1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh lâm đồng

84 48 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 7,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đã được thểhiện qua các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, cụ thể như: Nghị quyết số 33/NQ-TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xâydựng và

Trang 1

ĐỖ THỊ THÚY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

Thành phố Hồ Chí Minh, 9/2020

Trang 2

ĐỖ THỊ THÚY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

MÃ SỐ: 83.40.403 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Triệu Thế Việt

Thành phố Hồ Chí Minh, 9/2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan, những nội dung khoa học được trình bày trong luận văn này

là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2020

Học viên

Đỗ Thị Thúy

Trang 4

Để hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sĩ quản lý công do trường Đại họcNội vụ Hà Nội tổ chức, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự hướngdẫn, giảng dạy, động viên và nhiều ý kiến đóng góp quý báu trong suốt quá trình họctập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này từ các quý thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè

và đồng nghiệp

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Triệu Thế Việt đãhướng dẫn tận tình, giúp đỡ, góp ý cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiệnluận văn thạc sĩ của mình Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Quản lýđào tạo thạc sĩ Khoa Sau đại học và quý thầy cô giáo ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nộicùng toàn thể các quý thầy cô giáo đã tạo điều kiện, giúp đỡ và tận tình truyền đạt kiếnthức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Lãnh đạo và công chức Phòng Quản

lý Văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng đã tạo điều kiện và giúp đỡtôi trong quá trình học tập, thu thập tài liệu, số liệu để phục vụ nghiên cứu khoa học vànhững đóng góp ý kiến chân tình, thẳng thắn để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ

Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình của tôi đã động viên,giúp đỡ tôi trong quá trình học và thực hiện đề tài này

Bằng những kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập, nghiên cứu song

sẽ không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Rất mong nhận được sự quan tâm, đónggóp ý kiến của quý thầy, cô để kết quả nghiên cứu của đề tài này được hoàn chỉnh, từ

đó triển khai thực hiện có hiệu quả hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2020

Học viên

Đỗ Thị Thúy

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.2 Vai trò của chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số 10

1.3 Hệ thống chính sách bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số 12

1.4 Các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số14 1.5 Các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số 17

1.6 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số 19

Tiểu kết Chương 1 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG 22

2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 22

2.2 Bản sắc văn hóa của các dân tộc văn hoá dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng 24

2.3 Chính sách và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng 31

2.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng 42

Tiểu kết Chương 2 47

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG 48

3.1 Quan điểm, định hướng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số 48

3.2 Giải pháp 52

Tiểu kết Chương 3 60

PHẦN KẾT LUẬN 61

Trang 7

“Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Điều này đã được thể

hiện qua các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, cụ thể như:

Nghị quyết số 33/NQ-TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xâydựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vữngđất nước; Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ banhành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 củaBan Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, conngười Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Quyết định số1662/QĐ-BVHTTDL ngày 17/6/2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tổchức xây dựng mô hình bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của cácDTTS (dân tộc thiểu số) gắn với xây dựng nông thôn mới…

Toàn cầu hóa vừa là thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, đồngthời cũng là những thách thức to lớn cho nhiều quốc gia Hội nhập để phát triển nhưngvẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc đang là vấn đề được nhiều quốc gia ưu tiên hàngđầu Với một quốc gia đa dạng về văn hóa truyền thống, Việt Nam đã và đang thực hiệnviệc bảo vệ giữ gìn, phát huy, giới thiệu các giá trị văn hóa tốt đẹp đến với đông đảobạn bè quốc tế

Lâm Đồng là một trong 05 tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên với diện tích 9.783,2km², hiện có 43 dân tộc anh em sinh sống, trong đó các dân tộc thiểu số gốc địa phươnggồm K’ho, Mạ, Churu chiếm hơn 17% dân số, 70% là người Kinh và gần 13% là các dântộc khác đến từ nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước đến đây sinh sống và lập nghiệp

(nguồn: Niên giám Thống kê Lâm Đồng 20219) Mỗi dân tộc đều có những bản sắc văn hóa

riêng, tạo nên sự đa dạng về văn hóa dân tộc cho tỉnh Lâm Đồng Trong những năm qua,mặc dù điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng, các thiết chế văn hóa của tỉnh còn nhiều khó

Trang 8

khăn, nhưng Lâm Đồng luôn tự hào về truyền thống văn hóa đặc sắc của mình và luôn đềcao vấn đề bảo tồn phát huy những giá trị văn hóa các DTTS Đây không chỉ đơn thuần làgìn giữ những sắc màu quý cho bức tranh văn hóa dân tộc, mà còn là cơ sở cho người dânLâm Đồng tiến bước vững chắc trên lộ trình hội nhập và phát triển chung của đất nước.

Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ đã đạt được, thực tế còn cho thấy CS(chính sách) bảo tồn và phát huy BSVH (bản sắc văn hóa) các DTTS tỉnh Lâm Đồngvẫn còn nhiều khó khăn, thách thức Nguyên nhân là do đời sống vật chất, tinh thần củangười dân trong tỉnh còn nhiều khó khăn, sự xâm nhập của nền văn hóa từ bên ngoàiảnh hưởng tới đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Việc đầu tư cho công tác bảotồn các DSVH (di sản văn hóa) còn hạn chế nhất định Đây không chỉ là trách nhiệmcủa Nhà nước mà còn là sự nghiệp của quần chúng và cộng đồng, Nhà nước đóng vaitrò tạo ra khuôn khổ pháp lý và cơ chế CS, nhân dân đóng vai trò then chốt trong việcbảo vệ, gìn giữ, lưu truyền và phát huy giá trị văn hóa

Việc thực hiện CS bảo tồn, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào cácdân tộc tỉnh Lâm Đồng hiện nay là vấn đề mang tính cấp thiết, thời sự Trong nhữngnăm qua, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng chưa có đề tài nghiên cứu khoa học hoặc đề án,

dự án nào nói về việc thực hiện CS bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số

Bản thân đang công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tôi nhận thấy đây làviệc làm hết sức cần thiết nhằm thực hiện có hiệu quả CS của Đảng và Nhà nước trongviệc bảo tồn, phát huy BSVH các DTTS tỉnh Lâm Đồng

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” để làm

luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

Liên quan đến việc thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH của các dân tộc tạitỉnh Lâm Đồng hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học và các bàibáo có liên quan đến việc tìm hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số

Sở Văn hóa Thông tin Lâm Đồng, (1983), “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng” Tác

phẩm đã khái quát về các dân tộc văn hoá dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng từ saunhững năm sau giải phóng 1975

Trang 9

Nguyễn Tuấn Tài, (1993), “Người Lạch trên cao nguyên Lang Biang”, Nxb

Thành phố Hồ Chí Minh

Sở Văn hóa Thông tin Lâm Đồng, (2005), “Vài nét văn hóa các dân tộc thiểu số

Tây Nguyên ở Lâm Đồng”.

Hoàng Sơn (chủ biên), (2009), “Người Churu ở Lâm Đồng”, Nxb Đại học Quốc gia Trần Văn Bính (chủ biên), (2004), “Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên: Thực trạng

và những vấn đề đặt ra”, Nxb Chính trị Quốc gia.

Viện Dân tộc học, (2008) “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, Nxb Văn học Cao Xuân Phổ, (2006), “Bàn về văn hóa văn hoá dân tộc thiểu số”, Tạp chí Nghiên

cứu Đông Nam Á số 1 (76), [tr 58-63]

Đỗ Ngọc Anh, (2014), Tri thức văn hoá dân tộc thiểu số của người Mạ Lâm

Đồng trong lao động sản xuất”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 359 (5), [tr 31-36].

Lê Ngọc Thắng, (2013) “Với vấn đề bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các

dân tộc thiểu số”, Tạp chí Dân tộc và Thời đại số 159, [tr 17-19].

Nguyễn Tấn Tài, (1993), “Cư dân văn hoá dân tộc thiểu số ở Đà Lạt”, Tóm tắt

Báo cáo Khoa học tại Hội nghị khoa học Trường Đại học Đà Lạt 1993, [tr17,18,19]

Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu văn hóa của các DTTS trên địa bàn tỉnhLâm Đồng, hệ thống hóa một cách khá đầy đủ và cụ thể tất cả các yếu tố xung quanh con ngườidân tộc thiểu số nơi đây, từ đời sống vật chất, cho đến đời sống tinh thần Chính vì vậy, đã tạođiều kiện cho nhiều bạn đọc và những nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề BSVH các DTTSLâm Đồng có được cái nhìn khái quát nhất Các tác giả đã đề ra nhiều giải pháp nhằm bảo tồn

và phát huy được giá trị văn hóa đặc sắc của các DTTS tại tỉnh Lâm Đồng

Dưới góc độ khoa học, các công trình trên có giá trị hết sức to lớn đối với nhữngngười đã và đang nghiên cứu về văn hóa văn hoá dân tộc thiểu số của các dân tộc tỉnh LâmĐồng nhằm đưa ra được những chủ trương, CS phù hợp đối với sự phát triển của tất cả cácdân tộc trên địa bàn, đặc biệt là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa DTTS tỉnh Lâm Đồng

Tất cả những công trình nghiên cứu trước đây thực sự là những quan điểm, luậnđiểm, nghiên cứu và giải pháp quý giá đối với tác giả để tiếp cận và kế thừa có chọn lọc,nhằm thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS tại tỉnh Lâm Đồng

Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo liên quan đếnbản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Tuy nhiên, những công

Trang 10

trình nghiên cứu này đã khá lâu, chưa đánh giá sâu sắc được sự biến đổi về BSVH củacác DTTS dưới sự tác động của các hoạt động kinh tế xã hội Các đề tài hoặc các côngtrình nghiên cứu khoa học mới chỉ dừng lại ở mức độ nhìn nhận thực trạng và đưa racác cảnh báo mà chưa phân tích được thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề liênquan đến chính sách do vậy chưa được ra được giải pháp để thực hiện chính sách về bảotồn và phát huy BSVH các DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá được thực trạng thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTStrên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; đưa ra được những giải pháp nhằm để bảo tồn và phát huyBSVH của các DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay và lâu dài

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tập hợp được hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý về chính sách bảo bảo tồn và pháthuy BSVH dân tộc

Đánh giá thực trạng thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc của tỉnhLâm Đồng nói riêng, trong đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn và nguyên nhâncủa thực trạng

Đưa ra được những giải pháp có tính khả thi cao nhằm tham mưu cho các cơquan chức năng nghiên cứu, thực hiện việc tồn và phát huy BSVH các DTTS trên địabàn tỉnh Lâm Đồng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thực hiện CS về bảo tồn và phát huybản sắc văn hóa các DTTS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu quá trình thực hiện CS bảo tồn và pháthuy BSVH dân tộc trên các phương diện lập kế hoạch, tuyên truyền, phổ biến CS; phâncông, phối hợp thực hiện; tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, giám sát; đánh giá, tổngkết thực hiện CS bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ năm 2014 đến nay

- Phạm vi không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu việc thực hiện CS bảo tồn và phát huyBSVH các DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (cụ thể là 03 dân tộc Mạ, K’ho, Churu)

Trang 11

- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng từ năm 2014 đến nay.

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quanđiểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp tổng hợp, thống kê số liệu;

- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Sau khi hoàn thành, đề tài là một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị với các

ý nghĩa sau:

Ý nghĩa lý luận: Là một công trình khoa học để cho các nhà quản lý tham khảo, xemxét lại việc ban hành các chủ trương, CS, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh

vực bảo tồn văn hóa dân tộc

Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện CS bảo tồn và phát huyBSVH các DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đưa ra được các giải pháp khả thi có thể

áp dụng cho việc bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tiếp theo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương, gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dântộc

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc văn hoá dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện tốt chính sách bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc văn hoá dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Văn hóa

Định nghĩa khoa học về văn hóa ra đời sớm nhất ở châu Âu là định nghĩa của nhànhân học văn hóa người Anh E.B Taylor đã ra đời từ năm 1871 trong công trình nghiêncứu nhan đề văn hóa nguyên thủy (Primitive culture): “Văn hóa hoặc văn minh hiểutheo nghĩa rộng nhất là của dân tộc học, có nghĩa là một tổng thể phức hợp bao gồm cáckiến thức, tín ngưỡng (tín niệm), nghệ thuật, đạo đức, luật lệ phong tục và tất cả nhữngkhả năng thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội”

Theo UNESCO “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệttinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách xã hội hay của một nhómngười trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, nhữngquyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng.Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm chochúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấnthân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bảnthân mình, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét nhữngthành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nênnhững công trình vượt trội lên bản thân”

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng phát biểu mộtquan điểm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loàingười mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa làtổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó do loài người đã sảnsinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sinh sinh tồn.”[7, tr 43]

Theo định nghĩa về văn hóa của Trần Ngọc Thêm (1999) Cơ sở Văn hóa Việt Nam

thì: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người

Trang 13

sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con ngườivới môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [11, tr 10].

1.1.2 Bản sắc văn hóa

Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắcriêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc

thù riêng của sự vật đó [4, tr 223] "Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có

một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc" Theo đó,

"bản" là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểuhiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài

Nếu tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vậtchất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thì bản sắc văn hoá dântộc là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch sử, lànhững nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với dân tộc khác

Xét về bản chất, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tinh thần, linh hồn, cốt cách,bản lĩnh của một dân tộc Đây được coi là “dấu hiệu khác biệt về chất” giữa dân tộc nàyvới dân tộc khác Với việc tách riêng bản sắc và văn hóa, chúng ta có thể đưa ra mộtkhái niệm về bản sắc văn hóa như sau:

Bản sắc văn hóa chính là nét đặc trưng văn hóa của một dân tộc, quốc gia, thông qua đó, có thể so sánh với văn hóa của quốc gia, dân tộc khác.

1.1.3 Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa

Theo từ điển Hán Nôm của Nguyễn Quốc Hùng, “bảo tồn là giữ gìn cho còn,không để bị mất” Trong cách diễn giải như vậy, chúng ta có thể hiểu bảo tồn là các nỗlực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có của nó

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa: Là việc giữ gìn những giá trị văn hóa đặc

trưng, cốt lõi do con người tạo ra phù hợp với sự phát triển của xã hội con người.

1.1.4 Chính sách công

Trong những năm gần đây, thuật ngữ “CS công” được các nước phát triển và các

tổ chức kinh tế quốc tế dùng rất phổ biến Có thể nêu ra một số quan niệm sau:

“CS là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theođuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003)”; “CS công

là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn

Trang 14

đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu CS đã được chấp thuậnmột cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năngthực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004)”.

Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về CS như sau: “CS là nhữngchuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ CS được thực hiện trong một thờigian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Nội dung, bản chất và phương hướngcủa CS tùy thuộc vào tính chất của quan điểm, đường lối, chủ trương, nhiệm vụ trên cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa…"

Các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành những

CS nhằm giải quyết những vấn đề mang tính cộng đồng thì được gọi là CS công

Tổ chức thực hiện CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa để từng bước thực hiện cácmục tiêu CS và mục tiêu chung Mục tiêu của CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa có liênquan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội Thực tế, trong quá trình thựchiện CS này cho thấy muốn đạt được mục tiêu của CS thì phải thông qua việc thực hiện CS,

và các mục tiêu của CS thì cần phải có quan hệ với nhau và ảnh hưởng đến các mục tiêuchung Thực hiện CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa còn để khẳng định được tính đúngđắn, tính hợp lý của CS CS khi triển khai rộng rãi sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống xãhội và khi CS được xã hội chấp nhận thì cho thấy tính xác thực, tính đúng đắn của CS

Dựa trên những quan điểm trên, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm chính sách

công như sau: “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định

hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định”.

1.1.5 Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Là một bộ phận của CS công, CS văn hóa được UNESCO định nghĩa như sau:

“CS văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các thực hành, cácphương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách Nhà nước dùng làm cơ sởcho các hoạt động văn hóa”

CS văn hóa là một phạm trù rộng, bao gồm nhiều bộ phận CS khác nhau gộpthành Trong đó, CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đóng vai trò quan trọng, là tậphợp nhiều quyết định chính trị có nội dung liên quan nhằm lựa chọn, đề xuất các mụctiêu, công cụ và giải pháp để thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa

Trang 15

Chính sánh bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa được thực hiện trên cơ sở các chủ trương,đường lối Đảng và Nhà nước, từ Hiến pháp đến văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, được cụ thể quaNghị quyết các Hội nghị Trung ương Đảng, qua việc hoạch định chiến lược phát triển văn hóaqua các thời kỳ, khi Luật Di sản văn hóa được thông qua và các Nghị định, Thông tư hướngdẫn Luật di sản văn hóa được các cơ quan có thẩm quyền ban hành.

1.2 Vai trò của chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của chính sách đối với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

1.2.1.1 Mục đích

- Bảo tồn phát huy các giá trị VHTT tốt đẹp của các dân tộc, góp phần giáo dụctruyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết cácdân tộc, vì một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc

- Tôn vinh các giá trị văn hóa tốt đẹp của các DTTS, khích lệ sáng tạo các giá trị vănhóa mới Góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa cácvùng, các dân tộc, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, đặc biệttại các địa bàn vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

- Xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa vùng đồng bào DTTS, gắn kếtchặt chẽ những hoạt động xây dựng đời sống văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế

- xã hội phù hợp với từng khu vực, từng vùng, từng dân tộc, tôn giáo

- Bảo tồn phát huy BSVH các DTTS kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế,phát triển nghề thủ công truyền thống, kết hợp với phát triển du lịch cộng đồng để xóađói giảm nghèo

- Cụ thể hóa các quy định chung của Nhà nước đến cộng đồng DTTS, đảm bảo rõràng, ngắn gọn, dễ hiểu để mọi người dân dễ dàng tiếp thu và tự giác chấp hành Gắn lợiích của người dân khi tham gia các hoạt động bảo tồn văn hóa để thu hút đông đảo ngườidân tham gia lưu giữ di sản VHTT của mình Tăng cường vận động, tuyên truyền để nângcao ý thức tự giác của người dân, gắn với xã hội hóa trong công tác bảo

tồn 1.2.1.2 Ý nghĩa

- CS là công cụ để thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước Do

đó, thực hiện CS chính là quá trình biến những ý đồ, định hướng từ các loại văn bản hành chính thành các hành động cụ thể nhằm thực hiện đạt được các mục tiêu đã đề ra Thực

Trang 16

hiện CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống chính là việc chuyển những ýtưởng, những định hướng của Đảng và Nhà nước thành những hành động, những việclàm, những giải pháp cụ thể Trên cơ sở đó có các phương pháp hợp lý để thực hiện tốtviệc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa đó.

- Khẳng định tính đúng đắn của CS, CS chỉ thật sự có hiệu lực, hiệu quả khi được toàn xã hội thừa nhận và thực hiện, đặc biệt là sự thừa nhận của các đối tượng được thụ hưởng từ CS.

- Giúp cho CS ngày càng hoàn chỉnh Thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVHcác DTTS là căn cứ xác thực nhất để có thể đánh giá tính hiệu quả, phù hợp và các tácđộng của CS trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Thông qua thực hiện CS

ta có thể thấy rõ được những ưu điểm, hạn chế của CS hiện hành Từ đó có những điềuchỉnh để hoàn thiện CS nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc quản lý và pháttriển đất nước nói chung

1.2.2 Vai trò, chức năng của chính sách đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

1.2.2.1 Vai trò

- Nhằm đề ra các hướng đi, giải pháp kết hợp hài hòa giữa CS phát triển văn hóavới các CS phát triển kinh tế, xã hội, tài chính và du lịch Bên cạnh đó, CS này còn cóvai trò quan trọng trong việc định hướng công tác quản lý, bảo tồn và gìn giữ các loạihình VHTT, các lễ hội dân gian

- Chú trọng đến việc đãi ngộ xứng đáng cho người làm công tác nghiên cứu, sưutầm các giá trị văn hóa truyền thống CS đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộnggiao lưu văn hóa, tiếp nhận, chọn lọc các nền văn hóa bên ngoài, góp phần tạo nên mộtnền văn hóa đa dạng, phong phú, “hòa nhập” nhưng không “hòa tan”

Có thể nói, CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS có vai trò hết sức quantrọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện mục tiêu xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện,thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ và tiến bộ;làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sứcmạnh nội sinh quan trọng của phát triển

1.2.2.2 Chức năng

Cụ thể CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS thành hiện thực: CS là công cụ

Trang 17

để thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng Do đó, thực hiện CS chính là quá trìnhbiến những ý đồ, định hướng từ các loại văn bản hành chính thành các hành động cụ thểnhằm thực hiện đạt được các mục tiêu đã đề ra Thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVHcác DTTS chính là việc chuyển những ý tưởng, những định hướng của Đảng và Nhà nướcthành những hành động, những việc làm, những giải pháp cụ thể Trên cơ sở đó có cácphương pháp hợp lý để thực hiện tốt việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa đó.

Thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS là căn cứ xác thực nhất để

có thể đánh giá tính hiệu quả, phù hợp và các tác động của CS trong việc đáp ứng nhucầu phát triển của xã hội Thông qua thực hiện CS ta có thể thấy rõ được những ưuđiểm, hạn chế của CS hiện hành Từ đó có những điều chỉnh để hoàn thiện CS nhằm đạtđược hiệu quả cao nhất trong việc quản lý và phát triển đất nước

1.3 Hệ thống chính sách bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thiểu

số 1.3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

Bảo tồn và phát huy BSVH Việt Nam nói chung và văn hoá dân tộc thiểu số nóiriêng là nhiệm vụ quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm và chú trọng đếnviệc bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thànhcông, giành được độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Đảng và Nhà nước

ta đã rất quan tâm đến giữ gìn DSVH dân tộc Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về “Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam” Luật

Di sản Văn hóa ra đời năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là cơ sở pháp lý caonhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH ở Việt Nam Để cụ thể hóa thực hiện Luật

Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010, trong đó quy định chi tiết thi hành Luật di sảnVăn hóa được sửa đổi bổ sung năm 2009

Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghịquyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người ViệtNam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã đề ra những quan điểm, định hướngchiến lược của Đảng ta về văn hóa nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời

kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế

Trang 18

Ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1270/QĐ-TTg vềviệc Phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020”,trong đó đưa ra các mục tiêu cụ thể:

“- Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm phát triển văn hóa dân tộc, gópphần để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là độnglực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo đảm toàn vẹn chủquyền lãnh thổ quốc gia

- Bảo tồn, phát huy BSVH truyền thống của các DTTS phù hợp với tình hình thực

tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ bị biến dạng văn hóa cao (các dân tộc

rất ít người không có điều kiện tự bảo vệ văn hóa của mình; bảo tồn và phát triển văn

hóa các DTTS tại khu vực biên giới, hải đảo, khu vực tái định cư của các thủy điện).

Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa trong phát triển VHTT của các dân tộc”.

1.3.2 Chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

Văn hóa các dân tộc Việt Nam là một bộ phận cấu thành của nền văn hóa Việt Namphong phú, mang đậm bản sắc dân tộc Trong xu thế hội nhập và phát triển, những luồngvăn hóa khác nhau xâm nhập vào đời sống xã hội ở vùng dân tộc, gây ảnh hưởng, tác độngđến văn hóa truyền thống của các dân tộc, có nguy cơ làm phai nhạt BSVH dân tộc Do đó,việc bảo tồn, phát huy BSVH các dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược, cầnphải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài Nhằm cụ thể hóa CS của Nhà nước vềcông tác bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta

từ cấp Trung ương đến địa phương đã ban hành rất nhiều văn bản để triển khai thực hiện,

có thể nêu ra một số văn bản tiêu biểu như: Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011phê duyệt đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020”; Nghịquyết số 33/NQ-TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững của đất nước; Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 31/12/2014 của Chínhphủ; Quyết định số 2850/QĐ-BVHTTDL ngày 24/8/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch; Quyết định số 1583/QĐ-UBND, ngày 09/7/2009 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việcPhê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyêntỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2009 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2015”; Kế hoạch số 292/KH-UBND ngày 15/01/2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng

Trang 19

về việc Thực hiện nghị quyết số 14-NQ/TU của Tỉnh ủy về Phát triển vùng đồng bàoDTTS tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2018 - 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số296/QĐ-UBND, ngày 22/2/2018 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc Phê duyệt Đề án

“Bảo tồn và phát triển Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên các dân tộc tỉnhLâm Đồng đến năm 2020”…

Với những chủ trương, CS của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địaphương được cụ thể hóa bằng văn bản và các kế hoạch hành động cho thấy công tác bảotồn và phát huy BSVH dân tộc ngày càng được chú trọng và quan tâm

1.4 Các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.4.1 Lập kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Việc lập kế hoạch để thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc luôn đượcĐảng và Nhà nước ta quan tâm, triển khai đầy đủ, kịp thời: Nội dung CS thực hiện; đốitượng thụ hưởng; thời gian thực hiện theo lộ trình; nguồn lực để thực hiện (con người

và kinh phí); các cơ quan, đơn vị chủ trì và phối hơp

Có thể nhận thấy rõ điều này qua Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 củaThủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đếnnăm 2020” Cụ thể, giao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì đề án và yêu cầu rấtnhiều các cơ quan phối hợp triển khai Đề án tại phần tổ chức thực hiện; Quyết định số3723/QĐ-BVHTTDL ngày 03/8/2016 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Dự

án “Gắn kết phát triển kinh tế và bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS ” cũng thể hiện rất

rõ tại mục 2 Phương thức triển khai dự án dựa trên cơ sở thống nhất từ dưới lên: “Các cơquan quản lý nhà nước có trách nhiệm lập kế hoạch hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện;Chủ thể văn hóa (người dân) thực hiện và thụ hưởng thành quả dự án mang lại Giao quyềnchủ động cho các địa phương triển khai thực hiện, tránh áp đặt, làm thay” Kế hoạch thựchiện được chia làm 2 kỳ, giai đoạn 1 từ 2016 - 2018, giai đoạn 2 từ 2018 - 2020

Đây là những nghị quyết, quyết định tiêu biểu thể hiện rõ được việc lập kế hoạch

để triển khai thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc Bên cạnh đó còn cónhiều văn bản khác từ cấp trung ương đến địa phương thể hiện được việc lập kế hoạch

để triển khai thực hiện CS bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.4.2 Tuyên truyền, phổ biến về chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 20

Việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVH DT, đặc biệt đối với các DTTS làhết sức cần thiết Bởi văn hóa các DTTS Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọngcủa nền văn hóa Việt Nam Công tác tuyên truyền, phổ biến về CS bảo tồn và phát huyBSVH DT là nhiệm của của toàn Đảng, toàn dân, tuy nhiên để đảm bảo tính chính xác vàthống nhất phải được chính các cơ quan chuyên môn tổ chức thực hiện, cụ thể: Cấp Trungương là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; cấp tỉnh là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Công tác tuyên truyền, phổ biến CS luôn phải tiên phong, khi nào thực hiện được tốtcông tác phổ biến tuyên truyền thì mới triển khai được các CS Điều này đỏi hỏi phải cónguồn lực, con người được huấn luyện đào tạo, kinh phí, có sự phối hợp của các cơ quan cóchức năng tuyên truyền mới đảm bảo việc tuyên truyền phổ biến đạt hiệu quả cao nhất

Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020” đã đưacông tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền thành một nhiệm vụ trọng tâm “Tăngcường công tác tuyên truyền tạo sự hiểu biết của xã hội về bảo tồn, phát triển văn hóaDTTS; phối hợp giữa Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các ĐàiPhát thanh và Truyền hình tại các địa phương xây dựng các chuyên mục tuyên truyền vềbảo tồn, phát triển văn hóa DTTS, ưu tiên sử dụng ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc”

“Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, góp phần nâng cao nhận thức

và trách nhiệm của các cấp, các ngành, đoàn thể và người dân về chủ trương của Đảng,Nhà nước về nhiệm vụ gắn kết phát triển kinh tế và bảo tồn, phát triển văn hóa cácDTTS ” là một trong những nội dung quan trọng của đề án “gắn kết phát triển kinh tế vàbảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS” được phê duyệt theo Quyết định số 3723/QĐ-BVHTTDL ngày 03/8/2016 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Ngoài các dự án, đề án mang tính quốc gia, các địa phương, các tỉnh khi triểnkhai các chủ trương CS của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào DTTS luôn phải ưutiên thực hiện phổ biến tuyên truyền để đảm bảo CS bảo tồn và phát huy BSVH dân tộcđược thực hiện nhất quán, đầy đủ

1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy BSVHDT

Bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS là nhiệm vụ chiến lược mang tính lâu dài

và là trách nhiệm của toàn xã hội, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, trungương và địa phương, giữa người dân với các đoàn thể, tổ chức xã hội Trong đó, Nhà

Trang 21

nước đóng vai trò hỗ trợ, tác động tạo điều kiện, môi trường thuận lợi, phù hợp để bảotồn, phát triển văn hóa của đồng bào DTTS ở Việt Nam Việc thực hiện CS cần phải có

sự phân công, phối hợp cụ thể của nhiều cơ quan, ban, ngành vì đây chính là hoạt động

có tính chất liên ngành

Việc phân công, phối hợp của các đơn vị, tổ chức tham gia thực hiện công tácbảo tồn và phát huy BSVH DT là điều hết sức cần thiết nhằm đạt được mục tiêu đề ra.Mỗi đơn vị sẽ thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định Trong nhiều hoạt động đểthực hiện chính bảo tồn và phát huy BSVH DT có nhiều nội dung và liên quan đếnnhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi đơn vị chuyên môn sẽ đảm nhận một nhiệm vụ theo vị trí

và chức năng của đơn vị mình

1.4.4 Tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Việc tổ chức thực hiện CS để bảo tồn và phát huy bản sắc VHDT là nội dung quantrọng nhất Tổ chức thực thi CS là một khâu hợp thành chu trình CS bảo tồn và phát huybản sắc VHDT Nếu thực thi CS tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các dân tộcthụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội

Tùy theo từng CS bảo tồn và phát huy bản sắc VHDT cụ thể sẽ được tổ chức thực hiện từ cấp trung ương đến địa phương Mỗi đơn vị sẽ có một kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện.

1.4.5 Giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong quá trình tổ chức thực hiện CS nói chung và CS bảo tồn và phát huyBSVHDT nói riêng, việc giám sát kiểm tra là điều bắt buộc Nó giúp cho các nhà hoạchđịnh CS, các nhà quản lý biết được việc thực thi CS đúng như kế hoạch đã tổ chức triểnkhai không Kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện những sai lệch trong thực thi CS

Có thể là không đúng về nội dung, mục đích, đối tượng, số lượng, chất lượng, kinh phí.Trong thực thi CS, việc kiểm tra, giám sát cần phải được thực hiện thường xuyên, liêntục, không được lơ là và chủ quan vì đây là những CS liên quan đến VHDT

1.4.6 Sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách ưu đãi bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

Định kỳ hàng năm hoặc theo kế hoạch triển khai, các đơn vị chủ trì phối hợp với các

cơ quan, ban, ngành, địa phương tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá việc thực hiện CS bảotồn và phát huy BSVHDT Trong đó, phải đánh giá được kết quả đạt được theo số lượng,

Trang 22

chất lượng, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân, đề xuất bổ sung hoặc thay đổi so với kếhoạch đã phê duyệt Có thể khẳng định rằng, đây chính là khâu phản biện lại các CS bảotồn và phát huy BSVHDT có triển khai đúng hướng hay không, là khâu then chốt quyếtđịnh sẽ tiếp tục hay không tiếp tục triển khai CS CS về bảo tồn và phát huy BSVHDTkhông chỉ tác động đến một dân tộc, một cộng đồng người mà còn tác động đến đời sốngvăn hóa của nhiều dân tộc khác nhau Do vậy, việc sơ kết, tổng kết đánh giá phải được thựchiện nghiêm túc, khách quan, trung thực và dựa trên các chứng cứ khoa học cụ thể.

1.5 Các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

1.5.1 Tính chất của vấn đề chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

Khi đưa ra một CS về bảo tồn và phát huy BSVH nói chung, BSVH DTTS nóiriêng các nhà hoạch định CS luôn khảo sát, đánh giá khả năng thực hiện dựa trên nhiềuyếu tố khác nhau Tính chất của vấn đề CS là các yếu tố khách quan có ảnh hưởng trựctiếp đến việc tổ chức thực thi CS nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn Việc bảo tồn

và phát huy bản sắc VHDT phải được đặt trong sự vận động và phát triển Sự tương táccủa các dân tộc sẽ dẫn đến sự giao thoa, tiếp biến của các hình thái văn hóa khác nhau,nhất là trong môi trường kinh tế xã hội hiện nay Điều này đặt ra cho các nhà quản lý vàthực hiện CS, các cấp, các ngành phải quan tâm đặc biệt

1.5.2 Môi trường và mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện thực thi chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

Môi trường là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến CS bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Môi trường ở đây được hiểu là những yếu tố xung quanh có tác động đến việc triển khai CS như: Môi trường tự nhiên, điều kiện về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu thời tiết, nguồn tài nguyên …; môi trường xã hội là trình độ dân trí, văn hóa, ngôn ngữ, tập tục, thói quen, tín ngưỡng, tôn giáo, trình

độ lao động sản xuất, cơ sở hạ tầng Có nhiều CS rất đúng đắn kịp thời, nhưng khi đưa vào tổ chức triển khai lại bị rào cản bới những yếu tố môi trường dẫn đến khó khăn thực hiện hoặc bị kéo dài Bên cạnh đó môi trường ảnh hưởng đến việc thực thi CS chính là các hoạt động kinh tế, chính trị, tình hình phát triển của xã hội, an ninh quốc phòng Tất cả những môi trường này đều có những tác động tích cực và tiêu cực đến việc thực hiện CS Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện CS thể hiện sự thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu

CS Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện

Trang 23

CS không mâu thuẫn với nhau và với đối tượng thụ hưởng thì CS được triển khai thựchiện dễ dàng và ngược lại, lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện CS mâu thuẫnvới lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện CS sẽ khó khăn, thậm chí còn thất bại.

1.5.3 Tiềm lực, đặc tính của các nhóm đối tượng chính sách

Tiềm lực của các nhóm đối tượng CS được hiểu là thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm

có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm lợi íchđược thể hiện trên các phương diện chính trị, xã hội, kinh tế cả về quy mô và trình độ

Đặc tính của đối tượng thực hiện CS công nói chung, CS bảo tồn phát huy BSVHcác DTTS nói riêng là những đặc điểm, tính chất đặc trưng mà các đối tượng có được từbản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên trong quá trình vận động mang tínhlịch sử Những đặc tính này thường liên quan đến tính tự giác, kỷ luật, tính sáng tạo,tính truyền thống, lòng quyết tâm Đặc tính này gắn liền với mỗi đối tượng thực hiện

CS nên các chủ thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi gợi hay kiềm chế nó để cóđược kết quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực hiện CS

1.5.4 Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách

Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hoá CS nên các cơ quan nhà nước,các cấp chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo sát sao công tác tổ chứctriển khai thực hiện CS Để tổ chức, điều hành có hiệu quả công tác thực thi CS công,cán bộ, công chức nhà nước cần phải thực hiện nhiều nội dung quản lý khác nhau,nhưng trước tiên cần tuân thủ các bước tổ chức thực thi cơ bản sau đây:

Một là, phải tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện CS công;

Hai là, phổ biến, tuyên truyền CS công;

Ba là, phân công, phối hợp thực hiện CS công;

Bốn là, đôn đốc, giám sát thực hiện CS công;

Năm là, tổng kết thực thi CS công.

Mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa và tác động nhất định đối với quátrình thực hiện CS Thực hiện đúng và đầy đủ các bước này sẽ giúp cho cơ quan banhành CS và cơ quan quản lý thực thi đạt được mục tiêu của CS cao nhất

1.5.5 Năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ công chức

Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện CS bảo tồn và pháthuy BSVH Năng lực tổ chức, quản lý của nhà nước và của đội ngũ cán bộ, công chức

Trang 24

trong thực hiện CS là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, vềnăng lực thiết kế tổ chức, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được vớinhững tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện CS Các cán bộ, công chứctrong cơ quan nhà nước khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện CS, cần nêu cao tinhthần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật công vụ trong lĩnh vực này mới đạt hiệu quả thựchiện Tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật được thể hiện trong thực tế thành năng lựcthực tế Đây là một yêu cầu rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, công chức để thực hiện việcchuyển tải ý đồ CS của nhà nước vào cuộc sống Nếu thiếu năng lực thực tế, các cơ quan cóthẩm quyền tổ chức thực hiện CS sẽ đưa ra những kế hoạch không bám sát với thực tế, dẫnđến lãng phí nguồn lực được huy động, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của CS, thậm chí cònlàm biến dạng CS trong quá trình tổ chức thực hiện… Năng lực thực tế và đạo đức

công vụ của cán bộ, công chức còn thể hiện ở thủ tục giải quyết những vấn đề trongquan hệ giữa các cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức trong xã hội

1.5.6 Các điều kiện vật chất và nhận thức của cộng đồng chủ thể bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số để thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

Để quản lý được các hoạt động liên quan đến việc thực hiện CS, Nhà nước phải chútrọng đầu tư nguồn lực vật chất cả về số lượng và chất lượng Các điều kiện vật chất

ở đây được hiểu là hệ thống trang thiết bị, phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nguồntài chính phục vụ cho việc nghiên cứu Đồng thời, nó cũng là chế độ tiền lương, thưởng,các ưu đãi đối với các chuyên gia nghiên cứu và đội ngũ cán bộ công chức trực tiếpthực hiện CS Những điều kiện về vật chất có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực hiện

CS, nó giúp cho thực hiện CS được thuận tiện nhanh chóng, giúp cho các nhà nghiêncứu có thể triển khai những ý tưởng sáng tạo của mình thành hiện thực, giúp cho độingũ cán bộ công chức thực hiện CS cũng như nhà nghiên cứu yên tâm làm việc, tâmhuyết với nhiệm vụ được giao góp phần đạt được mục tiêu đã đề ra của CS

1.6 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

1.6.1 Thực hiện đúng mục tiêu chính sách

Mỗi CS đều hướng đến mục tiêu nhất định Mục tiêu của CS bảo tồn và phát huy BSVHcác DTTS là giữ gìn sự nguyên vẹn và đầy đủ của các giá trị văn hóa của dân tộc, không để maimột, tổn thất hoặc bị huỷ hoại Việc thực hiện CS này sẽ đóng vai trò quan trọng trong

Trang 25

việc nâng cao nhận thức, trình độ dân trí, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóacho thế hệ trẻ; giới thiệu tinh hoa, nét đẹp, bản sắc, tinh túy văn hóa của cộng đồng các dântộc Việt Nam với bạn bè quốc tế Nếu mục tiêu này không được thực hiện coi như CS bảotồn và phát huy BSVH các DTTS không thành công, thực chất là không được thực hiện.

1.6.2 Đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách

Hệ thống thực hiện CS được quy định trong chủ trương của Đảng, các văn bảnchỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện của Nhà nước và bắt buộc mọi công chức khitriển khai thực hiện CS phải nghiêm chỉnh tuân theo, điều này được thể hiện rõ nhất ở

sự phân cấp thực hiện giữa các cơ quan đơn vị với nhau, giữa cơ quan cấp trên và cơquan cấp dưới, ở sự phối hợp trong công tác

Thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS cần phải bảo đảm tính hệthống, nghĩa là phải thực hiện đồng bộ và thống nhất các nhiệm vụ, các bước trong tổchức thực hiện CS nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

1.6.3 Đảm bảo tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách

Thực hiện CS theo đúng pháp luật, đúng nội dung văn bản quy định, đồng thờiphải thực hiện một cách khoa học, hợp lý để CS phát huy hiệu quả của nó Trong tổchức thực hiện CS nếu đảm bảo yêu cầu về tính pháp lý, khoa học và hợp lý sẽ giúpnâng cao hiệu lực tổ chức thực hiện CS của các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thờicòn củng cố niềm tin của các đối tượng được thụ hưởng CS đối với Nhà nước

1.6.4 Đảm bảo lợi ích thực sự cho đối tượng thụ hưởng chính sách

Trong xã hội thường tồn tại nhiều nhóm lợi ích và nhà nước là người bảo vệ lợiích hợp pháp của cá nhân và tổ chức Thông thường, nhà nước thường sử dụng CS côngnhằm bảo đảm về lợi ích cho các đối tượng được thụ hưởng CS trong xã hội Điều này

sẽ góp phần củng cố sự tin tưởng của người dân vào các CS nhà nước thông qua CScông Có thể nói, để cho các đối tượng thụ hưởng CS có được những lợi ích thật sự làyêu cầu quan trọng trong quá trình thực thi CS

Tiểu kết Chương 1

Từ việc đưa ra một số khái niệm khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa, bảo tồn vàphát huy bản sắc văn hóa, CS công, thực hiện CS công, kết hợp với cơ sở lý thuyết về CScông đã được học, luận văn đã tổng hợp, phân tích được những vấn đề lý luận chung vềthực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc ở Việt Nam, cụ thể: Làm rõ được các

Trang 26

nhân tố tác động đến việc thực hiện chính như môi trường, mối quan hệ giữa các đốitượng thực thi CS, tiềm lực, đặc tính của các nhóm đối tượng CS, năng lực thực hiệncủa đội ngũ cán bộ công chức, các điều kiện vật chất và nhận thức của cộng đồng DTTS

để thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc

Văn hóa là sức mạnh nội sinh tiềm tàng, thúc đẩy sự phát triển bền vững và là tàisản vô giá của dân tộc Bởi vậy, việc bảo tồn và phát huy BSVH là nhiệm vụ quan trọng.Trong bất cứ giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, định hướng, xây dựng các

CS về phát triển văn hóa, bảo tồn các di sản văn hóa phù hợp với tình hình thực tế, những

lý luận về CS bảo tồn giá trị văn hóa cần phải được đầu tư, nghiên cứu nhằm phục vụ choviệc hoạch định CS theo hướng lâu dài, hiệu quả để bảo tồn, phát huy BSVH, góp phần vào

sự phát triển bền vững của đất nước Chương 1 là cơ sở định hướng cho việc đánh giá thựctrạng về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc văn hoá dântộc thiểu số ở chương 2 và đưa ra các giải pháp ở chương 3 của luận văn

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG

2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên, có diện tích 9.783,2 km2, độcao trung bình từ 800-1000m so với mặt nước biển, địa hình chủ yếu, là bình sơnnguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên nhữngyếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, hệ động thực vật phong phú, nhiều

cảnh quan kỳ thú cho địa phương Vùng đất Lâm Đồng từ lâu đã có nhiều dân tộc anh

em cùng sinh sống, cộng đồng người dân tộc Mạ, K’ ho, Churu là tộc người văn hoádân tộc thiểu số của địa phương

Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, chính vìvậy khí hậu Lâm Đồng được chia làm 2 mùa riêng biệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưathường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.Nhiệt độ cũng thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm Nhiệt độtrung bình năm của tỉnh dao động từ 18 - 250 C, thời tiết ôn hòa và mát mẻ quanh năm, ít

có những biến động lớn trong chu kỳ năm Với địa hình là địa hình cao nguyên tương đốiphức tạp, chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏbằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau: Phía Bắc tỉnh là vùng núi cao,vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1.300m đến hơn 2.000m như BiĐoup(2.287m), Lang Bian (2.167m) Phía Đông và Tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 -1.000m) Phía Nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc và bán bìnhnguyên Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, 98% diện tích tự nhiên, bao gồm 8 nhómđất và 45 đơn vị đất: Đất có độ dốc dưới 25o chiếm trên 50%, đất dốc trên 25o chiếm gần50% Chất lượng đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400

ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000 ha đất bazan tập trung ở caonguyên Bảo Lộc - Di Linh

2.1.2 Đặc điểm dân số, dân cư, tộc người

Tính đến ngày 31/12/2019 dân số toàn tỉnh là hơn 1,3 triệu người Mật độ dân số

118 người/km2, có 43 dân tộc khác nhau cư trú và sinh sống, trong đó đông nhất là người

Trang 28

Kinh chiếm khoảng 77%, tiếp đến người K’ho chiếm 12%, người Mạ chiếm 2,5%,người Nùng chiếm gần 2%, người Tày chiếm 2%, người Hoa chiếm 1,5%, người Churu1,5% , còn lại các dân tộc khác có tỷ lệ dưới 1% sống thưa thớt ở các vùng xa, vùngsâu trong tỉnh Lễ hội cồng chiêng, rượu cần và dệt thổ cẩm là nét đặc trưng cho văn

hóa DTTS tại Lâm Đồng (nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Lâm Đồng 2019).

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế xã hội

Sau ngày giải phóng, kinh tế xã hội Lâm Đồng gặp nhiều khó khăn do chiến tranh

để lại Chặng đường 10 năm đầu sau giải phóng (1975-1985) nền kinh tế của tỉnh vẫn cònnghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn về cơ sở vật chất Đến năm 2019, kinh tế - xã hội tỉnh LâmĐồng đã có bước chuyển mình vượt trội Kinh tế tiếp tục phát triển và đạt mức tăng trưởng7,93% Phần lớn các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt kế hoạch và tăng so với cùng kỳ: GRDP bìnhquân đầu người đạt 66,7 triệu đồng; tổng mức đầu tư toàn xã hội 30.500 tỷ đồng; thu ngânsách nhà nước trên địa bàn đạt 8.298 tỷ đồng Nông nghiệp vẫn là kinh tế chủ đạo, trongnhững năm gần đây nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục có bước phát triển cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu Du lịch, dịch vụ được xác định là ngành kinh tế động lực của tỉnh.Hoạt động thương mại, dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch tiếp tục duy trì và phát triển Trongnăm 2019, khách du lịch đến Lâm Đồng đạt 7,16 triệu lượt khách Lĩnh vực văn hóa - xãhội phát triển và đạt những kết quả khá toàn diện Công tác xây dựng chính quyền, cải cáchhành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được các cấp, các ngành quantâm chỉ đạo thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực

2.1.4 Đặc điểm về giáo dục, y tế

So với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên, Lâm Đồng là tỉnh có số lượng học sinhtrong độ tuổi đi học lớn nhất Toàn tỉnh có 711 trường, tổng số học sinh là 329.990 họcsinh: mầm non 233 trường, tiểu học 250 trường, trung học cơ sở 159 trường, trung học phổthông 57 trường; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh; 11 trung tâm giáo dục nghềnghiệp giáo dục thường xuyên cấp huyện, thành phố Bên cạnh đó còn có 02 trường đại học

và 02 phân hiệu trường đại học, 07 trường cao đẳng, 02 trường trung cấp đảm bảo cho việcđào tạo các cấp trình độ từ trung cấp đến tiến sĩ, cung ứng nguồn nhân lực cho tỉnh LâmĐồng Tuy nhiên một số ngành đào tạo chuyên sâu ở trình độ cao vẫn còn thiếu, nhất là cácngành trong lĩnh vực công nghệ thông tin, quản lý điều hành

Trang 29

Hệ thống y tế cơ bản đã đáp ứng được với nhu cầu khám chữa bệnh của ngườidân Hiện nay, toàn tỉnh có 02 bệnh viện Đa khoa, 01 bệnh viện tư nhân, 01 bệnh viênnhi, toàn tỉnh có 517 cơ sở tế tư nhân, 888 cơ sở bán lẻ thuốc Cơ sở vật chất, trang thiết

bị được tăng cường đầu tư đồng bộ Đến đầu năm 2020 có 7,9 bác sỹ/vạn dân, 23giường bệnh/vạn dân, tỉ lệ xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế đạt 98,6%

(Nguồn: Niên giám thống kê Lâm Đồng năm 2019)

2.1.5 Những vấn đề tác động đến thực hiện chính sách bảo tồn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

Triển khai các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về bảo tồn phát huy bảnsắc văn hoá các dân tộc, trong những năm qua tỉnh Lâm Đồng đã có nhiều nỗ lực cố gắng

để thực hiện các chính sách bảo tồn và phát huy BSVH DTTS bằng việc ban hành cácquyết định, cụ thể: Quyết định số 296/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh phêduyệt đề án “Bảo tồn và phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên các dântộc tỉnh lâm đồng đến năm 2020”; Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 06/03/2018 củaUBND tỉnh phê duyệt đề án “Bảo tồn, phát huy BSVH các DTTS, khôi phục và phát triểncác làng nghề truyền thống gắn với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn

2018 - 2020 và định hướng đến năm 2030” Các văn bản này thể hiện chưa toàn diện vàđầy đủ, đồng thời mới chỉ dừng lại ở tính định hướng, chưa cụ thể hoá được các chính sách

Bên cạnh đó, khoảng thời gian song hành với sự phát triển nhanh và mạnh của kinh tế,văn hoá, xã hội đã tác động rất lớn và làm biến đổi nhiều bản sắc văn hoá dân các tộc thiểu sốtrên địa bàn tỉnh Việc đầu tư ngân sách và nguồn nhân lực để thực hiện chính sách chưa đượcquan tâm đúng mức dẫn đến bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số ngày càng mai một

2.2 Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng

2.2.1 Dân tộc K’ho

Dân tộc K’ho còn có tên gọi khác là Cơ ho, Kơ Ho, là dân tộc có tập quán sống ducanh dư cư, nên trong quá trình phát triển đã dần hình thành các nhánh K’ho địa phươngnhư: K’ho Srê, K’ho Tơ Rinh (T’ring), K’ho Nộp (Tu nốp), K’ho Chil, K’ho Lạch, K’hoDòn Địa bàn cư trú của người K’Ho chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, KhánhHòa, Ninh Thuận, Đồng Nai, tại Lâm Đồng, dân số của dân tộc K’ho hiện nay là khoảng200.000 người Tiếng nói của người K’ho thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm Môn-Khmer Gần

Trang 30

đây, người K’ho mới có chữ viết theo mẫu chữ Latinh Trong xã hội truyền thống,người K’ho sống trong các Bon (làng), đứng đầu bon là già làng.

Văn hóa kiến trúc: Nhà truyền thống của người K’ho là nhà sàn dài bằng gỗ, hai

mái uốn cong, lợp bằng cỏ tranh, có liếp nghiêng ra phía ngoài và cũng lợp tranh đểchống lạnh Mọi sinh hoạt chủ yếu như ăn uống, nghỉ ngơi, tiếp khách đều diễn raquanh bếp lửa ở trong nhà

Đời sống kinh tế sản xuất, chăn nuôi và nghề thủ công: Phương thức canh tác chủ

yếu là trồng lúa trên ruộng nước ở các thung lũng, một số người K’ ho khác do cư trú ởvùng núi cao nên thường phát rừng làm rẫy để trồng ngô, lúa rẫy, sắn Ngoài những câylương thực chủ yếu, người K’ho còn trồng lẫn các loại rau khác như bầu, bí, mướp, đậu

Họ cũng làm vườn, trồng cây ăn quả như mít, bơ, chuối, đu đủ Việc chăn nuôi giasúc, gia cầm như trâu, bò, lợn, dê, gà, vịt thường theo phương thức thả rong Trâu, bòchỉ dùng làm sức kéo ở những vùng làm ruộng nước, còn lại chủ yếu để hiến tế trongcác dịp nghi lễ Các nghề thủ công phổ biến nhất là đan lát và rèn, riêng nhóm ngườidân K’ho Chil còn có thêm nghề dệt; ngoài ra ở một số nơi có làm nghề gốm theophương thức không có bàn xoay Do tác động của kinh tế xã hội, về phương thức sảnxuất của người K’ho đã có nhiều thay đổi đáng kể, tuy nhiên sản xuất và buôn bán cácsản phẩm từ nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo

Văn hóa ẩm thực: Người dân tộc K’ho truyền thống thường ăn ba bữa, theo tập

quán ăn bốc, lương thực chính là gạo ăn với thực phẩm như cá, thịt, rau Các món ănthường chế biến khô để thuận tiện cho việc ăn bốc Thực phẩm thường được chế biếntheo các hình thức nấu chín, ăn sống, nướng, phơi khô, ủ chua Thức uống là nước tựnhiên (nước mưa hoặc nước từ các con suối), dụng cụ trữ nước uống là những quả bầukhô hoặc ghè Người dân tộc K’ho hút các loại cây thuốc phơi khô cuốn lại, rượu cần(t’rờ nờm) làm từ gạo, ngô, sắn với men chế biến từ cây rừng rất được ưa chuộng trongcác bữa tiệc, lễ hội

Văn hóa trang phục truyền thống: Trang phục của đàn ông là khố bằng vải bản

rộng, dài khoảng từ 1,5 - 2m, có hoa văn theo dải dọc Phụ nữ dùng váy bằng một tấm vảiquấn quanh người rồi giắt cạp Váy nền đen, có diềm hoa văn trắng Nếu thời tiết lạnh, họkhoác thêm chăn (ùi) ra ngoài Phụ nữ dùng vòng cổ, vòng tay, cườm và khuyên căng tailàm đồ trang sức Có thể nói trang phục truyền thống của người K’ho là một sự

Trang 31

kết hợp hàì hòa đặc sắc, vừa thể hiện những yếu tố của tự nhiên về chất liệu, vừa thểhiện sự tài nghệ của người thợ dệt tạo nên bản sắc riêng của người K’ho.

Văn hóa tín ngưỡng, phong tục, lễ hội: Người K’ho vẫn giữ được nhiều phong

tục cổ, trong đó phải kể đến các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Nhà nghiên cứu văn hoá

dân gian Nguyễn Văn Doanh cho biết: "Từ xa xưa, người K’ho tin rằng mọi mặt của đờisống đều do các thế lực siêu nhiên quyết định Thần Yàng (trời) phù hộ cho con người,còn thế lực ma quỷ (chà) gây tai họa Ngoài ra, người K’ho còn thờ thần Mặt Trời, MặtTrăng, thần Núi, thần Sông, thần Đất, thần Lúa Ngày nay, người K’ho vẫn thực hiệncác nghi lễ cúng các vị thần trong những dịp, sự kiện quan trọng như: hiếu hỷ, nhữnggiai đoạn trong sản xuất, ốm đau, bệnh tật " Người K’ho theo tín ngưỡng đa thần, nênmỗi khi tổ chức các lễ hội nông nghiệp, người K’ho thường dựng cây nêu để mời gọiYàng về dự, chứng kiến và cùng chung vui với buôn làng Có nhiều lễ hội tạ ơn thần lúanhư: lễ gieo sạ lúa, lễ cúng dưỡng lúa, lễ mừng lúa mới, lễ cầu mưa, lễ cúng bến nước

Đời sống văn hoá, nghệ thuật dân gian: Có các thể loại văn học dân gian giàu

nhạc tính, gồm: Huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết, các bài cúng, văn vần…Các nhạc

cụ của người K’ho gồm: bộ cồng chiêng gồm 6 chiếc, kèn ống bầu (Kơmbuat), đàn ốngtre (Kơrla), trống (Sơgơr) những nhạc cụ này có khả năng hòa âm với lời ca hoặc độctấu Đây chính là những nét đặc trưng văn hóa nghệ thuật của dân tộc K’ho văn hoá dântộc thiểu số

2.2.2 Dân tộc Churu

Dân tộc Churu có khoảng 8.000 người cư trú, tập trung ở xã Tutra huyện ĐơnDương; xã Phú Hội, xã Đà Loan huyện Đức Trọng và một số ít sống rải rác ở một số xãthuộc huyện Di Linh Người Churu nói theo ngữ hệ Mã Lai - Đa đảo Tuy nhiên, do cưtrú lân cận với người K’ho và giao lưu văn hóa nên có một bộ phận người Churu nóitiếng K’ho thuộc ngữ hệ Môn-Khơme Làng Churu là đơn vị hành chính, gồm nhiềunhóm tộc người cùng cư trú Dưới làng, là những cộng đồng huyết thống như: đại giađình, tiểu gia đình và dòng họ Gia đình trong xã hội cổ truyền của người Churu là đạigia đình còn mang nhiều tàn dư của chế độ gia đình mẫu hệ

Văn hóa kiến trúc: Kiến trúc của người Churu là nhà sàn kết cấu học tập từ các

dân tộc khác, tuy nhiên vẫn còn một số yếu tố truyền thống được duy trì như sàn nhà,cách khai thác không gian sinh hoạt

Trang 32

Đời sống kinh tế sản xuất, chăn nuôi và nghề thủ công: Dân tộc Churu biết làm

ruộng từ lâu đời và sống định canh định cư, trồng trọt chiếm vị trí hàng đầu trong đờisống kinh tế và lúa là nguồn lương thực chủ yếu; ngoài ra họ còn trồng thêm ngô,khoai, sắn và một số loại rau, đậu trên nương rẫy hoặc trong vườn Vì vậy, trong baloại hình trồng trọt chủ yếu thì quan trọng nhất là ruộng, thứ đến là nương rẫy vàvườn Ngoài nông nghiệp, người Churu còn chăn nuôi: trâu, bò, heo, dê, ngựa và cácloại gia cầm khác như: gà, vịt, ngan, ngỗng Trâu bò thường dùng làm sức kéo trongnông nghiệp; ngựa dùng để chuyên chở hàng hóa trao đổi với các dân tộc láng giềng.Trong các loại gia súc lớn, trâu được nuôi nhiều hơn bò và ngựa Vì ngoài việc dùnglàm sức kéo, trâu còn được dùng trong các lễ nghi nông nghiệp và tín ngưỡng cổtruyền, cưới xin hoặc dùng làm vật ngang giá để mua bán và trao đổi trong nội bộ dântộc, cũng như với các dân tộc anh em khác Về nghề thủ công, người Churu đan lát đồdùng gia đình bằng mây tre và các công cụ tự rèn khác như liềm, cuốc, nạo cỏ, đồ gốmphục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày Đặc biệt có nghề làm gốm,một nghề thủ công truyền thống của đồng bào Churu, tuy nhiên, kỹ thuật chế tác hãycòn rất thô sơ Nghề dệt ở đây hầu như không phát triển, vì vậy hầu hết các y phục cổtruyền của họ như: chăn, áo, khố v.v đều phải mua bán trao đổi với các dân tộc lánggiềng như người Mạ, K’ho, Chăm

Văn hóa ẩm thực: Người Churu có văn hóa ẩm thực khá độc đáo với nhiều món

ăn truyền thống như: Da trâu cà đắng, Canh Pài, Cháo chua, rượu cần …

Văn hóa trang phục: Bộ trang phục truyền thống của người đàn ông Churu có

nền trắng, kể cả tấm choàng buộc chéo từ nách bên này sang nách bên kia, quần dài,tấm khăn quấn trên đầu cũng màu trắng Trang phục này chỉ mặc vào các dịp cưới xin,

lễ hội, hay đi đám ma Còn ngày thường họ ăn mặc đơn giản hơn, quần trắng, áo dàitrắng Phụ nữ Churu thường mặc áo sơ mi khoác bên ngoài một tấm choàng, Tấmchoàng màu trắng được mặc trong các dịp lễ Tấm choàng màu đen sử dụng hàngngày Váy thường có màu xanh đen Điểm dễ nhận ra trong trang phục của dân tộcChuru là đàn ông và phụ nữ đều sử dụng khăn cuốn đội đầu

Văn hóa tín ngưỡng, phong tuc tập quán và lễ hội: Người Churu có tín ngưỡng đa

thần Việc thờ cúng tổ tiên ở đây bắt nguồn từ chỗ họ tín ngưỡng vào sự tồn tại vĩnh cửucủa linh hồn những người đã khuất Lễ thờ cúng tổ tiên ở đây khác hẳn với lễ thờ

Trang 33

cúng tổ tiên ở người Kinh Việc hành lễ không có một trật tự ngày tháng nào nhất định.

Có thể hai ba năm hoặc hai, ba mươi năm mới cúng một lần, tùy theo hoàn cảnh kinh tếcủa mỗi gia đình, dòng họ Trong nhà của người Churu cũng không có bàn thờ hay bài vịdành cho những người đã khuất Họ chỉ làm bàn thờ và tiến hành việc thờ cúng vào mộtdịp nào đó ở ngoài nghĩa địa chứ không đem về nhà Thường ngày, mỗi khi có người chết

họ thường giết trâu, bò để làm lễ cúng Đó là một phong tục có từ lâu đời

mà hiện nay còn ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống tinh thần của người Churu Người

Churu thực hiện nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp như: Cúng thần

đập nước, thần mương nước, cúng thần lúa khi gieo hạt, cúng ăn mừng lúa mới, cúng saumùa gặt trong các lễ nghi cổ truyền đó, đáng chú ý nhất là lễ cúng thần Bơmung Đồngthời với việc cúng Bơmung, cũng vào tháng hai mỗi năm theo phong tục cổ truyềnngười Churu thường cúng Yang Wer, Yang Wer là một cây cổ thụ ở gần làng và đượcdân làng tin đó là nơi ngự trị của một vị thần có nhiều quyền phép Dân làng Churuthường làm những hình nộm như: đầu voi, đầu cọp, đầu dê, đầu trâu bằng gỗ hoặcbằng củ chuối cùng với đồ ăn, thức uống mang tới gốc cây Yang Wer để cúng thần

Đời sống văn học, nghệ thuật dân gian: Kho tàng văn học, nghệ thuật của người

Churu rất phong phú, phần lớn phản ánh chế độ mẫu hệ, đề cao vai trò của người phụ nữtrong gia đình và trong xã hội cổ truyền; truyện cổ phản ánh cuộc đấu tranh bất khuất củangười dân lao động đối với thiên nhiên, đối với xã hội để dành lại cuộc sống trong lành vàhạnh phúc Ví dụ như câu chuyện về một em bé mồ côi cha mẹ, lúc đầu sống cuộc sốngnghèo khó, nhưng sau đó được thần giúp đỡ trở lên giầu sang và có cuộc sống an lành Cónhững truyện cổ tích ví von, có nhiều thiên trường ca mà các cụ già làng thường ngồi bênbếp lửa của nhà sàn kể lại cho con cháu họ nghe một cách rất say sưa, suốt đêm này quađêm khác Về âm nhạc, ngoài trống (sơ gơn), kèn (rơkel), đồng la (sar) v.v còn cór'tông, kwao, telia là những nhạc cụ đặc sắc của người Churu Trong những ngày vui, họthường tấu nhạc với điệu Tam-ga, một vũ điệu mang tính cộng đồng rất điêu luyện, màhầu như người nào cũng biết và ưa thích

2.2.3 Dân tộc Mạ

Theo thống kê, hiện nay dân tộc Mạ có gần 33.000 người, cư trú ở hầu khắp cáchuyện, thành phố trong tỉnh (Bảo Lộc, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên, ĐứcTrọng, Lâm Hà, Đơn Dương, Di Linh)

Trang 34

Dân tộc Mạ là một cộng đồng người thống nhất, có một tên gọi chung, một ngôn ngữchung và ý thức chung về tộc người Mạ, tự phân biệt mình với các dân tộc láng giềng Nhưngtrong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng dân tộc Mạ đã chia các nhóm địa phương như:

Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung Người Mạ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn

- Khơme miền núi phía Nam, rất gần gũi với tiếng nói của người M'nông, Churu, Xtiêng, K’h-là những dân tộc láng giềng gần gũi với họ Trong từ vựng của ngôn ngữ Mạ, yếu tố Môn -Khơme trội hơn hẳn so với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ này cư trú ở Bắc Tây Nguyên như

Ba na, Xơ đăng… làng của gười Mạ thường có quy mô nhỏ bé so với làng của người K’ho vàngười Churu trong vùng Mỗi làng bao gồm vài ba ngôi nhà dài Đứng đầu làng là chủ làng haychủ rừng cùng với các gia trưởng hợp thành bộ máy tự quản của làng truyền thống

Văn hóa kiến trúc: Nhà dài là hình thái cư trú truyền thống lâu đời của người Mạ,

được xây dựng dựa trên các nguyên vật liệu tự nhiên, mang đặc trưng của người Mạ từcác bố trí sắp xếp sử dụng nguyên vật liệu và sắp đặt trong nhà

Đời sống kinh tế sản xuất, chăn nuôi, nghề thủ công: Trong xã hội truyền thống, làm

rẫy là phương thức hoạt động kinh tế chủ yếu của dân tộc Mạ Phương thức hoạt động kinh tếnày hầu như đã đem lại cho họ toàn bộ nhu cầu về lương thực và phần lớn thực phẩm trongbữa ăn hàng ngày Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trong mỗi gia đình người Mạ còn kémphát triển Họ thường nuôi lợn, dê, bò, trâu, gà, vịt chủ yếu là để giết thịt trong các lễ hiếnsinh, chứ chưa phải để dùng làm sức kéo trong nông nghiệp như ở vùng K’Ho Srê, vùngngười Lạch và người Churu Nghề thủ công phổ biến nhất là nghề đan lát những đồ dùngtrong gia đình bằng mây, tre, lá Nghề dệt vải bằng khung dệt Inđônêdiên còn thô sơ, nhưng

có kỹ thuật dệt khá cao với lối thêu hoa văn trên nền vải khá đặc sắc Sản phẩm của nghề dệt,đáp ứng nhu cầu về may mặc y phục truyền thống trong mỗi gia đình Ngoài ra, nó còn tạo rađược những tấm vải thổ cẩm với hoa văn trang trí khá tinh xảo và đẹp mắt Đây là một trongnhững nét nổi bật của người Mạ so với các dân tộc láng giềng Nghề rèn có ở nhiều nơi, hoạtđộng lúc nông nhàn Họ rèn và tu sửa nông cụ, vũ khí truyền thống Xưa kia, đồng bào Mạ đãtừng có kỹ thuật luyện sắt thép từ quặng ở địa phương Nhưng về sau, do có sẵn sắt thép từviệc trao đổi với miền xuôi nên nghề luyện sắt từ quặng bị mai một dần

Văn hóa trang phục: Có cá tính riêng về tạo hình áo nữ, đặc biệt là phong cách

thẩm mỹ Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền Có tục cà răng,căng tai, đeo nhiều vòng trang sức Nam thường để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng

Trang 35

khố Khố cũng có nhiều loại khác nhau về kích thước và hoa văn trang trí Loại khốtrang trọng có đính hạt cườm, tua dài Bên cạnh đó họ còn mặc áo chui đầu, xẻ tà, vạtsau dài hơn vạt trước che kín mông Áo có các loại: dài tay, ngắn tay và cộc tay Thủlĩnh búi tóc cắm lông chim có bộ khiên giáo kèm theo Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy.Xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu Áo nữ mặc vừa sát thân, dài tớithắt lưng, không xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tròn thấp Tổng thể áo chỉ

là hình chữ nhật màu trắng Nửa thân dưới áo trước và sau lưng được trang trí hoa văncác màu đỏ, xanh là chính, trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa vănhình học là chủ yếu Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí Váy làloại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng Về cơbản là các sọc màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm, chủ yếu là hoa văn hình họctheo nguyên tắc bố cục dải băng ngang truyền thống Có trường hợp nửa trên váy dệttrang trí hoa văn kín trên nền sáng (trắng) với hoa văn hình học màu đỏ xanh Nam nữthường thích mang vòng ở cổ tay có những ngấn khắc chìm - ký hiệu các lễ hiến sinh

tế thần cầu mát cho chủ nhân nó Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng đồng, ngà voi,gỗ; cổ đeo hạt cườm Phụ nữ còn mang vòng chân đồng nhiều vòng xoắn

Văn hóa tín ngưỡng, phong tục, lễ hội: Cũng giống như người K’ho, người Mạ

coi thần Nđu, là vị thần sáng tạo Nhưng gần gũi và quan trọng hơn hết đối với người

Mạ, vẫn là những vị thần nông nghiệp như: thần lúa, thần rừng, thần núi, thần lửa Những lễ nghi cúng kiếng các vị thần nông nghiệp của người Mạ được tiến hành theo chu

kỳ canh tác rẫy hàng năm Nhưng quan trọng nhất vẫn là lễ cúng vào thời kỳ bắt đầu gieohạt gọi là lễ cúng hồn lúa để mong được phong đăng hòa cốc và lễ cúng cơm mới vào lúckết thúc mùa thu hoạch lúa trên rẫy hầu tạ ơn các thần linh đã phù hộ cho họ một vụ gieotrồng trọn vẹn Để làm vừa lòng các vị thần linh và cầu mong sự nâng đỡ của các chưthần, ngoài các lễ nghi nông nghiệp người Mạ còn tổ chức hiến sinh vào các dịp như cướihỏi, sinh đẻ, làm nhà mới, kết nghĩa anh em, mua sắm tài sản quý (chiêng, chóe, trâu,bò ) Vào tháng Giêng âm lịch, trước khi chọn rừng làm rẫy, người Mạ làm lễ cúng thầnrừng Đó là lễ nghi nông nghiệp quan trọng đầu tiên trong hệ thống lễ nghi nông nghiệphàng năm theo chu kỳ canh tác nương rẫy của người Mạ Trước khi gieo hạt giống, người

ta lại làm lễ cúng hồn lúa Khi lúa trên rẫy ''đến thì con gái '', và sắp trổ đòng thì làm lễ ănmừng và tạ ơn thần lúa Lễ này gọi là lễ Yu tam nơm Đến

Trang 36

khi lúa trổ bông thì làm lễ Yu rmul hay Yu Đụng với vật hiến sinh là lợn hoặc dê và phảikiêng cữ trong 7 ngày liền Trong lễ này, người Mạ dựng cây nêu trên đám rẫy của từnggia đình, nó tượng trưng cho ngôi nhà của hồn lúa Khi công việc thu hoạch mùa đã hoàntất, cây nêu này được đem về nhà cắm vào từng kho thóc của từng gia đình.

Lễ hiến sinh lớn nhất của người Mạ là nghi lễ đâm trâu trong lễ hội mừng lúa mới.Xưa kia, được tiến hành mỗi năm một lần, những buôn làng gần nhau tụ họp lại cùng tổ chức

lễ, đây là một nghi lễ có từ rất xa xưa trong cộng đồng người Mạ cũng như các đân tộc khác

ở Tây nguyên Nó không chỉ là một loại hình tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy, mà lễ hội

đó còn là một sự phản ánh sinh hoạt săn bắn hái lượm tiền nông nghiệp của đồng bào

Văn học, văn nghệ dân gian: Dân tộc Mạ vẫn còn bảo lưu được một kho tàng

văn học nghệ thuật dân gian rất phong phú Đàn đá tìm thấy ở vùng người Mạ nay vẫncòn đang được lưu trữ ở Hoa Kỳ là một loại nhạc cụ tối cổ của nhân loại Nhiều truyềnthuyết, thần thoại, cổ tích, dân ca, luật tục ca, trường ca vẫn còn được bảo lưu trongdân gian vùng người Mạ

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, cuộc sống đanxen với người kinh đã ảnh hưởng rất nhiều đến văn hóa văn hoá dân tộc thiểu số củacác dân tộc này Vẫn còn giữ được truyền thống sinh hoạt theo làng những kiến trúcxây dựng đặc trưng riêng của từng dân tộc đã thay đổi hoàn toàn, thậm chí có dân tộckiến trúc nhà dài đã mất hẳn thay vào đó là kiến trúc bê tông hóa Hình thái kinh tế sảnxuất thay đổi và dẫn đến hoạt động về đời sống văn hóa xã hội cũng cũng thay đổitheo; các nghề thủ công truyền thống đang bị mai một như nghề rèn, dệt, đan látkhông được chú trọng; các hình thức sinh hoạt văn hóa - văn nghệ dân gian vắng dần,

có chăng chỉ còn lại sinh hoạt cồng chiêng và vài điệu múa xoang trong những nghi lễcần thiết Điều này cũng gióng lên “hồi chuông cảnh báo” cho chính các dân tộc vănhoá dân tộc thiểu số và các nhà thực hiện chính sách về dân tộc

(Hình ảnh minh họa đời sống văn hóa dân tộc Mạ, K’Ho, Chu Ru tại phụ lục 1).

2.3 Chính sách và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng

2.3.1 Công tác lập kế hoạch thực hiện chính bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Triển khai các CS bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của Đảng và Nhà nước cho các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, từ năm 2014 đến nay, với sự tham mưu

Trang 37

của nhiều đơn vị chuyên môn và các đơn vị liên ngành, UBND tỉnh Lâm Đồng đã chủđộng xây dựng và ban hành nhiều kế hoạch, quyết định, nghị quyết, chương trình đểtriển khai thực hiện Từ năm 2014 đến năm 2019, bên cạnh các Nghị quyết của Tỉnh ủy

đề ra chủ trương, đường lối về bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc, UBND tỉnh vàngành chức năng cũng ban hành nhiều văn bản pháp lý để triển khai, cụ thể hóa đường

lối của các cấp ủy Đảng về bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc (Phụ lục 3).

Ngoài ra, trong các nghị quyết, quyết định, chương trình hành động, nội dung lập

kế hoạch để thực thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc cũng được thể hiệnđầy đủ theo lộ trình thời gian và gắn với chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị, từng cấp.Với những kế hoạch mang tính chiến lược, tỉnh Lâm Đồng đã và đang cho thấy vấn đềthực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc được thực hiện đầy đủ, phù hợp vớichủ trương, CS của Đảng và Nhà nước

Tuy nhiên, qua nghiên cứu, khảo sát thực tế bên cạnh những kết quả đạt được tácgiả nhận thấy công tác lập kế hoạch vẫn còn một số hạn chế nhất định như sau:

Thứ nhất: Thiếu đội ngũ cán bộ, chuyên gia am hiểu sâu sắc về đời sống kinh tế

văn hóa xã hội của người DTTS hoặc nếu có thì vai trò cũng mờ nhạt

Thứ hai: Việc lập kế hoạch không dự báo được những kết quả dự kiến đạt được

mà mới chỉ đưa ra mục tiêu chung, mục tiêu giai đoạn

Thứ ba: Các nhiệm vụ và giải pháp mang tính chung, có tính chất chỉ đạo điều

hành kể cả phân công nhiệm vụ cho từng đơn vị mà không gắn với kết quả

Thứ tư: Không thể hiện kinh phí cho từng nhiệm vụ hoặc mục tiêu hoặc giai đoạn.

Do vậy trong quá trình triển khai có thể bị ngưng hoặc trì trệ do vấn đề thiếu kinh phí

2.3.2 Tuyên truyền, phổ biến về chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong những năm qua, công tác tuyên truyền, phổ biến về chính bản sắc văn hóacác DTTS tới cán bộ, đảng viên và người dân được tỉnh Lâm Đồng đặc biệt quan tâm.Qua đó nhận thức của cán bộ, nhân dân đã có những chuyển biến tích cực góp phầnnâng cao kết quả và hiệu quả công tác bảo tồn văn hóa dân tộc Báo Lâm Đồng, ĐàiPhát thanh và Truyền hình Lâm Đồng và các cơ quan báo chí thường trú trên địa bàntỉnh… tích cực tuyên truyền về các chủ trương, kế hoạch của tỉnh về bảo tồn văn hóa;giới thiệu mô hình bảo tồn hiệu quả, đồng thời phổ biến những kinh nghiệm hay trongthực hiện công tác bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc ở các địa phương

Trang 38

Tại quyết định số 296/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh phê duyệt đề án

“Bảo tồn và phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên các dân tộc tỉnh lâm đồngđến năm 2020”, tại mục 3, điểm 1 về công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức về disản Không gian văn hóa cồng chiêng trên địa bàn tỉnh đã nêu rõ “Nâng cao nhận thức về vị trí,vai trò của các cấp chính quyền, cộng đồng và chủ nhân di sản văn hóa trong việc gìn giữ, bảotồn, khai thác và phát huy có hiệu quả di sản văn hóa phi vật thể Không gian văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên theo cam kết của nước ta với UNESCO Từng bước khôi phục các giá trịcủa Không gian văn hóa cồng chiêng trong đời sống cộng đồng các DTTS Tây Nguyên ở LâmĐồng, góp phần phát triển văn hóa - du lịch trong thời kỳ hội nhập”

Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 06/03/2018 của UBND tỉnh phê duyệt đề án

“Bảo tồn, phát huy BSVH các DTTS, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thốnggắn với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2018 - 2020 và định hướngđến năm 2030”, tại mục 4 giải pháp thực hiện, điểm 2 Tuyên truyền giáo dục: Có giải pháp

cụ thể hóa các quy định chung của Nhà nước đến cộng đồng DTTS; đảm bảo rõ ràng, ngắngọn, dễ hiểu để mọi người dân dễ dàng tiếp thu và tự giác chấp hành Gắn lợi ích của ngườidân khi tham gia các hoạt động bảo tồn văn hóa để thu hút đông đảo người dân tham gialưu giữ di sản văn hóa truyền thống của mình Tăng cường vận động, tuyên truyền để nângcao ý thức tự giác của người dân, gắn với xã hội hóa trong công tác bảo tồn”

Công tác tuyên truyền về di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh cũng được chú trọngthực hiện thông qua các lễ hội, ngày hội lớn diễn ra trên địa bàn Thông qua các nguồnvốn đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vậtthể các dân tộc thiểu số; ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng thực hiện Dự

án Phục dựng lễ hội Buk Chu Bur của người Churu tại xã Đà Loan, huyện Đức Trọng;

Lễ Pơthi (bỏ mả) của người Churu và nhóm K’ho ở K’Long - huyện Đức Trọng; lễ NhôWèr của cộng đồng K’ho Srê ở huyện Di Linh; các nghi thức cúng lúa rẫy của người

Mạ ở xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm; Lễ đưa lúa về kho của dân tộc K’ho ở huyện LâmHà; Lễ Sạ lúa, Lễ bắt chồng, Ngày Hội đoàn kết cội nguồn của dân tộc Churu huyệnĐơn Dương, Lễ cầu mưa của dân tộc K’ho huyện Đam Rông, Lễ mang lúa về kho củangười K’ho tại Đinh Văn huyện Lâm Hà; lễ cưới của người K’ho Cil tại xã Đạ Chais -Lạc Dương… nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa của bà con dân tộc

Trang 39

Về việc tổ chức thực hiện Đề án Khôi phục một số làng nghề truyền thống, làng vănhóa kiểu mẫu trong vùng đồng bào dân tộc gắn liền với du lịch Lâm Đồng, ngành Văn hóatỉnh Lâm Đồng đã triển khai Bảo tồn Làng truyền thống dân tộc Churu tại xã Proh, huyệnĐơn Dương, tỉnh Lâm Đồng; phát triển các làng nghề thủ công truyền thống như dệt vải,đan lát, làm gốm, làm bạc Bên cạnh đó, thông qua việc tổ chức các lễ hội,

cũng đã góp phần tích cực trong việc tuyên truyền, quảng bá di sản văn hóa, hình ảnh vềvăn hóa, vùng đất và con người Lâm Đồng đến với nhân dân và du khách

Bên cạnh sự tham gia tích cực của cơ quan chủ thể thực hiện CS về bảo tồn và phát huyBSVH các DTBD, trong quá trình thực hiện công tác tuyên truyền thực hiện CS trên địa bàntỉnh Lâm Đồng còn có sự tham gia tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị xã hội như: Mặttrận Tổ quốc các cấp đã chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành viên chỉ đạo các cấp hội cơ sở

tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động hội viên và toàn dân hưởng ứng, tham gia các cuộcvận động, các hoạt động sưu tầm, kiểm kê, phục dựng lễ hội, phục dựng di tích Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch đã tổ chức thực hiện nhiều các hoạt động để bảo tồn và phát huy BSVHcác dân tộc như: Giai đoạn 2014 - 2020, Sở đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức

53 lớp truyền dạy Cồng chiêng thu hút trên 1.400 thanh thiếu niên là người đồng bào dân tộcthiểu số, nhằm lưu giữ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể; tái trang bị các nhạc cụ truyềnthống, trang phục truyền thống cho một số huyện (18 bộ cồng chiêng, 12 bộ trang phục dântộc) Bên cạnh đó, đồng bào dân tộc K’Ho huyện Lạc Dương đã tự đứng ra thành lập các đội,nhóm cồng chiêng để luyện tập, biểu diễn văn hóa cồng chiêng phục vụ khách du lịch, việc nàyvừa giúp tăng thu nhập, cải thiện đời sống kinh tế của bà con, vừa giúp bà con giữ gìn nét sinhhoạt văn hóa truyền thống của dân tộc mình

Ngoài ra, các địa phương còn huy động sự tham gia và nhận được sự phối hợptích cực của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong công tác sưu tầm, kiểm kê,phục dựng và truyền dạy các di sản văn hóa phi vật thể Đặc biệt, hình thức truyền dạyvăn nghệ dân gian mang tính tự phát được phát triển ở các huyện như Lạc Dương, DiLinh, Đam Rông, Đơn Dương và thành phố Đà Lạt…thu hút đông đảo tầng lớp thanhniên đồng bào dân tộc thiểu số tham gia

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, công tác phổ biến, tuyên truyền CS cho ngườidân về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng còn

có một số hạn chế: Công tác tuyên truyền chưa thực sự sâu rộng, hình thức tuyên truyền

Trang 40

còn đơn điệu, còn mang tính phong trào; Công tác vận động tuyên truyền đã được quantâm thực hiện nhưng chưa được thường xuyên phần lớn mới chỉ tâp trung ở những khudân cư đông đúc, ở thành phố, thị trấn Ở những vùng sâu, vùng xa do điều kiện đi lạikhó khăn, công tác tuyên truyền gần như được giao cho cấp xã, cấp xã lại giao cho thôn,buôn Điều này làm cho công tác tuyên truyền thiếu hẳn tính đồng bộ và khó kiểm soát,làm cho công tác bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS khó được kiểm kê, bảo tồn, dẫnđến tình trạng mai một, biến mất Bên cạnh đó do tác động mạnh mẽ của sự phát triểnkinh tế, của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã làm thay đổi môi trường của vănhóa truyền thống; nhiều bản sắc văn hóa dần mai một nên công tác bảo tồn văn hóatruyền thống ngày càng khó khăn.

2.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc

CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS là một CS tương đối rộng bao gồm nhiềuhợp phần CS khác nhau, bên cạnh đó mỗi hợp phần CS lại hướng tới những mục tiêu khácnhau Bởi vậy để tổ chức triển khai thực hiện cần có sự tham gia vào cuộc của rất nhiều cơquan nhà nước khác nhau từ trung ương đến địa phương Sự tham gia vào quá trình tổ chứcthực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS của các cơ quan nhà nước cần phảiđược tổ chức một cách khoa học và hợp lý trên cơ sở tạo ra một cơ chế, cách thức phối hợpđồng bộ, nhịp nhàng và thống nhất nhằm khai thác được năng lực, sở trường cũng như cácđiều kiện vật chất khác của các cấp, các ngành vào quá trình thực hiện CS

Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy BSVH các DTTS,trong những năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành nhiều Nghị quyết lãnhđạo, văn bản chỉ đạo điều hành việc thực hiện CS bảo tồn và phát huy BSVH các DTTStrên địa bàn, ưu tiên nguồn lực cho việc nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê các di sản đang cónguy cơ bị mai một, biến mất Chỉ đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh nâng cao nhậnthức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, bản tồn và phát huy BSVHdân tộc; đồng thời tổ chức tập huấn và bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ văn hóa cho đội ngũcán bộ làm công tác nghiên cứu văn hóa từ tỉnh tới cơ sở, cụ thể:

Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 06/3/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng

về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các DTTS, khôi phục và pháttriển các làng nghề truyền thống gắn với hoạt động du lịch trên địa bàn Lâm Đồng giaiđoạn 2018 - 2020 và định hướng đến năm 2030”, phân công nhiệm vụ cho các sở,

Ngày đăng: 24/03/2021, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w