Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ NGỌC TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRÊN PHẦN MỀM C
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ NGỌC
TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG
BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRÊN PHẦN MỀM CMAP TOOLS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên – Năm 2012
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ NGỌC
TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG
BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRÊN PHẦN MỀM CMAP TOOLS
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp Dạy học Sinh học
Mã số : 60-14-10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHÚC CHỈNH
Thái Nguyên, Năm 2012
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS
Nguyễn Phúc Chỉnh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để
tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sinh – KTNN, khoa Sau Đại học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 04 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công
bố trong một công trình khoa học nào
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lược sử nghiên cứu về phương pháp tự học 7
1.2 Phương pháp tự học 9
1.3 Bản đồ khái niệm 30
1.4 Phần mềm Cmap Tools 37
Chương 2 TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRÊN PHẦN MỀM CMAP TOOLS 2.1 Các nguyên tắc đảm bảo việc tự học 39
2.2 Nội dung của quá trình tự học 40
2.3 Hướng dẫn học sinh tự học 50
2.4 Tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools 56
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích - nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 69
3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 69
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 74
3.4 Kết luận chung về thực nghiệm sư phạm 79
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 1 Kết luận 80
2 Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Nguyên nhân học sinh chưa tiếp thu hết kiến thức 26
Bảng 1.2 Mức độ cần thiết tự học của học sinh 26
Bảng 1.3 Lý do học sinh cần phải tự học 27
Bảng 1.4 Phần trăm học sinh trong lớp có hoạt động tự học 27
Bảng 1.5 Nguyên nhân tự học chưa đạt hiệu quả 28
Bảng 1.6 Những yêu cầu cần thiết đối với phương tiện tự học 29
Bảng 3.1 Tần suất trắc nghiệm 75
Bảng 3.2 Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 76
Bảng 3.3 Kiểm định điểm trắc nghiệm 77
Bảng 3.4 Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 78
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.1 Xuất phát từ việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa Sinh học 1
1.2 Xuất phát từ sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông 1
1.3 Xuất phát từ vị trí, vai trò của tự học 2
1.4 Xuất phát từ ƣu điểm của bản đồ khái niệm 4
1.5 Xuất phát từ ưu điểm của phần mềm Cmap Tools 5
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
4 Giả thuyết khoa học 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 6
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm có đối chứng song song ở trường trung học phổ thông nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của luận văn 6
- Điều tra thăm dò trước khi thực nghiệm sư phạm 6
6.3 Phương pháp thống kê toán học 6
7 Những đóng góp của đề tài 6
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 1 7
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 Lược sử nghiên cứu về phương pháp tự học 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Phương pháp tự học 9
1.2.1 Khái niệm tự học 9
Bảng 1.1 Nguyên nhân học sinh chưa tiếp thu hết kiến thức 26
Bảng 1.2 Mức độ cần thiết tự học của học sinh 26
Bảng 1.3 Lý do học sinh cần phải tự học 27
Bảng 1.4 Phần trăm học sinh trong lớp có hoạt động tự học 27
Bảng 1.5 Nguyên nhân tự học chưa đạt hiệu quả 28
Bảng 1.6 Những yêu cầu cần thiết đối với phương tiện tự học 29
1.3 Bản đồ khái niệm 30
Hình 1.1 Các hệ thống bộ nhớ chủ chốt của não bộ đều tác động 33
1.4 Phần mềm Cmap Tools 37
Chương 2 39
TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRÊN PHẦN MỀM CMAP TOOLS 39
2.1 Các nguyên tắc đảm bảo việc tự học 39
2.2 Nội dung của quá trình tự học 40
Hình 2.1 Bản đồ khái niệm về quy trình xây dựng bản đồ khái niệm 47
Chu trình tự nghiên cứu tự thể hiện tự kiểm tra - đánh giá và tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học [8], [9], [11], [20], [27], [32], [33], [34], [52], [60] 49
Hình 2.2 Chu trình tự học 50
2.3 Hướng dẫn học sinh tự học 50
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4 Tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm
Cmap Tools 56
Hình 2.3 Bản đồ khái niệm về mã di truyền 65
Hình 2.4 Bản đồ khái niệm về quá trình nhân đôi của ADN 67
Chương 3 69
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1 Mục đích - nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 69
3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 69
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 74
Bảng 3.1 Tần suất trắc nghiệm 75
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra 75
Bảng 3.2 Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 76
Hình 3.2 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm trắc nghiệm 76
Bảng 3.3 Kiểm định điểm trắc nghiệm 77
Bảng 3.4 Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 78
3.4 Kết luận chung về thực nghiệm sư phạm 79
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Phụ lục 12 Bản đồ khái niệm về đột biến số lượng NST 104Phụ lục 1 86
Phụ lục 1 87
PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN GIÁO VIÊN 87
Phụ lục 2 90
PHIẾU THU THẬP Ý KIẾN HỌC SINH 90
Phụ lục 3[10], [14], [18], [22], [23] 92
ĐỀ KIỂM TRA 92
Phụ lục 4 Bản đồ khái niệm về khái niệm và cấu trúc của gen 97
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phụ lục 5 Bản đồ khái niệm về quá trình phiên mã 98
Phụ lục 6 Bản đồ khái niệm về mối liên hệ ADN-mARN-Protein-Tính trạng 98
Phụ lục 7 Bản đồ khái niệm về quá trình dịch mã 99
Phụ lục 8 Bản đồ khái niệm về điều hoà hoạt động của gen 100
Phụ lục 9 Bản đồ khái niệm về đột biến gen 101
Phụ lục 10 Bản đồ khái niệm về nhiễm sắc thể 102
Phụ lục 11 Bản đồ khái niệm về đột biến cấu trúc NST 103
Phụ lục 12 Bản đồ khái niệm về đột biến số lượng NST 104
Xác nhận của Trưởng khoa chuyên môn 148
Xác nhận của cán bộ hướng dẫn 148
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Xuất phát từ việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa Sinh học
Quá trình dạy học tồn tại với tư cách là một hệ thống toàn vẹn Những thành tố cơ bản trong cấu trúc của nó bao gồm: mục đích, nhiệm vụ dạy học; nội dung dạy học; phương pháp - phương tiện dạy học; hình thức tổ chức dạy học; giáo viên; học sinh; kết quả dạy học Trong cấu trúc này, mỗi thành tố có
vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, chúng có mối quan hệ qua lại với nhau
Việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa Sinh học phổ thông cũng
có nghĩa là đổi mới nội dung dạy học mà phương pháp dạy học là thành tố luôn chịu sự quy định của nội dung dạy học, nó được xem như là một thành tố để giáo viên chuyển tải nội dung dạy học đến học sinh, học sinh dùng nó để lĩnh hội nội dung dạy học Xuất phát từ thực tiễn đó, phương pháp dạy học cũng cần phải được thay đổi nhằm thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ dạy học đề ra
Mặt khác, hàng loạt các kiến thức mới phù hợp với thời đại đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình đổi mới và được thực hiện trên toàn quốc Kiến thức trong chương trình thường được cung cấp dưới dạng những thông tin ngắn gọn, cô đọng hoặc thông qua các hình vẽ đòi hỏi học sinh phải
xử lí, tạo điều kiện hình thành dần thói quen tự học ở học sinh Do đó, nếu chỉ
sử dụng phương pháp dạy học truyền thống mà không có sự đổi mới thì học sinh khó có thể lĩnh hội được đầy đủ và sâu sắc nội dung tri thức [1], [12], [13], [15], [29], [36], [37]
1.2 Xuất phát từ sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Phương pháp dạy học được hiểu là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ dạy học đề ra [15]
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Với phương pháp dạy học truyền thống - truyền thụ một chiều, thầy giảng, trò ghi - hiện nay, chất lượng đào tạo ở các cấp học, bậc học nói chung
và ở bậc giáo dục phổ thông nói riêng còn thấp, chưa phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học Do vậy, đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông đang là vấn đề cấp thiết đối với sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo nước ta Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010” đã chỉ rõ: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp dạy học, chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và
có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh” [3]
Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ Với những thành tựu to lớn đã đạt được, ngày nay, khoa học và công nghệ đang xâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội Do đó, yêu cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao Trước thực tiễn đó, sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo nói chung, phương pháp dạy học nói riêng cần phải được đổi mới
1.3 Xuất phát từ vị trí, vai trò của tự học
Tự học có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành đạt của con người, là con đường tự khẳng định của mỗi cá nhân Tự học giúp cho con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống cá nhân
Tự học khắc phục nghịch lí : tri thức thì vô hạn mà thời gian thì có hạn
Sự bùng nổ thông tin làm cho người giáo viên không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng “tụt hậu” Đối với học sinh trung học phổ thông, quỹ thời gian
3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hết khối lượng kiến thức khổng lồ trong chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập
để khẳng định năng lực, phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường
tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng
và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
Tóm lại, có thể nói tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng của mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của học sinh cũng không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người giáo viên Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề” (Thủ tướng Phạm Văn Đồng-1969) Giáo viên cần giúp cho học sinh tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho học sinh những phương tiện tự học có hiệu quả Dạy cho học sinh biết cách tự học chính là một trong những cách giúp học sinh tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại
Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học [8], [11], [13], [30], [31], [32]
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.4 Xuất phát từ ƣu điểm của bản đồ khái niệm
Khái niệm vừa là kết quả vừa là phương tiện của tư duy Quá trình nhận thức của con người thực chất là quá trình hình thành và sử dụng khái niệm Vì vậy, dạy và học khái niệm là vấn đề cốt lõi của quá trình dạy học [5], [7]
Trong dạy học, không thể chỉ chú ý đến hình thành và phát triển các khái niệm riêng lẻ mà cần phải quan tâm đến cả một hệ thống khái niệm liên quan với nhau Chính sự xác lập các mối quan hệ logic và liên tục trong sự hình thành hệ thống khái niệm là cơ sở của sự hình thành thế giới quan khoa học [52]
Đối với bộ môn Sinh học, hệ thống các khái niệm, các quy luật Sinh học liên hệ chặt chẽ với nhau được hình thành và phát triển theo một trật tự logic Việc phân loại, sắp xếp các khái niệm Sinh học thành hệ thống là rất quan trọng Với khối lượng khái niệm rất lớn nếu lĩnh hội không có hệ thống thì học sinh không thể nắm vững, nhớ lâu và vận dụng được [9]
Một trong những phương pháp để hệ thống được khái niệm là xây dựng bản đồ khái niệm Xây dựng bản đồ khái niệm có tác dụng kết nối các thông tin mới và các thông tin đã có Bản đồ khái niệm có thể được tiến hành ở nhiều mức độ khác nhau, nhiều khâu khác nhau trong quá trình dạy học, đặc biệt là trong khâu tự học
Nếu sử dụng thành thạo bản đồ khái niệm trong tự học, học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy, sử dụng bản đồ khái niệm giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não Mặt khác, do tự “sáng tác” nên trên mỗi bản đồ khái niệm thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và do tự thiết kế nên người học sẽ yêu quý, trân trọng “tác phẩm” của mình Cách làm này sẽ rèn luyện cho học sinh cách suy nghĩ lôgic, mạch lạc và cũng là cách giúp người học hiểu bài, ghi nhớ kiến thức vào não chứ không phải là học thuộc lòng, học vẹt
Bản đồ khái niệm có thể được thiết kế trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Cmap Tools
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.5 Xuất phát từ ƣu điểm của phần mềm Cmap Tools
Cmap Tools là sự kết hợp giữa tính năng của bản đồ khái niệm với sức mạnh của công nghệ, đặc biệt là internet và mạng toàn cầu (WWW) Phần mềm này giúp người sử dụng không những có thể dễ dàng xây dựng và sửa đổi các bản đồ khái niệm vào mọi lúc nhờ bộ xử lí văn bản mà còn có thể trao đổi được với nhau trong khi xây dựng bản đồ, bất kì ai trên internet cũng có thể truy cập vào, liên kết các tài nguyên vào để làm rõ nội dung bản đồ và tìm kiếm những thông tin có liên quan trên WWW
Đặc biệt, đối với những máy tính có nối mạng phần mềm cho phép người sử dụng liên kết những tài nguyên (những hình ảnh, đồ thị, video, biểu
đồ, bảng, văn bản, trang web hoặc bản đồ khái niệm khác ) có ở bất cứ nơi nào trên internet hoặc trong máy tới những khái niệm hoặc những từ nối trong bản đồ khái niệm
Khi đã xây dựng xong bản đồ khái niệm, có thể lưu giữ bản đồ trong máy tính hoặc xuất ra dưới dạng tranh
Sau khi một bản đồ sơ bộ được dựng lên, xem xét lại bản đồ này là việc làm rất cần thiết Bạn có thể thêm vào các khái niệm, cũng có thể sắp xếp lại các khái niệm theo các cách khác để tạo nên một cấu trúc rõ nhất và đẹp nhất Với phần mềm này bạn có thể thay đổi kích cỡ, kiểu chữ và có thể thêm màu cho bản đồ khái niệm [9], [52]
Từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: Tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu phương pháp tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp tự học, bản đồ khái niệm và phần mềm Cmap Tools
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học ở trường phổ thông
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng thành thạo phần mềm Cmap Tools xây dựng bản đồ khái niệm trong tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sinh học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của tự học
- Tìm hiểu cơ sở lí thuyết, cách sử dụng và quy trình xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools
- Nghiên cứu phương pháp tự học Sinh học bằng cách tạo lập bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Sưu tầm, nghiên cứu và xử lí các tài liệu về phương pháp tự học, bản
đồ khái niệm và phần mềm Cmap Tools
- Truy cập thông tin trên mạng Internet
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm có đối chứng song song ở trường trung học phổ thông nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của luận văn
- Điều tra thăm dò trước khi thực nghiệm sư phạm
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Các số liệu trong thực nghiệm sư phạm được xử lí bằng thống kê toán học nhằm tăng độ chính xác cũng như sức thuyết phục của kết luận
7 Những đóng góp của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí thuyết và quy trình xây dựng, sử dụng bản đồ khái niệm
- Góp phần hướng dẫn sử dụng phần mềm Cmap Tools
- Góp phần làm sáng tỏ phương pháp tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lược sử nghiên cứu về phương pháp tự học
Tác giả người Đức G Dietrich trong tác phẩm “Phương pháp dạy học sinh” đã nêu: “Dạy học sinh học phải chú ý để học sinh học tập, có ý thức
và phát huy hoạt động sáng tạo của các em” và “Sự truyền thụ nội dung trong dạy học sinh học chỉ đạt các mục đích vạch ra trong chương trình khi học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập, tư duy và thực hành trí tuệ”
Tác giả N.M Veczilin (Liên Xô cũ), trong tác phẩm “Đại cương về phương pháp dạy học sinh học” cũng đề cập: “Tổ chức tự học cho học sinh không chỉ chú ý đến nội dung, phương pháp mà việc tổ chức sắp xếp logic của tài liệu cũng có ý nghĩa lớn”
Trong tác phẩm “Tổ chức quá trình dạy học trong trường phổ
thông”, VPXtơrôzicôzin đã viết : “ Trong dạy h ọc phải dạy cho HS các biện pháp hoạt động nhận thức độc lập” Cũng trong tác phẩm của mình tác giả đã nghiên cứu về vai trò của HS trong việc tự học, vị trí của tự học trong học tập,
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phương pháp tổ chức tự học và nh ững nguyên tắc , điều kiện bảo đảm cho tự học có hiệu quả
Ngoài ra còn rất nhiều tác giả khác cũng đi sâu nghiên cứu vấn đề này như: M PĐôrôphêencô, B Pexipôp, M Pcasin…
Như vậy có thể thấy xu thể chung của thế giới là nh ấn mạnh đào tạo phương pháp đươc coi như mục đích của dạy học Đặt người học vào vị trí trọng tâm, xem cá nhân người học vừa là chủ thể , vừa là mục đích cuối cùng của quá trình đó Trong đó coi trọng rèn luyện cho HS p hương pháp tự học , phát huy sự suy nghĩ, đầu tư độc lập hoặc theo nhóm nhỏ thông qua thảo luận, thí nghiệm, thực hành hay thâm nhập thực tế
1.1.2 Ở Việt Nam
Vấn đề tự học, tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ: “ Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực
tự học, tự sáng tạo của học sinh, bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên
và rộng khắp trong toàn dân” Trên tinh thần ấy, rõ ràng Đảng ta đã coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có vị trí cực kì quan trọng trong chiến lược giáo dục - đào tạo của đất nước
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần học sinh ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho học sinh tự mình khám phá ra những quy luật, thuộc tính mới của vấn đề, giúp học sinh không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tự học Muốn thành công
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra
Ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX , với khẩu hiệu : “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” và sau đó là cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động người học, lí luận về phương pháp dạy học
đã chuyển sang một bước ngoặt mới Đến những năm 70, vai trò của phương pháp tổ chức tự học bắt đầu được quan tâm nghiên cứu khi vấn đề phát huy tính tích cực được nhiề u tác giả đề cập đến : Nguyễn Cảnh Toàn với “Luận bàn về tự học” đã đưa ra vài trò của người học , người dạy và mô hình tự học ; Tác giả Nguyễn Kỳ với “ Mô hình dạy học lấy HS làm trung tâm”
Ở bộ môn Sinh học có các tác giả: Trần Bá Hoành với “ Kỹ thuật dạy học sinh học” trong đó tác giả đã đề cập đến phải chú rèn luyện phương pháp tự học Nguyễn Văn Duệ với “ Dạy học giải quyết vấn đề trong bộ môn sinh học” Cùng nhiều tác giả khác nhau như : Đinh Quang Báo , Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Bách, Nguyễn Đức Thành…
Như vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu và sử dụng thành công phương pháp tự học trong dạy học các bộ môn, trong đó có bộ môn Sinh học Tuy nhiên việc nghiên cứu phương pháp tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản
đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools chưa có tác giả nào nghiên cứu [2] 1.2 Phương pháp tự học
1.2.1 Khái niệm tự học
Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân học sinh”
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tác giả Nguyễn Kì cũng bàn về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”
Trong bài phát biểu tại hội thảo “Nâng cao chất lượng dạy học” tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại trường Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng:
“Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo
tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”
Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi học sinh phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các
kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối với học sinh, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác
Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao [8], [17], [20], [24], [26], [27], [29], [30], [34]
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.2 Các hình thức tự học
1.2.2.1.Tự học hoàn toàn (không có giáo viên)
Là sự học tập thông qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác Học sinh gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, học sinh khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình
1.2.2.2.Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa)
Học sinh được nghe giáo viên giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với giáo viên, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, học sinh cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình
1.2.2.3.Tự học qua tài liệu hướng dẫn (E-Book)
Học sinh tự học qua E-book Trong tài liệu E-book trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học học sinh cũng có thể gặp khó khăn vì không có sự trợ giúp của giáo viên
1.2.2.4 Tự thực hiện một số hoạt động học ở lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Học sinh tự thực hiện một số hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn, giám sát và kiểm tra của giáo viên Ví dụ: giáo viên ra câu hỏi hoặc đề tài cho học sinh về nhà chuẩn bị bài mới, hoặc khi dạy học giáo viên nêu tình huống hay nêu vấn đề rồi hướng dẫn học sinh tự giải quyết, hoặc giáo viên giao bài tập rồi hướng dẫn học sinh tự làm Hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định nếu được tiến hành hợp lý [30], [31], [32], [33], [34], [35], [36]
Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên chúng ta thấy rằng mỗi hình thức tự học có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Nhằm khắc phục được những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm đa
số học sinh khi học môn Sinh học chúng tôi đề xuất một hình thức tự học mới:
tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sử dụng công nghệ thông tin
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.2.5 Tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sử dụng công nghệ thông tin
Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích, nội dung và phương pháp phù hợp Hình thức tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sử dụng công nghệ thông tin vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh
Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài và hoạt động bên trong Tác động dạy của giáo viên là bên ngoài hỗ trợ cho học sinh tự phát triển, còn tự học của học sinh là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân học sinh Trong tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sử dụng công nghệ thông tin, học sinh nhận được thông tin từ hai nguồn: trực tiếp từ giáo viên và từ việc khai thác công nghệ thông tin
Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) Giáo viên cần hướng học sinh tự bổ sung kiến thức qua sách báo, truyền hình, internet… nhất là những kiến thức khoa học, đời sống, xã hội liên quan đến chương trình mình đang học Giáo viên nên giao những bài tập về nhà mà học sinh phải tự tìm tòi qua các thông tin đại chúng để kích thích các em tự tìm hiểu Từ đó, các em sẽ hết sức vui và tự hào cũng như càng muốn tự học hơn nếu bài tự làm của mình được thầy cô khen ngợi Để giúp học sinh có thể tự học ở nhà, giáo viên cung cấp phương pháp tự học phù hợp, sau đó giáo viên cần tăng cường kiểm tra - đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của học sinh, cuối cùng giải đáp thắc mắc của học sinh
Nguồn thông tin trực tiếp từ giáo viên
Hiện nay theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, môn Sinh học trong các trường trung học phổ thông có thời gian từ 1 - 2 tiết/ tuần, thời gian
đó nếu để giảng giải kiến thức và luyện tập cho học sinh thì không đủ; nhưng nếu để học sinh hoàn toàn tự học thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thể tận dụng thời gian tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh để giáo viên tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng tự học cụ thể Rất nhiều học sinh từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của giáo viên, hầu như không
có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong sách giáo khoa, không thể tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra phương pháp chung để thực hiện một loại hoạt động nào đó Rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, do đó tốt nhất là nên dành thời gian tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh để thực hiện công việc đó
Hoạt động tự học của học sinh có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình
tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của học sinh chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động Học sinh biết tự sắp xếp, bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạt động tự học của chính mình
Nguồn thông tin từ việc khai thác công nghệ thông tin
Sử dụng công nghệ thông tin trong học tập giúp người học tự do khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng Công nghệ thông tin còn giúp người học có thể giao lưu và tương tác với nhiều người cùng lúc Người học cũng có thể hợp tác với bạn bè trong nhóm học trực tuyến để thảo luận và làm bài tập về nhà Ngày nay, việc tương tác và hợp tác trên Internet là phổ biến qua forum, blog, Facebook… và người học có thể tận dụng Internet để “vừa làm vừa học vừa chơi” Sử dụng công nghệ thông tin trong học tập còn có tác dụng kích thích ý thức tự học của học sinh, hỗ trợ
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
học sinh tiếp cận với nguồn thông tin phong phú hơn rất nhiều so với bài giảng trên lớp của giáo viên
Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của học sinh để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được quy định thành kiến thức học tập trong chương trình và sách giáo khoa với sự hướng dẫn của giáo viên thông qua các phương tiện học tập như công nghệ thông tin, tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,
Học sinh tự học bằng cách sử dụng phần mềm Cmap Tools xây dựng bản đồ khái niệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên là một dạng của hình thức
tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sử dụng công nghệ thông tin Để giúp học sinh tự học có hiệu quả, giáo viên hướng dẫn học sinh phương pháp
tự học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm và cách thức sử dụng phần mềm Cmap Tools tạo lập bản đồ khái niệm Học sinh sử dụng phần mềm Cmap Tools xây dựng bản đồ khái niệm trong quá trình tự học Với phần mềm này, học sinh có thể khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, giao lưu và tương tác với những người khác trong khi xây dựng bản đồ khái niệm Giáo viên tăng cường tiếp xúc với học sinh để tổ chức, hướng dẫn
và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng tự học cụ thể, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh và giải đáp những thắc mắc của học sinh
1.2.3 Năng lực tự học
1.2.3.1.Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học hết sức quan trọng vì tự học là chìa khoá tiến vào thế giới hiện đại và văn minh - thế giới của trí thức Năng lực tự học là khả năng
tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, tự nghiên cứu, giáo viên cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho học sinh hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó [17]
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.3.2.Các năng lực tự học cần bồi dƣỡng và phát triển cho học sinh
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với con người Nhờ năng lực này học sinh vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy và thói quen phát hiện, tìm tòi,…Năng lực này đòi hỏi học sinh phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận
và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ,… Để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi người học phải thâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên tưởng, vận dụng những hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã có tương ứng Trên cơ sở đó, dường như xuất hiện “linh cảm”, và từ đó mạch suy luận được hình thành Phải sau nhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện được nói lên thành lời, hiện lên rõ ràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường
và hướng đi để giải quyết
Năng lực giải quyết vấn đề
Trong cuộc sống của mỗi người bao gồm một chuỗi các vấn đề khác nhau được giải quyết Nhờ vào việc đối mặt và giải quyết các vấn đề, mỗi người ngày càng trưởng thành và thích nghi hơn với cuộc sống, xây dựng cho mình cuộc sống có chất lượng ngày càng phát triển Năng lực giải quyết vấn
đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị và kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều học sinh thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết cách xử lí để tìm ra con đường đạt được mục tiêu Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các giáo viên ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nếu nói rằng trong dạy học, quan trọng nhất là dạy cho học sinh cách học, thì trong đó cần coi trọng dạy cho học sinh kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, học sinh có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho học sinh phương pháp tự học
Năng lực xác định những kết luận đúng
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân học sinh
có năng lực này
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên học sinh có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho học sinh kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu
Năng lực vận dụng kiến thức (hoặc tự thu nhận thức kiến thức mới)
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là học sinh vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức
Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết Như vậy kĩ năng giải quyết vấn đề lại có cơ hội để rèn luyện và kết quả của việc giải quyết vấn
đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động cơ học tập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc Giải quyết các vấn đề thực tiễn mới làm nảy sinh nhu cầu nghiên cứu tài liệu, trao đổi, hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp Các kĩ năng về giao tiếp, cộng tác, huy động nguồn lực được rèn luyện Kết quả của hoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm rõ thêm các kiến thức được học từ sách giáo khoa, tài liệu Học sinh thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn và có kĩ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình
Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của học sinh, đòi hỏi phải tạo điều kiện,
cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) học sinh đánh giá và tự đánh giá mình Chỉ có như vậy, học sinh mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái có kết quả tốt hơn
Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình giải quyết vấn đề đòi hỏi học sinh phải luôn đánh giá và tự đánh giá Học sinh phải biết được mặt mạnh, mặt hạn chế của mình, cái đúng - sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đường học tập chủ động của mình Không
có khả năng đánh giá, học sinh khó có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học
Các năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực
tự học ở học sinh Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học Vì vậy, rèn luyện được các năng lực đó, chính là học sinh đặt mình vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, hay nói cách khác, đó là sự rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là truyền thụ kiến thức làm sẵn cho học sinh mà người giáo viên phải đặt mình vào vị trí người hướng dẫn học sinh nghiên cứu [31]
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Như vậy, để hoạt động học tập của người học đạt chất lượng và hiệu quả, người học phải có tri thức và kỹ năng tự học Chính kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để người học biến động cơ tự học thành kết quả
cụ thể và làm cho người học tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học
Tuỳ theo môn học mà học sinh có những kĩ năng tự học phù hợp Một cách chung nhất, học sinh cần phải được rèn luyện các kĩ năng tự học cơ bản sau:
Biết đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản chủ yếu, sắp xếp hệ thống hoá theo trình tự hợp lí, khoa học
Biết và phát huy được những thuận lợi, hạn chế những mặt non yếu của bản thân trong quá trình học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, ở phòng thí nghiệm,
Biết vận dụng các lợi thế và khắc phục các khó khăn, thích nghi với điều kiện học tập (cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập )
Biết sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập cho phép để đạt hiệu quả học tập cao
Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm,
Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin
Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là công nghệ thông tin
Biết phân tích, đánh giá và sử dụng các thông tin
Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học
Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.4.1 Kĩ năng tự học với sách giáo khoa
Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học Kiến thức trong sách giáo khoa là một hệ thống kiến thức khoa học, chính xác, theo một trình tự logic chặt chẽ, được gia công về mặt sư phạm cho phù hợp với trình độ học sinh và thời gian học tập
Đề-Các, nhà triết học, nhà khoa học tự nhiên người Pháp đã nói: “Đọc một cuốn sách tốt, khác nào như trao đổi ý kiến với các nhân vật ưu tú của các thế kỷ đã qua, và hơn nữa, cuộc trao đổi này hoàn toàn bổ ích vì những con người ưu tú này chỉ thông báo cho chúng ta những tư tưởng cao quý của mình” Nhưng muốn cho sách vở trở thành phương tiện có hiệu quả, giúp phát triển trí tuệ và làm phong phú tinh thần con người thì cần phải biết đọc sách Sách chỉ bổ ích cho những người nào biết đọc nó mà thôi
Vì vậy phương pháp sử dụng sách giáo khoa có một vị trí quan trọng không chỉ trong việc lĩnh hội tri thức mà còn làm cho học sinh hình thành cách đọc sách Nhờ đó mà học sinh có thể tiến hành học tập liên tục, học tập suốt đời – một yêu cầu cấp bách trước sự bùng nổ thông tin như hiện nay
Bản chất của phương pháp sử dụng sách giáo khoa là ở chỗ trong quá trình làm việc với chúng, học sinh nắm vững, đào sâu, mở rộng tri thức đồng thời hình thành những kỹ năng, kỹ xảo đọc sách
Những yêu cầu khi tự học với sách giáo khoa
- Việc sử dụng sách tại lớp : Khi chuẩn bị bài học mới, học sinh cần
xác định nội dung nào trong sách giáo khoa theo sự hướng dẫn của giáo viên
để có thể tự lực nghiên cứu ở lớp Sử dụng sách giáo khoa tại lớp cần theo trình tự hợp lý nhất để hoạt động tư duy tích cực mà không ghi nhớ một cách máy móc Trước khi học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa cần nêu lên những vấn đề cơ bản của tài liệu cần nghiên cứu và xác định trình tự, phương pháp nghiên cứu theo trình tự đó Tự học với sách giáo khoa tại lớp có thể sử dụng
để lĩnh hội kiến thức và củng cố kiến thức đã học
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Việc sử dụng sách giáo khoa ở nhà : Việc tự nghiên cứu, sử dụng sách
giáo khoa ở nhà có tầm quan trọng đặc biệt vì nó giúp cho học sinh bổ sung, đào sâu tri thức đã tiếp thu trong thời gian hạn chế tại lớp và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen sử dụng sách Để việc sử dụng sách giáo khoa có kết quả cần hình thành cho học sinh một số kỹ năng, kỹ xảo sau:
+ Kỹ năng, kỹ xảo đọc: đọc nhiều lần để nắm bắt nội dung cơ bản của bài học
+ Kỹ năng, kỹ xảo lập dàn ý, xây dựng đề cương: vạch ra những ý chính, trọng tâm bài học; viết ra từ ngữ quan trọng nhất hoặc là cụm từ ngắn hoặc ký hiệu ở giữa trang, suy nghĩ và khoanh tròn nó lại
+ Kỹ năng, kỹ xảo trích ghi: Ghi các khái niệm quan trọng khác, từ ngữ miêu tả xung quanh vòng tròn
Các bước tự học với sách giáo khoa
- Bước 1 Đọc kĩ nội dung trong sách
+ Đầu tiên hãy đọc một phần của chương cần đọc: đọc một lượng vừa
đủ để có khái niệm về nội dung mình sẽ đọc Đừng ghi chú mà hãy tập trung vào nội dung Khi đọc lần đầu, ta rất dễ bị thôi thúc bắt tay vào ghi chú ngay, nhưng đấy không phải là phương pháp hiệu quả Nếu ghi chú vào thời điểm này, ta chỉ đang chép lại máy móc tất cả thông tin mà chưa hiểu thấu đáo
+ Tiếp theo, đọc lại lần nữa:
Tìm ý chính và ý phụ
Gấp sách lại
Tường thuật lại nội dung quyển sách sẽ giúp học sinh chủ động trong quá trình nắm bắt thông tin
- Bước 2 Ghi chép những thông tin cần thiết sau khi đọc sách
+ Đừng sao chép thông tin trực tiếp từ sách
+ Chỉ ghi một số chi tiết chính để hiểu
+ Xem lại và đối chiếu những nội dung ghi chép với sách giáo khoa, để học sinh biết được mình đã thật sự hiểu bài chưa
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Bước 3 Ghi nhớ kiến thức cốt lõi của bài học
Làm dàn ý cho bài học trong sách giáo khoa vừa đọc như sau:
3 Ý lớn thứ ba
Những kỹ năng, kỹ xảo này được hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình sử dụng sách giáo khoa tại lớp và ở nhà với điều kiện ở lớp phải thực hiện yêu cầu của giáo viên nghiêm túc, rõ ràng, tỉ mỉ, có hệ thống, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập đề ra
1.2.4.2 Kĩ năng sưu tầm tài liệu
Yêu cầu về tài liệu
- Chính xác, khoa học: Tài liệu phải chí nh xác, tiêu biểu, tập trung và
phù hợp Cụ thể là phải chứa đựng đầy đủ các thuộc tính – đặc trưng của hiện tượng ngôn ngữ đang được nói tới nhằm giúp học sinh hiểu sâu , hiểu đúng, tránh sự nhầm lẫn Giáo viên cần đặ t ra yêu cầu chính xác , khoa học khi hướng dẫn học sinh sưu tầm tài liệu, giúp cho học sinh có thêm những tài liệu phong phú, phù hợp với bài học và kiến thức cần đạt
- Chọn lọc, điển hình: Tài liệu không được “lai căng” (do ảnh hưởng
cách dịch câu từ tiếng châu Âu), không “lạ tai” và không “khiên cưỡng” Ngữ điệu cần được rút ra trong lời ăn tiếng nói hằng ngày , mang đậm thói quen tư duy và cách cảm nhận tự nhiên , trong sáng của người Việt Tài liệu điển hình tức là phải tiêu biểu cho nội dung bài học hoặc cho vấn đề cần tìm hiểu Trong số các tài liệu sưu tầm được, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích
ưu điểm, nhược điểm của từng tài liệu để chọn ra cái điển hình
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Thiết thực: Tài liệu sưu tầm phải thiết thực , được đưa ra để trình bày
và hỗ trợ cần thiết khi nội dung – trình tự của bài học đề cập tới , tạo nên dấu
ấn đậm nét nhất , đảm bảo trạng thái tâm lí tập trung nhất mà trước đó người thầy đã gợi mở, nêu ra vấn đề Giáo viên phải định hướng sẵn những nội dung của bài học cần sử dụng tài liệu để quan sát , kiểm chứng Khi yêu cầu học sinh sưu tầm tài liệu , giáo viên phải hướng dẫn cụ thể việc dùng tài liệu đó trong nội dung nào, phục vụ cho vấn đề gì
- Phù hợp: Tài liệu không chỉ phù hợp với bài học mà còn phải phù hợp
với đối tượng và lứa tuổi học sinh Tài liệu không nên quá khó hoặc quá xa lạ
Ở những nội dung đơn giản , không nên tìm những tài liệu đòi hỏi phải có sự
tư duy cao Tài liệu phải chuẩn về ngôn ngữ , về phong cách, phải trong sáng, dễ hiểu, phải trở thành mẫu diễn đạt để dễ dàng vận dụng, làm theo
- Ngắn gọn: Tài liệu phải ngắn gọn nhằm tiết kiệm thời gian , giúp cho
việc lĩnh hội kiến thức của học sinh nhanh hơn , hiệu quả hơn Nhờ vậy mà trong cùng một khoảng thời gian , học sinh có cơ hội làm việc nhiều hơn với đối tượng khảo sát, được quan sát và phân tích nó kĩ hơn
Các bước sưu tầm tài liệu
- Bước 1 Xác định tài liệu cần sưu tầm
Giáo viên định hướng cho học sinh những vấn đề cần sưu tầm tài
liệu, nhiệm vụ cụ thể và điều kiện cần thiết khi áp dụng tài liệu sưu tầm vào bài học
- Bước 2 Tìm nguồn tài liệu
Giáo viên có thể đưa ra những lời khuyên để học sinh biết tìm kiếm từ những nguồn tài liệu đáng tin cậy Hướng dẫn cho học sinh các kĩ năng để tìm kiếm tài liệu như : xác địn h căn cứ lựa chọn tài liệu (căn cứ vào mục đích , nhiệm vụ, thời gian, điều kiện…), xác định danh mục tài liệu cần tìm kiếm , xác định nguồn tài liệu , địa chỉ (thư mục ở thư viện , sách báo , địa chỉ trên mạng internet) và sắp xếp danh mục tài liệu theo thứ tự ưu tiên
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Bước 3 Lập kế hoạch làm việc với tài liệu
Xác định mục đích , nhiệm vụ , các yêu cầu , thời gian và khối lượng công việc cần giải quyết ; xác lập thứ tự tài liệu cần sưu t ầm tương ứng với thời gian , nhiệm vụ và kết quả cần đạt ; kiểm tra để chính xác hoá kế hoạch dự kiến
- Bước 4.: Thu thập tài liệu
Đọc nhanh tài liệu để xác định phạm vi , vị trí thông tin mình cần , sau đó có thể copy toà n bộ thông tin (thông tin thô) hoặc đọc kĩ (phân tích, thông hiểu tài liệu) và ghi chép (trích dẫn, tóm tắt…) tài liệu cần tìm Để tiện lợi khi sử dụng, mỗi tài liệu thu thập được , cần lưu lại trên đó đầy đủ các thông tin như tên tác giả , tác phẩm, nhà xuất bản , năm xuất bản , trang hay địa chỉ trên internet…
- Bước 5 Xử lí tài liệu
Sau khi thu thập được tài liệu , học sinh có thể phân loại tài liệu theo hướng giải quyết vấn đề (theo yêu cầu , nhiệm vụ và kết quả cần đạt ) Tổng hợp tài liệu (thực hiện các thao tác tư duy : phân tích, so sánh, tổng hợp…) theo mục đích, nhiệm vụ sử dụng
1.2.4.3 Kĩ năng hệ thống hóa kiến thức bằng cách tạo lập bản đồ khái niệm
Vai trò của việc hệ thống hóa kiến thức bằng cách tạo lập bản
đồ khái niệm
Trước hết, việc hệ thống hóa kiến thức bằng cách tạo lập bản đồ khái niệm đem lại hiệu quả thông tin to lớn Nó giúp học sinh tiếp cận với nội dung tri thức bằng con đường logic, cùng một lúc vừa phân tích đối tượng nhận thức thành các sự kiện, các yếu tố cấu thành, lại vừa tổng hợp, hệ thống hóa các sự kiện, các yếu tố đó thành một chỉnh thể thống nhất thuận lợi cho việc khái quát hóa, hình thành khái niệm khoa học – sản phẩm của tư duy lý thuyết
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thứ hai, phương pháp này giúp phát triển cao năng lực nhận thức, năng lực tư duy của học sinh Đó là sự phát triển các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa) và khả năng hình thành năng lực tự học cho học sinh Hiệu quả này đạt được lớn nhất khi việc hệ thống hóa nội dung tri thức do học sinh tiến hành Học sinh sử dụng ngôn ngữ sơ đồ để diễn đạt nội dung sách giáo khoa và tài liệu đọc được Đây là quá trình gia công chuyển hóa kiến thức, bằng phép gia công chuyển hóa này sẽ rèn luyện được năng lực tư duy logic
Các mức độ của việc hệ thống hóa kiến thức bằng cách tạo lập bản đồ khái niệm
Có 3 mức độ như sau:
- Mức độ 1: Bản đồ khái niệm chỉ được sử dụng như một phương tiện
truyền đạt thông tin của giáo viên: giáo viên xây dựng bản đồ khái niệm rồi giới thiệu cho học sinh bằng phương pháp giải thích minh họa Mức độ này đạt hiệu quả thấp nhất
- Mức độ 2: Giáo viên sử dụng bản đồ khái niệm như một phương tiện
tổ chức hoạt động tự học của học sinh Giáo viên tổ chức cho học sinh tự lực nghiên cứu sách giáo khoa rồi yêu cầu học sinh:
+ Sử dụng bản đồ khái niệm để diễn đạt nội dung đọc được
+ Điền tiếp bản đồ khái niệm khuyết thiếu, bản đồ khái niệm câm + Tìm những bất hợp lý trong bản đồ khái niệm, sửa lại những bất hợp
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Thông qua việc tạo lập bản đồ khái niệm, học sinh sẽ tự hình thành cho mình phương pháp nhận thức sự vật
→ Mức độ này đạt hiệu quả cao nhất
Việc học sinh tự học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools chính là hệ thống hóa kiến thức bằng cách tạo lập bản đồ khái niệm ở mức độ 3
Các nguyên tắc tạo lập bản đồ khái niệm
Muốn xây dựng bản đồ khái niệm, ngoài việc có kỹ năng đọc sách giáo khoa, học sinh còn phải sử dụng các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa,…để cùng một lúc vừa phân tích đối tượng nhận thức thành các sự kiện, các yếu tố cấu thành lại vừa phải tổng hợp chúng lại, thiết lập các mối quan hệ qua lại giữa chúng
Bản đồ khái niệm phải phản ánh trực quan tập hợp những kiến thức then chốt (cơ bản, cần và đủ) của một nội dung bài học và logic phát triển bên trong của nó Bản đồ khái niệm bao gồm bản đồ khái niệm cho một mục, một bài, một chương hoặc một phần [25], [31], [52]
1.2.5 Điều tra thực trạng tự học của học sinh trung học phổ thông
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Sinh học ở trường trung học phổ thông cũng như tăng cường hiệu quả của việc tự học Sinh học, chúng tôi đã tham khảo ý kiến của 70 thầy cô giáo dạy môn Sinh học ở các trường trung học phổ thông Thái Nguyên và các học viên lớp cao học Lí luận
& Phương pháp Dạy học Sinh học - K18, 19 Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên bằng phiếu thăm dò về một số vấn đề và thu được kết quả như sau:
- Các giáo viên cho biết lượng kiến thức mà đa số học sinh tiếp thu trong 1 tiết học hiện nay chỉ nhận được khoảng từ 20% → 75% Các giáo viên khẳng định nguyên nhân khiến đa số học sinh chưa tiếp thu hết lượng kiến thức cần thiết là do lượng kiến thức nhiều, bản thân học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, hiệu quả Nguyên nhân tiếp theo là do học sinh thụ động trong học tập và điều quan trọng là chưa có các phương tiện tự học cần thiết để giúp học sinh tự học một cách hiệu quả (bảng 1.1)
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 1.1 Nguyên nhân học sinh chưa tiếp thu hết kiến thức
Chưa có phương tiện phù hợp cho
học sinh tự học, tự nghiên cứu
Cách truyền đạt kiến thức của giáo
viên
- Về giải pháp giúp học sinh nâng cao hiệu quả học tập, 100% giáo viên cho rằng học sinh cần thiết phải có khả năng tự học ở bậc trung học phổ thông (bảng 1.2)
Bảng 1.2 Mức độ cần thiết tự học của học sinh
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Giúp học sinh hiểu bài
trên lớp sâu sắc hơn
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Về hiệu quả của việc tự học thì hơn 90% giáo viên cho rằng hoạt động tự học của học sinh chưa đạt hiệu quả cao, chưa đạt chuẩn kiến thức
kĩ năng của Bộ Giáo dục & Đào tạo đề ra Bên cạnh đó giáo viên cũng cho biết nguyên nhân hoạt động tự học của học sinh chưa đạt chuẩn là do học sinh chưa biết cách tự học, nguyên nhân tiếp theo là do chưa có các phương tiện tự học phù hợp để giúp học sinh tự học một cách hiệu quả (bảng 1.5)
Bảng 1.5 Nguyên nhân tự học chưa đạt hiệu quả
- Theo các giáo viên, phương tiện tự học phù hợp là phương tiện có thể
giúp học sinh tiến hành tự nghiên cứu tự thể hiện tự kiểm tra, tự điều
chỉnh để đảm bảo thực hiện tốt bốn khâu liên hoàn là học - hỏi - hiểu - hành
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 1.6 Những yêu cầu cần thiết đối với phương tiện tự học
Phân tích kết quả điều tra :
Các số liệu điều tra giáo viên trung học phổ thông và học sinh ở lớp 12 cho thấy một số vấn đề sau:
- Lượng kiến thức cần thiết mà đa số học sinh tiếp thu trong 1 tiết học hiện nay chỉ nhận được khoảng từ 20% → 75%, nguyên nhân là do lượng kiến thức nhiều, bản thân học sinh chưa có phương pháp học tập hiệu quả, học sinh thụ động trong học tập
- Về giải pháp giúp học sinh nâng cao hiệu quả học tập, 100% giáo viên cho rằng học sinh cần thiết phải tích cực học tập, phải có khả năng tự học ở bậc trung học phổ thông Các giáo viên cho biết lý do mà học sinh cần phải tự học là để hình thành và phát triển khả năng tự học và tự nghiên cứu phục vụ cho “phương châm học suốt đời”, tiếp theo đó là để học sinh tích cực học tập hiểu bài trên lớp sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn, vận dụng kiến thức tốt hơn nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Việc tự học là rất quan trọng, nhưng hiện nay giáo viên cho rằng đa số học sinh hoạt động tự học chưa đạt hiệu quả cao, chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo dục & Đào tạo đề ra, nguyên nhân là do học sinh chưa biết cách tự học, chưa có phương tiện tự học phù hợp
- Đa số ý kiến cho rằng phương tiện tự học phù hợp do giáo viên biên soạn giúp học sinh tự học tốt hơn, nhưng rất ít giáo viên tham gia thiết kế phương tiện tự học, lí do là vì giáo viên hoặc không có nhiều thời gian hoặc chưa đủ kinh nghiệm để thiết kế hoặc vì các lý do khác nữa Nhưng tất cả giáo viên đều có một ý kiến chung nhất là mong muốn có phương tiện tự học phù hợp để giúp học sinh trung học phổ thông hình thành và phát triển năng lực tự học
- Theo các giáo viên, phương tiện tự học phù hợp là phương tiện có thể
giúp học sinh tiến hành tự nghiên cứu tự thể hiện tự kiểm tra, tự điều
chỉnh để đảm bảo thực hiện tốt bốn khâu liên hoàn là học - hỏi - hiểu - hành
Kết quả điều tra trên đây là cơ sở quan trọng, định hướng cho tác giả nghiên cứu để đề xuất phương pháp tự học Sinh học bằng cách sử dụng phần mềm Cmap Tools xây dựng bản đồ khái niệm, đó cũng chính là nội dung nghiên cứu của đề tài
1.3 Bản đồ khái niệm
1.3.1 Cơ sở lí luận của bản đồ khái niệm
Bản đồ khái niệm (Concept Maps - Cmaps) là công cụ đồ họa cho phép sắp xếp và trình bày kiến thức, nó bao gồm các khái niệm và các đường nối Khái niệm được đóng khung trong các hình tròn, elip hoặc hình chữ nhật Đường nối thể hiện mối quan hệ giữa các khái niệm, có gắn nhãn để miêu tả
rõ ràng hơn mối quan hệ đó Nhãn thường là từ nối hay các cụm từ nối, định
rõ mối quan hệ giữa hai khái niệm Phần lớn nhãn là một từ hoặc nhiều từ nhưng đôi khi cũng có thể sử dụng các kí hiệu như “+” hay “%” [9]