1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phân đạm và hóa chất hà bắc

74 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu của đề tài - Các mẫu đất, không khí và mẫu nước phải được lấy trong khu vực chịu tác động của hoạt động sản xuất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hoá

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

- -

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

- -

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

phân đạm và hoá chất hà bắc

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ: 60 85 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông

Thái Nguyên – 2011

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá đất nước Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên kéo theo đó là sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường gây tác hại tới sức khoẻ của con người Các hoạt động của con người đã đưa vào môi trường các chất thải và chất độc hại Môi trường nước, môi trường không khí, môi trường đất đang bị suy thoái trầm trọng gây ảnh hưởng sâu sắc tới sinh vật và con người

Bắc Giang là tỉnh trung du miền núi phía Bắc nằm trên trục đường xuyên

Á và hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế Hòa cùng công cuộc Công nghiệp hóa – hiện đại hóa của cả nước Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang đã đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên song song với quá trình phát triển vượt bậc

về kinh tế là những tác động to lớn tới môi trường Minh chứng rõ nhất cho điều này là chất lượng ngày một đi xuống của dòng sông Thương, đoạn chảy qua Thành phố Bắc Giang

Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, là một thành viên trực thuộc Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam Trụ sở công ty tại phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Sản phẩm chính của Công ty là phân đạm Urê, ngoài ra Công ty còn sản suất thêm các sản phẩm phụ khác như: phân NPK, CO2 lỏng và rắn, Amoniắc lỏng, Oxi, than hoạt tính

Bên cạnh các thành tựu to lớn đó, hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty không những ảnh hưởng xấu tới môi trường nước mà còn gây ảnh hưởng tới môi trường đất, đặc biệt là môi trường không khí Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng này vẫn chưa được nghiên cứu và đánh giá cụ thể Các biện pháp bảo

vệ môi trường cho hoạt động của công ty chưa được xây dựng đồng bộ và chặt chẽ Điều này gây khó khăn rất lớn cho công tác quản lý cũng như bảo vệ môi trường của Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc

Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa Sau đại học, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của

thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh

Trang 4

giá hiện trạng môi trường khu vực Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc”

3 Yêu cầu của đề tài

- Các mẫu đất, không khí và mẫu nước phải được lấy trong khu vực chịu

tác động của hoạt động sản xuất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành

viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc

- Đánh giá đầy đủ, đúng đắn hiện trạng sản xuất và tác động của nó đến môi trường đất, nước và không khí của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành

viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc

- Tìm hiểu và đề xuất các công nghệ xử lý thích hợp, các cơ chế quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường trong việc sản xuất phân bón và hóa chất cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc

4 Ý nghĩa của đề tài

- Củng cố các kỹ năng về quan trắc và phân tích môi trường

- Thực hiện thành thục các bước lấy mẫu, bảo quản, phân tích trong phòng thí nghiệm

- Nhận xét, phân tích, tổng hợp và xử lý các số liệu thu được để đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc

- Các số liệu được thu thập, phân tích, tổng hợp tương đối chính xác có thể được sử dụng làm căn cứ để đánh giá hiện trạng ô nhiễm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc và đưa ra một số giải pháp để bảo vệ môi trường trong thời gian tới

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.1 Cơ sở lý luận về môi trường

- Khái niệm về môi trường: Theo luật bảo vệ môi trường 2005 của nước CHXHCN Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người ” (Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005)[12]

Theo từ điển tiếng Việt: “ Môi trường là một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ thống nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó” Còn theo định nghĩa khái quát về môi trường phổ biến trên thế giới thì “ Môi trường của một vật thể, hoặc là một sự kiện tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó” (Trần Yêm, Trịnh Thị Thanh, 1998)[18]

- Khái niệm về ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi thành phần, tính chất của môi trường Chất gây ô nhiễm môi trường là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại

Nguồn ô nhiễm từ hoạt động sản xuất công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm môi trường lớn nhất trong số các nguồn ô nhiễm nhân tạo Sự phát triển nhiều ngành công nghiệp, nhiều nhà máy có tầm cỡ khác nhau trên toàn cầu đã tạo ra một khối lượng khổng lồ chất thải rắn, lỏng, khí đổ vào môi trường làm cho chất lượng môi trường giảm sút Đặc biệt là ở nhiều nước đang phát triển và kém phát triển, ở nhiều thành phố, khu công nghiệp của các nước này chất thải không được xử lý hoặc được xử lý kém được thải trực tiếp vào môi trường và làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng

1.2 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón hoá học trên thế giới và Việt Nam 1.2.1 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón hoá học trên thế giới

Cây trồng cũng như con gia súc, tôm, cá muốn sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh tăng trọng nhanh và cho năng suất cao cần phải được nuôi dưỡng trong điều kiện đầy đủ thức ăn, có đủ các chất bổ dưỡng theo thành phần và tỷ lệ phù hợp Trẻ con tuy lúc mới sinh có cơ thể to, nặng cân nhưng nếu sữa mẹ kém chất, nuôi nấng thiếu khoa học thì cũng có thể trở nên còi cọc Đối với cây

Trang 6

trồng, nguồn dinh dưỡng đó chính là các chất khoáng có chứa trong đất, trong phân hoá học (còn gọi là phân khoáng) và các loại phân khác Trong các loại phân thì phân hoá học có chứa nồng độ các chất khoáng cao hơn cả Từ ngày có

kỹ nghệ phân hoá học ra đời, năng suất cây trồng trên thế giới cũng như ở nước

ta ngày càng được tăng lên rõ rệt Ví dụ chỉ tính từ năm 1960 đến 1997, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới đã thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng phân hoá học đã được sử dụng (NPK, trung, vi lượng ) bón cho lúa Trong những thập

kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960-1997), diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên 164,4%, tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242% Nhờ vậy đã góp phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới (Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc, 2010)[20]

* Tình hình sản xuất phân bón

Năm 2008, sản lượng urê toàn cầu tăng 1,7% so với 2007, trong khi đó sản lượng phân lân và phân kali giảm 7,5% và 2,8% tương ứng do nhu cầu nhập khẩu giảm

Bước sang năm 2009, ngành sản xuất phân bón thế giới đứng trước điều kiện thị trường trì trệ, doanh số yếu, triển vọng sản xuất và thương mại không mấy sáng sủa Tuy nhiên, những động lực chính cho sự tăng trưởng nhu cầu phân bón vẫn còn nguyên vẹn Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vẫn chưa được giải quyết Dự trữ lương thực thực phẩm và nông sản hàng hóa giảm xuống mức thấp so với nhiều năm Vì vậy, nhu cầu phân bón sẽ hồi phục, tuy tốc độ hồi phục phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Trong thời gian 2000 - 2007, ngành sản xuất phân bón thế giới đã tăng tốc

độ sản xuất để đáp ứng nhu cầu Tỷ lệ vận hành công suất đã đạt đến đỉnh cao vào năm 2007 khi các nhà sản xuất vận hành với 97% công suất danh định ở cả

ba chất dinh dưỡng chính Nhưng sự suy thoái của nhu cầu thị trường từ cuối năm 2008 đã buộc tỷ lệ vận hành công suất trong sản xuất phân bón giảm trở về mức của năm 2000

Trong những năm qua, ngành sản xuất phân bón trên thế giới đã đầu tư nhiều để phát triển các nhà máy mới Nhưng đầu tư mở rộng công suất phân bón, cả ở những nước có nguồn cung nguyên liệu giá rẻ hoặc có khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính, là rất tốn kém và mạo hiểm do tính chu kỳ của ngành

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Về ngắn hạn, ngành sản xuất phân bón toàn cầu sẽ cần phải đầu tư tổng cộng gần 90 tỉ USD để mở rộng công suất hiện nay theo kế hoạch dự kiến đến năm 2013

Tuy nhiên, tình trạng suy giảm mạnh nhu cầu tiêu thụ trong thời gian 2008/2009, liên kết với những khó khăn về tài chính, đã ảnh hưởng đến triển vọng phát triển các công suất mới Về ngắn hạn, một số dự án đã bị trì hoãn, khiến cho các nhà máy dự kiến sẽ đi vào vận hành chậm hơn vài năm Nhưng về trung hạn, nhiều dự án mới đã được công bố trong 12 tháng qua trên toàn thế giới do những dự báo lạc quan về triển vọng thị trường trong tương lai

* Tình hình sử dụng phân bón hóa học

Từ lâu nông dân ta đã có câu "người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân" Phân bón đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng để nuôi sống nhân loại trên thế giới Tuy nhiên, nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón, nhưng ngoại tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở các nước có sự chênh lệch khá lớn Sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhau quyết định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như trình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng cho cây trồng quyết định Còn trong các nước phát triển mức độ sử dụng phân khoáng khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậu khác nhau, cơ cấu cây trồng khác nhau và họ cũng

sử dụng các chủng loại phân khác nhau để bón bổ sung

Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân thế giới Tuy nhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á Trong lúc đó Trung Quốc

và Nhật lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân toàn châu Á Hà Lan là nước sử dụng phân khoáng nhiều nhất

Tuy nhiên lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau và hoa để thu sản lượng chất xanh cao Việt Nam được coi là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong số các nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999 như sau: - Việt Nam: bình quân 241,82 kg NPK/ha - Malaysia: bình quân 192,60 - Thái Lan: bình quân 95,83 - Philippin: bình quân 65,62 - Indonesia: bình quân 63,0 - Myanma: bình quân 14,93 - Lào: bình quân 4,50 - Campuchia: bình quân 1,49 Theo số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử dụng phân khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia Có thể đó là thị trường xuất

Trang 8

khẩu phân bón của Việt Nam khá thuận lợi, nếu Việt Nam góp phần nâng cao kiến thức sử dụng phân bón cho họ có kết quả

Dự kiến nhu cầu sử dụng phân bón trên thế giới từ năm 2008 – 2012 được thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ phân bón trung bình hàng năm trên

( Nguồn : Báo cáo phân bón thế giới xu hướng và triển vọng đến năm 2012)[20]

1.2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón hoá học tại Việt Nam

* Tình hình sản xuất phân bón ở Việt Nam

Ở Việt Nam, theo số liệu của Vụ Khoa học Công nghệ và chất lượng sản phẩm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), hiện nay có trên

100 doanh nghiệp đầu mối và các thành phần kinh tế tham gia vào mạng lưới phân bón (sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ) và đã đưa ra thị trường tiêu thụ ít nhất 1.420 loại phân bón bao gồm 6 loại chính

Bảng 2 Các loại phân bón được sử dụng ở Việt Nam

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2009)

Hầu hết các loại phân bón đơn nhập khẩu hoặc do các doanh nghiệp công nghiệp trong nước sản xuất đều đảm bảo đúng chất lượng Trong khi đó chất lượng các loại phân bón N – P – K, hữu cơ sinh học, hữu cơ khoáng lại đang là vấn đề nổi cộm gây nhức nhối cho người tiêu dùng và trong một chừng mực nào

đó ảnh hưởng rất lớn đến môi trường nông nghiệp nói chung và sản xuất kinh doanh nói riêng

Về chất lượng phân bón qua các đợt kiểm tra của các chi cục tiêu chuẩn

đo lường chất lượng cho thấy chất lượng phân bón trên thị trường rất đáng lo ngại

Bảng 3 Tình hình phân phức hợp trên thị trường

Cơ sở kiểm định Số mẫu

kiểm tra

Số mẫu không đạt

Tỷ lệ không đạt

5 Sở NN & PTNT (Hải Dương, An Giang,

(Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2009)

Ngoài ra ở miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập quán sử dụng phân Bắc, phân chuồng tươi vào canh tác Ở Đồng bằng sông Cửu Long, phân tươi còn được coi là nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, ảnh hưởng tới sức khỏe con người

* Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam

Trong khi các nước phát triển đang có xu hướng giảm việc sử dụng phân bón thì tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thì xu hướng này càng tăng

Sử dụng phân bón sẽ để lại một lượng không nhỏ dư lượng do không được cây trồng hấp thụ, sẽ tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái nông nghiệp cũng như gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và làm biến đổi gen ở một số cây trồng Việc sử dụng phân bón gây sức ép đến môi trường nông nghiệp nông thôn bởi 3 lý do:

+ Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp

Trang 10

+ Bón phân không cân đối nặng về sử dụng phân đạm (bảng 2 4)

+ Chât lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón N – P – K, hữu cơ

vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nỏi trên thị trường, chất lượng không đảm bảo đang là nỗi áp lực cho chính nông dân và môi trường đất

Bảng 4 Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm

Tính từ năm 1985 đến nay diện tích gjeo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7% nhưng lượng phân bón hóa học sử dụng tăng 517% Trong vòng 25 năm qua tổng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N+ P2O5+ K2O năm 2007 đạt 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần lượng sử dụng năm 1985

Xét về mặt kinh tế hàng năm có khoảng 2/3 lượng phân bón cây trồng không sử dụng được, đồng nghĩa với việc 2/3 lượng tiền người nông dân bỏ ra mua phân bón bị lãng phí, với tổng thất thoát lên khoảng 30 ngìn tỷ đồng theo

giá phân bón năm 2008 (Bộ NN & PTNT, 2008)

Xét về mặt môi trường ngoại trừ một phần chất dinh dưỡng trong phân bón được keo đất giữ lại là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho mùa sau, hàng năm một lượng lớn phân bón bị rửa trôi hoặc bay hơi đã làm xấu đi môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống; đó cũng là tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.3 Ảnh hưởng của phân bón hoá học đến môi trường

1.3.1 Ảnh hưởng của phân bón hoá học đến môi trường đất

Nitrat (NO3-) là yếu tố cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng Đồng thời NO3- cũngt được xem là mối đe dọa cho sức khỏe con người và tính trong sạch của các nguồn nước tự nhiên Tính trung bình, khi bón phân đạm vào đất, thực vật hấp thụ khoảng 50-60%, số còn lại sẽ phân tán vào các nguồn khác

Mặc dù nitơ thực vật rất cần, nhưng gần như nó không bị đất hấp phụ và luôn tồn tại trong dung dịch đất dưới dạng ion NO3-

dễ linh động, dễ bị rửa trôi

đi vào nguồn nước Kết quả nghiên cứu của Russel (1972) ở 18 con sông của

ở nước sông và mức độ sử dụng phân đạm có tương quan dương R = 0,7 Trong nước ao

hồ, nồng độ nitơ dạng nitrat (N - NO3-) có thể thay đổi từ 0 – 4 mg/l; đôi khi có thể tới 1 mg/l (bảng 2.5)

Bảng 5 Liều lượng bón phân đạm và sự tích lũy NO 3

-

trong nước ngầm và nước mặt

1,40 1,67 0,39 0,60 0,50 1,02

(Nguồn: Russel, 1972)

Những kết quả nghiên cứu khác bằng nguyên tử đánh dấu đã khẳng định,

N – NH4+ trong nước cũng có nguồn gốc từ chủ yếu từ nitơ bón vào đất Như vậy, nguồn gốc NO3-

trong nước là do bón phân vô cơ và hữu cơ, đặc biệt khi người nông dân không biết cách bón, bón không đều và bón thúc đúng vào thời

cũng được lắng đọng do mưa going, sấm sét

* Nitrat và hội chứng trẻ xanh

Trang 12

Nitrat không phải vấn đề mới, cách đây hang trăm năm, người ta đã ghi nhận nồng độ cao của nó trong các giếng nước ăn Nhưng điều phát hiện mới nhất là NO3-

có lien quan tơi sức khỏe cộng đồng và biểu hiện qua hai loại bệnh:

- Methaemoglobinaemia: hội chứng trẻ xanh ở trẻ sơ sinh

- Ung thư dạ dày ở người lớn

Thực ra NO3

không độc, nhưng khi nó bị khử thành nitrit (NO2

- ) trong cơ thể thì nó trở nên rất độc

Methaemoglobinaemia: hội chứng trẻ xanh thường xảy ra khi đứa trẻ dưới

10 tuổi Các vi khuẩn trong dạ dày khử nitrat thành nitrit và xâm nhập vào máu,

là phân tử có chức năng vận chuyển oxy đi khắp cơ thể Một ion Fe 3+ có rất ít năng lực vận chuyển oxy trong máu do

đó gây nên sự tắc nghẽn hóa học Trẻ sơ sinh thường rất nhạy bén với căn bệnh này, bởi vì heamoglobin bào thai có ái lực với NO2- mạnh hơn heamoglobin thông thường xuất hiện trong khoảnh khắc trong các mạch máu Do đó dạ dày của chúng ta không đủ độ axit để ngăn các vi khuẩn biến đổi NO3-

thành NO2-

những năm 1976 – 1982 đã có 1.300 người chết, nguyên nhân là do các nguồn

98% giếng nước tư nhân đào sát gần với các nguồn gây ô nhiễm do phân động vật và phân người, làm xuất hiện không những NO3-

mà còn có cả E.coli và các

vi khuẩn gây hại khác

* NO 3

và ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày gây suy nhược, đau đớn, chết Bệnh này cũng liên quan tới hàm lượng NO3-

trong nước Mối liên quan này được giải thích là NO2- sinh

ra từ NO3-, phản ứng với một loại amin thứ sinh xuất hiện khi phân hủy mỡ hoặc protein ở bên trong dạ dày và tạo ra hợp chất N – nitroso (là hợp chất gây ung thư)

đối với sức khỏe cộng đồng nên châu Âu qui định mức chuẩn cho nước uống là 11,3g N/m3 (tương đương với 50g N/m3), giá trị tối ưu là không quá 5,6g N/m3

(tương đương với 2,5g N/m3)

1.3.2 Ảnh hưởng của phân bón hoá học đến môi trường nước

Ảnh hưởng rõ nét nhất của việc sử dụng phân bón hóa học tới môi trường nước đó chính là hiện tượng phú dưỡng và suy giảm chất lượng các nguồn nước

Phú dưỡng là hiện tượng gia tăng hàm lượng nitơ và phospho trong lượng nước nhập vào các thủy vực, gây sự tăng trưởng của các thực vật bậc thấp (rong,

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tảo…) Nó tạo ra những biến đổi lớn trong hệ sinh thái nước, làm giảm oxy trong nước Do đó làm chất lượng nước bị suy giảm và ô nhiễm

Do môi trường nước có chứa các chất dinh dưỡng N và P làm cho thực vật phù du phát triển mạnh, tăng sinh khối, đặc biệt là tảo que, tảo xanh hoa và nhiều loại tảo độc khác Hàm lượng chất diệp lục cũng tăng lên đáng kể và bị thối rữa, phân hủy dẫn đến làm giảm nghiêm trọng oxy hòa tan trong nước, một yếu tố cơ bản của quá trình tự làm sạch của môi trường nước, đặc biệt là ở những nơi có độ sâu đáng kể Sự phân hủy của tảo là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự thiếu oxy nghiêm trọng trong nước Quá trình này xảy ra theo phương trình:

(CH2O)106(NH3)16H3PO4 + 138O2 = 106CO2 + 122H2O + 16HNO3 + H3PO4

Từ phản ứng này cứ 1 phân tử thực vật phù du đã sử dụng 276 nguyên tử oxy để tiến hành phản ứng phân hủy và giải phóng một lượng đáng kể axit và

+ Vùng canh tác: Phân bón, xói mòn

+ Khu chăn thải: Phân súc vật và các sản phẩm thối rữa, xói mòn

+ Các khu vực sản xuất sữa và các sản xuất sữa

+ Nước thải dân dụng trong khu vực

Việc sử dụng phân đạm và phân lân trong nông nghiệp xúc tiến quá trình phú dưỡng trong các hồ chứa ở Thụy Sĩ, Thụy Điển, Bắc Mỹ và rất nhiều nước

ở Châu Âu Ngày nay, rất nhiều các vùng cửa song và các vịnh đã bị nhiễm nặng các sản phẩm phân bón trong lục địa Đó là các miền Duyên Hải Bắc và Nam Mỹ; Châu Phi, Ấn Độ; Đông Nam Á, Úc, Trung Quốc và Nhật Bản Hiện nay,

sự phú dưỡng vùng biển đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng có tầm vóc toàn

Trang 14

cầu Ở một số nước công nghiệp phát triển, người ta đã nghiên cứu các hợp phần góp vào phú dưỡng Ví dụ: ở Thụy Điển, băm 1989, khoảng 26% tổng nitơ gây

ô nhiễm các vùng biển có nguồn gốc từ nông nghiệp; 23% từ rừng và ngành lâm nghiệp; 10% lắng đọng từ khí quyển; 8% từ đất ngập nước; 19% từ nước thải đô thị và nông thôn; 4% từ công nghiệp và 10% từ các nguồn khác (Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Cự, Trần Thiện Cường, Nguyễn Đình Đáp, 2010)[11]

Phân đạm không phải là nguồn gây phú dưỡng duy nhất mà cón rất phổ biến đối với các bãi chăn nuôi Chất thải từ các bãi thải này trở thành nguồn gây

ô nhiễm nước ở nhiều nước công nghiệp hóa Ví dụ: Ở Anh và xứ Wales, thì các bãi chăn thả đóng góp tới 20% vào hiện tượng phú dưỡng Theo WHO, nước không thể dùng để uống khi nồng độ NO3-

> 45ppm Cộng đồng châu Âu đã đưa khuyến cáo “Khi ở một vùng nào đó có nồng độ NO3- trong nước ngầm >50mg/l thì được coi là vùng dễ bị tổn thương” và ở các vùng đó bắt buộc phải giới hạn những hoạt động phân bón trong nông nghiệp

1.3.3 Ảnh hưởng của phân bón hoá học đến khí quyển

Ngoài những ảnh hưởng của công nghiệp, giao thông, hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và có ảnh hưởng không nhỏ đến khí quyển Hiệu ứng lớn nhất mà nông nghiệp, lâm nghiệp tác động vào khí quyển là các chất thải CO,

NO, CH4, NH3 Riêng khí mêtan, hàng năm trên thế giới thải khoảng 250 triệu tấn, trong đó các hoạt động nông, lâm nghiệp chiếm 40 – 46% Hệ quả của lượng khí CH4 là tạo ra hiệu ứng nhà kính Các khí thải NO, CO là tác nhân làm suy giảm tầng ozôn vì khi bay hơi vào tầng này chúng thực hiện các quá trình:

CO + O3 CO2 + O2

CH4 + O3 CO2 + H2O

Sự suy giảm tầng ôzôn, hiệu ứng nhà kính gây tác hại to lớn đến Trái Đất

vì quá trình hạn chế sự sinh trưởng và năng suất các loại cây trồng Mặt khác ảnh hưởng đến phần hơi nước của tầng khí quyển, hệ quả của các quá trình đó làm Trái Đất nóng lên Tác động ngược lại của hiệu ứng nhà kính là hạn hán, cháy rừng, sa mạc hóa, …

Tất nhiên hậu quả trên đây không chỉ do ngành nông lâm nghiệp gây ra

mà còn nhiều nguyên nhân khác

Tồn tại một cân bằng giữa Trái Đất với phần khí quyển, sự tồn tại cân bằng giữa nhiều yếu tố trong Trái Đất (bao gồm chủ yếu là địa quyển, thủy

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

quyển, sinh quyển) Những sự chuyển hóa từ phân rắn (phân bón, hữu cơ, rác thải, bã thải…) với phân lỏng và phần khí là không thể tách rời và luôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố từ khí quyển và ngược lại Cân bằng này cần được bảo

vệ và tạo điều kiện để nó tồn tại và phát triển một cách bền vững

1.4 Hiện trạng hoạt động sản xuất của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc

1.4.1 Vài nét giới thiệu về vị trí địa lý của Công ty

Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc nằm ở vùng ven phía Bắc Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm trành phố 3 km và cách Thành phố Hà Nội 50 km về phía Bắc, nằm trên khu đất có tổng diện tích 70,6 ha

- Phía Nam giáp khu dân cư đô thị của phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang

- Phía Đông giáp khu đất hoang, khu dân cư nông thôn nằm xen giữa tường vây phía Bắc nhà máy và đồi Bứa thuộc xã Xuân Hương – huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

- Phía Tây giáp khu dân cư phi nông nghiệp nằm xen giữa tường vây phía Tây nhà máy với đê sông Thương

- Phía Bắc giáp các đồi Giác, đồi Rừng, đồi A xit thuộc xã Xuân Hương – huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Trang 16

Hình 1 Vị trí địa lý của Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc

+ Lớp 5, 5a: Bột kết , các kết phong hóa mạnh mầu nâu đen đến phong hóa hoàn toàn thành cát màu nâu, trạng thái cứng, chiều dày biến đổi từ 4,3 ÷ 9,85 m , có Ro bằng 2,8 kg/cm2

- Khí hậu thủy văn

+ Khí hậu: Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc năm trong vùng Đông bắc Việt Nam nên mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông nhiệt độ rất thấp, cuối mùa rất ẩm ướt Mùa Hạ rất nóng và nhiều mưa Nhiệt độ hai mùa chênh lêch rõ rệt từ 12 – 25o C Thời tiết nồm và mưa phùn là hiện tượng khác độc đáo của vung khí hậu đồng bằng Bắc Bộ Mưa phùn tập trung vào tháng hai

và tháng ba, độ ẩm trung bình không dưới 80%

Nói chung, không khí dịu hòa, thích hợp với nhiều loại cây trồng và gia súc Tuy nhiên, lũ lụt và bão hàng năm là mối đe dọa cho con người

+ Thủy văn: Sông Thương là một sông tự nhiên lớn, chảy qua khu vực của nhà máy và đây là nguồn nước mặt đóng vai trò quan trọng trong cấp nước cho hoạt động sản xuất của Công ty TNHH một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc Tuy nhiên bên cạnh đó sông Thương cũng là nơi tiếp nhận nước thải từ các hoạt động sản xuất của công ty

Sông Thương có đặc điểm thuỷ văn như sau:

Mực nước trung bình các tháng trong năm và mực nước trung bình của từng năm của sông Thương tại trạm Phủ Lạng Thương từ năm 1998 đến năm 2008 là:

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Mực nước trung bình của tháng có trị số lớn nhất là 538cm (tháng 7/2011), trị số nhỏ nhất là 48cm (tháng 12/2008)

Mực nước trung bình của năm có trị số lớn nhất là 212cm (năm 2001) trị

số trung bình lớn nhất là 131cm (năm 2007)

Mùa mưa ở lưu vực sông Thương thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 9 ở thượng lưu hay tháng mười ở trung lưu và hạ lưu Lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm khoảng 65 -85 % tổng lượng mưa năm

1.4.2 Cơ cấu tổ chức, hiện trạng sản xuất của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc

1.4.2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty

Trong quá trình phát triển của Công ty, cơ cấu quản lý tổ chức luôn được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu theo từng giai đoạn phát triển chung của đất nước Hiện nay cơ cấu tổ chức quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến, chức năng với cấp quản lý cao nhất là Giám đốc, giúp việc cho Giám đốc là các phó Giám đốc có nhiệm vụ giúp Giám đốc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực do Giám đốc yêu cầu Tóm lại: Các đơn vị cấp dưới chỉ nhận một mệnh lệnh duy nhất là Giám đốc

1.4.2.2 Các lĩnh vực kinh doanh của công ty

Hiện nay, các sản phẩm chính của Công ty từ năm 2000 đến năm 2009 bao gồm 5 loại như sau:

Trang 18

lỏng

(Nguồn: Sở Công thương Bắc Giang, 2011)

1.5 Một số kết quả phân tích chất lượng môi trường khu vực công ty

* Chất lượng nước thải sản xuất của Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc tháng 10 năm 2007

Nhà máy phân đạm và hóa chất Hà Bắc là đơn vị sản xuất phân đạm ure phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Lượng nước thải phát sinh chủ yếu từ 04 xưởng (xưởng nhiệt, tạo khí, tổng hợp amoniac và xưởng tổng hợp ure), phần lớn các loại nước thải này được thải xuống đường thải chung của công ty rồi chảy ra kênh 420 sau đó bơm ra sông Thương hoặc cấp cho kênh Nông Giang Đặc thù nước thải của công ty có amoniac tồn tại ở dạng NH4-OH hoặc hợp chất có chứa gốc nito, và chất

độc hại đối với môi trường nước, nhất là các động vật thủy sinh

Để đánh giá chất lượng nước thải tiến hành lấy và phân tích mẫu tại 4 công đoạn sản xuất và nước tại kênh 420 ra sông Thương Chất lượng nước thải được thể hiện tại bảng 4.7

Bảng 7 Chất lượng nước thải tại Công ty TNHH một thành viên Phân đạm

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TCVN 5945-2005: Nước thải công nghiệp – Giá trị giới hạn các thông số

và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp

M1: Mẫu nước công nghệ làm lạnh 1 lần

M2: Mẫu nước tại phân xưởng tạo khí

M3: Mẫu nước thải phân xưởng Urê

M4: Mẫu nước thải phân xưởng nhiệt điện

M5: Mẫu nước tại kênh 420 ra sông Thương

Nhận xét:

Qua kết quả phân tích có thể nhận thấy mẫu nước tại 4 phân xưởng và kênh 420 thì các chỉ tiêu về pH, Chất rắn lơ lửng, BOD5, Xianua đều vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) Cụ thể:

- Chỉ tiêu về độ pH: chỉ có nước thải của công nghệ làm lạnh lần 1 vượt TCCP 1,013 lần, các mẫu nước thải khác mặc dù chưa vượt nhưng đã sấp sỉ với ngưỡng cho phép

- Chỉ tiêu về chất rắn lơ lửng: mẫu nước công nghệ làm lạnh vượt 3,96 lần, tại phân xưởng tạo khí vượt 3,86 lần, tại phân xưởng Urê vượt 2,24 lần, nước thải phân xưởng nhiệt điện vượt 3,86 lần và nước tại kênh 420 vượt 3,96 lần so với TCCP

tạo khí vượt 1,1 lần, tại phân xưởng Urê vượt 1,15 lần, nước thải phân xưởng nhiệt điện vượt 1,3 lần và nước tại kênh 420 vượt 1,8 lần so với TCCP, riêng đối với nước thải làm lạnh lần 1 dù chưa vượt TCCP nhưng đã sát gần với ngưỡng cho phép

Trang 20

- Chỉ tiêu xianua: nước thải tại nước làm lạnh lần 1, tại phân xưởng tạo khí, phân xưởng urê, phân xưởng nhiệt điện, nước kênh 420 lần lượt vượt TCCP

Bảng 8 Chất lượng môi trường không khí tại khu vực sản xuất của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và hóa chất Hà Bắc năm 2007

STT Vị trí lấy mẫu Kết quả phân tích (mg/m

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ghi chú:

TC 12 kèm theo QĐ 3773/2002/QĐ-BYT: Tiêu chuẩn tiếng ồn

TCVN 5937 – 2005: Chất lượng không khí – Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh

Trang 22

Chương 2 Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện trạng môi trường đất, nước, không khí khu vực Công ty TNHH MTV Phân đạm và hóa chất Hà Bắc, Phường Thọ Xương, Thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được tiến hành tại Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và hóa chất

Hà Bắc, Phường Thọ Xương, Thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang

- Phạm vi đánh giá của đề tài bao gồm:

+ Chất lượng nước: Nước thải, nước mặt, nước ngầm

+ Chất lượng không khí

+ Chất lượng đất

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang

- Điều kiện tự nhiên phường Thọ Xương thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang

(nơi tọa lạc của Công ty)

- Vị trí địa lý và hiện trạng sản xuất phân bón và hoá chất của Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc

- Đánh giá chung về hiện trạng môi trường của Công ty TNHH MTV Phân đạm

và Hóa chất Hà Bắc

+ Hiện trạng môi trường nước

+ Hiện trạng môi trường không khí

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Hiện trạng môi trường đất

+ Ảnh hưởng do hoạt động sản xuất Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc tới sức khỏe cộng đồng

- Đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

Thu thập những tài liệu về điều kiện tự nhiên của tỉnh Bắc Giang, báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2011 của tỉnh Bắc Giang, chất lượng môi trường khu vực công ty TNHH MTV Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc các năm trước, sơ đồ quy trình sản xuất, tình hình sản xuất của nhà máy phân đạm và Hóa chất Hà Bắc…

Các tài liệu này được thu thập từ: UBND tỉnh Bắc Giang, Trung tâm quan trắc tài nguyên và môi trường Bắc Giang, Chi cục bảo vệ môi trường Bắc Giang…

2.4.2 Phương pháp tổng hợp và so sánh

Tổng hợp các tài liệu, số liệu thu thập, điều tra, phân tích được để lựa chọn ra những số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài

So sánh những số liệu phân tích được với các Qui chuẩn Việt Nam

2.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn

* Đối tượng phỏng vấn: Người dân xung quanh nhà máy phân đạm và hóa chất

Hà Bắc, cán bộ phụ trách công tác môi trường của phường Thọ Xương

* Hình thức phỏng vấn:

- Đối với người dân: Lập phiếu điều tra và phát phiếu điều tra đến người dân

Tiến hành phát phiếu điều tra tại 5 khu phố đó là:

+ Khu phố Hòa Yên

+ Khu phố bến Hướng

+ Khu phố số 1

+ Khu phố số 2

+ Khu phố số 3

Trang 24

Với mỗi khu phố phát phiếu điều tra tới 10 hộ dân

- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách môi trường của phường Thọ Xương

2.4.4 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm

2.4.4.1 Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu nước trong phòng thí nghiệm

* Phương pháp lấy mẫu nước: Lấy mẫu theo các phương pháp hướng dẫn lấy

mẫu khác nhau đối với nước thải, nước mặt, nước ngầm

* Trong đề tài tiến hành lấy các mẫu nước như sau:

- Mẫu nước thải:

NT: Mẫu nước thải kênh 420 xả ra sông Thương

NM – 1: Mẫu nước sông Thương cách cửa xả 500 m về phía thượng lưu

NM – 2: Mẫu nước sông Thương cách cửa xả 500 m về phía hạ lưu

- Tiến hành lấy mẫu vào ngày 12/2010, 8/3/2011 và 13/6/2011 và mỗi loại lấy 2 mẫu Riêng mẫu nước ngầm tiến hành lấy mẫu vào tháng 12/2010 và 13/6/2011

* Phương pháp phân tích nước: Mẫu được lấy, xử lý và đem về phòng thí

nghiệm phân tích

2.4.4.2.Phương pháp lấy và phân tích mẫu đất

* Phương pháp lấy mẫu đất:

- Lấy mẫu đất gồm hai bước:

+ Tiếp cận điểm lấy mẫu

+ Tiến hành lấy mẫu đất

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Loại mẫu: mẫu đất được lấy là mẫu xáo trộn (mẫu lấy từ đất, không cần bất

kỳ nỗ lực bảo trì cấu trúc đất nào) Mẫu xáo trộn được lấy bằng cách khoan hoặc đào

Đối với đề tài lấy mẫu đơn, trực tiếp đất tại 2 điểm là cạnh cống thải và khuôn viên của Công ty Mẫu được lấy vào tháng 12/2011, ngày 8/3/2011 và ngày 13/6/2011, tại mỗi điểm lấy 2 mẫu

Đ – 1: mẫu đất lấy tại khu vực cạnh cống thải

Đ – 2: mẫu đất lấy tại khu vực khuôn viên của Công ty

* Phương pháp phân tích đất: Mẫu được lấy, xử lý và đem về phòng thí

nghiệm phân tích

Bảng 9 Phương pháp phân tích một số thông số về môi trường đất

TT Thông số Phương pháp phân tích, lấy mẫu

2.4.4.3.Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu không khí

* Phương pháp lấy mẫu khí: Lấy mẫu theo các phương pháp hướng dẫn lấy

mẫu với các thông số khác nhau

Trong đề tài tiến hành lấy mẫu không khí vào tháng 10/2010, các ngày 8/3/2011 và ngày 13/6/2011 tại các điểm sau:

KK1: Mẫu khí thải lò hơi số 2

KK2: Mẫu khí thải lò hơi số 3

KK3: Mẫu khí thải lò hơi số 6

KK4: Mẫu khí thải lò hơi số 7

KK5: Mẫu khí thải hệ thống thu hồi khí thổi gió

Trang 26

* Phương pháp phân tích không khí: Mẫu được lấy, xử lý và đem về phòng

thí nghiệm phân tích

Bảng 10 Các thông số đo, phương pháp phân tích

và thiết bị đo lấy mẫu khí Chỉ tiêu Phương pháp phân tích Thiết bị đo

Bụi

PP đo nhanh tại chỗ

PP lấy mẫu bụi và phân tích trong phòng thí nghiệm

Máy hút bụi Laptech (Mỹ)

RION (Nhật)

Chương 3 Nghiên cứu và thảo luận kết quả đạt được

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Bắc Giang là tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, giới hạn trong vĩ độ:

từ 21o27’ B đến 21o27’ B, kinh độ: 105o52’ Đ đến 107o02’ Đ tức là nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, chịu ảnh hưởng của gió mùa

+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn;

+ Phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên;

+ Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ Vùng trung du bao gồm 2 huyện Hiệp Hoà, Việt Yên và thành phố Bắc Giang Vùng miền núi bao gồm 7 huyện: Sơn Động,Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Trong đó một phần các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động là vùng núi cao

Đặc điểm địa hình chính của khu vực miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh) chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn Đặc điểm chủ yếu của

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

địa hình miền trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh) là đất gò, đồi, xen lẫn đồng bằng rộng, tuỳ theo từng khu vực

Địa hình dốc nghiêng theo hướng Đông - Bắc xuống Tây – Nam, là tỉnh nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa trung du và miền núi, lãnh thổ có sự phân hoá rõ rệt giữa các khu vực: vùng đồng bằng ở phía đông Nam tỉnh; vùng trung

du chuyển tiếp; vùng núi phía tây Bắc kéo dài sang phía Đông

3.1.1.3 Khí hậu

Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình Một năm

có bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn

mưa hàng năm đủ đáp ứng cho nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống, lượng mưa tập trung trung bình vào tháng 5 đến tháng 11 (Cục thống kê tỉnh Bắc Giang, 2010)[9]

Về căn bản có thể chia khí hậu Bắc Giang ra làm 4 vùng:

- Vùng núi phía Bắc bao gồm huyện Yên Thế và một phần bắc của huyện Lạng Giang Đây là vùng có mùa đông rét thường có sương muối, lượng mưa tương đối bình quân 1500-1700mm

- Vùng núi phía Đông Bắc bao gồm huyện Lục Ngạn và một phần của huyện Lục Nam Đây cũng là một vùng có mùa đông rét và thường có sương muối, lượng mưa tương đối ít: 1200-1400mm

- Vùng núi Sơn Động là vùng núi có mùa đông rất rét, sương và băng giá thường xảy ra vào mùa đông, độ ẩm không khí cũng rất có thể khô hanh, biên độ dao động nhiệt ngày đêm lớn, có lượng mưa lớn nhất tỉnh Lượng mưa bình quân từ 1500-1700mm đặc biệt là khu vực chân dãy Yên Tử, lượng mưa trung bình năm có thể đạt từ 1900-2000mm

- Vùng Trung Du bao gồm các huyện còn lại : Tân Yên, Việt Yên, Hiệp Hoà, Yên Dũng là khu vực có mùa đông tương đối lạnh, lượng mưa vừa phải trung bình năm 1500-1600mm

Trang 28

sông lớn chảy qua tỉnh đều là sông nhánh cấp 1 của hệ thống sông Thái Bình Ngoại trừ sông Lục Nam là gần như nằm gọn trong tỉnh, còn các sông Thương, sông Cầu chỉ có một phần trung du và hạ du chảy qua tỉnh Do đó phần lớn diện tích hứng nước của các sông lớn đều nằm ngoài lãnh thổ Phần lớn địa hình các sông có dạng đồi cao 50-150m, đất trên lưu vực chủ yếu là sa diệp thạch, đá vôi

, nguồn nước mặt qua đó cũng không lớn Tình hình điều tra khai thác nguồn nước ngầm còn gặp nhiều khó khăn Mặt khác nguồn nước mặt lại phân bố không đều theo không gian và thời gian Một năm có hai mùa nước, mùa nước lớn từ tháng 5-10, mùa nước cạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Trên địa bàn Bắc Giang có 374 km sông suối, trong đó 3 sông lớn là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu

Ngoài sông suối, Bắc Giang còn nhiều hồ, đầm, trong đó có hồ Cấm Sơn và

hồ Khuôn Thần Hồ Cấm Sơn nằm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, diện tích mặt nước 2.600 ha, vào mùa mưa có thể lên tới 3.000 ha Hồ Khuôn Thần có diện tích mặt nước 240 ha và lòng hồ có 5 đồi đảo được phủ kín bởi rừng thông 20 tuổi

3.1.1.5 Tài nguyên sinh vật

* Hệ thực vật

Hệ thực vật Bắc Giang hiện đã thống kê được 1070 loài thực vật bậc cao thuộc 5 ngành, 141 họ và 492 chi Như vậy, hệ thực vật Bắc Giang chiếm khoảng 10,3% tổng số loài, 21,7% tổng số chi và 45,9% tổng số họ của hệ thực vật Việt Nam Khuyết lá thông là hệ thực vật duy nhất của Việt Nam chưa được tìm thấy ở hệ thực vật Bắc Giang Tuy nhiên đây là loài thực vật rất cổ, chỉ có 1

họ, 1 chi và 1 loài với số cá thể rất ít, do đó sự vắng mặt đại diện của ngành này không ảnh hưởng đến tính đa dạng, phong phú của hệ thực vật

Hệ thực vật Bắc Giang có 11 loài quí hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ, chiếm 1% tổng số loài đã thống kê được của hệ thực vật Trong số 11 loài thì 2 loài có trong sách đỏ Việt Nam ( Phần thực vật), đồng thời cũng có trong danh lục đỏ IUCN Đó là Vú Hương (Cinnamomum balansea) và Pơ Mu ( Fokienia hodginsii) Một số loài chỉ có trong danh lục đỏ của IUCN, đó là cây lim ( Erythrofleum fordi), trong khi đó, 8 loài chỉ có trong sách đỏ Việt Nam

* Hệ động vật

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nhìn chung thành phần loài thú, chim, bò sát, ếch nhái tỉnh Bắc Giang không khác mấy so với các tỉnh lân cận, nhưng điều đặc biệt ở tỉnh Bắc Giang là: đây là tỉnh thứ hai đã tìm thấy loài cá cóc sần Tylototriton asperimus ở nước

ta Ngoài ra ở Thanh Sơn, Lục Sơn có rùa hộp 3 vách

Theo kết quả khảo sát trong 4 năm (2000 – 2003), có tham khảo kết quả nghiên cứu của các đoàn trước đây, bước đầu đã thống kê ở tỉnh Bắc Giang có

288 loài, thuộc 91 họ, 27 bộ, 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái Ngoài ra tỉnh Bắc Giang còn có 65 loài quý hiếm (chiếm 22,65% tổng số loài); cần có biện pháp bảo vệ, phục hồi và phát triển hợp lý

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang

3.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế

Giai đoạn từ 2008 – 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức tương đối cao, trung bình là 109,3% GDP năm 2010 tính theo giá so sánh 1994 là 6.080,7 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,39%

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch khá tích cực, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 34,00% năm 2009 xuống còn 32,5%; công ngiệp – xây dựng tăn từ 31,7% lên 33,6%; dịch vụ giảm nhẹ từ 34,3% xuống còn 33,9% Những nỗ lực trong công tác huy động vốn đầu tư phát triển đã đem lại kết quả khá cao; tổng vốn đầu tư đạt 8.829151 tỷ đồng, tăng 7,02% so với năm

2009 Đầu tư nước ngoài khởi sắc Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá cao; giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn ước tính 5.064,3 tỷ đồng, tăng 0,3% so với năm 2009 Tuy hoạt động nhiều khó khăn xong hoạt động sản xuất nông nghiệp cơ bản là ổn định

2008 – 2010 khoảng 1.04% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh trong giai đoạn

2008 – 2010 bình quân khoảng 0,66%

Theo số liệu thống kê qua các năm thì tỷ lệ nam, nữ cũng đã có sự thay đổi nhất định, tính trung bình tỷ trọng nam nữ chênh nhau khoảng 0,4% Dân số thành thị ngày một tăng do có một lượng dân cư từ nông thôn chuyển đến song

Trang 30

chỉ biến đổi với lượng rất nhỏ chỉ khoảng 0,1% Tại tỉnh Bắc Giang thì dân số trung bình ở nông thôn vẫn chiếm phần lớn khoảng hơn 90%, chỉ giảm nhẹ từ 90,5% năm 2008 đến 90,4% năm 2009, và năm 2010 vẫn giữ nguyên là 90,4% Tình hình dân số của Bắc Giang được giới thiệu ở các bảng dưới đây:

Bảng 11 Tốc độ phát triển dân số của tỉnh Bắc Giang năm 2008 – 2010 Năm Dân số

( Người)

Tỷ lệ tăng dân số (%)

Tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên (%)

Mật độ dân số ( người/km 2

Số dân trong độ tuổi lao động 1.033.000 người, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật nghề nghiệp Số lao động trong ngành nông – lâm nghiệp và thuỷ sản là chủ yếu chiếm 72,24% Theo điều tra của sở Lao động – Thương binh – Xã hội tỉnh, thời gian sử dụng lao động ở nông thôn mới đạt 84%, tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 5% Căn cứ xu thế phát triển của tỉnh hàng năm

4.1.2.3 Giáo dục – văn hoá – y tế, cơ sở hạ tầng

* Giáo dục, văn hoá, y tế

Về giáo dục và đào tạo: Hệ thống mạng lưới giáo dục đã được hình thành với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ mầm non đến cao đẳng Năm 2003 Bắc Giang đã đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đạt chuẩn phổ cập phổ cấp THCS sớm hơn mục tiêu 2 năm

Năm 2010, toàn tỉnh có 262 trường mẫu giáo công lập với 2.309 lớp học;

272 trường tiểu học với 4.987 lớp học, 121.054 học sinh, 7.635 giáo viên; 227 trường trung học cơ sở với khoảng 96.977 học sinh và 3.155 lớp học; 48 trường trung học phổ thông với khoảng 56.351 học sinh và 2.797 giáo viên Hiện nay toàn tỉnh Bắc Giang có 4 trường cao đẳng với 6.161 sinh viên

Về Văn hóa: Công tác văn hoá thể thao có chuyển biến tích cực Nhiều chỉ tiêu thực hiện vượt so với kế hoạch đề ra so với bình quân chung cả nước Đến nay toàn tỉnh có trên 80% số làng, bản, khu phố có hương ước, quy ước;

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

56% số thôn, làng, khu phố xây dựng được nhà văn hoá Toàn tỉnh có 60 thư viện, tủ sách cấp xã, phường, thôn làng; có 229 điểm bưu điện văn hoá xã; 229

tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn và 400 thư viện trường học

Về y tế: Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và phát triển Tuyến tỉnh

có 7 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 11 đơn vị sự nghiệp y tế Tuyến huyện

có 9 bệnh viện và 7 trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh, 4 phòng học khám đa khoa và khu vực và nhà hộ sinh khu vực, 100% xã, phường, thị trấn đều có trạm

y tế, 100% thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động 61/229 ( bằng 26,6%) xã, phường, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế; tuổi thọ bình quân đạt 70 tuổi

Nhìn chung hệ thống giáo dục đào tạo, y tế và văn hoá của Bắc Giang đã

có những chuyển biến đáng nói Đây là thuận lợi lớn để tỉnh Bắc Giang có được lực lượng lao động với trình độ cao trong tương lai, cũng như là có được một thế

hệ trẻ có ý thức nhất với xã hội

Đó sẽ là những con người nắm được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, đặc biệt là với CTR tại các khu công nghiệp trong xu thế chung là tập trung phát triển công nghiệp

* Cơ sở hạ tầng

Mạng lưới giao thông nội bộ tỉnh Bắc Giang có khả năng kết nối thuận tiện giữa các loại hình vận tải (đường bộ, đường sông, đường sắt) và giao thông đối ngoại liên tỉnh Các hệ thống đường cụ thể như sau:

Mạng lưới giao thông đường bộ bố trí tương đối thuận lợi, trong đó quốc

lộ có 05 tuyến (QL 1A mới, QL 1A cũ, QL 31, QL 37, QL 279) dài 278 km; đường tỉnh có 17 tuyến, dài 390 km; đường huyện có 71 tuyến, dài 562 km; đường xã có tổng chiều dài 2.160 km Tuy nhiên chất lượng nhìn chung còn thấp, còn nhiều tuyến chưa được nâng cấp trải nhựa, đặc biệt là những tuyến nằm ở miền núi, trung du và các tuyến đường huyện, xã

Về đường sắt: Trên địa bàn tỉnh có 3 tuyến đường sắt chạy qua: tuyến Hà Nội – Lạng Sơn; tuyến Kép – Lưu Xá; tuyến Kép – Bãi Cháy Các tuyến đường sắt này có thể liên kết với các tuyến đường sắt nối với Trung Quốc, tốc độ chạy tàu là 70 km/h Theo kế hoạch, Việt Nam sẽ xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Yên Viên (Hà Nội) – Hạ Long, đi song song với đường cao tốc QL8

Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 3 sông chính chảy qua đó là Sông Lục Nam, Sông Thương, Sông Cầu với tổng chiều dài 347 km và nối với hệ thống Sông Thái Bình, cảng Hải Phòng, Quảng Ninh, cảng Đa Phúc – Hà Nội.Trên các tuyến có 3 hệ thống cảng: Cảng Trung ương, cảng chuyên dùng và cảng địa phương với tổng năng lực bốc xếp khoảng 200.000 – 30.000 tấn/năm

Trang 32

Nguồn cung cấp điện cho tỉnh Bắc Giang gồm 02 hệ thống đường dây cao thế: Đường dây 110 KV Bắc Giang – Đông Anh (Hà Nội) và đường dây 220 KV mạch kép Phả Lại (Hải Dương) – Sóc Sơn (Hà Nội), qua trạm trung gian Đình Trám và trạm 220 KV Bắc Giang, đã đảm bảo cung cấp điện cho thành phố Bắc Giang, các đô thị, KCN, cho sản xuất và sinh hoạt

Hệ thống cấp thoát nước: Hệ thống cấp nước nhìn chùn đã đảm bảo yêu cầu sử dụng nước của thành phố; riêng đối với các thị trấn huyện lỵ và vùng nông thôn tỷ lệ cung cấp nước sạch mới đạt 60% Nước ở Bắc Giang được thoát

ra sông Cầu và sông Thương hệ thống các trạm bơm Cống Bún, Quang Biểu,

thải Nguồn gốc Lượng thải ô nhiễm chính Chất gây

Khí

thải

Khí thải xưởng tạo khí 45.000 m3/h SO2, NH3, H2S, bụi, CO Khí thải ống khói khu vực 5 lò hơi 35 tấn 160.000 m 3 /h SO2, NO2, bụi

Khí thải từ 2 lò hơi 75 tấn 350.000 m3/h SO2, NO2, bụi

Khí thải tháp tạo hạt Urê 100.000 Nm3/h Bụi urê, hơi NH3

Khí thải công đoạn thu hồi lưu huỳnh 2.000 Nm3/h H2S

Khí nồi hơi từ trạm nhiệt điện 350.000 Nm3/h SO2, NOx, bụi

Nước

thải

Nước sử dụng cho phân xưởng tạo khí 200 m3/h Bụi than, H 2 S hòa tan,

CN-, Phenol Nước thải phân xưởng nhiệt điện 4500 m3/h Nước trao đổi nhiệt Nước thải xối xỉ than 200 m3/h SS, nhiệt độ, NH 3

Nước từ phân xưởng Amoniac 3.100 m3/h NH3

Nước từ phân xưởng tổng hợp Urê 13 m3/h NH3, urê

Nước thải sinh hoạt toàn Công ty 11,5 m3/h BOD5, COD, SS… CTR

Xỉ lò tạo khí 2,5-3,5 tấn/h

Xỉ than lò hơi 8,58 tấn/h

Xúc tác tổng hợp NH 3 11 m3/lần Fe3O4, Al2O3

Xúc tác biến đổi 33 m3/lần Al2O3, CoO, MoO3

( Nguồn: Công ty CP thiết kế công nghiệp hóa chất – Trung tâm kỹ thuật môi

trường, 2008)[7]

3.2.1 Qui trình sản xuất và nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu của công ty

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.2.1.1 Công nghệ sản xuất

Dây chuyền công nghệ sản xuất phân đạm urê của Công ty phân đạm và hoá chất Hà Bắc sử dụng công nghệ đi từ than cục Antraxít là công nghệ truyền thống của ngành công nghiệp hoá học, bao gồm công đoạn sản xuất hơi nước, công đoạn khí hoá than sản xuất khí nguyên liệu, công đoạn tổng hợp amôniac

NH3, cuối cùng là công đoạn tổng hợp urê từ NH3 và CO2 thu hồi trong quá trình tinh chế khí nguyên liệu

Sản xuất hơi nước: Sử dụng than cám để sản xuất hơi 3,82Mpa cấp cho sản xuất điện và cho dây chuyền sản xuất NH3 và Urê (có tên gọi là xưởng Nhiệt) Khí hóa than: Sử dụng nguyên liệu than cục Antraxit để khí hóa, sản phẩm làm khí nguyên liệu tổng hợp NH3 (có tên gọi xưởng Tạo khí)

Tinh chế khí để làm sạch khí có chứa oxi, có tính axít trong khí nguyên liệu, tổng hợp amoniac (có tên gọi là công đoạn Tinh chế thuộc xưởng Tổng hợp amoniac)

Tổng hợp amôniac: Sau khi khí nguyên liệu được làm sạch được cấp cho công đoạn này để thực hiện quá trình hợp thành NH3, sản phẩm thu được là NH3lỏng (có tên gọi là công đoạn Hợp thành thuộc xưởng Tổng hợp amôniac)

Tổng hợp Urê: Sử dụng NH3 lỏng và khí CO2 sau quá trình tổng hợp NH3

để tổng hợp thành Urê, sau quá trình bốc hơi cô đặc, đưa đi tạo hạt và đóng bao được sản phẩm Urê(có tên gọi là xưởng Urê)

Ngoài ra, cũng có các công đoạn phụ trợ khác như: giao nhận và cung cấp than cho sản xuất (gọi là phân xưởng Than); khai thác nước mặt cấp cho sản xuất và xả nước thải của Công ty (gọi là xưởng Nước); quản lý khai thác hệ thống hồ lắng tro và xỉ lò hơi, hồ môi trường (gọi là phân xưởng Than Phế liệu)

3 lỏng

Dòng thải 3 Urê

Dòng thải 4

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 2 Sơ đồ công nghệ sản xuất của công ty TNHH MTV

Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc

* Công nghệ sản xuất hơi nước

Công ty có 01 xưởng Nhiệt sản xuất hơi nước để phục vụ phát điện và cung cấp cho công nghệ hoá Sơ đồ công nghệ quy trình sản xuất hơi nước của xưởng nhiệt được thể hiện ở hình 3 :

Máy nghiền

Băng tải

Ventury Tháp tách ẩm

Than cám

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 3 Sơ đồ công nghệ sản xuất hơi nước

Nhiên liệu cấp cho lò hơi là than cám được máy nghiền bi nghiền thành bột sau đó phun vào buồng đốt của lò hơi Nhiệt sinh ra từ quá trình đốt cháy than làm nước trong các ống sinh hơi của lò hơi bốc hơi thành hơi nước

Hơi nước sinh ra từ lò hơi được sử dụng vào 2 mục đích:

Sản xuất điện năng (bằng turbin hơi nước) phục vụ nhu cầu sản xuất của Công ty ;

Phục vụ cho dây chuyền công nghệ sản xuất hóa

Khói lò hơi được đưa qua tháp tách bụi màng nước (kiểu tháp Ventury) qua tháp khử mù nước để tách ẩm trước khi vào quạt khói, qua ống khói thải vào không khí Trong tháp Ventury nước đi từ trên xuống còn khói lò hơi đi từ dưới lên, qua quá trình tiếp xúc giữa hai pha lỏng - khí bụi và một số chất ô nhiễm chính như CN-

, CO, SO2…được nước hoà tan trong pha lỏng và đi ra ở đáy tháp Dòng nước này được dẫn qua hồ lắng (hồ môi trường) để thu hồi tro than, và qua các hồ xử lý ô xy hóa tự nhiên trước khi chảy đến trạm bơm 420, từ trạm này nước sẽ được bơm ra máng Nông Giang (phục vụ cho sản xuất nông nghiệp) hoặc bơm ra Sông Thương

Xỉ than của lò hơi được lấy ra ở đáy lò, sử dụng nước làm nguội trực tiếp, sau đó dòng nước lẫn xỉ chảy qua bể lắng, tại bể lắng xỉ sẽ lắng xuống và được thu hồi bán lại cho các cơ sở sản xuất ximăng, nước sau khi qua bể lắng sẽ chảy chung với dòng nước từ tháp Ventury chảy vào hồ môi trường

* Công nghệ sản xuất URE

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 4 Công nghệ sản xuất Urê

Lò khí hóa

Hơi nước Than cục

Không khí Lò đốt Lò hơi

nhiệt thừa

Hơi nước

Nước

Tháp rửa khí than

Két khí

Nước Nước thải

(tuần hoàn)

Nước thải (tuần hoàn)

Nước

Lọc bụi điện ướt

Bơm NH 3

Tháp tạo hạt Đóng bao

Urê

Sản xuất

CO2 lỏng, rắn

NH 3 lỏng đóng bình

Ngày đăng: 24/03/2021, 23:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w