và lũ quét Một thành quả được thể hiện rõ nét qua công trình nghiên cứu này là việc xác định cấu trúc hợp lý của thảm thực vật rừng chống xói mòn đất Hai tác giả đã xây dựng được bảng tra
hệ số thảm thực vật (hệ số C) tương ứng với đặc điểm và cấu trúc của một số thảm
Trang 14rừng Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương (2002) [18] đã đưa ra dẫn liệu lưu lượng dòng chảy tại nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với khu vực canh tác nông nghiệp, rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn rừng trồng trong việc giảm dòng chảy mặt; dòng chảy kiệt ở nơi có rừng cao hơn ở nơi không có rừng
1.2.3 Các biện pháp kỹ thuật xây dựng các mô hình rừng phòng hộ
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) thì rừng phòng hộ đầu nguồn phải được xây dựng thành rừng tập trung, liền vùng, nhiều tầng Tại Điều 28 Quyết định 186/TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng quy định: Đối với rừng phòng hộ đầu nguồn phải đạt được độ tàn che
từ 0,6 trở lên để rừng có khả năng duy trì, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, giảm xói mòn Đây là những cơ sở khoa học và pháp lý quan trọng cho việc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn nước ta
Theo Nguyễn Anh Dũng (2006) thì ở nước ta hiện nay có 2 giải pháp kỹ thuật chủ yếu để phục hồi và phát triển rừng, đó là trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, vào khoảng những năm 1950 sau khi miền Bắc được giải phóng, vấn đề này được đề cập đến trong thuật ngữ “khoanh núi nuôi rừng” Tuy nhiên, vì nhiều lí do mà trong một thời gian rất dài sau đó người ta chỉ chú ý đến khai thác
rừng tự nhiên là chính Mãi đến những năm 1990, cái được gọi là “khoanh núi nuôi
rừng” mới được định hình và phát triển theo cụm thuật ngữ “phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” Điều này được thể hiện trong 2 quy phạm ngành
QPN 14-92 và QPN 21-98
Trồng rừng phòng hộ là giải pháp duy nhất để khôi phục rừng trên những vùng đất trống, đồi núi trọc, đất rừng đã bị thoái hoá Trong đó việc lựa chọn loài cây trồng là một khâu rất được chú ý vì nó góp phần quyết định đến khả năng phòng
hộ của rừng Sau nhiều năm tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn, một danh sách gồm
34 loài cây trồng rừng phòng hộ đã được đề xuất cho trồng rừng phòng hộ trên cả nước Hoàng Liên Sơn và các cộng tác viên (2005) [19] đã tổng kết và đưa ra danh
Trang 15sách 50 loài cây, chia làm 4 nhóm chính được sử dụng cho trồng rừng phòng hộ trong Dự án 661 trên phạm vi toàn quốc
Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát và Đào Công Khanh (1997) đã nghiên cứu xác định chủng loại cây bản địa phục vụ cho trồng rừng phòng hộ ở một số vùng trọng điểm Trên cơ sở tiêu chuẩn cây bản địa đưa vào trồng rừng phòng hộ là phải phù hợp với tiểu vùng sinh thái, kết hợp được với nhau, có tác dụng phù trợ lẫn nhau, điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, giữ đất, sống lâu năm, tán lá dày, rậm
và thường xanh, bộ rễ phát triển sâu, các tác giả đã đưa ra mô hình trồng rừng phòng hộ dự tuyển cho 7 vùng sinh thái lâm nghiệp trên cả nước Trong đó, vùng Tây Bắc có 2 mô hình:
+ Thông 3 lá + Táo mèo: 1 hàng (3 x 2m) + 1 hàng (3 x 2m)
+ Long não + Trẩu ta: Rạch 1 hàng (9 x 2m) + băng 2 hàng (3 x 2m)
Võ Đại Hải (2000) [7] trong khi nghiên cứu những giải pháp cho quản lý và xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên đã đưa ra một số mô hình phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn khá thành công là các mô hình tại Kbang – Sơ Pai tiểu vùng Kon Hà Nừng; mô hình trên quốc lộ 22 gần huyện Kông – Plông miền Đông Kon Tum; mô hình gần quốc lộ 20 vùng hồ Thuỷ Tiên - Đà Lạt Đây đều là các đối tượng rừng sau khai thác kiệt và rừng phục hồi sau nương rẫy Sau khi áp dụng khoanh nuôi có trồng bổ sung các đối tượng rừng trên đều phục hồi khá tốt
Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ làm cơ sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng đã được quan
tâm Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã công bố “Kết quả bước đầu
nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước”, trong đó các tác giả đã đánh giá
được năng lực phòng hộ của một số dạng cấu trúc thảm thực vật rừng về mặt chống xói mòn và điều tiết nguồn nước Trên cơ sở đó đề xuất những mô hình rừng phòng
hộ đầu nguồn có cấu trúc hợp lý
Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng tác viên (2005) [19] thì Dự án 661 giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừng trồng phòng hộ đầu
Trang 16nguồn Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh có trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số có tới 188 mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài cây
và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn có thể chia các mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn thành 4 nhóm chính là cây bản địa trồng hỗn giao với nhau và cây bản địa hỗn giao với cây phù trợ; các loài Thông trồng thuần loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Keo trồng thuần loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Tre, luồng trồng thuần loài Trong những năm gần đây, các mô hình này đã đa dạng hơn và được phát triển rộng hơn ở nhiều tỉnh Ngoài ra, rừng tre luồng có khả năng chống xói mòn tốt do lá rụng nhiều và khó phân huỷ, rễ cây nhiều chủ yếu phân bố ở bề mặt đất nên che phủ đất tốt
1.2.4 Các chính sách tổ chức, quản lý rừng phòng hộ
Việc tổ chức quản lý rừng phòng hộ đã được quy định cụ thể trong nhiều các văn bản pháp quy của Nhà nước như Quy chế quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc
dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên ban hành theo Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg
ngày 11/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ [31]; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm
2004 [30]; Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/
QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ [32]; Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển
rừng [29], theo đó việc tổ chức, quản lý rừng phòng hộ nước ta có thể tóm tắt như sau:
Rừng phòng hộ nói chung và rừng phòng hộ đầu nguồn nói riêng được Nhà nước thống nhất quản lý và xác lập thành hệ thống các khu rừng phòng hộ quốc gia
do Bộ NN & PTNT trực tiếp quản lý Trong khung tổ chức quản lý của Bộ NN & PTNT có 2 Cục liên quan đến quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn: 1) Cục Lâm nghiệp (nay là Tổng Cục Lâm nghiệp) - chịu trách nhiệm về các hoạt động phục hồi, phát triển vốn rừng phòng hộ, các chính sách quản lý và khuyến lâm; 2) Cục Kiểm lâm (nay trực thuộc Tổng Cục Lâm nghiệp) - chịu trách nhiệm bảo vệ, phòng chống cháy rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng,… ở cấp tỉnh có Chi cục Lâm
Trang 17nghiệp và Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở NN & PTNT; ở cấp huyện có các phòng Kinh tế (phòng NN & PTNT) và Hạt Kiểm lâm
Mỗi khu rừng phòng hộ được xác lập, tổ chức quản lý theo mục đích sử dụng trên từng địa bàn cụ thể và có chủ quản lý Chủ rừng được giao quản lý rừng và quyền sử dụng đất, chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng theo quy định của pháp luật và không được trái với Quy chế quản rừng phòng hộ, Luật Bảo vệ Phát triển rừng
Tuỳ theo quy mô, tính chất, mức độ quan trọng của mỗi khu rừng phòng hộ đầu nguồn để thành lập Ban quản lý, trường hợp đặc biệt có quy mô diện tích tập trung từ 5.000 ha trở lên được thành lập Ban quản lý, hoạt động theo cơ chế đơn vị
sự nghiệp kinh tế có thu Khu rừng phòng hộ có diện tích tập trung từ 20.000 ha trở lên, được tổ chức Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan Kiểm lâm cấp tỉnh Những khu rừng phòng hộ có diện tích dưới 5.000 ha (tập trung hoặc không tập trung) không thành lập Ban quản lý mà giao cho các tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ, xây dựng
1.3 Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
- Rừng phòng hộ, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn được quan tâm chú ý
ở nhiều nước trên thế giới Các công trình nghiên cứu được tiến hành khá đồng bộ trên nhiều các khía cạnh khác nhau, chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, xác định cấu trúc hợp lí của rừng, thuỷ văn rừng, các biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng và các chính sách tổ chức quản lí rừng, Về đánh giá dự án cũng đã có nhiều nghiên cứu thực hiện ở các mức độ khác nhau, nhìn chung đã xây dựng được phương pháp luận, nội dung đánh giá các tác động của dự án, đặc biệt chú trọng về hiệu quả kinh
tế, xã hội và môi trường Kết quả các nghiên cứu này là những tài liệu tham khảo có giá trị, định hướng cho đề tài nghiên cứu của tác giả
Trang 18- Ở Việt Nam, việc nghiên cứu xây dựng và phát triển rừng phòng hộ, rừng phòng hộ đầu nguồn được Nhà nước đặc biệt quan tâm, rất nhiều các công trình nghiên cứu, các Dự án quy hoạch vùng phòng hộ đầu nguồn được phê duyệt và triển khai Các văn bản pháp luật được ban hành đã tạo hành lang pháp lí quan trọng cho việc xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ở nước ta Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, thủy văn rừng, cấu trúc hợp lí của rừng phòng hộ, việc đánh giá các mô hình rừng trồng phòng hộ cũng được một số tác giả quan tâm nhưng nói chung còn ít Đặc biệt là trong Dự án 661 đã xây dựng một khối lượng khá lớn rừng trồng phòng hộ, nhưng những nghiên cứu, đánh giá về vấn đề này còn rất ít hoặc nếu có thì mới chỉ thực hiện trên diện rộng, thiếu những nghiên cứu cụ thể cho từng vùng
Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập tham gia thực hiện Dự án 661 từ năm 1998, đến năm 2010 đã đạt được những kết quả nhất định Cho đến nay chưa
có một công trình đánh giá nào có hệ thống và toàn diện về các kết quả đã đạt được của dự án tại khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập Xuất phát từ yêu cầu đó đề tài:
"Đánh giá kết quả thực hiện dự án 661 tại khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập -
Quảng Ninh giai đoạn 1998 - 2010" đặt ra là rất cần thiết
Trang 19Chương II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu đề tài
2.1.1 Mục tiêu chung
Nhằm tổng kết và đánh giá được kết quả thực hiện dự án 661 tại rừng phòng
hộ hồ Yên Lập giai đoạn từ năm 1998 – 2010, làm nổi bật được những ưu nhược điểm cả về kỹ thuật, cơ chế chính sách, suất đầu tư và các biện pháp lâm sinh đã áp dụng tại khu rừng phòng hộ hồ Yên Lập Trên cơ sở đó, đề xuất bổ sung các biện pháp làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước sản xuất cũng như nước sinh hoạt không chỉ của người dân ở huyện Hoành Bồ mà còn là nhu cầu nước sinh hoạt của cả thành phố Hạ Long
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được kết quả quản lý và xây dựng rừng phòng hộ hồ Yên Lập;
- Đề xuất được các loài cây và mô hình trồng rừng có triển vọng tại lưu vực phòng hộ hồ Yên Lập;
- Đề xuất và khuyến nghị được một số giải pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách
và suất đầu tư cho 1,0 ha rừng phòng hộ đầu nguồn nói chung và hồ Yên Lập nói riêng trong giai đoạn tiếp theo
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rừng trồng, rừng tự nhiên khoanh nuôi bảo vệ ở
khu vực đầu nguồn của khu vực hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh thuộc Dự án 661 giai đoạn 1998 – 2010
- Giới hạn về địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu gồm 07 xã có liên quan đến lưu vực phòng hộ hồ Yên Lập như sau:
+ Huyện Hoành Bồ có 04 xã: Tân Dân, Quảng La, Bằng Cả, Dân Chủ;
+ Huyện Yên Hưng (nay là Thị xã Quảng Yên) có 01 xã: Minh Thành;
+ Thành phố Hạ Long có 02 phường: Đại Yên, Việt Hưng
Trang 20- Phạm vi nghiên cứu:
+ Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ thuộc Dự án 661, giới hạn trong việc đánh giá diện tích rừng trồng, cơ cấu nguồn vốn đầu tư trồng rừng phòng hộ, loài cây, lập địa, biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ tại Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập
+ Đánh giá chất lượng rừng trồng phòng hộ, chỉ đánh giá tình hình sinh trưởng của rừng trên các dạng lập địa theo các chỉ tiêu D1,3, Hvn, Dt, tỷ lệ sống, độ che phủ, vì điều kiện và thời gian nghiên cứu có giới hạn nên không đánh giá được khả năng phòng hộ của rừng
+ Đánh giá hệ thống cơ chế, chính sách dự án 661, tập trung vào chính sách
tổ chức quản lý triển khai thực hiện dự án, chính sách đầu tư và hưởng lợi
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc Dự án 661 giai đoạn
1998 – 2010
- Về diện tích (diện tích rừng tự nhiên phục hồi, rừng trồng);
- Về độ che phủ của rừng nói chung (so sánh từ năm 1998 với 2010);
- Tình hình quản lý bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn
2.3.2 Tổng kết các biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn
- Về các loài cây trồng;
- Kỹ thuật tạo giống, tiêu chuẩn cây con khi trồng;
- Kỹ thuật trồng (phương thức, mật độ, kích thước hố, phân bón , nông lâm kết hợp,…);
- Đánh giá tình hình sinh trưởng của rừng trồng (D1,3, Hvn, Dtán…);
- Những tồn tại, cần bổ sung
2.3.3 Đánh giá hệ thống cơ chế chính sách, suất đầu tư trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn trong Dự án 661 tại Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập
- Các cơ chế chính sách đã áp dụng;
- Suất đầu tư trồng rừng, quản lý bảo vệ, phục hồi rừng tự nhiên… ;
Trang 21- Những khoảng trống cần bổ sung
2.3.4 Đề xuất và khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và trồng rừng phòng hộ trong thời gian tiếp theo tại Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập
- Giải pháp về kỹ thuật;
- Giải pháp về cơ chế, chính sách;
- Giải pháp về suất đầu tư, …
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu
- Vì quá trình thực hiện Dự án 661 là một quá trình tiếp cận lâu dài từ 1998 –
2010, các mô hình rừng trồng được xây dựng ở nhiều giai đoạn khác nhau, nên việc đánh giá rừng trồng theo phương pháp lấy không gian thay thời gian
- Và cũng vì rừng trồng cũng như các loài thực vật ở rừng trồng luôn luôn ở trạng thái động, nó biến đổi theo thời gian hàng năm, hàng tháng, thậm chí hàng ngày, nên việc đánh giá kết quả của dự án chỉ là tương đối; vì vậy cách tiếp cận là tổng kết đánh giá tại thời điểm hiện tại, sao cho phản ánh một cách tương đối những kết quả của Dự án 661 tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Yên Lập
Để rút ngắn khối lượng và thời gian nghiên cứu, tác giả đã kế thừa một số tài liệu có chọn lọc bao gồm :
- Những văn kiện Dự án, các văn bản của nhà nước như các văn bản Pháp luật, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngang Bộ, Quyết định thực hiện Dự án ;
- Các báo cáo giám sát đánh giá Dự án, các biên bản nghiệm thu, thẩm định,
hồ sơ thiết kế;
- Điều kiện kinh tế, xã hội, tài nguyên rừng vùng Dự án;
- Các qui trình, qui phạm, các kết quả nghiên cứu tham khảo khác đã có, các bảng biểu có liên quan;
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu và báo cáo tổng kết đánh giá thường kỳ đã
có về tình hình thực hiện, triển khai các cơ chế chính sách, các hướng dẫn kỹ thuật,
Trang 22các mô hình lâm sinh áp dụng trong Dự án 661 tại Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập Các văn bản, chính sách chỉ đạo thực hiện, số liệu tổng kết dự án 661 ở Trung ương và của tỉnh Quảng Ninh
- Kết hợp giữa tổng kết và đánh giá của địa phương thông qua các báo cáo tổng kết đánh giá thực hiện dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010 kết hợp khảo sát, đánh giá trên thực tế:
+ Tiếp cận kết quả tổng kết và đánh giá Dự án 661 của địa phương: Tham
khảo báo cáo kết quả thực hiện dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010 của tỉnh Quảng Ninh, các hướng dẫn kỹ thuật, cơ chế chính sách đã áp dụng trong dự án 661 của tỉnh Quảng Ninh
+ Tiếp cận, khảo sát tình hình thực hiện, triển khai dự án và các cơ chế chính sách, các hướng dẫn kỹ thuật các hạng mục lâm sinh trên thực tế: Lựa chọn
các xã, phường, thuộc lưu vực lòng hồ Yên lập thực hiện dự án 661 tại BQL RPHHYL để khảo sát, đánh giá chi tiết
- Việc áp dụng, triển khai các hướng dẫn kỹ thuật, các cơ chế chính sách và các mô hình lâm sinh trên thực tế phải dựa trên sự đồng bộ, phù hợp và thống nhất với trình độ dân trí, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương
2.4.2 Phương hướng giải quyết vấn đề
Đề tài bắt đầu từ việc thu thập các tài liệu, số liệu đã có liên quan đến các nội dung dự án ở Ban quản lý dự án 661 tỉnh Quảng Ninh, Ban Quản lý rừng phòng hộ
hồ Yên Lập về 2 vấn đề:
i) Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ
ii) Cơ chế, chính sách và suất đầu tư cho các hạng mục lâm sinh
Từ đó tiến hành điều tra, khảo sát thực địa để tổng kết và đánh giá các mô hình rừng trồng phòng hộ, các biện pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách đã áp dụng trong thực tiễn để tìm ra những thiếu hụt về kỹ thuật và chính sách làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp cho giai đoạn tới
Phương hướng và cách giải quyết vấn đề của đề tài được mô hình hóa theo
sơ đồ 1 dưới đây:
Trang 23Sơ đồ 1: Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài
2.4.3 Cỏc phương phỏp nghiờn cứu cụ thể
2.4.3.1 Thu thập cỏc thụng tin, số liệu, kết quả nghiờn cứu đó cú
Thu thập các thông tin, số liệu đã có
Đề xuất và khuyến nghị
Phân tích, xử lý thông tin, số liệu
Các thông tin ở các
dự án thực hiện tại BQL hồ Yờn Lập
Điều tra, khảo sát các mô
hình rừng trồng và rừng
tự nhiên ở khu vực phòng
hộ
Trang 24- Thu thập các văn bản hướng dẫn kỹ thuật, các quyết định, chỉ thị của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Lâm nghiệp (nay là Tổng cục Lâm nghiệp), các thông tư hướng dẫn liên bộ và của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, liên quan đến kỹ thuật trồng rừng phòng hộ và chính sách trong dự án 661; các thông tin chung về tình hình thực hiện, triển khai dự án và những vấn đề có liên quan
từ Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh
- Thu thập các báo cáo khoa học, các kết quả nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ, các báo cáo đánh giá dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010 và các báo cáo hàng năm; các mô hình rừng trồng phòng hộ trong thời gian qua trên địa bàn các xã, phường thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập
- Thu thập các hướng dẫn kỹ thuật, cơ chế chính sách, loài cây và các mô hình áp dụng trong dự án 661 của huyện Hoành Bồ Các thông tin, số liệu về tình hình, tiến độ thực hiện dự án tại các Ban quản lý dự án cơ sở khác
3.4.3.2 Phương pháp khảo sát, đánh giá trên thực địa
Phương pháp đánh giá chung được áp dụng là lập ô tiêu chuẩn tạm thời, kết hợp với điều tra sơ thám, các bước của quá trình khảo sát, đánh giá như sau:
a) Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia cử người dân (PRA) và phỏng vấn bán cấu trúc cán bộ kỹ thuật, những người tham gia quản lý, điều hành
và thực hiện dự án 661 tại Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập:
- Điều tra thông qua phỏng vấn hộ gia đình (HGĐ), các thông tin phỏng vấn được ghi chép trong phiếu điều tra HGĐ tại phần Phụ biểu
- Phỏng vấn cán bộ có liên quan cũng được ghi chép vào bảng câu hỏi phỏng vấn Ngoài ra, khi điều tra, có những vấn đề phát sinh, những thông tin mới ngoài
bộ câu hỏi cũng được ghi chép lại làm tài liệu tham khảo
b) Phương pháp thu thập số liệu trên các ô mẫu:
Phỏng vấn cán bộ của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm huyện Hoành Bồ và Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập để nắm được tình hình chung về việc triển khai thực hiện dự án, các hướng dẫn kỹ thuật, các cơ chế chính sách và các mô hình lâm sinh đã áp dụng, các loài cây trồng rừng, biện pháp
Trang 25kỹ thuật (lập địa, xử lý thực bì, làm đất, phương thức trồng, mật độ trồng, bón phân, thời vụ, ) chủ yếu áp dụng trong dự án 661, tình hình tổ chức thực hiện, những khó khăn, vướng mắc mà địa phương gặp phải và các kiến nghị, đề xuất của cán bộ và người dân địa phương
Từ đó chọn ra các địa điểm để điều tra, khảo sát và đánh giá chi tiết, cụ thể như sau:
- Điều tra thực địa 04 điểm nghiên cứu, với mỗi đối tượng rừng (rừng trồng, rừng tự nhiên khoanh nuôi bảo vệ), lập 3 ô tiêu chuẩn hình chữ nhật diện tích 500
m2 (20m x 25m) và 3 lần lặp lại Tổng số ÔTC điều tra là 18 ÔTC, địa điểm cụ thể như sau:
1 Xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ
2 Xã Quảng La, huyện Hoành Bồ
3 Xã Minh Thành, huyện Yên Hưng
4 Phường Đại Yên, thành phố Hạ Long
- Điều tra cây gỗ:
+ Xác định diện tích, loài cây, năm trồng, cấp tuổi;
+ Lập các ÔTC đại diện, điển hình cho khu vực nghiên cứu ÔTC có diện tích 500 m2 (20 m x25 m);
+ Dùng phấn đánh số thứ tự toàn bộ các cây gỗ trong ÔTC có D1.3 6 cm; + Dùng thước kẹp kính để xác định D1.3;
+ Dùng thước đo cao Bumless hoặc sào để đo Hvn;
+ Dùng thước dây để xác định đường kính tán DT;
+ Dùng địa bàn cầm tay xác định độ dốc, hướng dốc, lập ÔTC
- Điều tra cây tái sinh:
+ Trong mỗi ÔTC rừng tự nhiên, lập 4 ô dạng bản (ÔDB), mỗi ô có diện tích
25 m2 (5 m x 5 m) ở 4 góc ÔTC
+ Dùng sào có khắc vạch đến cm để đo chiều cao của cây
- Điều tra cây bụi thảm tươi:
Trang 26+ Trong các ÔDB đã điều tra cây tái sinh tiếp tục tiến hành điều tra cây bụi thảm tươi
Các chỉ tiêu điều tra trong các ÔTC rừng trồng gồm: Loài cây, năm trồng (tuổi rừng) phương thức trồng, mật độ trồng ban đầu, mật độ hiện tại (tỷ lệ sống),
D1,3 hoặc D00 (nếu là cây mới trồng), Hvn, Dt, độ tàn che
Các chỉ tiêu điều tra tầng cây cao trong các ÔTC rừng tự nhiên có đường kính ngang ngực (D1,3 ) ≥6cm gồm: Tổ thành loài, D1,3, Hvn, Dtán, mật độ, độ tàn che Các chỉ tiêu điều tra lớp cây gỗ tái sinh phục hồi trong rừng tự nhiên phục hồi
có đường kính ngang ngực (D1,3 ) ≤6cm gồm: Tổ thành loài, D1,3, Hvn, Dtán, mật
độ Các chỉ tiêu điều tra tầng cây bụi thảm tươi đối với rừng tự nhiên phục hồi gồm:
Tổ thành loài, chiều cao trung bình (H), độ tàn che (kết quả điều tra sẽ được ghi vào mẫu phiếu điều tra chi tiết ở phần phụ biểu)
2.4.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA), thu thập các số liệu, thông tin, kiểm tra tính thực tiễn thông qua quan sát trực tiếp;
- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu điều tra ô tiêu chuẩn, tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng Một số công thức tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng của cây rừng:
3 1
1 3
- D1.3: Đường kính 1.3m trung bình;
- Hvn: Chiều cao vút ngọn trung bình;
- Dt: Đường kính tán trung bình;
- D1.3i: Đường kính 1.3m của cây thứ i;
- Hvni: Chiều cao vút ngọn của cây thứ I;
- Dti: Đường kính tán của cây thứ i;
- n: Số cây điều tra
Trang 27Chương III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Khu rừng phòng hộ hồ Yên Lập nằm ở phía Tây Bắc huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Địa bàn hoạt động nằm trên 04 xã Tân Dân, Bằng Cả, Quảng La, Dân Chủ, thuộc huyện Hoành Bồ và 03 phường: Đại Yên, Việt Hưng thuộc Thành Phố
Hạ Long; phường Minh Thành thuộc thị xã Quảng Yên Tổng diện tích tự nhiên lưu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập là 18.502,0 ha
Tọa độ địa lý:
- Từ 21011' đến 21055' vĩ độ Bắc
- Từ 106050' đến 106057' kinh độ Đông
Địa giới hành chính:
- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang
- Phía Nam giáp thị xã Quảng Yên và thành phố Hạ Long
- Phía Đông giáp Công ty TNHH 1 TV Lâm nghiệp Hoành Bồ
- Phía Tây giáp thành phố Uông Bí
3.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
3.1.2.1 Khí hậu
Vùng dự án có kiểu khí hậu nhiệt đới, chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 với lượng mưa bình quân 1.800 đến 2.000mm, mưa tập trung vào tháng 6 đến tháng 9 hàng năm Về mùa mưa hay có mưa lớn kéo dài gây ra lũ lụt cục bộ Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, trong thời kỳ này thường có gió mùa Đông Bắc, thời tiết lạnh, hanh khô làm cho đất đai trở lên khô hạn ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng
Nhiệt độ không khí bình quân trong năm khoảng 230
C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất khoảng 340C, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất khoảng 100
C
Trang 28Độ ẩm không khí trung bình khoảng 85%, cao nhất đạt tới 90% vào tháng 8
-9, thấp nhất khoảng 70% vào tháng 11-12
Về mùa khô thường xuất hiện sương muối, gió bấc lạnh giá gây thiệt hại cho cây trồng, cây non tái sinh
3.1.2.2 Sông suối, thuỷ văn
Trong vùng dự án hình thành một con sông lớn (sông Míp) với chiều dài 35
km bắt đầu từ thượng lưu thuộc xã Tân Dân đến hạ lưu tại phường Đại Yên Trên dòng sông này đã được nhà nước đầu tư xây dựng một công trình thuỷ lợi cấp Nhà nước với diện tích của lưu vực 1.250 ha có dung tích chứa 125 triệu m3 phục vụ cho sản xuất nông nghiệp thuộc thị xã Quảng Yên và một phần của Thành phố Uông Bí với diện tích trên 11.000 ha cũng như nước sinh hoạt cho nhân dân các xã thuộc đảo
Hà Nam thị xã Quảng Yên Mặt khác nơi đây còn tạo ra một cảnh quan sơn thuỷ hữu tình phục vụ cho nhu cầu du lịch sinh thái
Với điều kiện khí hậu thủy văn như trên có thuận lợi cho công tác khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng Lượng mưa hàng năm lớn kéo dài nên rất đảm bảo lưu lượng nước trong hồ để cung cấp phục vụ cho các vùng lân cận
3.1.3 Địa hình, thổ nhưỡng
3.1.3.1 Địa hình
Địa hình vùng hồ Yên Lập thuộc vùng đồi núi có độ dốc cao với nhiều sông, suối, khe rãnh chia cắt và được chia thành hai phần Bắc và Nam rõ rệt bởi thung lũng đồng bằng nằm trong hai xã Bằng Cả và Quảng La Khu vực phía Bắc đa số thuộc kiểu địa hình núi cao, có độ dốc mạnh từ 310
đến 450 Khu vực phía Nam thuộc kiểu địa hình đồi bát úp xen lẫn đồi cao, có độ dốc phổ biến từ 200 đến 300 Do địa hình tương đối phức tạp nên công tác quản lý bảo
vệ rừng rất khó khăn
3.1.3.2 Thổ nhưỡng
Đất trong lưu vực chủ yếu là đất Feralit màu vàng đỏ có độ dày tầng đất trung bình từ 30 - 80 cm Thành phần cơ giới của đất từ thịt nhẹ đến thịt trung bình Đất gồm có các loại đất chủ yếu sau:
Trang 29- Địa chất thổ nhưỡng trong khu vực hồ Yên Lập tỉnh Quảng Ninh điển hình
là nền địa chất trầm tích
- Bắc lưu vực gồm các loại đá mẹ: Sa thạch, phiến thạch sét, phấn sa
- Nam lưu vực gồm các loại: Sa thạch, cuội kết, sạn kết
3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động
- Trong lưu vực rừng phòng hộ có 7.486 hộ gia đình, với tổng số nhân khẩu 32.438 người Trong đó:
- Trong lưu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập, với số nhân khẩu và lao động trên thì nông nghiệp chiếm tới 97%, còn lại 3% sống bằng nghề tiểu thủ công và thương mại dịch vụ
- Về giao thông trong lưu vực rừng phòng hộ có 76 km đường ô tô, 45 km đường dân sinh Giao thông đi lại khó khăn và xuống cấp trên đường quốc lộ 279 bắt đầu từ đèo Hạ My (giáp huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang) đến thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Trang 303.2.2 Hiện trạng kinh tế xã hội
Nhân dân các xã trong lưu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp nhưng đồng ruộng chênh cao, đất không mầu mỡ, vốn đầu
tư thấp, năng suất lúa đạt chưa cao, đời sống nhân dân gặp khôntg ít khó khăn Trong những năm qua nhờ có Dự án lâm, nông, công nghiệp lưu vực rừng phòng hộ
hồ Yên Lập, Ban quản lý dự án đã phối kết hợp với chính quyền các cấp và nhân dân địa phương sống trên địa bàn nhằm giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn
hộ gia đình, nạn khai thác than trái phép và phá rừng giảm, văn hoá xã hội trong những năm gần đây đã có chuyển biến tích cực, phong trào nhà nước và nhân dân cùng làm đã được chính quyền các cấp phát động rộng khắp nên nhiều công trình xây dựng mang tính chiến lược về điện, đường, trường, trạm, bưu điện văn hoá đã dần dần được cải thiện Mặt khác trong lưu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập đã được đầu tư của các Dự án Định canh định cư, vốn 135 của chính phủ cho các xã Bằng
Cả, Quảng La, Tân Dân và chương trình FAO của Chính phủ Bỉ nhằm nâng cao đời sống nhân dân trong vùng dự án để bảo vệ rừng đầu nguồn Do vậy với những điều kiện kinh tế xã hội trên Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập làm đơn vị nòng cốt
để cho nhân dân nâng cao khả năng hiểu biết các tá dụng của rừng, duy trì lượng sinh thuỷ bền vững
3.2.3 Khu vực phòng hộ hồ Yên Lập
Lưu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập có vị trí chiến lược rất quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và môi trường của tỉnh Quảng Ninh Hồ Yên Lập đã bắt đầu xây dựng hồ vào năm 1975, đến năm 1991 đã vận hành bắt đầu tham gia chống lũ cho hạ lưu và hồ được chính thức đưa vào sử dụng Hồ có khả năng tích một lượng nước khổng lồ đến 125 triệu m3 nhằm giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
- Cung cấp nước ngọt phục vụ sinh hoạt, nông nghiệp cho các huyện Hoành
Bồ, TP Uông Bí, Hạ Long và thị xã Quảng Yên
- Thuỷ sản, cải tạo môi trường vùng và phát triển du lịch
Trang 31Nhận thức rõ tầm quan trọng của rừng phòng hộ hồ Yên Lập, ngày 15/6/1991 UBND tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định số 472/QĐ-UB về việc thành lập Ban quản lý công trình trồng rừng tỉnh Quảng Ninh; tại Quyết định số: 990/QĐ-
UB ngày 20/5/1995 về việc tách ban quản lý công trình trồng rừng thành 02 Ban riêng biệt, trong đó có Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập trực thuộc Sở Nông lâm ngư nghiệp
Ngày 31 tháng 7 năm 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành quyết định số 2474/QĐ-UB về việc chuyển giao Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập về trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đây là một sự thuận lợi lớn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ hồ Yên Lập
Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập đã được thành lập trên diện tích đất
04 xã thuộc huyện Hoành Bồ, một phần của 03 phường thuộc thành phố Hạ Long
và phường Minh Thành thị xã Quảng Yên với tổng diện tích lưu vực hồ Yên Lập là 18.502,0 ha
Để quản lý và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, Ban quản lý rừng phòng
hộ hồ Yên Lập chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng, bảo vệ và phát triển rừng phòng
hộ theo các quy chế đã ban hành
3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Hệ thống tổ chức ngành lâm nghiệp đã được cải tiến và củng cố, Ban quản
lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập là cơ quan trực thuộc Chi cục Kiểm lâm - Sở Nông
Trang 32nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, đảm nhiệm việc tổ chức phát triển rừng và bảo vệ rừng khu vực lòng hồ Yên Lập
- Có hệ thống giao thông đường bộ tương đối thuận lợi, tiện cho việc giao lưu tiêu thụ hàng hoá nông sản
- Nhận được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng về việc xây dựng rừng phòng hộ hồ Yên Lập Trên địa bàn tỉnh có nhiều Dự án rừng phòng hộ được triển khai như Dự án 327, PAM 4304, Dự án 661,…
- Nguồn lợi từ trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng phòng hộ là rất thấp, không đủ
bù đắp sức lao động mà người dân bỏ ra, do đó người dân không thiết tha và nhiệt tình với phát triển rừng phòng hộ tại địa phương
- Do địa hình các khu vực ở vùng cao rất phức tạp nên công quản lý bảo vệ rừng phòng hộ gặp rất nhiều khó khăn
- Chưa đa dạng loài cây cũng như mô hình trồng rừng
Trang 33Chương IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Quá trình hình thành và phát triển Dự án 661
4.1.1 Bối cảnh ra đời của dự án
Dự án quốc gia trồng mới 5 triệu ha rừng được chuẩn bị từ năm 1997, thể hiện nội dung chính của đề án chiến lược phát triển lâm nghiệp mang tên "Đẩy mạnh phát triển trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên" mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Chính phủ năm
1997 Được sự đồng thuận hợp ý đảng, lòng dân gắn liền với chiến lược phát triển
Lâm nghiệp quốc gia, chiến lược phát triển toàn cầu tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa
X đã thông qua Nghị quyết 08 ngày 5/12/1997 về chủ trương đầu tư chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng nhằm trồng mới và khôi phục 5 triệu ha đất rừng phấn đấu đến năm 2010 tổng diện tích rừng sẽ đạt 14,3 triệu ha trên toàn quốc (tăng độ che phủ lên tới 43%) Dự án cho thấy cam kết và ưu tiên của Chính phủ đối với ngành Lâm nghiệp trong những năm tới và cũng để hưởng ứng “Tuyên bố Rio” (UNICED)
và chương trình Nghị sự 21 của Hội nghị Liên hợp quốc 1992 về Môi trường và phát triển [23] Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 661/QĐ - TTg ngày 29/7/1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và
tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (vì thế hay được gọi tắt là Dự án 661)
Thời gian thực hiện từ năm 1998 đến 2010 với các tiêu chí đề ra trồng mới 5 triệu ha rừng, trong đó có 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, 3 triệu ha rừng sản xuất Ngoài ra, khoanh nuôi phục hồi tái sinh tự nhiên 2 triệu ha, bảo vệ diện tích rừng hiện có, đưa tỷ lệ che phủ lên trên 40% diện tích của cả nước; tạo vùng nguyên liệu; tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư Tổng vốn đầu tư cho Dự án khoảng 31.650 tỷ đồng
Cùng với sự nỗ lực của Việt Nam, cộng đồng Quốc tế cũng đã ủng hộ mạnh
mẽ thông qua việc hỗ trợ, tài trợ ngay từ khi thực hiện Dự án, Bộ NN-PTNT đại diện Chính phủ ký kết với 15 đại diện của Cộng đồng các nhà tài trợ, các tổ chức
Trang 34quốc tế, tổ chức phi chính phủ (UNDP, EC, FAO, WB, ADB, JBIC, JICA, WFP, WWF, IUCN, Hà Lan, Đức, Phần Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ), ngày 10 tháng 12 năm 1999 có sự chứng kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn Cho đến nay,
Dự án đã vận hành tốt theo đúng định hướng đặt ra do vậy ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng các nhà tài trợ, nên đã có thêm 4 tổ chức phi chính phủ cùng cam kết hỗ trợ đối tác là: OXFAM/GB, BirdLife, SNV và CARE [24]
4.1.2 Khái quát mục tiêu và nhiệm vụ của Dự án
4.1.2.1 Mục tiêu của Dự án
Trồng mới 5 triệu ha rừng cùng với bảo vệ diện tích rừng hiện có, tăng độ che phủ của rừng lên 43%, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học;
Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng,
an ninh, nhất là ở vùng biên giới;
Cung cấp gỗ làm nguyên liệu để sản xuất giấy, ván nhân tạo, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, cùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội miền núi [27]
4.1.2.2 Nhiệm vụ của Dự án
- Bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có, trước hết phải bảo vệ diện tích rừng tự nhiên là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yếu, kể cả rừng phòng hộ đã trồng theo chương trình 327, rừng sản xuất có trữ lượng giàu và trung bình Thực hiện ngay từ giai đoạn đầu việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân gắn với định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo để bảo vệ, khoanh nuôi rừng kết hợp trồng bổ sung và trồng mới;
-Trồng rừng: Trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng: khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung 1 triệu ha, trồng mới 1 triệu ha gắn với định canh, định cư
Trang 35Trồng 3 triệu ha rừng sản xuất: rừng nguyên liệu công nghiệp giấy, ván nhân tạo, gỗ trụ mỏ, cây đặc sản, rừng gỗ quý hiếm , khoảng 2 triệu ha cây công nghiệp lâu năm và cây lấy quả khoảng 1 triệu ha, đồng thời huy động các tổ chức và nhân dân triệt để tận dụng diện tích đất trống để trồng cây phân tán Dự án trồng rừng của từng giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn 1998 - 2000: Trồng mới 70.000 ha, trong đó 260.000 ha rừng phòng hộ, đặc dụng, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung 350.000 ha;
+ Giai đoạn 2001 - 2005: Trồng mới 3 triệu ha, trong đó 350.000 ha rừng phòng hộ, đặc dụng, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung 650.000 ha;
+ Giai đoạn 2006 - 2010: Trồng mới 2 triệu ha, trong đó 390.000 ha rừng phòng hộ, đặc dụng [27]
4.1.2.3 Quy mô Dự án
* Trên toàn quốc:
- Về diện tích: Thời gian thực hiện DA từ năm 1998 đến 2010 trồng mới 5 triệu ha rừng, trong đó có 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, 3 triệu ha rừng sản xuất
- Về tài chính: Tổng số vốn đầu tư là: 31.650 tỷ đồng, được huy động từ các nguồn vốn; vốn ngân sách, vốn tín dụng đầu tư (Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, các nguồn vốn tín dụng ưu đãi, vốn ODA của các nước, các tổ chức quốc tế và các nguồn vốn vay khác )
* Tỉnh Quảng Ninh:
- Về diện tích: Theo Quyết định số 4483/QĐ-UBND ngày 29/11/2001 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt dự án tổng quan sử dụng đất có rừng và đất trống đồi núi trọc giai đoạn 2001-2010) phục vụ dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Trong đó tổng diện tích qui hoạch thực hiện dự án là 427.207 ha, chiếm 70% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh, trong đó: 136.271 ha rừng phòng hộ, 25.971 ha rừng đặc dụng, 264.965 ha rừng sản xuất
Trang 36- Về tài chính: Tổng vốn đầu tư là 500 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách 200
tỷ đồng, vốn tín dụng 190 tỷ đồng, các nguồn huy động khác 110 tỷ đồng (theo Quyết định số 4483/QĐ-UBND ngày 29/11/2001 của UBND tỉnh Quảng Ninh)
- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh;
- Xây dựng đường băng cản lửa;
- Xây dựng, tu sửa trạm Bảo vệ rừng;
- Khai thác lâm sản;
- Kiểm tra, nghiệm thu, phúc tra; Thanh toán vốn đầu tư
4.1.3 Quá trình hình thành và phát triển dự án 661 ở rừng phòng hộ hồ Yên Lập
BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập được thành lập theo Quyết định số UBND ngày 20 tháng 5 năm 1995 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc tách ban quản lý các công trình trồng rừng của tỉnh thành 2 ban riêng biệt trực thuộc Sở Nông lâm ngư nghiệp Thực hiện Quyết định số 2474/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc chuyển giao Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập về trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh
990/QĐ-Tổ chức bộ máy của BQL RPHHYL gồm có 20 người, trong đó được bố trí, phân công nhiệm vụ: 01 Giám đốc kiêm Hạt trưởng Kiểm lâm; 01 Phó Giám đốc;
01 Phó Hạt trưởng Kiểm lâm; các bộ phận tổ trạm gồm: Bộ phận Hành chính-Tổng hợp, bộ phận kỹ thuật; bộ phận Thanh tra-Pháp chế; tổ Kiểm lâm cơ động và PCCCR; 02 trạm Kiểm lâm địa bàn
Tổng diện tích quản lý là 18.502,0 ha gồm 14 tiểu khu, trên địa bàn 4 xã thuộc huyện Hoành Bồ: Tân Dân, Quảng La, Bằng Cả, Dân Chủ; 02 phường thuộc
TP Hạ Long: Việt Hưng, Đại Yên; 01 phường thuộc thị xã Quảng Yên Thể hiện chi tiết thông qua bảng 4.1:
Trang 37TT
§¬n vÞ hµnh chÝnh
Tổng diện tích tự nhiên
(ha)
Đất lâm nghiệp (ha)
§Êt kh¸c (ha)
trồng
Rừng tự nhiên IIIa1
Rừng tự nhiên IIa Đất Ic Đất Ia
71,3
6.615,2
48,6
395,4 Quảng La
3.010,0 2.364,3
661,2
43,4
1.604,3
55,4
645,7 Bằng Cả
3.000,0 2.617,7
541,5
2.041,1
35,1
382,3 Dân Chủ
2.500,0 2.217,1
285,7
1.738,3
193,1
282,9 Tổng (I)
16.031,0 14.324,7
1.878,9
114,7
11.998,9
332,2
-
1.706,3
80,2
368,6 Việt Hưng 432,0 292,0
103,3
20,0
140,0 Tổng (II)
2.098,0 1.589,4
331,5
100,2
508,6
3 Quảng
Yên
Minh Thành
373,0 313,0
116,4
29,8
60,0 Tổng (III)
373,0 313,0
116,4
29,8
60,0
Trang 38Qua bảng 4.1 cho thấy rừng tự nhiên chủ yếu tập chung ở vùng 04 xã thuộc huyện Hoành Bồ, chủ yếu là trạng thái IIa; đất Ic được phân bố tương đối đều, nếu khoanh nuôi bảo vệ tốt diện tích này thì sẽ tăng thêm diện tích rừng tự nhiên, tăng khả năng phòng hộ
4.2 Đánh giá quá trình thực hiện Dự án 661 tại BQL rừng phòng
hộ hồ Yên Lập
4.2.1 Về cơ cấu tổ chức Dự án
Tại cấp trung ương: Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo nhà nước
DA Để giúp việc cho Ban chỉ đạo nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập Ban điều hành DA trồng mới 5 triệu ha rừng - là tổ chức kiêm nhiệm, có văn phòng thường trực (Ban QLDA 661) đặt tại Cục Lâm nghiệp (nay là Tổng cục Lâm nghiệp)
Tại các địa phương thành lập Ban điều hành DA tỉnh Giúp việc cho Ban điều hành DA tỉnh có Ban QLDA 661 của tỉnh và Ban QLDA cơ sở
Tỉnh Quảng Ninh đã thành lập Ban điều hành DA tỉnh do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban, lãnh đạo các ngành liên quan, Sở nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Sở KH-ĐT, Sở Tài chính, Ngân hàng nhà nước, Kho bạc nhà nước, Sở Tài nguyên- Môi trường, Chi cục Kiểm lâm làm ủy viên Thành lập Ban quản lý DA tỉnh do đồng chí Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp làm trưởng ban, đồng chí Phó chi cục trưởng làm phó ban, các trưởng phòng làm ủy viên
Hàng năm, Ban QLDA cơ sở xây dựng kế hoạch gửi về Ban QLDA tỉnh, Ban QLDA tỉnh phối hợp với Phòng kế hoạch của Sở NN&PTNT tổng hợp gửi về Ban điều hành DA tỉnh để ra chỉ tiêu kế hoạch thực hiện Ban QLDA tỉnh thành lập đoàn công tác thẩm định kết quả kiểm tra, nghiệm thu của Ban QLDA cơ sở, rà soát tình hình thực hiện kế hoạch các hạng mục lâm sinh, tình hình sử dụng vốn, tổng hợp số liệu và điều chỉnh kế hoạch từng năm
Sở NN&PTNT triển khai DA 661, giao cho BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập làm chủ đầu tư DA cơ sở, thực hiện trên địa bàn 7 xã, phường của 03 huyện, thành
Trang 39phố và cũng là cơ quan tham mưu cho Ban QL DA tỉnh về công tác quản lý và tổ
chức thực hiện DA
Toàn bộ cơ cấu tổ chức quản lý Dự án được thể hiện qua sơ đồ 2:
Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy quản lý Dự án 661
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Bộ Tài chính Bộ NN&PTNT Bộ KH-ĐT UBND tỉnh QN
Kho bạc nhà nước Sở NN&PTNT UBND huyện Hoành Bồ
Trung tâm giống
cây trồng tỉnh
Chi cục Lâm nghiệp
Chi cục Kiểm lâm
BQL rừng phòng hộ
hồ Yên Lập
Cán bộ kỹ thuật; Trạm Kiểm lâm địa bàn
Hộ dân trồng rừng
Trang 40Cơ cấu tổ chức quản lý DA trên đã có những thành công nhất định trong suốt giai đoạn DA, với bộ máy gọn, đồng bộ, phân cấp rõ ràng thể hiện sự phối hợp, gắn kết cao trong quá trình vận hành, không có sự chồng chéo trong công tác quản lý thuận lợi cho việc thực hiện DA từ Trung ương đến cơ sở
4.2.2 Về tiến độ và kết quả thực hiện Dự án
4.2.2.1 Tiến độ thực hiện dự án
Trong những năm qua thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về việc thực hiện DA trồng mới 5 triệu ha rừng nhân dân các dân tộc trên địa bàn vùng dự án cùng tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ, quản lý tài nguyên rừng Bước đầu, đã mang lại hiệu quả cao phủ xanh đất trống đồi núi trọc, phát triển rừng sản xuất, ý thức khai thác, sử dụng, quản lý tài nguyên rừng ngày càng tốt hơn từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, an sinh xã hội
DA trồng mới 5 triệu ha rừng được triển khai tại BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập năm 1998 và kết thúc vào năm 2010 Đây là một khoảng thời gian dài vì vậy cần phải tiến hành đánh giá tiến độ thực hiện DA, từ đó điều chỉnh cho phù hợp theo lộ trình đã đề ra, bên cạnh đó xem DA được thực hiện nhanh hay chậm kết quả đạt hay không đạt trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch, đẩy nhanh tiến độ, thấy được nguyên nhân và tìm cách khắc phục
Bên cạnh đó bước đầu khi DA triển khai giao cho BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập thực hiện từ năm 1998 đến năm 2003, sau đó BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập được chuyển giao về trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh Là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục vừa triển khai dự án vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng
Sự thay đổi về cơ quan chủ quản cũng đã có những ảnh hưởng nhất định về tiến độ thực hiện DA, tuy nhiên BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập cũng đã thực hiện tốt vai trò của mình, đảm bảo được tiến độ của DA đã đề ra Kết quả được thể hiện tại bảng 4.2: