1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố đà lạt, tỉnh lâm đồng

75 76 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 864,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI NGUYỄN THANH TUẤN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀM CÔNG TÁC THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊ

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

NGUYỄN THANH TUẤN

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

LÀM CÔNG TÁC THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

TP Hồ Chí Minh, 7/2020

Trang 2

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

NGUYỄN THANH TUẤN

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

LÀM CÔNG TÁC THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” do học viên

Nguyễn Thanh Tuấn thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trương Đình Chiến

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Những thông tin, số liệu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá được tác giả thu thập trong quá trình nghiên cứu, các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn

là trung thực

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ

“Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” Trong suốt quá trình học tập và thực hiện

luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, hỗ trợ nhiệt tình từ quý thầy, cô giáo trường Đại học Nội vụ Hà Nội Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học TS Trương Đình Chiến đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Tổ chức Thành ủy Đà Lạt, Phòng Nội

vụ thành phố Đà Lạt, Thành đoàn Đà Lạt, UBND các phường, xã trên địa bàn thành phố Đà Lạt đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc thu thập các thông tin,

số liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu thực tiễn

Tôi cũng xin ghi nhận tình cảm của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Đà Lạt, tháng 7 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tuấn

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

- CBCC: Cán bộ, công chức

- CTTN: Công tác thanh niên

- HĐND: Hội đồng nhân dân

- QLNN: Quản lý nhà nước

- UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀM CÔNG TÁC THANH NIÊN 8

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 8

1.1.1 Thanh niên, công tác thanh niên 8

1.1.2 Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên 10

1.1.3 Phát triển và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên 12

1.2 Lý luận chung về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên 13

1.2.1 Một số vấn đề chung về công tác thanh niên 13

1.2.2 Nội dung phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên14 1.2.2.1 Quy hoạch đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên ……… ……… 14

1.2.2.2 Tuyển dụng, bầu cử cán bộ, công chức làm công tác thanh niên ……… ……… … …15

1.2.2.3 Luân chuyển, điều động, bố trí - sử dụng cán bộ, công chức làm công tác thanh niên ……… …15

1.2.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên ……… ………….…16

Trang 8

1.2.2.5 Tổ chức thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên … ………… … 17 1.2.2.6 Khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

……… ………….…… 17 1.2.2.7 Kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên 21

1.4.1 Vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền trong lãnh đạo công tác phát triển đội ngũ CBCC nói chung và đội ngũ CBCC làm CTTN nói riêng 21 1.4.2 Tác động của kinh tế - xã hội 22 1.4.3 Thể chế nhà nước về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên 22 1.4.4 Thực hiện các nội dung về công tác cán bộ 23 1.4.5 Các yếu tố thuộc về đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên23

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀM CÔNG TÁC THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 26 2.1 Tổng quan về lực lượng thanh niên và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 26

2.1.1 Số lượng và cơ cấu lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt26

2.1.2 Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 27

Trang 9

2.2 Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức

làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 29

2.2.1 Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 29

2.2.2 Công tác tuyển dụng, bầu cử cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 30

2.2.3 Công tác luân chuyển, điều động, bố trí - sử dụng cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 32

2.2.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 33

2.2.5 Tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 35

2.2.6 Công tác khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 36

2.2.7 Công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 37

2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 38

2.3.1 Ưu điểm và nguyên nhân 38

2.3.2 Hạn chế - tồn tại và nguyên nhân 39

2.3.2.1 Hạn chế - tồn tại 39

2.3.2.2 Nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan 40

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀM CÔNG TÁC THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2020 - 2025 45

3.1 Định hướng tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 45

3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên 45

3.1.2 Yêu cầu chủ yếu về công tác phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 46

Trang 10

3.2 Giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh

niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 48

3.2.1 Thực hiện hiệu quả công tác quy hoạch và phân cấp quản lý cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.48 3.2.2 Đổi mới công tác tuyển dụng và bố trí - sử dụng cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 49

3.2.3 Chú trọng đổi mới phương thức để nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác thanh niên 50

3.2.4 Đảm bảo tổ chức thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng ……… ……… 51

3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng … 53

3.2.6 Khuyến khích, tạo điều kiện và khơi dậy ý thức tự học tập, rèn luyện của bản thân cán bộ, công chức làm công tác thanh niên … 54

3.3 Một số kiến nghị - đề xuất 55

3.3.1 Đối với tỉnh Lâm Đồng 55

3.3.2 Đối với thành phố Đà Lạt 56

KẾT LUẬN 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cán bộ, công chức (CBCC) có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Nói về vai trò của cán bộ, Bác Hồ đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công

việc”; “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [24]

Nghị quyết 30c/NQ-CP, ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 đã tiếp

tục xác định mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm

chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước” [13]

Trong Quyết định số 2474/QĐ-TTG, ngày 30/21/2011 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

đã nêu: “Kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác thanh niên, xây dựng và phát triển

đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên, đội ngũ cán bộ đoàn các cấp

có phẩm chất đạo đức, trình độ và năng lực ngang tầm với nhiệm vụ được giao”,

“Bố trí đủ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên ở địa phương”.Trên cơ sở

đó, chúng ta càng nhận thức rõ vai trò của đội ngũ CBCC làm công tác thanh niên (CTTN) là hết sức quan trọng

Với đặc thù công tác mà đối tượng là thanh niên, đội ngũ CBCC làm CTTN phải là những người thực sự có đủ trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, có tâm huyết,

có lý tưởng, có uy tín và có trách nhiệm cao để đảm đương tốt nhiệm vụ được giao

Vì vậy, phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cấp, các ngành và cấp ủy, chính quyền các địa phương

Trong những năm qua, công tác phát triển đội ngũ cán CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã được quan tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp Đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt cơ bản đủ

về số lượng và cơ cấu; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từng bước được nâng lên;

Trang 12

lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng và nhìn chung nhiệt huyết với CTTN…

Tuy nhiên so với yêu cầu, công tác phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt cũng còn một số khó khăn, hạn chế nhất định Thực tế, trong những năm qua, chất lượng đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố

Đà Lạt bên cạnh những ưu điểm cũng còn những bất cập như: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực công tác của một bộ phận CBCC (nhất là cán bộ làm công tác Đoàn ở một số phường, xã) còn hạn chế; thiếu tự tin, chưa chủ động sáng tạo trong triển khai các hoạt động thanh niên; công tác quy hoạch, bố trí CBCC làm CTTN đôi lúc chưa phù hợp, chưa có chính sách thỏa đáng nhằm tăng cường thu hút đội ngũ CBCC làm CTTN… Từ đó đã ảnh hưởng không ít đến kết quả hoạt động CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt

Từ vai trò, tầm quan trọng của thanh niên và CTTN đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đòi hỏi tăng cường nhận thức, sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành, các địa phương đến công tác phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN; để qua đó phát huy vai trò của thanh niên trên địa bàn góp phần xây dựng thành phố Đà Lạt ngày càng phát triển, xứng đáng là một trong những đô thị hiện đại, nhất là về du lịch, dịch vụ, nông lâm và đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao

Vì những lý do trên, học viên xin chọn đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ,

công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong lĩnh vực quản lý nhà nước (QLNN) về CTTN nói chung và phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN nói riêng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập với nhiều góp độ khác nhau như:

- Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên) “Cơ sở lý luận,

thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

năm 2001 Các tác giả đã phân tích một cách hệ thống và toàn diện về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung [31]

Trang 13

- Nguyễn Viết Hùng (2017), Luận văn thạc sĩ quản lý công “Quản lý nhà

nước về công tác thanh niên tại tỉnh Gia Lai”, đề tài đã đi sâu đánh giá thực trạng

QLNN về thanh niên trên địa bàn tỉnh Gia Lai và đưa ra các giải pháp khá cụ thể nhằm tăng cường quản lý nhà nước về CTTN của địa phương [25]

- Phan Văn Giang (2012), Luận văn thạc sĩ Hành chính “Quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên - nghiên cứu thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả đã nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về CTTN, đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng quản lý nhà nước về CTTN trên cơ sở phân tích, lý giải các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động và thực trạng của địa phương thành phố Hồ Chí Minh [24]

- Trần Thiện Lộc (2017), Luận văn thạc sĩ quản lý công “Quản lý nhà nước

về công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Bình Dương”, luận văn đã nghiên cứu các

cơ sở lý luận và pháp lý của QLNN về CTTN và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về CTTN trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về CTTN [23]

- Lê Văn Cầu, Luận án tiến sĩ Chính trị học: “Đổi mới đội ngũ cán bộ Đoàn

Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp huyện trong giai đoạn hiện nay (qua thực tế một số tỉnh miền trung)” (1999) Nội dung chính của đề tài là chủ yếu bàn về hệ

thống tổ chức hoạt động và đội ngũ cán bộ Đoàn cấp huyện; phân tích thực trạng và tổng kết thực tiễn đội ngũ cán bộ Đoàn cấp huyện; đề ra phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp huyện [12]

- Lê Thị Hồng Anh (2015), luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục “Phát triển

đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Sơn La đến năm 2020”, đã chú trọng nghiên cứu lý luận về phát triển đội ngũ,

đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Sơn La, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục [1]

- Nguyễn Văn Phong (2019), Luận án tiến sĩ Quản lý công “Quản lý nhà

nước về phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam”, đã

hệ thống hóa những vấn đề lý luận về QLNN về phát triển đội ngũ giảng viên các

Trang 14

trường đại học công lập; nghiên cứu thực trạng QLNN về phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay; phân tích, đánh giá và xác định các quan điểm chủ yếu, đề xuất các giải pháp khá đồng bộ nhằm góp phần hoàn thiện QLNN về phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam [26]

- Bùi Tấn Công (2018), luận văn thạc sĩ Chính sách công “Thực hiện chính

sách phát triển cán bộ, công chức cơ sở từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” Trong luận văn này, tác giả đã tập trung phân tích thực trạng và đề ra giải

pháp hoàn thiện chính sách nhằm phát triển đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam [17]

- Đặng Gia Duẩn (2015) trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh: “Đánh

giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ Đoàn chuyên trách cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, tác giả đã khảo sát thực trạng cán

bộ Đoàn chuyên trách cấp xã, đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ này, trong đó có các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ Đoàn [19]

- Doãn Đức Hảo (2009) trong Luận văn thạc sĩ Chính trị học “Xây dựng đội

ngũ cán bộ Đoàn cơ sở hiện nay” đã làm rõ một số vấn đề lý luận chung về đội ngũ

cán bộ Đoàn cơ sở và đề xuất các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn thanh niên cơ sở [22]

- Đỗ Thị Thạch (2011), Chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong Văn

kiện Đại hội XI của Đảng, Tạp chí Lịch sử Đảng số 7/2011, trong bài viết tác giả đã

phân tích làm rõ chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong Văn kiện Đại hội của Đảng; đã đưa ra một số quan điểm mới trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đồng thời cũng đã xác định những quan điểm chủ yếu của Đảng về những giải pháp

để phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao [30]

- Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (2004), Quản lý nguồn nhân lực

ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

Nội dung trong cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tại Hội thảo của Đề tài KX.05.11 thuộc Chương trình khoa học - công

Trang 15

nghệ cấp Nhà nước KX.05 (giai đoạn 2001 - 2005), với các vấn đề lý luận, kinh nghiệm và những khuyến nghị chính yếu trong quản lý nguồn nhân lực Việt Nam [25]

- Ngô Minh Tuấn (2013), Quản lý Nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam: Vấn đề và giải pháp Đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Bộ, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Đề tài đã tập trung nghiên cứu QLNN trong phát triển nguồn nhân lực Trong đó, QLNN có nhiệm vụ

và vai trò: định hướng phát triển nguồn nhân lực thông qua việc ban hành các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình về phát triển nguồn nhân lực; thực hiện tạo khuôn khổ pháp luật và môi trường cho việc phát triển NNL [34]

Nhìn chung, đã có nhiều đề tài nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau đã đề cập đến các nội dung về phát triển đội ngũ CBCC nói chung và đội ngũ CBCC làm CTTN nói riêng Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Những công trình nghiên cứu trên sẽ cung cấp các tài liệu tham khảo quan trọng cho tác giả để nghiên cứu và giải quyết các vấn để đặt ra của đề tài luận văn.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận và nghiên cứu thực tiễn về phát triển đội ngũ CBCC nói chung, CBCC làm CTTN nói riêng, luận văn tập trung đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN

Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong những năm qua; chỉ ra nguyên nhân chủ quan, khách quan của những tồn tại, hạn chế

Trang 16

- Xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Các lĩnh vực về phát triển đội ngũ công chức làm

CTTN và đội ngũ cán bộ Đoàn chuyên trách từ Thành đoàn Đà Lạt đến các Đoàn

cơ sở (Đoàn các phường, xã, Đoàn các trường Trung học phổ thông) trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

- Phạm vi về thời gian: Đề tài dựa trên nghiên cứu những số liệu, tư liệu phản

ánh về thực trạng phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2015 - 2019

Đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2020 - 2025 là chủ yếu

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và những quan điểm của Đảng và Nhà nước, của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN để nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng về phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

- Phương pháp tra cứu tài liệu, hệ thống hóa các yêu cầu từ các văn bản hiện hành về phát triển đội ngũ CBCC của các cơ quan có thẩm quyền và các công trình nghiên cứu khoa học, bài báo có liên quan đến phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN

Trang 17

- Phương pháp khảo sát - điều tra bằng phiếu hỏi: Lập phiếu thăm dó ý kiến Gửi phiếu thăm dò ý kiến đến đội ngũ CBCC làm CTTN từ thành phố đến các cơ

sở Phát ra 54 phiếu, thu về 49 phiếu (đạt 90,74%)

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Luận văn góp phần làm rõ các nội hàm một số khái niệm cơ bản và hệ thống

hóa cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN

- Phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế về phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đề xuất một số giải pháp để các cấp ủy Đảng và các cấp QLNN có thẩm quyền, các cấp bộ Đoàn nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả việc phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong những năm tới

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến việc nghiên cứu về CTTN

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công

tác thanh niên

- Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác

thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

- Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm

công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2020 –

2025

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

LÀM CÔNG TÁC THANH NIÊN

1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Thanh niên, công tác thanh niên

1.1.1.1 Thanh niên

Trên thế giới, các nước có quy định về độ tuổi thanh niên khác nhau Nhiều nước quy định từ 18 đến 24 tuổi hoặc 15 đến 24 tuổi, một số nước quy định từ 15 đến 30 tuổi

Theo định nghĩa của Liên hợp quốc “Thanh niên là nhóm người từ 15 đến

24 tuổi”; chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn

cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác

Ở Việt Nam, Theo Luật Thanh niên hiện hành (năm 2005) và Luật Thanh

niên 2020 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021):“Thanh niên là công dân Việt

Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [27, tr.1]

Thanh niên là lực lượng to lớn, chiếm số đông và có mặt trong tất cả các tầng lớp xã hội Nghị quyết số 25 - NQ/TW, ngày 25/7/2008 của Ban chấp hành

Trung ương Đảng (khóa X) đã khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn,

một trong những nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình ” [4, tr.1]

1.1.1.2 Công tác thanh niên

Theo Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên thì công tác được hiểu là “công việc của nhà nước, của đoàn thể” hoặc “thực hiện công việc của nhà nước, của đoàn thể” [33]

Có thể hiểu, CTTN là sự tác động tổng hợp của các chủ thể xã hội vào một đối tượng cụ thể là thanh niên theo những mục tiêu xác định của Đảng cầm quyền

Trang 19

CTTN là hoạt động có mục đích của tổ chức tác động vào đối tượng thanh niên nhằm giáo dục, bồi dưỡng, định hướng và phát huy thanh niên, đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội

Theo Nghị định 120/2007/NĐ-CP, ngày 23 tháng 7 năm 2017 của Chính

phủ về Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên quy định: “Công tác

thanh niên là những hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [10, tr.2]

CTTN là một bộ phận quan trọng trong công tác quần chúng, bao gồm toàn

bộ những hoạt động của Đảng, Nhà nước, Đoàn thanh niên và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, trưởng thành, phát huy mọi tiềm năng của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc Hiện nay, ở nước ta các chủ thể làm CTTN bao gồm: Đảng Cộng sản Việt

Nam là cơ quan lãnh đạo CTTN và trực tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Hồ Chí Minh;

lãnh đạo nhà nước xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách và pháp luật cho thanh

niên và CTTN; Nhà nước có trách nhiệm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về thanh niên thành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện; Đoàn thanh

niên Cộng sản Hồ Chí Minh có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là đoàn kết, tập hợp

thanh niên, giáo dục thanh niên về lý luận, pháp luật, đạo đức, lối sống, động viên đông đảo thanh niên vươn lên học tập, rèn luyện lập thân, lập nghiệp, xung kích

bảo vệ Tổ quốc; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân khác với chức năng

của mình có trách nhiệm giáo dục đạo đức, lối sống, truyền thống, văn hóa, lịch sử, lòng tự hào, tự tôn dân tộc,… cho thanh niên; chăm lo đào tạo, phát huy tài năng trong thanh niên; đồng thời phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc giáo dục thanh niên

QLNN đối với CTTN là một dạng quản lý xã hội tổng hợp, mang tính quyền lực nhà nước đối với một đối tượng đặc trưng là thanh niên; là quá trình tác động của hệ thống các cơ quan nhà nước đối với CTTN và thanh niên bằng chính sách, luật pháp, cơ chế vận hành và tổ chức bộ máy, bằng kiểm tra, giám sát, đồng thời

Trang 20

cũng bằng các chính sách, luật pháp, Nhà nước huy động mọi tổ chức, mọi nguồn

lực xã hội tham gia thực hiện các nhiệm vụ CTTN

1.1.2 Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

1.1.2.1 Thuật ngữ “đội ngũ”

Thuật ngữ “đội ngũ” thường dùng với tư cách là một thuật ngữ quân sự để chỉ về “một tổ chức gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng để chiến đấu hay bảo vệ” Tuy nhiên, do sự phát triển của đời sống thực tiễn, thuật ngữ đội ngũ dần được dùng trong công tác quản lý nhân sự Ngày nay, thuật ngữ “đội ngũ” được

sử dụng rộng rãi để chỉ những nhóm người có tổ chức trong xã hội như đội ngũ trí thức, đội ngũ công chức, viên chức… Theo từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng (1997): “Đội ngũ” là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp tạo thành một lực lượng

Đội ngũ là: “Tập thể người trong một tổ chức có quy củ” [33]

1.1.2.2 Cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

Theo khoản 1, Điều 4, Luật sửa đổi, bổ sung luật cán bộ, công chức (số 22/2008/QH12, ngày 13/11/2008): Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [28]

Theo khoản 2, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung luật cán bộ, công chức và luật viên chức (số 52/2019/QH14, ngày 25/11/2019): Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị -

xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ

sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [29]

Trang 21

Cán bộ đoàn chuyên trách là là những người được hưởng lương để chuyên

làm công tác đoàn, hội, đội, phong trào thanh thiếu nhi Cán bộ đoàn bán chuyên

trách là những người được bầu giữ chức danh phó Bí thư đoàn xã, phường, thị trấn

[32]

CBCC làm CTTN là: CBCC của các cấp, các ngành trực tiếp tham mưu, xây

dựng và thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật đối với thanh niên và CTNN

Theo Quyết định số 1923/QĐ-BNV, ngày 28/11/2011 của Bộ Nội vụ về việc

“Phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Nhà nước về công tác thanh niên cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên các cấp, các ngành giai đoạn 2011 - 2015”, CBCC làm CTTN, bao gồm:

- CBCC của các bộ, ngành Trung ương: CBCC của Vụ Công tác thanh niên trực thuộc Bộ Nội vụ; CBCC của các bộ, ngành trực tiếp tham mưu, xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách pháp luật đối với thanh niên và CTTN; CBCC của các ban, đơn vị có liên quan đến QLNN về CTTN của Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

- CBCC của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Lãnh đạo, công chức Phòng Công tác thanh niên trực thuộc Sở Nội vụ của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cán bộ chuyên trách Đoàn thanh niên cấp tỉnh và tương đương

- CBCC các huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh: Lãnh đạo, công chức thuộc Phòng Nội vụ trực tiếp làm CTTN; cán bộ chuyên trách Đoàn thanh niên cấp huyện

và tương đương

- CBCC xã, phường, thị trấn: Công chức thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã được phân công theo dõi CTTN: Từ năm 2018 trở về trước, theo Thông tư

số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng

dẫn về “Chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và tuyển dụng công chức xã, phường, thị

trấn” tại UBND các phường, xã đã bố trí công chức Văn phòng - Thống kê kiêm

nhiệm làm công tác QLNN về thanh niên Hiện nay, thực hiện Thông tư số

13/2019/TT-BNV, ngày 06/11/2019 về “ Hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố” của Bộ Nội vụ đã bố trí công chức Văn hóa - Xã hội kiêm nhiệm làm công tác

Trang 22

QLNN về thanh niên; Bí thư, phó Bí thư Đoàn thanh niên cấp xã và tương đương [16]

1.1.3 Phát triển và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

1.1.3.1 Quan niệm về phát triển

Theo quan điểm Triết học: “Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật, hiện tượng Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn”

Theo David Kortan: Phát triển là một tiến trình, qua đó các thành viên của

xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lý nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ [17, tr.36]

Như vậy, khi nói đến phát triển là làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên, trong quan hệ bổ sung cho nhau tạo nên một hệ thống bền vững

1.1.3.2 Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

Khái niệm “Phát triển đội ngũ CBCC” là nhấn mạnh đến sự phát triển của

đội ngũ CBCC hiện có, đã được xây dựng nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa đầy đủ hoặc cần phải tiếp tục đảm bảo số lượng, cơ cấu và nâng cao chất lượng để đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ mới

Từ sự phân tích trên, cho thấy “Phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN” là

cách làm, cách giải quyết về nhân sự, về tổ chức của các cấp, các ngành để đội ngũ CBCC làm CTTN đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị

Phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN cần đáp ứng được các yêu cầu sau:

Phát triển về số lượng: Số lượng CBCC làm CTTN ở các địa phương, đơn

vị được đảm bảo Để thực hiện được điều này cần phải làm tốt công tác quy hoạch,

Trang 23

dự nguồn CBCC đủ tiêu chuẩn; tuyển dụng bổ sung nhân sự kịp thời khi có sự thay đổi, biến động

Phát triển về cơ cấu: Là làm cho đội ngũ CBCC làm CTTN ngày càng trở

nên hoàn thiện, phù hợp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Cơ cấu đội ngũ CBCC làm CTTN phải đảm bảo tỷ lệ đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị; tỷ lệ về cơ cấu giới tính nam, nữ, tỷ lệ về thành phần dân tộc; tỷ lệ theo độ tuổi để đảm bảo tính kế thừa và phát triển

Phát triển về chất lượng: CBCC làm CTTN đạt chuẩn về trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ, có phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống Nói cách khác chính là nâng cao năng lực, phẩm chất cần thiết để CBCC làm CTTN thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao Để phát triển chất lượng đội ngũ CBCC làm CTTN cần: Đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ cho đội ngũ CBCC làm CTTN để chuẩn hóa về trình độ chuyên môn, năng lực ngoại ngữ, công nghệ thông tin, kỹ năng công tác

1.2 Lý luận chung về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

1.2.1 Một số vấn đề chung về công tác thanh niên

1.2.1.1 Chủ thể và nội dung công tác thanh niên

Chủ thể của CTTN được xác định là các tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, các tổ chức đoàn thể khác và nhà trường đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Để đạt được mục tiêu của CTTN, mỗi chủ thể khác nhau đều xác định cho mình những nội dung hoạt động cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình và tuân thủ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Các tổ chức nhà nước tiến hành CTTN thông qua việc hoạch định, ban hành, tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách, luật pháp về thanh niên;

tổ chức các nghiên cứu cơ bản về thanh niên; xây dựng bộ máy tổ chức và CBCC làm CTTN; đầu tư ngân sách cho CTTN; điều phối và phối hợp với các tổ chức khác trong CTTN Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,

Trang 24

xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác tiến hành CTTN thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động thanh niên thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách, luật pháp thanh niên, tham gia giáo dục thanh niên, góp phần định hướng, hỗ trợ thanh niên lập thân, lập nghiệp, trở thành những công dân tốt

1.2.1.2 Vai trò của Đoàn thanh niên đối với công tác thanh niên

Công tác Đoàn thanh niên là tổng thể các mặt hoạt động của Đoàn, do các cấp bộ Đoàn tổ chức, có tác động đến các đối tượng thanh thiếu niên, nhằm mục tiêu là hình thành lý tưởng chính trị cho thanh niên và tham gia giải quyết các vấn

đề xã hội của thanh niên, đáp ứng nhu cầu xã hội của xã hội, góp phần giáo dục thanh niên trở thành những công dân tốt, những người đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đoàn viên ưu tú và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam CTTN và công tác Đoàn thanh niên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau Công tác Đoàn là một phần quan trọng của CTTN, thực chất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác Đoàn trở thành bộ phận nòng cốt trong CTTN

1.2.2 Nội dung phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

1.2.2.1 Quy hoạch đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên Công tác quy hoạch đội ngũ CBCC làm CTTN là công tác phát hiện sớm nhằm tạo nguồn CBCC có đủ trình độ, có năng lực, có phẩm chất chính trị đưa vào quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của CTTN trước mắt và lâu dài của địa phương, đơn vị

Quy hoạch CBCC phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế của đội ngũ CBCC làm CTTN tại địa phương, đơn vị Công tác quy hoạch CBCC chức phải thực hiện đảm bảo đúng trình tự, quy trình, đảm bảo về số lượng và cơ cấu, điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định Công tác quy hoạch CBCC cần phải bảo đảm tính “mở” và “động”, mở rộng dân chủ và công khai, không khép kín

Trang 25

Bên cạnh đó, việc rà soát quy hoạch, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cũng phải được làm định kỳ, thường xuyên Việc đưa CBCC vào quy hoạch rồi thì phải quan tâm, phải có lộ trình cho CBCC được quy hoạch để có đủ điều kiện bố trí - sử dụng đội ngũ CBCC trong quy hoạch; tránh tình trạng quy hoạch một kiểu nhưng không quan tâm tới việc đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa chức danh, trang bị những yêu cầu cần thiết kể cả về chuyên môn nghiệp vụ, khi đến lúc sử dụng lại lúng túng

1.2.2.2 Tuyển dụng, bầu cử cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

Công tác tuyển dụng đội ngũ CBCC làm CTTN phải tuyển chọn những

người có phẩm chất chính trị vững vàng, có năng lực làm CTTN Công tác tuyển dụng phải được thực hiện đảm bảo đúng quy định, trình tự, thủ tục, thẩm quyền; công tác tuyển dụng được thông qua hình thức thi tuyển; đảm bảo nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch và đảm bảo tính cạnh tranh để lựa chọn những người

có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có năng lực làm CTTN

Việc bầu cử cán bộ Đoàn thanh niên được thực hiện theo quy định của Điều

lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các quy định, hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền Việc bầu cử cán bộ Đoàn thanh niên được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín; công tác bầu cử phải đảm bảo đúng quy trình, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, minh bạch, khách quan, công khai; việc lựa chọn những người ứng cử bầu vào chức danh chủ chốt của Đoàn thanh niên phải đảm bảo về phẩm chất chính trị, có lập trường tư tưởng vững vàng, có đạo đức, lối sống tốt, có trình độ chuyên môn và có năng lực về CTTN

1.2.2.3 Luân chuyển, điều động, bố trí - sử dụng cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

Việc điều động CBCC phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của từng CBCC CBCC được điều động phải đạt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm mới

Điều động CBCC là việc CBCC được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chuyển từ cơ quan, tổ chức, đơn vị này đến làm việc ở cơ quan, tổ chức, đơn

vị khác

Trang 26

Luân chuyển CBCC là việc CBCC lãnh đạo, quản lý được cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức danh lãnh đạo, quản lý khác trong một thời hạn nhất định để tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ

Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch CBCC, CBCC được điều động, luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội Việc điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền

Bố trí - sử dụng cán bộ là nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, là yếu

tố cơ bản để xem xét, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện công tác cán bộ của cơ quan chức năng và cấp uỷ quản lý trực tiếp cán bộ Bố trí, sử dụng cán bộ đúng và hiệu quả không chỉ đòi hỏi tính nguyên tắc mà còn phải linh hoạt và khéo léo Việc

Đào tạo, bồi dưỡng nhằm trang bị kỹ năng phân tích, đánh giá; kỹ năng xây dựng và hoạch định chính sách đối với thanh niên và CTTN cho đội ngũ CBCC làm CTTN Việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CBCC làm CTTN có tính đặc thù,

do vậy, trong quá trình thực hiện cần chú trọng các phương thức tổ chức, phương pháp giảng dạy mới phù hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn của CTTN đang đặt

ra

Đào tạo, bồi dưỡng nhằm thực hiện chuẩn hóa chức danh, giúp đội ngũ CBCC làm CTTN nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, năng lực tham mưu, triển khai tổ chức thực hiện các nội dung có liên quan đến CTTN

Trang 27

1.2.2.5 Tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

Chế độ, chính sách đãi ngộ đối với CBCC làm CTTN luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Để chăm lo cho đội ngũ CBCC làm CTTN, góp phần động viên, khuyến khích, tạo động lực và để thu hút cán CBCC làm CTTN cần thực hiện chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ như: chế độ phụ cấp, tiền thưởng, thu nhập tăng thêm; chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hiểm y tế; chế độ trong đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển… Bên cạnh đó, cần quan tâm đến việc đảm bảo đời sống vật chất và đời sống tinh thần của CBCC làm CTTN

1.2.2.6 Khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

CBCC có thành tích trong công vụ thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng; CBCC vi phạm các quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu hình thức kỷ luật

Khen thưởng, kỷ luật nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý, sử dụng CBCC tại cơ quan đơn vị Công tác khen thưởng nhằm động viên, khuyến khích CBCC nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Kỷ luật nhằm ngăn ngừa, uốn nắn, đối với CBCC

vi phạm pháp luật

Công tác khen thưởng, kỷ luật CBCC phải được thực hiện đúng quy định; phải đảm bảo khách quan, công khai, minh bạch; CBCC được khen thưởng phải đúng với thành tích đạt được; CBCC bị kỷ luật phải đúng với mức độ vị phạm

1.2.2.7 Kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức làm công tác thanh niên Kiểm tra là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Kiểm tra CBCC làm CTTN được tổ chức thường xuyên nhằm nâng cao đạo đức công vụ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức làm việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của đội ngũ CBCC làm CTTN, góp phần xây dựng và củng cố

kỷ luật công vụ, phòng chống tham nhũng và lãng phí trong cơ quan, đơn vị Để công tác kiểm tra đạt kết quả cao cần phải nâng cao tính trách nhiệm, tiên phong,

Trang 28

gương mẫu của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị để công tác kiểm tra được công minh, chính xác, kịp thời Cần xử lý nghiêm minh, kịp thời những vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức trong đội ngũ CBCC làm CTTN để răn đe, phòng ngừa tái diễn và lan rộng vi phạm, đảm bảo kỷ cương, tăng cường pháp chế Tuy nhiên, trong xử lý vi phạm cần lưu ý kết hợp cả giáo dục đạo đức và các biện pháp cưỡng chế, phải làm cho người vi phạm nhận thức được những khuyết điểm của mình, tự giác sửa chữa, khắc phục sai lầm thì mới đạt hiệu quả Kiên quyết loại ra khỏi hệ thống những người suy thoái, vi phạm nghiêm trọng về đạo đức công vụ để làm trong sạch bộ máy làm CTTN Ngoài ra, cần có chế độ khen thưởng kịp thời cho những CBCC thực thi tốt công việc để động viên, khích lệ CBCC cố gắng

Đánh giá CBCC làm CTTN để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Đánh giá đúng CBCC là khâu tiền đề để quyết định bố trí, sử dụng CBCC làm CTTN; đồng thời làm cơ sở cho việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bố trí để phát huy được tiềm năng đội ngũ CBCC; là cơ sở để thực hiện đúng chính sách cán

bộ, biểu dương, tôn vinh những CBCC hoàn thành xuất sắc trách nhiệm được giao,

có đóng góp, có cống hiến cho đất nước, cho địa phương, đơn vị; đồng thời phê bình những CBCC không hoàn thành nhiệm vụ, không nêu gương

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng CBCC làm CTTN có trách nhiệm đánh giá CBCC thuộc thẩm quyền.Khi đánh giá CBCC phải đảm bảo đúng quy trình, khách quan, công bằng, chính xác, không hình thức, không thiên vị,

nể nang; đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm, tồn tại, hạn chế của từng CBCC

1.3 Sự cần thiết tăng cường phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

1.3.1 Yêu cầu của tiến trình thực hiện công cuộc cải cách hành chính

Thực tiễn những năm qua cho thấy, những thành tựu về kinh tế - xã hội của nước ta đã đạt được là hết sức quan trọng Có được những thành tựu đó, có sự đóng

Trang 29

góp không nhỏ của đội ngũ CBCC, viên chức Tuy nhiên, trước những yêu cầu đổi mới, hội nhập, thì một bộ phận CBCC, viên chức còn chưa đủ năng lực thực thi công vụ Trong phần đánh giá kết quả 20 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nêu: “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong cơ chế mới; kiến thức về quản lý nhà nước mới với kỹ năng nghiệp vụ hành chính phù hợp chỉ đạt được ở tỷ

lệ thấp; bằng cấp, chứng chỉ tăng, nhưng chất lượng thực sự của cán bộ, công chức

có bằng cấp, chứng chỉ lại là vấn đề đáng lo ngại; nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tuy đã có một số đổi mới, nhưng chưa có những cải cách cơ bản… Công tác tuyển dụng, sử dụng, thi tuyển, thi nâng ngạch, đánh giá, luân chuyển, đề bạt cán bộ, công chức chậm thay đổi”

Một trong những mục tiêu trọng tâm và nhiệm vụ cải cách hành chính trong Nghị quyết số 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011 của Chính phủ về “Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020” là:

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức: Đội ngũ CBCC, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước; có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục

vụ nhân dân thông qua các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả; xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của CBCC, viên chức, kể cả CBCC lãnh đạo, quản lý; trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, xây dựng cơ cấu CBCC, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm; hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá CBCC, viên chức trên

cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của CBCC, viên chức tương ứng với trách nhiệm

và có chế tài nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, vi phạm

Trang 30

đạo đức công vụ của CBCC, viên chức; đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng CBCC, viên chức; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức: Hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu trước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm;…

Sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ phụ cấp ngoài lương theo ngạch, bậc, theo cấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện làm việc khó khăn, nguy hiểm, độc hại Đổi mới quy định của pháp luật về khen thưởng đối với CBCC, viên chức trong thực thi công vụ và có chế độ tiền thưởng hợp lý đối với CBCC, viên chức hoàn thành xuất sắc công vụ; nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của CBCC, viên chức

1.3.2 Xuất phát từ vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

Trong xã hội hiện nay, thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc Trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, cần phải chú trọng nhiều hơn đến CTTN, nhằm đưa thanh niên vào thực tiễn hành động cách mạng, thành lực lượng xung kích, sáng tạo, đội dự bị tin cậy của Đảng, kế thừa trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Để đạt được những mục đích đó thì đòi hỏi phải phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN một cách toàn diện: từ quy hoạch, tạo nguồn, tuyển dụng, luân chuyển, điều động, đánh giá, khen thưởng; đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng; đẩy mạnh tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CBCC làm CTTN, qua đó thu hút tốt nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng, tâm huyết với CTTN

Vì “cán bộ” là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, nên việc phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng (trình độ

Trang 31

chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị; năng lực, phẩm chất…), cơ cấu hợp lý (độ tuổi, giới tính, dân tộc…) sẽ giúp cho CTTN đạt được nhiều kết quả hơn

1.3.3 Nhu cầu phát triển năng lực của cá nhân, tổ chức và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác thanh niên

Trình độ, năng lực và phẩm chất của đội ngũ CBCC làm CTTN đóng vai trò quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả các hoạt động phong trào của thanh niên và quản lý nhà nước về CTTN Vì đội ngũ CBCC là những người trực tiếp làm công tác QLNN về thanh niên ở các cấp, tham gia vào xây dựng các văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách, chương trình phát triển thanh niên

Do đó, đòi hỏi đội ngũ này phải có trình độ, có kiến thức, có tư duy khoa học, am hiểu về các văn bản, chính sách của Nhà nước và có kinh nghiệm thực tế, mới đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ được giao

Tại khoản 4, Điều 36, Chương VI, Luật Thanh niên năm 2020 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021) đã khẳng định một trong những nội dung của QLNN

về thanh niên là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà

nước về thanh niên”.

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

1.4.1 Vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền trong lãnh đạo công tác

Các cấp ủy Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ Cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đã tập trung xây dựng đội ngũ CBCC liêm chính, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị, năng lực, uy tín, tính chuyên nghiệp cao Chuẩn hóa đội ngũ CBCC, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đi đôi với tạo môi trường, điều kiện thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, khuyến khích CBCC dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ; đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương pháp

Trang 32

khoa học, khách quan, công tâm, theo quy trình chặt chẽ, phát huy dân chủ, dựa vào tập thể và nhân dân để tuyển chọn cán bộ

1.4.2 Tác động của kinh tế - xã hội

Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều thay đổi theo hướng tích cực và khởi sắc; đất nước tiếp tục phát triển nhanh và khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, tạo nhiều dấn ấn nổi bật Kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng liên tục, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới Bên cạnh đó, tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố, đời sống dân cư ngày càng được cải thiện

Tuy nhiên, trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường Sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với nước ta “Bốn nguy cơ” mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt gay gắt hơn; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố dễ gây mất ổn định Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm, phức tạp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, sự bùng nổ của hệ thống thông tin truyền thông toàn cầu, chiến tranh mạng… sẽ là những tác động rất lớn đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận CBCC và đặc biệt là có tác động đến lực lượng thanh niên Ngoài ra, sự gia tăng tệ nạn xã hội, như ma túy, mại dâm, tình trạng tội phạm ngày càng gia tăng, trẻ hóa cũng có tác động không nhỏ đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương Điều này tạo ra khó khăn rất lớn trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, cũng như trong giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho đội ngũ CBCC

1.4.3 Thể chế nhà nước về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

Thể chế nhà nước về phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống văn bản quản lý nhà nước và hệ thống tổ chức quản lý có liên quan đến nội dung phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN Mọi

Trang 33

sự thay đổi về thể chế, chính sách đều tác động mạnh mẽ (tích cực hoặc tiêu cực) tới công tác phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN

Cần phải xây dựng hệ thống văn bản tương đối tốt liên quan đến phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN như: chính sách tuyển dụng; chính sách đào tạo, bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ… nếu làm tốt các chính sách này sẽ xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi thực tiễn hiện nay

1.4.4 Thực hiện các nội dung về công tác cán bộ

Việc thực hiện một số nội dung về công tác cán bộ có nơi có lúc còn hình thức Đánh giá CBCC của một số cơ quan chuyên trách còn hạn chế, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với sản phẩm, kết quả cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến Quy hoạch đội ngũ CBCC thiếu tính tổng thể, tính “liên thông” giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín, chưa đảm bảo phương châm “động” và “mở” Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh Việc luân chuyển, bố trí, phân công CBCC đôi lúc chưa đúng người, đúng việc Công tác tuyển dụng CBCC vẫn còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ; việc xem xét thi đua khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để CBCC toàn tâm, toàn ý với công việc

Những yếu tố nêu trên sẽ có tác động không nhỏ đến công tác phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN

1.4.5 Các yếu tố thuộc về đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên

Trình độ, năng lực và kinh nghiệm; sự ham mê, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ CBCC là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN

Ý thức tự học tập, rèn luyện để nâng cao năng lực trình độ của CBCC làm CTTN CBCC làm CTTN đôi lúc chưa nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ và trách

Trang 34

nhiệm của mình đối với việc tự học tập, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Nội dung Chương 1, luận văn đã khái quát các khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến công tác phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN như: Thanh niên, công tác thanh niên, thuật ngữ “đội ngũ”, cán bộ đoàn chuyên trách, CBCC làm CTTN, quan niệm về phát triển, phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN

Trên cơ sở các khái niệm, luận văn đã phân tích xác định những nội dung về phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN gồm: Công tác quy hoạch; công tác tuyển dụng, bầu cử; công tác luân chuyển, điều động, bố trí; công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC; công tác khen thưởng, kỷ luật; tổ chức thực hiện chính sách; công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ CBCC làm CTTN Luận văn cũng đã nêu lên sự cần thiết phải phát triển CBCC làm CTTN

Luận văn nêu những nội dung cần thiết phải tăng cường phát triển đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên: Yêu cầu của tiến trình thực hiện công cuộc cải cách hành chính; xuất phát từ vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên; Nhu cầu phát triển năng lực của cá nhân,

tổ chức và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác thanh niên

Công tác phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố: Vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền trong lãnh đạo công tác phát triển đội ngũ CBCC nói chung và đội ngũ CBCC làm CTTN nói riêng; tác động của kinh tế

- xã hội; trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền và người đứng đầu các cấp ở

một số đơn vị, địa phương; trình độ, năng lực và kinh nghiệm; sự ham mê, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ CBCC

Những nội dung và kết quả nghiên cứu ở Chương 1 chính là nền tảng lý thuyết quan trọng; là những cơ sở cho luận văn triển khai đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua trong Chương 2

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

LÀM CÔNG TÁC THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

2.1 Khái quát về lực lượng thanh niên và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt

2.1.1 Số lượng và cơ cấu lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt

Thành phố Đà Lạt là trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của tỉnh Lâm Đồng và là thành phố du lịch, nghỉ dưỡng nổi tiếng trong và ngoài nước Bên cạnh

ưu thế về du lịch và dịch vụ, Đà Lạt còn có thế mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp công nghệ cao chuyên sản xuất rau hoa cho nhu cầu của địa phương và xuất khẩu

Dân số thành phố Đà Lạt có 227.000 người, bao gồm người Kinh chiếm đa

số với 96,77%, có 3,23% là người dân tộc thiểu số, chủ yếu là các dân tộc thiểu số bản địa gốc Tây nguyên

Lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt chiếm 30,58% dân số toàn thành phố Trong đó, Nam: chiếm 46,2%, nữ: 53,8%; xét về địa bàn: khu vực thành thị: 91,1%, khu vực nông thôn: 8,9%; thanh niên dân tộc thiểu số: 34,2%

Bảng 2.1 Số lượng và cơ cấu lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt (tính đến tháng 12/2019)

Thanh niên khu vực nông thôn

Thanh niên người dân tộc thiểu số

Trang 37

2.1.2 Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

2.1.2.1 Số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Về số lượng: toàn thành phố Đà Lạt có 70 CBCC làm CTTN, trong đó có 18

công chức và có 52 cán bộ (chủ yếu là cán bộ Thành đoàn Đà Lạt và Bí thư Đoàn thanh niên chuyên trách các phường, xã, các trường THPT trên địa bàn thành phố)

Đội ngũ công chức làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt: Phòng Nội vụ thành phố Đà Lạt có 01 biên chế chuyên trách làm công tác QLNN về thanh niên

và có 01 Phó Trưởng phòng Nội vụ thành phố phụ trách CTTN Tại UBND 16 phường, xã của thành phố Đà Lạt: Từ năm 2019 trở về trước, theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn

về “Chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn”

tại UBND các phường, xã đã bố trí 16/16 công chức Văn phòng - Thống kê kiêm nhiệm làm CTTN

Hiện nay, thực hiện Thông tư số 13/2019/TT-BNV, ngày 06/11/2019 về

“Hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố” của Bộ Nội vụ, UBND các

phường, xã của thành phố Đà Lạt đã bố trí 16/16 công chức Văn hóa - Xã hội kiêm nhiệm làm CTTN

Đội ngũ cán bộ làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt: Cán bộ chuyên trách Thành đoàn Đà Lạt có 08 người; cán bộ Đoàn thanh niên chuyên trách ở các

cơ sở trực thuộc Thành đoàn Đà Lạt có: 16 Bí thư Đoàn các phường, xã; 12 Bí thư Đoàn trường THPT Ngoài ra, mỗi phường, xã có 01 Phó Chủ tịch UBND phụ trách CTTN

Về cơ cấu: CBCC làm CTTN trên địa bàn thành phố Đà Lạt có cơ cấu tương đối hợp lý, phù hợp với nhiệm vụ của CTTN của địa phương: đa số CBCC làm CTTN có độ tuổi còn trẻ (dưới 35 tuổi); vùng có đông thanh niên là dân tộc thiểu

số thì có CBCC làm CTTN là người đồng bào dân tộc thiểu số Có cơ cấu CBCC

Ngày đăng: 24/03/2021, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w