Về tình hình phát triển làng nghề và ngành nghề nông thôn cũng đã có một số công trình đề cập tới: “Sự biến đổi của làng - xã Việt Nam hiện nay”, Tô Duy Hợp, nhà xuất bản Khoa học xã hộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN THANH
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG KINH TẾ, XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC LÀNG NGHỀ
Ở TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN THANH
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG KINH TẾ, XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC LÀNG NGHỀ
Ở TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60.31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ SƠN
THÁI NGUYÊN – 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Văn Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS Nguyễn Thị Sơn, đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn!
Xin chân thành cảm ơn các phòng, Ban thuộc cơ sở đào tạo - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban chủ nhiệm và tập thể cán bộ, giảng viên khoa Địa lý, trường Đại học sư phạm Thái Nguyên Xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ quý báu đó
Xin cảm ơn Sở Công Thương, Sở Kế hoạch - Đầu tư, Cục Thống kê, Cục Thuế, Thư viện tỉnh Bắc Ninh, Uỷ ban nhân dân thị xã Từ Sơn cùng các Phòng, Ban, Uỷ ban nhân dân và các hộ sản xuất kinh doanh tại các xã, phường Châu Khê, Đồng Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc, Tương Giang, Đình Bảng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra khảo sát, thu thập tài liệu phục vụ cho việc thực hiện luận văn
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp trường Trung học phổ thông Lý Thường Kiệt thành phố Bắc Ninh, gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện động viên, chia sẻ với tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
Ngày tháng năm 2010
Tác giả
Trần Văn Thanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 12
1 Lý do chọn đề tài 12
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
2.1 Mục đích 13
2.2 Nhiệm vụ 13
3 Giới hạn nghiên cứu 14
4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 14
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 17
5.1 Quan điểm nghiên cứu 17
5.2 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Những đóng góp chủ yếu của luận văn 21
7 Cấu trúc luận văn 21
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÀNG NGHỀ 22
1.1 Cơ sở lý luận 22
1.1.1 Một số vấn đề về làng nghề 22
1.1.2 Một số hình thức tổ chức sản xuất làng nghề 34
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề 36
1.1.4 Những tác động của các làng nghề 47
1.2 Cơ sở thực tiễn 52
1.2.1 Khái quát về làng nghề ở Đồng bằng sông Hồng 52
1.2.2 Khái quát thực trạng phát triển các làng nghề ở Bắc Ninh 54
Tiểu kết chương 1 60
Trang 6Chương 2 TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC LÀNG NGHỀ, CỤM CÔNG NGHIỆP
LÀNG NGHỀ Ở TỪ SƠN 62
2.1 Tiềm năng phát triển các làng nghề ở Từ Sơn 62
2.1.1 Vị trí địa lý 62
2.1.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 62
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 65
2.2 Thực trạng phát triển và phân bố các làng nghề ở Từ Sơn 71
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển các làng nghề ở Từ Sơn 71
2.2.2 Thực trạng phát triển làng nghề 72
2.2.3 Một số làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề, khu công nghiệp làng nghề điển hình trên địa bàn thị xã Từ Sơn 84
2.3 Những tác động của làng nghề 92
2.3.1 Những hiệu quả 92
2.3.2 Những vấn đề nảy sinh 98
Tiểu kết chương 2 103
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỪ SƠN ĐẾN 2015 TẦM NHÌN 2020 104
3.1 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội Từ Sơn đến năm 2015 104
3.1.1 Phương hướng chung 104
3.1.2 Các mục tiêu chủ yếu đến năm 2015 104
3.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển các làng nghề thị xã Từ Sơn 105
3.2.1 Quan điểm phát triển 105
Trang 73.2.2 Mục tiêu phát triển 106
3.3 Định hướng phát triển các làng nghề trên địa bàn thị xã Từ Sơn 108
3.3.1 Định hướng phát triển các làng nghề đã có 108
3.3.2 Định hướng phát triển các làng nghề mới 108
3.3.3 Định hướng hình thành các tiểu vùng chủ yếu 110
3.4 Các giải pháp chủ yếu 111
3.4.1 Giải pháp về quy hoạch 111
3.4.2 Giải pháp về khoa học công nghệ 112
3.4.3 Giải pháp về vốn 113
3.4.4 Giải pháp về đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 114
3.4.5 Giải pháp về thị trường 115
3.4.6 Giải pháp về quản lí và bảo vệ môi trường 116
Tiểu kết chương 3 118
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 119
1 Kết luận 119
2 Khuyến nghị 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
1 CCN : Cụm công nghiệp
2 GTSX : Giá trị sản xuất
3 KCN : Khu công nghiệp
4 LĐ : Lao động
5 TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
6 UBND : Ủy ban nhân dân
7 USD : Đô la Mỹ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất 19
Bảng 1.2: Giá trị C của một số các thông số ô nhiễm trong nước thải 38
Bảng 1.3: Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh 39
Bảng 1.4: Làng nghề hiện có tỉnh Bắc Ninh năm 2008 45
Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất ở Từ Sơn 53
Bảng 2.2: Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất 55
Bảng 2.3: Các làng nghề ở Từ Sơn năm 2008 62
Bảng 2.4: Tỷ trọng GTSX làng nghề so với GTSX công nghiệp 64
Bảng 2.5: Một số sản phẩm chủ yếu của làng nghề Từ Sơn giai đoạn 2001 - 2008 65
Bảng 2.6: Tổng số lao động, lao động công nghiệp, lao động làng nghề …69
Bảng 2.7: Tổng số hộ, số hộ sản xuất nghề và số hộ phi nông nghiệp … 70
Bảng 2.8: Trình độ học vấn của chủ hộ tại làng nghề Đồng Kỵ, Đa Hội, Hương Mạc, Tương Giang 72
Bảng 2.9: Giá trị sản xuất kinh doanh và tổng số lao động của CCN làng nghề sản xuất Thép Châu Khê 79
Bảng 2.10: Giá trị sản xuất kinh doanh và tổng số lao động của CCN làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ 80
Bảng 2.11: Thu nhập bình quân theo đầu người và tỷ lệ hộ đói nghèo 85
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Dân số và tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên Từ Sơn 2002 - 2008 54 Hình 2.2: GTSX toàn huyện và GTSX làng nghề ở Từ Sơn giai đoạn
2001 - 2008 64 Hình 2.3: GTSX công nghiệp, GTSX làng nghề và CCN làng nghề ở Từ Sơn
2004 - 2008 83 Hình 2.4: Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội Từ Sơn giai đoan 2000 - 2008 84
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 52 Bản đồ 2: Bản đồ các nguồn lực chính phát triển làng nghề Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh 59 Bản đồ 3: Bản đồ hiện trạng làng nghề Từ Sơn 71 Bản đồ 4: Bản đồ hiện trạng cụm công nghiệp làng nghề Từ Sơn 82
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì một trong những vấn đề nóng bỏng cần được quan tâm lớn của Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác trên thế giới là công nghiệp hoá kinh tế nông thôn
Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ trên đòi hỏi phải thu hút được nguồn vốn đầu tư, tiếp cận được những tiến bộ khoa học công nghệ, giải quyết việc làm
Do ở nước ta hiện nay hơn 70% dân số sống ở nông thôn, trong quá trình ưu tiên phát triển công nghiệp thì cần phải chú trọng khôi phục và phát triển công nghiệp làng nghề Qua một thời gian dài, thực tế cho thấy rằng các làng nghề
đã hoạt động khá hiệu quả, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của sản xuất trong nước Đồng thời góp phần to lớn nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trên thị trường quốc tế
Sự hình thành các làng nghề luôn gắn liền với lịch sử phát triển nền văn hoá cũng như lịch sử phát triển nền kinh tế, với những lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội Mỗi nơi có những đặc điểm riêng,
có thế mạnh và hạn chế khác nhau nên mỗi nơi sẽ có các làng nghề với quy
mô và mức độ hoạt động khác nhau
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, giáp thủ đô Hà Nội, là tỉnh có diện tích nhỏ, nhưng lại có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế nhất là phát triển công nghiệp Từ năm 2004 Bắc Ninh chính thức trở thành một trong tám tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Trong những năm gần đây Bắc Ninh có vị thế mới trong nền kinh tế đất nước nhất là điểm sáng về phát triển công nghiệp, Bắc Ninh đang chuyển mình mạnh mẽ với những bước đi dài về công nghiệp hoá, hiện đại hoá phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2015 trở thành tỉnh công nghiệp Cùng
Trang 13với sự phát triển của ngành công nghiệp là sự khôi phục và phát triển các làng nghề (bao gồm làng nghề truyền thống và làng nghề mới) trên địa bàn tỉnh Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp, thực hiện Quyết định
132 năm 2000 và Nghị định 134 năm 2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn công tác quản lí nhà nước đối với các khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề cũng được quan tâm đẩy mạnh Từ Sơn (huyện Từ Sơn được thành lập năm 1999 trên cơ sở tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện Tiên Du và Từ Sơn Ngày 24 tháng 9 năm 2008, Chính phủ ban hành nghị định thành lập thị xã Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Từ Sơn Thị xã Từ Sơn gồm 7 phường và 5 xã) là một thị xã có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng từ lâu đời Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã góp phần không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Thị xã, của tỉnh Bắc Ninh Tuy nhiên, trong quá trình phát triển các làng nghề, Thị xã cũng phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh hết sức phức tạp đòi hỏi cần phải có các giải pháp phù hợp và cấp bách
Với lý do trên đề tài: “Thực trạng phát triển và những tác động kinh
tế, xã hội, môi trường của các làng nghề ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, được
lựa chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về làng nghề, đề tài tìm hiểu tiềm năng, thực trạng phát triển và những tác động về kinh tế, xã hội và môi trường của các làng nghề trên địa bàn Từ Sơn Từ đó, đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển các làng nghề một cách hiệu quả phù hợp với hoàn cảnh địa phương theo hướng bền vững
2.2 Nhiệm vụ
Trang 14- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về các làng nghề, áp dụng vào địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá các nguồn lực ảnh hưởng đến sự phát triển các làng nghề ở Từ Sơn
- Phân tích thực trạng phát triển và phân bố các làng nghề ở Từ Sơn và những tác động của các làng nghề (cả tích cực và những vấn đề nảy sinh, bất cập) về kinh tế, xã hội, môi trường tại địa bàn
- Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển các làng nghề theo hướng bền vững tại địa bàn Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
3 Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu sự phát triển các làng nghề ở Từ Sơn về số lượng, cơ cấu ngành nghề, các kết quả chủ yếu sự phân bố trong địa bàn Đánh giá các kết quả và những vấn đề nảy sinh (bất cập) về kinh tế, xã hội và môi trường lên địa bàn
- Giới hạn về phạm vi nghiên cứu: toàn bộ lãnh thổ huyện từ Sơn gồm
4.1 Về tình hình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam và đồng bằng sông Hồng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoả sát đề cập như: “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng”, Nguyễn Đình Phan, Trần Minh Đạo, Nguyễn Văn Phúc, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002; “Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công
Trang 15nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam”, Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang, nhà xuất bản Nông nghiệp, 1999; “Con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn”, Chu Hữu Quý, Nguyễn Kế Tuấn, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001
4.2 Về tình hình phát triển làng nghề và ngành nghề nông thôn cũng đã
có một số công trình đề cập tới: “Sự biến đổi của làng - xã Việt Nam hiện nay”, Tô Duy Hợp, nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2000; “Ngành nghề nông thôn Việt Nam”, Dương Bá Phượng, nhà xuất bản Nông nghiệp, 1998 [18];
“Phát triển làng nghề ở nông thôn”, Nguyễn Sinh Cúc, tạp chí Cộng sản số 12 (6/2001)… Các công trình nêu trên chủ yếu làm rõ thực trạng quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và một số chính sách giải pháp nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đồng bằng sông Hồng Một số công trình tập trung làm rõ sự biến đổi làng xã Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, trong đó đề cập đến một số khía cạnh của làng nghề như: lao động, việc làm, thị trường…
Ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004 -2005, PGS.TS Trần Văn Chử và tập thể tác giả viện Kinh tế phát triển đã thực hiện
đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Phát triển thị trường cho làng nghề tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn hiện nay”, đã tập trung làm rõ thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay và các giải pháp khắc phục
“Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá”, của Phạm Quốc Sử, tạp chí Lí luận chính trị, số 2/2002; “Phát triển làng nghề thủ công truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá”, Mai Thế Hiển, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003; “Làng nghề truyền thống Việt Nam ”, Phạm Côn Sơn, nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, 2004;
“Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá”,
Trang 16Dương Bá Phượng, nhà xuất bản Khoa học xã hội và nhân văn Viện kinh tế học, 2004 [18]
Trên phạm vi cấp tỉnh, thành phố nghiên cứu về làng nghề qua đề tài luận án, luận văn, khoá luận tốt nghiệp, “Phát triển làng nghề Bắc Ninh trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá”, Lê Văn Hương, luận án tiến
sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội, 2010 [14]; “Nghiên cứu chất lượng môi trường không khí và nước tại một số làng nghề huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh”, Nguyễn Thị Thu Hiền, 2003; vấn đề phát triển các làng nghề ở Từ Sơn đã có công trình: “Nghề gỗ mĩ nghệ Đồng Kỵ trong thời kỳ hội nhập”, Nguyễn Thu Hà, khoá luận tốt nghiệp, khoa Địa lí, trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2008 [12]
“Đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, Vũ Thị Tuyết Nhung, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, 2007 [16]
Các công trình cũng đã tập trung làm rõ vai trò của làng nghề đối với quá trình phát triển đất nước, vùng đồng bằng sông Hồng, tỉnh Bắc Ninh và các huyện, thị thuộc tỉnh Bắc Ninh Các tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng làng nghề về lao động, tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, kĩ thuật công nghệ, môi trường và đề xuất các phương hướng, giải pháp để thúc đẩy làng nghề phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Sự phát triển của các làng nghề, các cụm công nghiệp và khu công nghiệp làng nghề của Từ Sơn nằm trong chiến lược phát triển công nghiệp của cả nước Việc phát triển làng nghề của Từ Sơn cũng được đề cập tới trong các báo cáo, các bản quy hoạch phát triển kinh tế chung và quy hoạch phát triển công nghiệp của Từ Sơn, của tỉnh Bắc Ninh, các bài báo, tạp chí… Tuy nhiên các công trình nêu trên chưa đề cập thực trạng phát triển các làng nghề
và những tác động về kinh tế, xã hội và môi trường của nó trên địa bàn thị xã
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Trang 17Trên đây là những nguồn tài liệu quý báu, làm cơ sở cho đề tài được tiếp cận, kế thừa và sử dụng cho việc nghiên cứu Từ đó, tác giả đề tài có thể đúc kết cả những vấn đề lí luận, thực tiễn về làng nghề, vận dụng vào địa bàn Từ Sơn một cách có cơ sở khoa học
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm lịch sử: Mọi sự việc, hiện tượng đều có nguồn gốc phát sinh,
phát triển riêng của nó Hiện tại là kết quả của quá khứ, là sự kế thừa và phát huy những mặt mạnh, khắc phục những điểm yếu Đó là quy luật chung ở mỗi giai đoạn lịch sử
Vận dụng quan điểm này trong nghiên cứu để thấy được sự hình thành và phát triển của các làng nghề trong suốt quá trình phát triển kinh tế của Từ Sơn
Quan điểm tổng hợp: Trong một lãnh thổ, mọi yếu tố đều tồn tại, vận
động và phát triển trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau, tạo nên một thể thống nhất Sự thay đổi của yếu tố này sẽ kéo theo sự thay đổi của một loạt các yếu tố khác và làm cho lãnh thổ luôn ở thế cân bằng động
Vận dụng quan điểm này đòi hỏi phải xem xét các yếu tố tự nhiên, kinh
tế xã hội và con người ảnh hưởng tới sự hình thành, phát triển các làng nghề trong mối quan hệ chung với ngành công nghiệp, toàn bộ nền kinh tế và cả những biến động trên thị trường thế giới
Quan điểm kinh tế: Thông qua một số chỉ tiêu cụ thể: tốc độ tăng trưởng,
hiệu quả kinh tế phải đánh giá được hiệu quả kinh tế các làng nghề trên địa bàn Từ Sơn
Quan điểm lãnh thổ: Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát
triển trong một không gian lãnh thổ nhất định Trong nghiên cứu địa lí kinh tế
xã hội vấn đề quan trọng là phải tìm được những đặc trưng riêng của lãnh thổ,
đó là cái để phân biệt nó với lãnh thổ khác Sự khác biệt này được tạo bởi rất
Trang 18nhiều yếu tố (cơ sở tài nguyên, dân cư, lịch sử khai thác lãnh thổ, cơ cấu kinh
tế, trình độ phát triển kinh tế xã hội…) Do đó, trong nghiên cứu, đánh giá các đối tượng địa lí bao giờ cũng phải gắn với một địa phương cụ thể, đề tài này cũng không nằm ngoài quan điểm đó
Quan điểm phát triển bền vững: là quan điểm bao trùm trong phát triển
kinh tế hiện nay Vận dụng quan điểm vào luận văn thì việc phát triển làng nghề nhằm mang lại hiệu quả cao, bền vững cả về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Để bảo tồn và phát triển làng nghề, chúng ta cần phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển Quá trình sản xuất của làng nghề phải bảo đảm tạo ra những sản phẩm vừa có yếu tố văn hoá truyền thống, vừa có giá trị kinh tế cao, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh nhưng không gây tác động xấu đến môi trường, vì vậy phát triển bền vững vừa là quan điểm, vừa là mục tiêu của việc phát triển ngành công nghiệp làng nghề
Quan điểm viễn cảnh: căn cứ vào thực trạng phát triển và xu hướng vận
động của ngành công nghiệp nói chung, của các làng nghề nói riêng để lập ra các đề án, kế hoạch hợp lý
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, xử lý số liệu:
Từ trước đến nay nghề và làng nghề là đối tượng nghiên cứu của đông đảo các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Các tài liệu, số liệu về làng nghề được lưu trữ và cập nhật ở nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau Việc tổng quan tài liệu thu thập được cho phép tiếp cận với những kết quả nghiên cứu đã có, cập nhật những vấn đề mới ở trong và ngoài nước
Tài liệu thống kê thứ cấp, thu thập được từ Cục Thống kê Bắc Ninh,
Sở Công Thương Bắc Ninh, Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh, Uỷ ban nhân dân thị xã Từ Sơn Giúp tác giả có cái nhìn tổng quát theo các tiêu chí cơ bản về quá trình phát triển của làng nghề Từ Sơn
Trang 19Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi thu thập các tư liệu liên quan đến các làng nghề tại Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh, phòng thống kê thị xã Từ Sơn, UBND và phòng kinh tế thị xã Từ Sơn… Cụ thể là các số liệu về tình hình phát triển các làng nghề, sau đó tiến hành phân loại, xử lý, tổng hợp theo các tiêu chí trong phần nội dung đề cương đã xây dựng và kết luận
Phương pháp bản đồ biểu đồ:
Là phương pháp đặc trưng khi nghiên cứu địa lý, vì bản đồ là mở đầu và cũng là kết thúc của công tác nghiên cứu địa lí Khi nghiên cứu đề tài tác giả phải dựa vào bản đồ để tìm hiểu vị trí địa lí, nguồn tài nguyên, cơ cấu kinh tế, hoạt động thương mại… Tác giả sử dụng phần mềm Mapinfo và các tài liệu
số liệu đã xử lý để xây dựng các bản đồ chuyên đề nhằm thể hiện trực quan các kết quả nghiên cứu của đề tài: Bản đồ hành chính thị xã Từ Sơn; Bản đồ một số nguồn lực chính phát triển làng nghề thị xã Từ Sơn, Bản đồ hiện trạng phát triển làng nghề Từ Sơn, Bản đồ hiện trạng các cụm công nghiệp làng nghề Từ Sơn
Phương pháp thực địa
Đây là một phương pháp nghiên cứu đặc trưng của khoa học Địa lý Phương pháp này giúp ta tiếp cận vấn đề một cách chủ động, trực quan, đánh giá một cách xác thực để có một cái nhìn toàn diện về các đối tượng nghiên cứu Trong suốt quá trình thực hiện đề tài từ năm 2009 đến nay tác giả đã nhiều lần triển khai các chuyến thực địa khác nhau tại địa bàn nghiên cứu Các hoạt động chính trong phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh các hoạt động sản xuất kinh doanh tại các làng nghề; gặp gỡ, trao đổi với chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý và cộng đồng sở tại về các vấn đề liên quan đến nghề và các hoạt động của các làng nghề Trên cơ sở tiếp xúc với các Sở, Ban, ngành, chính quyền địa phương tác
Trang 20giả đã thu thập được những tài liệu, thông tin về quan điểm, chủ trương chính sách liên quan đến việc đầu tư phát triển làng nghề ở thị xã Từ Sơn nói riêng
và tỉnh Bắc Ninh nói chung Triển khai công việc khảo sát thực địa giúp tác giả có những nhìn nhận ban đầu đối với quá trình tổ chức sản xuất ở các làng nghề, cụm công nghiệp, khu công nghiệp làng nghề thị xã Từ Sơn hiện nay
Phương pháp khảo sát xã hội học:
Đây là phương pháp được tác giả sử dụng trong quá trình triển khai nghiên cứu luận văn nhằm bổ sung cho bức tranh hiện trạng làng nghề thị xã
Từ Sơn Các cuộc phỏng vấn nhanh, điều tra theo mẫu được tiến hành trên cơ
sở các chủ đề về công nghệ, vốn, lao động, sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, môi trường, thu nhập
Các điểm nghiên cứu được chọn trên nguyên tắc là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu Đối tượng khảo sát là các hộ làm nghề được chọn theo phương pháp kết hợp giữa chọn ngẫu nhiên và chọn có chủ định trên cơ
sở các mẫu điều tra đã chuẩn bị sẵn Người được phỏng vấn là các chủ hộ gia đình (vợ hoặc chồng), là những người có vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế hộ
Tác giả đã khảo sát ở 36 hộ gia đình theo phiếu đã được chuẩn bị sẵn tại các làng nghề tiêu biểu là sắt Đa Hội, mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, mộc mỹ nghệ Phù Khê, mộc mỹ nghệ Hương Mạc và dệt Tương Giang Đây là những làng nghề phát triển có tác động lớn đến kinh tế xã hội và môi trường tại địa phương; có nghề truyền thống, sản phẩm mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc,
có khả năng hiện đại hoá công nghệ sản xuất
Trong quá trình thực địa, tác giả cũng đã tiến hành phỏng vấn nhanh các đối tượng khác như lao động làm nghề, cán bộ địa phương (thôn, làng, xã, phường) tại các làng nghề khác như Đồng Nguyên, Đình Bảng, Tam Sơn Các kết quả điều tra được phân nhóm và tổng hợp theo các chỉ tiêu Từ đó tác giả
sử dụng các chỉ tiêu này để tham khảo, minh họa, phân tích làm rõ các nội
Trang 21dung trong luận văn như đánh giá chất lượng đội ngũ chủ các cơ sở, chất lượng cuộc sống, những khó khăn thuận lợi của các làng nghề
6 Những đóng góp chủ yếu của luận văn
1 Đúc kết những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến
sự phát triển và những tác động của làng nghề
2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng phát triển làng nghề, đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và những vấn đề kinh tế xã hội và môi trường đối với sự phát triển làng nghề của Từ Sơn trong giai đoạn hiện nay
3 Định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu cho việc phát triển phù hợp hơn làng nghề ở Từ Sơn theo hướng bền vững trong những năm tới
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về làng nghề
Chương 2: Tiềm năng, thực trạng phát triển và những tác động của các
làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề ở Từ Sơn
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn
Từ Sơn đến năm 2015 tầm nhìn 2020
Trang 22Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÀNG NGHỀ
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số vấn đề về làng nghề
1.1.1.1 Khái niệm làng nghề
a Làng: Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Làng là một
khối dân cư nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt cùng tiến hành một nghề Theo cách hiểu phổ biến nhất, làng là vùng đất chung của cư dân nông nghiệp sống quây quần theo tinh thần cộng đồng và có cùng phương kế sinh nhai [6, tr.10] Xã hội nông thôn Việt Nam từ xưa tới nay, làng là một tế bào xã hội người Việt Nó là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một địa vực, một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân cư quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất Làng được hình thành trên cơ sở những công xã nông thôn Nó là một tập hợp những gia đình nhỏ trong một không gian nhất định để sản xuất và sinh hoạt độc lập Sự khai phá chung vê ruộng đất, việc xây dựng nhng công trình trị thuỷ và thuỷ lợi nhỏ ở thời kỳ đầu đã gắn bó những người không cùng huyết thống hợp lại với nhau đề thành lập làng Làng Việt truyền thống là một không gian xã hội ổn định Trong làng chồng xếp nhiều mối quan hệ kinh tế
xã hội - nhân văn phong phú, phức tạp như huyết thống, láng giềng, nghề nghiệp, hôn nhân, tín ngưỡng và hợp tác Các làng thôn ở nước ta có thể chia thành 4 loại:
Làng nông nghiệp: là làng thuần nông ở miền Bắc và làng miệt vườn ở Nam Bộ
Làng nghề: là làng làm nghề nông có thêm một hoặc một số nghề thủ công nghiệp
Trang 23Làng bôn bán: là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của một
số thương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp
Làng chài (hoặc các vạn chài): là làng của các cư dân làm nghề chài lưới đánh cá sống ở ven sông, ven biển [18, tr.10-11]
Theo Phan Đại Doãn (2001) làng là đơn vị quần cư cơ sở ở nông thôn, quy mô của làng thường có từ vài chục đến vài trăm nóc nhà Làng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn, là cộng đồng dân cư tự nhiên được tập hợp theo quan hệ huyết thống, quan hệ địa vực, quan hệ nghề nghiệp [14]
Làng có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển dân tộc vượt qua những thử thách, biến động thăng trầm trong lịch sử những nét thuần phong mỹ tục cổ truyền ở nông thôn vẫn được duy trì phát triển qua văn hoá làng, ngày nay trong xu thế hội nhập giao lưu quốc tế làng và văn hoá làng đang có những biến đổi mạnh mẽ nhưng văn hoá làng vẫn được bảo tồn và phát triển phù hợp với tình hình mới
Từ xa xưa các làng sống chủ yếu bằng nông nghiệp và chăn nuôi có quy mô nhỏ, do nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, vào thời gian nông nhàn, ở các làng xã nông thôn đã xuất hiện các nghề phụ trong các gia đình Ban đầu, các nghề phụ chủ yếu là các nghề thủ công, làm các đồ thiết yếu cho gia đình Tuy nhiên, do nhu cầu về những sản phẩm đó tăng lên cả về số lượng và chất lượng nên một bộ phận dân cư đã tách khỏi nông nghiệp nhưng vẫn sống trong làng để chuyên môn hoá vào sản xuất các sản phẩm đó Họ liên kết với nhau chặt chẽ, nông thôn Việt Nam xuất hiện một số tổ chức theo nghề nghiệp tạo thành các phường hội: Phường dệt, Phường gốm, Phường đúc đồng, phường rèn… Từ đó các nghề được lan truyền, đến một giai đoạn nhất định, khi nghề thủ công chiếm một tỷ lệ quan trọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi làng, khi đó làng nghề xuất hiện
Trang 24mỹ nghệ mang tính hàng hoá “Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng
Tổ nghề, và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc sự liên kết hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngay trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ”[23, tr.13]
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng: Làng nghề là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp có phường, có ông trùm, ông phó cả… Cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, với quy trình công nghệ nhất định sinh ư nghệ, tử ư nghệ (nhất nghệ tinh, nhất thân vinh) sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng có tính mỹ nghệ, đã trở thành hang hoá và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh Những làng ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu, trở thành di sản văn hoá dân gian [6]
Quan niệm nêu trên là nói về những làng nghề thủ công truyền thống có
từ lâu đời, tồn tại hàng trăm năm nay như nghề chạm bạc ở làng Đồng Xâm
Trang 25(Thái Bình), nghề gốm làng Bát Tràng, nghề rèn làng Đa Sỹ quận Hà Đông thành phố Hà Nội, nghề chạm sừng Thuỵ Ứng xã Hoà Bình, huyện Thường Tín
Hà Nội Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường đã xuất hiện các làng nghề mới có tính hiện đại, trong đó đặc trưng bởi sự phát triển kinh doanh dịch vụ và xây dựng, kinh doanh đa ngành nghề; đồng thời, do quá trình công nghiệp hoá diễn ra mạnh mẽ ở các làng nghề, trong các làng nghề
kỹ thuật và công nghệ sản xuất không đơn thuần chỉ là kỹ thuật thủ công, mà
có nhiều nghề nhiều công đoạn sản xuất áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại như mộc, gỗ mỹ nghệ Liên Hà, Vân Hà, Đông anh, Hà Nội; thép Trịnh Xá, Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh; mộc mỹ nghệ Dương Sơn, Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh các làng nghề mới đã xuất hiện, được hình thành trên cơ sở ươm tạo nghề mới hoặc sự lan toả của các làng nghề ra các khu vực xung quanh
Theo Dương Bá Phượng, làng nghề là làng ở nông thôn có một (hoặc một số) nghề thủ công nghiệp tách hẳn ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập [18] Bách khoa toàn thư Việt Nam thì khái quát: làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam [14]
Như vậy, làng nghề là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành là làng và nghề Trong đó nghề trong làng đã tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp thành ngành kinh doanh độc lập nên đã phù hợp với điều kiện mới Đồng thời trong
cơ cấu kinh tế cấu làng còn có các hoạt động phi nông nghiệp khác Quá trình chuyên môn hoá trong sản xuất của làng nghề cũng như sự phân công lao động trong các làng nghề đã làm xuất hiện các ngành nghề dịch vụ đi kèm, từ
đó đã xuất hiện các làng nghề buôn bán dịch vụ Tuy nhiên, không phải bất cứ quy mô nào của nghề cũng được gọi là làng nghề Làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động của ngành nghề phi nông nghiệp đạt đến một quy mô nào
đó và mang tính ổn định Vì vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện được cả định tính và định lượng
Trang 26Những quan niệm trên đây được đúc kết tổng hợp Làng nghề, làng nghề truyền thống có thể được hiểu như sau:
- Làng nghề là làng ở nông thôn trên địa bàn một xã (phường), có các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp (bao gồm các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ) kinh doanh độc lập và đạt tới một tỉ lệ nhất về lao động làm nghề cũng như thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng
- Làng nghề truyền thống là làng có nghề cổ truyền, tinh xảo, được hình thành từ lâu đời, tồn tại và phát triển đến ngày nay Trong làng có các nghệ nhân và các gia đình chuyên làm nghề, có cùng Tổ nghề, với những sản phẩm mang tính mỹ nghệ, độc đáo, đã trở thành hàng hoá mang đậm nét văn hoá đặc sắc địa phương
1.1.1.2 Những tiêu chí và phân loại làng nghề
a Tiêu chí làng nghề
Hai tiêu chí cơ bản phản ánh quy mô hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp là lao động làm nghề và giá trị sản xuất (GTSX) Do ngành nghề phi nông nghiệp gắn với làng nên phải tính theo tỷ lệ lao động (hay số hộ) và thu nhập của ngành nghề phi nông nghiệp trong tổng số lao động (hay tổng số hộ)
và trong tổng thu nhập của cả làng
Theo số liệu điều tra của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, đối với từng loại nghề khác nhau thì tỷ lệ lao động làm nghề cũng khác nhau, song đối với làng nghề truyền thống, tỷ lệ này thấp nhất là 30 - 35% [14] Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tỷ lệ này phải chiếm 30% trở lên [3] Một số địa phương cũng đưa ra tiêu chí về tỷ lệ lao động làm nghề để công nhận là làng nghề Ở Hà Nội tỷ lệ này là từ 40% trở lên, ở Hà Tây (cũ) tỷ lệ này là 50%, ở Hà Nam là 70%
Tổ chức JICA lại cho rằng chỉ cần có trên 20% số hộ trong làng tham gia làm nghề sẽ được gọi là làng nghề [6] Tiến sỹ Dương Bá Phượng cho rằng hộ lao động làm nghề cần đạt từ 35 -40% mới được gọi là làng nghề [8]
Trang 27Về tỷ lệ thu nhập, hầu hết các tài liệu đều cho rằng: thu nhập từ ngành nghề phi nông nghiệp phải chiếm ít nhất 50% tổng thu nhập của làng mới được gọi là làng nghề
Hiện nay, cũng như các tỉnh, thành trong cả nước tỉnh Bắc Ninh và các đơn vị hành chính trực thuộc đều sử dụng tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn:
1 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống:
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:
a Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận
b Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc
c Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
2 Tiêu chí công nhận làng nghề:
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
a Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
b Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
c Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
3 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống:
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại thông tư này
Trang 28Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn a, b của tiêu chí công nhận làng nghề tại điểm 2, nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống [4]
Theo kết quả nghiên cứu thực tế của tác giả, thu nhập từ sản xuất và kinh doanh tiểu thủ công nghiệp của các hộ thường cao gấp 2 đến 4 lần so với sản xuất nông nghiệp, kết quả trên cũng phù hợp với các báo cáo đã có trước
đó Như vậy, nếu tính theo giá trị gấp 2 lần thì trong làng cần có 1/3 số hộ sản xuất kinh doanh ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sẽ tạo ra giá trị là 50% trong tổng GTSX của làng Nếu tính theo giá trị gấp 4 lần thì cần 1/5 số hộ sản xuất kinh doanh ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sẽ tạo ra giá trị là 50% trong tổng thu nhập của làng
Vì vậy, theo tác giả tiêu chí công nhận làng nghề cần có tỷ lệ hộ tham gia sản xuất kinh doanh ngành nghề phải chiếm từ 20% và giá trị tạo ra là từ 50% trở lên trong tổng thu nhập của làng Quan điểm nghiên cứu về làng nghề trong đề tài của tác giả là làng nghề bao gồm cả làng nghề truyền thống
và làng nghề mới
b Phân loại làng nghề
Đến cuối năm 2009 cả nước ta có khoảng 2790 làng nghề, trong đó có
240 làng nghề truyền thống, riêng ở Hà Nội có 1160 làng nghề, làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%) [7] Sản phẩm
và phương thức sản xuất của các làng nghề khá phong phú với hàng trăm loại ngành nghề khác nhau Căn cứ vào tiêu chí, mục tiêu khác nhau mà có những cách phân loại làng nghề khác nhau
Phân loại làng nghề theo số lượng và thời gian làm nghề gồm có làng một nghề, làng nhiều nghề; làng nghề truyền thống và làng nghề mới [18]
Trang 29Quan điểm của Bộ Tài nguyên và Môi trường phân loại làng nghề như sau: Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới; Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm; Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ; Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; Theo mức độ sử dụng nguyên, nhiên liệu; Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Mỗi cách phân loại trên có những đặc thù riêng và tuỳ theo mục đích
mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp Dựa trên các yếu tố tương đồng
về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm thì nước ta gồm 6 nhóm ngành hoạt động làng nghề
Một là, làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: có số lượng làng nghề lớn, chiếm 20% tổng số làng nghề, với các làng nghề nổi tiếng như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậu xanh…
Hai là, làng nghề dệt, nhuộm, ươm tơ, thuộc da: nhiều làng có từ lâu đời, có các sản phẩm mang tính lịch sử văn hoá, mang đậm nét địa phương với nhũng sản phẩm như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt, may
Ba là, làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: hình thành
từ hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng và sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Bốn là, làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế như tái chế chất thải kim loại, giấy, nhựa, vải
Năm là, làng nghề thủ công mỹ nghệ: chiếm tỷ trọng lớn về số lượng (gần 40% tổng số làng nghề), có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét văn hoá và đặc điểm địa phương, văn hoá dân tộc, gồm các làng nghề gốm, sành sứ thuỷ tinh mỹ nghệ; chạm khắc đá, chạm mạ bạc vàng, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren
Trang 30Sáu là, các nhóm ngành khác: gồm các làng nghề chế tạo nông cụ thô
sơ như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt giấy, dây thừng, đan vó, đan lưới, làm lưỡi câu,… Những làng nghề nhóm này xuất hiện từ lâu, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương [3]
Như vậy, khái niệm làng nghề, tiêu chí làng nghề, phân loại làng nghề
có thể thay đổi theo thời gian cũng như mục đích nghiên cứu Trong luận văn của mình, tác giả sử dụng cách phân loại làng nghề theo ngành nghề sản xuất, trong đó tập trung vào các làng nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề tái chế phế liệu, làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da nhằm xem xét hiện trạng cũng như khả năng phát triển của các ngành nghề này
Bảng 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
1 Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và
giết mổ
20
* Làng nghề vẫn gắn chặt với nông thôn và sản xuất nông nghiệp
Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng - xã ở nông thôn Các ngành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp nhưng không tách rời khỏi nông thôn Từ xa xưa, do nhu cầu của sản xuất, sinh hoạt người
Trang 31nông dân đã làm nghề thủ công bên cạnh làm ruộng Khi lực lượng sản xuất
đã phát triển thì thủ công nghiệp tách ra thành ngành độc lập, vươn lên thành ngành sản xuất chính ở một số làng Ban đầu, người nông dân - thợ thủ công
đã làm ra những sản phẩm thủ công để phục vụ trực tiếp nhu cầu sản xuất tiêu dùng của thôn làng mình Dần dần, nghề thủ công ngày càng được mở rộng
và hàng loạt nghề thủ công truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu của nông dân, nông nghiệp và nông thôn Chính vì thế, làng nghề là một đặc điểm đặc trưng của nông thôn Cho đến nay, hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng lên miền núi… đều có nghề và làng nghề truyền thống Mặt khác, ở trong các làng nghề, đại bộ phận các hộ chuyên làm nghề thủ công nghiệp vẫn còn tham gia sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định và đặc biệt hầu hết các hộ đều giữ đất nông nghiệp để tự mình trồng trọt hoặc thuê mướn người làm nông nghiệp cho mình
Hoạt động sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp ở các làng nghề đan xen với nhau tạo nên sắc thái riêng của các làng nghề thủ công truyền thống Đây là nét đặc trưng của nông thôn Châu Á, của phương thức sản xuất Châu Á
* Sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ mới trong sản xuất của các làng nghề
Công cụ lao động của các thợ thủ công trong các làng nghề hết sức đơn giản thô sơ Các sản phẩm thủ công truyền thống được làm ra hầu hết dựa vào đôi bàn tay khéo léo, đức tính cần cù, bộ óc thẩm mỹ và đầu tính sang tạo của người thợ, người nghệ nhân Có một số nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ
mà chính bản thân người thợ trong các làng nghề có thể tự sản xuất ra được
Ngày nay, để phát triển sản xuất và đáp ứng nhu cầu của thị trường, người thợ thủ công bắt buộc phải truyền nghề và dạy nghề cho lao động trong gia đình và lao động làm thuê Vì vậy, cho đến nay tính chất “bí truyền” đã bị
Trang 32phá vỡ, công nghệ truyền thống từ làng gốc đã phát triển sang các làng nghề khác, hình thành nên các xã nghề, vùng nghề
Bên cạnh các làng nghề vẫn còn sử dụng các công nghệ, kỹ thuật truyền thống, một bộ phận các làng nghề đã sử dụng thành tựu kỹ thuật công nghệ mới vào phục vụ sản xuất Đó là việc thục hiện cơ khí hoá, điện khí hoá trong sản xuất của các làng nghề Điều này đã tạo ra năng suất lao động cao hơn, giải phóng một phần công lao động cho người thợ thủ công Các làng nghề như rèn Đa Hội, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, dệt Tương Giang, đúc đồng Đại Bái… là những làng nghề điển hình về kết hợp giữa công nghệ cổ truyền với công nghệ hiện đại
* Hình thức tổ chức sản xuất làng nghề
Về quy mô, đại bộ phận các cơ sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề truyền thống có quy mô nhỏ, bình quân mỗi hộ gia đình có số vốn khoảng vài ba chục đến hàng trăm triệu đồng Hiện nay, ngoài quy mô hộ gia đình, ở các làng nghề còn phát triển các mô hình sản xuất khác nhau nhưng vẫn mang đậm sắc thái nông thôn, nông nghiệp như tổ hợp tác, hợp tác xã… đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ sản xuất làng nghề đã xuất hiện các hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ ở trình độ cao hơn mang dáng dấp của sản xuất công nghiệp đô thị hoặc các khu công nghiệp (KCN) vừa và nhỏ, cụm công nghiệp (CCN) làng nghề ở nông thôn
* Phân công lao động làng nghề
Hầu hết các làng nghề thủ công truyền thống dù hình thành bằng con đường nào đi chăng nữa thì cũng đều phải có các nghệ nhân làm nòng cốt và
là bộ phận quan trọng để duy trì và phát triển làng nghề Chính tài năng của nghệ nhân với “đôi bàn tay vàng” đã tạo nên những sản phẩm độc đáo, tinh xảo vừa mang giá trị vật chất, vừa mang giá trị nghệ thuật Ngày nay các nghệ nhân không ngại dạy nghề cho nhân dân địa phương góp phần phát triển mở rộng làng nghề
Trang 33Sự phân công lao động trong các làng nghề ngày càng được chuyên môn hoá sâu sắc Đối với phụ nữ, trẻ em và người già làm những công việc nhẹ nhàng, người có tay nghề cao đảm nhiệm khâu kỹ thuật, Tuỳ theo tính chất công việc cũng như tay nghề của người thợ mà có sự phân công phù hợp làm cho sản phẩm ngày càng hoàn chỉnh Bên cạnh những người trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm, còn có người chuyên lo khâu đầu vào - đầu ra của sản xuất Sự phân công này thể hiện rất rõ ở những làng nghề có tính tập trung cao
Hiện nay, việc thuê mướn lao động ở các làng nghề đã trở nên rất phổ biến, dẫn đến sự hình thành các thị trường lao động khá nhộn nhịp Tuy nhiên, lao động làm thuê trẻ thường chỉ được giao thực hiện các công đoạn đơn giản theo sự hướng dẫn của chủ thợ Những công đoạn đòi hỏi chính xác, tinh xảo thường do thợ cả
* Các sản phẩm có tính mỹ thuật cao, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc
Mỗi sản phẩm thủ công truyền thống là một tác phẩm nghệ thuật Các sản phẩm của làng nghề đều là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp thủ công khéo léo, tinh xảo và sự sáng tạo nghệ thuật Các sản phẩm vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ, nhiều sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng vừa là vật trang trí trong nhà, đền, chùa, công sở Nhà nước… Các hàng thủ công truyền thống thường mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi làng nghề, phường nghề, là biểu tượng bản sắc văn hoá địa phương, văn hoá dân tộc
* Thị trường tiêu thụ khá rộng lớn
Các làng nghề ở nước ta hiện nay đã có một thị trường tương đối phong phú đa dạng bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường ngoài nước, với nhiều loại đối tượng tiêu dùng Sở dĩ có điều này là do thu nhập của người dân tăng lên, sức mua lớn, tạo điều kiện phát triển chiều sâu cho thị trường nội địa Đường lối kinh tế đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá của Đảng, sự
Trang 34hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới đã mở ra thị trường xuất khẩu khá rộng lớn cho các làng nghề ở khắp các châu lục, đặc biệt là thị trường Bắc Mỹ, Tây Âu và Châu Á Sự phát triển của du lịch, nhất là du lịch quốc tế đã đem đến cho các làng nghề cơ hội phát triển mới, trong đó có triển vọng nhất là khả năng giới thiệu nguồn hàng, quảng bá sản phẩm cho các đối tượng khách thương gia đi du lịch kết hợp tìm kiếm cơ hội đầu tư [12], [18]
1.1.2 Một số hình thức tổ chức sản xuất làng nghề
1.1.2.1 Các làng nghề đơn lẻ
Làng nghề là hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ cơ bản và phổ biến Trong các làng nghề đơn lẻ bao gồm các hộ sản xuất thủ công nghiệp có mối quan hệ về kỹ thuật, sử dụng lao động, chung cơ sở hạ tầng, về nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ
Địa bàn phân bố của các làng nghề thường gắn với một hoặc nhiều cụm dân cư thôn, ấp, bản, làng, phum, buôn, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên một xã, thị trấn
Về phân cấp quản lý kinh tế làng nghề được công nhận theo tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành theo thông tư số 116/2006/TT - BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006
1.1.2.2 Cụm công nghiệp làng nghề
Những năm gần đây, trước sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề cả chiều rộng lẫn chiều sâu, một số địa phương như Bắc Ninh, Hà Nội… đã phát triển khá mạnh việc xây dựng và phát triển các KCN vừa và nhỏ, CCN làng nghề Đây là hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ ở trình độ cao và
là hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
hộ kinh tế gia đình sản xuất kinh doanh Mục tiêu xây dựng nhũng KCN vừa
và nhỏ, CCN làng nghề là cung cấp các sản phẩm hang hoá ra thị trường, tạo thu nhập cho người lao động và khắc phục ô nhiễm môi trường, phát triển cơ
Trang 35sở hạ tầng tốt hơn và hình thành các điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất và kinh doanh
Về tên gọi KCN, CCN làng nghề đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Như ở Bắc Ninh là địa phương có sự phát triển mạnh mẽ về KCN, CCN làng nghề nhưng cũng đã xuất hiện các tên gọi khác nhau Trong khi, ở xã gọi là KCN làng nghề, thì trong các văn bản quản lý của Ban quản lý các KCN gọi
là CCN làng nghề theo quyết định thành lập Thậm chí trong các văn bản giao đất của tỉnh cho đơn vị trúng thầu xây dựng cơ sở hạ tầng cũng chưa có sự thống nhất về tên gọi như trong văn bản giao đất năm 2005 ghi là CCN làng nghề công nghệ cao Tam Sơn, nhưng trong văn bản năm 2009 lại ghi là KCN làng nghề công nghệ cao Tam Sơn
Qua nghiên cứu các tài liệu và tham khảo ý kiến các đồng chí cán bộ phụ trách mảng kinh tế ở các xã thuộc Từ Sơn, tác giả thống nhất quan điểm
về cách gọi tên gọi chung và được nhiều địa phương sử dụng hiện nay là CCN làng nghề Đặc biệt để khắc phục tình trạng chưa có sự thống nhất về quy chế quản lý việc thành lập và hoạt động của các CCN, ngày 19/08/2009, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý CCN thống nhất trên cả nước Trong quy chế đã đưa ra khái niệm CCN, các ngành nghề được phép hoạt động, điều kiện thành lập CCN… Trên
cơ sở các văn bản của Nhà nước đã ban hành và qua thực tế nghiên cứu các CCN làng nghề ở các địa phương Hiện nay có nhiều tác giả trong và ngoài đã đưa ra khái niệm CCN làng nghề:
Theo Nguyễn Xuân Hoản: CCN làng nghề là một hệ thống sản xuất địa phương, được đặc trưng bởi sự tập trung theo địa lý các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có sự chuyên môn hoá trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho nhau Sự tập trung theo địa lý của các doanh nghiệp đã tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình thành và phát triển
Trang 36các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ, đồng thời tạo ra mạng lưới các nhà cung cấp, mạng lưới khách hàng và tạo ra sự đổi mới, các lợi ích chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ [13]
Theo GS.TS Nguyễn Đình Phan: CCN làng nghề là một địa điểm phân
bố sản xuất công nghiệp tập trung bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
hộ kinh tế gia đình nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường, tạo kết cấu cơ sở hạ tầng tốt hơn cho phát triển sản xuất, kinh doanh công nghiệp CCN làng nghề
có ranh giới địa lý rõ ràng, có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật chung được xây dựng đồng bộ và được thành lập theo quyết định của chính quyền địa phương (tỉnh hoặc huyện) [17]
Từ những quan niệm của các học giả, những nhà nghiên cứu, CCN làng nghề được hiểu: là khu vực tập trung các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp Có ranh giới địa lý rõ ràng, có diện tích nhất định, không có dân cư sinh sống Được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở địa phương vào đầu tư sản xuất kinh doanh và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường Do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương quyết định thành lập
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề
Có thể thấy, sự hình thành và phát triển của các làng nghề chịu tác động tổng hợp của các nhân tố dưới đây, trong mỗi giai đoạn phát triển của làng nghề thì sức ảnh hưởng và vai trò của các nhân tố cũng khác nhau [10], [14], [23], [18]
1.1.3.1 Vị trí địa lí
Vị trí địa lý có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài đối với các làng nghề thủ công truyền thống ở nước ta
Trang 37Trong lịch sử phát triển của mình hầu hết các làng nghề thường nằm trên các đầu mối giao thông thuỷ bộ khá thuận lợi và gần nguồn nguyên liệu Vị trí thuận lợi về giao thông tạo điều kiện cho các làng nghề dễ dàng chuyên chở nguyên vật liệu, trao đổi và bán sản phẩm Đặc biệt, trước kia do giao thông đường bộ chưa phát triển thì yếu tố “bến chợ, bãi sông” luôn đóng vai trò chính trong việc vận chuyển, buôn bán của làng nghề Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nhiều làng nghề còn gắn liền với nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương Điển hình nhất là các làng gốm Hương Canh, Thổ Hà, Chu Đậu…
Những làng nghề không khai thác được nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương (nghề mộc mỹ nghệ, nghề song mây đan, nghề đúc đồng…) thường được hình thành và phát triển ở những vị trí gần các bến cảng, đường giao thông, thuận lợi cho chuyên chở nguyên vật liệu Sự thuận lợi về vị trí giao thông vận tải và về nguồn nguyên liệu đã tạo điều kiện hình thành và phát triển những làng nghề truyền thống nổi tiếng như gốm Bát Tràng, tranh Đông Hồ, lụa Hà Đông, gốm Biên Hoà, Lái Thiêu, đúc đồng Đại Bái
1.1.3.2 Thị trường tiêu thụ
Thị trường là một yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các làng nghề Thị trường làng nghề cũng giống như thị trường đối với bất cứ cơ sở sản xuất hay ngành sản xuất nào, đều có thể phân chia thành thị trường các yếu tố đầu vào (vật tư, nguyên liệu, vốn, lao động, công nghệ) và thị trường các yếu tố đầu ra
Khi sản xuất có quy mô nhỏ, thì các hộ sản xuất có thể dựa vào thị trường cung ứng nguyên vật liệu tại chỗ Nhưng làng nghề càng phát triển, nhu cầu nguyên liệu càng lớn càng đa dạng, thì thị trường nguyên vật liệu được mở rộng và hệ thống cung ứng nguyên liệu trở thành mạng lưới phức tạp, gồm mạng lưới thu gom, các đại lý phân phối, hoạt động trong các làng nghề và ở các địa phương khác
Trang 38Trước đây, thị trường công nghệ đối với làng nghề chưa hình thành, khi
mà các bí quyết sản xuất được giữ riêng trong các dòng họ, các làng nghề, phường nghề Thị trường công nghệ chỉ hình thành khi các quy định về chuyển giao công nghệ đi vào cuộc sống Khi sản xuất của các làng nghề có quy mô lớn hơn, vượt ra khỏi phạm vi kiểm soát của các làng nghề, phường nghề, thì vấn đề chuyển giao công nghệ và thị trường công nghệ đã có những bước phát triển đầu tiên Bên cạnh công nghệ truyền thống, các công nghệ tiên tiến hơn, nhưng chưa thật hiện đại, được các làng nghề lựa chọn để tang năng suất lao động và tăng tính cạnh tranh của sản phẩm Các làng nghề từng bước tiếp nhận công nghệ mới, hiện đại, vừa nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, vừa giảm thiểu tác động tới môi trường
Thị trường lao động ở nông thôn nói chung, ở các làng nghề nói riêng trong những năm trước Đổi mới hình thành một cách tự phát Việc thuê mướn lao động lúc bấy giờ chỉ mang tính chất nhỏ lẻ Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, sản xuất từng bước tự do hoá, các làng nghề đã thu hút lao động làm thuê từ các khu vực lân cận, nhất là lao động có tay nghề, vào lúc nông nhàn Những làng nghề phát triển mạnh trong kinh tế thị trường,
đã củng cố lợi thế về nguồn nhân lực bằng cách thu hút lao động có chuyên môn kỹ thuật cao, thợ giỏi từ các vùng khác, tỉnh khác hình thành thị trường lao động thường xuyên, lao động chuyên cho các làng nghề
Thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề được hình thành trên cơ sở phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá Dưới thời phong kiến, sản phẩm của các làng nghề được tiêu thụ chủ yếu ở nông thôn, đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, vận tải, học hành, thờ cúng, tôn giáo,tín ngưỡng dân gian… Theo thời gian, các sản phẩm tinh xảo mở rộng được thị trường tới nhiều vùng của đất nước và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Hiện nay, việc khuyến khích phát triển các tua du lịch làng nghề là hình thức xuất khẩu tại chỗ vừa mở rộng thị trường, vừa bảo tồn và phát triển các làng nghề
Trang 39Ngày nay, khi trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều sản phẩm mới ra đời nhưng nhu cầu về các sản phẩm thủ công truyền thống, hàng mỹ nghệ vẫn không ngừng tăng lên Nhu cầu càng lớn càng bền vững thì sản xuất
ở các làng nghề càng ổn định, phát triển Ngược lại sự tồn tại và phát triển của làng nghề phụ thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng và thường xuyên biến đổi của thị trường Nhiều làng nghề phát triển được là do có những sản phẩm phù hợp với nhu cầu xã hội, có khả năng tiêu thụ lớn Trong khi, một số ngành nghề, làng nghề bị mai một do các sản phẩm không còn phù hợp với nhu cầu thị trường hoặc bị cạnh tranh bởi hàng công nghiệp
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay, nhiều mặt hàng của các làng nghề nước ta phải cạnh tranh gay gắt với các mặt hàng cùng chủng loại của Trung Quốc, Thái Lan như sản phẩm dệt, gốm, sứ…ngay tại thị trường trong nước Điều này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ về thị trường cho sản phẩm làng nghề, từ khảo sát thị trường, quảng bá đến định hướng phát triển cơ cấu sản phẩm
1.1.3.3 Chính sách của nhà nước
Các làng nghề thủ công truyền thống , trên thực tế, bao giờ cũng hoạt động trong một môi trường thể chế Nói cách khác môi trường thể chế luôn tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh ở các làng nghề Môi trường thể chế bảo đảm cho làng nghề phát triển bền vững, phát huy được các giá trị kinh tế, văn hoá, xã hội các giá trị đạo đức, tín nhiệm và lương tâm người thợ thông qua chất lượng sản phẩm được làm ra Môi trường thể chế gồm quy chế của làng và chính sách pháp luật của Nhà nước
Trong hầu hết các làng nghề thủ công truyền thống, nổi tiếng ở nước ta, đều có quy chế về nghề thủ công, hoặc thành văn bản riêng hoặc trong một số điều của Hương ước Thậm chí mỗi phường nghề trong cùng một nghề ở cùng một làng cũng có quy chế riêng, dưới dạng “lời thề”, “lời nguyền” Những
Trang 40quy chế này truyền từ đời này sang đời khác, bắt buộc các thành viên trong gia tộc, trong phường hội phải tuân theo, thực hiện một cách khá nghiêm ngặt
Những quy định nghiêm ngặt trong các làng nghề là biện pháp giữ bí mật và bí quyết nghề nghiệp của những người thợ trong các làng nghề Điều
đó có tác dụng tích cực đối với việc duy trì lâu dài hoạt động sản xuất của mỗi làng nghề Tuy nhiên, sự độc quyền của các thế hệ thợ thủ công trong mỗi làng nghề như thế đã kìm hãm sự phát triển của nghề trong phạm vi cả nước Sau này, khi các trường dạy nghề mở ra, cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì những hạn chế trên thay đổi theo hướng tích cực hơn
Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển hay suy vong của các làng nghề Thời kỳ trước đổi mới, trong chính sách đối với các thành phần kinh tế, chúng ta chỉ tập trung phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, không chấp nhận kinh tế tư nhân,
cá thể, nên các làng nghề theo nghĩa là đơn vị kinh tế độc lập đã chuyển thành hợp tác xã, hoặc các tổ, đội ngành nghề phụ trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, làm cho các làng nghề không phát triển được Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, khi hộ gia đình được công nhận là chủ thể kinh tế độc lập tự chủ trong nông thôn, các doanh nghiệp tư nhân được phép phát triển chính thức, thì các làng nghề đã có điều kiện phục hồi và phát triển mạnh
Trong các kỳ Đại hội Đảng gần đây, vấn đề công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn đã được quan tâm đặc biệt Đây chính là nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hoá đất nước nhằm đạt mục tiêu đưa nước ta cơ bản trỏ thành nước công nghiệp vào năm 2020 Chính vì vậy, các chính sách về doanh nghiệp, vốn, thuế, đạo tạo nguồn nhân lực, quản lý thị trường…Là động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông thôn nói chung và làng nghề nước ta nói riêng Nếu không có các chính sách phát triển hợp lý đối với
sự kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp thì các làng nghề cũng khó có điều kiện phát triển