1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn nguyễn khải thời kì đổi mới từ góc nhìn văn hóa

108 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 884,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viết về nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Khải, tác giả Nguyễn Phượng trong bài viết Nguyễn Khải - vị sứ đồ tự nguyện trong văn xuôi Việt Nam hiện đại nhận xét: “Không phải ngẫu nhi

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đào Thủy Nguyên

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và nội dung này chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào trước đó

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015

Tác giả luận văn

Đào Thị Thiết

Trang 3

Thái nguyên, tháng 07 năm 2015

Tác giả luận văn

Đào Thị Thiết

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI THỜI KÌ ĐỔI MỚI 12

1.1 Một số vấn đề lí luận 12

1.1.1 Khái niệm về “văn hoá” và “văn học” 12

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học 15

1.1.3 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá 17

1.1.4 Diễn trình văn hoá Việt Nam 19

1.2 Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới 23

1.2.1 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Khải 23

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Khải trong dòng chảy chung của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới 25

Chương 2: DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI 34

2.1 Bức tranh thiên nhiên mang dấu ấn văn hóa Việt Nam 34

2.2 Con người văn hóa trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới 38

2.2.1 Con người giàu tình nghĩa và đức hi sinh 39

2.2.2 Con người giàu nghị lực và niềm tin vào cuộc sống 47

2.2.3 Con người giàu lòng tự trọng, có bản lĩnh và nhân cách cao đẹp 49

2.3 Đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời đổi mới 55

2.3.1 Những nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam 55

2.3.2 Những mặt trái của đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam thời kì đổi mới 61

Trang 5

Chương 3 DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG NGHỆ THUẬT TRUYỆN

NGẮN NGUYỄN KHẢI 68

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 68

3.1.1 Khắc họa nhân vật qua ngoại hình 68

3.1.2 Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại 73

3.2 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải 79

3.2.1 Ngôn ngữ kể chuyện bình dị, đời thường, đậm tính khẩu ngữ 79

3.2.2 Ngôn ngữ giàu sức biểu cảm, trữ tình 82

3.3 Hệ thống biểu tượng văn hóa Việt Nam trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới 83

3.3.1 Biểu tượng và biểu tượng trong văn học 83

3.3.2 Biểu tượng văn hóa Việt Nam trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới 85

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Khải là một trong những cây bút tiêu biểu hàng đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông thuộc thế hệ những nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cũng là một trong những cây bút đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới văn học nước nhà Với sức viết dẻo dai, bền bỉ cùng phong cách làm việc hết sức nghiêm túc và không ngừng tìm tòi, đổi mới, ông đã khẳng định vững chắc tên tuổi của mình trên văn đàn Nguyễn Khải sáng tác đều tay và ở thời điểm nào ông cũng có những tác phẩm kịp thời để phục vụ nhu cầu của bạn đọc Sau hơn nửa thế kỉ cầm bút, nhà văn đã để lại một khối lượng khá lớn các tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tạp văn Ở mỗi thể loại, ông đều thể hiện tài năng và tâm huyết của một cây bút luôn tìm tòi đổi mới, luôn chuyên tâm cho sự nghiệp văn chương Sức lôi cuốn trong các sáng tác của ông thể hiện ở những phát hiện nhạy bén, tính triết lý sắc sảo cùng với giọng văn hóm hỉnh

mà đôn hậu, trầm lắng mang đậm cá tính riêng của tác giả

1.2 Trong văn nghiệp của Nguyễn Khải, truyện ngắn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng góp phần làm nên tên tuổi của ông Nhìn chung, truyện ngắn của Nguyễn Khải khá phong phú về đề tài: về nông dân trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, về bộ đội trong những năm chiến tranh, về những vấn đề xã hội - chính trị có tính thời sự,

về cả những chuyện thường ngày, những trăn trở về chuyện nghề, chuyện đời trước những biến động phức tạp của xã hội Dù viết về đề tài nào, truyện ngắn của ông cũng thể hiện một cái nhìn đa diện, một sự am hiểu sâu sắc về cuộc sống, về con người và xã hội Và bao giờ cũng vậy, truyện ngắn Nguyễn Khải luôn thấm đượm một tình yêu tha thiết với đất nước và con người Việt Nam

1.3 Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các sáng tác của Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn của ông mang nhiều dấu ấn văn hóa Việt Nam Có lẽ cuộc đời trải qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc cùng với những trải nghiệm qua những chuyến đi thực tế đã tạo nên cho nhà văn sự am hiểu vừa sâu sắc vừa đa dạng, phong phú về đời sống văn hóa của con người Việt Nam Phải chăng, đây cũng chính

là cơ sở làm nảy sinh những mạch nguồn cảm hứng sâu xa, góp phần tạo nên những

Trang 7

trang văn đậm chất văn hóa của Nguyễn Khải Bởi vậy, chúng tôi chọn cách tiếp cận truyện ngắn của ông dưới góc nhìn văn hóa

Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một cách tiếp cận còn khá mới mẻ trong đời sống nghiên cứu văn học Tuy nhiên, những năm gần đây cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hoá Văn học là một bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa Bất kì tác phẩm văn học ở thời kì nào cũng đều mang dấu ấn văn hóa của thời kì đó Do vậy, khi nghiên cứu một tác phẩm văn học, sẽ là thiếu sót vô cùng nếu ta không tìm hiểu những giá trị văn hóa được thể hiện trong tác phẩm văn học đó Nhất là trong giai đoạn hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia đang là vấn đề bức thiết được đặt lên hàng đầu Nhận biết được điều này nên chúng tôi mong muốn đi sâu nghiên cứu sáng tác của một tác giả cụ thể theo hướng tiếp cận văn hóa Chúng tôi lựa chọn truyện ngắn của Nguyễn Khải làm đối tượng nghiên cứu bởi truyện ngắn của ông rất giàu giá trị văn hóa Trong khi đó, mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các sáng tác của Nguyễn Khải nhưng lại chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống về truyện ngắn của ông theo hướng liên ngành văn hóa - văn học

1.4 Sáng tác của Nguyễn Khải đã được đưa vào chương trình học ở đại học và các trường phổ thông hiện nay Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn trước đây có

truyện ngắn Mùa lạc và chương trình sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành có truyện ngắn Một người Hà Nội Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi mong phần nào giúp các

thầy cô giáo và các bạn học sinh, sinh viên trong việc giảng dạy, học tập tác phẩm của ông ở nhà trường các cấp

Từ những lí do trên đây cùng với với niềm say mê và lòng kính trọng, khâm phục tài năng Nguyễn Khải, đặc biệt yêu thích truyện ngắn của ông, chúng tôi lựa

chọn đề tài: “Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới từ góc nhìn văn hóa” làm

vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Các sáng tác của Nguyễn Khải dù ở thể loại nào thì ngay từ khi mới ra đời cũng luôn tạo được dư luận và gây được sự chú ý của độc giả cũng như của giới phê bình, nghiên cứu văn học Vì thế đã có khá nhiều những bài báo, những công trình nghiên

Trang 8

cứu về tác phẩm của ông Để phục vụ cho những vấn đề mà đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu các ý kiến đánh giá, nhận xét về văn hóa trong mảng truyện ngắn của Nguyễn Khải thời kì đổi mới

2.1 Những ý kiến đánh giá về dấu ấn văn hóa trong nội dung truyện ngắn của Nguyễn Khải

Nguyễn Khải cùng các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng… xứng danh là những “ngọn cờ tiên phong” trong nền văn học Việt Nam thời kì đổi mới Các truyện ngắn của Nguyễn Khải thời kì này nhận được sự đánh giá cao của giới phê bình văn học và bạn đọc cả nước Đáng lưu ý nhất là các bài viết của Vương Trí Nhàn, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Phan Cự Đệ, Đoàn Trọng Huy, Đào Thủy Nguyên, Huỳnh Như Phương… Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nhận thấy ở nhà văn một cách tiếp cận hiện thực độc đáo, một cái nhìn sắc sảo, khả năng nắm bắt nhiều khía cạnh của đời sống, đặc biệt là sự thể hiện những thân phận, những trạng thái tâm

lý của con người một cách sâu sắc, tinh tế Đó cũng là những tư liệu quý báu, những gợi ý bước đầu để chúng tôi triển khai luận văn này

Vương Trí Nhàn trong bài viết Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học

cách mạng từ sau năm 1945 đã ghi nhận thành quả lao động miệt mài, hăng say của

một nhà văn có “phong cách vừa dân dã vừa hiện đại” Trong bài viết, tác giả đã chỉ

ra rằng: “Những truyện ngắn của Nguyễn Khải viết từ 1988 - 1999 đến thời gian gần

đây, khơi vào hai mạch chính: Một là cuộc sống hôm nay của người xung quanh, bạn

bè đồng nghiệp quen biết, cùng tuổi tác và tâm sự Hai là số phận những người thân trong gia đình, họ hàng nội ngoại của tác giả, những ông cậu, bà mợ mà tâm tư tình cảm của Nguyễn Khải còn nhiều quyến luyến”[43, tr 116] Nhà nghiên cứu cũng

khẳng định: Nguyễn Khải là nhà văn hiểu rõ con người và cuộc sống hiện đại ngày

nay hơn ai hết: “Muốn tìm hiểu con người thời đại trong tất cả cái hay cái dở của họ,

nhất là muốn hiểu cách nghĩ của họ, đời sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải”[43, tr 121] Như vậy, Vương Trí Nhàn đã chỉ ra một thành công nổi bật của

Nguyễn Khải về giá trị văn hóa trong truyện ngắn của ông, đó là sự am hiểu sâu sắc của tác giả về tâm hồn, tính cách con người Việt Nam

Trang 9

Viết về nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Khải, tác giả Nguyễn Phượng

trong bài viết Nguyễn Khải - vị sứ đồ tự nguyện trong văn xuôi Việt Nam hiện đại

nhận xét: “Không phải ngẫu nhiên mà các nhân vật của Nguyễn Khải từ 1987 trở đi

phần lớn là những người gặp nhiều rủi ro, thất thiệt, họ cũng là những người già nua, thất thế, lạc thời Chọn đối tượng này, nhà văn xây dựng những hình mẫu nhân vật mới: Con người vật lộn với những hoàn cảnh trớ trêu, với những biến động của cuộc sống vô thường nhưng luôn khát khao hoàn thiện mình, luôn luôn biết giữ gìn phẩm giá và nhân cách…”[46, tr 159] Tác giả bài viết cũng nhận định: “Nhà văn đã phát hiện ra nhiều vẻ đẹp vốn có … Đó là vẻ đẹp đơn sơ mà lộng lẫy của cô Hiền

trong Một người Hà Nội, là vẻ đẹp trầm lắng và cao quý ẩn đằng sau cái vẻ ngoài

lầm lũi, tội nghiệp của ông Hai…”[46, tr 159]

Tìm hiểu truyện ngắn Một người Hà Nội - một trong những truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Khải thời đổi mới, Nguyễn Văn Long có bài viết Nguyễn Khải và

sự đổi mới quan niệm về con người trong “Một người Hà Nội” Nhận xét về nhân

vật bà Hiền, tác giả cho rằng:“Trong quan hệ với xã hội, với thời cuộc, những nét đẹp

trong nhân cách của nhân vật này phải được nhìn nhận từ một quan niệm mới, từ những giá trị bền vững theo tinh thần nhân văn và dân chủ Bà Hiền hoàn toàn không phải là nhân vật thuộc mẫu hình “con người mới” của văn học xã hội chủ nghĩa một thời” nhưng cái đáng quý ở nhân vật này “chính là biểu hiện của lòng tự trọng, của ý thức về giá trị nhân cách, không thể để bị đánh mất mình trong hoàn cảnh thay đổi của thời cuộc”, đó là ý thức giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống Tác giả cũng khẳng

định một tình yêu, niềm tin của nhà văn đối với Hà Nội gửi vào hình ảnh cây si cổ thụ đềnNgọc Sơn sống lại sau trận bão như một biểu hiện rằng: “Mọi thứ xô bồ, hỗn tạp

của Hà Nội hiện thời chỉ là những rác nổi trên bề mặt của đời sống, rồi đến lúc nó sẽ

bị cuốn đi, để một Thủ đô với 1000 năm văn hiến, với sự “thanh lịch của người Tràng

An” sẽ trở lại”[33] Cũng đi sâu vào tìm hiểu truyện ngắn Một người Hà Nội, tác giả

Trần Viết Thiện trong bài viết Nguyễn Khải - người đi tìm hồn thiêng của đất Kinh

kì cho thấy: Cả tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt tôi đều “lấp lánh tình cảm thân

thương, yêu quý và rất đỗi tự hào” của người con sinh ra trên mảnh đất Kinh kì và

Một người Hà Nội chính là “truyện ngắn kết lắng đầy đủ tình cảm, sự ngưỡng vọng

Trang 10

của Nguyễn Khải về mảnh đất Thăng Long nghìn năm văn vật” Tác giả bài viết cho

rằng: “Nhân vật cô Hiền trở thành một giá trị văn hóa, một thực thể sống của văn

đó một cách chuyên sâu

Tác giả Đào Thủy Nguyên trong cuốn Phương pháp tiếp cận sáng tác của

Nguyễn Khải trong giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại đã lưu ý đến cái nhìn của

nhà văn vào đời sống con người: con người trong thời gian và lịch sử; con người trong các khả năng lựa chọn và thích ứng; con người trong quan hệ gia đình; con người trong mâu thuẫn và tiếp nối giữa các thế hệ… Đặc biệt, công trình có những nhận xét rất cụ thể về những nhân vật của Nguyễn Khải được soi chiếu trên phương

diện nhân cách Tác giả kết luận: “Vẻ đẹp nhân cách được Nguyễn Khải tìm thấy ở

những con người hết sức bình thường, những con người hầu như không có công tích

gì nhiều, nhưng tấm vải bền chắc của cuộc đời lại được dệt nên từ chính những con người như thế”[41, tr 153]

Luận văn thạc sĩ Hình tượng tác giả trong truyện ngắn của Nguyễn Khải thời

kì đổi mới của Hoàng Thị Anh là một công trình nghiên cứu khá sâu sắc về dấu ấn cá

nhân của nhà văn trong các truyện ngắn của ông thời đổi mới Tác giả luận văn nhận định: Nguyễn Khải đã thể hiện một cái nhìn hiện thực tỉnh táo để đi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống nhằm tìm ra chân lí, sự thật ở bề sâu cuộc sống tại những nơi

tưởng như êm đềm, phẳng lặng: “Viết về con người trong đời thường hôm nay,

Nguyễn Khải khám phá ra nhiều giá trị nhân văn sâu sắc ẩn chứa đằng sau những con người, những nhân vật rất đỗi bình thường của cuộc sống Nhân vật của ông bước từ cuộc đời vào trang sách tự nhiên, không thi vị mà đượm chất đời sống”[1, tr

Trang 11

47] Tác giả khái quát: “Cái nhìn hiện thực tỉnh táo của Nguyễn Khải trong thời kì

đổi mới là một cái nhìn có chiều sâu lịch sử và văn hóa”[1, tr 48]

Lê Thị Bích Ngọc trong luận văn Những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn

Nguyễn Khải đã tập trung khai thác một số đặc trưng của truyện ngắn Nguyễn Khải

trên bình diện nội dung qua cái nhìn về con người và sự lựa chọn đề tài của nhà văn Đặc biệt về cái nhìn con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải, tác giả luận văn đã

nhận định “Sự ca ngợi, trân trọng trong truyện ngắn Nguyễn Khải không chỉ dành

riêng cho những con người bất hạnh biết vươn lên tìm hạnh phúc đời mình mà ông còn dành cho những con người giàu lòng hi sinh, biết sống vì người khác”[40, tr 21]

Về đề tài truyện ngắn, Nguyễn Khải tập trung vào ba đề tài chủ yếu: những vấn đề phức tạp nảy sinh trong thời kì xây dựng xã hội chủ nghĩa, người phụ nữ trong sự thăng trầm biến đổi của thời cuộc và đề tài về Hà Nội thanh lịch hào hoa

Nhìn chung từ những ý kiến đánh giá của các tác giả trên, có thể nhận thấy: Vấn

đề văn hóa được thể hiện trong nội dung truyện ngắn Nguyễn Khải đã ít nhiều được quan tâm ở những phương diện như: về con người, về cuộc sống gia đình truyền thống hay đời sống văn hóa - xã hội thời đổi mới… Xong phần lớn mọi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những nhận xét chung, mang tính khát quát chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu cụ thể và có hệ thống về những dấu ấn văn hóa trong nội dung các truyện ngắn của ông Kế thừa thành tựu của những người đi trước, chúng tôi sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề còn đang bỏ ngỏ này

2.2 Những ý kiến đánh giá về dấu ấn văn hóa trong nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới

Nguyễn Khải được coi là một trong số ít những nhà văn có cá tính sáng tạo nghệ thuật độc đáo và đạt được thành tựu đáng kể trong đổi mới nghệ thuật văn xuôi, bởi vậy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Nhưng chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu về dấu ấn văn hóa trong nghệ thuật văn xuôi Nguyễn Khải nói chung và truyện ngắn của ông nói riêng Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi cũng ghi nhận được một số ý kiến đánh giá, nhận xét có tính chất gợi mở cho đề tài nghiên cứu của mình

Trang 12

Trong số những ý kiến bàn về nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Khải, đáng

chú ý là bài viết Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn… của Lại

Nguyên Ân ghi lại cuộc trao đổi giữa ông và Trần Đình Sử về các sáng tác của Nguyễn Khải Hai nhà nghiên cứu đã có nhiều nhận định khách quan, sâu sắc về những tác phẩm thuộc giai đoạn sáng tác sau này của Nguyễn Khải Trần Đình Sử

cho rằng: “Thành công trong việc sáng tác của Nguyễn Khải có lẽ do hai đặc điểm

chính của anh với tư cách một nghệ sĩ: cảm hứng nghiên cứu và sự phân tích tâm lý”

Lại Nguyên Ân lại có suy nghĩ khác, ông cho rằng độc giả thích Nguyễn Khải bởi

“chất văn xuôi” của nhà văn Ngoài ra, Lại Nguyên Ân cũng nói đến đặc sắc trong

ngôn ngữ Nguyễn Khải, “một ngôn ngữ rất văn xuôi: nó không ưng rống lên thống

thiết mà thường pha ngang sang giọng tưng tửng, đùa đùa Thêm nữa là tính chất nhiều giọng của văn xuôi này: có cái là do người kể chuyện nói, có cái là do những giọng khác nói” Trần Đình Sử cũng nhấn mạnh: “Một chất lượng ngôn ngữ đặc sắc như vậy là phương thức rất lợi hại để phân tích tâm lý Tôi thấy ở văn xuôi của ta có khá nhiều nhà văn miêu tả tâm lý giỏi, nhưng phân tích tâm lý thì ít ai làm được như anh Khải”[2]

Ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải cũng được Đoàn Trọng Huy đề cập

đến trong bài viết Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải Tác giả đã chỉ

ra tính chất đa giọng điệu trong sáng tác của nhà văn: “Ngôn ngữ của Nguyễn Khải

giàu chất sống, chất văn xuôi là ngôn ngữ hiện thực Đặc biệt là tính chất nhiều giọng điệu Nhà văn thường đứng ở nhiều góc độ, nhiều bình diện để tả và kể”[20, tr

92] Tác giả cũng nhấn mạnh đến tính chính luận: “Sáng tác của Nguyễn Khải là loại

sáng tác mang tính luận đề và tính chính luận rõ nét Cái tạo nên sức hấp dẫn của người đọc chính là tính thuyết phục của lí lẽ”[20, 93] Những nhận xét của các nhà

nghiên cứu chính là những gợi ý đầu tiên cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu về ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Khải dưới góc nhìn văn hóa

Tác giả Trần Thanh Phương trong bài viết Nguyễn Khải với Hà Nội trong mắt

tôi khi đi sâu vào nghiên cứu tập truyện Hà Nội trong mắt tôi lại chỉ ra rằng: “Hà Nội trong mắt tôi không tuân theo những khuôn mẫu thông thường của truyện ngắn

truyền thống đòi hỏi phải có cốt truyện và những pha hấp dẫn, li kì của sự thắt nút,

Trang 13

cởi nút…” và “sự kết hợp nhiều thể loại vào trong một thể loại đã làm cho truyện ngắn Nguyễn Khải giống như một bức tranh giàu màu sắc với nhiều mảng sáng tối xen kẽ, tạo ra một thế giới đa dạng, phong phú”[45, tr 381]

Nguyễn Bích Thu trong bài viết Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn

Nguyễn Khải những năm tám mươi đến nay đã tập trung chú ý vào giọng điệu trần

thuật - một trong những yếu tố làm nên phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khải, gồm các giọng điệu tiêu biểu: giọng triết lí, tranh biện; giọng tâm tình, chia sẻ; giọng

hài hước và hóm hỉnh Tác giả khái quát: “Một giọng điệu trần thuật chịu sức hút của

chủ nghĩa tâm lí, kết hợp kể, tả, phân tích một cách linh hoạt, thông minh và sắc sảo Lời văn nghệ thuật của Nguyễn Khải là lời văn nhiều giọng, được cá thể hóa, mang tính đối thoại của tự sự hiện đại”[59, tr 132]

Các sáng tác của Nguyễn Khải cũng là đề tài của nhiều công trình nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu Những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn

Khải rất đáng quan tâm như: “Những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Nguyễn

Khải”(2010) của Lê Thị Bích Ngọc, “Hình tượng tác giả trong truyện ngắn của Nguyễn Khải thời kì đổi mới”(2008) của Hoàng Thị Anh, “Tính liên tục và sự thay đổi trong sáng tác truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1986”(2012) của Nguyễn Thị

Dương, “Tính chất triết luận trong văn xuôi Nguyễn Khải thời kì đổi mới”(2010) của

Lê Nguyễn Hạnh Thảo… Ở các công trình này, các tác giả khi nói về nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Khải cũng đã có những phân tích, đánh giá về hệ thống nhân vật hay cốt truyện, ngôn ngữ nghệ thuật nhưng chưa đánh giá cụ thể, sâu sắc những giá trị nghệ thuật này trong mối liên hệ với văn hóa Các tác giả mới chỉ

“chạm đến” vấn đề này ở mức độ khái quát chung chung

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích với đề tài: Nghệ thuật tự sự trong truyện

ngắn Việt Nam sau 1975 (qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,

Ma Văn Kháng) đã đi sâu vào vấn đề nghệ thuật tự sự ở ba phương diện: Ngôi kể,

điểm nhìn và giọng điệu trần thuật Ở chương 4 của luận án, tác giả đi sâu nghiên cứu

về giọng điệu trần thuật của ba tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng Tác giả luận án đã cho chúng ta thấy được qua giọng điệu trần thuật, Nguyễn

Trang 14

Khải thể hiện niềm tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên, quê hương, đất nước và những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Khải, tác giả

khái quát: “Thể hiện giọng điệu ngợi ca, nhà văn không hô hào bằng những mĩ từ,

những hình ảnh so sánh bay bổng mà bằng lối tả thực với ngôn ngữ hiện thực, giàu sức sống”[5, tr 112], “giọng điệu mỉa mai trào lộng vẫn mang sắc thái khách quan song đằng sau đó là một nỗi băn khoăn về thói đời (…) thể hiện rõ sự bất bình, nỗi chua chát khi con cái không tiếp nối được truyền thống gia đình và lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi giá trị của cuộc sống”[5, tr 115] Như vậy, vấn đề dấu ấn văn hóa

thể hiện trong giọng điệu trần thuật của Nguyễn Khải đã được tác giả đề cập đến Tuy nhiên, đây mới chỉ dừng lại là những nhận xét chứ không phải là vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài vì thế người viết không đi sâu vào tìm hiểu

Luận văn Tính liên tục và sự thay đổi trong sáng tác truyện ngắn Nguyễn

Khải sau 1986 của Nguyễn Thị Dương đã đi sâu vào phân tích tính liên tục trong

sáng tác của Nguyễn Khải ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật Luận văn có đề cập đến một số giọng điệu chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Khải gần với lối nói trong văn hóa dân gian Việt Nam, đó là: giọng kể chuyện hóm hỉnh, dân dã và giọng văn tâm tình, chia sẻ

Như vậy, qua việc khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy: Giá trị văn hóa trong truyện ngắn của nhà văn đã ít nhiều được đề cập đến nhưng mới chỉ dừng lại ở những nhận định có tính khái quát mà chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống Thực

tế đó đã gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài: Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi

mới từ góc nhìn văn hóa Kế thừa những kết quả nghiên cứu của người đi trước,

chúng tôi sẽ mở rộng, khơi sâu và làm rõ những giá trị, dấu ấn văn hóa có trong nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa văn học và văn hóa, dấu ấn và giá trị văn hóa trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới Đồng thời khẳng định những đóng góp của nhà văn trên cả hai phương diện văn học và văn hóa 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 15

- Luận văn tạo một cơ sơ lí luận cần thiết để soi tỏ mối quan hệ giữa văn học và văn hóa Từ đó có cơ sở để tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới trong mối quan hệ liên ngành văn hóa - văn học

- Luận văn nhằm chỉ ra những nét đặc sắc về văn hóa Việt Nam được thể hiện trong các truyện ngắn của Nguyễn Khải, giúp cảm thụ truyện ngắn của ông một cách sâu sắc hơn Từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật và đóng góp của Nguyễn Khải đối với nền văn học Việt Nam hiện đại cũng như đối với việc giữ gìn bản sắc và bồi đắp văn hóa Việt Nam thời kì đổi mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới dưới góc nhìn văn hóa ở hai phương diện là nội dung và nghệ thuật

- Phạm vi tài liệu nghiên cứu:

+ Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chọn khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Nguyễn Khải thời kì đổi mới, trong đó tập trung nghiên cứu những truyện ngắn tiêu biểu trong các cuốn:

- Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải, Nxb Hội Nhà văn, 2002

- Nguyễn Khải - Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn hóa Thông tin, 2014

- Hà Nội trong mắt tôi, Nxb Văn hóa Thông tin, 2014

+ Ngoài ra, chúng tôi cũng có sự so sánh với những truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Khải ở giai đoạn trước đổi mới và tác phẩm của một số nhà văn khác để tìm ra nét riêng trong sự thể hiện của Nguyễn Khải ở góc độ văn hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

5.1 Phương pháp thống kê, khảo sát

5.2 Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

5.4 Phương pháp nghiên cứu xã hội học

5.5 Phương pháp tiếp cận từ góc độ lịch sử

Trang 16

5.6 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên và tương đối toàn diện, có hệ

thống về truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới từ góc nhìn văn hóa Luận văn góp thêm cái nhìn mới về phương diện văn hóa trong truyện ngắn của Nguyễn Khải, khẳng định những thành tựu đặc sắc và đóng góp cơ bản của Nguyễn Khải đối với nền văn học Việt Nam hiện đại

- Luận văn có ý nghĩa thực tiễn, nhất là đặt trong bối cảnh hội nhập văn hóa toàn cầu hiện nay nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đang mở ra nhiều triển vọng mới mẻ cho cách tiếp cận văn chương Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Khải từ góc nhìn văn hóa, một lần nữa, chúng tôi cũng góp phần khẳng định khuynh hướng nghiên cứu này Luận văn cũng có những đóng góp nhất định vào vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc

- Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng

dạy và học tập về tác phẩm của Nguyễn Khải trong các nhà trường đại học, cao đẳng

và THPT

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lí luận Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới

Chương 2: Dấu ấn văn hóa trong nội dung truyện ngắn Nguyễn Khải

Chương 3: Dấu ấn văn hóa trong nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Khải

Trang 17

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI THỜI KÌ ĐỔI MỚI

1.1 Một số vấn đề lí luận

1.1.1 Khái niệm về “văn hoá” và “văn học”

* Khái niệm “văn hoá”

Văn hoá là khái niệm mang nội hàm rộng và hết sức phong phú Trong khoa

học nhân văn, khái niệm văn hoá đã tạo nên sự tranh luận với rất nhiều cách hiểu

khác nhau Cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về Văn hoá Theo UNESCO, trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 400 định nghĩa về Văn hoá Theo

từng góc độ tiếp cận, có định nghĩa xuất phát từ bình diện lịch sử, chính trị, xã hội, có định nghĩa xuất phát từ những đặc trưng, chức năng, cấu trúc… Tuỳ theo mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi nhà khoa học lại có một cách định nghĩa khác nhau Điều này đã

tạo nên sự phong phú cho khái niệm Văn hoá

Về nguồn gốc thuật ngữ “Văn hoá”, theo các nhà ngôn ngữ học phương Tây,

Văn hoá (culture) - với tư cách là một danh từ độc lập - chỉ bắt đầu được sử dụng vào

cuối thế kỉ XVII Người đầu tiên đưa thuật ngữ “culture” vào trong khoa học là nhà nghiên cứu pháp luật người Đức S.Pufendorf (1632-1694) Ông đã sử dụng thuật ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra và khẳng định: Các sản phẩm nhân tạo này khác với các sản vật thiên nhiên, tựa như con người được giáo dục khác với con

người không được giáo dục Sang thế kỉ XIX, thuật ngữ Văn hoá được sử dụng ngày

càng nhiều ở các quốc gia cả trong lĩnh vực khoa học lẫn trong đời sống hằng ngày

Ở phương Đông, từ Văn hoá được sử dụng rất sớm Theo tư liệu ghi chép của

Trung Hoa cổ đại, từ “Văn” có nghĩa gốc là vẻ đẹp do màu sắc tạo ra Từ nghĩa gốc này, “Văn” có nghĩa là hình thức đẹp trong lễ, nhạc, trong cách cai trị, trong ngôn ngữ cũng như trong cách cư xử… “Hoá” có nghĩa là làm thay đổi, làm cho trở nên tốt, đẹp, hoàn thiện

Như trên đã nói, Văn hoá là khái niệm có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác

nhau nên có nhiều cách định nghĩa khác nhau Xin đưa ra một số định nghĩa mà theo

chúng tôi là tiêu biểu, đáng chú ý về Văn hoá Trước hết, ta không thể không nhắc

Trang 18

đến định nghĩa đầu tiên được ghi nhận rộng rãi của E.Tylor trong cuốn sách Văn hoá

nguyên thuỷ xuất bản năm 1881 tại Luân Đôn Trong cuốn sách này, E.Tylor định

nghĩa: “Từ văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm

có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực

và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”(Dẫn theo [66, tr 13]) Với định nghĩa này, lần đầu tiên Văn hoá không còn được

hiểu bó hẹp ở trường nghĩa “vun trồng trí óc” hay “giáo hoá bằng văn” nữa mà Văn

hoá đã được nhìn nhận như là kết quả trong các lĩnh vực hoạt động của con người

Tổ chức UNESCO cũng đã đưa ra một định nghĩa khá đầy đủ về văn hoá mà

theo chúng tôi đáng chú ý hơn cả: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét

riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản,

có lý tính,có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà chúng

ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những giá trị văn hóa mới mẻ và sáng tạo ra những công trình vượt trội lên bản thân”[63, tr 5-6]

Như vậy, UNESCO đã nhìn nhận Văn hoá theo nghĩa rộng nhất của từ này

Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu

tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác”[39, tr 20] Nhà nghiên cứu

Trần Ngọc Thêm lại đưa ra một định nghĩa khác về văn hóa dựa trên cái nhìn cấu trúc

hệ thống và loại hình: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”[56, tr 10]

Trang 19

Từ những định nghĩa về Văn hoá trên đây, ta có thể hiểu một cách khái quát

như sau: Con người trong quá trình sống đã sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh

thần Văn hoá chính là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần ấy Văn hóa được

sáng tạo ra nhằm phục vụ con người trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên

và xã hội, được con người lưu giữ và truyền tải từ thế hệ này sang thế hệ khác Đồng thời, văn hóa là hoạt động mang tính biểu tượng và mang những giá trị được kết tinh thành những bản sắc riêng, đặc thù riêng để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác

Văn hoá gắn liền với cuộc sống con người, với sự phát triển và hoàn thiện của con

người, xã hội

* Khái niệm “văn học”

Văn học hiểu theo nghĩa rộng là thuật ngữ gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói

- viết và các tác phẩm ngôn ngữ Theo cách hiểu này thì các tác phẩm chính trị, triết

học, tôn giáo… cũng có thể được gọi chung là Văn học Theo nghĩa hẹp mà ngày nay chúng ta thường dùng thì khái niệm Văn học bao gồm các tác phẩm ngôn từ phản ánh những vấn đề đời sống xã hội bằng hình tượng nghệ thuật Như vậy khi hiểu Văn học

theo nghĩa hẹp, chúng ta đã loại ra ngoài các tác phẩm chính trị, triết học, tôn giáo

Khái niệm Văn học có khi được dùng tương tự như khái niệm văn chương

Tuy nhiên, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương Văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, tính sáng tạo của văn học về phương diện nghệ thuật ngôn từ

Ta có thể khẳng định, văn học là một loại hình nghệ thuật ngôn từ Cũng như màu sắc đối với hội hoạ, âm thanh đối với âm nhạc, ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học Tuy nhiên, thứ ngôn ngữ được đưa vào sử dụng trong văn học không phải ngôn ngữ bình thường ta vẫn dùng hằng ngày mà phải là “ngôn ngữ nghệ thuật” Theo M Gorki, ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói “nguyên liệu”, còn ngôn ngữ văn học

là tiếng nói đã được những “người thợ tinh xảo nhào luyện” Mỗi nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác tuyệt Trong sự sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng Ngôn ngữ cũng là phương tiện để nhà văn xây dựng nên các hình tượng nghệ thuật Thông qua các hình tượng nghệ thuật của mình, nhà văn thể hiện lập trường, quan điểm, suy nghĩ của mình trước hiện thực cuộc sống

Trang 20

Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra một định nghĩa khá đầy đủ

về văn học như sau:

“Văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ Khái niệm văn học bao gồm cả văn học dân gian, được sáng tác và lưu truyền bằng miệng từ đời này sang đời khác và văn học viết được sáng tác và lưu truyền dưới hình thức văn bản viết (…) Văn học là sự phản ánh của đời sống xã hội thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người(…) Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm Văn học nhận thức con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó trên phương diện thẩm mĩ Trong tác phẩm văn học, nhà văn không chỉ nhận thức chân lý khách quan mà còn bộc lộ tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng của mình đối với con người và cuộc sống Do đó, nội dung của văn học là sự thống nhất biện chứng giữa phương diện chủ quan và phương diện khách quan”[18, tr 401-402]

Tóm lại, văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù và có vị trí quan trọng trong nền văn hoá của một dân tộc

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học

Văn hoá và văn học là hai vấn đề luôn gắn bó mật thiết với nhau Nói tới văn

hoá của một dân tộc ta thường nghĩ tới văn học, bởi “văn học có một vị trí không

thể thiếu trong mỗi nền văn hoá” (Trần Đình Sử) Văn học là sự “tự ý thức” của văn

hóa Văn học không những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự ảnh hưởng và chi phối trực tiếp của văn hóa, mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Có thể khẳng định, không thể có nền văn học nằm ngoài tổng thể văn hoá nhân loại

Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa là mối quan hệ hữu cơ giữa cái riêng và cái chung, giữa cái bộ phận và cái toàn thể Văn học cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức… là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hoá Nếu văn hoá trong quá trình hình thành và phát triển đã trải qua những chặng đường tìm kiếm, lựa chọn, đấu tranh và sáng tạo để hình thành nên những giá trị trong xã hội thì văn học chính là nơi lưu giữ những thành quả giá trị xã hội đó Ở một khía cạnh nào đó,

Trang 21

có thể nói, văn học là “tấm gương phản chiếu” văn hoá bằng nghệ thuật ngôn từ Nói

như nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương: “Văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn

từ nghệ thuật”

Một điều dễ nhận thấy là cả văn hoá và văn học đều lấy con người làm trung tâm Con người chính là chủ thể sáng tạo và đồng thời cũng là cái đích hướng tới của văn hoá và văn học Do đó, văn hoá và văn học đều có những tác động chi phối lẫn nhau Sự tác động chi phối thể hiện trước nhất ở việc, văn học làm nên diện mạo cho văn hóa Mặt khác, văn hoá lại chính là “chất liệu” của văn học, là “chìa khoá”

mở ra “cánh cửa” nghệ thuật trong tác phẩm văn học M Bakhtin khẳng định: “Văn

học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hoá của một thời đại trong đó nó tồn tại” (Dẫn

theo [60, tr 362])

Trong mỗi tác phẩm văn học, bao giờ ta cũng tìm thấy những hình ảnh của một nền văn hoá qua sự tiếp nhận và phản ánh của chủ thể sáng tạo văn học Đó có thể là hình ảnh của một nền văn hoá nông nghiệp lúa nước qua kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam; đó là những vẻ đẹp văn hoá Việt của “một thời vang bóng” trong những trang tuỳ bút tài hoa của Nguyễn Tuân; hay bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số vùng núi Tây Bắc, Việt Bắc trong truyện ngắn của Tô Hoài, Cao Duy Sơn, Ma Văn Kháng… Tác phẩm văn học mang bóng dáng của văn hoá là hệ quả tất yếu bởi bản thân người nghệ sĩ sáng tạo văn học cũng là một sản phẩm văn hoá; cách suy nghĩ, quan điểm, lối viết của họ bị chi phối bởi một nền văn hoá nhất định Chính điều đó đã chi phối cách lựa chọn đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật… của nhà văn Đồng thời, văn hoá cũng chi phối cách đánh giá, thưởng thức của người đọc trong quá trình tiếp nhận, bởi đối tượng người đọc này đã được rèn luyện về thị hiếu thẩm mĩ trong một môi trường văn hoá nhất định Do vậy, nếu muốn tìm hiểu bức tranh văn hoá của một thời đại, người ta có thể căn cứ vào những dữ liệu có trong các tác phẩm văn học Nói cách khác, thực tiễn văn học có thể cung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho khoa học nghiên cứu văn hoá

Nếu như văn hoá chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học thì ngược lại, văn học cũng có những tác động nhất định đến đời sống văn hoá Trước hết, văn học

Trang 22

là nơi bảo lưu những giá trị văn hoá nhân loại Có những giá trị văn hoá từ lâu, nay đã không còn nữa mà người ta chỉ có thể biết đến nó trong các tác phẩm văn học Văn học dân gian chính là nơi bảo lưu văn hoá dân gian truyền thống, những tập tục, những tín ngưỡng, phong tục, lễ hội… từ ngàn xưa, nay chỉ còn đọng lại bóng dáng trong những tác phẩm văn học

Văn học góp phần khẳng định, định hướng những giá trị văn hoá nhân loại Các nhà văn đích thực đồng thời cũng là những nhà văn hoá Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ khẳng định những giá trị văn hoá của dân tộc, bảo lưu và góp phần tuyên truyền đến mọi người những nét đẹp văn hoá Đồng thời họ đấu tranh, phê phán những biểu hiện phản văn hoá, góp phần “thanh lọc” tạo nên một nền văn hoá lành mạnh, tốt đẹp Thậm chí, các nhà văn thông qua các tác phẩm văn học của mình còn đi tiên phong, định hướng cho sự phát triển một lí tưởng thẩm mỹ, một lối sống văn hoá mới mẻ Tác phẩm văn học tác động vào tình cảm của con người, qua đó điều chỉnh cách sống, cách suy nghĩ, cách ứng xử trong văn hoá cộng đồng Đó là khả năng điều

chỉnh văn hoá của văn học Tuy nhiên, “Văn học không thể có ảnh hưởng tức thời,

trực tiếp đến hành động của con người mà chỉ có thể tác động đến con người với tư cách là chủ / khách thể của văn hoá, làm cho con người biến chuyển rồi mới phát sinh hành động cụ thể”[61]

Như vậy, văn học và văn hoá gắn bó với nhau trong mối quan hệ hữu cơ mật thiết không thể tách rời Nhà văn sáng tác tác phẩm văn học là một hoạt động văn hoá, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hoá và người đọc là người hưởng thụ văn hoá

1.1.3 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá

Văn hoá và văn học có mối quan hệ mật thiết, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau Bởi vậy, việc tìm hiểu văn học trong mối quan hệ với văn hoá là một hướng đi cần thiết và có triển vọng

Trong lịch sử nghiên cứu văn học, có rất nhiều con đường, nhiều phương thức khác nhau để tiếp cận một tác phẩm văn học như: xã hội học, thi pháp học, nghệ thuật học… Trong đó, phương thức tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã ngày một khẳng định được thế mạnh cũng như tính ưu việt của mình Nhất là trong bối cảnh giao lưu văn hóa mạnh mẽ như hiện nay, nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đã

Trang 23

“mở rộng phạm vi đề tài nghiên cứu văn học, cho phép người ta nhìn văn học dưới nhiều góc độ mới đầy hứa hẹn” (Trần Đình Sử)

Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá (hay còn gọi là phương pháp tiếp cận

văn hoá học) “ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hoá trong đó tác phẩm

văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mĩ, quan niệm về con người, cũng như sự chi phối của các phương diện khác nhau trong đời sống sinh hoạt xã hội sống động hiện thực… từng tồn tại trong một không gian văn hoá xác định” [58, tr 9-10] Hướng nghiên cứu này

chính là việc đặt tác phẩm văn học trong không gian văn hoá đã tác động đến tác phẩm văn học ấy Nền văn hoá dân tộc là mảnh đất ươm mầm cho văn học nảy nở, mang lại cho văn học một sức sống, một màu sắc riêng Mạch nguồn văn hoá dân tộc thấm sâu vào tâm hồn người nghệ sĩ và chi phối thế giới nghệ thuật cũng như ngôn từ của tác phẩm văn học mà họ sáng tạo ra Mỗi nhà văn đều chịu ảnh hưởng của một nền văn hoá riêng Vì thế, muốn hiểu sâu giá trị tư tưởng của một tác phẩm văn học ta không thế tách rời những yếu tố văn hoá thể hiện trong tác phẩm đó Mỗi dân tộc cũng đều có một nền văn hoá riêng, nghiên cứu văn học không thông qua văn hoá sẽ dẫn đến những khó khăn, sai lầm không thể tránh khỏi trong việc nhận định giá trị đích thực của một tác phẩm văn học

Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá là hướng tiếp cận ngày càng được chú trọng và mở rộng phát triển theo nhiều hướng tìm hiểu khác nhau Có hướng nghiên cứu nhằm nhận diện và miêu tả các biểu hiện văn hóa có trong các tác phẩm văn học; cũng có hướng nghiên cứu thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm

ra nền tảng văn hoá lịch sử của chúng; lại có hướng nghiên cứu trên phương diện ngôn ngữ của các văn bản nghệ thuật, đi tìm hiểu nghĩa và cơ chế kiến tạo nghĩa của nội dung / hình thức của các tác phẩm văn học từ bối cảnh văn hóa - xã hội…

Phương pháp tiếp cận văn hoá học từ lâu đã được giới nghiên cứu vận dụng hoặc là tự giác, hoặc là tự phát trong một số công trình nghiên cứu văn học Tác giả

Trần Nho Thìn trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá đã

đề cập đến một số bài viết thành công theo hướng tiếp cận này, như: Hoài Thanh

trong bài viết mở đầu Thi nhân Việt Nam hoặc Trần Đình Hượu với công trình Nho

Trang 24

giáo và văn học Việt Nam trung cận đại: “Hoài Thanh đã chọn cách so sánh thơ

mới với thơ cũ trên nền của sự thay đổi văn hoá do cuộc tiếp xúc văn hoá Đông - Tây… Trần Đình Hượu lại chọn cách đọc văn học trung đại trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của tư tưởng triết học - đạo đức - thẩm mĩ của Nho giáo”[58, tr 10-11] Tác giả

còn nêu một trường hợp đặc biệt của một nhà nghiên cứu người Pháp René Craysac -

khi nghiên cứu về Truyện Kiều “đã tìm cách lý giải tư tưởng, hành động của nhân vật

Truyện Kiều trên cơ sở liên hệ với quan niệm đề cao gia đình, xem nhẹ cá nhân của văn hoá phương Đông” [58, tr 11] Càng về sau này càng có nhiều những công trình

nghiên cứu về văn học trong mối quan hệ với văn hoá theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam, đi theo hướng nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá có một số nhà nghiên cứu như: Trần Nho Thìn, Trần Ngọc Vượng, Trần Đình Hượu, Đỗ Lai Thuý, Trần Lê Bảo… Mỗi tác giả trong các công trình nghiên cứu của mình bằng những cách khác nhau đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận

Cùng với những cách tiếp cận văn học ở những góc độ khác như thi pháp học,

xã hội học, mỹ học…, hướng tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hoá giúp ta lí giải trọn vẹn tác phẩm văn học với hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó

1.1.4 Diễn trình văn hoá Việt Nam

Tiến trình lịch sử Việt Nam từ những buổi đầu sơ khai cho đến nay đã trải qua hàng vạn năm Trong suốt chiều dài lịch sử đó, ứng với quá trình xây dựng đất nước của ông cha ta là quá trình hình thành, phát triển của nền văn hoá Việt Có thể nói, Việt Nam là một đất nước có một nền văn hoá đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Trải qua bao nhiêu thế hệ người Việt Nam với những thăng trầm, đổi thay của lịch sử nhưng nền văn hoá dân tộc luôn được cha ông ta gìn giữ và bảo tồn, phát triển cho đến ngày nay

* Sự hình thành nền văn hoá bản địa Việt Nam

Là một đất nước nằm ở cực Đông nam Bán đảo Đông Dương, Việt Nam nằm

ở một trong những khu vực được coi là cái nôi văn hoá của loài người và cũng được coi là một trong những trung tâm phát sinh nông nghiệp sớm với nền văn minh lúa nước Bởi vậy, nền văn hoá truyền thống nước ta mang đặc điểm một nền văn hoá nông nghiệp lúa nước Với vị trí địa lí của một bán đảo nằm giữa khu vực Đông Nam

Trang 25

Á, lại thuộc khu vực tiếp giáp với hai nền văn minh lớn cổ đại phương Đông là văn minh sông Hoàng Hà và văn minh sông Hằng, Việt Nam có điều kiện thuận lợi cho

sự giao lưu với nhiều nền văn hoá

Về nguồn gốc dân tộc Việt - chủ thể của văn hóa Việt, có nhiều giả thuyết được các nhà khoa học đưa ra:

- Có giả thuyết cho rằng, người Việt có nguồn gốc từ Tây Tạng, Bắc Ấn

- Có thuyết cho rằng người Việt có xuất xứ từ Trung Quốc

- Có thuyết cho rằng, các hải đảo Thái Bình Dương chính là nguồn gốc của người Việt

Gần đây, căn cứ vào những kết quả nghiên cứu về sự hình thành và phân bố các chủng người trên trái đất, có thể khẳng định, người Việt ra đời trong phạm vi trung tâm hình thành loài người phía Đông và trong khu vực hình thành của đại

chủng phương Nam Trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển của dân tộc Việt,

những tộc người thuộc các ngữ hệ Tày - Thái, Việt - Mường (trong đó người Việt/Kinh là chủ yếu) đã đến sinh sống tại vùng bán đảo Đông Nam Á và hình thành nên cộng đồng cư dân đa dân tộc đầu tiên của vùng đất này Dựa vào điều kiện tự nhiên và khí hậu nơi đây, họ sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước Đây chính

là thời kì hình thành nền tảng cơ tầng văn hoá chung cho cả vùng Đông Nam Á - nền

văn hoá này là một “phức thể văn hoá lúa nước, có cội nguồn từ ba yếu tố: núi, đồng

bằng và biển Trong đó, yếu tố đồng bằng tuy có sau nhưng đóng vai trò chủ đạo”[13, tr 506] Do đặc điểm của nghề sản xuất nông nghiệp đòi hỏi sức mạnh của

cộng đồng nên người dân sống thành vùng cư dân đông đúc gọi là làng, xã Cấu trúc

xã hội làng, xã chính là cơ sở tạo nên những nét đặc trưng cơ bản ban đầu trong tính cách, tư duy, lối sống của người Việt Đó là tính tự trị, tính tôn ti, tinh thần đoàn kết, lối tư duy tổng hợp, cộng đồng, lối sống duy tình, coi trọng và tôn thờ tự nhiên Chính nhờ nền tảng văn hoá truyền thống này mà nước ta đã sớm hình thành ý thức quốc gia dân tộc, làm nên một sức mạnh để nền văn hoá Việt không bị đồng hoá bởi các nền văn hoá khác mà ngày càng được phát triển phong phú thêm qua giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá khác

Trang 26

* Sự giao lưu với văn hoá Trung Hoa

Cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc đối với nước ta trong suốt một nghìn năm đã mở ra giai đoạn giao lưu, tiếp xúc giữa nền văn hoá nước ta với văn hoá Trung Hoa Nhà nước phong kiến Trung Hoa đã thực hiện chính sách Hán hoá nhằm tiêu diệt văn hoá Việt, nhưng ý đồ đó đã hoàn toàn bị thất bại Nhân dân ta đã ra sức chống lại sự đồng hoá để bảo tồn văn hoá dân tộc, đồng thời vẫn tiếp thu những yếu

tố tích cực của văn hoá Hán Sự giao lưu, tiếp biến với văn hoá Trung Hoa đã dần làm thay đổi cấu trúc văn hoá dân tộc trên một số phương diện như chữ viết (chữ Hán được đưa vào sử dụng làm ngôn ngữ chính), lao động sản xuất (các kĩ thuật canh tác nông nghiệp, làm giấy, làm gốm tráng men…), văn học… và đặc biệt là việc tiếp thu các hệ tư tưởng lớn như Nho giáo, Đạo giáo…Hệ tư tưởng Nho giáo đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng và dần trở thành ý thức hệ chính thống, chi phối mô hình tổ chức xã hội của nhà nước phong kiến Việt Nam Tuy chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa nhưng nhân dân ta vẫn luôn có ý thức tiếp thu chọn lọc làm phong phú thêm mà không làm mất đi bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc

* Sự giao lưu với văn hoá Ấn Độ

Bằng nhiều con đường, nhiều hình thức khác nhau, văn hoá Ấn Độ đã “thẩm thấu” liên tục vào Việt Nam Trước thời Bắc thuộc, trên lãnh thổ nước ta hình thành nên ba vùng văn hoá gồm: Đông Sơn, Sa Huỳnh và Ốc Eo Cả ba nền văn hoá này đều có sự giao lưu với văn hoá Ấn Độ qua các con đường giao lưu buôn bán hay con đường truyền giáo của các tu sĩ Phật giáo, Hồi giáo hay đạo sĩ Bàlamôn Có thể thấy, văn hoá Ấn Độ truyền vào nước ta theo con đường hoà bình và được nhân dân ta tiếp nhận một cách gần như chủ động Đó là sự tiếp nhận về kiến trúc, về thể chế nhà nước, về tôn giáo Phật giáo du nhập vào nước ta đã trở thành một trong những tôn giáo lớn, có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hoá nước ta Do tính chất tự nguyện trong giao lưu với văn hoá Ấn Độ nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự trung

hoà các ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, dẫn đến sự “tích hợp những lí tưởng tự

do, bình đẳng, bác ái, tinh thần xả thân vì nghĩa trong quan hệ cộng đồng cũng như trong tính cách cá nhân của người Việt”[63, tr 18]

Trang 27

* Giao lưu, tiếp nhận văn hoá phương Tây

Việt Nam tiếp nhận văn hoá phương Tây trong hai giai đoạn lịch sử khác nhau

Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào năm 1858 chính là giai đoạn đánh dấu

sự ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với nước ta Nhưng thực tế, cuộc giao lưu văn hoá phương Tây đã diễn ra từ thế kỉ XVI Sự mục ruỗng của triều đình phong kiến chứng tỏ sự sụp đổ của hệ tư tưởng Nho giáo Bắt đầu từ thế kỉ XVI, Thiên chúa giáo

đã du nhập vào nước ta qua con đường truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây và trở thành một bộ phận trong đời sống tư tưởng của nhân dân ta Thiên chúa giáo du nhập vào Việt Nam dẫn đến sự ra đời của chữ Quốc ngữ Đây là một sự kiện quan trọng nâng nền văn hoá nước ta lên một bước phát triển mới

Giai đoạn giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và phương Tây lần thứ hai bắt đầu

từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp Sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây giai đoạn này chủ yếu diễn ra ở các đô thị lớn Đối tượng trực tiếp tiếp xúc với văn hóa phương Tây là các tầng lớp sĩ phu Việc ứng xử với văn hóa phương Tây của họ ở trong thế giằng co: vừa chối bỏ vừa tự nguyện tiếp nhận Họ chối bỏ vì muốn giữ thái độ chống đối với kẻ xâm lược; mặt khác, họ chủ động giao lưu với văn hoá Pháp để tìm đường giải phóng dân tộc Kết quả của sự giao lưu này dẫn đến sự thay đổi căn bản trong đời sống xã hội Việt Nam Từ những thay đổi trong các đô thị, công nghiệp, kiến trúc đến các trang phục, tiện nghi, lối sống… tất cả đều được hiện đại hoá theo phong cách phương Tây Đặc biệt là sự thay đổi trong đời sống văn học với sự phát triển của báo chí, sự xuất hiện nhiều thể loại văn học mới (tiểu thuyết, thơ mới), những quan điểm nghệ thuật mới (chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tượng trưng…) Nhìn chung, quá trình tiếp xúc với văn hoá phương Tây của Việt Nam mới chỉ diễn ra trong khoảng thời gian một trăm năm (ngắn hơn rất nhiều so với thời gian tiếp xúc với văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ) nhưng nó đã làm thay đổi cấu trúc truyền thống nền văn hoá dân tộc từ một nền văn minh nông nghiệp lạc hậu dần chuyển sang nền văn minh công nghiệp hiện đại

Có thể thấy, trải qua ba cuộc tiếp xúc với ba nền văn hoá lớn trên thế giới, theo những bước thăng trầm của lịch sử dựng nước và giữ nước, nền văn hoá Việt Nam đã

có nhiều thay đổi Nhưng dù trong giai đoạn nào, hoàn cảnh nào thì bản sắc văn hoá

Trang 28

Việt vẫn luôn được nhân dân ta bảo tồn và gìn giữ để duy trì cái gốc truyền thống của dân tộc, để khi tiếp xúc với các nền văn hoá khác, ta có thể chủ động tiếp nhận những tinh hoa nhằm làm giàu thêm cho văn hoá nước nhà mà không bị đồng hoá, không bị hoà tan

Trong văn học, hình bóng của nền văn hoá dân tộc cũng luôn được thể hiện đậm nét, làm nên bản sắc riêng cho nền văn học nước nhà Đó cũng là sự thể hiện của lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc của các nhà văn, nhà thơ nói riêng, của toàn thể người dân Việt Nam nói chung mỗi khi họ nói về nền văn hóa dân tộc mình

1.2 Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới

Nhắc đến tên tuổi những cây bút tiêu biểu của văn xuôi đương đại Việt Nam,

sẽ là một thiếu sót lớn nếu ta không nhắc đến cái tên Nguyễn Khải Khởi đầu với tư cách là một phóng viên cho tờ báo Dân quân ở quê mẹ Hưng Yên cho đến khi là một nhà văn chuyên nghiệp, hành trình sáng tác của Nguyễn Khải luôn gắn liền với những bước đi của lịch sử nước nhà hơn nửa thế kỉ qua

1.2.1 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Khải

Nguyễn Khải (1930 - 2008) tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ra tại Hà Nội Đầu năm 1947, ông gia nhập đội tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào

bộ đội, làm y tá rồi làm báo Cuộc đời riêng của ông có những đổi thay gắn liền với những bước ngoặt của lịch sử dân tộc Vốn sinh ra với thân phận là con vợ lẽ trong một gia đình quan lại phong kiến, Nguyễn Khải đã phải trải qua một tuổi thơ cơ cực, vất vả, đầy tủi nhục Có thể nói, Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống Pháp đã mang đến cho cuộc đời ông nhiều đổi thay lớn, đem lại cho ông cơ hội tự khẳng định mình, cơ hội tạo dựng cho mình một cuộc đời, một sự nghiệp Ông tham gia hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với tư cách là một nhà văn quân đội Trong đời văn của mình, dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Khải cũng luôn thể hiện sự nhạy bén và năng lực khám phá sâu sắc hiện thực đời sống Là nhà văn mặc áo lính, ông luôn ý thức đúng đắn về vai trò và sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút trong những giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến giành độc lập dân tộc Trở về với thời bình, khi cả một thời kì “bom đạn” hào hùng của dân tộc đã ở lại phía

Trang 29

sau, ông cũng là một trong những nhà văn sớm nhận thức rõ nhu cầu đổi mới văn học nước nhà và trở thành một trong những ngọn cờ tiên phong cho phong trào văn học thời kì đổi mới

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải được bắt đầu với truyện ngắn đầu tay Ra

ngoài đăng trên tạp chí Lúa mới năm 1951 Với truyện vừa có nhan đề Xây dựng

(1952), Nguyễn Khải được trao Giải Ba của Chi hội Văn nghệ Liên khu Ba và giải khuyến khích về truyện và ký 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam Năm 1955, ông chuyển về tạp chí Văn nghệ Quân đội, có cơ hội được làm việc bên cạnh những cây bút nổi tiếng lúc bấy giờ như Thanh Tịnh, Phùng Quán, Chính Hữu… Môi trường văn học kích thích nhà văn viết nhiều nhưng lúc ấy tất cả đều không thành công,

không “le lói chút tài năng văn học nào” như lời tự bạch của Nguyễn Khải Cuối năm

1956, ông viết truyện ngắn Nằm vạ và nhận được lời khen ngợi của nhiều bậc đàn anh văn nghệ Nhưng phải đến năm 1959, khi tiểu thuyết Xung đột ra đời, tên tuổi

của ông mới thực sự được chú ý Từ đó, ông viết liên tục, chứng tỏ một sức sáng tạo

dồi dào, bền bỉ Tập truyện ngắn Mùa lạc (1959 - 1960) ra đời sau chuyến đi hơn một

năm của nhà văn ở nông trường Điện Biên đã đáp ứng nhu cầu của đông đảo bạn đọc lúc bấy giờ là cho thấy một cuộc sống hồi sinh, hạnh phúc trở lại với con người sau bao đau khổ, ly loạn của chiến tranh Giữa những năm 1960 trở đi, Nguyễn Khải sáng

tác hàng loạt những truyện ngắn, truyện vừa in thành các tập Hãy đi xa hơn nữa (1963), Tầm nhìn xa (1963), Người trở về (1964); bút ký Họ sống và chiến đấu (1966); các tiểu thuyết Ra đảo (1970), Đường trong mây (1970), Chiến sĩ (1973),

Tháng ba ở Tây Nguyên (1976)…

Hoà bình lập lại, Nguyễn Khải cùng gia đình chuyển vào sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Kịp thời có mặt trên vùng đất mới giải phóng, ngòi bút của ông ngay lập tức bộc lộ sự ham mê tìm kiếm những “bề bộn, ngổn ngang”, những “biến động” của cuộc sống Đây thực sự là “miền đất hứa” cho ngòi bút ông thoả sức “tung

hoành” khám phá Giai đoạn này, ông viết Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, 1982), Thời

gian của người (tiểu thuyết, 1985), Một thời gió bụi (truyện ngắn, 1993), Hà Nội trong mắt tôi (tập truyện, 1995), Sống ở đời (truyện ngắn, 2002), Thượng đế thì cười

(tiểu thuyết, 2004)…

Trang 30

Đặc biệt, nếu như ở giai đoạn trước, ông sáng tác nhiều thể loại khác nhau, gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, kí… thì đến giai đoạn đổi mới, ông sáng tác hầu hết là truyện ngắn Có thể nói, sự kết tinh nghệ thuật và “độ chín” của văn nghiệp Nguyễn Khải ở giai đoạn này được bộc lộ rõ rệt nhất ở thể loại truyện ngắn

Theo thống kê trong cuốn Nguyễn Khải về tác gia tác phẩm[54] thì số lượng truyện

ngắn Nguyễn Khải sáng tác thời kì đổi mới là 78 tác phẩm - một con số không hề

nhỏ Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu như: Đời khổ, Anh hùng bĩ vận, Một người Hà Nội, Nắng chiều, Lạc thời, Nếp nhà… Càng về sau, khi tuổi đã cao

nhưng ông vẫn tiếp tục sáng tác, say mê khám phá, bám sát đời sống và càng viết hấp dẫn hơn Ông sáng tác truyện ngắn như một nhu cầu tự thân, như một sự hối thúc của hiện thực cuộc sống, của miền đất mà ông đã sống, đã từng đi qua trong suốt những năm tháng cuộc đời

Cống hiến của Nguyễn Khải được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng có giá trị, trong đó có giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học và Nghệ thuật và giải thưởng ASEAN Cả hai giải thưởng này Nguyễn Khải đều vinh dự được nhận vào năm chuyển giao giữa hai thiên niên kỉ - năm 2000

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Khải trong dòng chảy chung của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới

1.2.2.1 Những biến động của đời sống văn hóa Việt Nam thời kì đổi mới

Hơn một thập kỉ sau chiến tranh, đất nước ta rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển về mọi mặt, trong đó có đời sống văn hóa - xã hội Trước tình hình đó, tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đi vào thế ổn định và phát triển Trải qua vô vàn những khó khăn và thử thách, cùng với lòng quyết tâm vượt khó của toàn thể nhân dân cả nước, Việt Nam đã dần ổn định đất nước và bước vào thời kì phát triển Sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy sự phát triển của đất nước theo hướng giàu mạnh và hiện đại hơn Song song với đổi mới kinh

tế - chính trị - xã hội, đời sống văn hóa cũng được đổi mới với mục tiêu giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Đời sống

Trang 31

văn hoá Việt Nam thời đổi mới đã có những biến động sâu sắc theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực

Về những biến đổi tích cực, có thể thấy, đất nước chuyển mình mạnh mẽ trước cơn biến động của nền kinh tế thị trường, cuộc sống xã hội được cải thiện rất nhiều so với thời kì trước, đời sống xã hội theo đó cũng được nâng cao, trở nên phong phú hơn, cởi mở hơn Ta chủ động giao lưu, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến

bộ trong văn hoá các dân tộc khác trên thế giới để làm giàu cho nền văn hóa Việt Nam Trong khi giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa lớn trên thế giới, ta nhận ra những mặt hạn chế, cần phải sửa đổi trong văn hóa dân tộc, như những tư tưởng bảo thủ, những hủ tục lạc hậu… Các giá trị văn hoá cũ được bảo tồn và phát huy Đồng thời, các giá trị văn hoá mới của thế giới cũng được tiếp thu rộng rãi Đời sống văn hoá của người dân Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao mới, trở nên đa dạng và phong phú hơn rất nhiều

Bên cạnh đó, những biến đổi tiêu cực cũng tác động không nhỏ làm ảnh hưởng xấu đến đời sống văn hóa Việt Nam Văn hóa Việt Nam thời kì đổi mới là giai đoạn diễn ra sự giao thoa giữa những giá trị văn hóa truyền thống với những giá trị văn hóa mới thời hiện đại Trong sự đổi mới, có cái được, cái mất nhưng đáng buồn là đời sống văn hóa Việt Nam vốn đã tồn tại thành một nền tảng vững chắc nay có nguy cơ

bị lung lay, bị phá vỡ Biết bao những giá trị văn hóa truyền thống lâu bền từng được cha ông ta gìn giữ và phát huy hiệu quả, nay bị biến đổi, bị lãng quên, bị bóp méo, biến dạng Văn hóa gia đình vốn được coi là “tế bào của xã hội” ngày càng lỏng lẻo (li hôn, bạo lực gia đình,…) Văn hóa ứng xử của con người với thiên nhiên, với môi trường xã hội đang tạo nên một nỗi lo lớn trong dư luận xã hội Ngày càng ít đi sự khoan dung, nhường nhịn truyền thống và thậm chí còn tăng thêm sự vô cảm trong một bộ phận dân chúng

Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận xã hội đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần, môi trường văn hóa lành mạnh Biểu hiện suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống xuất hiện ở một số cán bộ cấp cao, ở một số ngành bảo vệ pháp luật, giáo dục, y tế… đã ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ Cách ứng xử thiếu văn hóa ở nơi công cộng, sử dụng ngôn từ

Trang 32

thiếu chuẩn mực trong giao tiếp làm phương hại đến sự trong sáng của tiếng Việt; căn bệnh vô cảm với nỗi đau của con người… làm nhức nhối dư luận xã hội

Lo ngại trước sự biến mất của những giá trị truyền thống lâu bền và sự băng hoại đạo đức của đời sống văn hóa Việt Nam, các nhà văn, trong đó có Nguyễn Khải

đã sáng tác những tác phẩm văn học vừa mang giá trị thẩm mỹ vừa mang giá trị nhân văn, nhằm thức tỉnh mọi người hãy biết trân trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống lâu bền của dân tộc, đồng thời có ý thức tiếp thu những giá trị văn hóa mới để làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, để đất nước ta phát triển giàu đẹp và văn minh hơn với cái gốc văn hóa vững bền

1.2.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kì đổi mới

Có thể khẳng định, truyện ngắn Nguyễn Khải luôn có một vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần làm nên diện mạo đầy đủ và phong phú cho dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới Ông còn là một trong những “ngọn cờ đầu” cho phong trào đổi mới văn học Việt Nam Trong vai trò của người tiên phong, ông đã hoàn thành một cách xuất sắc sứ mệnh của mình với những thành công trong thể loại truyện ngắn - một thể loại “được mùa” nở rộ trong giai đoạn văn học này Trong dòng chảy truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới, truyện ngắn Nguyễn Khải giống như một con nước nhỏ hoà vào dòng chảy chung đó Nhưng dù hoà chung vào dòng sông lớn, người ta vẫn dễ dàng nhận ra “con nước nhỏ” ấy bởi một vẻ riêng, một màu sắc riêng, không bị pha trộn

Sau 1975, cuộc sống hoà bình bắt đầu với bao điều mới mẻ, khó khăn của thời hậu chiến Văn học bắt rễ từ hiện thực cuộc sống, vậy nên cùng với những thay đổi trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của cả nước, đời sống văn học cũng đòi hỏi phải có sự đổi mới Suốt thời kì chiến tranh, văn học phải làm nhiệm vụ của báo chí tuyên truyền Giờ đây, văn học cần có sự thay đổi, cần phá bỏ những khuôn khổ theo lối mòn, cần xây dựng một nền văn học gắn với hiện thực Từ giã cuộc sống với

những cách khu xử bất thường của thời chiến, con người trở về với cái “bản chất

người thực sự như nó vốn có”, do vậy văn chương để phụng sự được con người cũng

cần phải thay đổi Đời sống chính trị giờ đây không còn là đối tượng phản ánh duy nhất của văn học Tác phẩm văn học bây giờ không chỉ đòi hỏi viết về những cái lớn

Trang 33

lao, những vấn đề văn hoá - chính trị, chiến tranh như trước kia nữa, văn học cần phản ánh hiện thực đầy đủ, giúp người đọc nhận thức cuộc sống như nó vốn có Không chỉ là những điều tốt đẹp mà cả những mặt trái của xã hội cũng cần được đưa

ra ánh sáng, được người đọc soi chiếu để góp phần vào sự hình thành và phát triển nhân cách con người trong xã hội mới

Quá trình đổi mới của ngòi bút Nguyễn Khải nằm trong dòng chảy chung của

cả nền văn học nước nhà Ở đầu thời hậu chiến, văn học theo quán tính vẫn viết theo

cảm hứng sử thi, như: Vùng trời của Hữu Mai, Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu… Phải đến những năm đầu thập niên 80 mới có dấu hiệu đổi mới từ các cây bút tên tuổi Nguyễn Minh Châu viết Người đàn

bà trên chuyến tàu tốc hành (1982), Bến quê (1985), Ma Văn Kháng viết Mưa mùa

hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985)… Cùng lúc này, Nguyễn Khải viết Gặp

gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985) Đây là những tác phẩm có tính

chất mở đường cho hành trình của sự tìm kiếm mới Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ

VI, Nguyễn Khải có những chuyển biến rõ nét về tư duy nghệ thuật Đặc biệt ở thể loại truyện ngắn ông có những tìm tòi và sáng tạo về nhiều mặt

Sự đổi mới trước hết nằm ngay ở việc mở rộng đề tài Hiện thực đời sống những năm sau 1975, đặc biệt là thời kì đổi mới với nhiều những biến động phức tạp

đã thực sự trở thành “mảnh đất” thích hợp cho sáng tạo văn học Nguyễn Khải cùng những cây bút tiên phong cho sự nghiệp đổi mới lúc bấy giờ như Nguyễn Minh Châu,

Ma Văn Kháng, Lê Lựu… bắt đầu có những cái nhìn mới mẻ trong cảm nhận hiện thực: cuộc sống vốn đa chiều, phức tạp chứ không đơn giản, rạch ròi dễ nhận biết

Nói như Nguyễn Minh Châu: “Cuộc đời vốn đa sự, con người thì đa đoan” Với

Nguyễn Khải, cuộc sống xung quanh tưởng chừng như bình thường, giản đơn vậy mà dưới ngòi bút khám phá của nhà văn, hiện thực luôn luôn “có vấn đề” Ông thường có

xu hướng lựa chọn những đề tài có tính thời sự gắn với “cái hôm nay” Ông đã từng

viết: “Thời nay rộng cửa, gợi được rất nhiều thứ để viết Tôi thích cái hôm nay, cái

hôm nay ngổn ngang bề bộn bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thoả sức khai vỡ”[26, tr 89] Bằng con mắt của một người từng trải, đi nhiều, viết nhiều,

Trang 34

nhà văn đã tái hiện lại tất cả hiện thực “ngổn ngang bề bộn” ấy vào trong những trang viết của mình Là một nhà văn hiện thực tỉnh táo và nghiêm ngặt, Nguyễn Khải không bao giờ nhìn cuộc đời phẳng lặng một chiều để “hớt lấy cái váng bọt” nổi lên trên mà ông luôn khám phá vào tận bề sâu chìm khuất để cảm nhận thật sâu sắc những mặt gai góc, xù xì vốn có của cuộc đời Hiện thực cuộc sống “ngồn ngộn”

“ùa” vào trang viết chính là điều làm nên sức hấp dẫn nơi truyện ngắn Nguyễn Khải

thời kì đổi mới Chẳng thế mà Vương Trí Nhàn đánh giá: “Muốn hiểu con người thời

đại với tất cả những cái hay cái dở của họ, đời sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải”[43, tr 121]

Giai đoạn này, ta có thể thấy sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, về cuộc sống dẫn đến sự biến đổi về hệ thống nhân vật của Nguyễn Khải Xu hướng chung của văn học thời đổi mới là phản ánh con người ở góc độ đời tư, con người cá nhân, cá thể Nếu ở giai đoạn trước, nhân vật chính trong các truyện ngắn là những con người được “lí tưởng hoá”, con người của tập thể, con người anh hùng thì nay, hầu hết các nhà văn đều tập trung phản ánh con người đời thường một cách bình

dị, chân thực, con người với cả hai mặt tốt - xấu, thiện - ác đan xen Với Nguyễn Khải, sự đổi mới trong các sáng tác của ông là cuộc hành trình tìm về với chiều sâu tâm hồn con người với những tâm lý tình cảm đầy biến động phức tạp Như nhiều nhà văn cùng thời, nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Khải đa dạng, phong phú hơn Thời kì này, người đọc chứng kiến sự thay đổi lớn trong thế giới nhân vật của Nguyễn Khải Đó là sự xuất hiện của những nhân vật là những con người bình thường trong cuộc sống đời thường, những con người bé nhỏ nhưng “giàu năng lượng để nói lên tiếng nói về một thời đại” Thời thế thay đổi đem đến cho ông một cách nhìn mới

lạ, một sự nhận thức lại con người Nguyễn Khải nhận ra rằng: “Vẫn là con người

Việt Nam mình mà gặp thêm một người lại tưởng như buộc mình phải hiểu lại chút ít

về con người”[27, tr 206] Với nhà văn, hành trình khám phá “cái bên trong, cái bề

sâu của mỗi người luôn luôn là một nhu cầu, một hứng thú” Ông viết về những con người xung quanh, những con người ông đã từng gặp gỡ, từng trò chuyện, kể những câu chuyện của họ và điều mà nhà văn muốn cho bạn đọc thấy là vẻ đẹp chiều sâu tâm hồn họ Ông xây dựng một dàn nhân vật hết sức phong phú với đủ mọi hạng

Trang 35

người: từ già đến trẻ; từ người giàu đến kẻ nghèo; người gặp thời đến kẻ lạc thời; người hiền đến kẻ ác; người hạnh phúc đến kẻ bất hạnh… Nhưng phần lớn những nhân vật của ông đều là những con người nhỏ bé, bất hạnh, phải chịu nhiều thua thiệt

Họ chính là những nạn nhân của “cái hôm nay”, họ bị thất thế, lạc loài so với thời cuộc Xây dựng những nhân vật này, nhà văn muốn nói với chúng ta biết bao nhiêu điều mới mẻ về con người Họ luôn phải vật lộn với hoàn cảnh trớ trêu nhưng luôn biết giữ gìn phẩm giá và nhân cách của mình, họ sống bằng những triết lí cuộc đời hết sức giản đơn nhưng vô cùng sâu sắc Đó là một tâm niệm sống cả đời hi sinh vì con

cháu và “biết chấp nhận vui vẻ mọi nỗi vất vả, mọi cảnh ngộ” trong truyện ngắn Mẹ

và các con; là cảm nhận đáng quý biết bao về một niềm hạnh phúc gia đình bình dị trong Nắng chiều; là quan niệm sống tự do, giải phóng cá tính như các nhân vật trong Lãng tử, Má hồng; đó còn là niềm tin yêu cuộc sống được hồi sinh mạnh mẽ nhờ tình người dành cho nhau trong Một bàn tay và chín bàn tay…

Đáng chú ý nhất phải kể đến những nhân vật phụ nữ Khác với Nguyễn Minh Châu là người rất thành công với nhiều hình tượng nhân vật phụ nữ có tính cách nổi bật

và độc đáo, gây ấn tượng mạnh với độc giả như Thai trong Cỏ lau, Huệ trong Khách ở

quê ra, Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành những nhân vật phụ nữ

của Nguyễn Khải chỉ là những người phụ nữ bình thường trong cuộc sống đời thường, những người vợ, người mẹ yêu thương chồng con, đảm đang, tháo vát việc nhà, cả đời nhẫn nại, tần tảo, giàu đức hi sinh Sức hấp dẫn của phần lớn các truyện ngắn Nguyễn Khải có lẽ một phần cũng nằm ở những nhân vật phụ nữ như vậy Đó là những người đàn bà chấp nhận mọi vất vả trong cuộc đời bằng lòng độ lượng, khoan dung như chị

Vách (Đời khổ), bà Mão (Mẹ và các con), chị Khuê (Người vợ); những người phụ nữ

“hồng nhan bạc mệnh” như cô Dịu (Má hồng), nữ nghệ sĩ Xuân Nội (Đàn ông)… hay những người đàn bà giỏi giang, đầy bản lĩnh như cô Hiền (Một người Hà Nội), bà cô (Nếp nhà), bà ngoại (Mẹ và bà ngoại)… Viết về họ, nhà văn đã thể hiện một thái độ

trân kính, khâm phục và tấm lòng cảm thông sâu sắc

Hoà vào dòng chảy chung của truyện ngắn thời kỳ đổi mới nhưng với bản lĩnh,

cá tính và tài năng của mình, Nguyễn Khải đã sớm tìm được cho mình một lối tiếp

Trang 36

cận đời sống, một cách viết, cách thể hiện riêng Truyện ngắn của ông luôn đạt tới một giá trị tư tưởng sâu sắc

Truyện ngắn thời kì đổi mới đánh dấu bước chuyển mình rõ rệt về phong cách nghệ thuật của các tác giả tiêu biểu, trong đó có Nguyễn Khải

Trước hết, ta cần phải nói đến những đổi mới về nghệ thuật trần thuật Truyện ngắn thời kì đổi mới có nhiều biến đổi trong cách kể chuyện từ việc chuyển dịch điểm nhìn trần thuật, sự thay đổi vai kể, chuyện lồng trong truyện, sự đảo lộn trật tự thời gian, đảo lộn tình tiết… Các nhà văn đã trao điểm nhìn cho nhiều nhân vật, để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình Đặc biệt, các nhà văn chủ yếu trần thuật theo ngôi thứ nhất Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh… đều xuất hiện nhiều cách trần thuật như vậy Ở Nguyễn Khải, ta nhận thấy có sự xuất hiện của nhiều những truyện ngắn được trần thuật từ ngôi thứ nhất xưng “tôi” Nhân vật “tôi” không chỉ giữ vai trò là một người kể chuyện bình thường mà anh ta tham gia vào truyện với tư cách là một nhân vật với đầy đủ nét tính cách, tâm lý, ngôn ngữ… Anh ta góp phần vào việc thể hiện nội dung

tư tưởng của tác phẩm với một lý lịch thống nhất trong các tác phẩm là một người cầm bút Độc giả sẽ thấy một nhân vật “tôi” thông minh, sắc sảo, đi nhiều, hiểu rộng, ham tìm tòi, quan sát, suy ngẫm Một nhân vật mang hình bóng của tác giả Ông gửi vào nhân vật này mọi trăn trở, suy tư về cuộc đời, về lẽ sống, về một ước mơ khao khát vươn tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ

Truyện ngắn Nguyễn Khải cũng có những đổi mới trong giọng điệu kể chuyện Ông là một trong số ít nhà văn có được cái duyên trong lối kể chuyện với một giọng điệu riêng biệt Mỗi truyện ngắn ông kể với một phong cách bình dị mà hiện đại, lối nói lôi cuốn, hài hước, dí dỏm nhẹ nhàng, những bình luận, đánh giá vừa giản dị vừa sâu sắc với cái nhìn tỉnh táo của một con người từng trải, thấu hiểu cuộc đời Tất cả

đã làm nên một giọng văn “đa màu sắc, càng về sau càng phóng túng và giàu khả

năng gợi mở nhiều liên tưởng”[46, tr 167] Đặc biệt, yếu tố đối thoại được tác giả sử

dụng khá nhiều Ông dùng đối thoại để các nhân vật bộc lộ mình, phần lớn đó là những đối thoại tư tưởng Các nhân vật đối thoại để thể hiện cái nhìn của mình, để khám phá cuộc sống và những người xung quanh, có khi còn để khám phá chính bản

Trang 37

thân mình Nổi lên trên tất cả vẫn là những đối thoại giữa nhà văn và bạn đọc Nhà văn luôn đứng ngang bằng với độc giả, cùng độc giả suy ngẫm, nhận xét, đánh giá, thậm chí tranh luận cùng độc giả về câu chuyện do mình kể lại

Một đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách văn xuôi Nguyễn Khải mà ta không thể bỏ qua, đó là tính triết lý, tranh biện hấp dẫn, sắc sảo Trước đổi mới, sáng tác của ông thiên về khuynh hướng chính luận với sức mạnh của lý trí tỉnh táo Sau đổi mới, ông ngả dần sang cảm hứng triết luận đời thường với lời văn hồn hậu, trầm lắng, nhiều chiêm nghiệm Cũng chính vì vậy mà phần lớn các nhân vật của ông đều

là những người có học hoặc từng trải và càng về sau này ông lại càng hay viết về những người cao tuổi Các nhân vật của ông thường ham tranh biện, hay lý sự, thích triết lý Ta có thể bắt gặp trong bất cứ truyện ngắn nào của ông những triết lý về đủ mọi lĩnh vực trong đời sống Đưa ra những vấn đề triết lý nhân sinh trong các sáng tác của mình, nhà văn đánh thức lý trí của người đọc, bắt họ phải suy ngẫm, đối thoại với nhân vật, với tác giả để cùng trăn trở về các vấn đề đời sống

Có thể thấy, trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới, truyện ngắn Nguyễn Khải nổi lên với một phong cách mới mẻ, độc đáo mang đậm cá tính sáng tạo của nhà văn Với những thành công ở thể loại truyện ngắn, Nguyễn Khải xứng đáng là cây bút tiêu biểu cho thế hệ những người cầm bút trong nền văn học hiện đại Việt Nam thời kì đổi mới Những đóng góp của ông trong lĩnh vực truyện ngắn nói riêng, trong cả sự nghiệp sáng tác nói chung góp phần khẳng định tên tuổi của ông như một tấm gương sáng về một nhà văn có bản lĩnh nghệ thuật, giàu

sức sáng tạo và “một đời chung thuỷ với nghề văn và nghiệp văn”

Trang 38

có thể phác họa một cách khái quát nhất về diện mạo nền văn hóa dân tộc từ giai đoạn đầu hình thành cho đến ngày nay

Qua việc tìm hiểu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy được vị trí quan trọng của Nguyễn Khải trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là vai trò “tiên phong” cho sự nghiệp đổi mới văn học nước nhà Trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam hiện đại, truyện ngắn Nguyễn Khải vừa thể hiện những nét chung lại vừa mang những nét độc đáo, thành công riêng trên cả hai lĩnh vực nội dung và nghệ thuật, đặc biệt là ở việc đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người và ngôn ngữ nghệ thuật

Dựa trên cơ sở lí luận nghiên cứu ban đầu đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu hai phương diện nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải từ góc nhìn văn hóa

Trang 39

Chương 2

DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI

2.1 Bức tranh thiên nhiên mang dấu ấn văn hóa Việt Nam

Thiên nhiên có vai trò hết sức quan trọng với những cư dân nông nghiệp lúa nước như dân tộc Việt Nam Cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào những biến đổi của môi trường tự nhiên Vì vậy, người Việt cũng như những cư dân của các nền văn hóa gốc nông nghiệp khác trong tâm thức đều mong muốn sống hòa mình với thiên nhiên Họ quan niệm: được sống hòa hợp trong môi trường thiên nhiên, con người sẽ được sống bằng bản ngã đích thực của mình Trong tâm thức văn hóa của người Việt Nam, thiên nhiên gắn bó hết sức sâu sắc với con người Con người biết khắc phục những khắc nghiệt của thiên nhiên, biết hòa mình vào thiên nhiên, luôn ca ngợi thiên nhiên và biến thiên nhiên thành một phần cơ sở tạo nên văn hóa dân tộc Nếu hiểu văn hóa là sự ứng xử của con người với môi trường xung quanh (bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) thì những cảm xúc, suy nghĩ, phản ứng của con người trước thiên nhiên chính là một biểu hiện của thái độ ứng xử văn hóa của con người Khi nói đến văn hóa tức là ta đang nói đến mối quan hệ của hai yếu tố

cơ bản nhất: con người và tự nhiên “Văn hóa chính là kiểu cách con người quan hệ

với tự nhiên”

Trong văn chương từ xưa đến nay, thiên nhiên luôn là đối tượng phản ánh quen thuộc của người nghệ sĩ Thiên nhiên hiện lên như là người bạn, là nơi gửi gắm bao niềm vui, nỗi buồn của con người Tìm hiểu các sáng tác của Nguyễn Khải dưới góc nhìn văn hóa, chúng tôi nhận thấy bức tranh thiên nhiên hiện lên trong mỗi trang văn của ông đều mang dấu ấn văn hóa Việt Miêu tả thiên nhiên cũng là một cách thể hiện thái độ ứng xử văn hóa của nhà văn Với Nguyễn Khải, tình yêu và niềm tự hào dành cho mảnh đất và con người Việt Nam bắt đầu từ chính tình yêu thiên nhiên Nhà văn đã hòa lòng mình vào với thiên nhiên, thổi hồn vào thiên nhiên khiến chúng trở nên gần gũi với cuộc sống con người Vẻ đẹp thiên nhiên dưới ngòi bút Nguyễn Khải mang dấu ấn đặc trưng của thiên nhiên Việt Nam

Trang 40

So với nhiều nhà văn khác, Nguyễn Khải là người ít viết về thiên nhiên nhưng thiên nhiên trong trang viết của ông lại hết sức ấn tượng Bức tranh thiên nhiên hiện lên trong truyện ngắn Nguyễn Khải thật tinh tế và nên thơ mang đặc trưng của thiên nhiên đồng bằng Bắc Bộ Thiên nhiên được cảm nhận một cách gần gũi trong sự hòa quyện với con người theo từng mùa trong năm

Mùa xuân - mùa của sự khởi đầu, dưới con mắt say mê, ngưỡng vọng của

Nguyễn Khải hiện lên thật đẹp: “Mùa xuân ở Hà Nội bao giờ cũng đẹp Với tôi đã

nhiều năm không được sống ở Hà Nội vào mùa xuân lại càng thấy đẹp Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt Một chút mưa bụi bay lây rây như có như không Trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm nhưng mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên những màu sắc tươi tắn”[28, tr 186-187] Mùa xuân Hà Nội trong cảm nhận của

Nguyễn Khải ghi dấu bằng tiết trời se lạnh kèm theo cơn mưa phùn lất phất đặc trưng của mùa xuân xứ Bắc Cả cái “tính khí” lúc nắng lúc mưa thất thường của “ông trời”

cũng trở thành một nét riêng biệt của thiên nhiên nơi đây: “Đêm như có mưa, hơi

nặng hạt thì phải, hạt mưa gõ trên mái ngói nghe rất rõ Sáng ra tất cả đã khô ráo, mảnh sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh Cái lạnh của mùa xuân thật dịu dàng, thật dễ thở…”[28, tr 193] Bức tranh mùa xuân được miêu tả thật giàu hình

ảnh và đậm chất thơ bằng những từ ngữ miêu tả cụ thể, sinh động Người đọc như cảm nhận được cái se lạnh của tiết trời Hà Nội vào xuân đang thấm dần vào da thịt mình Với những người yêu Hà Nội da diết như tác giả mà phải sống xa Hà Nội thì việc được trở về trong những ngày Hà Nội vào xuân, được tận mắt thưởng thức cái thiên nhiên diễm tình và thơ mộng nơi đây thật không còn gì vui bằng!

Mùa thu Hà Nội từ lâu đã đi vào trong thơ văn, nhạc họa, nay một lần nữa được tái hiện trong trang văn của Nguyễn Khải, dù chỉ một thoáng chốc thôi cũng đủ

làm lòng người xao xuyến, bồi hồi nhớ lại lời hát quen thuộc: “Hà Nội mùa thu! Mùa

thu Hà Nội…” Trong con mắt ông, Hà Nội luôn đẹp, “một vẻ đẹp riêng cho mọi lứa tuổi” Hà Nội đẹp bởi những “con phố vắng vẻ không có buôn bán, với những góc phố của các bà, các chị bán hàng răng đen khăn vấn, áo cánh trắng”, với “cửa Ô Quan Chưởng cuối thu lạnh và hơi hiu hắt”[ 28, tr 432], từng ngôi nhà trang

nghiêm, cổ kính và đặc biệt, những con người thủ đô văn minh lịch sự với lối sống

Ngày đăng: 24/03/2021, 19:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w