Bên cạnh khuôn mặt mới của đô thị với những dự án, công trình tầm vóc, những khu công nghiệp rộng lớn, những tòa nhà cao vút là hình ảnh những người dân mất đất, mất nhà hy sinh cho cuộc
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MẠNH TIẾN
“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
HỢP CHÂU, HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC”
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THẾ HÙNG
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ ở một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã đƣợc chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Tiến
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thế Hùng, Trưởng phòng Quan hệ quốc tế trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn tôi rất tỷ mỉ trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện
đề tài này
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, Ban quản lý dự án xây dựng và GPMB huyện Tam Đảo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin chân thành cảm ơn các hộ dân có đất bị thu hồi đã giúp đỡ tôi hoàn thành phiếu điều tra trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bố mẹ, anh chị em đã động viên, tạo điều kiện về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn và cảm tạ!
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Tiến
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái quát về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 4
1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư: 4
1.1.1.1 Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất 4
1.1.1.2 Hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi đất 4
1.1.1.3 Hỗ trợ tài sản 4
1.1.1.4 Hỗ trợ đất 4
1.1.1.5 Tái định cư 4
1.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng 5
1.1.3 Những yếu tố tác động đến công tác giải phóng mặt bằng 5
1.1.3.1 Công tác đăng ký quyền sử dụng đất và lập hồ sơ quản lý địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 5
1.1.3.2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5
1.1.3.3 Công tác giao đất, cho thuê đất 6
1.1.3.4 Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về
đất đai 6
1.1.3.5 Giá đất và định giá đất 8
1.1.3.6 Thị trường bất động sản 8
Trang 51.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác giải phóng mặt bằng 8
1.2.1 Cơ sở lý luận 8
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 9
1.2.2.1 Thực trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng 9
1.2.2.2 Những ưu, nhược điểm về tình hình giải phóng mặt bằng trong
thời gian qua 10
1.2.3 Cơ sở pháp lý 14
1.2.4 Chính sách bồi thường một số nước trên thế giới 16
1.2.5 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở
Việt Nam 18
1.2.5.1 Trước khi có luật đất đai 1988 18
1.2.5.2 Thời kỳ từ năm 1988 đến năm 1993 19
1.2.5.3 Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003 20
1.2.5.4 Từ khi có luật đất đai 2003 đến nay 20
1.2.6 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ở một số địa phương và tại tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Tam Đảo 22
1.2.6.1 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi tại một số địa phương 22
1.2.6.2 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Vĩnh Phúc 25
1.2.6.3 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất tại huyện Tam Đảo 27
1.2.7 Nhận xét chung về tổng quan các vấn đề nghiên cứu 27
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và địa bàn nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Điều tra thu thập tài liệu, thông tin 29
2.3.1.1 Tài liệu thứ cấp 29
2.3.1.2 Điều tra các số liệu sơ cấp: 30
Trang 62.3.2 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra (sử dụng phần
mềm Microsoft Excel) 30
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 30
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã Hợp Châu 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
3.1.1.1 Vị trí địa lý 31
3.1.1.2 Địa hình 31
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu 31
3.1.1.4 Các nguồn tài nguyên 32
3.1.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên có liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Hợp Châu 33
3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 33
3.1.2.2 Tình hình dân số, lao động của xã Hợp Châu 34
3.1.2.3 Tình hình dân trí và thu nhập của xã Hợp Châu 35
3.1.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 36
3.1.2.5 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội có liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng 38
3.2 Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kết quả thực hiện công tác này 38
3.2.1 Vài nét về các dự án giải phóng mặt bằng ở xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo 38 3.2.2 Công tác quản lý và sử dụng đất đai của xã liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng 39
3.2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của xã Hợp Châu tính đến 01/01/2013 39
3.2.2.2 Tình hình quản lý đất đai 41
3.2.3 Quy trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của tỉnh Vĩnh Phúc [12] 44
3.2.4 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đối với 02 dự án nghiên cứu 45
Trang 73.2.4.1 Hình thức bồi thường 46
3.2.4.2 Đánh giá kết quả bồi thường về đất và các tài sản gắn liền với đất 48
3.3 Đánh giá ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng đến đời sống của người dân khu vực giải phóng mặt bằng 55
3.3.1 Đánh giá về chính sách hỗ trợ và công tác bố trí tái định cư [12] 55
3.3.1.1 Chính sách hỗ trợ: 55
3.3.1.2 Chính sách tái định cư 57
3.3.2 Đánh giá tình hình công việc của người dân sau tái định cư 60
3.3.3 Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng qua ý kiến người dân 60
3.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng và đề xuất phương án giải quyết 61
3.4.1 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng 61
3.4.1.1 Thuận lợi 61
3.4.1.2 Khó khăn, tồn tại 62
3.4.2 Đề xuất phương án giải quyết và rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 64
3.4.2.1 Về quản lý đất đai 64
3.4.2.2 Về chính sách bồi thường 65
3.4.2.3 Về tái định cư 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế của xã Hợp Châu qua các năm (%) 33
Bảng 3.2: Dân số và lao động của xã Hợp Châu năm 2012 35
Bảng 3.3 Kết quả điều tra tình hình dân trí năm 2012 35
Bảng 3.4 Kết quả điều tra về mức thu nhập của các hộ gia đình, xã Hợp Châu,
năm 2012 36
Bảng 3.5 Diện tích và cơ cấu diện tích các loại đất theo mục đích sử dụng 40
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả thực hiện về hình thức bồi thường giải phóng mặt bằng 47
Bảng 3.7 Kết quả bồi thường về đất 49
Bảng 3.8 Kết quả bồi thường đất nông nghiệp 49
Bảng 3.9 Kết quả bồi thường đất ở 50
Bảng 3.10 Kết quả bồi thường nhà, vật kiến trúc 51
Bảng 3.11 Kết quả bồi thường cây cối, hoa màu 52
Bảng 3.12 Kinh phí hỗ trợ giải phóng mặt băng 53
Bảng 3.13 Kết quả xây dựng các khu tái định cư và cấp tái định cư 54
Bảng 3.14 Khái quát chung về thông tin 60 hộ gia đình điều tra 55
Bảng 3.15 Kết quả nghiên cứu về các khoản hỗ trợ chi tiết: 56
Bảng 3.16 Kết quả điều tra ổn định chỗ ở sau khi thu hồi đất 58
Bảng 3.17 Kết quả điều tra tình hình công việc của những hộ điều tra có đất thu hồi thuộc 02 dự án 60
Bảng 3.18 Kết quả điều tra ý kiến người dân về công tác giải phóng mặt bằng 60
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn xã Hợp Châu 34
Hình 3.2: Biểu đồ Cơ cấu diện tích các loại đất năm 2013 tại xã Hợp Châu 39
Hình 3.3: Sơ đồ Bồi thường thiệt hại trong giải phóng mặt bằng khi có Quyết định
thu hồi đất 44
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất (SDĐ) đúng mục đích và có hiệu quả nhất Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài ” Chính vì vậy vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư (TĐC) là vấn đề rất thời sự, có tính chất quan trọng trong việc thi hành những quy định pháp luật nhà nước và giải pháp phát triển kinh
tế, xã hội chính trị quốc gia Đất nước ta đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước đang chuyển biến rất nhanh; cùng với đó là việc đô thị hóa cũng đang diễn ra ở khắp các tỉnh, thành trên toàn quốc Bên cạnh khuôn mặt mới của đô thị với những dự án, công trình tầm vóc, những khu công nghiệp rộng lớn, những tòa nhà cao vút là hình ảnh những người dân mất đất, mất nhà hy sinh cho cuộc sống ổn định vốn có của bản thân và gia đình vì sự nghiệp phát triển chung của đất nước, của đô thị
Để dự án đầu tư xây dựng các công trình có tính khả thi cao, xây dựng đúng tiến độ thi công thì công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) là một vấn đề hết sức quan trọng, quyết định thời gian tiến hành thi công các công trình, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn của chủ đầu tư Công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư cũng như ảnh hưởng tới cơ sở, vật chất và tinh thần của người bị thu hồi đất
Công tác GPMB là một việc làm hết sức khó khăn và phức tạp bởi nó có liên quan đến tài sản rất có giá trị đó là đất đai Đất đai có giá trị cả về vật chất lẫn tinh thần Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân, các hộ gia đình và thực tế qua nhiều dự án đã cho thấy công tác GPMB vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, và gặp nhiều khó khăn Khó khăn chủ yếu của công tác GPMB là việc xác
Trang 12định giá trị bồi thường Giá trị bồi thường thường thấp hơn so với thực tế Do vậy,
nó đã tác động rất lớn đến tâm lý người dân, họ luôn cảm thấy mức bồi thường như vậy là chưa thoả đáng Động chạm trực tiếp đến quyền lợi của người dân thì họ không tự nguyện chuyển đi, không ủng hộ công tác bồi thường GPMB cũng là điều
dễ hiểu
Cùng với sự phát triển của cả nước về kinh tế - xã hội, tỉnh Vĩnh Phúc nói chung, huyện Tam Đảo nói riêng trong thời gian qua đã có nhiều công trình, dự án được thực hiện nhằm mục đích đẩy mạnh nền kinh tế của toàn tỉnh, toàn huyện nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và góp phần nhỏ vào sự nghiệp phát triển của cả nước Nhiều công trình, dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động đem lại nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội cho tỉnh nhà Tuy nhiên có những dự án đã hoàn thành, các công trình đã đưa vào sử dụng, nhưng vẫn còn rất nhiều đơn thư khiếu nại Nguyên nhân chính có phải là mức bồi thường chưa thoả đáng hay ở một nguyên nhân chủ quan nào khác ? Công tác bồi thường GPMB không chỉ là di dời dân ra khỏi khu vực giải toả mà phải có kế hoạch cụ thể trong công tác tái định cư và hỗ trợ phát triển kinh tế, ổn định đời sống sau tái định cư
Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thấy được tầm quan trọng của công tác GPMB, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài dưới sự hướng dẫn của giảng viên PGS.TS Nguyễn Thế Hùng với nội dung như
sau: "Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng của một số dự án trên địa bàn xã
Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 133 Yêu cầu của đề tài
- Tìm hiểu kỹ Luật Đất đai 2003, các Nghị định, Thông tư có liên quan đến
công tác GPMB, hỗ trợ và TĐC cho người dân sau khi giải phóng mặt bằng
- Tìm hiểu kỹ hơn các quyết định, các văn bản khác có liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng của Nhà nước và của địa phương
- Nguồn số liệu, tài liệu điều tra phản ánh đúng quá trình thực hiện trên địa bàn nghiên cứu, có độ tin cậy và chính xác Các số liệu điều tra thu thập phải phân tích, đánh giá một cách khách quan khoa học
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ và thực hiện tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, áp dụng trên địa bàn nghiên cứu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư
1.1.1.1 Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [8, Luật đất đai]
1.1.1.2 Hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi đất
Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới,
bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [19]
Tái định cư (TĐC) được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó
Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau;
- Bồi thường bằng nhà ở;
- Bồi thường bằng giao đất ở mới;
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
Trang 15Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng
1.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án mang tính chất
đa dạng và phức tạp, vừa mang tính pháp luật vừa mang tính xã hội cao
Tính đa dạng: Mỗi dự án tiến hành trên một vùng đất khác nhau với những điều kiện tư nhiên kinh tế, xã hội khác nhau Do đó mồi khu vực bồi thường giải phóng mặt bằng (BTGPMB) có những đặc trưng riêng và cần phải có những giải pháp riêng phù hợp những đặc điểm riêng của từng khu vực, từng dự án
Tính phức tạp: Công tác GPMB có tác động đến đời sống, kinh tế, xã hội của người dân có đất thu hồi
1.1.3 Những yếu tố tác động đến công tác giải phóng mặt bằng
1.1.3.1 Công tác đăng ký quyền sử dụng đất và lập hồ sơ quản lý địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Đăng ký quyền SDĐ, lập hồ sơ quản lý địa chính cũng là yếu tố tác động đến công tác GPMB là căn cứ pháp lý quan trong trong việc xác định điều kiện được đền
bù thiệt hại trong khi thực tế tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) ở hầu hết các địa phương vẫn còn rất chậm trễ Việc xác định giá trị pháp lý của các loại đất chưa có GCNQSDĐ rất khó khăn, cản trở công tác thu hồi đất, GPMB Thực tế công tác cấp GCNQSDĐ đối với đô thị, nông thôn đạt tỷ lệ thấp
Công tác cấp GCNQSDĐ và quyền sở hữu nhà ở cũng giữ vai trò rất lơn trong việc xác định tính hợp pháp của mảnh đất và tài sản gắn liền với mảnh đất đo làm căn cứ để xét xem mảnh đất đó có được đền bù hay không Trong công tác cấp GCNQSDĐ và quyền sở hữu nhà ở thì công tác điều tra, đo đạc, làm các thủ tục nhà đất khác giữ vai trò quyết định Do đó phải chú trọng công tác này thì việc đền bù mới nhanh chóng được thực hiên.[6]
1.1.3.2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Xác định mục đích SDĐ là quy hoạch, kế hoạch SDĐ được lập và phê duyệt bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định; Trên thực tế, chỉ sau khi có Luật Đất đai năm 2003, vấn đề lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ mới được quan tâm
Trang 16thực hiện Nhưng khi Nhà nước thu hồi đất thì còn rất nhiều nơi Nhà nước chưa xác định mục đích mà người bị thu hồi đang sử dụng Qua phân tích việc áp dụng giá đất để tính bồi thường có thể thấy rằng, các quy định của Luật Đất đai năm 2003 để nhằm tiến tới cơ chế "một giá đất", phù hợp với cơ chế thị trường không thể thực hiện được nếu việc quản lý đất đai không đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ và không tạo lập được thị trường BĐS công khai, minh bạch [6]
1.1.3.3 Công tác giao đất, cho thuê đất
Công tác giao đất cho thuê đất quyết định đến tiến độ nhanh chóng của công tác đền bù thiệt hại GPMB Nếu công tác giao đất cho thuê đất được tiến hành nhanh chóng và ngược lại, nó sẽ làm chậm quá trình đền bù thiệt hại và tất nhiên làm chậm tiến độ của các dự án đầu tư Trong công tác giao đất, cho thuê đất thì công tác thẩm duyệt dự án là công tác rất quan trọng có liên quan đến nhiều ngành nhiều cấp
1.1.3.4 Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai
Bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ TĐC khi Nhà nước thu hồi đất khi triển khai trên thực tế còn bộc lộ một số tồn tại cơ bản sau đây:
Thứ nhất, mặc dù pháp luật đã quy định giá đất để tính bồi thường sát với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường, nhưng trên thực tế lại diễn ra những bất cập xung quanh vấn đề này cụ thể như sau:
- Tình trạng hai giá đất trên thị trường, một bên là mức giá để tính bồi thường cho nông dân rất thấp và bên kia là giá trị đất sau khi chuyển đổi mục đích SDĐ từ đất nông nghiệp tăng lên rất cao, là một kẽ hở lớn tạo điều kiện cho nạn quan liêu, tham nhũng, đầu cơ và tạo động lực chuyển đổi các khu đất thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác;
- Cơ chế mới về GPMB sẽ gây khó khăn cho các bên thực thi, nhất là chủ đầu tư dự án phát triển kinh tế Bởi vì, do giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP tăng lên rất nhiều so với các quy định trước đây và được tính kể từ thời điểm Nghị định này có hiệu lực (ngày 01/10/2009), khi đó, những dự án kéo dài nhiều năm, người dân đã bàn giao mặt
Trang 17bằng thì nhận mức giá bồi thường ở thời điểm đó thấp, chưa bàn giao mặt bằng, đến thời điểm này được bồi thường cao hơn nhiều lần trước đây sẽ tạo ra trong một dự
án có hai cơ chế khác nhau về GPMB;
- Mặt khác, đối với các dự án xây dựng - chuyển giao (dự án bồi thường), giá bồi thường tăng lên nhiều lần so với trước đây khiến tổng mức đầu tư dự án tăng lên rất cao Trong khi đó phần để hoàn vốn cho nhà đầu tư thường là các khu đô thị lại phải theo giá thị trường, nhà đầu tư không thể tăng giá bán tùy tiện, sẽ làm các nhà đầu tư suy giảm tiềm lực tài chính và rất khó để duy trì, thực hiện tốt các dự án đang triển khai;
- Việc thu hồi đất, bồi thường, GPMB hiện nay chủ yếu được thực hiện theo một phương thức mang tính bắt buộc; sử dụng một giải pháp chuyển đổi thiệt hại sang tiền, trong khi có nhiều giải pháp khác không phải chi phí nhiều mà người dân vẫn thấy thỏa mãn về lợi ích lại chưa được đề cập trong pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, GPMB ở Việt Nam hiện nay
Mặt khác, do còn có những bất cập trong cơ chế tự thỏa thuận giữa chủ đầu
tư với người bị thu hồi đất trong các dự án kinh doanh nên các nhà đầu tư muốn chuyển sang cơ chế Nhà nước thu hồi và bàn giao lại đất đã GPMB cho chủ đầu tư; Bên cạnh đó, các dự án mà Nhà nước thu hồi thì giá bồi thường cũng được tính phù hợp theo giá thị trường, sau mỗi năm các địa phương lại cập nhật lại khung giá đất, nhưng mức giá này thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường;
Thứ hai, theo tinh thần của Nghị quyết số 26 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX và Luật Đất đai năm 2003 là phải bảo đảm cho người bị thu hồi đất đến chỗ ở mới có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ Tuy nhiên, đến nay, hầu hết các khu TĐC xây dựng chưa theo kịp tiến độ thu hồi đất, bồi thường và GPMB và các cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ BTGPMB cũng chưa thực sự quan tâm đến TĐC cho người dân;
Thứ ba, các quy định về đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp mà không có diện tích đất nông nghiệp mới để giao khó đi vào cuộc sống Do thiếu cơ chế đồng bộ, đầy đủ và cụ thể để thực thi Trên thực tế, cơ quan có trách nhiệm thực hiện BTGPMB mới chỉ
Trang 18chú ý đến việc bồi thường, hỗ trợ về đất và thiệt hại về tài sản trên đất mà dường như chưa quan tâm giải quyết vấn đề tạo công ăn, việc làm cho người nông dân bị mất đất sản xuất;
Thứ tư, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người bị thu hồi đất cũng như chưa xử lý được mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở với người không phải di chuyển chỗ ở được hưởng lợi từ việc thu hồi đất v.v [ 6]
1.1.3.5 Giá đất và định giá đất
Tìm hiểu thực trạng áp dụng quy định về giá đất để xác định bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cho thấy một số tồn tại chủ yếu sau đây:
Khi Nhà nước thu hồi đất, ngoài yếu tố giá đất thì loại đất bị thu hồi là yếu tố
cơ bản thứ hai quyết định tổng giá trị mà người bị thu hồi đất được nhận Tuy nhiên, hiện nay tại thời điểm Nhà nước có quyết định thu hồi đất, một thửa đất có thể có hai mục đích "đang sử dụng" Mục đích do pháp luật quy định và mục đích sử dụng thực
tế mà người SDĐ đang sử dụng Khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất để tính bồi thường
là giá đất theo mục đích đang sử dụng do pháp luật quy định Nhưng trong nhiều trường hợp người bị thu hồi đất không chấp nhận giá bồi thường theo mục đích SDĐ
mà cố tình đòi bồi thường theo giá đất mà họ đã tự chuyển mục đích sử dụng trái
pháp luật gây khó khăn cho việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng (GPMB);
1.1.3.6 Thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản cũng có tác động rất lớn đến pháp luật quy định bồi thường giải phóng mặt bằng yếu tố tâm lý của các đối tượng bị thu hồi đất Một thị trường bất động sản ổn định minh bạch thì tạo điều kiện cho các cơ chế BTGPMB nhanh, bền vững và ngược lại
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác giải phóng mặt bằng
1.2.1 Cơ sở lý luận
Công tác giải phóng mặt bằng góp phần cải thiện môi trường đầu tư, khai thác các nguồn lực từ đất đai cho đầu tư phát triển Cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội ở nước ta thời gian qua đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư khắp các vùng,
Trang 19miền trên cả nước, đặc biệt tại các thành phố lớn đã đóng góp vào sự thành công bước đầu của công cuộc “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân Đạt được kết quả nêu trên công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đóng vai trò không nhỏ để các dự án phát huy hiệu quả
Giải phóng mặt bằng đúng tiến độ sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí và sớm thực hiện dự án và đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội Ngược lại, làm chậm tiến độ thực hiện dự án, lãng phí thời gian, tăng chi phí, giảm hiệu quả dự án
Thực hiện giải phóng mặt bằng tốt sẽ giảm chi phí, có điều kiện tập chung vốn cho mở rộng đầu tư Ngược lại, chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư
Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh nếu không đáp ứng được tiến
độ đầu tư thì mất cơ hội kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thấp
Đối với dự án đầu tư không kinh doanh, thời gian thi công kéo dài, tiến độ thi công bị ngắt quãng gây ra lãng phí và ảnh hưởng tới chất lượng công trình
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.2.1 Thực trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng
Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Với những đổi mới tích cực như đã nghiên cứu ở trên, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách BTGPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay Dưới đây là biểu chi tiết diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng của một số thành phố lớn
- Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất
Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông nghiệp (BNN&PTNN) cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm qua đã tác động đến đời sống của
Trang 20trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng có số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng
300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng 108 nghìn hộ, số hộ bị thu hồi đất ở các vùng khác thấp hơn: Tây nguyên chỉ có trên 138.291 hộ Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất
về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề,
hỗ trợ TĐC Tuy nhiên trên thực tế, có tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13 % chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định
Như vậy nông nghiệp vẫn là chỗ dựa của phần lớn số hộ bị mất đất số lao động bị mất việc làm do mất đất nhiều như Hà Tây 35.703 người, Vĩnh Phúc 22.800 người, Nam Định 4.130 người, Hải Dương 9.357 người Thực trạng này dẫn đến 53% số hộ dân bị thu hồi có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ có khoảng 13% số
hộ có thu nhập cao hơn trước
Liên quan đến vấn đề đào tạo nghề và nâng cao khả năng của lao động Ông Nguyễn Thế Dũng - đại diện Ngân hàng Thế giới cho rằng: Sở dĩ hiện nay tỷ lệ lao động địa phương được chọn tuyển vào các khu công nghiệp còn thấp là do nhiều địa phương mất định hướng trong đào tạo nghề Địa phương không xác định được sẽ phát triển ngành nghề gì, do đó công tác đào tạo nghề không bắt kịp nhu cầu thực tế [3]
1.2.2.2 Những ưu, nhược điểm về tình hình giải phóng mặt bằng trong thời gian qua
- Những mặt đạt được:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, TĐC ngày càng được xác định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng
Thứ hai, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân
bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được
bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất
Trang 21Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất với người SDĐ đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất
Thứ tư, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ TĐC đã giải quyết được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, TĐC đạt hiệu quả
Thứ năm, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn Do đã vận dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện
Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức tạp của vấn đề thu hồi đất, TĐC của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả
Những mặt thiếu sót, yếu kém và vướng mắc:
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người SDĐ được pháp luật công nhận Đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất TĐC (thu hồi giá quá thấp, chưa sát với thị trường)
- Chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi ở cũ
Trang 22- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần SDĐ với người có đất bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền SDĐ thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ánh gay gắt của những người có đất
bị thu hồi
- Giá đất bồi thường, hỗ trợ nhìn chung chưa sát giá thị trường trong điều kiện bình thường, trong nhiều trường hợp quá thấp so với giá đất cùng loại chuyển nhượng thực tế, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị và liền kề với khu dân cư Tại vùng giáp ranh giữa các tỉnh và vùng giáp ranh giữa đô thị và nông thôn còn chênh lệch quá lớn về giá đất bồi thường, hỗ trợ
- Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà ở mới tại khu TĐC
- Việc xác định tính hợp thức về quyền SDĐ để tính toán mức bồi thường, hỗ trợ, TĐC đang là một vấn đề nổi cộm trong thực tế Một mặt, tính hợp thức chưa được quy định rõ trong Nghị định số 22/1998/NĐ- CP trước đây Mặt khác, việc áp dụng pháp luật ở các địa phương để giải quyết vấn đề này cũng khác nhau, nhiều trường hợp mang tính chủ quan, không công bằng trong xử lý giữa những trường hợp có cùng điều kiện
- Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC để giải phóng mặt bằng chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ khi công khai quy hoạch, thông báo kế hoạch, quyết định thu hồi… cho tới khâu cưỡng chế
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công trình công cộng nhưng một thời gian sau lại quyết định sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền
- Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung các địa phương chưa coi trọng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một
số khu TĐC đã lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, có trường hợp người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở 5 năm nay mà vẫn chưa được
Trang 23bố trí vào khu TĐC
- Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC ngày càng được Nhà nước quan tâm giải quyết thoả đáng hơn; tuy nhiên, việc thay đổi chính sách cùng với việc thiếu sự vận dụng cụ thể, linh hoạt tại các dự án mức bồi thường khác nhau do sự thay đổi chính sách đã dẫn tới sự so bì và khiếu kiện kéo dài của người có đất bị thu hồi Vì vậy việc GPMB để thực hiện một số dự án không bảo đảm tiến độ
- Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật; hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc GPMB bị dây dưa kéo dài nhiều năm
- Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, GPMB gồm các thành viên được trưng tập từ các ngành khác nhau, thiếu kinh nghiệm, chưa am hiểu sâu chính sách, pháp luật về đất đai, lúng túng trong việc giải thích chính sách pháp luật cho nhân dân, thậm chí làm trái quy định của pháp luật, dẫn tới khiếu nại và phải tạm dừng việc GPMB
- Nhiều nhà đầu tư không đủ khả năng về tài chính để bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi Việc ngân hàng rút bỏ cam kết, không cho vay vốn khi thị trường nhà đất chững lại cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của nhà đầu tư để triển khai dự án
- Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC
đã được giải quyết đúng pháp luật, thoả đáng nhưng người SDĐ hoặc do không hiểu pháp luật, cố ý trì hoãn để được bồi thường hỗ trợ thêm nên không chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người, gây áp lực với cơ quan nhà nước Trong khi đó, cơ chế về giải quyết đơn thư khiếu nại còn nhiều bất cập đã làm cho việc giải quyết khiếu nại kéo dài, gây ách tắc việc giải phóng mặt bằng
Nguyên nhân sâu xa của những biểu hiện nêu trên là chưa quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đã nêu rõ phải giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước, nhà
Trang 24đầu tư và người SDĐ đã chưa thể hiện đúng và đầy đủ quan điểm đó [3]
- Một số khó khăn hạn chế chung trong quá trình thu hồi đất để phát triển các khu đô thị và các công trình công cộng [3]
Mặc dù đã có tác động rất tích cực đối với sự phát triển KT-XH, như đến nay thu hồi đất đang là vấn đề “nóng”, bức xúc ở nhiều địa phương Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập nhiều vấn đề này và thực tế là trong các khiếu kiện của người dân hiện nay thì phần lớn là về đất đai, trong đó có vấn đề thu hồi đất Vấn đề thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia đang diễn ra rất phức tạp Bên cạnh kết quả đã đạt được như đã nêu ở trên, việc thu hồi đất ở nước ta đang còn rất nhiều vấn đề cần được giải quyết một cách đồng bộ như: Đời sống, việc làm của người bị thu hồi đất; chuyển đổi nghề nghiệp cho những người
bị mất tư liệu sản xuất; chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng; vấn đề TĐC; vấn
đề hợp lý đất đã thu hồi
+ Thứ nhất, thu hồi đất đã đẩy hàng triệu người, trong đó chủ yếu là nông dân lầm vào cảnh không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn
+ Thứ hai, giá đất đền bù cho người dân không thỏa đáng
+ Thứ ba, tổ chức TĐC cho người dân một số nơi chưa làm tốt
+ Thứ tư, việc đào tạo nghề, giúp giải quyết việc làm cho những người bị thu hồi đất làm chưa được nhiều
+ Thứ năm, đất thu hồi nhiều nơi bị bỏ hoang hoặc sử dụng chưa hiệu quả + Thứ sau, một số bất cập khác trong việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm, ổn định đời sông cho người bị thu hồi đất
Trang 25- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư 69/2006/TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi bổ sung Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định về việc cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền SDĐ, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai
- Thông tư 06/2007/TT - BTNMT ngày 02/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định về việc cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền SDĐ, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai
- Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều của nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung quy hoạch SDĐ, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC; Căn cứ Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
- Quyết định số: 59/2009/QĐ-UBND ngày 10/11/2009 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cự và đơn giá bồi thường cây cối, hoa màu gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 26- Quyết định 04/2010/QĐ-UBND sửa đổi bản quy định về thực hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất
kèm theo Quyết định 59/2009/QĐ-UBND do UBND Vĩnh Phúc ban hành
- Quyết định số 18/2011/QĐ-UBND ngày 20/4/2011 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;
- Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND ngày 23/3/2012 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc Ban hành Quy định hỗ trợ đất dịch vụ cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh có đất nông nghiệp bị thu hồi từ ngày 01/01/2009 đến 31/12/2015
- Quyết định số 50/2005/QĐ-UBND ngày 30/12/2005 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành quy định giá đất trên địa bàn tỉnh năm 2006;
- Quyết định số 302/2005/QĐ-UBND ngày 27/1/2005 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành đơn giá bồi thường, hỗ trợ và Tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
1.2.4 Chính sách bồi thường một số nước trên thế giới
- Trung Quốc: Thứ nhất, pháp luật Trung Quốc quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất, về bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi, quản lý nhà nước đối với đất sau khi thu hồi Đặc biệt là các quy định về tiền hỗ trợ mất việc làm, chuyển đổi nghề, cách thức quản lý và sử dụng khoản tiền hỗ trợ này, chính sách quản lý đối với đất nhàn rỗi v.v là những kinh nghiệm hay mà Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng để hoàn thiện mảng quy định của pháp luật về lĩnh vực này;
Thứ hai, quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế của Trung Quốc đã tác động mạnh mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bố lại lực lượng lao động; một
số lượng không nhỏ diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất phi nông nghiệp đã kéo theo hàng loạt các vấn đề mà Chính phủ Trung Quốc phải giải quyết như: ổn định đời sống, chuyển đổi nghề nghiệp, công ăn, việc làm cho người nông dân bị mất đất.v.v Đây cũng chính là những vấn đề mà Việt Nam đã và đang gặp phải trong quá trình chuyển đổi với mục tiêu công nghiệp hóa,
Trang 27hiện đại hóa nền kinh tế Chính vì vậy, kinh nghiệm giải quyết các vấn đề nói trên của Trung Quốc là những bài học rất có giá trị để Việt Nam tham khảo
Thứ ba, Trung Quốc thực hiện việc bồi thường cho người có đất bị thu hồi dựa trên cơ sở lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân nhằm bảo đảm quyền
và lợi ích chính đáng cho họ Đồng thời, Chính phủ Trung Quốc cũng rất chú trọng đến việc quản lý chặt chẽ đất nông nghiệp, tránh việc sử dụng lãng phí quỹ đất này thông qua việc xác lập các quy định về
- Thái Lan: Không có chính sách đền bù TĐC quốc gia, vì đa hình thức sở hữu đất đai nhưng Hiến pháp năm 1982 quy định việc trung dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả các thiệt hại do việc trưng dụng gây
ra và quy định việc đền bù phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên các quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trung dụng đất của ngành mình Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trung dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước, phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc tính giá trị đền
bù, các bước lập và phê duyệt dự án đền bù, thủ tục thành lập các cơ quan, ủy ban tính toán đền bù TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền đền bù, quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa ra tòa
- Hàn Quốc: Những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ
các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách TĐC
Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km Vào những
Trang 28năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc
Như vậy ta có nhận xét và đánh giá sau: Việc xây dựng và phát triển các
công trình đều cần có đất Do đất đai có hạn, vì thế mọi Nhà nước đều phải sử dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Ở mỗi nước, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong Hiến pháp hoặc tại Bộ Luật đất đai hoặc một bộ luật khác Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc SDĐ không thực hiện thì Nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất, trung thu đất và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó quy định
Qua nghiên cứu chính sách BTGPMB của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế, Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách BTGPMB ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện các quy định về định giá đất nói chung và định giá đất để BTGPMB nói riêng;
- Thực hiện thống nhất trình tự, thủ tục thực hiện và thực hiện tốt quy định
về thẩm định, phê duyệt, giám sát thực hiện phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng; quan tâm hơn nữa tới việc quy hoạch và xây dựng nơi TĐC, tạo việc làm của người có đất bị thu hồi; xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa người SDĐ, Nhà nước và nhà đầu tư
1.2.5 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
1.2.5.1 Trước khi có luật đất đai 1988
- Trước năm 1945: Chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
ở Việt Nam gắn liền với việc hình thành các triều đại phong kiến Ở mỗi kiểu Nhà nước các hình thức sở hữu đất đai luôn được giai cấp thống trị chú trọng Bắt đầu từ thời vua Gia Long, Nhà nước thực sự thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất không chỉ
Trang 29thuộc về Nhà nước mà cả sở hữu tư nhân và cả sở hữu làng xã Việc đền bù theo mức thực sự là sự đền bù trên cơ sở thừa nhận quyền sở hữu tư nhân, tuy nhiên, sở hữu Nhà nước bao giờ cũng lấn át sở hữu làng xã Chính sách đền bù được thực hiện rất nguyên tắc và chặt chẽ
- Thời kỳ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975: Sau cách mạng Tháng 8 thành công, chúng ta tiến hành xoá bỏ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân Hiến pháp năm 1959, nhà nước thừa nhận ba hình thức sở hữu đất đai bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể Khi tiến hành thu hồi đất Nhà nước tiến hành điều chỉnh ruộng đất hoặc nhượng lại ruộng đất cho người bị trưng dụng sẽ được đền bù từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng bị trưng dụng Thực tế trong thời kỳ này, quan hệ đất đai trong đền bù chủ yếu là thoả thuận sau đó thống nhất giá trị đền bù mà không cần có cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án đền bù hay ban hành giá đền bù
- Thời kỳ từ sau năm 1975 đến trước năm 1988: Trên cơ sở Hiến pháp năm
1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, ngày 01/07/1980 Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 201/CP về việc: “Không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất kỳ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp
do Nhà nước quy định” Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ
“Giao-thu” giữa Nhà nước và người sử dụng [7]
1.2.5.2 Thời kỳ từ năm 1988 đến năm 1993
Luật đất đai năm 1988 ban hành quy định về bồi thường cũng cơ bản dựa trên quy định tại hiến pháp năm 1980 Ngày 31/5/1990, Hội đồng bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất Mỗi hạng đất tại mỗi vị trí đều quy định giá tối
đa, tối thiểu Mức giá bồi thường không được thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức quy định tại địa phương Tổ chức cá nhân được Nhà nước giao đất nông
Trang 30nghiệp, đất rừng để sử dụng vào mục đích khác phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Khoản tiền này nộp vào ngân sách Nhà nước và sử dụng vào việc khai hoang phục hóa, cải tạo đất nông nghiệp, trồng rừng, ổn định cuộc sống, định canh, định cư [7]
1.2.5.3 Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003
Sự ban hành Luật đất đai năm 1993 là văn bản pháp luật quan trong nhất đối với việc thu hồi và bồi thường thiệt hai khi nhà nước thu hồi đất Ngày 17/8/1994 Chính phủ Ban hành Nghị định số 90/NĐ-CP quy định cụ thể chính sách làm cơ sở thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB theo quy định khi nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá đất Ngày 24/4/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 22/1988/NĐ-CP thay thế nghị định 90/NĐ-CP (trong đó: Người
bị thu hồi đất có quyền được lựa chọn một trong ba phương án bồi thường: Bằng tiền, bằng nhà ở hoặc bằng đất)
Nhưng khi triển khai Nghị định 22/NĐ-CP còn có những hạn chế nhất định,
nó chưa đáp ứng được hết yêu cầu thực tế và gây ra nhiều phát sinh khiếu kiện, chưa giải quyết được những tồn tại do yêu tố lịch sử để lại như:
Thứ nhất, việc bồi thường đất đối với các trường hợp SDĐ trước năm 1993 còn chưa được quy định cụ thể
Thứ hai, việc xác định giá đất còn gây khó khăn cho tổ chức
Thứ ba, chưa có quy định chi tiết về tại định cư
Thứ tư, chưa có quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất với các trường hợp cố tình không thực hiện
Thứ năm, quy định về điều kiện để được bồi thường hoặc không đủ điều kiện bồi thường đất chưa quy định rõ ràng
1.2.5.4 Từ khi có luật đất đai 2003 đến nay
Ngày 26/11/2003 Quốc hội ban hành Luật đất đai năm 2003 là sự đánh dấu
sự hoàn thiện trong công tác đổi mới quản lý nhà nước về đất đai nói chung, trong lĩnh vực BTGPMB nói riêng, kèm theo đó là ban hành nhiều nghị định, thông tư cụ thể hóa các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất bao gồm: Nghị định
Trang 31188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004, Thông tư 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004, Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 bổ sung một số điều của Nghị định
188 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004, Thông tư 116/TT-BTC ngày 07/12/2004 và Nghị định 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007… Việc ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật thể hiện sự đổi mới, tính chặt chẽ, cụ thể chi tiết về mọi mặt pháp lý của Nhà nước trong vấn đề Quản lý nhà nước về đất đai, trong công tác GPMB Về cơ bản, chính sách bồi thường GPMB theo Luật đất đai 2003 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồi thường GPMB hiện nay
Tuy nhiên để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường GPMB ngày 25-5-2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/NĐ-CP quy định
bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại
về đất đai; Thông tư 06 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Thông tư 145/2007/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/204/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Về Nghị định 84/2007/NĐ/CP tập trung vào việc làm rõ, bổ sung Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 17/2006/NĐ-CP về một số những vấn đề cơ bản chính sách bồi thường, trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ, trình tự thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư [8]
Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định 84/2007/NĐ-CP là đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất, thực hiện hài hòa 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhà đầu tư và quyền của nhà nước theo quy định của pháp luật
Nhận xét và đánh giá:
Qua nghiên cứu chính sách BTGPMB của Việt Nam qua các thời kỳ cho
Trang 32thấy vấn đề BTGPMB đã được đặt ra từ rất sớm, các chính sách đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp hơn với xu hướng phát triển của đất nước Trên thực tế các chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến khích được đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng
Cùng với sự đổi mới về tiến trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan lập pháp và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trong những năm gần đây đã có nhiều điểm đổi mới thể hiện chính sách ưu việt của một Nhà nước của dân, do dân
và vì dân
1.2.6 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ở một
số địa phương và tại tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Tam Đảo
1.2.6.1 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi tại một số địa phương
Thành phố Hà Nội:
Năm 2012, toàn thành phố có 246 dự án hoàn thành GPMB, đã thu hồi 1.290ha đất, phê duyệt phương án và chi trả hơn 7.637 tỷ đồng bồi thường, hỗ trợ cho 28.465 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và bố trí tái định cư cho 855 hộ dân phải di chuyển chỗ ở Trong đó có nhiều công trình trọng điểm như dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai (trên địa bàn huyện Sóc Sơn); đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường liên tỉnh Hà Nội - Hưng Yên (địa bàn quận Long Biên và huyện Gia Lâm);
dự án cầu Nhật Tân và đường Nhật Tân - Nội Bài (quận Tây Hồ và huyện Đông Anh, Sóc Sơn); đường Vành đai I đoạn Ô Chợ Dừa - Hoàng Cầu (quận Đống Đa); cầu Vĩnh Thịnh (thị xã Sơn Tây); đường vành đai 2,5 (Quận Hoàng Mai)…
Theo Ban Chỉ đạo GPMB TP, công tác GPMB đạt kết quả tích cực là nhờ Thành ủy, HĐND, UBND TP thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc Chỉ riêng Ban Chỉ đạo GPMB TP đã chủ trì, phối hợp cùng liên ngành tham mưu cho UBND TP giải quyết hàng trăm đơn thư phản ánh, khiếu kiện về cơ chế bồi thường, GPMB và tái định cư của hàng loạt dự án Khi có vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền, UBND quận, huyện, thị xã, chủ đầu tư đã
Trang 33chủ động báo cáo và tích cực phối hợp với các sở, ngành xem xét, tham mưu, đề xuất thành phố giải quyết
Tuy nhiên, trong GPMB, việc xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của cấp xã đối với các trường hợp bị thu hồi có lúc, có nơi còn chậm Hồ sơ quản
lý đất đai còn thiếu ở nhiều nơi gây khó khăn cho việc xác nhận của các cấp chính quyền Ngoài ra, còn có sự yếu kém về năng lực, sự thiếu tích cực của đội ngũ cán
bộ trực tiếp làm công tác GPMB Việc chuẩn bị điều kiện tổ chức GPMB (vốn, quỹ nhà đất tái định cư, hồ sơ chỉ giới đường đỏ, mốc giới…) chưa được đơn vị liên quan triển khai kịp thời Có nơi chưa tạo được sự phối hợp đồng bộ trong công tác thu hồi đất - GPMB Ý thức của một bộ phận người dân còn thấp, còn có hiện tượng cố tình cản trở
Thành phố Hải Phòng:
Tại Hải Phòng, cùng với sự phát triển của đất nước, các dự án đầu tư có sử dụng đất tại thời điểm này bắt đầu gia tăng Trong quá trình thực hiện, UBND Thành phố và các ngành chức năng vừa làm vừa nghiên cứu để hoàn thiện chính sách trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của người bị thu hồi đất, tuân thủ các chính sách của Nhà nước và quy định của pháp luật Trong thời gian qua, công tác bồi thường GPMB đã được các ngành, các cấp thực hiện tuy còn nhiều vướng mắc, song phần nào cũng giải quyết được vấn đề bàn giao mặt bằng cho các dự án Trong thời gian từ 15/11/2010 đến 21/8/2011, ngành địa chính đã cùng với các ngành có liên quan tổ chức kiểm kê, lập phương án bồi thường cho 125 dự án trong đó đã chi trả xong tiền bồi thường cho 90 dự án với diện tích đất 855 ha, kinh phí bồi thường 200,06 tỷ đồng, hoàn thành phương án bồi thường trình UBND thành phố phê duyệt cho dự án với diện tích 200,10 ha, giá trị bồi thường 85 tỷ đồng Đang triển khai kiểm kê, lập phương án bồi thường cho 41 dự án với diện tích chiếm đất là 955,69
ha Các huyện, quận, thị xã đã kiểm kê, lập phương án bồi thường cho 106 dự án, đã chi trả xong tiền bồi thường cho 79 dự án, còn 27 dự án đang tiến hành kiểm kê lập phương án bồi thường và trình phê duyệt (huyện An Hải 20 dự án, huyện Kiến Thuỵ 5 dự án, huyện Thuỷ Nguyên 9 dự án, quận Ngô Quyền 15 dự án, quận Hồng Bàng 20 dự án, quận Kiến An 30 dự án và Thị xã Đồ Sơn 7 dự án)
Trang 34bị thu hồi đất
Hà Tĩnh luôn xác định việc bồi thường GPMB phục vụ phát triển công nghiệp phải đảm bảo ổn định và nâng cao hơn đời sống cho những hộ dân có đất bị thu hồi Với phương châm đó, tỉnh đã xây dựng chính sách hỗ trợ kết hợp công tác vận động tuyên truyền nên đã từng bước khắc phục được những khó khăn, tạo niềm tin trong nhân dân đồng thời nâng cao uy tín và trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh
Nhằm khắc phục những khó khăn, trước hết ngành tài nguyên môi trường đã tham mưu cho tỉnh việc cung cấp đất dịch vụ cho những hộ dân có đất thuộc diện thu hồi để tạo công ăn việc làm cho nhân dân với phương châm thu hồi đất nhưng vẫn phải đảm bảo nâng cao hơn trước thu nhập của người dân Hiện nay Hà Tĩnh luôn xác định việc cần thiết phải hỗ trợ nhân dân chuyển đổi việc làm từ sản xuất nông nghiệp sang làm dịch vụ hoặc hỗ trợ vốn, kỹ thuật để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyên canh hoa màu và những cây có giá trị kinh tế cao để ổn định cuộc sống cho nhân dân Việc thu hồi đất để phát triển công nghiệp phải gắn liền với giải quyết việc làm cho người dân Nhiều doanh nghiệp khi nhận đất phải cam kết đào tạo công nhân và tuyển dụng lao động địa phương vào làm việc Đồng thời việc thu hồi đất cũng phải tạo điều kiện giải quyết bồi thường nhanh chóng cho người dân Hiện nay việc bồi thường GPMB ở Hà Tĩnh, tỉnh chỉ giải quyết những dự án lớn có
Trang 35liên quan đến nhiều huyện, còn lại thì giao cho các huyện, thị và thành phố chủ động giải quyết dưới sự chỉ đạo của tỉnh Điều này đã tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong công tác bồi thường GPMB, tránh tình trạng chồng chéo và lãng phí thời gian không cần thiết
Bên cạnh các chính sách hỗ trợ, công tác vận động, thuyết phục nhân dân cũng đã được tích cực triển khai Việc tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng đã góp phần quan trọng giúp người dân hiểu và tuân thủ các chính sách của Nhà nước cũng như của tỉnh Qua đó khen thưởng những hộ dân có tính tự giác cao trong công tác bồi thường GPMB, đồng thời các thủ tục cấp phép cho doanh nghiệp cũng được thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện Tỉnh cũng cương quyết xử lý, thậm chí thu hồi lại đất của những doanh nghiệp tự ý nâng giá đất, đầu
tư xây dựng không đúng cam kết cũng như khen thưởng các doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm xã hội cao, tiếp nhận và đào tạo lao động tại địa phương vào làm việc Kết quả tính đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã thu hút được 40 dự án trong
đó có 10 dự án FDI với tổng vốn đầu tư gần 8 tỷ USD (mỏ sắt Thạch Khê, nhà máy luyện thép Possan (Đài Loan), nhà máy nhiệt điện Vũng Áng, nhà máy thủy điện Ngàn Trươi - Cẩm Trang ) và 100 dự án DDI với tổng vốn đầu tư gần 300 tỷ đồng Diện tích đã bồi thường GPMB khoảng 3000ha, trong đó có những nơi có diện tích GPMB cao như: huyện Kỳ Anh trên 1000ha, huyện Thạch Hà trên 600ha, Vũ Quang trên 500ha Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành 5 Khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung và cơ bản đã lấp đầy các dự án, các dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, hàng năm đóng góp cho ngân sách tỉnh khoảng 50 tỷ đồng và tạo công ăn việc làm mới cho 1000 lao động trực tiếp, nâng tổng số lao động đang làm việc trực tiếp tại các dự án lên 5000 người
1.2.6.2 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc đã giải phóng mặt bằng được hơn 4.000 ha đất để giao cho gần
700 dự án không sử dụng vốn ngân sách nhà nước Tuy nhiên, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn đang gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp, ảnh hưởng đến quá trình thu hút đầu tư của địa phương
Trang 36Nhiều dự án đã được triển khai từ nhiều năm nay nhưng những vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng vẫn chưa được giải quyết triệt để như: Khu công nghiệp Khai Quang, Chấn Hưng; Cụm kinh tế xã hội Tân Tiến; xí nghiệp ô tô Xuân Kiên; quốc lộ 2A, 2B, nhiều dự án đô thị Vì vậy, nhà đầu tư không thể triển khai xây dựng công trình đúng tiến độ quy định
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do các chính sách về bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, chuyển đổi nghề, TĐC, đất dịch vụ chưa đồng bộ, chưa có chính sách ổn định, bền vững đối với người bị thu hồi đất tạo nên tâm lý bất an khi thu hồi đất trong nhân dân
Việc thực hiện quy chế công khai, dân chủ, các thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước chưa phù hợp, nhất quán làm giảm lòng tin với nhân dân Một bộ phận nhân dân chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người SDĐ theo quy định của pháp luật, cố tình dây dưa kéo dài đòi hỏi chế độ gây khó khăn cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tỉnh đang xây dựng, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ cho nông dân trong việc thu hồi đất, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề ; tiếp tục hoàn thiện chính sách giao đất dịch vụ cho nông dân; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp nông dân và nông thôn đảm bảo an sinh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế xã hội địa phương
Bên cạnh đó, Vĩnh Phúc tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản
lý của chính quyền các cấp Tăng cường công tác truyền thông, phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng làm cho người SDĐ cũng như người quản
lý về đất đai thực hiện đẩy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình quản
lý và SDĐ theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, tỉnh Vĩnh Phúc đang kiến nghị sớm sửa đổi bổ sung một số luật đất đai năm 2003 cho phù hợp với thực tế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của địa phương Hoàn thiện các chính sách pháp luật đất đai theo hướng ổn định, đơn giản, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương
Trang 371.2.6.3 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất tại huyện Tam Đảo
Thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển toàn diện kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa UBND huyện Tam Đảo đã triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai, vấn đề giải phóng mặt phòng, bồi thường hỗ trợ TĐC cho các hộ dân có đất bị thu hồi theo đúng các quy định pháp luật Nhưng do tồn tại của địa phương còn rất nhiều phức tạp nhưng ban lãnh đạo huyện đã từng bước tháo gỡ, giải thích, giải quyết các vướng mắc của nhân dân về bồi thường giải phóng mặt bằng để đi đến mục tiêu chung là phát triển kinh tế xã hội
Năm 2012 Ban quản lý dự án huyện Tam Đảo thay mặt chủ đầu tư quản lý
24 dự án do UBND huyện làm chủ đầu tư Trong đó có 18 dự án chuyển tiếp từ năm
2011 trờ về trước, 06 dự án triển khai năm 2011 Trong 18 dự án chuyển tiếp từ thời điểm trước năm 2011 có 12 dự án đang tồn tại vướng mắc trong công tác GPMB Điển hình là các dự án như: Dự án cải tạo nâng cấp Đường QL2B (Hợp Châu) - TL302 (Hồ Sơn); Dự án đường nội thị huyện Tam Đảo, đoạn tuyến từ QL2B mới mặt cắt 42m đến đường quy hoạch mặt cắt 17,5m; Dự án Trung tâm văn hóa thể thao huyện (giai đoạn I)…lý do chung đối với các hộ dân chưa nhận tiền BTGPMB là: đòi hỏi đất tái định cư, cấp đất dịch vụ, đơn giá thấp, yêu cầu hỗ trợ thêm phần xây dựng lại các công trình kiến trúc sau khi phá dỡ… đây cũng chính là lý do dẫn đến các dự án kéo dài thời gian, chậm trễ trong quá trình bàn giao thi công Đối với
6 dự án triển khai trong năm 2011 thì hiện nay 6/6 dự án đã tiến hành kiểm kê lập phương án bồi thường xong Trong đó 02/06 dự án đã bàn giao được một phần mặt bằng cho nhà thầu triển khai thi công [1]
1.2.7 Nhận xét chung về tổng quan các vấn đề nghiên cứu
- Bồi thường giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất hoặc trưng thu đất là vấn đề không thể tránh khỏi trong mọi giai đoạn phát triển của bất kỳ quốc gia nào
- Bồi thường giải phóng mặt bằng là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, việc thực hiện chính sách BTGPMB tác động sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế-
xã hội
Trang 38- Một trong những vấn đề cơ bản để phát triển kinh tế- xã hội và môi trường bền vững là đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đô thị
- Chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về tác động của việc thực hiện chính sách BTGPMB đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất
Từ đó cần phải nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về tác động của việc thực hiện chính sách BTGPMB đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và địa bàn nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu hai dự án thuộc xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc:
Dự án 1: Công trình đường nội thị huyện Tam Đảo, tuyến từ trục chính huyện lỵ (mặt cắt 42 m) đến đường quy hoạch (mặt cắt 17,5 m) xã Hợp Châu, xã
Hồ Sơn, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; đoạn trên địa phận xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo;
Dự án 2: Công trình cải tạo, nâng cấp QL2B mới (Đường 42) đoạn từ KM2 ÷
KM13 xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Người dân có đất bị thu hồi vào 02 dự án và công tác thực hiện giải phóng mặt bằng, công tác hỗ trợ TĐC và người dân thuộc 02
dự án Do hai dự án này có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội chung của toàn xã Hợp Châu Trong khi thực hiện dự án cũng có rất nhiều thuận lợi nhưng bên cạnh đó cũng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng Chính vì vậy lựa chon đề tài này nhằm đánh giá chung nhất, đưa ra được những giải pháp để thực hiện các dự án khác trên địa phương
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Hợp Châu
- Kết quả thực hiện công tác GPMB tại 02 dự án nghiên cứu
- Tổng hợp phiếu điều tra và đánh giá ảnh hưởng của công tác GPMB đến đời sống nhân dân tại khu vực GPMB 02 dự án nghiên cứu
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong công tác GPMB và đề xuất phương án giải quyết, nhằm hoàn thiện chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra thu thập tài liệu, thông tin
2.3.1.1 Tài liệu thứ cấp
a) Thu thập tài liệu từ cơ sở, các phòng Tài nguyên và môi trường, ban quản lý
dự án và GPMB huyện liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng như các quyết
Trang 40định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, các tờ trình, báo cáo phê duyệt của 02 dự án
b) Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo tại các phòng ban có liên quan như phòng Thống Kê, văn phòng UBND xã, các báo cáo tổng kết cuối năm UBND xã Hợp Châu, báo cáo đề
án nông thôn mới của xã Hợp Châu
- Một số tài liệu khác liên quan để thực hiện luận văn
2.3.1.2 Điều tra các số liệu sơ cấp:
Thu thập thông tin về kết quả của công tác giải phóng mặt bằng và ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng tới đời sống của người dân thông qua phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn bao gồm: Phỏng vấn trực tiếp người dân bị thu hồi đất bằng phiếu điều tra
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn người dân có đất bị thu hồi vào 02 dự án trên thông qua các câu hỏi mở và phỏng vấn người dân sử dụng bộ phiếu câu hỏi (bộ câu hỏi kèm theo ở phần phụ lục 1); Lựa chọn 60 hộ gia đình bị thu hồi Lựa chọn hộ một cách ngẫu nhiên từ danh sách hộ bị thu hồi đất của 02 dự án
2.3.2 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra (sử dụng phần mềm Microsoft Excel)
Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp, thống kê và
xử lý bằng phần mềm Excel Kết quả được trình bày bằng các bảng số liệu, biểu đồ
và đồ thị
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Sử dụng ý kiến của các chuyên gia tư vấn, đánh giá mức độ tác động theo ý kiến chuyên gia:
- Các bài viết báo, bài viết khoa học đã được công nhận chuyên ngành quản
lý đất đai
- Ý kiến của các chuyên viên thực hiện việc kiểm kê, lưu giữ các tài liệu như quyết định thu hồi, quyết định phê duyệt phương án của 02 dự án trên