1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng quản lý sử dụng đất và biến động tính chất đất của một số khu công nghiệp chính trên địa bàn tỉnh thái nguyên

75 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu tổng quát của đề tài Đánh giá được thực trạng quản lý, hiện trạng sử dụng đất và ảnh hưởng của sản xuất công nghiệp đến hoá tính đất trong khu vực có khu công nghiệp cụm công t

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

HOÀNG ĐỨC THIỆP

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BIẾN ĐỘNG TÍNH CHẤT ĐẤT CỦA MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60 85 01 03

Thái Nguyên – 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên của mỗi quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh và quốc phòng Việc quản

lý sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên đất là mục tiêu của mọi quốc gia

Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai đã có những ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội Trong quản lý, sử dụng đất đai, việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất quyết định đến tốc độ phát triển kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành nghề Tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội hàng năm cao, giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm phần lớn trong nền kinh

tế cho thấy diện tích đất sử dụng trong các ngành này tăng lên đáng kể đã xâm lấn vào quỹ đất nông nghiệp Việc quản lý, sử dụng đất đai, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở nhiều địa phương đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng nó cũng có tác động mạnh mẽ đến những vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường

Thái Nguyên mặc dù là tỉnh trung du miền núi nhưng lại có địa giới tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, có quốc lộ 3 Hà Nội - Bắc Kạn – Cao Bằng và đường quốc lộ đi Tuyên Quang, Lạng Sơn Đây là những tỉnh có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng Vì vậy từ những năm 60 của thế kỷ trước Thái Nguyên đã được chọn làm nơi xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, luyện kim màu, nhà máy sản xuất giấy … phục vụ cho phát triển kinh tế miền Bắc và cũng là nền tảng cho công nghiệp của tỉnh thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong những năm gần đây, kinh tế Thái Nguyên đạt tốc độ phát triển cao chiếm 8 – 14% Sự tăng trưởng đó có sự đóng góp không nhỏ của ngành công nghiệp Theo quy hoạch phát triển từ nay đến 2020 tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Nguyên là 12 – 15% cao hơn mức tăng trưởng bình quân của cả nước 8 – 9%/năm, trong đó ngành công nghiệp tăng bình quân là 16,5 – 17% Có thể nói Thái Nguyên là tỉnh có nền công nghiệp phát triển nhất ở vùng Trung Du miền núi Các

Trang 3

ngành công nghiệp chính trên địa bàn tỉnh là luyện kim, cơ khí, giấy và khai thác chế biến khoáng sản Đây là các ngành sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và

có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường lớn

Theo Tờ trình số 17/TTg ngày 29/4/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên thì đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên sẽ có 5 khu công nghiệp với tổng diện tích

1630 ha, 2 tổ hợp khu công nghiệp – đô thị với tổng diện tích 9400 ha (trong đó có

2350 ha khu công nghiệp); 24 cụm công nghiệp với tổng diện tích 1760ha và 5 điểm công nghiệp với tổng diện tích là 48ha Như vậy nếu so với thời điểm năm

2009 thì số khu công nghiệp, cụm công nghiệp, điểm công nghiệp tăng nhiều lần cả

về số lượng lẫn diện tích Hậu quả có thể dự báo là môi trường không khí, nước, đất trên địa bàn tỉnh sẽ bị de doạ, nhất là các khu vực lân cận các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, điểm công nghiệp Nếu quá trình tăng trưởng công nghiệp này không gắn kết với quy hoạch và xây dựng các cơ sở hạ tầng ngay từ đầu thì khó mà thực hiện được phát triển kinh tế bền vững

Hơn nữa, theo điều tra sơ bộ thì phần lớn các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, điểm công nghiệp hiện có đã và đang được xây dựng trên đất nông nghiệp

và lâm nghiệp tại các huyện, thành thị Do đó đất nông nghiệp, lâm nghiệp tại các địa bàn có khu công nghiệp, cụm công nghiệp, điểm công nghiệp sẽ có biến động cả

về số lượng và chất lượng làm ảnh hưởng đến sản xuất nông lâm nghiệp Để có cơ

sở cho việc xây dựng các loại hình sử dụng đất hợp lý cần phải có sự đánh giá đúng thực trạng sử dụng đất hiện nay cũng như chất lượng đất do tác động của sản xuất

công nghiệp Ý tưởng trên sẽ được thực hiện thông qua đề tài “Đánh giá thực trạng

quản lý, sử dụng đất và biến động tính chất đất của một số khu công nghiệp chính trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”

Trang 4

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài

Đánh giá được thực trạng quản lý, hiện trạng sử dụng đất và ảnh hưởng của sản xuất công nghiệp đến hoá tính đất trong khu vực có khu công nghiệp cụm công thuộc điểm nghiên cứu, từ đó thấy được vai trò của quản lý, sử dụng đất trong khu vực đối với sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp, lấy đó làm cơ sở đề xuất giải pháp khắc phục

2.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài

- Đánh giá được việc quản lý và sử dụng đất trong khu vực của khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên

- Đánh giá được nguyên nhân làm biến đổi hoá tính đất trong khu vực của 3 khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu

- Đánh giá được ảnh hưởng của sản xuất công nghiệp tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu đến sản xuất nông nghiệp trong khu vực

3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

+ Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho quá trình quy hoạch, xây dựng hạ tầng cơ sở các khu công nghiệp nhằm đảm bảo sử dụng đất hợp lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong khu vực khu công nghiệp

+ Ý nghĩa trong thực tiễn

Góp phần xây dựng các mô hình sử dụng đất quanh khu công nghiệp nhằm đảm bảo sản xuất nông nghiệp bền vững và các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường đất trong khu vực

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Luật đất đai năm 2003 khẳng định:

Đất là tài nguyên vô giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Tuy nhiên vai trò của đất đối với từng ngành rất khác nhau, do đó việc sử dụng đất phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất

- Tiết kiệm có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của các đối tượng xung quanh

- Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời gian sử dụng đất theo quy định của luật đất đai và các quy định khác của luật pháp có liên quan

Trong các ngành phi nông nghiệp đất đai có chức năng là cơ sở không gian và

vị trí để hoàn thành quá trình lao động, là kho tàng dự trữ Trong ngành công nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không có gì thay thế được

Đối với nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, các hoạt động sản xuất nông nghiệp đều phải thông qua đất đai khi mà cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, chức năng của đất từng bước được mở rộng, nên sử dụng đất đai càng trở nên phức tạp Về mặt kinh tế, sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp điều hoà mối quan hệ giữa người và đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện và quyết định phương hướng chung, mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất phát huy đuợc công dụng tối đa của đất đai nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái kinh tế xã hội cao nhất Vì vậy sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đuợc thể hiện ở các mặt sau:

Trang 6

- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất

- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu sử dụng đất

- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô kinh tế

sử dụng đất (kinh tế đất)

- Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội: khi kinh tế xã hội phát triển mạnh cùng với sự bùng nổ của dân số sẽ làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng, và những sai lầm của con người trong quá trình sử dụng đất đã dẫn đến huỷ hoại môi trường đất

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Tính từ năm 1991 đến năm 2009 trải qua 18 năm xây dựng và phát triển, cả nước đã thành lập được 223 khu công nghiệp với tổng diện tích tự nhiên đạt 57.264

ha, phân bố trên 56/63 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương Trong đó diện tích đất

sử dụng cho phát triển công nghiệp có thể thuê theo quy hoạch đạt gần 40.00 ha, chiếm 65% diện tích đất quy hoạch các khu công nghiệp [3]

Trong số 223 khu công nghiệp hiện nay của cả nước, có 171 khu công nghiệp

đã đi vào hoạt động, 52 khu công nghiệm đang trong quá trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật, chủ yếu là các khu công nghiệp mới thành lập trong những năm gần đây Tính chung cho toàn bộ các khu công nghiệp cả nước thì tỷ lệ lấp đầy chỉ đạt 46% với 17.107 ha đất công nghiệp đã cho thuê [3]

Năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, trong đó quy định thống nhất hoạt động của các khu công nghiệp trên lĩnh vực theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý cho Ban quản lý các khu công nghiệp Nghị định đã góp phần đổi mới sâu sắc về thể chế, môi trường đầu

tư kinh doanh cùng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Công tác quản lý nhà nước về khu công nghiệp cũng như bản thân hoạt động của các khu công nghiệp đã có những điều chỉnh về tổ chức, chương trình

Trang 7

hoạt động để thích nghi với điều kiện mới Nhờ đó trong năm 2008, các khu công nghiệp một mặt tiếp tục đà tăng trưởng như những năm trước, Mặt khác có những nét phát triển mới mang tính đột phá, với 48 dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư, thành lập 44 khu công nghiệp mới với tổng diện tích tự nhiên 15.657,6 ha (tăng 73% so với năm 2007) và mở rộng 8 khu công nghiêp với tổng diện tích đất tự nhiên 2.810,8 ha (tăng 41,1% so với năm 2007) [3]

Sự phát triển mạnh mẽ của khu công nghiệp trong năm 2008 cũng xuất phát từ nhu cầu của các địa phương nhằm tận dụng cơ hội thu hút đầu tư tăng cao trên cả nước Mặt khác do việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp đã được phân cấp về địa phương nên đã tạo điều kiện cho các địa phương chủ động và đẩy nhanh quá trình thực hiện thủ tục đầu tư Tuy nhiên quá trình phát triển khu công nghiêp cũng đã nảy sinh một số vấn đề như gia tăng về số lượng không tỷ lệ thuận với tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp Trong 3 năm gần đây, tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp giảm trung bình 4%/năm Qua khảo sát tại một số khu công nghiệp cho thấy, các khu công nghiệp do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập có cơ sả hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, thuận tiện nhưng tốc độ lấp đầy chậm, không thu hút được các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi suất đầu tư cao, cho nên các doanh nghiệp Việt Nam với tài chính có hạn rất khó thuê ở các khu công nghiệp này Các khu công nghiệp do UBND tỉnh cấp quyết định và hỗ trợ đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì tốc độ lấp đầy nhanh nhưng không thể thành lập nhiều

do ngân sách địa phương hạn hẹp Các khu công nghiệp khác cho các doanh nghiệp sản xuất thuê đất trước khi xây dựng hạ tầng kỹ thuật nên xuất đầu tư thấp, có tốc

độ triển khai xây dựng và lấp đầy nhanh nhưng lại gặp khó khăn trong quản lý môi trường, hạ tầng kỹ thuật không đồng bộ [3]

Trang 8

1.1.3 Cơ sở pháp lý của đề tài

- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003;

- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH 11 ngày 29/11/2005;

- Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý Cụm công nghiệp;

- Quyết định số 278/2005/QĐ-TTg ngày 2 tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng Chính Phủ v/v phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch xây dựng thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020;

Quyết định số 3466/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Kế hoạch lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015), các cấp tỉnh Thái Nguyên

- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyế khiếu nại về đất đai

- Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT ngày 15 tháng 7 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp;

- QCVN 03:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất;

Trang 9

1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI, HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TẠI CÁC KHU VỰC CÓ KHU CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN

1.2.1 Khái niệm về quản lý đất đai và các nội dung quản lý đất đai

Quản lý đất đai là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác dụng điều chỉnh các hoạt động con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề đất đai có liên quan đến con người, xuất phát

từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên Quản lý đất đai được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hoá, giáo dục, v.v Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra Việc quản lý đất đai được thực hiện ở mọi quy mô: Toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, xã…

* Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó

- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Thống kê, kiểm kê đất đai

- Quản lý tài chính về đất đai

- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trang 10

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và

xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai

- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

- Đối với đất để xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Công tác quản

lý và sử dụng đất còn đòi hỏi phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và quy hoạch chi tiết trong khu công nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (Luật đất đai năm 2003) vì đất cho xây dựng các khu công nghiệp thực chất là đất chuyên dùng, nên loại hình sử dụng đất này có thể có những tác động có lợi cho sản xuất xã hội nhưng cũng có thể đem lại những tác động bất lợi như đất nông nghiệp bị chuyển mục đích sử dụng thành đất phi nông nghiệp, gây ô nhiễm môi trường đất xung quanh từ sản xuất công nghiệp

1.2.2 Khái quát về công tác quản lý đất đai của tỉnh Thái Nguyên

Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên đất từ năm 2003 đến nay của tỉnh Thái Nguyên đã có những chuyển biến tích cực: Các văn bản pháp luật và các cơ chế chính sách về quản lý tài nguyên đất được triển khai đồng bộ giúp cho việc quản lý đất đai đi vào nề nếp, hiệu quả hơn Do vậy tài nguyên đất đã trở thành nguồn lực quan trọng để thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh

Tuy nhiên công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tạị cần tháo gỡ như tài nguyên đất chưa được khai thác đầy đủ, đất đai để hoang hoá, lãng phí, tình trạng tổ chức cá nhân vi phạm luật về đất đai vẫn còn xảy ra ở tất

cả các địa phương trong tỉnh: dự báo về nhu cầu sử dụng đất đai chưa sát với thực tế phát triển kinh tế xã hội nên quy hoạch thường xuyên phải điều chỉnh như: hệ thống

hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, không đồng bộ, thiếu thông tin, việc đo đạc bản đồ chưa đồng bộ, chưa gắn với thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nguồn kinh phí cấp cho phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế

Trang 11

1.2.3 Khái quát về hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Thái Nguyên

Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2009 – 2011 của tỉnh Thái Nguyên

Thứ

Tổng diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Tổng diện tích

(ha)

Cơ cấu (%)

2009 Đất chưa sử dụng giảm từ 34.987,30 ha (năm 2009) xuống 16 364,06 ha

Các địa phương trong tỉnh cũng qua việc thực hiện quy hoạch để chuẩn bị quỹ đất, chuẩn bị xây dựng hạ tầng cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhằm khuyến khích các nhà sản xuất đầu tư vào các khu công nghiệp đã được quy hoạch

Trang 12

Sở Tài nguyên và Môi trường trong quá trình quy hoạch đất đai tại cấp huyện, cấp

xã sẽ tiếp tục bổ xung tăng cường quỹ đất cho phát triển công nghiệp; công khai quy hoạch quỹ đất công nghiệp để mọi người, mọi doanh nghiệp đều biết và thực hiện theo đúng quy hoạch

Đồng thời từ năm 2004 tới nay, ngành Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên

đã tiến hành các đợt thanh tra sử dụng đất đai ở nhiều đơn vị, Kết quả cho thấy trong số những doanh nghiệp có diện tích sử dụng đất trên 185 ha thì Có 6 đơn vị sử dụng đất tốt, có hiệu quả, còn 14 đơn vị sử dụng đất sai mục đích với diện tích là186.282 m2; 10 đơn vị thuê đất để quá 12 tháng không sử dụng với diên tích là 15.449 m2; 12 đơn vị thuê đất chưa nộp đủ tiền thuê đất với số tiền trên 326 triệu đồng

Qua thanh tra, các đoàn thanh tra đã kiến nghị thu hồi đất của 8 đơn vị với diện tích 18.570 m2; xử phạt vi phạm hành chính 7 đơn vị, nộp ngân sách nhà nước 55 triệu đồng Một số doanh nghiệp sau khi thanh tra đã có hướng khắc phục những sai phạm để sử dụng đất có hiệu quả hơn như đầu tư để khắc phục ô nhiễm môi trường Đoàn thanh tra cũng đã yêu cầu các doanh nghiệp có dự án sản xuất công nghiệp nhất thiết phải đưa vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; nghiêm cấm việc cấp đất cho các doanh nghiệp làm nhà máy, cơ sở sản xuất bên ngoài các khu, cụm công nghiệp đã quy hoạch; cơ quan quản lý đất đai chỉ giao đất, cho thuê đất để phát triển công nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền quyết định, xét duyệt

Để tăng cường công tác quản lý, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập Ban Quản lý các khu công nghiệp Thái Nguyên với chức năng nhiệm vụ chính như sau:

- Ban Quản lý là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, theo Nghị định của Chính phủ và pháp luật có liên quan; Ban quản lý các khu công nghiệp có chức năng quản lý và tổ chức thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính

Trang 13

công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu công nghiệp

- Ban Quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình

kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh (trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủ có quy định khác); chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực có liên quan;

có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác quản lý khu công nghiệp

- Ban Quản lý thực hiện theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn hoặc

ủy quyền của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong đó có một số nhiệm

vụ liên quan đến sử dụng đất trong khu công nghiệp như:

+ Quản lý, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính việc thực hiện quy định, quy hoạch, kế hoạch có liên quan tới khu công nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

+ Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đã được phê duyệt của khu công nghiệp, các khu chức năng trong khu kinh tế nhưng không làm thay đổi chức năng

sử dụng khu đất và cơ cấu quy hoạch; thẩm định thiết kế cơ sở đối với các dự án hoặc cấp, gia hạn Giấy phép xây dựng công trình đối với công trình xây dựng phải

có Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đối với công trình xây dựng trong khu công nghiệp cho tổ chức có liên quan

+ Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu đầu tư quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư, chủ trì, phối hợp kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các điều khoản cam kết đối với các dự án được hưởng ưu đãi đầu tư, bảo vệ môi trường sinh thái đối với các dự án tại khu công nghiệp; quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định đối với các trường hợp vi phạm về các lĩnh vực thuộc thẩm quyền và đề nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm đối với các trường hợp vi phạm về các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền

Trang 14

* Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên như

1959 đến năm 1963 với diện tích 231,1 ha trên địa bàn các phường Cam Giá, Phú

Xá, Trung thành và Hương Sơn, Gia Sàng Qua quá trình hình thành và phát triển Công ty đã nhiều lần tiến hành quy hoạch, tổ chức lại sản xuất, một số cơ sở sản xuất đã tách khỏi hệ thống của khu liên hợp công nghiệp gang thép Đến năm 2005 theo số liệu kiểm kê đất đai của của Phường Cam Giá diện tích đất khu công nghiệp gang thép Lưu Xá là 111,01 ha và đến năm 2010 chỉ còn 84,24 ha do chuyển đổi mục đích sử dụng Trong đó gồm diện tích của bãi thải cũ, xí nghiệp tấm lợp và xây

Trưởng Ban quản lý các KCN

Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý các khu công nghiệp TN

TT dạy nghề các KCN

Cty PT hạ tầng TN

Trang 15

dựng thêm một số công trình công cộng như giao thông, thuỷ lợi và các mục đích khác

Đối với dự án hạ tầng Khu công nghiệp Điềm Thụy, trong tổng số 180 ha đất được phê duyệt mới đang thực hiện đền bù GPMB cho 50 ha và thiết kế kỹ thuật cho 1,8 km đường trục chính, nguồn vốn cho phương án đền bù GPMB thực tế còn thiếu khoảng 6 tỷ đồng so với số vốn đầu tư được giao của năm 2012 Tại Khu công nghiệp Nam Phổ Yên (rộng 200 ha), các chủ đầu tư hạ tầng khu A, khu B, khu C cũng chưa hoàn thành dứt điểm khâu GPMB, tiến độ xây dựng hạ tầng rất chậm so với cam kết ban đầu Riêng Khu công nghiệp Quyết Thắng mới đang trong giai đoạn chờ phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 [17]

Ngoài các vướng mắc trong khâu GPMB, quá trình đầu tư xây dựng các khu công nghiệp ở Thái Nguyên còn bộc lộ một số bất cập khác như việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ Tại khu công nghiệp Sông Công mặc dù tỉnh đã đầu tư xây dựng 1 nhà máy xử lý nước thải nhưng cũng mới chỉ xây dựng được modul xử

lý sinh học còn modul xử lý hóa học chưa được đầu tư xây dựng Do vậy, nước thải

từ khu công nghiệp xả ra môi trường vẫn còn hàm lượng kim loại cao, không đạt tiêu chuẩn và chưa được cấp phép xả thải Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thu hút, triển khai các dự án đầu tư Mặt khác, trong khi hạ tầng khu công nghiệp còn yếu và thiếu song giá đất cho thuê tại các khu công nghiệp ở Thái Nguyên lại cao hơn giá đất cho thuê của các khu công nghiệp các tỉnh lân cận như: Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh dẫn tới việc chưa tạo ra được động lực thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn [17]

Trước thực tế này, từ nay đến cuối năm 2012, tỉnh Thái Nguyên tập trung mạnh vào việc GPMB và xây dựng kết cầu hạ tầng các khu công nghiệp Bước đầu

là việc GPMB đợt 1 trục chính Khu công nghiệp Điềm Thụy, đôn đốc Công ty cổ phần đầu tư APEC - Chủ đầu tư dự án hạ tầng khu công nghiệp này khởi công xây dựng hạ tầng 23 ha đầu tiên ngay trong quý IV/2012; hoàn tất các gói thầu hạ tầng

dở dang trong Khu công nghiệp Sông Công; vận động thu hút đầu tư kinh doanh cơ

sở hạ tầng cho Khu công nghiệp Sông Công II và Khu A Khu công nghiệp Nam

Trang 16

Phổ Yên; xem xét đầu tư hoàn thiện một số tuyến đường trong các khu công nghiệp Sông Công I và Điềm Thụy [17]

Tình trạng các doanh nghiệp tự tìm đất, chọn các nơi thuận tiện đường giao thông, tiện nguồn nước, tiện các khu giao lưu, dịch vụ để làm nhà máy đã được nhanh chóng chấp nhận Vì vậy trên dọc quốc lộ 3, gần các khu dân cư, rất nhiều đất ruộng canh tác 2-3 vụ đã bị san lấp để các doanh nghiệp làm nhà máy, mở xưởng sản xuất, chế biến, trong đó có các nhà máy sản xuất giấy, gạch, là những loại hình sản xuất gây ô nhiễm môi trường lớn [22]

Các doanh nghiệp cũng chạy theo lợi nhuận của giá đất và thực chất với quan niệm đất không đẻ ra nên các doanh nghiệp đều tranh thủ xin đất quá nhu cầu, có doanh nghiệp thuê đất để trống hàng vài năm, cũng có doanh nghiệp dùng không hết cho thuê lại thu lợi nhuận [22]

Tuy đất sử dụng cho công nghiệp của Thái Nguyên chưa lớn nhưng đã xuất hiện và dự báo những bất cập cần phải kịp thời kê chỉnh và có giải pháp quản lý, sử dụng lâu dài sao cho có hiệu quả Vì vậy, dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền tỉnh, ngành Tài nguyên và Môi trường và các ngành chức năng đã có những bước triển khai thực hiện việc quản lý Nhà nước về đất công nghiệp trên địa bàn, nhất là

từ khi Luật đất đai được thực hiện năm 2003 [22]

1.2.5 Quản lý và bảo vệ môi trường đất tại các khu vực có sản xuất công nghiệp

Hạn chế lớn nhất trong công tác quản lý và sử dụng đất tại các khu vực có khu công nghiệp, cụm công nghiệp là chưa gắn kết được quản lý, sử dụng đất nói chung với quản lý và bảo vệ môi trường đất vì phần lớn các ngành công nghiệp ở Thái Nguyên là các ngành có tiềm năng ô nhiễm cao như: luyện kim, cốc hoá, cơ khí, giấy, vật liệu xây dựng Mặt khác phần lớn các khu công nghiệp, cụm công nghiệp

là nằm trong khu vực sản xuất nông nghiệp cho nên nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất trong khu vực là rất lớn Vì vậy việc quản lý sử dụng đất trong khu vực của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nếu không được tăng cường và nghiêm ngặt hơn thì sẽ dẫn đến những tác động xấu của loại hình sử dụng đất chuyên dùng

Trang 17

này Hay nói cách khác muốn hạn chế những tác động xấu đối với môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng cần phải bắt đầu từ khâu chọn địa điểm, quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến quản lý sử dụng đất trong quá trình xây dựng các công trình sản xuất trong khu công nghiệp với các thiết bị công nghệ hiện đại

1.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BIẾN ĐỘNG TÍNH CHẤT ĐẤT TẠI CÁC CƠ SỞ CÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.3.1 Hiện trạng quản lý, sử dụng đất và biến động tính chất đất tại các khu vực sản xuất công nghiệp trên thế giới

Điều mà toàn nhân loại trên trái đất này quan tâm nhiều nhất là sử dụng đất thế nào cho hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo phát triển bền vững, nhất là đảm bảo an ninh lương thực vì tổng quỹ đất tự nhiên của hành tinh chúng ta là 148 triệu km2 gồm 12 loại đất, trong đó đất sử dụng cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất nâu vàng chỉ chiếm 12,6%, còn đất xấu chiếm 40,5% Theo đánh giá của FAO thì

có khoảng 15 – 20% đất có khả năng sử dụng cho nông nghiệp mà hiện nay mới sử dụng 1500 triệu ha, tức là còn 50% có thể khai thác làm nông nghiệp Trong đất nông nghiệp chỉ có 14% là cho năng suất cao, 28% có năng suất trung bình, còn đất

có năng suất thấp là 58% Như vậy trên toàn thế giới tỷ lệ đất tốt còn rất ít, đất xấu nhiều, hơn nữa đất đai trồng trọt phân bố không đều ở các châu lục

Châu Âu là châu lục có đất canh tác cao nhất (31%), Đông Nam Á 16%, Châu phi 9%, còn so sánh giữa các nước trên thế giới thì JaVa có đến 70% đất canh tác, sau đó đến Ấn Độ là 30,1% Mỹ là 14%, Trung Quốc là 8,2% Việt Nam cũng là nước có tỷ lệ đất canh tác khá cao (28%), còn châu Úc chỉ có 1,2%, Brazin 1,1% (LeVK)

Hàng năm trên thế giới còn mất khoảng 8 triệu ha đất nông nghiệp do chuyển mục đích sử dụng Như ở Mỹ mỗi người cần có khoảng 0,1 ha đất ở Ở Trung Quốc

mô hình sử dụng đất đang thay đổi là chuyển đất trồng trọt sang mục đích sử dụng khác Từ năm 1983 – 1992 vùng nông thôn Bắc Kinh tổng diện tích đất canh tác giảm từ 638.000 ha xuống còn 590.000 ha Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc

Trang 18

đánh giá mỗi năm diện tích đất canh tác bị thu hẹp tới 333.000ha Trong những năm

1990 ở Trung Quốc mất đất do làm nhà ở, xây dựng, công nghiệp khai thác mỏ, thuỷ điện, giao thông vận tải… lên đến 3 – 6 triệu ha Các quan chức Trung Quốc đang tiến hành một số biện pháp nhằm ngăn chặn việc sử dụng đất canh tác sang làm nhà ở và công nghiệp như đánh thuế nặng Tỉnh Tứ Xuyên quy định không được sử dụng 1,6 triệu ha đất mầu mỡ vào mục đích phi nông nghiệp

Trên thực tế Trung Quốc đang tiến hành phân vùng toàn bộ đất đai với mục tiêu là ngăn chặn mất đất nông nghiệp Về mặt lý thuyết quyền sử dụng đất sẽ không được trao cho bất kỳ chuyển nhượng nào trái với kế hoạch phân vùng, nhưng trong thực tế vẫn xảy ra do áp lực phát triển mạnh, nên quy hoạch này thường không được quan tâm Theo ngân hàng thế giới đến năm 2030 nhu cầu về lương thực sẽ tăng gần gấp đôi so với năm 1992 Nếu đất canh tác muốn đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp thì trong tương lai thế giới phải quản lý tốt diện tích đất đai hiện có cả về số lượng và chất lượng

Tình trạng đất bị ô nhiễm từ các chất thải công nghiệp đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu

Theo tài liệu của Mỹ hàm lượng bình quân của As trong đất bị nhiễm As là

165 PPm cao nhất thế giới là 163 PPm Hiện nay một số chất gây ô nhiễm ở Mỹ là

Sn90 và Cs137 với khoảng 150 đến 240milicuri trên 1km2 và k40 tự nhiên khoảng 20.000 milicuri [25]

Theo kết quả nghiên cứu của Nhật Bản cho biết Nhật bản bị nhiễm Cd rất nặng Các vùng lân cận nhà máy luyện kẽm ở tầng đất mặt có thể chứa 1700 PPm hàm lượng Cd Đối với CN đã có tài liệu cho biết đất bị nhiễm CN nặng với hàm lượng CN có thể lên đến 4600 PPm

Một số loại đất ở Trung Quốc hiện nay có hàm lượng Cr từ 17 đến 270 PPm, bình quân là 80 PPm Theo kết quả thí nghiệm dùng nước nhiễm Cr để tưới của Đại học Triết Giang cho thấy 85% đến 95% Cr tồn tại trong lớp đất mặt (0,5cm)[3] Quá trình phát triển công nghiệp đã làm gia tăng một lượng đáng kể các kim loại nặng trong đất Theo Martin và Coughtry (1982), bề mặt đất có chứa nhiều Cd,

Trang 19

Ni, Pb, Zn và Cu không chỉ ở những nơi gần các lò luyện kim mà còn cả ở những nơi cách xa nguồn ô nhiễm 8 km Lượng Cd xâm nhập vào trong đất thông qua lắng đọng từ khí quyển do hoạt động khai mỏ chiếm tới 22,1% [43]

Một số nước như Đan Mạch, Nhật Bản, Anh, Ailen đất bị ô nhiễm Pb nghiêm trọng với hàm lượng Pb cao hơn 100 mg/kg [42]

1.3.2 Hiện trạng về công tác quản lý, sử dụng đất tại các khu công nghiệp

ở Việt Nam

Tính đến tháng 12/2010 cả nước có 21 khu công nghiệp được thành lập mới và

mở rộng với tổng diện tích đất tự nhiên tăng thêm là 3.958 ha, tổng vốn đầu tư đăng

ký của 21 dự án phát triển kết cấu hạ tầng KCN đạt gần 7.000 tỷ đồng [3]

Hiện tại, cả nước đã có 255 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 69.253 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt trên 45.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, 171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 43.580 ha và 84 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 25.673 ha [3]

Theo Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2015, dự kiến thành lập mới 115 khu công nghiệp và mở rộng 27 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 32.000 ha Sau một thời gian thực hiện Quyết định nêu trên, một số khu công nghiệp đã được thành lập và một số khu công nghiệp đã được bổ sung vào quy hoạch phát triển các khu công nghiệp đến năm 2020 Tính chung từ nay đến năm 2020, số khu công nghiệp quy hoạch thành lập đến năm 2020

là 209 khu công nghiệp với tổng diện tích 64.310 ha Nhưng trong quá trình phát triển các khu công nghiệp đã có một số tồn tại không nhỏ như sự gia tăng về số lượng không tỷ lệ thuận với tỷ lệ lấp đầy Trong 3 năm gần đây tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp giảm 4%/năm Năm 2008 chỉ đạt 46% Các khu công nghiệp chủ yếu tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm chiếm 74,9% tổng số khu công nghiệp

và chiếm 81,8% tổng diện tích đất tự nhiên các khu công nghiệp cả nước Theo báo cáo của các địa phương đến cuối năm 2008 cả nước đã có 1685 cụm công nghiệp

Trang 20

với diện tích trên 76.100 ha, thu hút và tạo việc làm cho hơn 500.000 lao động Trong đó có 700 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích là 28.343

ha Bình quân mỗi cụm công nghiệp là 45 ha/cụm Trong số cụm công nghiệp này thì Đồng bằng sông Cửu long chiếm 245 cụm, Duyên Hải trung bộ chiếm 189 cụm Tuy nhiên trong quá trình quy hoạch sử dụng đất ở nhiều tỉnh còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất hợp lý trong phân bố quỹ đất cho các lĩnh vực Tình trạng phổ biến hiện nay là chuyển đổi mục đích sử dụng đất Diện tích đất sản xuất nông nghiệp suy giảm mạnh do đô thị hoá, quỹ đất nông nghiệp được chuyển thành đất công nghiệp, xây dựng và giao thông Tỷ lệ đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng Năm 2006 đất cho công nghiệp chiếm 0,133% so với năm 2008, tăng lên 0,138% Theo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và định hướng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 vùng đồng bằng sông Hồng đất nông nghiệp sẽ mất khoảng 0,43% Tuy nhiên theo dự báo từ nay đến năm 2030 nhu cầu chuyển đất lúa sang các mục đích

sử dụng khác còn tiếp tục tăng khoảng 500.000 ha Đây là một sức ép rất lớn đối với tài nguyên và môi trường đất Trong thực tế việc thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp, đô thị và hạ tầng cơ sở ngày một gia tăng Theo số liệu của hội khoa học đất Việt Nam (2009) từ năm 2000 đến năm 2007 tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trong cả nước là gần 500.000 ha chiếm khoảng 5% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng, mỗi năm nông dân phải nhường 74.000 ha đất nông nghiệp cho phát triển các khu công nghiệp, đô thị và kết cấu hạ tầng Các vùng kinh

tế trọng điểm có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 50% tổng diện tích đất bị thu hồi trên toàn quốc Nhiều diện tích đất bị thu hồi là những khu vực có đất đai thuộc loại màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm Việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm (2003 – 2008) đã tác động đến đời sống của 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu nhân khẩu nông nghiệp, trong số này có tới 25 – 30% tổng số lao động mất việc làm hoặc việc làm không ổn định, 53% số hộ bị thu hồi đất có thu nhập bị giảm so với trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động mất việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi sẽ lấy đi cơ hội làm việc của 13 lao động ở nông thôn [5]

Trang 21

Mặc dù nhiều địa phương có điều kiện thành lập và xây dựng các khu công nghiệp ở những khu vực đất đồi, đất nông nghiệp kém hiệu quả, không phải đất lúa nhưng vẫn tiến hành quy hoạch và đề nghị cho thành lập các khu công nghiệp trên những vùng đất thuận lợi về hạ tầng, đất nông nghiệp bằng phẳng (chủ yếu là đất lúa)

Theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, đất trồng lúa năm 2010 giảm 29% so với năm 2000, chủ yếu là do chuyển mục đích sử dụng, trong đó nhiều nhất

là đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long như: Vùng kinh

tế trọng điểm Bắc bộ Hải Dương giảm 1642 ha/năm, Hưng Yên giảm 943 ha/năm, thành phố Hà Nội giảm 1067 ha/năm, khu vực phía nam thành phố Hồ Chí Minh giảm bình quân 3045 ha/năm, Tiền Giang giảm 1875 ha/năm, Bến Tre giảm 1725 ha/năm [5]. Theo thống kê sơ bộ có đến 20% diện tích đất thu hồi

Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất đai của nước ta không những mất về diện tích (số lượng) mà còn suy giảm cả về chất lượng

Theo thống kê sơ bộ, có đến 20% diện tích đất thu hồi xây dựng khu công nghiệp là đất nông nghiệp (khoảng trên 10.000 ha) Tổng diện tích đất trồng lúa được chuyển đổi để phát triển các khu công nghiệp đến năm 2015 từ 18.000 - 20.000 ha, chiếm khoảng 0,5% tổng diện tích đất trồng lúa trên cả nước Việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của các hộ nông nghiệp Theo Diễn đàn doanh nghiệp (tháng 9/2009), hơn 300.000 hộ nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, hơn 100.000 hộ tại đồng bằng sông Cửu Long đã bị ảnh hưởng do việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp Quy trình, quy định về thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp chưa hợp lý, thường kéo dài đã tác động không tốt tới đời sống và việc làm của các

hộ bị thu hồi đất Hơn thế nữa, đời sống của các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng do người dân không được chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp hợp lý, không ít hộ dân bị bần cùng hóa do không có tư liệu sản xuất Trước thực tế này, tại Công văn số 2031/VPCP-CN ngày 31/3/2008 và Quyết định số 391/QĐ-TTg ngày 18/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo không phát triển khu công nghiệp trên

Trang 22

đất nông nghiệp có năng suất ổn định Bộ KH&ĐT đã có văn bản hướng dẫn các địa phương trong xây dựng quy hoạch phát triển khu công nghiệp; tổ chức thẩm định các đề án quy hoạch phát triển khu công nghiệp của địa phương; rà soát, xây dựng phương án điều chỉnh quy hoạch khu công nghiệp trên cơ sở tuân thủ chặt chẽ việc bảo đảm không xây dựng khu công nghiệp trên đất lúa có năng suất ổn định và bảo đảm an ninh lượng thực, đồng thời tổ chức các đoàn kiểm tra tình hình triển khai quy hoạch khu công nghiệp, trong đó có vấn đề sử dụng đất phát triển khu công nghiệp ở các địa phương

1.3.3 Môi trường đất tại các khu vực sản xuất công nghiệp ở Việt Nam

Kết quả khảo sát nêu trong báo cáo hiện trang môi trường quốc gia năm 2010 cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây Như tại cụm công nghiệp Phước Long hàm lượng Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần Theo báo cáo Hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 – 2010: cho thấy ô nhiễm môi trường đất do hoạt động công nghiệp tại các khu vực gần khu công nghiệp đã có biểu hiện ô nhiễm kim loại nặng rõ rệt Tại đất ruộng gần khu công nghiệp sông Công, hàm lượng As vượt 6,2 lần, hàm lượng Pb vượt 1,7 lần, hàm lượng Zn vượt 8,9 lần, hàm lượng Cd vượt 11 lần so với QCVN 03:2008/BTNMT đối với đất nông nghiệp; tại khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, hàm lượng Pb vượt 2,8 lần, hàm lượng Zn vượt 46,6 lần so với QCVN 03:2008/BTNMT đối với đất công nghiệp; đất màu gần bãi thải của xí nghiệp chì kẽm Làng Hích, hàm lượng As vượt 2,9 lần, hàm lượng Pb vượt 2,1 lần, hàm lượng

Zn vượt 3,4 lần, hàm lượng Cd vượt 4,6 lần so với QCVN 03:2008/BTNMT đối với đất công nghiệp

Năm 2002, các tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh, Lê Huy Bá và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của các khu công nghiệp tới hàm lượng kim loại nặng trong tầng đất mặt tại các huyện Nhà Bè, Bình Chánh, khu vực gần các khu công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nguy cơ ô nhiễm Cd rất cao với hàm lượng lên đến 7,6 – 25,5 mg/kg Ở các khu công nghiệp phía Bắc của thành phố Hồ Chí Minh

Trang 23

(quận Thủ Đức, quận 2, quận 9) khả năng đất bị ô nhiễm Zn rất cao Hàm lượng Zn thực tế đã xác định dao động từ 161 – 390 mg/kg trong tầng đất mặt ở quận 2 và từ

356 – 679 mg/kg ở quận 9 [28]

Với những thông tin tư liệu từ kết quả nghiên cứu khảo sát trên thế giới và trong nước cho thấy: khi chuyển mục đích sử dụng đất từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp có thể đem lại hiệu quả và lợi ích kinh tế cao hơn, nhưng đồng thời cũng đem lại hậu quả nghiêm trọng Do đó công tác quản lý đất tại những địa bàn có sản xuất công nghiệp nói chung và khu công nghiệp, cụm công nghiệp nói riêng cần có những biện pháp quản lý thật hữu hiệu từ lựa chọn địa điểm đến quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết đối với từng cơ sở sản xuất trong khu vực cũng như diện tích đất cho xây dựng các công trình phụ trợ (cây xanh, xử lý nước thải, chất thải răn…)

Trang 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng đất và biến động tính chất đất trong khu vực của 3 khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Khu công nghiệp Sông Công, Khu công nghiệp gang thép Lưu

Xá, Cụm công nghiệp Cao Ngạn)

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu về hiện trạng quản lý, sử dụng đất và sự biến động hoá tính đất trong khu vực của 3 khu, cụm công nghiệp điển hình đã đi vào hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

+ Về không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu trong khu vực của 3 khu công nghiệp chính trong tỉnh Thái Nguyên là: Khu công nghiệp Sông Công, Khu công nghiệp Lưu Xá (Gang thép), Cụm công nghiệp Cao Ngạn

+ Về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong giai đoạn 2011 - 2012

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trong khu vực của 3 khu, cụm công nghiệp điển hình đã đi vào hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Khu công nghiệp Sông Công, Khu công nghiệp Lưu Xá (Gang thép), Cụm công nghiệp Cao Ngạn); hoàn thiện tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 9 năm 2012

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung 1: Khái quát về tình hình cơ bản của tỉnh Thái Nguyên

- Khái quát về tình hình cơ bản của tỉnh Thái Nguyên và định hướng phát triển công nghiệp của Thái Nguyên

- Sự hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tỉnh Thái Nguyên

- Một số chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư

- Giới thiệu về 3 khu công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu

Trang 25

Nội dung 2: Hiện trạng quản lý và sử dụng đất trong khu vực của 3 khu công

nghiệp, cụm công nghiệp chính thuộc điểm nghiên cứu

Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của sản xuất công nghiệp đến hoá tính đất

trên địa bàn có khu công nghịêp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu

Nội dung 4: Tác động của sản xuất trong khu công nghiệp đến sản xuất nông

nghiệp và giải pháp khắc phục

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƯỢC TIẾN HÀNH THEO CÁC PHƯƠNG PHÁP SAU

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn dữ liệu sau:

- Niên giám thống kê 2005, 2010, 2011 về quỹ đất, sử dụng đất của tỉnh và các huyện thành thị, xã, phường

- Quy hoạch sử dụng đất của các xã phường thuộc điểm nghiên cứu

- Các dữ liệu về khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu

- Quy hoạch sử dụng đất, hạ tầng cơ sở

- Báo cáo của các ngành về tình hình phát triển kinh tế xã hội

- Báo cáo hiện trạng và kiểm soát ô nhiễm môi trường

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

2.4.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa

- Phiếu thu thập thông tin về kinh tế - xã hội một số hộ xung quanh khu công nghiệp và cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu

Điều tra khảo sát thực địa xác định các vấn đề kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu Khảo sát thực địa để xác thực các nguồn số liệu, tài liệu đã được thu thập Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả tiến hành khảo sát: khảo sát thực địa tại các xã, phường thuộc điểm nghiên cứu, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, hiện trạng các nguồn thải phát sinh, các nguồn xả thải…

Trang 26

2.4.2.2 Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm

Phương pháp được thực hiện để đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường đất thuộc điểm nghiên cứu, diễn biến chất lượng đất

Trên cơ sở kế thừa, sử dụng các số liệu quan trắc tại khu vực điểm nghiên cứu

đã có từ mạng lưới quan trắc hiện trạng của tỉnh qua các năm và kết quả quan trắc kiểm soát ô nhiễm của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu nhằm đánh giá chi tiết tổng thể chất lượng môi trường đất thuộc điểm nghiên cứu

- Phương pháp lấy mẫu đất:

+ Mẫu đất được lấy ở cac tầng phẫu diện Mỗi khu lấy 3 mẫu ở 3 vị trí khác nhau (3 lần nhắc lại), các mẫu đất được lấy ở độ sâu từ 0 – 20cm tại 5 điểm theo đường chéo góc và trộn đều

+ Các mẫu đất được cho vào túi nilon, ghi ký hiệu mẫu và phiếu lấy mẫu ghi

ký hiệu mẫu, độ sâu lấy mẫu, địa điểm lấy mẫu ngày và người lấy mẫu

- Phương pháp phân tích mẫu

+ Hong khô đất: Đất nhập vào phòng phân tích phải được hong khô ngay Chuyển toàn bộ mẫu đất vào khay nhựa sạch, đề khô trong không khí nơi thoáng, sạch, không có các khí như H2S, NH3, HCl…không phơi trực tiếp ra ngoài nắng, tốt nhất phơi trong phòng sáng có lắp máy hút ẩm hoặc thông gió

+ Nghiền đất: Đất khô không khí sau khi nhặt kỹ sỏi, đá, kết von và xác hữu

cơ được đem nghiền trong cối sứ bằng chày sứ bọc cao su hoặc bằng máy nghiền chuyên dụng Cần thiết phải nghiền cho đến khi tất cả đất lọt qua rây Sỏi còn lại trên rây và sỏi sạn nhặt ra trước phải được cân khối lượng trên cân kỹ thuật và tính phần trăm so với tổng khối lượng mẫu để tính toán hàm lượng các nguyên tố xác định

+ Một số chỉ tiêu phân tích khác như tổng số chất hữu cơ, tổng số Nitơ, tổng số khoáng cần có độ mịn qua rây 0,2mm

Trang 27

+ Phá mẫu: Cân 0,2g đất bằng cân điện tử 5 số, sau đó cho 10ml axit HNO3đặc vào, sau đó cho vào máy phá mẫu đất Micro Wave trong vòng 30 phút rồi được đưa vào phân tích

- Phương pháp phân tích hoá tính đất: Mẫu đất được phân tích bằng máy quang phổ hấp thụ nguyên tử theo phương pháp sau (TCVN: 4050:1985; TCVN:

Trang 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN 3.1.1 Tình hình cơ bản và định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, là trung tâm chính trị kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng và vùng trung du miền núi đông bắc nói chung,

là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội của trung du miền núi với đồng bằng bắc bộ Thái Nguyên còn là tỉnh có khu gang thép đầu tiên của cả nước và là tỉnh đã cung cấp nhiều loại khoáng sản và vật liệu xây dựng cho trung du miền núi Bắc bộ, đồng bằng Sông Hồng và một số thành phố lớn và khu công nghiệp trọng điểm Hiện nay thái nguyên đang là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh vì Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp – xây dựng Trong thời kỳ 1996 – 2008, GDP ngành tăng bình quân hàng năm 9,93% (trong đó giai đoạn 2001 – 2005 tăng nhanh hơn, đạt 12,45%/năm, riêng ngành công nghiệp tăng với tốc độ 13,65%/năm)

Tỷ trọng ngành trong GDP toàn tỉnh tăng liên tục qua các năm và cho tới nay ngành này vẫn đóng góp nhiều nhất cho GDP của tỉnh Năm 2005 ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 38,64% GDP toàn tỉnh

Trong những năm tới ngành công nghiệp và xây dựng sẽ tăng với tốc độ nhanh, có chất lượng và hiệu quả, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng thời kỳ

2011 – 2020 dự kiến đạt 12,5 – 13,5%/năm; ưu tiên các nguồn lực, ưu đãi về chính sách cho một số ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực như: công nghiệp luyện kim, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, đồ uống, công nghiệp dệt may, da giầy và tăng nhanh nhóm ngành chủ đạo, có lợi thế, có truyền thống, hình thành các ngành sản xuất, sản phẩm công nghiệp mới, tăng nhóm ngành sản xuất hàng xuất khẩu, tăng thoả đáng các ngành công nghiệp chủ lực, chuyển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và lao động có trình độ không cao về khu vực

Trang 29

nông thôn, huy động có hiệu quả các nguồn lực nội sinh, thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài Phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung, gắn với phát triển hệ thống hạ tầng đô thị, kết hợp các loại quy mô, loại hình sản xuất, hiện đại hoá và đổi mới thiết bị, công nghệ theo hướng

- Tập trung thu hút các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh

- Phát huy mọi nguồn lực, sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế để phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tập trung vào các lĩnh vực sau:

+ Sản xuất cơ khí, luyện kim

+ Công nghiệp nhẹ thu hút nhiều lao động

+ Chế biến nông sản thực phẩm

+ Sản xuất vật liệu xây dựng

- Đối với các doanh nghiệp cần đầu tư về chiều sâu, đổi mới trang thiết bị, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại hoá cải tiến công tác quản lý nhằm hạ giá thành, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu

- Lựa chọn phát triển các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp với quy mô, trình độ thích hợp, ưu tiên các dự án đầu tư có trình độ công nghệ cao, vốn lớn, những ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động

- Tăng cường công tác đào tạo nghề nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

- Tăng cường công tác an ninh, đảm bảo trật tự xã hội nhằm tạo môi trường

an toàn cho các doanh nghiệp

- Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường

3.1.2 Một số chính sách khuyến khích ƣu đãi đầu tƣ

- Chính sách về đất đai

- Chính sách thuế và ưu đãi tài chính

- Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề

- Hỗ trợ về vốn đầu tư

Trang 30

- Đơn giản hoá các thủ tục hành chính về:

+ Đất đai, đền bù, giải phóng mặt bằng, giao đất

+ Rút ngắn thời gian trong việc tiếp nhận thẩm định dự án

- Xây dựng các khu tái định cư cho các hộ bị thu hồi đất

- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia tiêu thụ sản phẩm

3.1.3 Sự hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên

Đến hết năm 2011 tỉnh Thái Nguyên hiện có 6 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đưa vào danh mục các khu công nghiệp Việt Nam, gồm: Sông Công I, Sông Công II (thị xã Sông Công), Điềm Thụy (huyện Phú Bình), Nam Phổ Yên, Tây Phổ Yên (huyện Phổ Yên) và Quyết Thắng (thành phố Thái Nguyên) Theo quy hoạch đã được phê duyệt, các khu công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên sử dụng tổng diện tích đất 1.420 ha và đã có 18 cụm công nghiệp được phê duyệt qui hoạch chi tiết với diện tích 620 ha, riêng diện tích đất công nghiệp là 407,6 ha, thu hút 30 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 2.000 tỷ đồng, trong đó có ba dự án đầu tư nước ngoài Tuy có những thành công bước đầu nêu trên, nhưng nhìn tổng thể quá trình hình thành, phát triển các KCN, CCN tập trung của tỉnh Thái Nguyên còn chậm và nhỏ lẻ, không tương xứng với một tỉnh được cho

là có tiềm năng phát triển công nghiệp [33] Vì vậy hiện nay Thái Nguyên đang kêu gọi các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các KCN, CCN Đồng thời các bộ, ngành liên quan nên kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn để thực hiện luật và nghị định của Chính phủ như (Nghị định 29/2008/NĐ- CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế

3.1.4 Sơ lƣợc về 3 khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu

Qua phân tích các tư liệu hiện có và khảo sát thực tế cho thấy các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu có những đặc điểm sau:

Trang 31

3.1.4.1 Khu công nghiệp Lưu Xá

Đây là khu công nghiệp nằm trên địa bàn của phường Cam Giá thuộc thành phố Thái Nguyên, được xây dựng trên nền tảng của Công ty gang thép Thái Nguyên từ 1959 đến năm 1963 Qua quá trình hình thành và phát triển công ty đã nhiều lần tiến hành quy hoạch, tổ chức lại sản xuất Do đó đến năm 2005 theo số liệu kiểm kê đất đai của phường Cam Giá diện tích đất khu công nghiệp Gang Thép Lưu Xá là 111,01 ha và đến năm 2010 chỉ còn 84,24 ha, giảm 25,86 ha do chuyển mục đích sử dụng (trong đó gồm diện tích bãi thải cũ, xí nghiệp tấm lợp

và xây dựng thêm một số công trình công cộng như giao thông thuỷ lợi và một số mục đích khác) Các loại cây trồng trong khu vực chủ yếu là lúa nước và một số cây công nghiệp ngắn ngày, năng suất cây trồng khá cao Nước sử dụng cho nông nghiệp chủ yếu là nước sông Cầu và một phần nước thải của khu công nghiệp Lưu Xá Cơ sở hạ tầng khá phát triển, hệ thống giao thông phần lớn là đường bê tông và đường nhựa Tổng diện tích đất tự nhiên của cả phường là 897,54 ha Đất khu công nghiệp hiện nay là 84,24 ha Đất nông nghiệp là 531,21 ha Đất ở là 61,16 ha, đất cơ sở sản xuất kinh doanh là 48,75 ha

3.1.4.2 Khu công nghiệp Sông Công

Đây là khu công nghiệp nằm trên địa bàn xã Tân Quang, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 18km, cách Hà Nội 70km, cách cảng đường sông Đa Phúc 15km, cách ga tàu Lương Sơn 1km Khu công nghiệp Sông Công I được thành lập từ năm 1997 theo Quyết định số 713/TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 30/8/1997 với diện tích ban đầu là 320 ha, nay điều chỉnh xuống còn 220 ha Tính đến cuối năm 2010 đã giải phóng được 73,1 ha, thu hút đầu tư được 45 dự án với tổng số vốn đăng ký là 3 nghìn tỷ đồng, nay đã thực hiện được 1500 tỷ đồng

3.1.4.3 Cụm công nghiệp Cao Ngạn

Đây là cụm công nghiệp được thành lập từ năm 2005 trên địa bàn xã Cao Ngạn với diện tích 100 ha, cách thành phố Thái Nguyên 8km về phía Tây Bắc

Phía Bắc giáp đường quy hoạch từ ngã ba Gốc Vối đi cầu treo Sơn Cẩm;

Trang 32

Phía Nam giáp đường nối quốc lộ 3 với quốc lộ 1B;

Phía đông giáp khu đồi cao và dân cư xóm Ao Vàng

Phía Tây giáp dân cư xóm Quyết Thắng

3.2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TẠI ĐỊA BÀN CÓ KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP THUỘC ĐIỂM NGHIÊN CỨU 3.2.1 Hiện trạng về quản lý đất trong khu vực của 3 khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu

Qua các báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng đất và khảo sát thực tế tại các phường xã có khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu cho thấy: Công tác quản lý đất đai tại các cơ sở đã được nâng cao rõ rệt Cán bộ địa chính các phường xã dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của phòng Tài nguyên và môi trường đã thực hiện khá đầy đủ và có chất lượng về công tác quản lý đất đai như: Phường Cam Giá

đã thực hiện được công tác đo đạc bản đồ địa chính bằng kỹ thuật tiên tiến với tỷ lệ 1/500 và 1/2000 (75,11 ha) Công tác giao đất, cho thuê đất trên địa bàn phường cơ bản được triển khai theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật Phường cũng đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất, trong đó có một số khu vực đã thực hiện quy hoạch chi tiết và lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết trong phường Về công tác thống

kê, kiểm kê đất đai được thực hiện định kỳ 5 năm một lần, đồng thời lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất Việc chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất và sở hữu nhà nước được thực hiện theo giá chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân thành phố Công tác thanh tra, kiểm tra về sử dụng đất được tiến hành thường xuyên nên đã hạn chế được tình trạng lấn chiếm đất trái phép Tuy nhiên cũng còn nhiều trường hợp sử dụng đất sai mục đích hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng Phường cũng rất quan tâm đến giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết kịp thời đơn khiếu nại tố cáo các vi phạm về quản lý và sử dụng đất Những kết quả về quản lý đất đai của phường Cam Giá được thể hiện trong bảng sau:

Trang 33

Bảng 3.1 Kết quả thực hiện công tác quản lý đất đai tại phường Cam Giá trong năm 2010

Tại xã Cao Ngạn là địa bàn của cụm công nghiệp Cao Ngạn thuộc thành phố Thái Nguyên Công tác quản lý đất đai đã thực hiện được một số công việc cụ thể như sau:

- Điều tra đất đang sử dụng của các tổ chức do nhà nước giao đất, cho thuê đất theo chỉ thị 245/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ

- Lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

- Tiến hành giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Lập kế hoạch sử dụng đất

- Thống kê đất đai được thực hiện hàng năm và hoàn thành công tác kiểm kê đất theo định kỳ 5 năm

Trang 34

- Thực hiện vượt kế hoạch thu thuế đất, thuế chuyển nhượng đất, tiền sử dụng đất và thuê đất

- Quản lý chặt chẽ việc chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở theo chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân thành phố

- Thường xuyên kiểm tra theo dõi các trường hợp sử dụng đất sai mục đích, không đúng kế hoạch, kiểm tra theo dõi các quy hoạch treo trên địa bàn xã nhằm đảm bảo sử dụng đất theo pháp luật Tuy nhiên trong công tác quản lý đất đai tại xã Cao Ngạn cũng còn tồn tại một số vấn đề như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, lấn chiếm, tranh chấp đất đai trên địa bàn còn xảy ra, việc thu hồi đất giải phóng mặt bằng để chuyển mục đích sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn Tình trạng khiếu nại tố cáo về quản lý sử dụng đất còn khá phổ biến

Tuy vậy trong quản lý đất đai tại xã Cao Ngạn đã thực hiện được những công việc cụ thể như bảng sau:

Bảng 3.2 Kết quả thực hiện công tác quản lý đất đai tại xã Cao Ngạn

(ha)

Trang 35

Tại xã Tân Quang, thị xã Sông Công là xã có khu công nghiệp Sông Công I và Sông Công II Toàn xã có 1959 ha đất tự nhiên Trong đó đất nông nghiệp chiếm 60%, đất chuyên dùng chiếm 22%, trong tương lai đất nông nghiệp của xã Tân Quang sẽ tiếp tục giảm khi khu công nghiệp Sông Công I thu hồi đất giai đoạn 2 và khu công nghiệp 2 (250 ha) đi vào hoạt động Vì vậy công tác quản lý sử dụng đất của xã Tân Quang càng trở nên phức tạp Tuy nhiên dưới sự chỉ đạo trực tiếp của

Uỷ ban nhân dân tỉnh và sự phối hợp chặt chẽ của sở Tài nguyên môi trường và Ban quản lý các khu công nghiệp thì xã Tân Quang đã thực hiện được một số công việc thuộc chức năng quản lý đất đai trên địa bàn

Bảng 3.3 Kết quả thực hiện công tác quản lý đất đai tại xã Tân Quang

(ha)

4 Thống kê hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

năm 2005 đến 2009 theo từng loại cây trồng

1184,05

7 Giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo

Qua tìm hiểu những khó khăn thuận lợi và kết quả thực hiện trong quản lý đất đai của các xã phường có khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu cho thấy: Công tác quản lý đất đai tại khu vực có khu công nghiệp, cụm công nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng khi đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện thống nhất quản lý bởi vì khi có sự xuất hiện một khu công nghiệp

Trang 36

- Diện tích đất bị chuyển đổi mục đích sử dụng là rất lớn như xã Tân Quang có đến 23,1%, xã Cao Ngạn 17,58% đất nông nghiệp phải chuyển sang đất công nghiệp dẫn đến thay đổi cơ cấu ngành nghề, mặc dù có tái định cư và kèm theo các chế độ ưu đãi khác nhưng cũng khó đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của cộng đồng dân cư tại địa phương

- Diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp bị giảm thì cơ cấu sử dụng đất cũng

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất tại các xã phường có khu công nghiệp, cụm

công nghiệp thuộc điểm nghiên cứu

3.2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất tại xã Tân Quang và khu công nghiệp Sông Công

Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất tại xã Tân Quang, thị xã Sông Công

Thứ

tự Mục đích sử dụng đất

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

1 Tổng diện tích đất tự

Trang 37

8 Đất cho khu công

-

Số liệu bảng trên cho thấy diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất so với đất tự nhiên là 60%, sau đó đến đất chuyên dùng chiếm 22% Trong diện tích đất nông nghiệp đất trồng lúa từ 2005 đến 2011 có sự biến động như sau:

Bảng 3.5 Diễn biến diện tích đất trồng lúa tại xã Tân Quang

năm 2009 N ăm 2010 Năm 2011

Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất nuôi trồng thuỷ sản Đất ở

Đất chuyên dùng Đất chưa sử dụng Đất cho khu công nghiệp Sông Công

Hình 3.1 Hiện trạng sử dụng đất tại xã Tân Quang

Ngày đăng: 24/03/2021, 21:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w