Tìm hiểu đề tài Hành động hỏi trong thơ Tố Hữu là một trong những cách tiếp cận văn học từ góc độ ngôn ngữ, nhằm khám phá ra những mục đích nói phong phú, đa dạng ẩn đằng sau hình thức
Trang 1––––––––––––––––––––––
HỒ THỊ PHƯƠNG TRANG
HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG THƠ TỐ HỮU
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HÙNG VIỆT
Thái Nguyên - năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào
Tác giả luận văn
Hồ Thị Phương Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Phạm Hùng Việt, thầy đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Luận văn là kết quả của một quá trình học tập Vì vậy tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn đến những người Thầy, người Cô đã giảng dạy các chuyên đề Cao học cho lớp Ngôn ngữ khóa 2010-2012
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè những người thân đã luôn ủng hộ
và động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 04 năm 2012
Tác giả luận văn
Hồ Thị Phương Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Lý thuyết về hành động ngôn ngữ 6
1.1.1 Khái niệm về hành động ngôn ngữ 6
1.1.2 Các loại hành động ngôn ngữ 7
1.1.3 Điều kiện sử dụng các hành động ở lời 9
1.1.4 Hành động ở lời trực tiếp – gián tiếp 11
1.2 Hành động hỏi 16
1.2.1 Khái niệm hành động hỏi 16
1.2.2 Dấu hiệu nhận diện hành động hỏi 18
1.3 Hành động hỏi và câu hỏi 20
1.3.1 Khái niệm câu hỏi 20
1.3.2 Mối quan hệ giữa hành động hỏi và câu hỏi 22
1.4 Phép lịch sự và hành động hỏi 23
1.4.1 Khái niệm “lịch sự” 23
1.4.2 Các lí thuyết về lịch sự 24
1.4.3 Những điểm cần lưu ý về lịch sự trong hành động hỏi 26
CHƯƠNG 2 : HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP TRONG THƠ TỐ HỮU 28
2.1 Một số hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu 28
2.1.1 Hành động hỏi sử dụng đại từ nghi vấn 28
2.1.2 Hành động hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn “hay” 37
2.1.3 Hành động hỏi sử dụng các phụ từ nghi vấn 39
Trang 52.1.4 Hành động hỏi sử dụng các tiểu từ tình thái 43
2.1.5 Hành động hỏi trực tiếp sử dụng ngữ điệu 45
2.2 Nhận xét 47
2.2.1 Về phương tiện thể hiện 47
2.2.2 Về kiểu câu 52
2.2.3 Về cách dùng 54
CHƯƠNG 3 : HÀNH ĐỘNG HỎI GIÁN TIẾP TRONG THƠ TỐ HỮU 56
3.1 Các hành động hỏi được dùng với mục đích gián tiếp trong thơ Tố Hữu 56
3.1.1 Hỏi – khẳng định 56
3.1.2 Hỏi – bộc lộ 62
3.1.3 Hỏi – nhắc 70
3.1.4 Hỏi – tố cáo 74
3.1.5 Hành động hỏi được sử dụng để biểu thị các hành động nói gián tiếp khác 76
3.2 Nhận xét 85
3.2.1 Về phương tiện thể hiện 85
3.2.4 Về việc đảm bảo tính lịch sự 96
3.2.5 Về việc thể hiện phong cách tác giả 97
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Bảng thống kê các hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu 45 Bảng 2: Bảng thống kê các hành động hỏi gián tiếp trong thơ Tố Hữu 82
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 So với các chuyên ngành khác của ngôn ngữ học như từ vựng học, ngữ âm học, ngữ pháp học thì ngữ dụng học là một chuyên ngành còn rất non trẻ Hơn ba thập kỉ gần đây, ở nước ta, ngữ dụng học đã có những bước phát triển nhanh chóng, mạnh
mẽ Trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học” – tập 2, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra nhận
xét: “Trong lịch sử ngôn ngữ học, chưa từng có một chuyên ngành ngôn ngữ học miêu tả đồng đại nào lại lôi cuốn được nhiều nhà ngôn ngữ học vào vòng xoáy của mình trong một thời gian ngắn như ngữ dụng học” Hành động ngôn từ là một nội dung thuộc về ngữ dụng học Hành động ngôn từ có chức năng quan trọng trong hoạt động giao tiếp, được sử dụng phổ biến trong giao tiếp và cũng là một trong những đối tượng được ngữ dụng học quan tâm
Trong giao tiếp, người ta thường sử dụng nhiều hành động nói để thực hiện mục đích, ý định của mình như: trình bày, yêu cầu, chúc, hứa, thề Mỗi loại hành động nói thường được thực hiện bằng một kiểu câu có hình thức, chức năng phù hợp với hiệu lực ở lời của hành động đó Chẳng hạn: kiểu câu trần thuật dùng để thể hiện hành động thông báo: kể, miêu tả; kiểu câu cầu khiến dùng để thực hiện các hành động có mục đích cầu khiến: yêu cầu, ra lệnh, cấm, xin, nhờ, rủ, mời, Kiểu câu cảm thán dùng để biểu thị các hành động bày tỏ, bộc lộ cảm xúc mạnh, đột ngột Kiểu câu hỏi dùng để hỏi về điều mình chưa biết, muốn được trả lời
Trong số các kiểu câu trên, câu hỏi là một loại câu đóng vai trò quan trọng trong hội thoại Câu hỏi không chỉ có tác dụng duy trì và thúc đẩy cuộc thoại Qua nội dung, mục đích hỏi và cách đặt câu hỏi, cả người nói và người nghe đều có thể
có những hiểu biết mới về nhau hoặc về đối tượng khác mà cả hai cùng quan tâm Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, hỏi là một dạng hành vi ngôn ngữ phổ biến Nhờ sự tác động của ngữ cảnh và thông qua những chuyển hoá khác nhau mà câu hỏi có thể thực hiện nhiều chức năng giao tiếp, những hành vi tại lời rất đa dạng Bên cạnh đó, hỏi còn là hình thức trao lời để nhận được thông tin hoặc để nhằm thực hiện các mục đích nói khác như: hứa hẹn, giãi bày, trách móc
Trong văn học nghệ thuật, việc sử dụng kiểu câu theo mục đích giao tiếp được xem như một loại biện pháp tu từ, có khả năng tạo nên tính hàm súc, đa nghĩa của tác phẩm
Trang 81.2 Tố Hữu là một cây đại thụ trong nền văn học Việt Nam Thơ Tố Hữu gắn liền với các chặng đường cách mạng của dân tộc và lắng sâu trong lòng quần chúng nhân dân suốt thời gian qua Thơ ông sở dĩ bám rễ sâu rộng trong lòng quần chúng
là bởi chất men say bay bổng, khí thế hùng mạnh, điệu thơ tha thiết Đúng như Phong Lan và Mai Hương đã nhận xét: “Trên bầu trời của văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn được coi là ngôi sao sáng, là người mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca, ông thực sự tạo nên được niềm yêu mến, nỗi đam mê bền chắc trong nhiều độc giả Ông là người đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận lại từ họ sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu, đang là niềm mơ ước của mọi sự nghiệp thơ
ca, kể cả những nhà thơ lớn cùng thời với ông” [21,11] Bởi vậy, thơ Tố Hữu luôn thu hút được sự quan tâm của giới phê bình, nghiên cứu văn học và là đối tượng giảng dạy trong nhà trường phổ thông
Tìm hiểu đề tài Hành động hỏi trong thơ Tố Hữu là một trong những cách
tiếp cận văn học từ góc độ ngôn ngữ, nhằm khám phá ra những mục đích nói phong phú, đa dạng ẩn đằng sau hình thức câu chữ, từ đó thấy được sức mạnh biểu đạt của ngôn từ và sự sáng tạo của tác giả trong việc sử dụng ngôn từ nhằm tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn cả về nội dung lẫn hình thức biểu đạt
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Câu hỏi là một trong bốn kiểu câu phân theo mục đích nói năng: Câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến Việc phân chia như trên được
đề cập nhiều trong các tác phẩm nghiên cứu về ngữ pháp học
Từ cuối những năm 80 trở lại đây, ở Việt Nam vấn đề hành vi ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các công trình nghiên cứu về hành
vi ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng đã được đưa vào giảng dạy trong các trường học Hỏi trở thành vấn đề ngữ dụng quen thuộc trong các công trình:
Ngữ dụng học của GS.TS Nguyễn Đức Dân, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của
GS.TS Đỗ Hữu Châu, Dụng học Việt Ngữ của GS.TS Nguyễn Thiện Giáp …
Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học chọn câu hỏi làm đối tượng nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình như:
1 Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt – câu, Nxb Đại học & Trung học
chuyên nghiệp, Hà nội, 1980
2 Nguyễn Thị Thìn, Câu nghi vấn tiếng Việt, một số kiểu câu nghi vấn không dùng để hỏi, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, Hà nội, 1994
Trang 93 Nguyễn Thị Lương, Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, Hà nội, 1996
4 Lê Đông, Ngữ nghĩa – Ngữ dụng câu hỏi chính danh, Luận án PTS khoa học
Ngữ văn, Hà nội, 1996
5 Lê Anh Xuân, Câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn cho câu hỏi chính danh,
Luận án TS Ngữ văn, Hà nội, 2004
6 Trịnh Minh Thành, Câu hỏi trong truyện Kiều của Nguyễn Du và việc sử dụng câu hỏi để biểu thị mục đích nói, Luận văn thạc sĩ
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có thể kể đến một số bài viết như:
- Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ (số phụ), 1985
- Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Nguyễn Chí Hoà, Ngôn ngữ số 1,
1993
- Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng của câu hỏi, Lê Đông, Ngôn ngữ số 2, 1994
- Một vài đặc điểm chung của câu nghi vấn ( qua ngôn liệu một số ngôn
ngữ), Nguyễn Đăng Sửu, Kỷ yếu hội thảo Ngữ học trẻ, 1998
- Một số tiểu từ tình thái đứng cuối câu dùng để hỏi, Nguyễn Thị Tuyết Mai,
những vấn đề ngôn ngữ học, Kỷ yếu hội nghị khoa học 2001, Viện Ngôn ngữ học
- …
Như vậy, đã có khá nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về câu hỏi trong tiếng Việt Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi vào tìm hiểu hành động hỏi trong thơ Tố Hữu như hướng đi của đề tài luận văn này
2.2 Trong hơn 60 năm qua, Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng – một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi trong cả nước Dường như, song hành với quá trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ, dẻo dai của Tố Hữu là một lịch sử phê bình nghiên cứu dày dặn, phong phú về thơ ông Các công trình nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc đánh giá giá trị nội dung,
tư tưởng mà còn đi sâu phân tích các phương diện về phong cách, về ngôn ngữ, hình tượng thơ, giọng điệu, bút pháp, thi pháp… Trong đó, nổi bật nhất là ba công
trình: Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kị (1979), Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của Nguyễn Văn Hạnh (1985), và Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần
Đình Sử (1987)
Trang 10Nghiên cứu thơ Tố Hữu từ phương diện ngôn ngữ đã có rất nhiều công trình như:
- Nhạc điệu thơ Tố Hữu của Nguyễn Trung Thu Tạp chí văn học số 6 – 1968
- Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu, Nguyễn Văn Hạnh Nội san Nghiên cứu
- Khảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu của Phạm Thị
Thùy Dương Luận văn Thạc sỹ Ngôn ngữ, 2008
- …
Như vậy, có thể khẳng định, các sáng tác thơ ca của Tố Hữu đã được nghiên cứu ở nhiều góc cạnh khác nhau Tuy nhiên về hành động hỏi trong thơ của ông dưới góc độ ngôn ngữ học thì vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu Vì
những lí do trên, chúng tôi chọn Hành động hỏi trong thơ Tố Hữu làm đối tượng
nghiên cứu cho luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Làm rõ Hành động hỏi trong thơ Tố Hữu, để từ đó thấy được tác dụng của của
các hành động hỏi này trong việc thể hiện nội dung tư tưởng cũng như phong cách của tác giả
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đề ra, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ:
- Trình bày các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu các kiểu hành động hỏi trong thơ Tố Hữu
- Phân tích để thấy được cách sử dụng các hành động hỏi trong thơ Tố Hữu
- Rút ra nhận xét
4 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Hành động hỏi trong thơ Tố Hữu
Trang 11Phạm vi: Các ngữ liệu khảo sát và trình bày trong luận văn được thu thập
chủ yếu từ cuốn Thơ Tố Hữu, NXB Văn hóa - Thông tin Hà Nội, 2002
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để phân tích, miêu tả cách
sử dụng các hành động hỏi trong thơ của tác giả, làm rõ vai trò của các hành động hỏi trong thơ Tố Hữu
- Phương pháp so sánh: để làm rõ sự giống và khác nhau giữa các kiểu câu biểu thị trực tiếp hành động hỏi với các kiểu câu gián tiếp biểu thị hành động hỏi trong thơ Tố Hữu
- Bên cạnh đó, thủ pháp thống kê phân loại cũng được luận văn sử dụng để thống kê và phân loại các hành động hỏi trong thơ Tố Hữu
6 Cấú trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu
Chương 3: Hành động hỏi gián tiếp trong thơ Tố Hữu
Trang 121.1.1 Khái niệm về hành động ngôn ngữ
Hành động ngôn ngữ còn được gọi bằng các tên khác như: hành động nói, hành động phát ngôn, hành vi ngôn ngữ
Trong giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của xã hội loài người Việc sử dụng ngôn ngữ khi nói nhằm gây ra hiệu quả đối với nhân vật giao tiếp chính là chúng ta đang thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện để thực hiện hành động đó là ngôn ngữ Loại hành động đặc biệt đó được gọi là hành động ngôn ngữ Vậy, hành động ngôn ngữ là gì?
Theo GS Đỗ Hữu Châu: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) SP1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) SP2 trong ngữ cảnh C” [6, 88]
GS Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: “Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó, người nói
đã thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định và người nghe cảm nhận được điều này Xảy ra hiện tượng đó là vì các hành vi ngôn ngữ mang tính chất xã hội, được ước chế bởi xã hội” [10, 220]
Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” thì hành động ngôn ngữ
là: “Một đoạn lời nói có mục đích nhất định thực hiện trong những điều kiện nhất định được tách biệt bằng các phương tiện trên ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất
về mặt âm đọc mà người nói, người nghe đều có liên lạc với một ý nghĩa như nhau, trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó.” [39, 107]
Ví dụ 1: Bài kiểm tra bị điểm kém, bé Khánh Linh có thể chuộc lỗi bằng các hiện tượng vật lý như: rửa bát, quét nhà, tắm cho em giúp mẹ,… cũng có thể dùng lời nói “con xin lỗi mẹ vì con đã không dùng giấy nháp để tính toán cẩn thận nên bài làm bị sai”
Trang 13Trong trường hợp này, sự xin lỗi của bé Khánh Linh đã được thể hiện bằng ngôn ngữ, được thể hiện ngay trong phát ngôn Hành động đó chính là hành động (hành vi) ngôn ngữ – hành động xin lỗi
Như vậy, dù được phát biểu dưới những hình thức khác nhau nhưng giữa các nhà ngôn ngữ học vẫn có điểm chung, thống nhất trong quan niệm về hành động ngôn ngữ - là loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ được thực hiện khi ta nói năng
1.1.2 Các loại hành động ngôn ngữ
Như trên đã nói, hành động ngôn ngữ được thực hiện khi người nói (hoặc người viết) nói ra một phát ngôn cho người nghe (hoặc người đọc) trong một ngữ cảnh nhất định Theo J.L.Austin, trong mọi cuộc giao tiếp, một phát ngôn thường được tạo ra do ba loại hành động ngôn ngữ, đó là:
- Hành động tạo lời (Hành động tạo ngôn)
- Hành động mượn lời (Hành động dụng ngôn)
- Hành động ở lời (Hành động ngôn trung)
1.1.1.1 Hành động tạo lời (locutioncary act)
Theo Austin, hành động tạo lời là “hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn
có hình thức và nội dung” [6, 88] Nói cách khác, hành động tạo lời là hành động chúng ta nói (/phát ngôn) ra một điều gì đó
Ví dụ 2: Để có phát ngôn “Sắp nộp luận văn rồi đấy!” ta phải tạo ra nó bằng cách sử dụng các từ ngữ cần thiết, kết hợp chúng lại và phát âm ra (nói ra) điều đó
1.1.1.2 Hành động ở lời (inlocutionary act)
Đây là “những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận” [7, 447]
Trang 14Cũng có những trường hợp, hành động ở lời có hiệu quả là một hành động mượn lời vật lý
Ví dụ 4:
Sp1: Con ăn nhanh đi để còn học bài
Sp2: (Cầm bát ăn nhanh) Hiệu quả ở lời của hành động thúc giục của Sp1 là việc Sp2 thực hiện hành động vật lý (Sp2 cầm bát ăn nhanh) Tuy nhiên, ngay cả những trường hợp mà hiệu quả của hành động ở lời là một hành động mượn lời như ở ví dụ (4) thì hành động mượn lời đó vẫn có thể có hành động ở lời đi kèm (chẳng hạn, Sp2 ở ví dụ (4) vừa
đáp “Vâng ạ!” vừa cầm bát ăn nhanh )
Do hiệu quả giao tiếp của hành động ở lời là những hiệu quả thuộc về ngôn
ngữ nên hành động ở lời có ý định (tức có đích), có quy ước và có thể chế Ý định (hay đích) của hành động ở lời thuộc về cá nhân người phát ngôn còn quy ước và thể chế thuộc về cộng đồng ngôn ngữ Dù không được thể hiện một cách hiển ngôn
nhưng các quy tắc vận hành các quy ước, thể chế của các hành động ở lời được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác Điều đó có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu… nắm được những quy tắc điều khiển các hành
vi ở lời trong ngôn ngữ nào đó là chúng ta đã biết các quy tắc để “thiết lập” nên các hành động “hỏi”, “yêu cầu”, “hứa hẹn”… đó sao cho đúng lúc, đúng chỗ cho phù hợp với ngữ cảnh, văn hóa giao tiếp… là một vấn đề không kém phần quan trọng
Ví dụ 5: Là bạn bè thân thiết, chúng ta có thể hỏi thăm nhau về mức thu nhập Hành động hỏi trong trường hợp này được chấp nhận như là sự quan tâm lẫn nhau Tuy nhiên, với người bạn mới quen – nhất là bạn khác giới, nếu hỏi nhau về thu nhập, người hỏi dễ bị người nghe đánh giá sai về bản chất, về quan niệm sống…v.v…
Khác với hành động tạo lời và hành động mượn lời, hành động ở lời có khả năng “thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại” (O.Ducrut – dẫn theo [7, 447]) Khi thực hiện một hành động ở lời, “tư cách pháp nhân” của người phát ngôn
và người thụ ngôn đã có sự thay đổi về nghĩa vụ và quyền lợi so với “tình trạng” của họ khi chưa thực hiện hành động ở lời đó
Ví dụ 6:
Lời tự sự của một chàng trai khi tình yêu tan vỡ:
Giá như mình đừng quen nhau
Em sẽ bình yên đón cơn mưa khác
Trang 15Còn anh như áng mây lưu lạc Quên cả đường đi, quên cả lối về…
Hành vi tự sự đó dù rất ít ràng buộc đối với cả người nói (chàng trai) và người nghe (cô gái) nhưng chúng ta vẫn thấy tư cách pháp nhân của những người này thay đổi khi hành vi này được phát ra (chẳng hạn, với cô gái, ít ra cũng mang tâm trạng áy náy)
Để tạo ra một diễn ngôn, người ta thực hiện một cách thống nhất cả ba loại hành hành động: hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lời
1.1.1.3 Hành động mượn lời (perlocationary act)
Là những hành động “mượn phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói” [7, 446] Nói cách khác, hành động mượn lời là hành động thực hiện một phát ngôn nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý, trong hành động vật lý có thể quan sát được, gây ra một tác động nào đó với ngữ cảnh
Ví dụ 7: Đến tiết Văn học nước ngoài, thầy giáo lên lớp nói với sinh viên:
“Hôm nay, tôi không được khỏe, chúng ta nghỉ học” (2) Sau khi nghe phát ngôn
này sẽ có những cách “phản ứng” khác nhau: một số sinh viên hò reo vui sướng vì được nghỉ học: một số sinh viên thở phào nhẹ nhõm, có học sinh lại thấy luyến tiếc, thậm chí, một số sinh viên tỏ ra bực mình trước “phản ứng” không lành mạnh của bạn bè (hò reo vì được nghỉ học) vì họ cho rằng bạn của mình quá vô tâm trước tình trạng sức khỏe của thầy giáo (Và quả thực, thầy giáo cũng đã nghĩ như thế vì sau khi tiếng reo hò của học trò vừa ngớt, thầy hạ giọng: “Thật quá đáng!” và bước ra khỏi lớp trước những ánh mắt ân hận của học trò) Đó chính là hiệu quả mượn lời của phát ngôn (2)
Như vậy, hiệu quả của hành động mượn lời là những hiệu quả ngoài ngôn ngữ (đúng hơn là ngoài diễn ngôn) Hiệu quả này có thể có chủ ý hoặc không có chủ ý Chúng rất phân tán, không có tính quy ước và khó có thể tính toán để tìm ra
cơ chế chung
1.1.3 Điều kiện sử dụng các hành động ở lời
Như đã trình bày ở 1.1.1.2, hành động ở lời về cơ bản là hành động xã hội
Vì vậy, điều kiện sử dụng các hành động ở lời là những điều kiện mà một hành động ở lời “phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh và sự phát ngôn ra nó” [7, 465] Tất nhiên, các điều kiện trên đây chỉ thỏa mãn (/đáp ứng
Trang 16được) với hành động ở lời chân thực Các hành động ngôn ngữ không chân thực, gián tiếp hay phái sinh sẽ không thuộc diện áp dụng của những điều kiện này Chẳng hạn: Hành động “hứa hẹn”:
a Người nói thực hiện hành động “hứa hẹn” đồng thời có ý định thực hiện lời hứa của mình
b Người nói thực hiện hành động hứa hẹn để lừa dối
c Người nói thực hiện hành động hứa hẹn để tỏ quyền lực mà không có ý định giữ lời hứa…
Trong ba hành động “hứa hẹn” trên, chỉ có hành động ở (a) là đối tượng “áp dụng” của các điều kiện sử dụng các hành động ở lời
Theo Austin, các hành động ở lời muốn “thành công” và đạt hiệu quả thì phải bảo đảm các điều kiện “may mắn” (felicity condition) sau:
- (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng có tính quy ước
(ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong thủ tục
- Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ
- Thông thường thì (i) những người thực hiện hành động ở lời phải có ý nghĩa, tình cảm, ý định đúng như nó đã có
Trên cơ sở phân tích hành vi “hứa” trong tiếng Anh, Searle đã điều chỉnh, bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin và ông gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thỏa mãn Theo Searle, điều kiện này gồm có:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Là điều kiện liên quan đến cấu trúc, quan hệ
ngữ nghĩa của nội dung mệnh đề Điều kiện này chỉ ra nội dung các hành động ở lời
- Điều kiện chuẩn bị: Là điều kiện liên quan tới những hiểu biết của người
thực hiện hành động về lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối với người nghe và đối với hành động ở lời mà mình đưa ra
- Điều kiện chân thành: Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lý của người
thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra Điều kiện chân thành còn có nghĩa là người nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành động ở lời mà mình thực hiện
Trang 17- Điều kiện căn bản: Theo điều kiện này thì người thực hiện hành động ở lời
(hoặc người nghe) bị ràng buộc ngay vào kiểu trách nhiệm mà hành động đó tạo ra khi phát ngôn
Ví dụ 8:
(Nếu tâm sự cùng ta bạn hỏi)
Tiếng nào trong muôn nghìn tiếng nói Như nỗi niềm nhức nhối tim gan?
(- Trong lòng ta hai tiếng: Miền Nam!)
(Miền Nam)
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là hành động “hỏi” của “bạn” đối với “ta” (chủ thể trữ tình – nhà thơ): “bạn” không biết trong muôn ngàn tiếng nói, có tiếng nào giống như nỗi niềm nhức nhối tim gan
- Điều kiện chuẩn bị: “bạn” không biết lời giải đáp và tin rằng người được hỏi (“ta” – chủ thể trữ tình) có khả năng thực hiện hành động tương ứng – trả lời, đồng thời người nói (“bạn”) biết rằng người nhận (“ta”) là người có năng lực để thực hiện hành động nhằm đáp ứng được yêu cầu của mình (tức là “bạn” tin rằng “ta” là người có năng lực thực hiện hành động “đáp” (/trả lời), đáp ứng (/thỏa mãn) yêu cầu của “bạn”, cho bạn biết “tiếng nào” giống như “nỗi niềm nhức nhối tim gan”)
- Điều kiện chân thành: “bạn” rất muốn biết “tiếng nào” trong tiếng nói Việt Nam mang “đặc điểm” mà “bạn” đã nêu trong khi thực hiện hành động “hỏi”
- Điều kiện căn bản: “bạn” thực hiện hành động “hỏi” là để nhận được thông tin từ
“ta”, để “ta” (tác giả) cung cấp cho mình điều muốn biết: “tiếng nào”….? (và “ta”
đã trả lời: hai tiếng miền Nam)
Từ sự phân tích trên, chúng tôi khẳng định, câu thơ: “Tiếng nào trong muôn
ngàn tiếng nói Như nỗi niềm nhức nhối tim gan?” xét ở góc độ giao tiếp, đặc biệt
là ở phương diện hành động ngôn ngữ là hành động hỏi trực tiếp vì nó được sử dụng đúng với điều kiện chân thành của nó
Trong luận văn này, các điều kiện sử dụng hành động ở lời được chúng tôi coi là cơ sở, là dấu hiệu để nhận diện và phân biệt các hành động hỏi trực tiếp – gián tiếp
1.1.4 Hành động ở lời trực tiếp – gián tiếp
1.1.4.1 Hành động ở lời trực tiếp
Như chúng ta đã biết, trong giao tiếp, một phát ngôn thường có khả năng
“thực hiện đồng thời một số hành vi” nên thường không phải chỉ có một đích ở lời
Trang 18Bởi thế, chỉ những hành động ngôn ngữ được “thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng của chúng” mới được coi là những hành động ở lời trực tiếp [7, 492]
Ví dụ 9:
- Hành động hỏi:
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? (a)
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già (b)
Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son (c)
(Tố Hữu, Việt Bắc)
Đoạn thơ trên gồm 3 câu hỏi, thể hiện 3 hành động hỏi chân thành của người dân Việt Bắc Đích ở lời của các hành động hỏi này là “ta” (người dân Việt Bắc) muốn “mình” (Trung ương Đảng và Chính phủ) cho biết “mình” còn nhớ tới “ta” với những kỷ niệm của những ngày kháng chiến đầy gian khổ không Đáp lại những câu hỏi này là những câu trả lời của “mình” Các phát ngôn này cũng thuộc hành động ở lời trực tiếp:
Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng…
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình
Trang 19- Hành động dặn dò:
Coi chừng sóng lớn, gió to Màn xanh đây, mụ đắp cho kín mình!
Khai mau, tao chém mất đầu!
(Tố Hữu, Bà má Hậu Giang) 1.1.4.2 Hành động ở lời gián tiếp
a Khái niệm thuật ngữ “hành động ngôn ngữ gián tiếp” (indirect speech acts)
do Austin đặt và khởi xướng nghiên cứu nhưng người nghiên cứu kỹ về loại hành động ngôn ngữ này lại là Searle Theo Searle, một hành động ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua sự thực hiện một hành động ở lời khác sẽ được gọi là một hành động gián tiếp
Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Một hành vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [7, 495]
b Điều kiện sử dụng các hành động ở lời gián tiếp
Các hành động ngôn ngữ gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra tính đa nghĩa, mơ hồ về nghĩa trong lời nói Tuy nhiên, muốn dùng hành động ở lời gián tiếp nào phải tuân thủ theo những điều kiện hoặc nguyên tắc nhất định Theo các nhà ngôn ngữ học, khi sử dụng hành động ở lời gián tiếp, cần lưu ý một số điều kiện sau:
(1) Hành động ngôn ngữ gián tiếp lệ thuộc rất mạnh vào ngữ cảnh
Có thể nói ngữ cảnh là yếu tố quan trọng đối với cả người nghe và người nói khi tham gia vào hành động giao tiếp Người nói cần dựa vào ngữ cảnh để tạo lập phát ngôn sao cho phát ngôn đó vừa nói về vấn đề A đồng thời còn có thể nói nhiều
về vấn đề khác (B, C) Người nghe cũng cần dựa vào ngữ cảnh để hiểu được vấn đề B/C… trong khi điều anh ta nghe là vấn đề A
Ví dụ 10: - Mày định bôi do trát trấu vào mặt bố mẹ mày hay sao mà yêu H?
Trang 20Phát ngôn trên có hình thức là một hành động hỏi nhưng thể hiện hành vi gián tiếp khuyên/ đề nghị người nghe không nên (/không được phép) yêu H Hành động này có thể đạt được hiệu quả tại lời trong ngữ cảnh nhất định: Người nói là bố/mẹ/anh/chị; người nghe là con/em và H; gia đình H không tốt, không tương xứng với gia đình người nói (nghe)
(2) Hành động ngôn ngữ có một (/một số) biểu thức ngữ vi đặc trưng riêng của nó Trong biểu thức ngữ vi, quan hệ giữa các thành phần (chủ từ - vị từ) tạo nên nội dung mệnh đề về mặt ngữ nghĩa với các nhân tố ngữ cảnh – đặc biệt là với những người tham gia giao tiếp cũng đáng vai trò IFID (phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời) cho biểu thức ngữ vi đó Điều đó có nghĩa là ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi trực tiếp càng gắn với các nhân
tố của ngữ cảnh bao nhiêu, đặc biệt là với người nói người nghe thì càng có khả năng thực hiện các hành vi gián tiếp bấy nhiêu
Ví dụ 11: (Hai chị em Khánh Linh, Khánh Thư đang chơi với nhau Bỗng nhiên Khánh Thư khóc Mẹ chạy ra và hỏi:)
- Ai làm cho em khóc đấy? (a)
- Con không làm em khóc thì còn ai vào đây nữa? (b)
Trong hoàn cảnh này, người mẹ có thể sử dụng một trong hai câu hỏi (a) và (b) để thực hiện hành động hỏi Tuy nhiên việc sử dụng câu hỏi nào để thực hiện hành động hỏi lại ảnh hưởng đến hiệu lực của hành động Nếu sử dụng câu hỏi (b) làm phương tiện của hành động hỏi, phát ngôn của người mẹ sẽ có hiệu lực gián tiếp là khẳng định, buộc tội rõ hơn Hiệu lực được “hình thành” bởi quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần của nội dung mệnh đề trong biểu thức ngữ vi trực tiếp với ngữ cảnh (tức là người bị hỏi ở (b) (con) là ngữ nghĩa của thành phần mệnh đề (chủ từ) của câu hỏi
(3) Một phát ngôn trực tiếp có thể thể hiện một số hành động gián tiếp Nói cách khác, “cùng một phát ngôn có thể tiềm tàng nhiều hành động ngoài lời’’ [13, 47] Điều đó không có nghĩa là không có dấu hiệu phân biệt hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp, không có giới hạn cho các hành động gián tiếp do cùng một hành động trực tiếp thực hiện trong cùng một phát ngôn trực tiếp Phải căn cứ vào phát ngôn mà nhận biết biểu thức ngữ vi và qua biểu thức ngữ vi để nhận biết hành động nào là hành động gián tiếp Không phải bất cứ phát ngôn nào cũng có thể thực hiện những hành động gián tiếp như nhau Mỗi phát ngôn (tức phát ngôn ngữ vi/ hành vi ở lời trực tiếp) tuy có thể thực hiện một số hành động gián tiếp
Trang 21nhưng các hành động gián tiếp này không giống nhau Hành động ở lời trực tiếp quy định giới hạn các hành động ở lời gián tiếp Do đó, dấu hiệu hình thức của hành động ngôn ngữ gián tiếp là phát ngôn ngữ vi của hành động trực tiếp Trong số các hành động ở lời, hành động tái hiện (xác tín, mô tả, khảo nghiệm) có biểu thức ngữ
vi nguyên cấp trùng với nội dung mệnh đề ( tức có cấu trúc CN – VN hay đề – thuyết) nên có khả năng thực hiện khá nhiều hành động ở lời gián tiếp
Ví dụ 12: - Ngày mai tôi sẽ đến thăm gia đình em
Phát ngôn trên có thể là một lời hứa hẹn, một lời đe dọa Nhưng ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên mệnh đề thay đổi sẽ kéo theo việc loại bỏ một số hành động ở lời gián tiếp Chẳng hạn:
- Ngày mai cả lớp sẽ đến thăm gia đình em
Lúc này phát ngôn trên không thể thực hiện hành vi đe dọa
Như vậy, muốn nhận biết hành động ở lời gián tiếp, trước hết, người nghe phải nhận biết phát ngôn nghe được qua biểu thức ngữ vi cốt lõi cho nó do hành động ở lời trực tiếp nào tạo ra
(4) Không nên coi hành động ngôn ngữ gián tiếp là một hành động riêng rẽ chỉ do hành động ngôn ngữ trực tiếp tạo ra Trong thực tế, nó bị quy định bởi lý thuyết lập luận, bởi phương châm hội thoại, bởi phép lịch sự, bởi các quy tắc liên kết, bởi các quy tắc hội thoại và cả bởi logic Searle cho rằng cơ chế của các hoạt động ở lời gián tiếp là ở các điều kiện dùng của các hành động ở lời
Ví dụ 13: (Vào một hiệu sách, muốn mua cuốn “Ngữ dụng học” ta hỏi:)
- Ở đây (/chị…) có cuốn “Ngữ dụng học không (ạ)?
Hành động gián tiếp “Tôi muốn mua cuốn “Ngữ dụng học”” được hình thành
từ các điều kiện sau:
- Chúng ta muốn SP2 hành động A (điều kiện chân thành) Tức là chúng ta muốn SP2 bán cho chúng ta cuốn sách “Ngữ dụng học”
- Chúng ta thấy SP2 có đủ khả năng thực hiện A (điều kiện chuẩn bị) Tức là chúng ta thấy (/biết) rằng SP2 có thể có cuốn “Ngữ dụng học” để bán
- Chúng ta thực hiện hành động hỏi để hỏi SP2 về khả năng thực hiện A Nghĩa là chúng ta yêu cầu SP2 thực hiện A
(5) Hành vi ở lời gián tiếp là những “sáng tạo có quy tắc”, là lĩnh vực của một loại biện pháp tu từ bằng các hành vi ở lời Nó thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong giao tiếp bằng ngôn ngữ Chẳng hạn, tiếng Việt có một số hành động ngôn
Trang 22ngữ được dùng với hiệu lực ở lời gián tiếp được lặp đi lặp lại, trở thành một thứ quy ước có tính chất là một nghi thức ngôn ngữ trong giao tiếp
Ví dụ 14: Dùng câu hỏi để chào (Bác làm gì đấy ạ? / Cháu đi học về đấy à? ), dùng câu hỏi để trách móc (Sao không đi luôn, còn về làm gì nữa? Bây giờ anh mới
về thì mẹ con tôi ăn cơm vào lúc nào? )
1.2 Hành động hỏi
1.2.1 Khái niệm hành động hỏi
Như đã biết, thuật ngữ hành động ngôn từ do nhà triết học Anh là J.Austin
nghĩ ra và được J.Searle phát triển Các ông quan niệm rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà nó thường dùng để làm cái gì
đó, để thể hiện các hành động Các hành động được thể hiện bằng lời là hành động ngôn từ Như vậy, hành động hỏi cũng là một loại hành động ngôn từ Vấn đề đặt ra là: Đặc trưng cơ bản của hành động hỏi là gì?
Trong Từ điển tiếng Việt (2001) của Viện Ngôn ngữ ngữ học, hai mục từ
“câu hỏi” hoặc “câu nghi vấn” không được đề cập đến nhưng ở mục từ “hỏi” (tr.454), nghĩa của mục từ “câu hỏi” được giải thích “tương đương” với mục từ
“hỏi 2” ( phân biệt với “hỏi 1” có nghĩa là “dấu hỏi”) Theo đó, mục từ “hỏi 2”
với tư cách là động từ được giải thích với các nghĩa như sau:
Hỏi đg 1 nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được
trả lời Xin hỏi một câu Hỏi đường Hỏi ý kiến Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ (tng)
2 nói ra điều mình đi hỏi hoặc mong muốn ở người ta yêu cầu được đáp ứng
Hỏi mượn quyển sách Hỏi mua Hỏi giấy tờ
3 Hỏi vợ (nói tắt) Lễ hỏi Mới hỏi chứ chưa cưới
4 (kng,) Nói lời chào, thăm khi gặp nhau, theo phép xã giao, chào hỏi (nói
tắt) Gặp người quen phải hỏi Đi hỏi về chào
Chúng tôi thấy trong bốn nghĩa trên của mục từ “hỏi” có hai nghĩa đầu tiên (
nghĩa 1 và 2 ) hướng tới mục đích phát ngôn là thực hiên hành vi hỏi nhằm yêu cầu
cung cấp thông tin và yêu cầu người nghe đáp ứng điều mình muốn hoặc điều mình đòi hỏi người nghe thực hiện
Khảo sát các công trình nghiên cứu Việt ngữ liên quan đến câu hỏi và hành động hỏi, chúng tôi nhận thấy, hành động hỏi được các nhà Việt ngữ quan niệm theo những cách hiểu như sau:
Thứ nhất, hành động hỏi là hành động ngôn ngữ sử dụng câu hỏi để thực hiện các mục đích giao tiếp khác nhau Tiêu biểu cho quan niệm này là tác giả
Trang 23Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Nguyễn Đăng Sửu (2003) Các tác giả theo quan niệm này cho rằng: Câu hỏi là phương tiện quan trọng của hành động hỏi Dùng hành động hỏi (tức là phát ngôn hỏi), người nói có thể thực hiện các mục đích giao tiếp khác nhau như: yêu cầu cung cấp thông tin mà người thực hiện hành động hỏi cần biết (/chưa biết), phê phán, sai khiến, khẳng định, phủ định, trách móc, ra lệnh hay
Chúng tôi thấy, tính chất của hành động hỏi theo hai cách hiểu trên có sự khác biệt khá rõ nét Theo quan niệm thứ nhất, “hành động hỏi” được gắn chặt với hình thức cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu hỏi Theo quan niệm thứ hai,
“hành động hỏi” được tách rời khỏi sự chi phối của phương tiện biểu đạt – hình thức câu hỏi, đặt tâm điểm vào đích ngôn trung và phạm vi hành chính được mở rộng ra khỏi phạm vi câu hỏi
Trong đề tài này, chúng tôi xét hành động hỏi trong thơ Tố Hữu theo cách
hiểu thứ nhất Theo đó, chúng tôi coi hành động hỏi là hành động ngôn ngữ sử dụng phát ngôn hỏi (/câu hỏi) để thực hiện các mục đích giao tiếp khác nhau
(Với Lê – nin)
Trang 24Ở ví dụ (15) hành động hỏi (“Hỏi đâu thác nhảy, cho điện quay chiều?”) thực hiện mục đích gián tiếp: Bộc lộ niềm vui, niềm hân hoan phấn khởi pha chút hãnh diện, tự hào của tác giả trước triển vọng đổi thay của đất nước
Ở ví dụ (16) hành động hỏi của tác giả không nhằm để hỏi mà để biểu thị liên tiếp hai hành động nói gián tiếp:
- Phủ nhận (/bác bỏ): Tác giả không tin, không chấp nhận việc Lê – nin đã rỏi bỏ cõi đời này, bởi với tác giả, Lê – nin luôn sống giữa cuộc đời, vĩnh viễn tồn tại trong trái tim mỗi người yêu nước chân chính như “một con Người đẹp nhất”
- Bộc lộ: tác giả bộc lộ nỗi đau thương, mất mát trước sự ra đi của Lê– nin
1.2.2 Dấu hiệu nhận diện hành động hỏi
Hành động hỏi có thể được thể hiện qua các hình thức biểu đạt, phương tiện ngôn ngữ sau :
- Các câu hỏi đích thực (có hình thức câu hỏi dùng để thực hiện hành động hỏi)
- Câu hỏi không đích thực (mang hình thức câu hỏi – thực hiện hành động hỏi hoặc hành động ngôn ngữ khác)
- Câu hỏi phi chính danh (Các loại câu khác như: Câu trần thuật, câu cảm thán… – thực hiện hành động hỏi)
Tuy nhiên, khái niệm hành động hỏi mà chúng tôi sử dụng trong đề tài này là hành động sử dụng câu hỏi để thực hiện các mục đích giao tiếp khác nhau nên phương tiện ngôn ngữ được dùng để thực hiện hành vi hỏi đồng thời cũng chính là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài này là ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi chính danh trong thơ Tố Hữu Điều đó có nghĩa là phạm vi nghiên cứu sẽ loại
bỏ các phát ngôn không được gọi là câu hỏi (/câu hỏi phi chính danh), đối tượng nghiên cứu chỉ là các câu hỏi chính danh, bao gồm cả câu hỏi đích thực và không đích thực
1.2.2.1 Câu hỏi đích thực
Khái niệm câu hỏi đích thực mà chúng tôi chọn làm cơ sở lý luận trong đề tài này không trùng khớp với khái niệm câu hỏi chính danh được dùng trong nghiên cứu của tác giả Lê Đông (1996) (Trong nghiên cứu của mình, Lê Đông (1996) định nghĩa:
“Câu hỏi chính danh là những câu hỏi được đặt ra trong hoàn cảnh:
1 - Người nói không biết câu trả lời
2 - Anh ta muốn biết câu trả lời và hướng tới người đối thoại để nhận được thông tin đó”), cũng không phải là câu hỏi đích thực như quan niệm của tác giả Nguyễn Đăng Sửu (2003; 2010) – được dùng để hỏi và còn có thể biểu đạt những
Trang 25hành vi ngôn ngữ gián tiếp khác nhau, trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Chúng tôi sử dụng thuật ngữ này (câu hỏi đích thực) để chỉ những câu/phát ngôn hỏi biểu đạt ý nghĩa chuyên dùng để yêu cầu cung cấp thông tin mà người nghe cần biết, chưa biết
Theo cách hiểu này, các câu hỏi có thể cùng hình thái cấu trúc nhưng được phát ngôn trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể khác nhau sẽ mang những giá trị ngôn trung khác nhau Nói cách khác tuy có chung hình thái cấu trúc là câu hỏi nhưng chúng có thể là câu hỏi đích thực hoặc câu hỏi không đích thực
Thiên đường máu, từ tay bầy quỷ dữ
Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử Cào chiến công, xé cả xác anh hùng Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung) Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát?
(Chân lý vẫn xanh tươi) Hành động hỏi chứa câu hỏi có hình thái cấu trúc “Lẽ nào P?” (“Lẽ nào ta tự sát?”) trong hoàn cảnh này đồng thời thể hiện hai hành động gián tiếp là một lời tự chất vấn và bác bỏ (ta không thể sự sát, không thể làm ngơ trước thực trạng ngang trái này)
Hoàn cảnh 2 :
(Bảy mươi tám tuổi, mắt chưa nhòa Thanh thản, lòng ta vẫn hát ca Rác rưởi thì cùng nhau quét dọn)
Lẽ nào cỏ dại lại là hoa?
(Vạn xuân) Hành động hỏi có câu hỏi mang hình thái cấu trúc “Lẽ nào P?” (“Lẽ nào cỏ dại lại là hoa?”) trong hoàn cảnh này (Tác giả tự bạch về cái tuổi “bảy mươi tám” của mình) lại thể hiện (/mang) một giá trị ngôn trung khác: nhắc nhở mình (và cả
Trang 26người nghe, người đọc) phải luông sáng suốt, phải ý thức được và phân định rõ đâu
là “rác rưởi”, “cỏ dại” trong cuộc sống vốn trần trụi này để “quét dọn”, “loại bỏ”; tuyệt đối không để xẩy ra sự nhầm lẫn cỏ là hoa, hoa là cỏ bởi vốn dĩ ở đời “Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi” (Nguyễn Trãi)
Hoàn cảnh 3
(Biết chồng mình có “người khác”, A sống lặng lẽ như một cái bóng trong nhà Mặc cho chồng thanh minh, xin lỗi, A vẫn không nói nửa lời Chỉ đến khi chồng cô hỏi:)
- […] Lẽ nào em không thể tha thứ cho anh?
A mới trả lời :
- Ngày xưa em từng nói với anh rằng: Nếu vì một lý do gì đó mà anh ăn cắp, anh phải vào tù, em sẵn sàng thăm nuôi và chờ đợi Còn nếu anh phải bội tình yêu của em …
Căn cứ vào các điều kiện của hành động hỏi và căn cứ vào câu trả lời của A, chúng ta nhận thấy hành động hỏi của người chồng là hành động hỏi trực tiếp
Như vậy cùng một vỏ hình thức biểu hiện nhưng phương tiện của hành động hỏi ở hoàn cảnh (1) và (2) là những câu hỏi không đích thực còn phương tiện của hành động hỏi ở hoàn cảnh (3) mới là câu hỏi đích thực
Câu hỏi đích thực có thể mang nhiều hình thức biểu đạt Chẳng hạn, kiểu câu
hỏi “có … không”; câu hỏi lựa chọn, câu hỏi chứa từ nghi vấn …
1.2.2.2 Câu hỏi không đích thực
Theo các nhà Việt ngữ, câu hỏi không đích thực là những câu hỏi không dùng để hỏi mà nhằm thực hiện những hành động ngôn ngữ gián tiếp theo những chiến lược giao tiếp thích hợp nhằm đạt mục đích giao tiếp đã định
Các câu hỏi không đích thực thường được nhắc tới là câu hỏi có giá trị cầu khẩn, đề nghị; câu hỏi – khẳng định/phủ định; câu hỏi – phê phán … Về mặt cấu trúc, bên cạnh những câu hỏi mang những đặc điểm hình thái cấu trúc vốn được xếp vào nhóm các câu hỏi tu từ, còn có những câu hỏi mang đặc điểm hình thái cấu trúc đồng nhất với các câu hỏi đích thực
1.3 Hành động hỏi và câu hỏi
1.3.1 Khái niệm câu hỏi
Trong các công trình nghiên cứu tiêu biểu về câu hỏi trong tiếng Việt như
“Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt”, tập 2 (1964) của Nguyễn Kim Thản; Ngữ pháp tiếng Việt – câu” (1980) của Hoàng Trọng Phiến; “Tiếng Việt – sơ thảo ngữ
Trang 27pháp chức năng”, quyển 1, (1991) của Cao Xuân Hạo…v.v…, đặc điểm câu hỏi
trong tiếng Việt được xác định như sau:
- Người nói có “sự hoài nghi”, “cái chưa rõ”, “cái chưa biết”
- Người nói mong muốn được người nghe làm sáng tỏ điều chưa biết
- Người nói sử dụng từ (để) hỏi hoặc ngữ điệu hỏi
- Câu hỏi được dùng để chuyển tải những giá trị ngôn trung khác ngoài yêu cầu thông báo, cung cấp thông tin
Như vậy, tựu trung lại, mục đích mà câu hỏi hướng tới là :
(1) Yêu cầu (người nghe) thông báo, cung cấp thông tin
(2) Chuyển tải những giá trị ngôn trung khác (một số tác giả gọi là giá trị ngôn trung phái sinh) như: khẳng định, phủ định, tỏ ý ngờ vực, thách thức… và trong nhiều trường hợp, các giá trị phái sinh này là công dụng và mục đích duy nhất của câu nói, trong khi tính chất nghi vấn chỉ là một hình thức thuần túy, may ra chỉ góp một sắc thái tu từ nào đó cho câu nói [16, 950] Trong đó, mục đích thứ nhất là
cơ sở của sự xuất hiện những câu/ phát ngôn mang hình thức câu hỏi để thực hiện hành động hỏi; mục đích thứ hai là cơ sở của việc dùng câu hỏi để hướng tới mục đích thể hiện những hành vi ngôn ngữ giao tiếp không phải hành động hỏi
Về vấn đề phân loại và đặt tên cho các tiểu loại câu hỏi, có thể thấy, các nhà Việt ngữ học đã đưa ra những tên gọi và cách phân loại khác nhau Chẳng hạn: Câu hỏi chính danh – câu hỏi phi chính danh, câu hỏi đích thực – câu hỏi không đích thực, câu hỏi lựa chọn – câu hỏi không lựa chọn, câu hỏi chứa từ nghi vấn… Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ trình bày khái niệm câu hỏi chính danh
Về khái niệm chính danh, có 2 quan niệm chính sau:
1.3.1.1 Câu hỏi chính danh là câu hỏi dùng để thực hiện hành vi hỏi
Nguyễn Kim Thản (1964) dùng thuật ngữ “câu nghi vấn chân chính” để chỉ các câu hỏi được dùng để hỏi trong tiếng Việt Các kiểu câu hỏi còn lại trong nghiên cứu của ông là câu hỏi tự vấn, câu hỏi mệnh lệnh/ hỏi vặn và câu hỏi xác nhận Tương tự như vậy, Cao Xuân Hạo (1991) chia câu hỏi thành 6 tiểu loại bao gồm: câu hỏi chính danh, câu hỏi có giá trị cầu khiến, khẳng định, phủ định, phỏng đoán/ ngờ vực, cảm thán
Như vậy, dù được gọi tên khác nhưng “câu hỏi chính danh” trong nghiên cứu của Cao Xuân Hạo (1991) và “câu nghi vấn chân chính” trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản (1964) đều có chung nội hàm để chỉ các câu hỏi làm phương tiện thực hiện hành động hỏi/ có giá trị hỏi
Trang 28Trong nghiên cứu của mình, Lê Đông (1996) đã định nghĩa:
Câu hỏi chính danh là những câu hỏi được đặt ra trong hình ảnh:
(1) Người nói không biết câu trả lời
(2) Anh ta muốn biết câu trả lời và hướng tới người đối thoại để nhận được thông tin đó (tr.1)
Theo định nghĩa này, câu hỏi chính danh cũng được giới hạn ở các câu hỏi
có giá trị ngôn trung trực tiếp là hành động hỏi
1.3.1.2 Câu hỏi chính danh là câu hỏi đích thực, câu hỏi phi chính danh là câu hỏi không đích thực
Nguyễn Đăng Sửu (2003) đã tiếp cận câu hỏi theo hai hướng: nghiên cứu ngữ nghĩa ngữ dụng câu hỏi đích thực và câu hỏi không đích thực trong tiếng Việt Trong chuyên khảo “Đặc điểm của câu hỏi tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt” (2010), Nguyễn Đăng Sửu đã đồng nhất khái niệm “câu hỏi chính danh” với “câu hỏi đích thực” Tác giả phân tách câu hỏi thành 2 loại lớn “câu hỏi đích thực hay câu hỏi chính danh” và “câu hỏi không đích thực hay câu hỏi không chính danh” Theo tác giả, “Câu hỏi đích thực là những câu hỏi muốn người nghe trả lời, cung cấp lượng thông tin còn khuyết thiếu hoặc còn chưa rõ theo mục đích của người phát ngôn” và “Câu hỏi không đích thực là loại câu hỏi không liên quan đến câu trả lời Nó được dùng như một phương tiện truyền cảm Hỏi để thực hiện những mục đích khác nhau của người phát ngôn” [32, 79]
Vấn đề đặt ra là, nếu theo cách hiểu này thì một số câu không phải là câu hỏi nhưng trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể vẫn có đích ngôn trung là hành động hỏi sẽ được xếp vào tiểu loại nào của câu hỏi?
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học, chúng tôi chọn quan niệm: “Câu hỏi chính danh là những câu hỏi đáp ứng những tiêu chí cơ bản về hình thức (chẳng hạn có dấu hỏi ở cuối câu, có chứa từ nghi vấn hoặc tiểu từ tình thái dứt câu để hỏi…) cũng như giá trị ngôn trung – thực hiện hành vi hỏi […] Tuy nhiên, một câu hỏi chính danh mang hình thức câu hỏi nhưng mức độ nghi vấn không cao hoặc chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngữ dụng thì chúng có thể thực hiện một hành vi ngôn ngữ khác hoặc thể hiện tình cảm của người nói” [40, 103] để làm
cơ sở lý luận cho đề tài
1.3.2 Mối quan hệ giữa hành động hỏi và câu hỏi
Như đã trình bày ở 1.2.1, hành động hỏi là hành động sử dụng phát ngôn hỏi (câu hỏi) để thực hiện các mục đích giao tiếp khác nhau, vì vậy, điểm khác nhau cơ
Trang 29bản, dễ nhận thấy giữa câu hỏi và hành động hỏi là: Câu hỏi là một trong những phương tiện để thực hiện hành động hỏi
Vấn đề đặt ra là nội hàm và tính chất của câu hỏi và hành động hỏi có mối quan hệ với nhau như thế nào?
Trước hết, phải khẳng định rằng, các thuật ngữ “hành động hỏi” và “câu hỏi” không đồng nhất Khi nói đến câu hỏi là chúng ta nói đến loại câu được xác lập khi phân loại câu theo mục đích nói (được phân biệt với các loại câu khác trong tiếng Việt như: câu cảm thán, câu trần thuật…)
“Câu hỏi” là một khái niệm thuộc về cú pháp học, mang tính khái quát ở dạng thức, chưa được gắn với thực tế giao tiếp Trái lại, “hành động hỏi” là một
khái niệm thuộc về ngữ dụng học, gắn với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Bởi vì, trong quá trình tham gia vào hoạt động giao tiếp, để đạt được mục đích giao tiếp một cách hiệu quả nhất, người nói tùy vào đối tượng, hoàn cảnh giao tiếp để sử dụng phát ngôn cho phù hợp Người người có thể dùng câu hỏi trực tiếp hay câu hỏi gián tiếp
để thể hiện hành động hỏi trực tiếp hoặc gián tiếp
Ví dụ 18: (Học sinh đi học muộn, xin vào lớp, cô giáo có thể sử dụng các câu hỏi sau:)
- Sao em đến muộn thế? (hỏi – nhắc nhở)
- Em ngủ quên à? (hỏi – nhắc nhở)
- Bây giờ là mấy giờ rồi? (hỏi – trách/ phê bình)
Về nội dung, chỉ có hành động hỏi trực tiếp và câu hỏi giống nhau vì chúng đều thể hiện ý muốn của người nói – yêu cầu người nghe cung cấp thông tin mà người nói chưa biết/ cần biết
Về cấu trúc, hành động hỏi trùng với mô hình câu hỏi
1.4 Phép lịch sự và hành động hỏi
1.4.1 Khái niệm “lịch sự”
Trong giao tiếp điều không thể thiếu của các nhân vật giao tiếp là phép lịch sự, nhờ đó thì mới có hiệu quả giao tiếp Đối với hành động hỏi, vì người nói“có sự hoài nghi”, “cái chưa rõ”, “cái chưa biết” và người nói mong muốn được người nghe “làm sáng tỏ điều chưa biết” nên mang tính áp đặt, dễ gây bất lịch sự Để có thể áp dụng lí thuyết về lịch sự vào nghiên cứu hành động ngôn ngữ hỏi trong luận văn, chúng tôi xin đề cập đến một số lí thuyết về lịch sự của các tác giả R.Lakoff, G.Leech, P.Brown và S.Levinson
Trang 30Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, lịch sự là “có thái độ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc, phù hợp với quan niệm và phép tắc xã giao của xã hội”
[27, 566]
Theo R.Lakoff, lịch sự là sự tôn trọng nhau, là biện pháp dùng để giảm bớt trở ngại trong tương tác giao tiếp giữa các cá nhân
G.Leech nói đến lịch sự là nói đến vấn đề tổn thất và lợi ích
Brown và Levinson khẳng định rằng: lịch sự là tránh các hành vi làm phương hại thể diện, lãnh địa của người khác
Dựa vào các ý kiến nêu trên, có thể thấy rằng: lịch sự là thái độ nhã nhặn, lễ độ trong giao tiếp, tránh làm phương hại đến thể diện của nhau
1.4.2 Các lí thuyết về lịch sự
1.4.2.1 Lí thuyết lịch sự của Lakoff và Leech
R.Lakoff nêu ba quy tắc lịch sự:
Thứ nhất: quy tắc lịch sự quy thức (gọi là quy tắc không được áp đặt) Quy tắc này thường dùng trong nghi lễ, ngoại giao Đây là quy tắc khi giao tiếp không quan tâm đến quan điểm, đặc điểm riêng tư của cá nhân như sở thích, gia đình… Thực hiện theo quy tắc này bắt buộc phải sử dụng lời nói nhã nhặn, ngôn ngữ toàn dân, không dùng ẩn ý, tránh dùng từ ngữ quá tình cảm
Thứ hai: quy tắc lịch sự phi chính thức (dành cho người đối thoại lựa chọn), là quy tắc dùng trong giao tiếp thông thường Đối với quy tắc này, người nói muốn người nghe tán đồng quan điểm hay hành động theo mình thì buộc người nói phải
sử dụng ngôn từ làm sao cho người nghe không buộc phải nhận ra ý định của mình Với yêu cầu này, người nói phải trình bày một cách mơ hồ về ngữ dụng để người nghe có thể lảng tránh hay từ chối Quy tắc này thường dùng trong trường hợp các vai giao tiếp không có quan hệ xã hội gần gũi
Thứ ba: là quy tắc về phép lịch sự bạn bè hay thân tình (gọi là quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè), thường dùng trò chuyện thân mật suồng sã Quy tắc này thích hợp với những trường hợp như: bạn bè thân, vợ chồng Vì thế trái với hai quy tắc trên, với quy tắc này người nói không những không phải dùng cách nói ẩn ý mà còn phải quan tâm, tin cậy bộc lộ tình cảm chân thành nhất của mình để bày tỏ quan điểm
Quy tắc lịch sự của G.Leech:
Theo G.Leech nguyên tắc đảm bảo phép lịch sự là tối thiểu hóa những lối nói bất lịch sự và tối đa hóa những lối nói lịch sự Ông đề ra các phương châm giao tiếp lịch sự sau:
Trang 31Phương châm khéo léo: giảm tối thiểu bất lợi và tăng tối đa ích lợi cho người nghe Phương châm rộng rãi: tăng tối đa lợi ích cho người và tăng nhiều tổn thất cho ta Phương châm tán thưởng: sử dụng hình thức khen ngợi và hạn chế chê bai đối tượng giao tiếp
Phương châm khiêm tốn: không nên quá khen mình và cần phải tự chê mình Phương châm tán đồng: cần phải có ý kiến tán thưởng, đồng ý với ý kiến của
1.4.2.2 Lý thuyết lịch sự của Brown và Levinson
Brown và Levinson xây dựng lý thuyết của mình dựa trên khái niệm thể diện
của Goffman Hai ông đã định nghĩa thể diện: “hình ảnh – về – ta công cộng mà mỗi thành viên (trong xã hội – ĐHC) muốn mình có được” [6, 264] Định nghĩa này được Yule giải thích “thể diện là hình ảnh – về – ta công cộng của một con người
Nó chỉ cái nghĩa cảm xúc và xã hội về ta mà mỗi người có và mong muốn người khác phải thừa nhận” [41, 264]
Thể diện gồm hai loại: thể diện âm tính và thể diện dương tính Thể diện âm tính là tự do hành động và từ chối theo ý của mình mà không bị can thiệp Thể diện dương tính là tự khẳng định mình, mong muốn người khác tán thưởng tôn trọng, đánh giá cao về mình Hai thể diện này không tách biệt nhau mà chúng luôn bổ sung cho nhau, nếu vi phạm thể diện âm tính thì cũng làm mất thể diện dương tính
và ngược lại
Brown và Levinson cũng chỉ ra những hành động ngôn ngữ có tiềm ẩn khả năng làm mất thể diện và gọi chúng là các hành vi đe dọa thể diện Có 4 loại hành vi:
- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người nghe như: ra lệnh, đe dọa
- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người nói như: thú nhận, xin lỗi, cảm ơn
- Hành vi đe dọa thể diện âm tính đối với người nghe như: phê bình, trách mắng, phàn nàn
Trang 32- Hành vi đe dọa thể diện âm tính đối với người nói như: hứa hẹn, biếu tặng, chấp nhận yêu cầu
Trong mỗi cuộc hội thoại đều tiềm ẩn hành vi đe dọa thể diện vì thế lịch sự trong giao tiếp là điều phối các thể diện và cứu vãn thể diện Không muốn trong giao tiếp có đụng độ thì nhân vật giao tiếp cần có chiến lược lịch sự Brown và Levinson cho rằng cần dựa vào thông số: quyền lực, khoảng cách, mức độ trầm trọng của các hành vi đe dọa thể diện để đánh giá được mức độ đe dọa thể diện Khi đánh giá được mức độ hiệu lực đe dọa thể diện thì ta sẽ tìm cho mình chiến lược lịch sự phù hợp với mục đích giao tiếp
Theo Brown và Levinson, có các chiến lược lịch sự cơ bản sau:
+ Lịch sự âm tính (phép lịch sự tiêu cực): hướng vào thể diện âm tính của người nghe Với phép lịch sự này cần giảm nhẹ hay né tránh làm phương hại đến người tiếp nhận
+ Lịch sự dương tính (phép lịch sự tích cực): hướng vào thể diện dương tính của người tiếp nhận Với phép lịch sự này, người nói tôn vinh, đề cao thể diện của đối tượng giao tiếp
Lý thuyết lịch sự của các tác giả trên có một số điểm khác nhau nhưng đều thống nhất rằng lịch sự chính là cách thức mà ở đó người nói dùng nó để đưa vào hoạt động giao tiếp nhằm đạt hiệu quả trong giao tiếp
1.4.3 Những điểm cần lưu ý về lịch sự trong hành động hỏi
Như chúng ta biết, đại bộ phận các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại tới thể diện (cả của người nói và người nghe) Và hành động hỏi cũng không phải là một ngoại lệ
Khi hành động hỏi được thực hiện, thông thường nó sẽ xâm phạm tới không gian, thời gian tự do của người nghe, người nhận Có những hành động hỏi không đúng lúc, đúng chỗ nhưng vẫn buộc người nghe, người nhận phải tạm ngừng công việc, tạm ngừng suy nghĩ, thậm chí tạm dừng cả nghỉ ngơi để trả lời Nhiều khi, có những câu hỏi
tò mò về những vấn đề riêng tư khiến người nghe lâm vào cảnh khó xử
Ví dụ: (Biết tin bạn mình mới chuyển sang vị trí công tác mới tốt hơn, Lan tò mò hỏi:)
- Thế ở đấy (/công ty mới) người ta trả cho cậu bao nhiêu tiền một tháng?
Ở trong hoàn cảnh trên, khi hành động hỏi được thực hiện, người hỏi đã đe dọa tới thể diện của người nghe, bởi lẽ cho dù là bạn bè nhưng nếu không phải là
Trang 33bạn bè thân thiết thì hỏi về thu nhập cũng sẽ khiến cho người tiếp nhận câu hỏi cảm thấy bị xâm phạm tới quyền riêng tư
Tuy nhiên, không phải lúc nào hành động hỏi cũng đẩy người nghe vào tình huống bị đe dọa thể diện
Ví dụ 19:
Nhắc nhở là một hành động có khả năng đe dọa tới thể diện của người tiếp
nhận Tuy nhiên, khi được thể hiện dưới hình thức của một hành động hỏi, nó giúp người tiếp nhận cảm thấy dễ chấp nhận và ít bị đe dọa tới thể diện hơn Chẳng hạn, trong hoàn cảnh: Học sinh đi học muộn, xin vào lớp, cô giáo có thể nhắc nhở:
- Lần sau em nhớ đừng đi học muộn nữa
Nhưng thay vì nhắc nhở trực tiếp, thẳng thừng như vậy, cô giáo lại hỏi:
- Em ngủ quên à?
Rõ ràng hành động hỏi của cô giáo trong trường hợp này nhằm mục đích nhắc nhở Nhưng sử dụng hành động hỏi để biểu thị hành động nhắc nhở, cô giáo đã đảm bảo được tính lịch sự trong giao tiếp, đó là đã hạn chế tới mức thấp nhất khả năng làm mất thể diện của người nghe
Thơ Tố Hữu sử dụng rất nhiều hành động hỏi, kể cả hành động hỏi trực tiếp
và hành động hỏi gián tiếp Vấn đề đặt ra là nhà thơ đã làm gì để hạn chế khả năng làm tổn hại tới thể diện khi thực hiện các hành động hỏi đó? Vận dụng lý thuyết lịch
sự vào việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn tìm ra cách mà Tố Hữu đã sử dụng các hành động hỏi để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất
* Tiểu kết
Hành động hỏi là một vấn đề ngôn ngữ cụ thể có liên quan đến lý thuyết về hành động ngôn ngữ, phép lịch sự trong giao tiếp v.v… “Hành động hỏi” và “câu hỏi” là những thuật ngữ quan trọng cần được xác định rõ ràng bởi lẽ chúng liên quan đến việc xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài
Những vấn đề cơ bản về lý thuyết hành động ngôn ngữ, hành động hỏi, câu hỏi, phép lịch sự trong mối quan hệ với hành động hỏi – đặc biệt là việc xác lập ranh giới cũng như sự “giao thoa” giữa “hành động hỏi” và “câu hỏi” mà chúng tôi trình bày trong chương 1 sẽ là cơ sở lý luận là định hướng để chúng tôi giải quyết các vấn đề ở chương 2 và chương 3 của đề tài
Trang 34CHƯƠNG 2 HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP TRONG THƠ TỐ HỮU
2.1 Một số hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu
Như đã trình bày ở chương 1, hành động hỏi trực tiếp là hành động sử dụng phương tiện ngôn ngữ hỏi (câu hỏi/ từ nghi vấn…) để thực hiện mục đích hỏi Trong thơ Tố Hữu, hành động hỏi trực tiếp thường sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sau:
2.1.1 Hành động hỏi sử dụng đại từ nghi vấn
Đại từ nghi vấn là những đại từ được dùng để hỏi vào những điểm xác định trong câu
Các đại từ nghi vấn thường được dùng là: ai, gì, nào, sao, tại sao, thế nào, bao giờ, bao lâu, đâu, bao nhiêu, bao lâu …
Mỗi đại từ nghi vấn thường mang ý nghĩa khái quát tương ứng với một phạm trù logic nhất định Theo tác giả Nguyễn Thị Thìn, có thể phân loại đại từ nghi vấn theo ý nghĩa phạm trù của chúng:
- Hỏi về thực thể (sự vật, hiện tượng): ai, gì, nào
- Hỏi về đặc trưng: thế nào, như thế nào, ra sao, làm sao, làm gì (“làm gì” là
ngữ nghi vấn được cố định hóa)
- Hỏi về thứ tự, số lượng: bao nhiêu, mấy
- Hỏi về địa điểm, phương hướng: đâu
- Hỏi về thời gian: bao lâu, bao giờ
- Hỏi về nguyên nhân: sao, tại sao, vì sao, làm sao
- Hỏi về hệ quả: sao
[36, 34]
Đại từ nghi vấn có thể đứng một mình như: gì, sao, nào… hoặc kết hợp với một từ khác thành: người nào, cái gì, vì sao, làm gì v.v…
Ví dụ 20:
(1) Sao chị đi lâu thế?
(2) Mẹ mua cái gì vậy ạ?
(3) Trong mấy cái váy này cậu thích cái nào?
(4) Cái đồng hồ này tháo thế nào nhỉ?
Đối chiếu với đặc trưng của câu hỏi và các điều kiện sử dụng hành động ở lời
mà Searle đã đưa ra, chúng tôi nhận thấy, các ví dụ trên đây đều là những hành
Trang 35động hỏi được sử dụng đúng với điều kiện sử dụng và đúng với đích ở lời của hành động hỏi Do đó chúng là những hành động hỏi trực tiếp
Theo thống kê của chúng tôi, trong thơ Tố Hữu, hành động hỏi sử dụng đại
từ nghi vấn gồm có 79 câu chiếm 17,95% tổng số hành động hỏi trong thơ Tố Hữu
Các đại từ được chọn làm phương tiện cho hành động hỏi trong thơ Tố Hữu
thường là: ai, gì (chi) nào, đâu, làm gì (làm chi), mấy, cớ sao (cớ răng), vì sao, bao giờ… Các hiện tượng hỏi trực tiếp có sử dụng các phương tiện ngôn ngữ này
thường được dùng để biểu thị các ý nghĩ sau:
a Hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu sử dụng đại từ nghi vấn
“ai”, “gì”, “nào” để hỏi về thực thể (sự vật, hiện tượng)
Ví dụ 21:
Ông đã nghe ai nói
Có một xứ mênh mông Nửa tây và nửa đông Mạnh giàu riêng một cõi?
- Điều kiện sử dụng hành động ở lời:
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là hành động hỏi của “tôi” (tác giả) đối với “ông” (ông lão đầy tớ - người nghe)
+ Điều kiện chuẩn bị: “Tôi” rất cảm thông trước câu chuyện cuộc đời đầy nước mắt, đau khổ, nghèo hèn và tủi nhục của ông lão đầy tớ “Tôi” không biết đã
có “ai” nói với “ông” về một xứ sở mà ở đó:
Nơi không vua không quan Không hạng người ô uế Không hạng người nô lệ Sống đau xót, lầm than…
+ Điều kiện chân thành (tâm lý): “Tôi” thực hiện hành động hỏi vì “tôi” rất muốn biết “ông” đã nghe “ai” nói về việc đó hay chưa
+ Điều kiện căn bản: “Tôi” thực hiện hành động hỏi với mong muốn nhận được câu trả lời của “ông” lão đầy tớ
Trang 36- Hiệu quả ở lời của hành động hỏi: “Tôi” đã nhận được sự hồi đáp của ông lão đầy tớ - đó là thái độ “ngơ ngác” vì chưa biết gì, chưa nghe ai nói gì về điều này
Ví dụ 22:
Mẹ con, một bữa, về đường Gạo ngon một gánh em sương nặng đầy Ngụy đâu xông lại cả bầy
Bắt em, nó hỏi: Gạo này cho ai?
Nó đá đít, nó bạt tai Đau em, em chịu, chẳng khai một lời
(Chuyện em)
- Về hình thức: Phát ngôn “Gạo này cho ai?” có sử dụng đại từ nghi vấn “ai”
– hỏi về thực thể
- Về điều kiện sử dụng hành động ở lời:
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là hành động hỏi của tên lính ngụy đối với em (Nguyễn Văn Hòa)
+ Điều kiện chuẩn bị: Em Hòa tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã theo mẹ đi kiếm tiền mua lương thực về “nuôi quân” Trong một lần mua gạo về, trên đường đi hai
mẹ con em gặp một “bầy” lính Ngụy Bọn chúng không biết hai mẹ con em mua nhiều gạo như vậy về để cho “ai”
+ Điều kiện chân thành: “Bầy” lính Ngụy rất muốn biết điều đó
+ Điều kiện căn bản: “Bầy” lính Ngụy thực hiện hành động hỏi vì muốn
“em” trả lời cho chúng
- Hiệu quả ở lời của hành động: Khi nghe câu hỏi của bọn lính Ngụy, và thêm nữa là dù bị “đá đít”, “bạt tai” nhưng “em” “vẫn” “chẳng khai một lời” Thái độ bất hợp tác, “chẳng khai một lời” của em chính là phản ứng đáp lại hành động ngôn ngữ của bọn lính Ngụy Vì vậy, chúng tôi vẫn coi đây là một hành động hỏi trực tiếp
Ví dụ 23:
(Lần trước gặp anh Chăn bò trên Tam Đảo Sáng nay lại gặp anh Hồ giáo Chăn bò ở Ba Vì.)
Hỏi anh: Có thú vui gì?
(Anh cười : Vui thú đời đi chăn bò …)
(Gặp anh Hồ Giáo)
Trang 37Hành động hỏi trên đây cũng là một hành động hỏi trực tiếp Vì:
- Về hình thức: Phát ngôn của tác giả (người hỏi) có chứa đại từ nghi vấn
“gì” để hỏi về sự việc
- Điều kiện sử dụng hành động ở lời:
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là hành động hỏi của tác giả đối với anh
Hồ Giáo
+ Điều kiện chuẩn bị: Lần đầu gặp, anh Hồ Giáo đang chăn bò ở Tam Đảo Lần này lại gặp anh Hồ Giáo, anh đang chăn bò ở Ba Vì Tác giả không biết thực ra anh có “thú vui gì” ngoài việc chăn bò
+ Điều kiện chân thành (tâm lý): Tác giả rất muốn biết anh Hồ Giáo có thú vui gì
+ Điều kiện căn bản: Tác giả thực hiện hành động hỏi với mong muốn nhận được câu trả lời của anh Hồ Giáo
- Hiệu quả ở lời của hành động hỏi: Tác giả đã nhận được câu trả lời của anh
Hồ Giáo, được anh cho biết thú vui của mình, đó là: “Vui thú đời đi chăn bò …”
b Hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu sử dụng đại từ “sao”, “tại sao”, “vì sao”…để hỏi về nguyên nhân hoặc cái không biết cụ thể
- Về điều kiện sử dụng hành động ở lời:
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là hành động hỏi của (tác giả) tò mò không biết vì sao (cớ răng) “ông” – chồng của mẹ lại đồng ý (“ưng”) cho mẹ làm công việc nguy hiểm đó
+ Điều kiện chân thành: Nhà thơ rất tò mò muốn biết điều đó
+ Điều kiện căn bản: Nhà thơ thực hiện hành động hỏi với mong muốn mẹ Suốt giải đáp cho mình lý do của việc đó
- Hiệu quả của hành động ở lời: Mẹ Suốt đã trả lời cho điều băn khoăn, tò
mò của nhà thơ rằng vì mẹ “nói cứng” nên ông “phải xiêu”
Như vậy, hành động hỏi trên là một hành động hỏi trực tiếp
Trang 38c Hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu dùng đại từ nghi vấn “đâu”
để hỏi về phương hướng, địa điểm, nơi chốn
Ví dụ 25:
Một hôm lính lệ Theo thằng quan châu Đến nhà hoạnh họe
“Con mày đi đâu?”
(Bà mẹ Việt Bắc)
- Về hình thức: Phát ngôn “Con mày đi đâu?” của “thằng quan châu” có chứa
đại từ nghi vấn “đâu” – hỏi về địa điểm, nơi chốn
- Về điều kiện sử dụng hành động ở lời:
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là câu hỏi của “thằng quan châu” đối với
“tôi” (Bà mẹ Việt Bắc)
+ Điều kiện chuẩn bị: “Thằng quan châu” đến nhà “tôi” lục soát và “nó” không biết con của “tôi” đi đâu
+ Điều kiện chân thành: “Thằng quan châu” rất tò mò muốn biết con của
“tôi” đi đâu
+ Điều kiện căn bản: “Thằng quan châu” hỏi với mục đích “mày” (tức “tôi”) trả lời cho “hắn” câu hỏi đó
- Hiệu quả ở lời của hành động hỏi: Hành động hỏi theo kiểu “hoạnh họe” của “thằng quan châu” được phát ra, ngay lập tức đã nhận được“câu” trả lời bằng phản ứng, bởi một hành động vật lý tương ứng của “tôi”, đó là “…lạnh tay lạnh chân/ Đứng trơ như đá/ Hồn bay vía bay”
Ví dụ 26:
Ê– mi – ly, con đi cùng cha Sau khôn lớn, con thuộc đường khỏi lạc …
- Đi đâu cha? (a)
- Ra bờ sông Pô – tô – mác
- Xem gì cha (b)
- Không, con ơi, chỉ có lầu ngũ giác
(Ê – mi – ly, con …)
- Về hình thức: Phát ngôn (26a) có sử dụng đại từ nghi vấn “đâu” – hỏi về
địa điểm
- Về điều kiện sử dụng hành động ở lời:
Trang 39+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là hành động hỏi của con (Ê – mi – ly ) với “cha” của mình
+ Điều kiện chuẩn bị: Ê – mi – ly không biết “cha” dẫn mình đi đâu và Ê –
mi – ly tin cha có thể trả lời cho mình
+ Điều kiện chân thành: Ê – mi – ly rất muốn biết cha sẽ dẫn mình đi đâu + Điều kiện căn bản: Ê – mi – ly thực hiện hành động hỏi với mong muốn
“cha” trả lời cho mình biết mình sẽ được cha dẫn đi đâu
- Hiệu quả ở lời của hành động: Mong muốn của Ê – mi – ly đã được thực hiện “Cha” đã trả lời cho thắc mắc, băn khoăn của Ê – mi – ly: “Ra bờ sông Pô – tô – mac”
Như vậy, hành động hỏi của Ê – mi – ly là một hành động hỏi trực tiếp
Ví dụ 27:
Đêm nằm hỏi mẹ: Cha đâu?
Mẹ rằng: Mau lớn, năm sau cha về…
(Chuyện em…) Cũng với cách phân tích tương tự dựa trên 4 điều kiện sử dụng hành động ở lời, có thể thấy hành động hỏi trên thỏa mãn các điều kiện hình thức và điều kiện sử dụng Vì vậy nó là hành động hỏi trực tiếp về nơi chốn
Ví dụ 28:
- Chú đồng chí Con ai thế nhỉ? (a) Tuổi mười hai đuổi bướm bắt chim
- Em ở đây, bên bác Lê – nin
- Người làm việc Cần em canh gác
- Cha em đâu? (b)
- Cha làm súng và đi liên lạc
- Và mẹ em? (c)
- Mẹ cùng anh nướng bánh, đưa đường
(Lều cỏ Lê – nin) Mặc dù hành động hỏi trên được tường thuật lại trong một “câu chuyện cũ” khi tác giả về thăm lều cỏ Lê – nin Nhưng theo chúng tôi, đây vẫn là một hành động hỏi trực tiếp vì nó đã thỏa mãn tất cả các điều kiện về hình thức và điều kiện
sử dụng hành động ở lời
Trang 40d Hành động hỏi trực tiếp trong thơ Tố Hữu sử dụng đại từ nghi vấn
“mấy”, “bao nhiêu” để hỏi về số lượng
Ví dụ 29:
Một nong tằm là năm nong kén Một nong kén là mấy nén tơ? (a) Nén tơ là mấy dòng thơ
Một dòng thơ, mấy ước mơ hỡi mình! (b)
(Tằm tơ Bảo Lộc)
- Về hình thức: Phát ngôn (29a), (29b) sử dụng đại từ nghi vấn “mấy” – hỏi
về số lượng
- Về điều kiện sử dụng hành động ở lời:
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Trong một lần về thăm lại Bảo Lộc, ngỡ ngàng trước “một vùng dâu mới” mọc lên ở nơi đây, tác giả – chủ thể trữ tình đã thốt lên câu hỏi này Như vậy đây là câu hỏi tác giả – chủ thể trữ tình băn khoăn tự hỏi chính mình
+ Điều kiện chuẩn bị: Tác giả – chủ thể trữ tình – người hỏi không biết một nong kén làm được mấy nén tơ Và nếu một “nén tơ” là “mấy dòng thơ” thì “một dòng thơ” như vậy chứa đựng “mấy ước mơ”
+ Điều kiện chân thành: Tác giả rất muốn biết điều đó
+ Điều kiện căn bản: Tác giả hỏi với mong muốn tìm được câu trả lời cho cảm xúc đang hiện hữu của bản thân mình
- Hiệu quả ở lời của hành động: Vì là tự hỏi để thỏa mãn cảm xúc của bản thân, nên hiệu quả ở lời đạt được của hành động hỏi này chính là “mấy dòng thơ” chứa chan cảm xúc của tác giả
Có thể nói, hành động hỏi (29a), (29b) dù là một lời tự hỏi và không có lời giải đáp rõ ràng nhưng theo chúng tôi nó vẫn là hành động hỏi trực tiếp vì nó đã thỏa mãn được các điều kiện sử dụng hình thức hỏi, đích ở lời riêng (hỏi để thỏa mãn cảm xúc) của nó
Ví dụ 30:
Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi?
Hai mươi
(Mẹ Tơm) Hành động hỏi trong ví dụ trên là một hành động hỏi trực tiếp vì nó đã thỏa mãn tất cả các điều kiện sử dụng hành động ở lời Hiệu quả ở lời của hành động hỏi:
“Tôi” đã được Nhiều trả lời “Em” nói rằng em đã “hai mươi”