Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của VPĐK - Luật Đất đai 2003 quy định [15] : "Việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong các trườn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THỊ THU THỦY
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THỊ THU THỦY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Lan
Người KÝ PHÒNG QLĐTSĐH KÝ KHOA CHUYÊN MÔN CHỮ KÝ
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Đinh Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi luôn được sự quan tâm, giúp
đỡ quý báu của tập thể các thầy cô giáo Khoa Môi trường, Khoa Tài nguyên và phongg quản lý sau đại học, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, và đặc biệt là sự giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình của PGS.TS Đỗ Thị Lan, người hướng dẫn khoa học, đã giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn về vấn đề “ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng đang ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ”
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo UBND và các Phòng, ban UBND huyện Yên Lập đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian điều tra số liệu và có những ý kiến đóng góp quý báu cho luận văn của tôi
Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong thời gian học và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn đối với mọi sự quan tâm, giúp đỡ, động viên quý báu và kịp thời đó!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Đinh Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu tổng quát 2
3 Mục tiêu cụ thể 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của đề tài 4
1.1.1 Khái quát chung về đất đai 4
1.1.2 Tổng quan các vấn đề về đăng ký đất đai 4
1.2 Khái quát đăng ký đất đai, bất động sản ở một số nước trên thế giới 7
1.2.1 Đăng ký đất đai ở Thụy Điển 7
1.2.2.Đăng ký đất đai ở Trung Quốc 8
1.2.3 Đăng ký đất đai, bất động sản ở Cộng hòa Pháp 9
1.3 Khái quát về Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở Việt Nam 11
1.3.1 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của VPĐK 11
1.3.2 Hệ thống đăng ký đất đai 13
1.3.3 Thực trạng hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 15
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Về địa điểm, thời gian nghiên cứu: 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Yên Lập 30
2.3.2 Đánh giá thực trạng tình hình hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập 31
2.3.3 Đánh giá của người dân về hoạt động của VPĐKQSDĐ huyện Yên Lập 31
Trang 62.3.4 Nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất, 31
2.3.5.Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất: Ứng dụng giải pháp để tổ chức thực hiện trong 03 tháng để từ đó khẳng định các giải pháp đưa ra có hiệu quả áp dụng tại địa phương 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 31
2.4.2 Phương pháp thống kê, so sánh 32
2.4.3 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan 32
2.4.4 Phương pháp chuyên gia 32
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Yên Lập 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 36
3.1.3 Tình hình quản lý đất đai và sử dụng đất đai huyện Yên Lập 39
3.2 Đánh giá thực trạng tình hình hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập 43
3.2.1 Tổ chức bộ máy 43
3.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đât huyện Yên Lập 45
3.2.3 Cơ chế tài chính cho hoạt động của Văn phòng ĐKQSD đất 47
3.2.4 Điều kiện cơ sở vật chất 47
3.2.5 Quy trình thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai 48
3.2.6 Kết quả hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 54
3.3 Đánh giá của người dân về hoạt động của VPĐK huyện Yên Lập 72
3.3.1 Mức độ tiếp nhận các thủ tục hành chính công khai 72
Trang 73.3.2 Thời gian thực hiện các thủ tục 74
3.3.3 Mức độ hướng dẫn công dân lập hồ sơ của cán bộ 75
3.3.4 Các khoản lệ phí phải đóng 76
3.3.5 Nhận xét 78
3.4 Nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 80
3.4.1 Chính sách pháp luật đất đai, trình độ hiểu biết về pháp luật còn hạn chế của người dân 80
3.4.2 Nguyên nhân về tổ chức, cơ chế hoạt động 80
3.4.3 Nguyên nhân về cơ sở vật chất, kỹ thuật 81
3.4.4 Nguyên nhân về nguồn nhân lực 82
3.4.5 Nguyên nhân về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính của Văn phòng còn chưa phù hợp 83
3.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 83
3.5.1 Giải pháp về chính sách pháp luật, nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân 83
3.5.2 Giải pháp về tổ chức, cơ chế hoạt động 83
3.5.3 Giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật 84
3.5.4 Giải pháp về nhân lực 85
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Đề nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Tình hình thành lập VPĐKQSDĐ các cấp 16
Bảng 1.2: Nguồn nhân lực của VPĐK theo chuyên môn 18
Bảng 3.1: Các loại đất huyện Yên Lập 35
Bảng 3.2: Số liệu tài nguyên khoáng sản huyện Yên Lập 36
Bảng 3.3: Lao động huyện Yên Lập 2010 - 2015 37
Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn huyện yên Lập năm 2014 42
Bảng 3.5 : Thiết bị công nghệ của văn phòng 47
Bảng 3.6: Cơ sở vật chất phục vụ thực hiện nhiệm vụ 48
Bảng 3.7: Hồ sơ và thủ tục xử lý hồ sơ 50
Bảng 3.8: Kết quả cấp giấy chứng nhận QSD đất từ 2011-2014 huyện Yên Lập 55
Bảng 3.9: Kết quả cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình, cá nhân thuê đất trên địa bàn huyện Yên Lập 58
Bảng 3.10: Kết quả cấp GCN cho các cơ quan, tổ chức được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất không phải thuê đất trên địa bàn huyện 59
Bảng 3.11: Kết quả hồ sơ địa chính theo CT 299/TTg trên địa bàn 60
Bảng 3.12: Kết quả lập hồ sơ địa chính chính quy 61
Bảng 3.13: Kết quả chỉnh lý biến động sử dụng đất năm 2013 63
2014 65
Bảng 3.15: Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Yên Lập 69
Bảng 3.16: Mức độ công khai thủ tục hành chính 73
Bảng 3.17: Đánh giá tiến độ giải quyết hồ sơ của VPĐK 74
Bảng 3.18: Đánh giá mức độ hướng dẫn của cán bộ 76
Bảng 3.19: Đánh giá các khoản chi phí ngoài quy định 77
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Trang Hình 1.1 Sơ đồ vị trí VPĐK trong hệ thống cơ quản lý nhà nước
về đất đai 19Hình 3.1: Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Phú Thọ 34Biểu đồ 3.1: Biểu đZồ thể hiện cơ cấu các loại đất trên địa bàn
huyện Yên Lập năm 2014 43Hình 3.2: Quy trình đăng ký cấp GCNQSDĐ lần đầu 49Hình 3.3: Quy trình thủ tục chuyển quyền sử dụng đất 52Hình 3.4: Quy trình đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất 53Hình 3.5: Quy trình xóa đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất 54Biểu đồ 3.2: Kết quả cấp giấy chứng nhận QSD đất từ 2011-2014
huyện Yên Lập 56
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh
Với vai trò cực kỳ quan trọng nhưng đất đai lại bị giới hạn về diện tích
và có tính cố định không thể dịch chuyển của con người Để nắm chắc và thực hiện quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất đai, một trong những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai là đăng ký đất đai (ĐKĐĐ) Tuy nhiên Hệ thống đăng ký đất đai hiện tại của Việt Nam đang chịu một sức ép ngày càng lớn, từ yêu cầu hỗ trợ sự phát triển của thị trường bất động sản và cung cấp khuôn khổ pháp lý để tăng thu hút đầu tư Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cơ bản hoàn thành nhưng nhu cầu giao dịch đất đai thì ngày càng cao Do vậy, một nguyên tắc cơ bản cho hệ thống đăng ký đất đai là đảm bảo tính pháp lý, liên quan đến tính tin cậy, sự nhất quán và tập trung, thống nhất của
dữ liệu địa chính Đặc biệt hoạt động đăng ký đất đai được Luật Đất đai 2003 quy định thống nhất tiến hành tại một cơ quan được thành lập mới là Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (ĐKQSDĐ)
Sau hơn 10 năm triển khai thi hành Luật đất đai năm 2003, đến nay đang thực hiện Luật đất đai 2013, VPĐKQSDĐ đã được thành lập tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các huyện trực thuộc tỉnh Hoạt động của VPĐKQSDĐ gắn liền với việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước Bên cạnh hiệu quả thực sự đã đem lại của hệ thống Văn phòng ĐKQSD đất vẫn còn tồn tại nhiều bất cập đó là: Việc cung cấp và thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận, đăng ký giao dịch đảm bảo và chỉnh lý biến động đất đai đang là một trong những vấn đề bức xúc chưa được giải quyết triệt để nên rất cần sự nỗ lực nhiều hơn khi triển khai hệ thống đăng ký đất đai ở cấp địa phương
Trang 12Yên Lập là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ hiện nay đang phát triển đẩy mạnh thực hiện CNH - HĐH địa phương, cơ cấu kinh tế của huyện đang chuyển dịch theo hướng giảm dần cơ cấu Nông nghiệp, tăng cơ cấu Công nghiệp
& Dịch vụ và xây dựng Nông thôn mới Đất đai trở thành nguồn nội lực phát triển của địa phương, nhu cầu đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ ngày càng tăng, các giao dịch QSDĐ tăng Vì vậy, để tăng cường công tác quản lý nhà nước
về đất đai nói chung trong đó có việc tạo cơ chế thông thoáng, nhanh chóng trong thực hiện các thủ tục hành chính để thu hút các nguồn lực đầu tư của các cơ quan,
tổ chức và cá nhân vào huyện góp phần nhanh chóng phát triển nền kinh tế, xã hội của huyện và xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2015 và hoàn thành vào năm 2020 nên đòi hỏi nhiệm vụ quản lý phải được coi trọng hơn bao giờ hết, Văn phòng ĐKQSDĐ được thành lập bước đầu đã giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Yên Lập thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ đề ra
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” Dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Thị Lan – Giảng viên khoa Môi trường- Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên, cùng với sự giúp đỡ của Văn phòng ĐKQSD
đất huyện Yên Lập
2 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ từ khi được thành lập (9/2011) đến nay, đặc biệt là sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 để tìm được những mặt mạnh và tồn tại trong hoạt động Văn phòng
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập trong giai đoạn tới
3 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá chung về hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập trên cơ sở các số liệu điều tra, thu thập phải đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực
Trang 13Đánh giá được các ưu, nhược điểm về hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập
Nghiên cứu tìm ra nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của Văn phòng thông qua việc tham gia đánh giá của người dân trong quá trình tổ chức thực hiện
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học: Làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành trong việc thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận, đăng ký giao dịch đảm bảo và chỉnh lý biến động đất đai; thực trạng và tồn tại trong lĩnh vực trên nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp
- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp học viên củng cố những kiến thức đã học và tiếp xúc thực tế với vấn đề nghiên cứu Giúp cơ quan quản lý nắm chắc, quản chặt các giao dịch, các dịch vụ công về đất đai, giảm khiếu kiện về đất đai, giảm các giao dịch phi chính thức và tăng thu cho ngân sách nhà nước
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của đề tài
1.1.1 Khái quát chung về đất đai
Đất đai là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tài nguyên không thể tái tạo Đất đai có vai trò, ý nghĩa đặc trưng là: Nơi ở, nơi xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và là tư liệu sản x
trái đất; các dạng thổ nhưỡng và địa hình, thủy văn bề mặt (gồm: hồ, sông, suối
và đầm lầy nước cạn); lớp trầm tích và kho dự trữ nước ngầm sát bề mặt trái đất;
tập đoàn thực vật và động vật; trạng thái định cư của con người và những thành quả vật chất do các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại tạo ra”
1.1.2 Tổng quan các vấn đề về đăng ký đất đai
1.1.2.1 Khái niệm về đăng ký đất đai
Trước hết chúng ta đều thấy rằng trong thực tế đời sống xã hội có rất nhiều công việc phải đăng ký (sinh tử, kết hôn, nuôi con nuôi ), hoặc phát sinh nhu cầu sở hữu, nhu cầu sử dụng tài sản (đăng ký nhà ở, xe ) và khi phát sinh các nhu cầu khác Trong các việc đăng ký trên có những việc phải đăng ký với cơ quan nhà nước, song cũng có việc đăng ký theo tự nguyện của người có nhu cầu Đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai thì công tác Đăng ký đất đai
là yêu cầu bắt buộc, bởi:
- Theo Luật đất đai 2003 đã quy định: Đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Việc đăng ký đất đai sẽ cung cấp cho Nhà nước mọi thông tin về đất đai để từ đó có thể đưa ra những biện pháp quản lý sử dụng đất đai có hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm Do vậy, mọi đối tượng sử đụng dất phải thực hiện trong các trường hợp: Đang sử đụng dất chưa
Trang 15được cấp giấy chứng nhận QSD đất; thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại QSD đất; thế chấp, bảo lãnh bằng quyền SDĐ; người nhận quyền sử dụng đất; người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận QSD đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đổi tên, chuyển mục đích, thay đổi thời hạn và thay đổi ranh giới thửa đất hoặc thay đổi những nội dung quyền sử dụng đất (Điều 46 Luật đất đai 2003)[15]
- Theo Luật Đất đai 2013 quy định [16]: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm đăng ký lần đầu và đăng ký biến động, được thực hiện tại tổ chức đăng ký đất đai thuộc cơ quan quản lý đất đai, bằng hình thức đăng ký trên giấy hoặc đăng ký điện tử và có giá trị pháp lý như nhau
- Theo Bộ Luật Dân sự [14]: Liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất khi thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất tại VPĐK, quyền sở hữu được
Bộ luật Dân sự 2005 quy định cụ thể bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật (Điều 164); Việc đăng ký quyến sở hữu tài sản (điều 167) Việc đăng ký quyền sở hữu tài sản (Điều 167); Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản (Điều 168); Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản (Điều 173) Trên
cơ sở đó, pháp nhân, thể nhân tự xác định quyền và nghĩa vụ của mình về bất động sản hợp pháp (trong đó có quyền sử dụng đất) đối với Nhà nước và cơ quan
có thẩm quyền
Như vậy, Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính nhằm thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ và cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và người sử dụng đất để làm cơ sở cho Nhà nước có thể nắm chắc và quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật cũng như bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của người sử dụng đất
Trang 16Tuy nhiên đăng ký đất đai không chỉ là công tác đăng ký ban đầu để thành lập
hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà còn cả công tác đăng
ký biến động Bởi trong quá trình phát triển ngày càng mạnh mẽ của xã hội, sự biến động của đất đai tất yếu sẽ diễn ra với mức độ và hình thức ngày càng đa dạng như: chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, cho thuê…Do vậy, đăng ký đất đai phải được thực hiện thường xuyên, liên tục ở mọi nơi, mọi lúc để đảm bảo nhà nước luôn nắm vững hiện trạng sử dụng đất, người sử dụng đất được thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình theo đúng pháp luật
1.1.2.2 Cơ sở đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất
Theo Nguyễn Thị Lợi (2011) [9], cở sở để đăng ký đất đai bao gồm:
a Hồ sơ đất đai, tài sản gắn liền với đất
Hồ sơ đất đai, tài sản gắn liền với đất chứa đựng những thông tin liên quan tới thuộc tính, chủ quyền và chủ thể có chủ quyền đối với đất đai, bất động sản
Hồ sơ đất đai, vất động sản được lập để phục vụ cho lợi ích của nhà nước và phục vụ quyền lợi của công dân
- Đối với Nhà nước : để thực hiện việc thu thuế cũng như đảm bảo cho việc quản lý, giám sát, sử dụng và phát triển đất đai một cách hợp lý và hiện quả
- Đối với các tổ chức cá nhân, việc lập hồ sơ đảm bảo cho nguời sở dụng có các quyền thích hợp để họ có thể giao dịch một cách thuận lợi, nhanh chóng, an toàn và với một chi phí thấp
b Nguyên tắc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất
Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất dựa trên những nguyên tắc :
- Nguyên tác đang nhập hồ sơ;- Nguyên tắc công khai;
- Nguyên tắc chuyên biệt hóa.- Nguyên tắc đồng thuận
Các nguyên tắc này giúp các hồ sơ đăng ký đất đai, bất động sản được công khai, thông tin chính xác và tính pháp lý của thông tin được pháp luật bảo vệ Đối tượng đăng ký được xác định một cách rõ ràng, đơn nghĩa, bất biến về pháp lý
Trang 17c Đơn vị đăng ký - thửa đất
Trong các hệ thống đăng ký giao dịch cổ điển, đơn vị đăng ký - thửa đất không được xác định một cách đồng nhất, đúng hơn là không có quy định, các thông tin đăng ký được ghi vào sổ một cách độc lập theo từng vụ giao dịch Trong hệ thống đăng ký văn tự giao dịch, nội dung mô tả ranh giới thửa đất chủ yếu bằng lời, có thể có hoặc không kèm theo sơ đồ
Như vậy, “Thửa đất” được hiểu là một phần bề mặt trái đất, có thể liền mảnh hoặc không liền mảnh, được coi là một thực thể đơn nhất và độc lập để đăng ký vào hệ thống hồ sơ với tư cách là một đối tượng đăng ký có một số hiệu nhận biết duy nhất Việc định nghĩa một cách rõ ràng đơn vị đăng ký là vấn đề quan trọng cốt lõi trong từng hệ thống đăng ký
1.2 Khái quát đăng ký đất đai, bất động sản ở một số nước trên thế giới
1.2.1 Đăng ký đất đai ở Thụy Điển
Theo Đặng Anh Quân (2011) [13]: Tại Thụy Điển, pháp luật đất đai về cơ bản là dựa trên việc sở hữu tư nhân về đất đai và nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, sự giám sát chung của xã hội tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực, ví dụ như phát triển đất đai và bảo vệ môi trường Hoạt động giám sát là một hoạt động phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường cho dù hệ thống pháp luật về chi tiết được hình thành khác nhau
Hệ thống pháp luật về đất đai của Thụy Điển gồm có rất nhiều các đạo luật, luật, pháp lệnh phục vụ cho các hoạt động đo đạc địa chính và quản lý đất đai Các hoạt động cụ thể như hoạt động địa chính, quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản và việc xây dựng ngân hàng dữ liệu đất đai v.v đều được luật hoá Dưới đây là một số điểm nổi bật của pháp luật, chính sách đất đai của Thụy Điển:
- Việc đăng ký quyền sở hữu: Việc đăng ký quyền sở hữu khi thực hiện chuyển
nhượng đất đai: Toà án thực hiện đăng ký quyền sở hữu khi có các chuyển nhượng đất đai Người mua phải đăng ký quyền sở hữu của mình trong vòng 3 tháng sau khi mua Bên mua nộp hợp đồng chuyển nhượng để xin đăng ký Toà án sẽ xem xét, đối chiếu với Sổ đăng ký đất Nếu xét thấy hợp pháp, sẽ tiến hành đăng ký quyền sở hữu
Trang 18để người mua là chủ sở hữu mới Các bản sao của hợp đồng chuyển nhượng sẽ lưu tại toà án, bản gốc được trả lại cho người mua Toà án cũng xem xét các hạn chế về chuyển nhượng của bên bán (ví dụ cấm bán)
Đăng ký đất là bắt buộc nhưng hệ quả pháp lý quan trọng lại xuất phát từ hợp đồng chứ không phải từ việc đăng ký Vì việc chuyển nhượng là một hợp đồng cá nhân (không có sự làm chứng về mặt pháp lý và không có xác nhận của
cơ quan công chứng) nên rất khó kiểm soát việc đăng ký Nhưng ở Thụy Điển, hầu như tất cả các chuyển nhượng đều được đăng ký Vì việc đăng ký sẽ tăng thêm sự vững chắc về quyền sở hữu của chủ mới, tạo cho chủ sở hữu mới quyền được ưu tiên khi có tranh chấp với một bên thứ ba nào đó và quan trọng hơn, quyền sở hữu được đăng ký rất cần thiết khi thế chấp
1.2.2.Đăng ký đất đai ở Trung Quốc
Đối với Trung Quốc không thừa nhận tư hữu đối với đất đai Dưới hệ thống kinh tế kế hoạch Xã hội chủ nghĩa (XHCN), quyền sở hữu tài sản đối với tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sản xuất phần lớn đều bị quốc hữu hóa ngay sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền lực vào năm 1949 Quá trình này được tiến hành song song với các “phong trào”: “Bước nhảy vĩ đại” (1957 – 1962); “Tập thể hóa đất đai ở nông thôn” (1963 – 1965); “Cách mạng văn hóa” (1966 – 1978) Tuy nhiên, việc quốc hữu hóa toàn bộ đất đô thị của nước này chỉ chính thức hoàn tất sau khi Hiến pháp 1982 được ban hành Đất đô thị thuộc về Nhà nước và được quản lý bởi nhà nước Trung Quốc - người chịu trách nhiệm trước toàn xã hội Quyền sở hữu đối với bộ phận đất đai này được chính thức gọi là sở hữu toàn dân XHCN (socialist people’s ownership) Là người đại diện cho toàn dân, về mặt lý thuyết, nhà nước Trung Quốc có toàn quyền của một chủ sở hữu Theo học thuyết của chủ nghĩa Mác, đất đai lúc bấy giờ đã bị loại khỏi các giao dịch mang tính kinh tế ở Trung Quốc vì bản thân nó không có giá trị Thay vào đó, hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã thực hiện phân phối đất đai theo các kênh hành chính (administration channels) mà theo đó người sử dụng đất (SDĐ) không bị buộc phải trả bất cứ khoản tiền nào
Trang 19cho việc SDĐ của mình Tuy nhiên, họ cũng không được phép chuyển nhượng phần đất mà mình được sử dụng Đất đai lúc bấy giờ được coi là một loại tài sản mang tính phúc lợi xã hội được phân phối miễn phí
Theo khoản 4 Điều 10 Hiến pháp 1982 Trung Quốc, không tổ chức, cá nhân nào được phép chiếm đoạt, mua, bán, cho thuê hay chuyển nhượng đất đai dưới bất kỳ hình thức nào Như vậy, không khác gì thời kỳ kinh tế tập trung của Việt Nam, ở Trung Quốc lúc bấy giờ không hề tồn tại cơ chế thị trường nào cho người SDĐ để họ có thể trao đổi đất đai như một loại hàng hóa Hậu quả là đất đai bị sử dụng một cách không hiệu quả và lãng phí Quy định hạn chế nói trên
rõ ràng đi ngược lại với quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế – xã hội cho nên chỉ phát huy được hiệu lực trong một thời gian ngắn Người SDĐ trên thực tế vẫn tiến hành trao đổi đất đai như một loại hàng hóa Chính vì vậy, thị trường đất đai “không chính thức” – còn gọi là “chợ đen” (black market) nhưng năng động đã bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc Ở đó, nhiều nông dân, hợp tác xã
đã lén lút bán hoặc cho thuê đất của mình cho các doanh nghiệp có nhu cầu Đây chính là nhân tố tạo đà cho quá trình thực hiện cải cách chính sách đất đai ở nước này(Anh Tuấn, 2012) [19]
1.2.3 Đăng ký đất đai, bất động sản ở Cộng hòa Pháp
Theo Lưu Quốc Thái (2007) [21]: Luật ngày 28 tháng 3 năm 1895 là đạo luật đầu tiên quy định một cách có hệ thống việc đăng ký tất cả các quyền đối với bất động sản, kể cả những quyền không thể thế chấp (quyền sử dụng bất động sản liền
kề, quyền sử dụng và quyền sử dụng làm chỗ ở) và một số quyền đối nhân liên quan đến bất động sản (thuê dài hạn) Luật này cũng quy định cơ chế công bố công khai tất cả các hợp đồng, giao dịch giữa những người còn sống về việc chuyển nhượng quyền đối với bất động sản Và phải tuân thủ bốn nguyên tắc chung đó là:
- Hợp đồng, giao dịch phải do Công chứng viên lập
Điều kiện này là điều kiện tiên quyết để đảm bảo thực hiện tốt các thủ tục đăng ký về sau và còn đảm bảo sự kiểm tra của một viên chức công quyền đối
Trang 20riêng của văn bản công chứng (ngày tháng hiệu lực chắc chắn và giá trị chứng cứ), đã đem lại sự an toàn pháp lý cần thiết để sở hữu chủ có thể thực hiện quyền
sở hữu của mình mà không bị bất kỳ sự tranh chấp nào
- Tuân thủ dây chuyền chuyển nhượng
Nguyên tắc này đảm bảo tính tiếp nối trong việc đăng ký : Mọi hợp đồng, giao dịch đều không được phép đăng ký nếu như giấy tờ xác nhận quyền của sở hữu chủ trước đó chưa được đăng ký Sở dĩ phải đặt ra nguyên tắc này là vì để thông tin đầy đủ cho người thứ ba thì nhất thiết phải đảm bảo khả năng tái lập một cách dễ dàng thứ tự của các lần chuyển nhượng quyền sở hữu trước đó
- Thông tin về chủ thể
Nguyên tắc này thể hiện mọi hợp đồng, văn bản đem đăng ký đều phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ nơi cư trú, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, họ tên của vợ hoặc chồng, chế độ tài sản trong hôn nhân của các cá nhân tham gia vào hợp đồng, giao dịch, cho dù họ trực tiếp có mặt hay tham gia thông qua người đại diện Mọi hợp đồng, văn bản liên quan đến một pháp nhân đều phải ghi rõ tên gọi, hình thức pháp lý, địa chỉ trụ sở, thông tin đăng ký kinh doanh của pháp nhân đó, kèm theo họ, tên và địa chỉ nơi cư trú của người đại diện của pháp nhân
đó Đối với pháp nhân cũng như cá nhân thì ở phần cuối của hợp đồng, văn bản đều phải có lời chứng thực của công chứng viên
- Thông tin về bất động sản
Kể từ cuộc cải cách năm 1955, mọi tài liệu đăng ký đều phải có đầy đủ
thông tin cụ thể về bất động sản Trường hợp có nhiều giao dịch tiếp nối nhau đối với cùng một bất động sản thì những thông tin đó phải luôn giống nhau Đối với mọi bất động sản được đem chuyển nhượng, xác lập quyền sở hữu hoặc thừa
kế, cho tặng, di tặng, thông tin về bất động sản đó phải hoàn toàn phù hợp với thông tin trích lục từ hồ sơ địa chính
Pháp luật còn đưa ra một số quy định đặc biệt đối với các phần có thể phân chia của nhà chung cư, cũng như đối với các phần của bất động sản đã phân chia giữa nhiều chủ sở hữu, nhằm mục đích xác định rõ các phần đó Trong hợp đồng, giao dịch cần phải ghi rõ số lô của tài sản được giao dịch, bằng cách mô tả tình trạng phân chia của bất động sản chung nếu là nhà chung cư hoặc kèm theo hồ sơ chia lô (nếu là đất chia lô)
Trang 211.3 Khái quát về Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở Việt Nam
1.3.1 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của VPĐK
- Luật Đất đai 2003 quy định [15] : "Việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong các trường hợp; Người đang sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Người sử dụng đất thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, nhận thừa kế, tặng, cho, cho thuế, cho thuê lại quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; Người sử dụng đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩn quyền cho phép đổi tên, chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi đường ranh giới thửa đất; Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành"
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ về thi hành Luật đất đai quy định: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và thành lập các chi nhánh của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại các địa bàn cần thiết; UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh căn
cứ vào nhu cầu đăng ký quyền sử dụng đất trên địa bản quyết định thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng TN &MT (Chính phủ, 2004) [6]
- Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV, ngày 31 tháng 12 năm
2004 hướng dẫn chức năng, ngày hiệm vụ và tổ chức của VPĐK và tổ chức phát triển quỹ đất Trong đó quy định việc thành lập VPĐK khi chưa có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, nhân lực; hoạt động của tổ chức VPĐK gắn liền với công tác cải cách hành chính (Bộ TNMT- Bộ Nội vụ, 2004)[2]
- Thông tư số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT, ngày 18 tháng 4 năm 2005 của liên
Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc luân chuyển hồ sơ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc luân chuyển hồ sơ về nghĩa vụ tài chính, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách một bước thủ tục hành chính khi người sừ dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất và nhà (nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế chuyền quyền sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất,
Trang 22thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất lệ phí trước bạ và các khoản thu khác nếu có) (Bộ Tài chính - Bộ TNMT, 2005) [1]
- Thông tư liên tịch số 05/TTLT-BTP-BTNMT, ngày 16 tháng 6 năm
2005 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Thông tư quy định phạm vi điều chỉnh, các trường hợp đăng ký thế chấp, bảo lãnh tài VPĐK; Các quy định liên quan đến thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VPĐK, quy trình thực hiện thủ tục đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất (Bộ Tư pháp và Bộ TNMT, 2005) [4]; Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 sửa đổi, bổ sung một
số quy định của thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh
- Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
- Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
- Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính;
- Thông tư Liên tịch số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2008 của Liờn Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc ủy ban nhân dân các cấp;
- Nghị định 88/2009/NĐ-CP về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất cũng như xác lập quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai
Trang 23- Thông tư 17/2009/TT-BTNMT hướng dẫn về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Được quy định cụ thể và thống nhất trên toàn quốc việc sử dụng giấy chứng nhận một mẫu chung cho tất cả các loại đất và nhà cũng như tài sản khác gắn liền trên đất, việc thể hiện các thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, hình thức sử dụng đất và tài sản, loại đất theo mục đích sử dụng, nguồn gốc
sử dụng đất (điều 3 đến điều 5)
- Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 15 tháng
3 năm 2010 hướng dẫn về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế và
cơ chế tài chính của VPĐK quyền sử dụng đất
- Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm
- Thông tư số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18/11/2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp QSD đất, tài sản gắn liền với đất
* Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thực hiện
- Luật đất đai năm 2013 quy định [16]: “Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu” “Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm đăng ký lần đầu và đăng ký biến động , được thực hiện tại tổ chức đăng ký đất đai thuộc cơ quan quản lý đất đai ” (điều 95)
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai quy định [7]: Tại điều 5 quy định về văn phòng đăng ký đất đai
là đơn vị sự nghiệp công thuộc sở Tài nguyên & Môi trường; quy định rõ chức năng thực hiện các nhiệm vụ công việc tại Văn phòng đăng ký đất đai
1.3.2 Hệ thống đăng ký đất đai
1.3.2.1 Giai đoạn trước khi có Luật đất đai
- Chỉ thị 299-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính Phủ "Về việc đo đạc
và đăng ký thống kê ruộng đất" đã lập được hệ thống hồ sơ đăng ký cho toàn bộ đất nông nghiệp và một phần diện tích đất thuộc khu dân cư nông thôn
Trang 241.3.2.2 Giai đoạn từ khi có Luật đất đai 1988 đến Luật đất đai 1993
- Luật đất đai 1988 quy định "Khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho phép chuyển quyền sử dụng, thay đổi mục đích sử dụng hoặc đang
sử dụng đất hợp pháp mà chưa đăng ký phải xin đặng ký đất đại tại cơ quan Nhà nước Ủy ban nhân dân quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và UBND xã thuộc huyện lập, giữ hồ sơ địa chính, vào sổ địa chính cho người SDĐ và tự mình đăng ký đất chưa sử dụng vào sổ địa chính"
- Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định số 201/ĐKTK ngày 14/7/1989 về cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng dất và thông tư số 302/ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thực hiện quyết định 201/ĐKTK đã tạo ra một sự chuyển biến lớn về chất cho hệ thống đăng ký đất đai của Việt Nam"
1.3.2.3 Giai đoạn từ khi có Luật đất đai 1993 đến Luật đất đai 2003
- Luật Đất đai năm 1993 quy định "Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
"Người đang sử dụng đất tại xã, phường, thị trấn nào thì phải đăng ký tại xã, phường, thị trấn đó- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập và quản lý sổ địa chính, đăng ký vào sổ địa chính đất chưa sử dụng và sự biến động về việc sử dụng đất"
- Luật sửa đổi bổ sung Luật Đất đai 2001
1.3.2.4 Giai đoạn thực hiện Luật đất đai 2003
Theo quy định pháp luật đất đai hiện hành đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào các mục đích; Nhà nước còn cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất Do vậy, ở nước ta đăng ký đất đai là đăng ký quyền sử dụng đất Nhà nước giao, cho thuê
Luật đất đai năm 2003 quy định cụ thể nhiệm vụ [15]: "Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử đụng dất"
- Hệ thống ĐKĐĐ có hai loại là đăng kJý ban đầu và đăng ký biến động
Trang 25+ Đăng ký ban đầu được thực hiện khi NJhà nước giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân;
+ Đăng ký biến động - đăng ký những biến động đất đai trong quá trình sử dụng do thay đổi diện tích (tách, hợp thửa đất, sạt lở, bồi lấp ), do thay đổi mục đích
sử dụng, do thay đổi quyền và các hạn chế về quyền sử dụng đất
- Cơ quan đăng ký đất đai : Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng quản lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người
sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ"
1.3.2.5 Thực hiện Luật đất đai 2013
- Luật đất đai năm 2013 quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai đối với đất đai thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nhà nước cũng quy định, đăng ký đất đai là việc ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với thửa đất vào hồ sơ địa chính
- Cơ quan đăng ký đất đai: Việc thực hiện đăng ký đất đai tại cơ văn phòng đăng ký đất đai, là đon vị sụ nghiệp công trực thuộc sỏ Tài nguyên và Môi trường, có chi nhánh tại cá quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
- Chức năng của văn phòng đăng ký đất đai là thực hiện đăng ký đất đai
và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý tống nhất
hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai; cung cấp thong tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu
1.3.3 Thực trạng hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
1.3.3.1 Khái quát về hoạt động
Theo báo cáo của Cục Đăng ký thống kê - Tổng cục Quản lý đất đai [18] tính đến tháng 12 năm 2012 cả nước đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập VPĐK cấp tỉnh (chi tiết xem bảng …) Trong đó Hậu Giang là tỉnh thành lập sớm nhất 06/9/2004, Điện Biên là tỉnh chậm nhất 28/3/2007 Có 39 tỉnh thành lập đúng thời hạn quy định tại Nghị định 181/2004/NĐ-CP (trước 01/7/2005)
Trang 26Đồng bằng sông Cửu Long 13 13 11 13 121 131 30 130
(Nguồn: Cục Đăng ký và thông kê đất đai, 2012)[18]
Trong số các tỉnh đã thành lập VPĐK cấp huyện có 5 tỉnh đã thành lập xong VPĐK cho tất cả các huyện gồm Đà Nẵng, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh và Tiền Giang Có 7 tỉnh mới chỉ thành lập Văn phòng đăng ký tại đô thị gồm Cao Bằng, Thái Nguyên, Hải Dương, Ninh Thuận, Đắk Lắc, Đắk Nông và Lâm Đồng
Một số VPĐK không trực thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường theo quy định mà trực thuộc UBND cấp huyện như huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, thành phố Vinh tỉnh Nghệ An, thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng, đã dẫn đến sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trong tổ chức, chỉ đạo cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, sự phân tán trong quản lý hồ sơ địa chính; làm cho thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thêm phức tạp, kéo dài do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan này
Thực hiện Quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện Đề án thí điểm VPĐKQSDĐ thành một cấp
Trang 27trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện nay có 23 VPĐKQSDĐ cấp huyện của các tỉnh, thành phố: Hà Nam, Hải Phòng, Đà Nẵng và Đồng Nai đã chuyển thành Chi nhánh VPĐKQSDĐ trực thuộc VPĐKQSDĐ Sở Tài nguyên
và Môi trường
1.3.3.2 Cơ cấu, tổ chức
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có Giám đốc và không quá 02 (hai) Phó Giám đốc Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện theo phân cấp quản lý cán bộ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định của pháp luật
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên
và Môi trường, bao gồm một số phòng chuyên môn nghiệp vụ như: Phòng Hành chính - tổng hợp, Phòng Quản lý đất đai, Phòng Kỹ thuật nghiệp vụ, Phòng Lưu trữ và Cung cấp thông tin VPĐKQSDĐ cấp huyện trực thuộc Phòng Tài nguyên
và Môi trường
- VPĐKQSDĐ các cấp có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là giúp cơ quan tài nguyên và môi trường làm đầu mối tổ chức thực hiện các thủ tục về đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; lập và chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính; tổ chức thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai theo định kỳ; cung cấp thông tin đất đai phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu
- Về nguồn nhân lực của VPĐK quyền sử dụng đất: Theo báo cáo Tổng cục Quản lý đất đai, tổng số cán bộ của 63 VPĐK cấp tỉnh, tính đến tháng 12 năm 2013 là 2.065 người, trung bình mỗi VPĐK cấp tỉnh có 32 người Trong tổng số lao động hiện có của các VPĐK cấp tỉnh có 952 người trong biên chế nhà nước (chiếm 46%) và có 1.113 người hợp đồng dài hạn (chiếm 54%) Tuy nhiên kinh nghiệm chuyên môn của đội ngũ nhân viên VPĐK cấp tỉnh hạn chế; đa số mới được tuyển dụng khi thành lập VPĐK hoặc chỉ có từ 1-5 năm làm việc tại các đơn vị chuyên môn khác (chủ yếu là Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường) chuyển sang Tổng số lao động của VPĐK cấp huyện tính đến tháng 12
Trang 28năm 2013 có 6.862 người, trung bình mỗi VPĐK có 11 người
Bảng 1.2: Nguồn nhân lực của VPĐK theo chuyên môn
Đo đạc
BĐ
Tin học
Còn lại
Đất đai
Đo đạc
BĐ
Tin học
Còn lại
Cả nước 2065 867 378 201 619 6862 2915 1232 539 2176
Miền Núi Phía Bắc 316 136 45 37 98 760 318 133 82 227 Đồng Bằng Bắc Bộ 298 138 56 27 77 752 270 108 79 295 Bắc Trung Bộ 171 67 35 15 54 461 172 75 64 150 Nam Trung Bộ 314 131 56 30 97 907 365 156 71 315
Đông Nam Bộ 313 116 60 33 104 1584 684 316 64 520 Đ.b sông Cửu Long 572 247 112 52 161 1914 888 370 120 536
(Nguồn: Cục Đăng ký và thông kê đất đai, 2012[18])
Về trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động tại các VPĐK cấp huyện hầu hết đều đã được đào tạo chuyên môn ở trình độ từ trung cấp trở lên; tuy nhiên chỉ có hơn 35% lao động đã làm việc tại Phòng Tài nguyên và Môi trường; gần 65% lao động mới được tuyển dụng chưa có kinh nghiệm công tác thường phụ trách các công việc đơn giản như chuyển, sao chép hồ sơ, phụ đo đạc Đây là khó khăn rất lớn ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công việc chuyên môn của VPĐK Hơn nữa việc đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn cho hệ thống VPĐK quyền sử dụng đất còn hạn chế
1.3.3.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Văn phòng đăng ký
* Theo quy định của Luật đất đai năm 2003
Theo quy định, VPĐKQSDĐ cấp tỉnh và cấp huyện là cơ quan dịch vụ công hoạt động theo loại hình sự nghiệp có thu, có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất, chỉnh lý thống nhất biến động sử dụng đất và quản lý hồ sơ địa chính; tham mưu cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật (hình 1.1)
Trang 29Hình 1.1 Sơ đồ vị trí VPĐK trong hệ thống cơ quản lý nhà nước về đất đai
(Nguồn: Sơ đồ minh họa theo quy định Luật Đất đai 2003)
Nhiệm vụ cụ thể của VPĐK: Giúp các cấp quản lý trực tiếp làm đầu mối thực hiện các thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thẩm quyền cho các đối tượng sử dụng đất ở địa phương Đăng ký sử dụng đất và chỉnh lý biến động về sử dụng đất theo quy định của pháp luật khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất; Lập và quản lý toàn bộ HSĐC gốc đối với tất cả các thửa đất thuộc phạm vi địa giới hành chính; Chỉnh lý HSĐC gốc khi có biến động về sử dụng
UBND huyện, quận, thị
xã thuộc tỉnh
UBND xã, phường, thị trấn Phòng TNMT
Bộ TN&MT
Chính phủ
Sở TN&MT
Trang 30đất theo thông báo của cơ quan tài nguyên và môi trường; Lưu trữ HSĐC, hệ thống thông tin đất đai (Bộ Tài nguyên và môi trường và Bộ tài chính, 2010) [3].
Như vậy, về chức năng nhiệm vụ, hoạt động VPĐK có 3 chức năng chính
là : Quản lý HSĐC gốc; chỉnh lý thống nhất HSĐC; phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ Với tư cách là tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai, vai trò của VPĐK trong cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý đất đai
ở địa phương là rất quan trọng vì:
- Hoạt động của VPĐK đã cơ bảm tách bạch giữa hoạt động quản lý nhà
nước với hoạt động của đơn vị sự nghiệp, trong đó trực tiếp, cụ thể là cơ quan chuyên môn trực thuộc Khác với các quy định trước đây, cơ quan nhà nước ở địa phương (UBND cấp có thẩm quyền) chỉ thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu
về đất đai địa phương thông qua việc ký các quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất Còn lại, việc đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được giao cho cơ quan chuyên môn trực tiếp thực hiện
- Theo quy định của pháp luật, hiện nay VPĐK các cấp là tổ chức xây
dựng, chỉnh lý, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu địa chính giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai Là mô hình tổ chức duy nhất thực hiện các thủ tục
có liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đây là chứng thư pháp lý đảm bảo cho người sử dụng đất an tâm đầu tư trên thửa đất của mình Mặt khác, chỉ có VPĐK mới được quyền chỉnh lý, cập nhật, quản lý, lưu trữ HSĐC cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng đất
- Hoạt động của VPĐK đã và đang góp phần giảm thiểu những vướng mắc,
ách tắc trong việc đăng ký quyền sử dụng đất cũng như đăng ký bất động sản trong nền kinh tế thị trường, đáp ứng cung - cầu về đất đai cho đầu tư phát triển kinh tế thời ký công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới
- Từ hoạt động của VPĐK, những năm gần đây cùng với việc quản lý, điều
chỉnh biến động đất đai theo yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng địa phương, VPĐK đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ
Trang 31cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đưa tỷ lệ cấp giấy cho các đối tượng sử dụng đất tăng nhanh so với thời ký trước khi có Luật đất đai 2003, tạo môi trường lành mạnh và thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài vào Việt Nam
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có vai trò quan trọng trong quan hệ
đất đai, nó không chỉ làm cầu nối trực tiếp giữa người sử dụng đất, nhà đầu tư với các cơ quan quản lý mà còn có tác dụng tăng cường các giao dịch đảm bảo đối với nguồn vốn từ đất đai giữa người sử dụng đất nói chung với các tổ chức tín dụng, cơ quan thuế của nhà nước thông qua các hoạt động thế chấp, bảo lãnh vay vốn, thu thuế, phí góp phần tăng nguồn thu từ đất đai cho ngân sách nhà nước
- Hoạt động của VPĐK đòi hỏi phải chuyên môn hóa công tác đăng ký
quyền sử dụng đất So với trước đây, chuyên môn hóa trong hoạt động đăng ký quyền sử dụng đất đã được áp dụng rộng rãi thông qua việc đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ điện tử trong những năm tới Mặt khác, tính công khai, minh bạch được thể hiện đầy đủ, nghiêm túc trong hoạt động của VPĐK thông qua việc cải cách thủ tục hành chính
*Theo quy định của Luật đất đai năm 2013
Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 [16], Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc tổ chức lại trên cơ sở hợp nhất Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hiện có
ở địa phương; có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động theo quy định của pháp luật
Văn phòng đăng ký đất đai có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu;
Văn phòng đăng ký đất đai có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai được thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai theo quyết định của Ủy
Trang 32Kinh phí hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Văn phòng đăng ký đất đai một cấp (Kiều Đăng Tuyết, 2015)[20]
Mười Văn phòng ĐKĐĐ đã được thành lập bao gồm: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Đồng Nai, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bắc Ninh, Tây Ninh, Bình Dương, Khánh Hoà, Lào Cai, Vĩnh Long Văn phòng ĐKĐĐ được thành lập trên cơ sở hợp nhất Văn phòng ĐKQSDĐ cấp tỉnh và Văn phòng ĐKQSDĐ trực thuộc UBND các quận, huyện, thị xã Theo Nghị định số 43/2014/ NĐ-CP, tất cả các địa phương phải hoàn thành việc thành lập Văn phòng ĐKĐĐ trong năm 2015
Văn phòng ĐKĐĐ là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở TN&MT có chức năng, nhiệm vụ: Thực hiện ĐKĐĐ, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thực hiện các thủ tục về cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại GCN QSDĐ, quyền
sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất; thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; thực hiện các dịch vụ về đo đạc, lập bản đồ địa chính, trích đo địa chính thửa đất Về cơ cấu tổ chức: Chi nhánh VPĐKĐĐ ở các huyện, thị xã, thành phố là đơn vị hoạch toán phụ thuộc VPĐKĐĐ tỉnh, chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của VPĐKĐĐ tỉnh; chi nhánh thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của VPĐKĐĐ trong phạm vi địa bàn được giao quản lý
Theo Quyết định thành lập thì hầu hết các VPĐK hiện nay đều có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ theo hướng dẫn tại Thông tư số 38/2004/TTLT/BNV-BTNMT và Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC; tuy nhiêm trên thực tế, chức năng, nhiệm vụ của các VPĐK ở địa phương vẫn còn nhiều bất cập như:
- Hầu hết các VPĐK các cấp sau khi thành lập đều đã đi vào hoạt động nhưng còn lúng túng, chưa chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hết nhiệm vụ theo quy định mà chủ yếu mới thực hiện việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền và thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai
Trang 33- Một số VPĐK các cấp chưa thực hiện đúng chức năng xác nhận, chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; có địa phương VPĐK cấp tỉnh làm thủ tục để Lãnh đạo Sở ký xác nhận (như Hà Nội); có địa phương VPĐK cấp tỉnh hoặc cấp huyện xác nhận cả những trường hợp thuộc thẩm quyền xác nhận của Sở hoặc của Phòng Tài nguyên và Môi trường (trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất); nguyên nhân có sự lẫn lộn này một phần do quy định phân cấp chỉnh lý giấy chứng nhận chưa cụ thể và rõ ràng tại Nghị định 88/2009/NĐ-CP và Thông tư 17/2009/TT-BTNMT
- Đối với VPĐK cấp tỉnh: Nhiều địa phương còn có sự chồng chéo hoặc chưa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ với các đơn vị khác của Sở gây nên khó khăn, lúng túng, chậm trễ và những bất cập trong triển khai thực hiện Cụ thể: + Chồng chéo với Trung tâm thông tin Tài nguyên và Môi trường trong việc quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính;
+ Một số tỉnh còn giao cho VPĐK một số nhiệm vụ không có trong quy định về chức năng, nhiệm vụ được giao, đó là: Thực hiện định giá đất khi thi hành án; tham gia thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng, lập quy hoạch
kế hoạch sử đụng dất, dịch vụ tư vấn(như Nam Định, Tiền Giang, Hậu Giang, Kiên Giang)
+ Chồng chéo chức năng với các phòng chuyên môn của Sở trong việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính về đất đai;
- Đối với VPĐK cấp huyện: Nhiều địa phương được thành lập nhưng chưa phân định rõ hoặc còn chồng chéo chức năng, nhiệm vụ với Phòng Tài nguyên
và Môi trường; Lãnh đạo phòng Tài nguyên và MT kiêm nhiệm giám đốc VPĐK, coi VPĐK như bộ máy giúp việc của phòng để thực hiện tất cả các công việc quản lý nhà nước về đất đai;
1.3.3.4 Tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký
a, Cấp tỉnh
Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo của các địa phương cho thấy, VPĐK cấp tỉnh hiện nay đều đã và đang tập trung triển khai thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức; thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo;
Trang 34thống kê và kiểm kê đất đai Nhiều địa phương VPĐK triển khai thực hiện việc hoàn thiện hồ sơ địa chính, chỉnh lý biến động cho một số xã đã cấp giấy chứng nhận; tiếp nhận và quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính Một số VPĐK các cấp tỉnh
đã tham gia hỗ trợ cho các huyện, xã tổ chức việc đăng ký cấp, cấp đổi giấy chứng nhận ở một số xã theo hình thức đồng loạt (Hà Nội) Tuy nhiên tình hình hoạt động của VPĐK cấp tỉnh còn một số tồn tại, hạn chế sau :
- Việc lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính là nhiệm vụ chủ yếu của VPĐK cấp tỉnh; tuy nhiêm công việc này hầu như mới thực hiện được ở một số xã đang tổ chức cấp mới hoặc cấp đổi đồng loạt giấy chứng nhận;
- Việc cấp giấy chứng nhận cho các tổ chức ở một số địa phương thực hiện còn chậm do khong làm theo hình thức tập trung đồng loạt mà chỉ thực hiện riêng lẻ cho tổ chức có nhu cầu;
- Chưa quan tâm thực hiện việc kiểm tra, hướng dẫn VPĐK cấp huyện trong việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính;
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do các VPĐK chưa có đủ năng lực thực hiện hết các nhiệm vụ được giao (còn rất thiếu nhân lực, thiết bị và các điều kiện làm việc cần thiết); không được đầu tư đủ kinh phí để triển khai thực hiện; song bên cạnh đó còn do nguyên nhân chủ quan của VPĐK còn thiếu kinh nghiệm, chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu nhiệm vụ nên còn lúng túng về phương pháp, cách thức triển khai
b, Cấp huyện
- VPĐK cấp huyện đã thành lập đều mới tập trung triển khai thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân; thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo; thống kê và kiểm kê đất đai
- Việc quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính nhiều VPĐK chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đảm bảo yêu cầu, hồ sơ địa chính và các hồ sơ thủ tục hành chính
về đất đai còn quản lý phân tán (thậm chí nhiều địa phương vẫn do cấp xã quản
lý, có địa phương chưa có kho lưu trữ phải gửi tại xã; hầu hết các địa phương chưa thực hiện việc phân loại và lưu trữ hồ sơ địa chính theo quy định
Trang 35- Việc cập nhật, chỉnh lý biến động, hoàn thiện hồ sơ địa chính đang quản lý ở hầu hết các VPĐK cấp huyện chưa được quan tâm thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ, nhiều VPĐK chưa thực hiện việc gửi thông báo cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; việc kiểm tra, hướng dẫn cấp xã trong việc cập nhật, chỉnh lý hồ
sơ địa chính chưa được các VPĐK cấp huyện quan tâm thực hiện
- Về thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đăng ký biến động còn nhiều điểm chưa đúng quy định; hồ sơ vẫn được tiếp nhận thông qua bộ phận "một cửa", kể cả trường hợp do UBND cấp xã tiếp nhận và chuyển lên nên không được kiểm tra khi tiếp nhận và có rất nhiều trường hợp chưa đảm bảo yêu cầu làm cho thủ tục kéo dài, thông tin giấy chứng nhận không đầy đủ
- Trong tổ chức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình
cá nhân còn bị động giải quyết riêng lẻ theo yêu cầu của một số trường hợp mà chưa chủ động tổ chức làm đồng loạt cho từng xã nên tiến dộ cấp giấy chứng nhận còn chậm so với yêu cầu phải hoàn thành
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do năng lực thực hiện của hầu hết các VPĐK cấp huyện còn rất yếu (còn rất thiếu nhân lực, thiết bị, nhà làm việc và lưu trữ hồ sơ); không được đầu tư đủ kinh phí đề thực hiện nhiệm vụ; ngoài ra còn do nguyên nhân chủ quan của VPĐK còn thiếu kinh nghiệm, chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu nhiệm vụ, không xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm và lập dự toán kinh phí trình UBND cấp huyện duyệt cấp
1.3.3.5 Mối quan hệ giữ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan đăng ký đất đai và chính quyền địa phương
Sự phối hợp giữa VPĐK cấp tỉnh với VPĐK cấp huyện (hoặc phòng Tài nguyên và Môi trường còn lỏng lẻo, nhiều nơi còn lúng túng do chưa xây dựng được quy chế phối hợp giữa các cấp trong việc lập hồ sơ địa chính ban đầu hoặc lập bổ sung hồ sơ địa chính; giải quyết thủ tục chuyển quyền giữa cá nhân với tổ chức; thường xuyên tổ chức chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính
Trang 361.3.3.6 Đánh giá chung về tình hình hoạt động của văn phòng đăng ký
* Kết quả đạt được
Hệ thống VPĐKQSDĐ các cấp tỉnh, huyện mặc dù mới thành lập và hoạt
động, còn rất nhiều khó khăn về điều kiện làm việc, kinh nghiệm hoạt động chưa nhiều nhưng kết quả hoạt động của hệ thống VPĐKQSDĐ đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong tiến độ và kết quả thực hiện cấp GCNQSD đất
Bảng 1.3: Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Diện tích
đã cấp (ha)
Số giấy
đã cấp (giấy)
Diện tích
đã cấp (ha)
Số giấy
đã cấp (giấy)
Diện tích
đã cấp (ha)
Đất sản xuất nông nghiệp 1491440 825560 8762390 5804210 16439357 8038182 Đất lâm nghiệp 346853 1865268 956385 6230185 1597713 9904897 Đất ở nông thôn 3499786 70159 7185628 220437 11261607 449899 Đất ở đô thị 864258 29694 2150360 58720 4142542 99556 Đất chuyên dùng 33052 69409 98248 295369 177596 522103
Tổng 6235389 2860090 19153011 12608921 33618815 19014637
(Nguồn: Cục Đăng ký và thông kê đất đai)[17],[ 18]
Tỷ lệ cấp GCNQSDĐ tăng liên tục qua các năm, năm 2006 cấp được 6.235.398 giấy, tương ứng với 2.860.090 ha, đạt 41,7% diện tích cần cấp Đến năm 2009 đạt 19.153.011 giấy, cho 12.608.921 ha, chiếm 52,3% diện tích cần cấp Tỷ lệ cấp giấy đến năm 2012 tăng cao với 33.618.815 giấy, 19.014.637 ha, lên tới 78,3% diện tích cần cấp
Đạt được kết quả này trước hết từ việc thành lập VPĐKQSDĐ, lực lượng chuyên môn về đăng ký, cấp GCN đã được gia tăng hơn nhiều lần so với trước đây và đã trở thành một lực lượng chuyên nghiệp, nâng cao hiệu quả chuyên môn, ít
bị chi phối bởi các công việc mang tính sự vụ khác về quản lý đất đai của cơ quan Tài nguyên và Môi trường từng cấp; hơn nữa đã phân biệt các rõ công việc mang tính sự nghiệp với công việc quản lý nhà nước trong hoạt động đăng ký, cấp giấy
Trang 37chứng nhận; trên cơ sở đó phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan có thẩm quyền và các thủ tục hành chính về đất đai, thực hiện cấp giấy chứng nhận
thuận lợi, đơn giản hơn rất so với quy định trước Luật Đất đai 2003
Việc hình thành hệ thống VPĐKQSDĐ góp phần hỗ trợ rất tích cực cho
cấp xã, nhất là các xã miền núi, trung du do sự thiếu hụt về nhân lực và hạn chế
về năng lực chuyên môn trong việc triển khai thực hiện cấp Giấy chứng nhận và
quản lý biến động đất đai ở địa phương
* Các hạn chế
Chức năng nhiệm vụ của các VPĐKQSDĐ ở nhiều địa phương chưa thống nhất, không có sự phân định rõ ràng, nhiều VPĐK cấp tỉnh còn có sự chồng chéo với một số đơn vị khác của Sở, nhất là với Trung tâm Thông tin TN&MT hay sự
kiêm nhiệm chức năng giữa VPĐK cấp huyện và phòng TN&MT
Điều kiện nhân lực của hầu hết các VPĐKQSDĐ còn hạn chế về kinh
nghiệm công tác, khả năng chuyên môn chưa cao, dẫn đến cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất chậm và lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính còn yếu kém
Cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật thiết yếu thực hiện thủ tục hành chính về đất đai của VPĐK chưa được quan tâm đầu tư, còn rất thiếu hoặc chất lượng thấp Nhiều VPĐK chưa có máy đo đạc để trích đo thửa đất, máy photocopy để sao hồ sơ; đặc biệt diện tích làm việc chật hẹp và không có trang thiết bị bảo quản để triển khai việc lưu trữ hồ sơ địa chính phục vụ việc khai thác khi thẩm tra hồ sơ và cung cấp thông tin đất đai;
Chưa có sự thống nhất về kinh phí phục vụ các hoạt động của VPĐK Có địa phương VPĐK phải tự bảo đảm kinh phí, địa phương khác VPĐK được bảo đảm một phần kinh phí hoạt động bằng ngân sách nhà nước; cũng có địa phương hoạt động của VPĐK được bảo đảm hoàn toàn bằng ngân sách nhà nước
Hoạt động của VPĐK chưa triển khai thực hiện hết các nhiệm vụ được giao, nhất là nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện, chỉnh lý hồ sơ địa chính; việc thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của VPĐK các cấp ở nhiều địa phương còn một số điểm chưa thực hiện đúng quy định
Trang 38Hệ thống VPĐK các cấp tỉnh, huyện mặc dù mới thành lập và hoạt động, còn rất nhiều khó khăn về điều kiện làm việc, kinh nghiệm hoạt động chưa nhiều nhưng kết quả hoạt động của hệ thống các VPĐK đã tạo ra sự chuyển biến mạnh
mẽ trong tiến độ và kết quả thực hiện cấp giấy chứng nhận trong 4 năm qua so với kết quả 15 năm trước (số liệu chứng minh)
Trên cơ sở đó phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết thủ tục giấy chứng nhận và các thủ tục hành chính về đất đai và đã cải cách thủ tuch theo hướng đơn giản, rút ngắn thời gian thực hiện giấy chứng nhận hơn rất nhiều so với trước Luật đất đai 2003
Việc hình thành hệ thống VPĐK cũng góp phần hỗ trợ rất tích cực cho cấp
xã, nhất là các xã miền núi, do sự thiếu hụt về nhân lực và hạn chế về năng lực chuyên môn trong việc triển khai thực hiện cấp giấy chứng nhận và quản lý cập nhật biến động đất đai ở địa phương
Việc thành lập hệ thống VPĐK các cấp ở địa phương còn rất chậm so với yêu cầu nhiệm vụ thi hành Luật Đất đai
Về tổ chức bộ máy các VPĐK các địa phương chưa thống nhất; chức năng nhiệm vụ của một số đơn vị trực thuộc VPĐK cấp tỉnh chưa được phân định rõ ràng, đôi khi còn chồng chéo, thiếu tính chuyên nghiệp, thậm chí có nơi các phòng làm chung cùng một công việc
Điều kiện nhân lực của hầu hết các VPĐK còn rất thiếu về số lượng, hạn chế về kinh nghiệm công tác, chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ mà Luật Đất đai
đã phân cấp, đây là nguyên nhân cơ bản của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm và sự hạn chế trong việc lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính hiện nay
Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật cần thiết cho thực hiện thủ tục hành chính về đất đai của VPĐK: Còn rất thiếu thốn, nhiều VPĐK chưa có máy đo đạc để trích đo thửa đất, máy photocopy để sao hồ; đặc biệt diện tích làm việc chật hẹp và không có trang thiết bị bảo quản để triển khai việc lưu trữ hồ sơ địa chính phục vụ việc khai thác khi thẩm tra hồ sơ và cung cấp thông tin đất đai;
Trang 39Không thống nhất về loại hình hoạt động giữa các địa phương; có địa phương VPĐK phải tự bảo đảm kinh phí để tồn tại và hoạt động, có địa phương VPĐK được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước cho một phần kinh phí hoạt động; cũng có địa phương VPĐK được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước cho toàn bộ kinh phí để hoạt động
Hoạt động của VPĐK chưa triển khai thực hiện hết các nhiệm vụ được giao, nhất là nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện, chỉnh lý hồ sơ địa chính; việc thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của VPĐK các cấp ở nhiều địa phương còn một số điểm chưa thực hiện đúng quy định
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất: Theo các nội dung quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 15 tháng 3 năm 2010 hướng dẫn về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính của VPĐK quyền sử dụng đất và quy chế hoạt động của Văn phòng đăng ký QSD đất huyện Yên Lập
- Những người có liên quan:
+ Người sử dụng đất, đây là nhóm trực tiếp chịu tác động của việc cải cách thủ tục hành chính trong quản lý đất đai với mô hình Văn phòng ĐKQSDĐ;
+ Cán bộ trực tiếp quản lý, điều hành công việc tại Văn phòng ĐKQSDĐ
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Công tác Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý biến động về sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật; thực hiện thống kê đất đai, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện dịch vụ công, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền
và nghĩa vụ;
2.2 Về địa điểm, thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm: Văn phòng ĐKQSD đất trực thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường
- Thời gian: Thu thập số liệu tài liệu từ sau khi thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất từ tháng 9 năm 2011 đến năm tháng 6/ 2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Yên Lập