Trong những năm qua, hòa chung với nhịp độ phát triển của tỉnh Quảng Ninh, trên địa bàn phường Cao Xanh đã diễn ra quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng đất của
Trang 1NGUYỄN THỊ THUỶ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHƯỜNG CAO XANH,
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 62 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc./
Tác giả
Nguyễn Thị Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đây là thời gian để mỗi học viên cao học củng cố và vận dụng những kiến thức đã học, đồng thời tiếp nhận thêm những kiến thức ngoài thực tế
Để hoàn thành luận văn và có kết quả như ngày hôm nay em xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông – giảng viên khoa tài
nguyên và môi trường đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên; đặc biệt là các thầy, cô giáo khoa sau đại học, khoa tài nguyên và môi trường đã quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập
và rèn luyện tại trường
Xin trân trọng cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Đội Thanh tra xây dựng và Trật tự đô thị thành phố Hạ Long; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, cán bộ địa chính và xây dựng các phường trên địa bàn Thành phố đã tạo điều kiện cho tác giả thu thập số liệu và những thông tin cần thiết liên quan phục vụ quá trình thực hiện Luận văn này
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm2012
Tác giả
Nguyễn Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU I
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận về đất đai 4
1.1.1 Đất đai và các chức năng của đất đai 4
1.1.2 Những xu thế phát triển sử dụng đất 5
1.2 Tổng quan những vấn đề về quy hoạch sử dụng đất 8
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất 8
1.2.2 Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất 9
1.2.3 Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 12
1.2.4 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất 15
1.3 Tình hình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất trên thế giới 16
1.3.1 Quy hoạch sử dụng đất ở các nước châu Âu 17
1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất ở các nước châu Á 18
1.4 Tình hình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 20
1.5 Những vấn đề về đánh giá thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất 26
1.5.1 Nhận thức vai trò và các biện pháp nâng cao chất lượng của công tác quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong thời kỳ mới 26
1.5.2 Vị trí của công tác quy hoạch sử dụng đất trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất quốc gia 28
1.5.3 Các yêu cầu nâng cao chất lượng của công tác quy hoạch sử dụng đất 29
Chương 1: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… ……….33
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.3.1 Điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 33
2.3.2 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai 33
2.3.3 Khái quát phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phường Cao Xanh giai đoạn 2006 – 2010 34
Trang 52.3.4 Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 -
2010 trên địa bàn phường Cao Xanh thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh 34
2.3.5 Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 trên địa bàn phường Cao Xanh 34
2.3.6 Những tồn tại và giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đạon 2006-2010 của phường Cao Xanh 34
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế 41
3.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 43
3.1.4 Thực trạng phát triển đô thị - khu dân cư đô thị 44
3.1.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 45
3.1.6 Ảnh hưởng việc phát triển kinh tế xã hội đến môi trường 46
3.1.7 Đánh giá chung 48
3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai Phường Cao Xanh giai đoạn 2006 - 2010 50
3.2.1 Thực trạng công tác quản lý đất đai của phường Cao Xanh giai đoạn 2006 - 2010 50
3.2.2 Những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai 52
3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 53
3.3 Khái quát phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 56
3.3.1 Phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 56
3.3.2 Kế hoạch sử dụng đất hàng năm (2006 -2010 59
3.4 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phường Cao Xanh giai đoạn 2006 - 2010 60
3.4.1 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch đất nông nghiệp 61
3.4.2 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp 62
3.4.3 Đánh giá kết quả thực hiện đưa vào sử dụng đất chưa sử dụng 66
3.5 Đánh giá công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 67
3.6 Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010 của phường Cao Xanh theo ý kiến người sử dụng 76
3.6.1 Đánh giá công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của phường Cao Xanh giai đoạn 2006 – 2010 theo ý kiến người sử dụng 76
Trang 63.6.2 Đánh giá tính hợp lý và kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của phường Cao Xanh giai đoạn 2006 – 2010 theo nhóm đối tượng điều tra 78 3.7 Những tồn tại và giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đạon 2006-2010 của phường Cao Xanh 82 3.7.1 Những khó khăn, tồn tại trong việc quản lí và thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 của phường Cao Xanh 82 3.7.2 Những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả quản lí và thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2020 của phường Cao Xanh 83
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN : Công nghiệp
CTSN : Công trình sự nghiệp
ĐCQH : Điều chỉnh quy hoạch
ĐCQHSDĐ : Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
HĐND : Hội đồng nhân dân
KCN : Khu công nghiệp
TNMT : Tài nguyên môi trường
TTCN : Trung tâm công nghiệp
UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 54 Bảng 3.2 Chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 phường Cao Xanh 57 Bảng 3.3 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất từ năm 2006 đến
năm 2010 59 Bảng 3.4 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phường Cao
Xanh giai đoạn 2006-2010 60 Bảng 3.5 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phường Cao
Xanh giai đoạn 2006-2010 631 Bảng 3.6 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong nội bộ đất chuyên dùng 643 Bảng 3.7 Tính hợp lý và việc quản lý quy hoạch của phường Cao Xanh theo
ý kiến người sử dụng 64
Trang 9hoạch sử dụng đất theo nhóm đối tượng sử dụng 78 Hình 3.7 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất so với khi xây
dựng phương án theo nhóm đối tượng sử dụng 80 Hình 3.8 Đánh giá đơn giá bồi thường, hỗ trợ về đất so với giá thị trường khi
thực hiện quy hạch sử dụng đất theo nhóm đối tượng sử dụng 81 Hình 3.9 Ảnh hưởng của phương án quy hoạch sử dụng đất đến sự phát triển
kinh tế và các vấn đề xã hội của địa phương 82
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế Sản xuất nông nghiệp liên quan chặt chẽ với đất, phụ thuộc vào độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất Tuy vậy, đất đai là một nguồn tài nguyên có giới hạn số lượng, cố định về vị trí không gian, không thể di chuyển theo
ý chí chủ quan của con người Bên cạnh đó, Việt Nam là nước đất chật, người đông, dân số gia tăng nhanh làm cho nhu cầu lương thức, thực phẩm ngày càng lớn, gây ra
áp lực không nhỏ đến đất đai Vì vậy, sử dụng quỹ đất tiết kiệm, hợp lý trên cơ sở hiệu quả, bền vững và cân đối quỹ đất cho phất triển các ngành công nghiệp, xây dựng hạ tầng, từng bước đáp ứng quá trình phát triển chung của đất nước là yêu cầu cấp thiết
Quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”; Luật Đất đai năm 2003 đã dành 10 điều, từ Điều 21 đến Điều 30 quy định về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp
Tuy nhiên, quy hoạch sử dụng đất mới chủ yếu dừng lại ở việc giải quyết, sắp xếp quỹ đất theo mục đích sử dụng đất, chưa căn cứ vào tiềm năng đất, chưa thực sự tính toán đầy đủ tới mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Vấn đề này
đã dẫn đến thực trạng đất sản xuất nông nghiệp còn manh mún, rừng tiếp tục bị tàn phá, diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất bị xói mòn còn lớn Đặc biệt là sử dụng đất tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu đô thị, công trình hạ tầng ở tình trạng vừa thừa, vừa thiếu quỹ đất, nhiều nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả gây ra việc sử dụng đất lãng phí, nhiều công trình không có trong quy hoạch sử dụng đất vẫn được triển khai thực hiện Vì vậy, việc đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện của các phương án quy hoạch sử dụng đất hiện nay là rất cần thiết
Trang 11Phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long cũng không nằm ngoài tình hình chung của cả nước, với diện tích tự nhiên là 701.3 ha Trong những năm qua, hòa chung với nhịp độ phát triển của tỉnh Quảng Ninh, trên địa bàn phường Cao Xanh đã diễn
ra quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế ngày một gia tăng, đã tác động mạnh mẽ đến sự biến động cơ cấu đất đai của địa phương và công tác quy hoạch sử dụng đất vẫn chưa đáp ứng hết được những đòi hỏi cấp thiết đó Dẫn đến vấn đề sử dụng và quản lý trên địa bàn phường gặp nhiều khó khăn và phức tạp Nhiều công trình, dự án lớn được đầu tư phát triển trên địa bàn phường cần bố trí đất, sự gia tăng dân số cũng gây áp lực không nhỏ đối với quỹ đất của địa phương và hầu hết các ngành kinh tế trên địa bàn đều có nhu cầu về đất để mở rộng và phát triển Vì vậy để phát triển đúng hướng và bền vững, công tác quản lý đất đai có ý nghĩa quan trọng đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất Với mục tiêu giúp địa phương nhìn nhận sát thực tế về kết quả thực hiện phương
án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010, những bất cập còn tồn tại trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 từ đó tìm ra những giải pháp sử dụng hợp lý đất đai và nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng
đất trong giai đoạn tới; tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 - 2010”
2 Mục tiêu
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch , kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 của phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long để thấy được những việc đã làm tốt trong công tác quản lý và thực hiện quy hoạch cũng như việc chưa làm được trong công tác này
- Tìm ra những khó khăn, tồn tại và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp nói chung và đối với phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long nói riêng
2.2 Mục tiêu chi tiết
- Tìm hiểu điều kiện kinh tế xã hội, công tác quản lý đất đai, hiện trạng sử dụng đất phường Cao Xanh
Trang 12- Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010 của phường Cao Xanh
- Đánh giá công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất qua các năm trong giai đoạn 2006 – 2010 của phường Cao Xanh
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phường Cao Xanh thong qua ý kiến của người sử dụng
- Những tồn tại và giải pháp khắc phục trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất phường Cao Xanh
3 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu và đánh giá phương án quy hoạch sử dụng đất và phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 của phường Cao Xanh;
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất theo các số liệu đã điều tra và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất của phường Cao Xanh các giai đoạn sau
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về đất đai
1.1.1 Đất đai và các chức năng của đất đai
Khái niệm về đất đai gắn liền với nhận thức của con người về thế giới tự nhiên Sự nhận thức này không ngừng thay đổi theo thời gian Trong vòng 30 năm trở lại đây, trên nhiều diễn đàn người ta đã thừa nhận, đối với con người đất đai có những chức năng chủ yếu sau đây [23] :
* Chức năng môi trường sống
Đất đai là cơ sở của mọi hình thái sinh vật sống trên lục địa thông qua việc cung cấp các môi trường sống cho sinh vật và gien di truyền để bảo tồn cho thực vật, động vật và các cơ thể sống cả trên và dưới mặt đất
* Chức năng sản xuất
Đất đai là cơ sở cho rất nhiều hệ thống phục vụ cuộc sống con người qua quá trình sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm sinh vật khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp qua chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại thuỷ hải sản
* Chức năng cân bằng sinh thái
Đất đai và việc sử dụng nó là nguồn và là tấm thảm xanh, hình thành một thể cân bằng năng lượng trái đất, sự phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng lượng phóng
xạ từ mặt trời và của tuần hoàn khí quyển địa cầu
* Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước
Đất đai là kho tàng lưu trữ nước mặt và nước ngầm vô tận, có tác động mạnh tới chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và có vai trò điều tiết nước rất to lớn
* Chức năng dự trữ
Đất đai là kho tài nguyên khoáng sản cung cấp cho mọi nhu cầu sử dụng của con người
* Chức năng không gian sự sống
Đất đai có chức năng tiếp thu, gạn lọc, là môi trường đệm và làm thay đổi hình thái, tính chất của các chất thải độc hại
Trang 14* Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử
Đất đai là trung gian để bảo vệ, bảo tồn các chứng cứ lịch sử, văn hoá của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết trong quá khứ và cả về việc sử dụng đất đai trong quá khứ
* Chức năng vật mang sự sống
1.1.2 Những xu thế phát triển sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất Vì vậy, việc sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện theo bốn mặt sau [10]:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành
cơ cấu kinh tế sử dụng đất;
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh
tế sử dụng đất;
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh
tế, tập trung, thâm canh
Hiện nay, xu thế sử dụng đất được phát triển theo các hướng sau:
a Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
Lịch sử phát triển của xã hội loài người chính là lịch sử biến đổi của quá trình
sử dụng đất Khi con người còn sống bằng phương thức săn bắn và hái lượm, chủ yếu dựa vào sự ban phát của tự nhiên, vấn đề sử dụng đất hầu như không tồn tại Thời kỳ du mục, con người sống trong lều cỏ, những vùng đất có nước và đồng cỏ bắt đầu được sử dụng Khi xuất hiện ngành trồng trọt với những công cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, năng lực sử dụng và ý nghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng Tuy nhiên, trình độ sử dụng đất còn rất thấp,
Trang 15phạm vi sử dụng cũng rất hạn chế, mang tính kinh doanh thô, đất khai phá phá nhiều nhưng thu nhập rất thấp Với sự tăng trưởng của dân số và phát triển của kinh
tế, kỹ thuật, văn hoá và khoa học, quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân ngày càng cao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng dần, phạm vi sử dụng đất càng mở rộng (từ cục bộ một vùng đã phát triển trên phạm vi
cả thế giới, thậm chí kể cả những vùng đất trước đây không thể sử dụng được) [11] Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn nhiều Đất canh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đích khác đều được phát triển theo hướng kinh doanh tập trung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng cao [16]
Tuy nhiên, thời kỳ quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài Để nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, đòi hỏi phải liên tục nâng mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và công tác quản lý Những khu vực khác nhau của một vùng hoặc một quốc gia, có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật cũng như các điều kiện đặc thù, do đó phải áp dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều phương thức sử dụng đất tuỳ từng thời điểm khác nhau [10]
b Sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hoá và chuyên môn hoá
Khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội phát triển, sử dụng đất từ hình thức quảng canh chuyển sang thâm canh, kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá cơ cấu sử dụng đất
Khi kinh tế phát triển, nhu cầu của con người về vật chất, văn hoá, tinh thần và môi trường ngày càng cao sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi yêu cầu cao hơn đối với đất đai Khi đời sống đã nâng cao, chuyển sang giai đoạn hưởng thụ, vấn đề sử dụng đất ngoài việc sản xuất vật chất thoả mãn được nhu cầu vui chơi, giải trí, văn hoá, thể thao và môi trường trong sạch đã làm cho cơ cấu sử dụng đất trở nên phức tạp hơn [9]
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các biện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức sản xuất của đất đai, thoả mãn các loại nhu cầu của xã hội Trước đây, việc sử dụng đất rất hạn chế do kinh tế và khoa học kỹ thuật còn ở trình độ thấp, chủ yếu sử dụng bề mặt của
Trang 16đất đai, nông nghiệp độc canh, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, mặt nước ít được khai thác, khai thác khoáng sản hạn chế, xây dựng chủ yếu chọn đất bằng Khi khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển, ngay cả đất xấu cũng được khai thác triệt để, hình thức sử dụng đa dạng, ruộng nước phát triển đã làm cho nội dung sử dụng đất ngày càng phức tạp hơn theo hướng sử dụng toàn diện, triệt để các chất dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai để phục vụ lợi ích con người
Hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế hàng hoá, dẫn đến sự phân công trong sử dụng đất theo hướng chuyên môn hoá Do đất đai có đặc tính khu vực rất mạnh, sự sai khác về ưu thế tài nguyên hết sức rõ rệt, phương hướng và biện pháp sử dụng đất của các vùng cũng rất khác nhau Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất cần có sự phân công và chuyên môn hoá theo khu vực Cùng với việc đầu tư, trang bị và ứng dụng các công cụ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại sẽ nẩy sinh yêu cầu phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất khác nhau về hình thức và quy mô [25]
c Sử dụng đất phát triển theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá
Mỗi vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một loại sản phẩm và hỗ trợ bổ sung lẫn nhau đã hình thành nên sự phân công hợp tác mang tính xã hội hoá sản xuất, cũng như xã hội hoá việc sử dụng đất đai
Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống và xã hội tồn tại
Vì vậy, việc chuyên môn hoá theo yêu cầu xã hội hoá sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của xã hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội Ngay cả ở xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân, những vùng đất đai hướng sử dụng cộng đồng như: Nguồn nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi vẫn có những quy định về chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh doanh của Nhà nước nhằm ngăn chặn, phòng ngừa việc tư hữu tạo nên những mâu thuẫn gay gắt của xã hội
Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội hoá sản xuất Vì vậy, xã hội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hoá và công hữu hoá sử dụng đất [12]
Trang 171.2 Tổng quan những vấn đề về quy hoạch sử dụng đất
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất
“Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ), tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định [23]
Về mặt bản chất: đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, quy hoạch
sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh
tế, kỹ thuật và pháp chế Trong đó:
- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra,
khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu
- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất
theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật
Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường”[23]
Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định Tính hợp lý: Đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu
và mục đích sử dụng
Tính khoa học: Áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến Tính hiệu quả: Đáp ứng đồng bộ lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường
Trang 18Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; Xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá -
xã hội [8]
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá
vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về những tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương
1.2.2 Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất
1.2.2.1 Hệ thống văn bản pháp lý
* Nhóm các văn bản của trung ương
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Điều 17, 18
- Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về
thi hành Luật Đất đai 2003
- Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày 24 tháng 10 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 về việc
hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 19-Thông tư số 04/2006/TT-BTNMT ngày 22 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng dự toán kinh phí thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
* Nhóm các văn bản của địa phương
- Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2010,
kế hoạch sử dụng đất chi tiết giai đoạn 2006-2010 của phường Cao Xanh, thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Quyết định số 1276/QĐ-UB ngày 23/4/2002 của UBND tỉnh "V/v uỷ quyền cho chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, sở hữu đất ở"
- Quyết định số 1615/QĐ-UB ngày 15/5/2002 về trình tự, thủ tục xét lập hồ sơ giao đất, thuê đất, chuyển mục đích, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Quyết định số 621/2003/QĐ-UB ngày 04/3/2003 của UBND tỉnh "V/v uỷ quyền cho chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố giao đất ở, chuyển mục đích
sử dụng đất khác sang đất ở cho hộ gia đình, cá nhân"
- Chỉ thị số 14/2002/CT-UB ngày 27/5/2002 của UBND tỉnh "V/v đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Chỉ thị số 32/2003/CT-UB ngày 16/12/2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã đến năm 2010
Trang 20- Kế hoạch số 2723/KH-UB ngày 09/11/2004 về việc kiểm kê đất đai năm
2005 theo chỉ thị số 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
- Quyết định số 1678/2005/QĐ-UB ngày 16/2/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành quy định về thẩm quyền thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư
và các loại văn bản khác
- Công văn số 3687/UBND-CN2 ngày 06/10/2006 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước của các địa phương đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn
1.2.2.2 Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã nêu: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng
mục đích và có hiệu quả” (chương II, điều 18)
- Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 nêu rõ [15]:
+ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
+ Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai
+ Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai
+ Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất
ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Điều 6 Luật Đất đai năm 2003, xác định một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Nghị Quyết số 01/1997/QH9 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 về kế hoạch sử dụng đất
cả nước năm 2000 và đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp đến năm 2010
Như vậy, để sử dụng và quản lý đất đai (thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt) một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả nhất thiết phải làm quy hoạch
1.2.2.3 Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất
Điều 25 Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính [15]:
Trang 211 Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của
cả nước
2 Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trình (quy hoạch theo lãnh thổ hành chính – trừ trường hợp các đơn vị hành chính cấp dưới thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị) Trình Hội đồng nhân dân thông qua trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
3 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được trình đồng thời với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội
1.2.2.4 Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 26 Luật Đất đai năm 2003 quy định thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai [15]:
1 Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước
2 Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
3 Uỷ ban nhân dân cấp trên xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp
4 Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị
1.2.3 Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau: Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng nằm trong
quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như
nội dung và phương pháp quy hoạch Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng
đất được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất) từ tổng thể
đến thiết kế chi tiết [15]
Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (Điều 25) quy định: quy hoạch sử
dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính
Trang 22(1) Quy hoạch sử dụng đất cả nước (gồm cả quy hoạch sử dụng đất các vùng kinh tế tự nhiên);
(2) Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
(3) Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
(4) Quy hoạch sử dụng đất cấp xã (không thuộc khu vực quy hoạch phát triển
đô thị)
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao gồm:
Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và
tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một bước quy hoạch
sử dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; Làm căn cứ, cơ sở để các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất của địa phương mình và để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm làm căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy định cụ
thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều nằm
trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính Đối với quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy định riêng tại Điều 30 [15]
Tuy nhiên, có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin
tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và
có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành Nói khác đi, quy hoạch ngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
Trang 23Trong nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất theo ngành bao gồm quy hoạch sử dụng đất các vùng sản xuất chuyên môn hoá và quy hoạch sử dụng đất các xí nghiệp Quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên môn hoá - sản xuất hàng hoá
có thể nằm gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở một đơn vị hành chính
Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chuyên môn hóa phải kết hợp phát triển tổng hợp để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp là hệ thống biện pháp về tổ chức, kinh tế và kỹ thuật nhằm bố trí, sắp xếp, sử dụng các loại đất như tư liệu sản xuất một cách hợp lý để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá, đem lại nguồn thu nhập lớn Nội dung quy hoạch đất đai của xí nghiệp rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Quy hoạch ranh giới địa lý; Quy hoạch khu trung tâm; Quy hoạch đất trồng trọt; Quy hoạch thuỷ lợi; Quy hoạch giao thông; Quy hoạch rừng phòng hộ Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp có thể tiến hành trong các vùng sản xuất chuyên môn hóa hoặc có thể độc lập ở ngoài vùng Quy hoạch sử dụng đất được phân kỳ thực hiện theo kế hoạch 5 năm Kế hoạch sử dụng đất cũng được lập theo cấp lãnh thổ hành chính nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Bao quát được toàn bộ đất đai phục vụ cho nền kinh tế quốc dân ;
- Phát triển có kế hoạch tất cả các ngành kinh tế trên một địa bàn nhất định;
- Thiết lập được cơ cấu sử dụng đất hợp lý trên địa bàn cả nước, trong các ngành và trên từng địa bàn lãnh thổ;
- Đạt hiệu quả đồng bộ cả ba lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường;
Kế hoạch sử dụng đất theo ngành và cả nước phải đảm bảo thực hiện được các mục tiêu vĩ mô (bao quát chung cho toàn xã hội và cả nước) như : An ninh lương thực, bảo vệ môi trường, công bằng xã hội Còn kế hoạch theo lãnh thổ hành chính phải cụ thể hoá các mục tiêu vĩ mô, cùng với việc xử lý các mục tiêu cụ thể của địa phương và các vấn đề cụ thể của từng chủ sử dụng đất khác nhau trên địa bàn [8]
Kế hoạch sử dụng đất phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dựa trên mục đích chung vì lợi ích lâu dài phát triển kinh tế – xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu của nhân dân về tinh thần và vật chất Tuy nhiên, cần lưu ý điểm khác biệt: Kế hoạch sử dụng đất chú trọng phát triển hình thức không gian ; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội chú trọng phát triển hình thức thời gian, nhưng nội dung lại được triển khai với hình thức không gian nhất định Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội
Trang 24là tiền đề của kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất là sự tiếp tục của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nhằm bố trí không gian thống nhất đối với các hạng mục liên quan đến đất đai (xây dựng, khai hoang, chuyển mục đích sử dụng đất ) trong thời kỳ kế hoạch [6]
Thời hạn lập kế hoạch sử dụng đất thường thống nhất với thời hạn lập kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các ngành, các cấp lãnh thổ hành chính và được thực hiện trong thời gian 5 năm
1.2.4 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước (khác nhau về không gian), nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch sử khác nhau (về thời gian) là rất khác nhau
Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm [6]: (1) Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai (đặc biệt là đất chưa sử dụng);
(2) Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản về
sử dụng đất trong kỳ quy hoạch (dựa trên cơ sở dự báo biến động sử dụng đất đai, nhu cầu đất của các ngành kinh tế quốc dân, khả năng đáp ứng về số lượng và chất lượng đất đai);
(3) Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh (điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, phân phối hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, xử lý, điều hoà nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành, đưa ra các chỉ tiêu khống chế - chỉ tiêu khung để quản lý vĩ mô đối với từng loại sử dụng đất - 3 nhóm đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 2003);
(4) Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;
(5) Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường;
(6) Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; Khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúng mục đích; Hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất [1]
Trang 25Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước
Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: toàn quốc (bao gồm cả cấp vùng), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khác nhau Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô [4]
1.3 Tình hình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất trên thế giới
Công tác QHSDĐ gắn chặt với sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thể giới, nhận thức sớm được vai trò, tầm quan trọng của công tác QHSDĐ Vì vậy công tác QHSDĐ luôn là mục tiêu phấn đấu, là nhiệm vụ của mỗi quốc gia đồng thời nó cũng đóng vai trò quyết định đối với mọi quá trình phát triển Mặc dù
có nhiều quan điểm khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến mục tiêu chung là việc
tổ chức lãnh thổ hợp lý, đề ra các biện pháp bảo vệ sử dụng đất, tiết kiệm nhằm đem lại hiệu quả sử dụng cao [7]
Ở bất cứ quốc gia nào thì quy hoạch sử dụng đất đều giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước, công tác quy hoạch sử dụng đất được các nước đặc biệt quan tâm thực hiện từ rất sớm Mỗi quốc gia đều có các đặc điểm riêng biệt khác nhau từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến cấu trúc bộ máy Nhà nước Do đó việc quy hoạch sử dụng đất không phải ở quốc gia nào cũng giống nhau
Hiện nay trên thế giới có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ này đều có các chính sách, công cụ quản lý đất đai khác nhau trong
đó quy hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ rất quan trọng Công tác quy hoạch sử dụng đất đã được tiến hành nhiều năm trước đây, Ở Anh, Pháp, Nga đã xây dựng cơ sở lý luận của ngành quản lý đất đai tương đối hoàn chỉnh và ngày càng tiến bộ
Theo tổ chức Lương Nông Liên hợp quốc (FAO), quy hoạch sử dựng đất đai
là bước kế tiếp của phương pháp đánh giá đất Kết quả của việc đánh giá đất sẽ đưa
Trang 26ra một loại hình hợp lý nhất đối với đất đai trong vùng Để có một phương pháp chung làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch đất đai trên phạm vi toàn thế giới, FAO đã đưa ra quan điểm quy hoạch sử dụng đất đai nhằm sử dụng đất đai đầy
đủ, hợp lý và có hiệu quả, bền vững Phương pháp quy hoạch đất đai này được áp dụng ở cả 3 cấp là: cấp quốc gia, cấp vùng và cấp địa phương [10]
1.3.1 Quy hoạch sử dụng đất ở các nước châu Âu
Các nước châu Âu tồn tại hai loại hình quy hoạch tiêu biểu sau:
- Tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đảm bảo phát triển các mục tiêu một cách hài hoà, sau đó mới đi sâu vào nghiên cứu quy hoạch chuyên ngành, tiêu biểu cho loại hình quy hoạch này là Anh và Đức
- Tiến hành quy hoạch nông nghiệp là nền tảng sau đó làm quy hoạch cơ bản, lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo yêu cầu của cơ chế, kế
hoạch hoá tập trung Đất đai và lao động trở thành yếu tố cơ bản của vấn đề _
nghiên cứu Tiêu biểu cho loại hình quy hoạch này là Nga và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu trước đây [12]
* Quy hoạch sử dụng đất ở Liên Xô (cũ)
Sau khi cuộc cách mạng vô sản thành công Liên Xô cũ và các nước Đông Âu tiến lên chủ nghĩa xã hội, một trong những nhiệm vụ hàng đầu đặt ra là xoá bỏ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn Sau một thời gian xây dựng phát triển theo quy hoạch, đời sống văn hoá vật chất ở nông thôn không xa cách so với thành thị Đây là thực tế chứng tỏ lý luận và thực tiễn trong vấn đề quy hoạch nông thôn ở các nước này là một thành công lớn
Theo A.Condukhop và A.mikhalop phần thiết kế xây dựng quy hoạch nông thôn dựa trên cơ sở điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội
Quá trình thực hiện quy hoạch phải giải quyết một loạt các vấn đề sau:
- Quan hệ giữa khu dân cư với vùng sản xuất, khu vực canh tác
- Quan hệ giữa khu dân cư với giao thông bên ngoài
- Hệ thống giao thông nội bộ, các công trình hạ tầng cơ sở kỹ thuật
- Việc bố trí hài hoà cho từng vùng khác nhau về mặt địa lý, đảm bảo sự thống nhất trong tổng thể kiến trúc
- Các công trình văn hoá công cộng (trường học, trạm xá, sân thể thao ) tạo nên được môi trường sống trong lành, yên tĩnh
Trang 27- Quy hoạch của khu dân cư mang nét của đô thị hoá, giải quyết thoả mãn các nhu cầu của con người
Quy hoạch nông thôn của A.Mikhalop và A.Condukhop đã thể hiện nội dung: Mỗi vùng dân cư làng, xã, có một trung tâm gồm các công trình công cộng và nhà ở
có dạng giống nhau có nông trang viên
Đến giai đoạn sau trong các công trình quy hoạch nông thôn của G.Deleur
và Ikhokhon đã đưa ra sơ đồ quy hoạch của vùng, lãnh thổ các huyện gồm 3 cấp trung tâm:
- Trung tâm huyện
- Trung tâm thị trấn của tiểu vùng
- Trung tâm của làng xã
Trong thời kỳ này trên địa bàn nông thôn của Liên Xô chia cấp trung tâm theo
quan hệ từ trung tâm huyện qua trung tâm tiều vùng đến trung tâm làng, xã QH nông thôn đã khai thác triệt để mặt bằng tổng thể các nhà ở, khu sản xuất, khu văn
hoá được bố trí hợp lý theo kiểu tổ chức quy hoạch đô thị Nhà ở được chia vùng với những lô đất được tăng gia nhỏ và xây dựng theo hệ thống quản lý nhà nước, bố
trí không gian rộng rãi theo thiết kế chung, không gây lộn xộn Đây là những thành công của Liên Xô trong QH nông thôn [13]
Ngoài ra, ở một số nước châu Âu khác còn có các phương pháp quy hoạch mang tính đặc thù riêng như Bungary và một số nước Đông Âu còn lại Ở những nước này quy hoạch được phân chia thành các vùng đặc trưng gắn với bảo vệ thiên nhiên và môi trường
* Quy hoạch sử dụng đất ở Pháp: Quy hoạch sử dụng đất đai được xây
dựng theo hình thức mô hình hoá nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao trong việc
sử dụng tài nguyên môi trường và lao động Họ cũng đã áp dụng các bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc hợp lý nhằm tăng hiệu quả của sản phẩm xã hội [7]
1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất ở các nước châu Á
Tại châu Á, đặc biệt ở những nước đang phát triển, quy hoạch tổng thể, quy hoạch phát triển nông thôn được đặc biệt quan tâm
* Quy hoạch sử dụng đất ở Thái Lan
Trong những năm gần đây Thái Lan có nhiều cố gắng lớn trong xây dựng QH nông thôn để phát triển nền kinh tế, ổn định xã hội Thái Lan đã có sự đấu thư tương đối lớn cho việc xây dựng hệ thống mạng lưới giao thông nông thôn phục vụ sản
Trang 28xuất, nối liền các khu sản xuất với khu chế biến và thị trường tiêu thụ Quá trình QH nông thôn tại các làng xã được xây dựng theo các mô hình và nguyên lý hiện đại mới Khu dân cư được bố trí tập trung, trung tâm làng , xã là nơi xây dựng các công trình công cộng, các khu sản xuất được bố trí thuận tiện 1 nằm trong khu vực vòng ngoài [6]
Kết quả sau 7 lần thực hiện kế hoạch 5 năm, Thái Lan đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế rõ rệt, các vùng nông thôn đều có cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông phát triển, dịch vụ công cộng nâng cao đời sống nông thôn được cải thiện không ngừng
Tại Thái Lan, việc quy hoạch sử dụng đất được phân theo 3 cấp (cấp quốc gia, cấp vùng và cấp địa phương) Quy hoạch nhằm thể hiện cụ thể các chương trình kinh tế - xã hội của hoàng gia Thái Lan, gắn liền với việc tổ chức hành chính và quản lý nhà nước Dự án phát triển của hoàng gia Thái Lan đã xác định vùng nông thôn chiếm một vị trí quan trọng trong chính trị ở Thái Lan, các dự án đều tập trung vào một số vấn đề như đất đai, nông nghiệp và lao động
* Quy hoạch sử dụng đất ở Philippin
Ở Philippin có 3 cấp lập QH đó là: Cấp quốc gia sẽ hình thành những phương hướng chỉ đạo chung; Cấp vùng và cấp huyện, quận sẽ chịu trách nhiệm triển khai các đồ án tác nghiệp Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc thống nhất các ngành và quan hệ các cấp lập QH đồng thời Chính phủ cũng tạo điều kiện để các chủ sử dụng đất có thể tham gia vào cả việc lập QH ở các cấp như chương trình tái giao đất việc thực thi các đồ án công cộng các khu đất dân cư nhưng phải đảm bảo tuân theo những quy định pháp luật Điều đó cho thấy Nhà nước cần phải thiết lập một hệ thống pháp luật chặt chẽ trong việc sử dụng và quản lý đất đai [24,25]
* Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc
Ở đây công tác quy hoạch đã từ lâu là vấn đề rất được quan tâm và chú trọng chính phủ Trung Quốc đã tập trung nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng tuân theo
QH, KHSDĐ lâu dài và bền vững đặc biệt là mạng lưới giao thông, ưu tiên phát triển các đặc khu kinh tế tuân theo quy trình QH đất chuyên dùng, đất ở đô thị với quy trình rất hiện đại và khoa học Chình vì vậy, ngày nay Trung Quốc có một mạng lưới giao thông, hệ thống đô thị với các đặc khu kinh tế phát triển rất mạnh sánh ngang tầm với các cường quốc có nền kinh tế phát triển trên thế giới
Trang 29Như vậy qua những vấn đề lý luận và thực tiễn QH nông thôn ở nước ngoài cho thấy QHSDĐ hiện nay đã và đang trở thành một trong những công việc không thể thiếu để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội mỗi nước và nó đang dần dần từng bước khẳng định vị trí của mình trong các chiến lược phát triển kinh tế
Ở các nước như Lào và Campuchia công tác quy hoạch đất đai đang từng bước hoàn thiện và phát triển nhưng mới dừng lại ở mức quy hoạch tổng thể các ngành mà không tiến hành quy hoạch ở cấp nhỏ hơn như ở Việt Nam [25]
1.4 Tình hình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Việt Nam là nước có dân số đông, diện tích đất hạn hẹp, vì vậy công tác quy hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả, hợp lý, ổn định, bền vững luôn là một đòi hỏi khách quan Quá trình thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất ở nước ta có thể phân theo các giai đoạn như sau [11]:
* Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960
Ở giai đoạn 1930 - 1945, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành lẻ tẻ ở một
số đô thị, các khu mỏ khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền như cao su, cà phê… theo yêu cầu về nội dung và phương pháp của người Pháp Từ năm
1946 đến 1954 là thời kỳ toàn quốc kháng chiến kiến quốc, thực hiện triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng” (Hội nghị Trung ương lần thứ 5 tháng 11 năm 1953, Đảng
ta đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất; sau đó Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất ngày 04 tháng 12 năm 1953) Mục đích cải cách ruộng đất là tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến Phương châm cải cách ruộng đất là đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từng bước, có trật
tự, có lãnh đạo chặt chẽ “Những ruộng đất tịch thu, trưng thu, trưng mua chia hẳn cho nông dân, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất đó, theo nguyên tắc xã làm đơn vị, trên cơ sở nguyên canh, theo số lượng, chất lượng, vị trí gần hay xa của ruộng đất, dùng cách điều chỉnh nhiều bù ít, tốt bù xấu, gần bù xa mà chia; cần chiếu cố những nông dân trước đã cày trên những ruộng đất ấy”[11] Làm đầy đủ những nội dung như vậy thì thực chất là đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai mà chí ít là trong lĩnh vực nông nghiệp
Ở Miền Nam có những đề án thiết lập quy hoạch sử dụng đất đai về xây dựng các đồn điền, các khu công nghiệp nhỏ lẻ, các khu vực dân cư đô thị và nông thôn, các khu vực bến xe, bến cảng phục vụ mục đích quân sự “Một ví dụ về Quy hoạch sử dụng đất
Trang 30đai phục vụ giáo dân khá tiêu biểu là đồ án Quy hoạch sử dụng đất đai khu vực xung
quanh Toà Thánh Tây Ninh tiến hành năm 1952”
“Từ sau khi hoà bình lập lại, ở Miền Bắc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh, tập trung vào việc hoàn thành cải cách ruộng đất tiếp đến là cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh; trong đó khâu chính là cải tạo và phát triển nông nghiệp”[11] “Trên toàn Miền Bắc về căn bản đã giải quyết xong vấn đề người cày có ruộng và hình thành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và chuẩn bị kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài” Đây là thời kỳ quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, tự túc, khôi phục và kế thừa truyền thống cây trồng vật nuôi, phong tục tập quán sinh hoạt cộng đồng với nhiều biểu hiện tính tập thể của chế độ xã hội chủ nghĩa
* Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975
Đến cuối năm 1960 khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) cả nước đang bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựng đất nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đất đai Chính vì vậy mà công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra ngay từ những năm 1960 này Do đó có thể nói “quy hoạch sử dụng đất đai cũng đồng thời được đặt ra (chính xác là năm 1962), các bộ ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương án sản xuất hay công trình xây dựng cụ thể nào đó cho những mục đích đơn lẻ”
Trong bối cảnh cả nước có chiến tranh cho tới khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, quy hoạch sử dụng đất đai chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó Mặc dù vậy với tư cách là một phần nội dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản xuất có lợi nhất “Nó là một yêu cầu không thể thiếu được đối với các nhà quản lý sản xuất nông nghiệp ngay cả ở cấp vị một Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này” [24]
Trang 31* Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra cơ bản trên phạm vi cả nước “Vào cuối năm 1978 lần đầu tiên đã xây dựng được các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt”[16] Trong các tài liệu này đều đã đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi
đó như những căn cứ khoa học quan trọng để luận chứng các phương án phát triển ngành Cùng với lĩnh vực nông nghiệp, các khu cụm công nghiệp, các khu đô thị, các khu đầu mối giao thông… cũng được nghiên cứu xem xét để cải tạo và xây mới Thực tế lúc bấy giờ cho thấy các thông tin, số liệu, tư liệu đo đạc bản đồ phục vụ cho quản lý đất đai nói chung
và cho quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng là vừa thiếu, vừa tản mạn lại vừa khập khiễng, làm cho độ tin cậy về quy mô diện tích, vị trí cũng như tính chất đất đai tính toán trong các phương án này không được bảo đảm Rất nhiều phương án tính toán diện tích cây trồng chủ lực như cao su, cà phê, chè, dứa, lạc, đay, đậu đỗ… trong cùng một địa bàn cụ thể có
sự chồng chéo, thiếu tính khả thi Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy việc Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (Nghị quyết số 548/NQ/QH ngày 24/5/1979 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất; Nghị định số 404/CP ngày 09/11/1979 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất)
Trước áp lực về lương thực và hàng tiêu dùng, trong giai đoạn này Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định quan trọng nhằm “làm cho sản xuất bung ra” ví dụ như Quyết định tận dụng đất nông nghiệp (9/1979); xoá bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ (10/1979); thông báo về “khoán” sản xuất nông nghiệp sau Hội nghị nông nghiệp ở Đồ Sơn - Hải Phòng (1980) Đặc biệt phải kể đến Chỉ thị số 100/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã”
mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là quy hoạch sử dụng đất đai [23]
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ V (1982) đã quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)” Trong
Trang 32chương trình lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời
kỳ 1986 - 2000 này có 5 vấn đề bao gồm 32 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có vấn đề
về tài nguyên thiên nhiên đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai; coi đất đai vừa là nguồn lực sản xuất trực tiếp quan trọng như là vốn, lao động
và vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá
Hơn nữa, cũng trong thời kỳ này, Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được ví như 500 “pháo đài” làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước hết sức sôi động
Như vậy, đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai mà thực chất là quy hoạch sử dụng đất đai Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị
Tiếp theo đó là thời kỳ Luật Đất đai 1987 ra đời, đánh dấu một bước mới nữa
về quy hoạch sử dụng đất đai vì nó được quy định rõ ở Điều 9 và Điều 11 tức là quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạch nói chung và quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng nhưng thực tế nền kinh tế đất nước ta đang đứng trước những khó khăn lớn Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ)
và các nước Đông Âu cùng với nhiều vấn đề trước mắt thường nhật phải giải quyết làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai lại rơi vào trầm lắng
Thực tế đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương pháp cho phù hợp với yêu cầu của quá trình chuyển dần sang nền kinh tế cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ra Thông tư số 106/QHKH/RĐ ngày 15/4/1991 hướng dẫn về quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã với những nội dung như sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai
Trang 33Với những thay đổi lớn về vai trò của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việc quản lý sử dụng đất ở khu vực nông thôn nổi lên hết sức quan trọng Căn cứ theo Thông tư hướng dẫn có những tỉnh ở đồng bằng đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đai cho hàng trăm xã (tới một nửa số xã trong toàn tỉnh) Tuy nhiên, do chưa có quy hoạch từ trên xuống cũng như các tài liệu hướng dẫn về quy trình, định mức, phương pháp, nội dung thống nhất nên các quy hoạch này bộc lộ nhiều hạn chế “Đại
đa số đều chỉ mới chú trọng tới việc giãn dân là chủ yếu Vấn đề này có mặt được nhưng có nhiều mặt không được vì phải cấp đất làm nhà ở với số lượng lớn mà chủ yếu lấn vào đất ruộng, với những định mức sử dụng đất rất khác nhau, tạo nên nhiều bất cập phải tiếp tục giải quyết sau này nhất là ở các khu vực ven đô thị” [2,3]
* Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay
Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo được cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch
sử dụng đất đai tương đối đầy đủ hơn Năm 1994, Tổng cục Địa chính được thành lập và tới tháng 4 năm 1995, lần đầu tiên tổ chức được một Hội nghị tập huấn về công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cho Giám đốc Sở Địa chính của tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của cả nước tại Thành phố Hồ Chí Minh
từ ngày 03- 08/04/1995 Sau hội nghị này công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bản hơn ở cả 4 cấp là: cả nước, tỉnh, huyện, xã Một số dự án quy hoạch sử dụng đất đai vừa triển khai vừa rút kinh nghiệm thí điểm
ở 10 tỉnh, 20 huyện đại diện cho các vùng của cả nước đã được Tổng cục Địa chính chỉ đạo và tổ chức thực hiện Riêng các huyện điểm đã được tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời tại Hội nghị Bắc Thái từ ngày 15 - 16/9/1995 Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm của mấy chục năm trước đây, đặc biệt là thực tế công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai thời kỳ này, Tổng cục Địa chính đã cho nghiên cứu, soạn thảo
và ban hành (tạm thời) Quyết định số 657/QĐ-ĐC ngày 28/10/1995 về quy trình, định mức và đơn giá điều tra quy hoạch sử dụng đất đai áp dụng trong phạm vi cả nước Từ đó các địa phương có cơ sở để tổ chức triển khai thực hiện các dự án quy hoạch sử dụng đất đai theo nội dung và quy trình tương đối thống nhất, đẩy nhanh tiến độ công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai
Với những kết quả khả quan thu được, báo cáo “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010” đã được Chính phủ trình Quốc hội khoá IX tại kỳ họp thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 - 10/5/1997); Quốc hội đã
ra Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10/5/1997 thông qua kế hoạch sử dụng đất đai
Trang 34đến năm 2000 của cả nước Căn cứ Nghị quyết này, công tác quy hoạch sử dụng đất đai tiếp tục được đẩy mạnh Tiếp theo đó, trong các ngày từ 22 - 26/10/1998, tại thành phố Đà Nẵng đã diễn ra Hội nghị Tập huấn về công tác quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai cả nước nhằm thúc đẩy công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai nhanh, mạnh hơn nữa để đáp ứng yêu cầu nội dung, tiến độ đề ra theo các Nghị quyết của Quốc hội Tuy vậy cũng phải sau 7 năm, tức là phải đến năm 2004, tại kỳ họp thứ
5 Quốc hội khoá XI, Quốc hội mới ra Nghị quyết số 29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005; Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tiến hành công tác rà soát quy hoạch sử dụng đất an ninh, quốc phòng và đã được Chính phủ phê duyệt [3]
Hiện nay về nội dung, phương pháp, trình tự lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp đã có những quy định cụ thể, rõ ràng mang tính pháp lý như: Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Mục II Chương II (gồm 10 Điều, từ Điều 21 đến Điều 30), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định tại Chương II (gồm 18 Điều, từ Điều 12 đến Điều 29) [15] và Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai [1] Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quy trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp; ban hành Định mức sử dụng đất; Định mức, đơn giá điều tra, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp
Vào thời điểm này (theo kết quả báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường), tình hình triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất đai ở nước ta đang được triển khai đồng loạt theo 4 cấp trong phạm vi cả nước.[1]
Công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh nằm trong khu vực hợp tác Hai hành lang- Một vành đai kinh tế Việt Nam- Trung Quốc, hợp tác liên vùng Vịnh Bắc Bộ, cầu nối quan trọng của hợp tác kinh tế ASEAN- Trung Quốc, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, hành lang kinh
tế Nam Ninh- Singapore Diện tích đất hơn 6100km2, diện tích biển tương đương đất liền với 2077 đảo đá và đất; biên giới trên bộ ~ 120km, đường phân định Vịnh Bắc bộ trên biển 191km; có 14 đơn vị hành chính cấp huyện trong đó 4 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện; là địa phương có nhiều khu kinh tế nhất cả nước (4 khu kinh tế ven biển và cửa khẩu, cả nước có 43 khu kinh tế); thành phố Hạ Long là một trong
số thành phố phát triển mạnh mẽ nhất về tiềm năng du lịch của tỉnh với di sản thiên
Trang 35nhiên- kỳ quan thế giới Vịnh Hạ Long, hằng năm thành phố Hạ Long đã đón hành nghìn đoàn du khách trong và ngoài nước Với tốc độ phát triển như trên để đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí phục vụ ngành du lịch của tỉnh nới chung và của thành phố, phường nói riêng Tỉnh Quảng Ninh đã đặc biệt chú trọng vào công tác quy hoạch sử dụng đất Trước năm 2000 với tiềm năng du lịch sẵn có nhưng cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế nên neeng kinh tế trong nước còn chậm phát triển Nhận thức được tầm quan trọng của việc quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đối với sự phát triển kinh tế xã hội, UBND tỉnh Quảng Ninh đã họp triển khai lập quy hoạch kế hoạch tổng thể trên địa bàn tỉnh [19]
Mặc dù bước đầu gặp nhiều khó khăn về công tác giải phóng mặt bằng và tiến độ thực hiện, song bên cạnh đó cũng đạt được nhiều thành tích đáng kể Đến nay với hệ thống giao thong đường bộ, đường thủy phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương trong và ngoài nước, cơ sở vật chất hạ tầng đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư, du khách trong và ngoài nước đến tham quan làm việc tỉnh Quảng Ninh đã trở thành điểm đến của thiên niên kỷ mới [18]
1.5 Những vấn đề về đánh giá thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất
1.5.1 Nhận thức vai trò và các biện pháp nâng cao chất lượng của công tác quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong thời kỳ mới
Quy hoạch sử dụng đất có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai Điều 20 của Hiến pháp năm 1980 đã quy định “ Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng hợp
lý và tiết kiệm” Điều 18 của Hiến pháp năm 1992 lại khẳng định: “ Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” Các nội dung của công tác quy hoạch sử dụng đất đã được quy định trong các Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta đã từng bước trở thành công cụ đắc lực trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai nhằm thực hiện các công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [24]
Vai trò quan trọng của quy hoạch sử dụng đất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã được phân tích trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, tài liệu đã chỉ rõ: “ Quy hoạch sử dụng đất là một quá trình từ ý tưởng, đến tư duy, đến hành động, đến kết quả, đến thoả mãn mục tiêu định trước của việc
Trang 36sử dụng đất sao cho có lợi nhất về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường là những thuộc tính cơ bản nhất trong khái niệm hiện đại của quy hoạch sử dụng đất ngày nay” Hiện nay chúng ta thấy 3 vai trò của công tác quy hoạch sử dụng đất [24]:
- Quản lý Nhà nước thông qua công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được tăng cường, góp phần tích cực vào việc phân bổ và sử dụng ngày càng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững tài nguyên đất đai;
- Qua việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ cấu sử dụng đất được chuyển đổi phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội;
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã trở thành căn cứ để tiến hành thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
Như vậy việc nâng cao chất lượng và hiệu lực của công tác quy hoạch sử dụng đất đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ rất nhiều vấn đề như sau:
- Về mặt khoa học phải tính toán dự báo được rất nhiều yếu tố như dự báo được các luồng đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân; dự báo được tốc độ tăng dân; xác định được diện tích đất trồng lúa phải bảo vệ vì mục tiêu an ninh lương thực; các tiến bộ khoa học – kỹ thuật có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các ngành kinh tế quốc dân v v;
- Về công tác xây dựng chiến lược phát triển của các ngành kinh tế quốc dân phải hình thành các chiến lược trồng và bảo vệ rừng; chiến lược phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất; chiến lược phát triển các khu đô thị; chiến lược xây dựng các cảng biển; chiến lược phát triển các khu du lịch – văn hoá v v;
- Về công tác điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên của đất nước phải có đầy
đủ các tài liệu điều tra về thổ nhưỡng, về tài nguyên nước và các dạng tài nguyên khác, về đánh giá hiện trạng suy thoái môi trường đất do ô nhiễm, xói mòn, các hiện tượng cát nhảy, cát bay, sa mạc hoá; về các nguy cơ tai biến tự nhiên v…v;
- Về mặt pháp luật phải quy định thời hiệu của công tác quy hoạch sử dụng đất đến 30-50 năm, quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc đảm bảo tính pháp lý của quy hoạch sử dụng đất v v;
- Hoàn thiện hệ thống quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở xác định rõ các cấp phân vi và chức năng nhiệm vụ của từng cấp; hoàn thiện nội dung quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở lồng ghép với nội dung bảo vệ môi trường, đánh giá đầy đủ các yếu tố tài nguyên và môi trường đảm bảo cho việc phải triển hiệu quả các loại đất
Trang 37thuộc quỹ đất quốc gia, cân đối hợp lý quỹ đất quốc gia giữa các ngành kinh tế quốc dân và đảm bảo phân bố nguồn lực lao động cho việc phát triển các loại đất được quy hoạch
1.5.2 Vị trí của công tác quy hoạch sử dụng đất trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất quốc gia
Trước tiên phải thừa nhận rằng quy hoạch là công cụ quản lý Nhà nước Do đó tất cả các ngành kinh tế quốc dân có liên quan đến sử dụng đất đều có các quy hoạch sử dụng loại đất do ngành mình quản lý Đây là thực trạng khách quan của công tác quản lý Nhà nước của các ngành
Căn cứ theo Luật Xây dựng và Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng, nhiệm vụ của công tác quy hoạch xây dựng của ngành Xây dựng là: Tổ chức không gian đô thị và điểm dân cư nông thôn, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội Như vậy đối với quy hoạch xây dựng đối tượng là đất đô thị và đất khu dân cư nông thôn, mục đích là sử dụng đất
đô thị và đất dân cư nông thôn hiệu quả, hợp lý và bảo vệ môi trường đô thị, nguyên tắc lập quy hoạch theo phạm vi không gian là từ tổng thể đến chi tiết, tức từ cấp vùng chức năng tổ hợp và chuyên ngành, đến đô thị trong vùng và đến các khu vực chức năng trong đô thị, các khu công nghiệp, khu công nghiệp cao, khu kinh tế, khu bảo tồn di sản văn hoá, khu du lịch, nghỉ mát; các điểm dân cư nông thôn [16] Một trong những nhiệm vụ quy hoạch quan trọng của ngành Nông nghiệp là quy hoạch nông nghiệp và nông thôn Mục tiêu của quy hoạch nông thôn bao gồm giải phóng và phát triển năng lực sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao mức sống cho bà con nông dân, đảm bảo an toàn lương thực, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý và hiệu quả đất đai; khai thác tốt nguồn lực của địa phương; cải tạo các khu dân cư nông thôn phân tán, lạc hậu thành các khu dân cư tập chung thuận lợi cho việc xây dựng các hạ tầng cơ sở kinh tế và
xã hội ở nông thôn Như vậy đối với quy hoạch nông nghiệp và nông thôn, đối tượng quy hoạch là đất nông nghiệp và đất khu dân cư nông thôn, mục đích là sử dụng đất nông nghiệp và nông thôn hiệu quả, hợp lý và bảo vệ môi trường sinh thái nhằm phát triển kinh tế – xã hội bền vững ở nông thôn, nguyên tắc lập quy hoạch theo phạm vi không gian là từ tổng thể đến chi tiết, tức từ cấp vùng sinh thái nông nghiệp đến các vùng chuyên canh tập trung [23]
Trang 38Mặc dù đối tượng quy hoạch nông nghiệp và nông thôn của ngành Nông nghiệp và đối tượng quy hoạch xây dựng của ngành Xây dựng có trùng nhau về quy hoạch khu dân cư nông thôn, nhưng các quy hoạch này đều có mục tiêu là tổ chức
sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và bảo vệ môi trường; có cùng nguyên tắc quy hoạch “
từ chung đến riêng” [24]
Các ngành Giao thông, Thuỷ lợi v v cũng có các quy hoạch sử dụng các loại đất đặc trưng cho ngành mình
1.5.3 Các yêu cầu nâng cao chất lượng của công tác quy hoạch sử dụng đất
* Thu thập, phân tích các quy hoạch, chiến lược phát triển của các ngành kinh
tế quốc dân
Do phải thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình, nên các ngành kinh tế quốc dân có liên quan đến sử dụng đất đều có các quy hoạch, chiến lược sử dụng loại đất do ngành mình quản lý Các quy hoạch, chiến lược sử dụng đất của các ngành đều được xây dựng dựa trên các luận cứ có cơ sở khoa học xuất phát từ nhu cầu phát triển trong tương lai của mỗi ngành Do đó việc thu thập, phân tích các quy hoạch, chiến lược phát triển của các ngành có vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng các yêu cầu nâng cao chất lượng của công tác quy hoạch sử dụng đất vì những lý do sau [8]:
- Nắm vững được các xu hướng dự kiến bố trí các loại đất của mỗi ngành trong không gian lãnh thổ cùng các luận cứ khoa học của việc bố trí các loại đất đó;
- Việc chồng ghép các loại đất được dự kiến bố trí của các ngành trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất của thời kỳ quy hoạch trước sẽ cho phép xác định được xu hướng sử dụng đất của mỗi ngành trong tương lai cũng như phát hiện được các mâu thuẫn do không tính đến sự hạn chế của quỹ đất quốc gia trong phạm vi hành chính được quy hoạch, nhu cầu sử dụng đất của các ngành khác và hiện trạng tài nguyên - môi trường đảm bảo cho các loại đất phát triển cân đối, hài hoà Từ đây hình thành các vấn đề cần phải giải quyết để cân đối quỹ đất quốc gia đảm bảo cho sự phân bổ quỹ đất hợp lý, khoa học cho các ngành kinh tế quốc dân
Việc phân tích Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư cho phép xác định các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới, xác định được xu hướng phát triển cơ cấu kinh tế và phương hướng phát triển của các ngành kinh tế quốc dân cũng như như các dự báo các phương án sử dụng đất căn cứ định hướng phát triển của các ngành, lĩnh vực Các kết quả phân tích nêu
Trang 39trên cho phép xác định các chỉ tiêu làm căn cứ cho việc gải quyết vấn đề cân đối quỹ đất quốc gia đảm bảo cho sự phân bổ quỹ đất hợp lý, khoa học cho các ngành kinh tế quốc dân
* Thu thập, phân tích các tài liệu điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên và môi trường của đất nước
Hiện trạng tài nguyên và môi trường đất của đất nước được nhiều ngành, lĩnh vực, các Viện và các trường đại học nghiên cứu, đánh giá Đây là những tài liệu khoa học rất quý giá làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất có tính đến các biện pháp khắc phục các hiện tượng xói mòn, thoái hoá tài nguyên đất, ô nhiễm môi trường đất và xác định các biện pháp bảo vệ các loại đất và con người trước hiểm họa của thiên tai trong kỳ quy hoạch tiếp theo Các số liệu về xói mòn, thoái hoá đất nông nghiệp vùng đất dốc, về các vùng dự báo động đất, hiện trạng ô nhiễm các dòng sông [6]
Rất nhiều số liệu điều tra cơ bản phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất có thể thu thập từ các đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường Các số liệu về trạng thái ô nhiễm môi trường của đất nước do Tổng cục Bảo vệ Môi trường cung cấp; các số liệu về hiện trạng tài nguyên nước và chiến lược khai thác nước ngầm do Cục Tài nguyên nước cung cấp; các dự báo về các hiện tượng thay đổi khí hậu do El Nino, La Nina, bão, chế độ thuỷ triều v v do Trung tâm Khí tượng – Thuỷ văn quốc gia cung cấp; nhiều tài liệu liên quan đến tiềm năng khai thác các nguồn tài nguyên đất cũng như hiện tượng sa mạc hoá, phong hoá v v có thể tham khảo các tài liệu nghiên cứu của Cục Địa chất Khoáng sản
* Nâng cao chất lượng phân tích và đánh giá hiện trạng sử dụng đất trong kỳ quy hoạch trước
Việc phân tích hiện trạng sử dụng đất trong thời kỳ quy hoạch trước là một khâu rất quan trọng của công tác quy hoạch sử dụng đất Các kết quả phân tích hiện trạng sử dụng đất sẽ cho nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc định hướng sử dụng đất trong tương lai Các thông tin này bao gồm diện tích và cơ cấu các loại đất, xu hướng chuyển dịch của một số loại đất; hiệu quả kinh tế – xã hội của việc sử dụng đất; tình trạng lao động dư thừa; đánh giá diện tích sử dụng các loại đất so với các chỉ tiêu sử dụng đất (tương quan của việc sử dụng đất thực tế và chức năng mục tiêu); nguồn dự trữ đất để hoàn thiện cơ cấu sử dụng đất trong tương lai; mức độ ô nhiễm, suy thoái môi trường đất v v
Trang 40Việc đánh giá các ưu điểm cần phát huy và các nhược điểm cần khắc phục của việc sử dụng đất là những thông tin quý giá phục vụ cho việc định hướng sử dụng đất trong kỳ quy hoạch tiếp theo
Với những vấn đề đã được nghiên cứu ở trên, chúng ta có thể đánh giá các yêu cầu được đặt ra cho công tác phân tích và đánh giá hiện trạng sử dụng đất trong kỳ quy hoạch trước được quy định trong Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 về “ Việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” của Bộ Tài nguyên và Môi trường (gọi tắt là Thông tư 30) Trong các mục “ Đánh giá tình hình sử dụng đất và biến động đất đai ” và “ Đánh giá kết qủa thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước ” mới đặt ra yêu cầu đánh giá chỉ tiêu sử dụng đất đối với từng loại đất, chỉ tiêu chuyển đổi giữa các loại đất và chỉ tiêu đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng đã được đặt ra trong kỳ quy hoạch trước Có thể nhận xét rằng việc phân tích và đánh giá hiện trạng sử dụng đất trong kỳ quy hoạch trước là còn chưa đầy đủ so với yêu cầu nâng cao chất lượng của công tác quy hoạch sử dụng đất trong thời kỳ công nghiệp hoá Các hạn chế về các yêu cầu phân tích và đánh giá hiện trạng sử dụng đất trong kỳ quy hoạch trước theo Thông tư 30 được phản ánh ở các điểm sau [8]:
- Mặc dù trong mục “ Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của cả nước” có nêu yêu cầu thu thập các tư liệu, thông tin về hiện trạng cảnh quan môi trường và các hệ sinh thái, về dân số, lao động, việc làm
và thu nhập, về các nguồn tài nguyên, nhưng không đặt ra các yêu cầu phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng đất trong kỳ quy hoạch trước theo các tài liệu thu thập được theo yêu cầu nêu trên Từ đây có thể thấy rằng chưa hình thành được các chỉ tiêu đánh giá về các mức độ suy thoái, ô nhiễm các loại đất; tốc độ đô thị hoá; vấn
đề lao động và giải quyết việc làm; hiện trạng đảm bảo điện, nước sạch sinh hoạt cho các khu dân cư; hiện trạng đảm bảo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển các loại đất trong kỳ quy hoạch trước;
- Chưa hình thành các chỉ tiêu đánh giá về các nhân tố mới làm tăng hiệu quả
sử dụng đất ( các đầu tư hiệu quả vào đất đai, áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật mới, quá trình tích tụ đất đai, dồn điền đổi thửa v v) và về các nhân tố tiêu cực hạn chế hiệu quả sử dụng đất (thảm họa tự nhiên, không đủ các nguồn tài nguyên để phát triển, các dự án đầu tư chậm triển khai hoặc triển khai không hiệu quả, các