Nghiên cứu về lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn còn góp phần truyền bá văn hóa lễ hội cho thế hệ trẻ thêm yêu quê hương, đất nước để có trách nhiệm gi
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới địa đầu của Việt Nam Lạng Sơn với phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ, có truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất chống giặc ngoại xâm
Lạng Sơn là vùng đất cộng cư lâu đời của nhiều dân tộc Từ thời nguyên thuỷ đã có con người sinh sống trong các hang động Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng Thời kỳ đồ đá dân cư đã đông đúc hơn ở trung tâm văn hoá Bắc Sơn, Mai Pha Hiện nay ở Lạng Sơn có các dân tộc người: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Sán Chay (Sán chỉ, Cao Lan), Hoa, Mông,Thái, Mường, Ngái, Lô Lô, Êđê, Sán dìu Họ có đời sống vật chất, tinh thần rất phong phú không ngừng cùng nhau phát huy bản sắc văn hóa của miền quê biên giới giàu truyền thống yêu quê hương, đất nước
Cao Lộc huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Đông – Bắc của tỉnh Lạng Sơn, là mảnh đất đã từng ghi lại nhiều chiến công hiển hách của dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giữ gìn từng tấc đất biên cương của tổ quốc với những chiến công lẫy lừng như hạ thành Khâu ôn, cửa Pha Luỹ (Hữu Nghị Quan) năm 1427 làm nên đại thắng Chi Lăng Tinh thần đại đoàn kết các dân tộc trong đấu tranh bảo vệ biên cương được ghi tại bia Thuỷ môn đình Đồng Đăng năm 1670
Cao Lộc, nơi quần tụ sinh sống của các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao Đồng bào Tày, Nùng có khá nhiều lễ hội, ví như lễ hội trong các dịp Tết Nguyên đán, Tết Thanh minh, Tết Trung thu, Tết Đoan ngọ Lễ hội Lồng Tồng là lễ hội tiêu biểu của đồng bào diễn ra vào sau Tết Nguyên đán hàng năm
Lễ hội Lồng Tồng thu hút hàng vạn người tham gia, trong đó có du khách thập phương của cả nước.Việc tìm hiểu về lễ hội Lồng Tồng của dân
Trang 2tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn là một việc làm cần thiết để góp phần giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị bản sắc văn hoá đặc sắc của dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn nói chung và Cao Lộc nói riêng Thông qua việc trình bày lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc giúp chúng ta hiểu rõ thêm về đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc trong quá khứ và hiện tại
Với những lý do trên tôi đã chọn vấn đề: “Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài nghiên cứu cho mình Hơn nữa là người dân tộc Tày được sinh ra và lớn lên, học tập công tác tại địa phương việc chọn đề tài này làm đề tài luận văn thạc sĩ còn giúp tôi thêm nhận thức và hiểu biết về tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa của cư dân nơi đây
Nghiên cứu về lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn còn góp phần truyền bá văn hóa lễ hội cho thế hệ trẻ thêm yêu quê hương, đất nước để có trách nhiệm giữ gìn, phát huy những tinh hoa, bản sắc văn hóa dân tộc, bài trừ mê tín dị đoan, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc trên đất nước Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu lễ hội không chỉ góp phần lý giải nhiều vấn đề khoa học
về những đặc điểm văn hoá tộc người Việt, về lịch sử và văn hoá làng xã, cũng như về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta mà còn góp phần tìm hiểu những tác động xã hội của lễ hội, những mặt tích cực cũng như những hạn chế qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Chính vì vậy nghiên cứu
lễ hội đã góp phần đắc lực cho hoạt động thực tiễn Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên từ lâu đề tài lễ hội được nhiều thế hệ học giả trong và ngoài nước lưu tâm
Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, lễ hội làng quê được ghi
chép trong các sách địa chí như: Đại Nam nhất thống chí, Sơn Tây tỉnh chí
Trang 3Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta, các học giả người Pháp đã có một số chuyên khảo về lễ hội như Une Fête religieuse annamite
au village de Phù Đổng của Đuymuchiê
Một số nhà nghiên cứu, nhà nho, nhà báo người Việt cũng công bố các
chuyên khảo có đề cập đến một phần hay toàn bộ lễ hội như "Việt nam phong tục" của Phan Kế Bính Hay các bài báo giới thiệu các lễ hội trên các báo
Phong hoá, Trung Bắc chủ nhật, Ngày nay
Tác giả Toan Ánh đã giới thiệu các hội hè làng quê miền Bắc trong
cuốn Nếp cũ - Hội hè đình đám (hai tập); Ngoài ra còn có các chuyên khảo về làng xã, phong tục, trong đó có đề cập đến lễ hội như Đất lề quê thói, Nếp cũ làng xóm Việt Nam
Ở miền Bắc, sau hòa bình lập lại các công trình đã xuất bản đề cập đến
nhiều vấn đề, trong đó liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lễ hội như: Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong, Thời đại Hùng Vương (nhiều tác giả), Mùa xuân và phong tục Việt Nam
Năm 1969, tác giả Cao Huy Đỉnh với Người anh hùng làng Gióng là
tác phẩm đầu tiên bàn sâu về lễ hội, lấy lễ hội làm đối tượng nghiên cứu qua
đó nhằm giải quyết về lý luận mối quan hệ giữa lễ hội, truyền thuyết và nền tảng xã hội trên quan điểm dân tộc học - lịch sử
Trong những năm 1972 - 1978, trên "Thông báo dân tộc học" và Tạp chí Dân tộc học đã công bố một số bài về lễ hội Tuy nhiên các đề tài này tập trung ở việc miêu tả lễ hội
Từ giữa thập kỷ 80 trở đi việc nghiên cứu lễ hội được chú trọng hơn; nhiều bài báo về lễ hội được đăng trên các Tạp chí Dân tộc học, Văn hoá nghệ thuật, Văn hoá dân gian (ra mắt năm 1984), đáng lưu ý là hai tác giả Đặng Văn Lung và Thu Linh với “Lễ hội truyền thống và hiện đại” Đây là chuyên luận đầu tiên bàn đến lý luận về mối quan hệ giữa lễ hội truyền thống và xã hội hiện đại Ngoài ra còn có các lễ hội ở các địa phương được giới thiệu trên
Trang 4các sách địa chí như: Địa chí Hà Bắc, Địa chí thành phố Hồ Chí Minh, Địa chí Minh Hải, Địa chí Vĩnh Phú, Văn hoá dân gian vùng đất Tổ
Từ năm 1988 đến nay, các chuyên khảo về lễ hội xuất hiện ngày càng nhiều như "Lễ hội dân gian Huế" (1988), "Hội hè Việt Nam" (1990), "Hội xứ Bắc" (1989), Bảo tàng di tích - lễ hội (1992)
Cho đến nay đề tài liên quan đến lễ hội Lồng Tồng nói chung một số
công trình nghiên cứu như: Phan Đăng Nhật "Lễ hội cổ truyền", NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1992 Đáng lưu ý có trang tác giả cho rằng: "Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hoá, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc"
và lễ hội "còn là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Việt Chúng đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút và thuyết phục mạnh mẽ nhất"
Trong cuốn Lễ hội Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2008 của các
tác giả Vũ Ngọc Khánh - Vũ Thuỵ An đã viết về "lễ hội Lồng Tồng ở huyện
Na Rì tỉnh Bắc Cạn" trong 3 trang (tr.197-199) các tác giả đã viết về địa điểm, nghi lễ cúng Thần nông và một số trò chơi, trò diễn trong lễ hội
Các tác giả Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sỹ Giáo, Lâm Bá Nam
với cuốn Lễ hội cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc,
Hà Nội, 1993 trong 9 trang (tr.42-50) các tác giả đã viết về "Hội xuống đồng (Hội Lồng Tổng)" "Đây là lễ hội truyền thống của cư dân nông nghiệp, một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc ở vùng Việt Bắc" Ngoài ra còn đề cập đến mục đích, nguồn gốc của lễ hội và nêu Lồng Tổng gồm 2 phần: Lễ và hội "ở đây phần nghi lễ thể hiện cái tinh thần và phần hội thể hiện
cái tinh hoa"
Cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam, NXb Văn hoá, Hà Nội của
Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ, 1976 trong 12 trang 178) các tác giả đã viết về "Hội Lồng Tồng: Những ngày hội xuân tiêu biểu
Trang 5(tr.167-của Việt Bắc" trong những trang này khi viết về hội Lồng Tồng các tác giả cũng đã trình bày về nguồn gốc của hội qua một số truyền thuyết ở Lạng Sơn,
ở Cao Bằng và đề cập đến một số nghi lễ và trò chơi trong ngày hội
Tác giả Hoàng Choóng với Hội Lồng Tồng, Tạp chí Dân tộc học, Hà
Nội, số 2, 1991 (tr.66-67) đã viết về "Hội Lồng Tồng ở Văn Lãng" trong đó
có trình bày về vị trí địa lý của huyện, từ đó nói về vị trí quan trọng của hội Lồng Tồng của người Tày, Nùng, tác giả còn trình bày ý nghĩa của nghi lễ cúng Thần nông và một số trò chơi trong lễ hội
Tác giả Lê Văn Kỳ trong Lễ hội nông nghiệp Việt Nam, NXB Văn hoá
dân tộc, Hà Nội, 2002 trong 7 trang (tr.161-167) đã viết về "Lễ hội Lồng Tồng của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc Việt Nam" và đã trình bày về thời gian, địa điểm mở hội, cách thức mở hội, những nghi lễ và các trò chơi dân gian của lễ hội cũng được tác giả trình bày khá cụ thể
Trong cuốn Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam, Viện dân tộc học,
NXB Hà Nội, 1992 của nhiều tác giả trong 9 trang (tr.302-310) nói đến "Lễ hội Lồng Tổng của cư dân Tày, Nùng" phần này đã trình bày về thời gian, cách thức tổ chức lễ hội, các nghi lễ và trò chơi trong lễ hội
Tác giả Hoàng Văn Páo với Lễ hội Lồng Tồng của người Tày bản Chu
xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn, NXB Văn hoá dân tộc, Hà
Nội-2002, tác giả đã trình bày sâu sắc về lễ hội Lồng Tồng của người Tày ở
xã Hưng Đạo huyện Bình Gia
Mặc dù có nhiều cuốn sách và các công trình nghiên cứu về lễ hội Lồng Tồng ở nhiều địa phương trên cả nước; nhưng riêng về Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn cho đến nay chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể, nên tôi chọn đề tài: "Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trang 63 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Mục đích chính là điều tra, miêu tả đầy đủ lễ
hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc Trên cơ sở đó đề cập đến vấn đề góp phần bảo lưu những giá trị truyền thống của lễ hội, đề xuất một số
ý kiến về việc bảo tồn, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong lễ hội Lồng Tồng
Qua việc nghiên cứu lễ hội Lồng Tồng sẽ hiểu rõ hơn về sắc thái văn hoá của dân tộc Tày, Nùng nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần xây dựng và quản lý lễ hội trong giai đoạn Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước hiện nay
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày,
Nùng ở
huyện Cao Lộc cũng như các yếu tố tín ngưỡng dân gian của các hoạt động
đó
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Về không gian, thời gian, địa điểm tổ
chức "Lễ hội Lồng Tồng" là ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Lễ hội diễn ra hàng năm vào tháng Giêng, ba (Âm lịch) ở trên các cánh đồng (hoặc đình làng nếu có)
- Nhiệm vụ của đề tài: Khái quát về kinh tế, văn hoá của huyện Cao
Lộc tỉnh Lạng Sơn, phục dựng lễ hội Lồng Tồng của huyện Cao Lộc đồng thời rút ra những giá trị và vai trò của lễ hội Lồng Tồng đối với cộng đồng các dân tộc ở Cao Lộc Thông qua đó đề cập tới những nét văn hóa lễ hội truyền thống và những nét văn hóa lễ hội đã đổi mới làm cơ sở đề xuất ý kiến về việc
kế thừa, bảo tồn, phát triển những mặt tích cực trong lễ hội Lồng Tồng
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng những nguồn tài liệu chính sau đây:
Trang 7- Tư liệu thành văn: Các tác phẩm, các công trình nghiên cứu khoa
học đã được công bố và đăng tải trên các báo, tạp chí, sách địa chí và nhiều ấn phẩm khác nhau của địa phương và trong nước
- Tư liệu điền dã: Là các thông tin thu thập được trong quá trình điều
tra, khảo sát thực tế tại địa phương, cũng như khai thác từ các nhân chứng Nguồn tư liệu này rất phong phú, tuy nhiên còn mang tính ước lệ thiếu tính khoa học chính xác Do đó khi sử dụng cần rất thận trọng, cần kiểm chứng và
xử lý một cách khoa học thì mới đủ sức tin cậy và sử dụng được
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tác giả sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, so sánh, tổng hợp kết hợp với phương pháp điền dã dân tộc, phương pháp thống kê để thực hiện đề tài luận văn
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu sâu về lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày , Nùng ở huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn trên cơ sở khai thác các nguồn tài liệu, các tài liệu này không chỉ giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về lễ hội truyền thống mà còn góp phần tìm hiểu về lễ hội hiện đại trong giai đoạn hiện nay
Luận văn bước đầu đưa ra những nét riêng của lễ hội Lồng Tồng ở Cao Lộc, đồng thời so sánh với lễ hội Lồng Tồng cũng của dân tộc Tày Nùng ở một vài huyện khác trong tỉnh
Luận văn trình bày một cách hệ thống về tiến trình tổ chức lễ hội từ đó rút ra được giá trị của lễ hội và vai trò của nó đối với việc xây dựng đời sống
xã hội hiện nay
Đề xuất một số ý kiến về việc kế thừa, bảo tồn, phát huy những mặt tích cực, hạn chế của lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở miền núi phía Bắc nói chung và ở dân tộc Tày,
Trang 8Nùng huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn nói riêng, đặc biệt là việc quản lý lễ hội
cổ truyền trong giai đoạn hiện nay
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận , tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương1: Khái quát về huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
Chương 2: Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày Nùng ở huyện Cao Lộc
tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Vai trò của lễ hội Lồng Tồng trong đời sống xã hội của các
dân tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn
Trang 9BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN CAO LỘC
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Cao Lộc
huyện Chi Lăng, chiều Nam Bắc dài 30 km, chiều Đông Tây dài 30 km
Cao Lộc có những địa danh nổi tiếng như: Cửa khẩu Hữu Nghị, thị trấn Đồng Đăng Phía Đông của huyện trập trùng dãy núi Công Sơn, Mẫu Sơn vừa hùng vĩ, vừa hiền hoà, khí hậu trong lành mát mẻ, nhiệt độ trung bình
C Điều đặc biệt là có Thành phố Lạng Sơn nằm giữa
lòng huyện Cao Lộc
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
lâm nghiệp là 51318,4ha; Đất lâm nghiệp: 3501,04ha; đất nông nghiệp: 4193,6ha; đất chuyên dùng 837,66ha Diện tích sông suối: 1036ha; diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 88,72ha Đất đai huyện Cao Lộc nhìn chung ít màu mỡ, ít thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Địa hình huyện Cao Lộc chia làm 4 phần khác nhau:
- Vùng có nhiều núi cao gồm các xã: Công Sơn, Mẫu Sơn, Đông Bắc
xã Gia Cát, Đông Nam xã Hải Yến, phía Nam Cao Lâu, Xuất Lễ Đỉnh cao nhất là Phia Mìa (Mè), Phia Giang cao 1541m, tiếp đến là các đỉnh Khau Kheo cao 811m, Chóp Chài cao 800m
Trang 11- Vùng địa hình đồi núi nhấp nhô có độ nghiêng dần về phía Bắc thuộc các xã: Hoà Cư, Thuỵ Hùng, Yên Trạch, Hợp Thành
-Vùng đồi bát úp, nón trũng thuộc các xã ven sông Kỳ Cùng và các suối lớn là các xã: Tân Liên, Gia Cát
-Vùng núi đất xen kẽ núi đá vôi có thung lũng lớn là các xã Hồng Phong, Bình Trung, Phú Xá
Khí hậu: Khí hậu các vùng cũng có sự khác biệt, giữa vùng núi Mẫu
Sơn và núi thấp khí hậu trung bình thường chênh lệch nhau vài độ Lượng mưa trên các triền núi cao vọt, trung bình hàng năm trên 2.500mm trong khi vùng núi thấp và vùng lân cận lại là một trong những nơi ít mưa ở Bắc Bộ
Hệ thống sông ngòi ở Cao Lộc gồm có sông Kì Cùng chảy qua bốn xã
Tân Liên, Gia Cát, Bình Trung thuộc địa bàn huyện Cao Lộc, dài 35km Ngoài ra có các suối lớn: Suối Bản Lề xã Xuất Lễ, bắt nguồn từ Mẫu Sơn chảy qua một số xã rồi chảy sang Trung Quốc, suối Khuổi Van ở Cao Lâu, suối Khuổi Tao ở Yên Trạch, suối Đồng Đăng bắt nguồn từ biên giới chảy ra gặp sông Kì Cùng, suối Bản Lìm bắt nguồn từ Mẫu Sơn chảy ra sông Kì Cùng, suối Khuổi Hái ở xã Hải Yến bắt nguồn từ Công Sơn
Theo đánh giá sơ bộ, tài nguyên khoáng sản ở Cao Lộc có chì, kẽm, quặng bôxit (nhôm), vàng sa khoáng ở sông Kì Cùng (xã Tân Liên, Gia Cát), suối khoáng ở xã Mẫu Sơn, cát xây dựng ở xã Gia Cát, Song Giáp, mỏ đá Hồng Phong ở xã Yên Trạch Có đất sét làm gạch ngói ở xã Hợp Thành Những tài nguyên này phần lớn đã và đang được khai thác Cao Lộc có diện tích 3/4 là đồi núi trên đó phần lớn là đồi núi trọc và rừng tái sinh
Diện tích rừng nguyên sinh còn lại rất ít ở vùng núi cao Công Sơn, Mẫu Sơn và một số xã giáp biên vẫn còn lâm sản gỗ quí như đinh, lim, lát, các sản vật nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân và một số động vật quí như sơn dương, hươu, nai, hoạ mi
Trang 121.1.3 Quá trình thay đổi địa giới hành chính của huyện Cao Lộc
“Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, địa danh Cao Lộc được sắp đặt thành một phủ, gọi là phủ Cao Lộc với tư cách là một đơn vị hành chính, có phủ lỵ đóng tại phố Kỳ Lừa Năm 1831, tức năm Minh Mạng thứ 12 (dưới triều đình nhà Nguyễn) khi tỉnh Lạng Sơn được thiết lập; phủ Cao Lộc được đổi thành châu Cao Lộc” [1; 9]
Huyện Cao Lộc ngày nay, trước kia thuộc các châu: Văn Uyên, Thoát Lãng, Lộc Bình, châu Ôn
Châu Văn Uyên gồm khu vực Đồng Đăng, Bảo Lâm, Bình Trung, Hồng Phong Châu Văn Uyên hiện nay là huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn
Châu Thoát Lãng gồm khu vực thị trấn huyện lỵ các xã Thuỵ Hùng, Hợp Thành, Hoà Cư
Châu Lộc Bình gồm các xã Tân Liên, Gia Cát, Cao Lâu, Xuất Lễ, Hải Yến, Mẫu Sơn, Công Sơn "Châu Lộc Bình đời Tây Sơn đổi làm Lộc Bằng; Đời Nguyễn đổi trở lại làm Lộc Bình ; Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) do phủ Tràng Khánh kiêm lý hiện nay là đất các huyện Lộc Bình và Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn" [7; 184]
Châu Ôn gồm các xã phía Nam huyện Yên Trạch, Xuân Long, Tân Thành "Châu Ôn - hiện nay là huyện Ôn Châu tỉnh Lạng Sơn" [7; 184]
Năm Minh Mệnh thứ 12(1831) khi Lạng Sơn được đặt thành tỉnh thì Cao Lộc được tách thành một đơn vị hành chính riêng, châu lỵ đóng tại phố
Kỳ Lừa, khi thực dân Pháp cai trị Lạng Sơn năm 1885 vẫn giữ nguyên châu Cao Lộc Trong quá trình cai trị thực dân Pháp đã nhiều lần thay đổi ranh giới hành chính Ví dụ năm 1887 và 1890 Cao Lộc bị chia tách và không tồn tại đơn vị hành chính cấp châu, huyện nhưng đến năm 1907 lại là một châu riêng
có 18 xã trong ba tổng (khi đó Lạng Sơn có tất cả 9 châu không có phủ):
- Tổng Cao Lộc có 5 xã : Cao Lộc, Xuất Lễ, Lục Yên, Hải Yến, Bình Tây
Trang 13Hơn 10 năm sau thì đất đai của Châu Cao Lộc đã mở rộng ra 22 xã ,
109 thôn đó là: Hoàng Đồng, Bình Tây, Mai Pha, Quảng Nhân, Lạc Nghiệp, Yên Trạch, Trinh Nữ, Quảng Trù, Chính Lũ, Vân Nùng, Vô Lậu, Lộc Dương, Hoài Viễn, Như Ngao, Hoàng Lam, Tầm Nguyên, Ngao Thị, Trùng Quý, Giang Thanh, Giang Hán, Thượng Lạc, Quảng Cư và năm phố ; Nghĩa là toàn
bộ thị xã Lạng Sơn bây giờ và một số xã giáp ranh
Tháng 8 năm 1839 thực dân Pháp lại ra quyết định đổi một số châu thành phủ “phủ Cao Lộc bao gồm 30 xã, 4 phố ở khu Kỳ Lừa và 3 phố ở xung quanh thành Lạng Sơn" [1; 10]
Tháng 9 năm 1925 thị xã Lạng Sơn được thành lập và Cao Lộc trở thành vành đai bao quanh thị xã huyện lỵ Cao Lộc vẫn đóng tại Kỳ Lừa
Sau năm 1945, huyện Cao Lộc có 17 đơn vị hành chính là thị xã Lạng Sơn và 16 xã
Tháng 8 năm 1977 Hội đồng Chính phủ quyết định phê chuẩn tách 4 xã của Cao Lộc là: Mai Pha, Quảng Lạc, Hoàng Đồng, Hợp Thành sáp nhập vào thị xã, cơ quan đầu não của huyện Cao Lộc một lần nữa lại đóng ở thị xã
Tháng 6 năm 1981, Thị trấn Đồng Đăng và 6 xã Hồng Phong, Phú Xá, Bình Trung, Bảo Lâm, Thuỵ Hùng A, Song Giáp của huyện Văn Lãng được sáp nhập vào huyện Cao Lộc; lúc này Cao Lộc có 20 xã và một thị trấn
Đặc điểm kinh tế chung của huyện Cao Lộc là mang đậm tính chất kinh
tế tự nhiên chậm phát triển, thuộc loại hình kinh tế truyền thống chủ yếu là
Trang 14nông- lâm kết hợp Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên phạm vi toàn huyện đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các hoạt động thương mại, dịch vụ đã đem lại nguồn thu căn bản Theo báo cáo của UBND huyện về tình hình năm 1997 trong cơ cấu tổng thu nhập nội huyện, tỉ trọng giá trị nông- lâm nghiệp là 63,38%, dich vụ là 23,3%, công nghiệp - xây dựng là 13,23%
Cao Lộc cũng là huyện có thế mạnh về cây hồi Diện tích hồi tươi năm
1997 có 2307ha, sản lượng hoa hồi tươi mỗi năm vài nghìn tấn, năm 1997 có 2.000 tấn, có năm được mùa như năm 1996 đạt trên 4.000 tấn Những năm gần đây năm nào huyện cũng có kế hoạch trồng mới ngoài việc thu lợi nhuận
từ hoa còn có tác dụng phủ xanh đất trống đồi trọc Đặc sản nổi tiếng thường được nhắc đến là quả hồng không hạt Bảo Lâm vừa ngọt, vừa giòn Đào Mẫu Sơn quả to má hồng Đã có đề tài nghiên cứu khoa học về giống hồng Bảo Lâm được Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Lạng Sơn chấp nhận
Mở rộng diện tích hồi, cây ăn quả, cây lấy gỗ và một số cây trồng khác chính là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Một số Dự án như dự
án 327, Dự án Việt - Đức, Dự án định canh, định cư đã được triển khai
Ngành du lịch và thương mại ngày càng phát triển Thương nghiệp quốc doanh cùng thương nghiệp tư nhân hoạt động hoà nhập với thị trường, từng bước đa dạng hoá mặt hàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất và đời sống nhân dân
Trung tâm thương mại dịch vụ của huyện chính là thị trấn Đồng Đăng Đây là chợ của thị trấn biên giới được hình thành từ lâu đời Các sạp hàng đủ chủng loại ở chợ bày bán trong tất cả các ngày đặc biệt ngày chợ phiên (ngày
5 và 10 Âm lịch hàng tháng) dân từ các thôn bản, từ miền xuôi đem các sản phẩm nông nghiệp, hàng mây tre, hoa hồi, cày, cuốc ra bán Chợ phiên ở đây có cả dân bên kia biên giới sang buôn bán hoặc thăm chợ
Chợ ở thị trấn Cao Lộc có phần nghèo nàn vì việc giao lưu kinh tế của nhân dân hầu hết diễn ra ở chợ Kỳ Lừa hoặc chợ Đông Kinh Ngoài ra Cao
Trang 15Lộc còn có chợ nhỏ ở km 16 Tân Thành, chợ Bản Ngà ở xã Gia Cát, chợ Ba Sơn cũng 5 ngày một phiên, khu chợ chưa được xây dựng kiên cố chỉ là những lều lán tạm bợ, riêng chợ Ba Sơn đã được hoàn thiện Xung quanh chợ
có trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, trường tiểu học, trạm y tế Vào mùa Xuân hàng năm có một phiên chợ hội để bà con các dân tộc trong và ngoài huyện đến giao lưu hàng hóa và vui chơi (chục năm về trước còn có cả ca hát) và cầu tài, cầu lộc
Cơ sở công nghiệp - thủ công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, sản phẩm chủ yếu là gạch ,vôi, cát, đá xây dựng, bàn ghế gỗ, mây tre đan Hàng năm cũng đem lại một số lợi nhuận đáng kể
Cao Lộc là huyện có đường giao thông tương đối thuận tiện; có đường
ô tô đi đến trụ sở uỷ ban nhân dân của tất cả các xã ; các con đường liên thôn bản cũng được chú ý mở mang để phục vụ người đi lại và giao lưu hàng hoá
Mạng lưới thông tin liên lạc ngày càng hiện đại hoá Từ năm 1992 Cao Lộc có hai đơn vị bưu điện trực thuộc bưu điện tỉnh, bưu điện thị trấn Cao Lộc phục vụ thị trấn và 15 xã Bưu điện Đồng Đăng phục vụ thị trấn Đồng Đăng và 5 xã xung quanh
Theo đà tiến triển chung của xã hội trong hơn 10 năm qua kinh tế của huyện đã có bước chuyển biến lớn Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện Tuy vậy mức sống của dân cư các vùng có sự chênh lệch lớn, ở nông thôn vùng sâu, vùng xa đặc biệt là vùng cao vẫn còn nhiều hộ đói nghèo nằm trong diện cứu trợ của Nhà nước
1.2.2 Đặc điểm văn hóa
Từ bao đời nay mảnh đất Cao Lộc vốn là quê hương sinh sống của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao Cư dân sống chủ yếu ở Cao Lộc
là dân tộc Tày, Nùng Mỗi dân tộc có số lượng đáng kể, trong đó đông hơn cả
là đồng bào Nùng chiếm 58,86% dân số theo thống kê năm 2009
Trang 16"Dân tộc Tày và Nùng, theo các kết quả nghiên cứu xa xưa vốn cùng nguồn gốc Người Tày còn có tên khác là "Cần slửa khao" - người áo trắng và người Nùng được gọi là "Cần slửa đăm" - người áo đen." [15; 51]
Người Nùng là một trong những dân tộc sinh sống lâu đời ở nước ta, cũng như ở huyện Cao Lộc, hầu như người Nùng có mặt ở tất cả các xã (trừ hai xã Công Sơn và Mẫu Sơn) Người Nùng gồm hai nhánh chính là Nùng Phàn Slình và Nùng Cháo Nùng Phàn Slình chủ yếu ở xã Hải Yến, Lộc Thanh Nùng Cháo chủ yếu ở Đồng Đăng, Tân Liên, Gia Cát, Bảo Lâm, Thuỵ Hùng Dân tộc Nùng đã sinh sống ở Cao Lộc từ rất lâu đời, một phần thuộc lớp cư dân bản địa, một phần di cư từ Trung Quốc sang Họ là cư dân nông nghiệp làm nương rẫy và ruộng nước, có nhiều kinh nghiệm làm ruộng bậc thang Người Nùng thích sống chung trong một gia đình có nhiều thế hệ Họ
có nền văn hoá phát triển sớm, đó là văn hoá Bắc Sơn, phong phú và đa dạng Văn hoá Nùng có nhiều nét tương đồng với văn hoá Tày, gọi chung là nền văn hoá Tày - Nùng
Dân số người Tày đứng thứ hai trong huyện, thuộc nhóm ngữ hệ Tày – Thái Giống như mọi dân tộc Tày của Việt Bắc nói chung và huyện Cao Lộc nói riêng, người Tày xưa có hai nguồn gốc chính: nguồn gốc từ người Tày cổ địa phương và người Tày lưu quan Người Tày cổ địa phương còn được gọi là Thổ dân, ở đây từ rất lâu đời Từ xa xưa họ vốn giỏi trồng lúa nước Nơi cư trú của người Tày thường là những vùng gần sông, suối, gần các nguồn nước, vùng trũng thuận tiện cho việc khai phá thành những đám ruộng Nguồn gốc thứ hai là dòng người Tày lưu quan (nghĩa là quan ở lại) Từ thế kỷ thứ XV, dưới thời Lê các quan lại người Kinh ở miền xuôi lên làm quan cai trị ở miền núi và trấn giữ biên ải Họ ở lại lấy vợ người Tày địa phương, nói tiếng Tày
và sống theo cách sống của người Tày Con cái của họ sinh ra mang họ mẹ và
tự nguyện lấy nguồn gốc dân tộc của mẹ Số binh lính người Kinh được triều đình phái lên đánh giặc ngoại xâm, trấn giữ những đồn binh biên ải rồi họ ở
Trang 17lại, lấy vợ người Tày địa phương Con cháu trở thành người Tày Người Tày lưu quan với người Tày địa phương trong quá trình chung sống đã đồng hóa một cách tự nhiên Ngày nay gọi chung là người Tày
Khi lên miền núi, dòng Tày lưu quan mang theo nền văn hóa miền xuôi hòa nhập vào nơi mình sinh sống Sau này nền văn hóa miền núi nói chung cũng chịu ảnh hưởng nhiều nền văn hóa miền xuôi Nhưng do điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, tình hình xã hội miền núi chi phối, người Tày vẫn giữ được những sắc thái riêng trong những phong tục tập quán dân tộc miền núi của riêng mình
Các dân tộc khác như Kinh, Hoa, Dao cũng có mặt trong huyện nhưng thưa thớt hơn dân tộc Nùng, Tày Họ cũng dễ hoà nhập với các dân tộc anh
em trong huyện và giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống, đặc biệt là dân tộc Dao
Do những đặc điểm tự nhiên và xã hội trong suốt quá trình lịch sử người Tày, Nùng ở Cao Lộc luôn sống cạnh nhau, hoà hợp đoàn kết, yêu thương gắn bó nên đã tạo ra nhiều mối quan hệ sâu sắc và tạo nên nhiều nét tương đồng về văn hoá Người Tày, Nùng đều ở trong khối dân tộc Bách Việt, cùng chung một hệ ngôn ngữ, một địa bàn cư trú, giống nhau về phương thức canh tác, kho tàng văn nghệ dân gian Tày, Nùng cũng thể hiện nhiều nét tương đồng
Người Tày, Nùng huyện Cao Lộc thường sống tập trung thành từng bản ở chân đồi, chân núi, ven sông, suối, gần những đám ruộng, nương mà họ
tự khai phá để dựa vào đó cho cuộc sống mưu sinh của dân tộc mình Từ xa xưa mỗi bản làng lớn đã có tới 20 nóc nhà, ngoài ra còn những chòm xóm nhỏ chỉ dăm nóc nhà, chủ yếu tách ra từ những gia đình lớn để làm ăn
Tên làng, tên bản của người Tày, Nùng Cao Lộc thường đặt theo tên đồi, núi, sông, suối, cánh đồng, ruộng, nương hoặc cây cổ thụ…gần nơi làng bản sinh sống Ngoài ra, họ còn có tục lấy tên người có công lao khai khẩn,
Trang 18mở mang đầu tiên cho làng được đặt thành tên làng để ghi nhớ công đức lập
ra một xóm mới
Người Tày, Nùng Cao Lộc sống định cư Làng bản người Tày, Nùng cũng giống nhau, họ biết dùng ngói lợp nhà, từ cấu trúc đến thiết kế có hai loại chính là nhà sàn và nhà đất trình tường, nguyên liệu dùng để làm nhà là
gỗ, lợp ngói máng, nhà thường có hai mái chính và cấu trúc sâu vào trong, nhà thông thường có ba gian Truyền thống người Tày, Nùng là ở nhà sàn Một số vùng làm nhà đất (nhà trình tường) chủ yếu là do thiếu gỗ, nhất là những gỗ quý, có độ bền, để làm nên những ngôi nhà sàn tồn tại hàng trăm năm Họ ở tập trung thành bản làng dưới chân hoặc lưng chừng núi
"Với nền kinh tế tự túc, tự cấp, mỗi dân tộc có kiểu trang phục riêng của mình, và nhìn qua bộ trang phục mang trên người có thể nhận biết được người đó thuộc loại dân tộc nào" [15; 166] Y phục dân tộc Tày, Nùng có tính thống nhất, được nhận biết qua giới tính, tuổi tác địa vị và địa phương Bộ quần áo được may từ vải bông do họ tự sản xuất từ khâu trồng bông, dệt vải, nhuộm màu chàm, cắt khâu thành quần áo Màu chàm của bộ quần áo dân tộc Tày, Nùng được gắn với truyền thống về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa Đồ trang sức thường là vòng đeo cổ, đeo tay, đeo chân, khuyên tai, xà tích bằng bạc Phụ nữ Nùng thường bịt răng vàng nhưng nay ít dần Người Tày, Nùng biết chế biến nhiều món ăn phong phú, bữa ăn của họ thường thổi cơm bằng gạo tẻ ăn với các món rau, măng, thịt, cá chế biến theo kiểu nấu, xào, luộc, kho Đặc biệt, ở Cao Lộc có món thịt lợn quay, vịt quay nổi tiếng Ngoài gạo tẻ còn có gạo nếp, ngô, khoai, sắn đó là những lương thực được đồng bào Tày, Nùng ưa dùng, ngoài ra còn có nhiều đặc sản mang bản sắc văn hoá ẩm thực Tày, Nùng như cơm lam, cốm, măng chua, phở chua, lợn quay, vịt quay, bữa ăn của họ thể hiện tính bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình
Trang 19Về văn hoá phi vật thể của đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc cũng có nhiều sắc thái độc đáo Người Tày, Nùng có chung một ngữ hệ, ngôn ngữ gần giống nhau và hiểu được tiếng nói của nhau Ngôn ngữ Tày, Nùng trong sáng, giản dị dễ hiểu
Văn học dân gian Tày, Nùng ở Cao Lộc đa dạng về thể loại, phong phú
về tác phẩm gồm các truyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, tục ngữ, ca dao, dân ca, đặc biệt các thể loại Sli, Lượn mang đậm tính dân tộc và được nhiều người ưa thích
Tín ngưỡng Tày, Nùng mang tính dân gian và bản địa rất cao Đồng bào Tày, Nùng luôn hướng niềm tin và tâm linh vào tổ tiên, vào các thần đất đai, sông núi, những danh nhân có công với dân với nước Tín ngưỡng phần lớn có xu thế hướng thiện, cầu phúc, trừ ác thông qua việc thờ cúng Tổ tiên, Thổ địa, Thành hoàng ở gia đình, làng bản, đình , miếu Các tôn giáo từ bên ngoài du nhập vào Cao Lộc như Nho, Lão nhưng đã được dân gian hoá rất nhiều và đồng bào chỉ tiếp thu những mặt tích cực của các đạo trên, phù hợp với đời sống tinh thần của dân tộc
Lễ hội của đồng bào Tày, Nùng rất phong phú, những lễ hội có tính chất toàn cộng đồng như: Tết Nguyên đán, Tết Thanh minh, Tết Trung thu, Tết Đoan ngọ, lễ hội Lồng Tồng là lễ hội tiêu biểu nhất của đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc diễn ra vào sau Tết Nguyên đán hàng năm
Một nét độc đáo của văn hoá Tày, Nùng là văn hoá hội chợ Chợ là nơi trao đổi hàng hoá, cũng là nơi để nam nữ thanh niên trao duyên, tỏ tình Những điệu Sli, Lượn trữ tình, thấm đẫm tâm hồn Tày, Nùng thường được hát trên các nẻo đường hội chợ, ngày nay sinh hoạt hội chợ được kế thừa và phát triển phong phú hơn với nhiều hình thức thương mại, du lịch và văn hoá Văn hoá Tày, Nùng là một nền văn hoá đặc sắc, có bề dày lịch sử từ Văn hoá Bắc Sơn đến Văn hoá Văn Lang - Âu Lạc, từ văn hoá chống đồng hoá thời Bắc thuộc đến văn hoá chống ngoại xâm thời độc lập - tự chủ mà đỉnh cao là văn
Trang 20hoá cách mạng do Đảng lãnh đạo Nền văn hoá Tày, Nùng ở Cao Lộc đã trở
thành một bộ phận không thể tách rời của văn hoá Việt Nam
Nhờ có đường lối chính sách dân tộc của Đảng và chính phủ đời sống văn hoá xã hội của nhân dân các dân tộc huyện Cao Lộc được đổi thay và phát triển Các thủ tục lạc hậu đã và đang được thay thế bằng nếp sống văn hoá mới các hình thức văn hóa tinh thần như phim ảnh, văn nghệ có nội dung lành mạnh thường xuyên được lưu hành rộng rãi tới đông đảo nhân dân các dân tộc Hoạt động thể dụng thể thao truyền thống và hiện đại từng bước được
phát huy phổ cập làm cho đời sống ngày càng thêm phong phú và phát triển
Cùng chung với nhân dân các dân tộc Lạng Sơn, trên mảnh đất biên cương của Tổ quốc, bao thế hệ người con của Cao Lộc đã anh dũng chống giặc ngoại xâm Ải Phia Luỹ (Đồng Đăng) là một địa danh lịch sử tiêu biểu
đã từng ghi nhận nhiều chiến công oanh liệt của dân tộc Việt Nam
Cao Lộc có các di tích lịch sử và lễ hội như: Di tích khu kháng chiến
Ba Sơn (1946- 1950), di tích ga Tam Lung xã Thuỵ Hùng nơi đồng chí Hoàng Văn Thụ hoạt động trong những năm 1930, di tích pháo đài Đồng Đăng nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp xâm lược, di tích bia Thuỷ Môn Đình ở đầu thị trấn Đồng Đăng được dựng năm 1670 ghi công Hữu đô đốc thao quận công Nguyễn Đình Lộc, di tích tôn giáo và thắng cảnh đền Mẫu Đồng Đăng được xây dựng từ thời Hậu Lê (Ghi trong bia đá phía sau đền) và chùa Bắc Nga xã Gia Cát có từ cuối thế kỷ XVI thờ tiên sau đó chuyển sang thờ Phật
- Giáo dục: Sau thời kì đầy khó khăn của những năm 1990 – 1994
(giáo viên bỏ nghề, học sinh bỏ học), ngành giáo dục huyện đã được củng cố
từ chất lượng tới cơ sở vật chất của nhà trường Cho đến năm học 1996-1997
cả huyện có một trường phổ thông trung học gồm 14 lớp, 630 học sinh, 22 giáo viên & trường THCS gồm 861 lớp, 2.500 học sinh, 15 trường tiểu học gồm 437 lớp, 12.649 học sinh
Trang 21- Y tế: Tới nay cả huyện có một bệnh viện đa khoa với 30 giường bệnh,
8 trạm y tế xã, tính trung bình 1 vạn dân có 4,55 giường bệnh, 1,16 bác sĩ hàng năm bình quân khám chữa bệnh cho trên 16 ngàn lượt người Các chương trình tiêm chủng mở rộng, kế hoạch dân số được triển khai lồng ghép tới từng thôn bản, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,08%
1.2.3 Tiểu kết chương 1
Cao Lộc là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lạng Sơn Là một huyện nằm ở gần Thành phố Lạng Sơn và giáp với biên giới nước bạn Trung Quốc, có những địa danh nổi tiếng như: Cửa khẩu Hữu Nghị, thị trấn Đồng Đăng, có dãy núi Công Sơn, Mẫu Sơn Với những lý do
đó huyện Cao Lộc có rất nhiều tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế - văn hoá
- xã hội Cửa khẩu Hữu Nghị và thị trấn Đồng Đăng là những nơi có vị trí địa
lý, đầu mối giao thông thuận tiện để thông thương giao lưu với nước bạn Trung Quốc, với vị trí rất quan trọng cả về chính trị và kinh tế nên Đồng Đăng sớm phát triển thành đô thị, trung tâm thương mại của huyện
Cao Lộc còn nổi danh với truyền thống chống giặc ngoại xâm, bảo vệ biên cương vùng Đông Bắc tổ quốc Với tinh thần yêu nước nồng nàn, ý thức độc lập tự chủ kiên cường, nhân dân các dân tộc Cao Lộc đã lập nhiều chiến công vẻ vang góp phần đáng kể vào công cuộc bảo vệ giữ vững bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc
Cao Lộc cũng là huyện biên giới vốn có lịch sử văn hoá lâu đời với những thay đổi nhiều lần về địa giới hành chính Huyện còn là nơi quần tụ sinh sống của nhiều dân tộc anh em như: Dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa Các dân tộc anh em trong huyện có nhiều ngôn ngữ và phong tục tập quán khác nhau, tuy nhiên đồng bào các dân tộc luôn luôn duy trì ý thức tôn trọng phong tục tập quán của nhau
Hàng năm cứ đến tháng giêng huyện Cao Lộc còn tổ chức rất nhiều lễ hội đó là những lễ hội có nguồn gốc từ rất xa xưa đến nay vẫn được lưu giữ,
Trang 22được huyện quan tâm chỉ đạo tổ chức thường xuyên không những thu hút nhân dân trong huyện mà còn thu hút du khách thập phương như: Lễ hội đền Mẫu Đồng Đăng (10/Giêng ÂL), lễ hội chùa Bắc Nga (15/Giêng ÂL), lễ hội Tồng bản Dạt (9/Giêng ÂL), lễ hội Tồng bản Riềng xã Hải Yến (28/Giêng ÂL) đặc biệt nổi bật là lễ hội Lồng Tồng
Trang 23
CHƯƠNG 2
LỄ HỘI LỒNG TỒNG CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG
Ở HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Khái niệm lễ hội và thuật ngữ " Lồng Tồng "
Đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn chủ yếu sinh sống dựa vào nghề nông là chính Nông nghiệp lại phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều
Vì vậy việc cầu mong cho mùa màng được tốt tươi là nguyện vọng tha thiết của họ, chính vì vậy từ xa xưa họ tin vào các vị thần linh, mong được thần linh phù hộ Trời có cho mưa thuận gió hoà thì mùa màng mới tốt tươi, nhân dân mới no ấm, do vậy ngoài việc thờ thần thánh, tin tưởng vào sức mạnh của thần linh thì ngoài việc thờ cúng đồng bào Tày, Nùng còn tổ chức những nghi
lễ để cầu mưa, cầu phúc, cầu lành
Đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc hàng năm tổ chức lễ hội Lồng Tồng vào sau Tết Nguyên đán, đây chính là nghi lễ nông nghiệp cổ xưa của họ Theo nhiều nhà nghiên cứu, lễ hội của người Việt cổ xuất hiện từ thời sơ sử, dấu vết của nó được tìm thấy ở các hình chạm khắc trên các mặt, tang trống đồng, thạp đồng thời Văn hóa Đông Sơn (thời các vua Hùng), đó là hình ảnh của những đám rước, hình ảnh giã gạo vui chơi nhảy múa Những hình ảnh
đó khiến cho ta hình dung được về lễ hội thời sơ sử, đó là lễ hội nông nghiệp của cư dân Việt cổ Lễ hội này xuất hiện từ rất sớm Tuy trải qua ngàn năm Bắc thuộc và các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, lễ hội này vẫn tồn tại đến ngày nay với những tín ngưỡng mang đậm bản sắc dân tộc
Lễ hội của người Việt cũng như của nhiều dân tộc anh em là một bộ phận của văn hoá Việt Nam Lễ hội đã trở thành truyền thống từ lâu đời của thôn quê Việt Nam, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, lễ hội đã đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân trước tiên là nhu cầu về tín ngưỡng tôn giáo
Trang 24Thuật ngữ lễ hội cho đến nay đã được các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách gọi và giải thích khác nhau Nó có thể là "hội lễ" [30], hay "hội hè" hoặc
"hội hè đình đám" [53] Khi nghiên cứu những đặc tính và ý nghĩa của lễ hội
ở nước Nga, M.Bachie cho rằng:
Thực chất, lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu như chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng , vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu
Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiệu, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả [21; 23]
Xem xét tính tất yếu và ý nghĩa của lễ hội Nhật Bản, Giáo sư Kurahayashi viết: "Xét về tính chất xã hội, lễ hội là quảng trường của tâm hồn; Xét về tính chất văn hoá, lễ hội là cái nôi sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật như mỹ thuật, nghệ thuật giải trí, kịch văn hoá và với ý nghĩa đó, lễ hội tồn tại và có liên quan mật thiết với sự phát triển của văn hoá" [21; 23-24] Nhưng những cách diễn đạt đó đều thống nhất với nội dung: "Lễ hội là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng" [69; 18]
Ở Việt Nam, lễ hội là khái niệm chỉ mới xuất hiện khoảng hơn chục năm trở lại đây Trước đó chỉ có khái niệm lễ hoặc hội Cả hai khái niệm lễ và hội đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục
Lễ hội là sinh hoạt tập thể, là hoạt động tinh thần của cộng đồng Dân tộc nào cũng có lễ hội riêng của dân tộc mình, các dân tộc khác nhau có lễ hội khác nhau Lễ hội của các dân tộc thường là sự phản ánh nhận thức liên quan đến tập quán sản xuất,
đến các hoạt động tập thể của cộng đồng Cư dân trồng trọt thường tổ chức nhiều lễ hội liên quan đến gieo trồng, đến cầu mùa, đến thu hoạch Cư dân
Trang 25sống chủ yếu bằng nghề săn bắn và hái lượm thường tổ chức các lễ hội hoá trang, các động tác tượng trưng cho pháp thuật săn bắn, các hình tượng tượng trưng cho việc săn bắn kết quả Lễ hội còn là dịp để nhớ về lịch sử, nhớ về cội nguồn của dân tộc, lễ hội được tổ chức có thể gắn với các danh lam thắng cảnh, các truyền thuyết liên quan đến sự hình thành, phát triển phồn vinh của vùng quê, người đi lễ hội vừa là để thay đổi không khí cuộc sống là dịp gặp
gỡ vui vẻ, là dịp tìm tòi sự may mắn qua nguyện ước thắp hương ở nơi dự lễ
Lễ hội còn là thời điểm linh thiêng để làng xã, thôn, bản tổ chức, huy động các thành viên trong cộng đồng thôn bản phát động một mùa sản xuất mới Trong diễn trình phát triển của mình, lễ hội Lồng Tồng của Dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc đã chịu những ảnh hưởng và chịu những tác động qua lại của phong tục dân tộc Tày, Nùng địa phương, những phong tục đó đã trở thành cơ
sở, nền tảng cho lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc tồn tại
và phát triển một cách bền vững, nếu nhìn từ góc độ văn hóa dân gian thì lễ hội Lồng Tồng là một bộ phận của phong tục, nếp sống văn hoá truyền thống của dân tộc Tày, Nùng Lễ hội được xem là hoạt động tín ngưỡng, cầu trời cho mưa thuận gió hoà, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no Ngày lễ hội Lồng Tồng cũng chính là dịp để họ hàng và bè bạn gần xa tới thăm hỏi chúc tụng nhau, mời nhau ăn uống Mùa lễ hội là mùa vui của tất cả mọi người dân trong bản từ cụ già đến em nhỏ đều háo hức lễ hội để họ có dịp diện những bộ quần áo mới nhất đi chơi hội và được xem những trò vui, trò diễn trong lễ hội Trong lễ hội bao gồm hai phần chính là lễ và hội:
-"Lễ" trước hết được hiểu là nghi thức, là mở đầu cho hội làng "Lễ là những nghi thức nhằm đánh dấu kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó" [6; 450] Theo quan niệm của Khổng Tử (người sáng lập ra Nho giáo) khi ông nói về lễ (bàn trong Lễ - Nhạc) thì lễ trước hết là trật tự, nhạc là sự hài hòa
Trang 26Lễ mang ý nghĩa là mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên
và xã hội Lễ vốn là phép ứng xử văn hoá, trong ứng xử xã hội, bao gồm ứng
xử giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng và ngược lại, giữa các thiết chế nhỏ trong cộng đồng lớn với nhau Thường được bắt đầu và phải bắt đầu từ lễ, tức là từ nghi thức trước khi đi vào một nội dung giữa hai quan hệ hoặc các quan hệ trong xã hội Từ những nghi thức mang tính xã giao đời thường là lễ, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thân, sơ dần dần được "thiêng hóa" để trở thành những nghi lễ mang tính tôn giáo, về sau chúng trở thành những nghi thức mở đầu cho lễ hội Các nghi thức của lễ toát lên sự cầu mong các vị thần linh đem đến cho họ mùa màng bội thu, cuộc sống hạnh phúc, thanh bình có thể nói "lễ là phần đạo, tâm linh của cộng đồng" [28; 12] Lễ là linh hồn của lễ hội Tuy nhiên, lễ không thể trở thành hội nếu nó chỉ gồm những nghi thức xã hội, nhất là nghi thức tôn giáo, trong sinh hoạt tôn giáo cũng có rất nhiều thứ lễ chẳng hạn: trong các làng xã người Việt trước đây một năm có đến hàng chục thứ lễ như lễ cầu mưa, lễ hạ điền, thượng điền, lễ cơm mới Mặc dù là những nghi thức được chuẩn bị chu đáo
và thực hiện nghiêm túc với sự tham gia của nhiều người, nhưng đó chỉ là lễ, chưa phải là hội
-"Hội" trước hết là những hoạt động, những trò diễn thường có tính lễ nghi theo một khuôn mẫu mang tính ổn định với sự tham gia của một khối đông người có tính cộng đồng cao Tuy nhiên phải là những hoạt động tiếp theo lễ hoặc đan xen với lễ có những đặc điểm vừa nêu mới trở thành hội của
lễ, sau đó mới trở thành lễ hội Nói một cách khác, hội là các hoạt động, các trò diễn có tính lễ nghi, có nhiệm vụ bổ xung cho lễ, hoàn chỉnh ý nghĩa và nội dung của một sinh hoạt cộng đồng vào thời điểm đó và tại những nơi thờ Chẳng hạn ở hội Tam Thanh ở Thành phố Lạng Sơn sau phần tế lễ là đến phần hội với các trò chơi như ném còn, kéo co các trò chơi trong phần hội này đã góp phần bổ sung cho lễ và trở thành lễ hội Tam Thanh
Trang 27Như vậy "hội là cuộc vui cho đông đảo người dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt" [9; 43] Hội bao gồm các yếu tố: Được tổ chức nhân một dịp quan trọng liên quan đến cộng đồng nhằm đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng; Có nhiều trò vui [13; 13] như vậy hội là từ dùng
để chỉ thành phần ngoài lễ của những ngày kỷ niệm linh thiêng từ quy mô cộng đồng làng bản trở lên Do hội là thành phần ngoài lễ nên khi cuộc lễ nào không có hội kèm theo đều không phải là hội
Có thể nói lễ và hội là một thể thống nhất không thể chia tách trong hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo của con người Lễ là phần "đạo", phần tín ngưỡng, phần thế giới tâm linh sâu lắng của con người, là cơ sở để mọi người vui hội Còn hội là tập hợp các trò diễn có tính lễ thức, các cuộc vui chơi, giải trí tại một địa điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn giáo hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hoá thường nhật và một phần đời của một cá nhân và cả cộng đồng nhân kỷ niệm một sự kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội Không khí vui vẻ, tưng bừng mang đậm màu sắc tôn giáo nguyên thuỷ của hội lại là biểu hiện cho sự thành công của lễ Hội làm cho lễ càng thêm trang trọng, uy nghiêm và thần bí hơn, cấu thành lễ hội Không có lễ hội nào có thể thiếu một trong hai thành phần
đó
Cha ông ta xưa cũng có sự phân biệt khá chính xác về lễ hội, căn cứ vào quy mô tổ chức, vào cả đặc điểm của lễ thức, vào thánh tích Những năm mùa màng thất bát hoặc bình thường, cha ông ta chỉ có "lệ tiệc" tức là chỉ tổ chức tế lễ, có khi chỉ làm lễ dâng hương lên thần Vào những năm "phong đăng hoà cốc" cha ông ta mới tổ chức "đại đám" hay "mở hội" có rước xách
và các trò diễn với quy mô lớn Cũng có nhiều làng thuộc diện "dân tiểu xã và mọn", thánh tích không rõ ràng hoặc không có công tích nổi bật, lễ thức không có gì đặc sắc thì các cụ cũng chỉ gọi là "lễ tiệc", ngay cả vào những
Trang 28năm được mùa Trong xã hội nông thôn truyền thống ở nước ta lễ và hội thường thâm nhập, đan cài vào nhau
Để một "lễ" trở thành một "lễ hội" thường phải có những yếu tố sau:
- Những lễ nghi theo một "nghi trình" hay "kịch bản" ổn định phần biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ, cũng như thái độ của những người hành
vô số các trò vui được trao truyền từ thế hệ nọ sang thế hệ kia
Như vậy dù dưới góc độ nào thì lễ hội cũng là một loại hình văn hoá hay đúng hơn là một loại sinh hoạt văn hoá cộng đồng phản ánh các giá trị xã hội như giá trị vật chất, giá trị tinh thần, hay cụ thể hơn là giá trị kinh tế, giá trị tâm linh, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ Sức sống lâu bền của các lễ hội cũng chính ở các giá trị xã hội cơ bản đó
Lễ hội Lồng Tồng ở huyện Cao Lộc là nghi lễ nông nghiệp cổ xưa của đồng bào Tày, Nùng Đây là lễ hội nhằm kết thúc vụ mùa cũ và mở đầu cho một vụ mùa mới với mong ước các vị Thần linh phù hộ cho dân bản một năm mới mùa màng bội thu nhân dân được no đủ Hàng năm sau Tết Nguyên đán, đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc lại tổ chức lễ hội Lồng Tồng để báo công với Thần linh và tạ ơn các vị thần thổ địa, Thần nông, Thành hoàng đã phù hộ cho
họ có cuộc sống ngày càng no đủ đồng thời tổ chức lễ hội để mọi người được thưởng thức những trò vui, trò diễn, quên đi những vất vả của một năm cũ đón chào một năm mới với đầy niềm vui và mọi sự may mắn
Thuật ngữ Lồng Tồng: Thuật ngữ Lồng Tồng với nghĩa xuống đồng có
lẽ được sử dụng lần đầu tiên trong tập công trình "Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)" của các tác giả thuộc Viện dân tộc học (1978) Lồng
Trang 29Tồng là tên lễ hội nông nghiệp của đồng bào Tày, Nùng trên đất nước ta Tùy từng địa phương mà người ta có những cách gọi khác nhau, có thể là "lồng tồng", "lồng tổng", "lồng thổng" hay "lùng tùng" đều là một Đó là do cách phát âm của người Tày, Nùng ở cùng địa phương ngữ nghĩa của nó không có
gì thay đổi Theo tiếng Tày, Nùng, "lồng" nghĩa là "xuống", "tồng" nghĩa là
"đồng", lễ hội Lồng Tồng của các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc là lễ hội
"xuống đồng", cầu thần núi, thần sông, cầu trời, cầu Phật cho mưa thuận, gió hoà để mùa màng bội thu Đây là nét sinh hoạt văn hoá tinh thần mang tính cộng đồng sâu sắc của đồng bào dân tộc Ban đầu Lồng Tồng chỉ là lễ hội của riêng người Tày cư trú trên mọi miền đất nước chứ chưa có người Nùng tham gia Về sau do hoàn cảnh sống, do quá trình di cư nên nhiều nơi người Tày sống pha trộn với người Nùng cùng các tộc người khác và lễ hội Lồng Tồng
đã trở thành lễ hội truyền thống của người Tày, Nùng Thuật ngữ Lồng Tồng được bắt nguồn từ ba yếu tố sau:
Thứ nhất: Ngôi nhà của người Tày, Nùng thường tựa lưng vào núi nhìn
ra đồng ruộng, nhà thường cao hơn ruộng nên họ phải "xuống đồng"
Thứ hai: Đây là lễ hội cầu mùa, cầu cho mưa thuận gió hoà để thuận tiện sản xuất gieo trồng Hoạt động chính của lễ hội được diễn ra trên đồng ruộng nơi họ vừa thu hoạch xong
Thứ ba: Lễ hội Lồng Tồng với ý nghĩa "xuống đồng" diễn ra hàng năm với mục đích chính là cầu mong cho sản xuất phát triển, mùa màng bội thu, nhân dân được no ấm, hạnh phúc
Ngày xưa, người Tày hiểu biết khoa học và kỹ thuật trồng trọt còn nhiều hạn chế Khi lúa bị sâu cắn, người ta bảo thần trùng đạo ôn làm hại Khi lúa trỗ bông kém, hạt thóc không chắc mẩy, người ta bảo thần quở phạt Thần nơi đây là thần nông, một vị thần cai quản ruộng đồng, mùa màng, cai quản làng bản, gia súc Muốn được một vụ mùa phong thu, hàng năm người ta có
Trang 30tục lệ cúng thần nông để cầu thần phù hộ Lễ này gọi là lễ Lồng Tồng [16; 189-190]
Vì vậy, lễ hội Lồng Tồng được tổ chức vào mùa Xuân hàng năm và bắt đầu từ sau Tết Nguyên đán, đây là thời điểm mọi việc đồng áng đã xong, mọi nhà đều no đủ sau một năm làm ăn vất vả và có thời gian rảnh rỗi cho lễ hội,
do đó đây là lúc thích hợp nhất để tổ chức lễ hội Lồng Tồng đồng thời kết thúc vụ mùa cũng là thời điểm bắt đầu vụ mùa mới, trước khi gieo trồng nhân dân thường có quan niệm cầu xin thánh thần phù hộ cho cây trồng ít sâu bệnh, khí hậu ôn hoà, mùa màng bội thu Mặt khác mùa Xuân cũng là mùa của cây trái đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa kết trái, mùa xuân biểu hiện cho sức mạnh tiềm ẩn của thiên nhiên mang một sức sống mãnh liệt Theo quan niệm dân gian một sự khởi đầu tốt sẽ đem lại sự may mắn cho cả năm Vì vậy lễ hội Lồng Tồng tổ chức vào mùa Xuân để cầu mong thánh thần phù hộ cho mùa màng bội thu sẽ mang đến sự may mắn, no đủ, hạnh phúc cho con người trong
ở các địa phương vùng Tây Bắc, Việt Bắc nước ta nói chung và ở Cao Lộc nói riêng
Hội là ngày lễ cầu an cho toàn thể cộng đồng làng bản tuỳ theo từng địa phương mà hội Lồng Tồng được tổ chức vào một ngày nhất định Nguồn gốc của lễ hội này khá đa dạng được lưu truyền qua những truyền thuyết như:
Trang 31Theo truyền thuyết ở Cao Lộc về hội Lồng Tồng: "Ngày xưa có ông cụ người Tày tên là Hoàng Riện Mạc người to lớn, sức khoẻ phi thường Cụ cần
cù lao động, cày bừa rất giỏi, mỗi khi bừa ruộng cụ báo cho con cháu cứ việc cấy theo, khi bừa xong, cụ buộc đôi trâu đeo vào vai rồi bước qua ruộng mới cấy về nhà để trâu khỏi dẫm vào mạ mới cấy Một hôm cụ sang chợ biên giới mua gạo trở về thì gặp một toán cướp đón đường cướp của Cụ bình tĩnh đặt gánh gạo xuống, cắm một đầu đòn gánh sâu xuống đất rồi bảo bọn cướp, nếu chúng nhổ được chiếc đòn gánh lên, cụ sẽ biếu không gánh gạo Bọn cướp hì hục mãi không nhổ chiếc đòn gánh lên được, bèn hoảng sợ bỏ chạy Từ đấy chúng không dám quấy nhiễu dân vùng ấy nữa Một ngày kia cụ Mạc đi mất tích, chỉ để lại phiến đá mài mà mọi khi đi rừng cụ thường bỏ vào một chiếc giỏ đeo ngang lưng Nhân dân nhớ ơn lập miếu thờ và hàng năm cứ đến mồng
10 tháng Giêng Âm lịch thì mở hội Lồng Tồng để cầu cho mùa màng ở cánh đồng Bản Mạc được tốt tươi [41; 18-19]
Truyền thuyết ở thôn Nà Phái, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định (Lạng Sơn) kể rằng: "Một năm thời tiết khô hạn, cỏ cây khô héo, cánh đồng Thất Khê xơ xác, chỉ còn lại đập Phai Lâu, Phai Nạn là có nước Đêm mùng 3 tháng 8 Âm lịch, tự nhiên trời oi bức đến nỗi không ai ngủ được, có hai ông ở làng Nà Phúc rủ nhau ra Bủng Kham bắt cá Sau hai giờ mò lặn chẳng bắt được con cá nào cả, đến lúc sắp ra về mới bắt được một con cá chép đỏ chót bằng ba đến bốn ngón tay đem về rán ăn chung ở một nhà Khi rán, con cá cứ giãn dần ra to gấp đôi rồi gấp ba đầy cả đĩa to Ăn xong cả nhà đi ngủ, đến 3 giờ sáng tự nhiên mây đen kéo đến bủa vây mù mịt, sấm chớp ầm ầm rung chuyển trời đất Rồi trời đổ mưa liên tục như trút nước Đến sáng, một cơn thác lũ cao ngập đầu người cuồn cuộn tràn về, làm đổ cả hàng rào vườn tược, cây cối, làng mạc Một nửa cánh đồng Thất Khê bị ngập mênh mông Cây cối, bùn, đất, đá theo lũ ùn ùn kéo về làm sập cả cầu Sủi Ngàn và san phẳng cả nhà máy sát gạo của Doòng Slam ở đó Trận lũ hung dữ đến vậy mà các làng
Trang 32bị ngập vẫn bình an, chỉ cuốn trôi hai nóc nhà của hai ông bắt cá chép ở Bủng Kham hôm trước, cả nhà họ chết trôi gần hết, thân xác khó thu lượm, chỉ những người ngủ say không ăn cá còn sống sót Từ trận lũ khủng khiếp đó trở
đi, Bủng Kham lại càng huyền bí hơn Dân làng cho là thần trời, thần đất, thần nước đã tụ tập ở đây Nhiều gia đình khó nuôi con đã đem bát tự của con đến
ký thác vào mỏm đá để thần tiên nuôi dưỡng Cứ vào ngày mùng bốn tháng Giêng Âm lịch hàng năm, đồng bào các dân tộc vùng cánh đồng Thất Khê lại đến Bủng Kham cúng bái cầu an - từ đó hình thành lễ hội Thổng Bủng Kham" [20; 33-34]
Truyền thuyết ở vùng Quảng Yên (Cao Bằng) thì kể rằng: "Ngày xưa
có đôi trai tài gái sắc người Nùng tên là anh Minh và cô Xinh Hai người yêu nhau tha thiết và đều có giọng hát hay nổi tiếng Một hôm hai người hát đối đáp với nhau ở cánh đồng xã Ngọc Động, họ hát hay quá đến nỗi người nghe kéo đến đông nghịt cả cánh đồng, người nghe chen chúc nhau trèo lên một tảng đá lớn để chiêm ngưỡng họ, làm đổ tảng đá, mạch nước ở dưới trào lên tưới mát cả cánh đồng Hang Thoong trước kia khô cạn Thời đó có tên quan lang hung ác, tìm mọi cách phá vỡ tình duyên ấy, để hỏi cô Xinh cho con trai mình Thất vọng vì tình duyên bị chia rẽ, cô Xinh và anh Minh phải nhày xuống hốc đá tự tử ở cánh đồng Fja Cháng Tự nhiên nước ở hốc đá trào lên tưới khắp cánh đồng Fja Cháng cũng đang bị khô cạn Nhân dân hai xã Khôn Đoài và Ngọc Động nhớ ơn họ, lập đền thờ và hàng năm mở hội Lồng Tồng vào dịp Tết Thanh Minh để cầu mùa và tưởng nhớ họ" [41; 19]
Truyền thuyết ở làng Bản Dạt (xã Hồng Phong, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn) lại kể rằng: "Ngày xưa có một mảnh sao băng rơi xuống cánh đồng Còn Khoang, thuộc làng Bản Dạt sáng rực cả một góc trời Tương truyền ở đây xuất hiện một bà tiên tên là Già Ho, ngày một tháng Giêng Âm lịch thường đến xin bánh của dân làng Già Ho xuất hiện cùng một lúc ở nhiều nơi
và có nhiều phép lạ Cho nên dân làng tôn bà là Thành hoàng, xây dựng đình
Trang 33trùm lên tảng đá sao băng ấy Trước đây cứ đến ngày mồng một tháng Giêng
vào ngày mồng 9 tháng Giêng Âm lịch để cầu mùa màng bội thu" [10; 37]
Theo truyền thuyết ở bản Còn Chả, thôn Bản Mòng (Lộc Bình, Lạng Sơn) thì: "Ngày xưa có một người tên là Đinh Luận Nghiêm bắt được trứng rắn đem về ấp, nở ra một con rắn con Một hôm con rắn này đi theo chủ, bị một nhát cuốc chặt cụt mất một khúc đuôi, nhưng nó cứ lớn dần lên Sau chủ
nó đem thả xuống sông Kỳ Cùng Con rắn này thành thần, thường giúp dân làng làm mưa gió khi có nắng hạn kéo dài nên được thờ làm thần Thành Hoàng ở bản Còn Chả Miếu thờ xây trên bờ sông Kỳ Cùng Hàng năm, đồng bào ở đây tổ chức lễ hội Lồng Thồng để cầu mưa, cầu mùa" [23; 117]
Các tài liệu dân gian nói trên cho thấy, lễ hội Lồng Tồng có từ rất lâu đời Cũng như một số đồng bào ở các tỉnh phía bắc, dân tộc Tày ở Lạng sơn lấy việc trồng trọt làm nghề sống chính, quá trình sản xuất của họ chủ yếu lệ thuộc vào thiên nhiên, công việc cày cấy của họ có được mùa hay không là do thiên nhiên mang lại vì lúc đó họ chỉ cày cấy dựa trên kinh nghiệm chứ chưa biết áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đem lại nên có năm được mùa, năm lại mất mùa là chuyện bình thường do thời tiết ủng hộ hay không Trong thực tế họ hoàn toàn không chủ động được trong quá trình sản xuất của mình Vì vậy, từ lúc gieo hạt xuống ruộng, nương đồng bào chỉ biết trông chờ vào sự ủng hộ của thời tiết Từ đó đồng bào đã tìm mọi cách tác động, cầu xin các lực lượng siêu nhiên giúp đỡ cho mưa thuận gió hòa để mùa màng tốt tươi Lồng Tồng không phải lễ hội tôn giáo, cũng không phải lễ hội danh lam thắng cảnh gắn với vùng nào mà là thuần tuý mang tính truyền thống của cư dân nông nghiệp Tày, Nùng Từ đó hàng năm cứ sau Tết Nguyên đán dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc, Lạng Sơn lại tổ chức lễ hội Lồng Tồng, một nghi lễ
1
Trích nguyên văn theo các tác giả Hà Văn Thư, Lã Văn Lô, Văn hoá Tày, Nùng, NXB Văn hoá, Hà Nội,
1984
Trang 34mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc của đồng bào Tày, Nùng, thể hiện giá trị tâm linh, ước vọng của con người về một cuộc sống no ấm, hạnh phúc
2.2 Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng ở huyện Cao Lộc Lạng Sơn
2.2.1 Phần lễ
- Thời gian, không gian và địa điểm của lễ hội
Năm nào cũng vậy đến mùa Xuân, khi cây cối đâm chồi, nảy lộc, mưa Xuân phân phất, sau khi mọi người đã ăn tết vui vẻ, họ bắt đầu chuẩn bị cho một mùa vụ mới Trước khi vào mùa vụ các dân tộc Tày - Nùng ở Cao Lộc tổ chức mở lễ hội Lồng Tồng để vui chơi, cầu mùa, cầu an cho cộng đồng làng bản Lễ hội này bắt đầu từ mồng 5, mồng 6 và kéo dài sang cả mấy ngày đầu tháng 3 Âm lịch Trước đây một lễ hội Lồng Tồng thường được tổ chức trong
3 ngày, nhưng ngày nay cùng với sự thay đổi của kinh tế, xã hội đời sống các dân tộc Tày, Nùng ngày càng được nâng cao, để bắt kịp với xu thế hiện đại hoá đất nước lễ hội Lồng Tồng chỉ diễn ra trong một ngày
Quy trình tổ chức lễ hội Lồng Tồng trong 3 ngày trước đây như sau; Ngày thứ nhất toàn thể dân bản cùng nhau họp để phân công chuẩn bị cơ sở vật chất, đồ cúng lễ Pú mo ra đình hoặc miếu làng khấn xin Thành hoàng cho dân làng mở hội Ngày thứ hai là ngày chính hội từ sớm tinh mơ Pú mo làm mâm cúng tại gia sau đó ra đình chuẩn bị làm lễ khai hội, Pú mo đánh trống liên hồi giục dân bản bưng lễ ra cúng Thành hoàng và Thần nông, đến 11giờ trưa các nghi lễ cơ bản đã được tiến hành xong, sau đó Pú mo cùng các già làng trưởng bản đi chấm cỗ và trao phần thưởng cho mâm cỗ của gia đình được giải, đúng 12 giờ trưa là tổ chức phần hội: Trước khi vào hội là phần đón sư tử bạn ở làng trên xóm dưới đến tham gia và dự hội, rồi đến các trò chơi truyền thống như ném còn, kéo co, đánh yến Sau đó Pú mo làm các nghi lễ kết thúc hội mời các đôi sư tử về các nhà trong bản để uống rượu, trao phong bao Buổi tối thanh niên nam nữ trong bản hát Sli, Lượn đến đêm
Trang 35Ngày thứ ba kết thúc lễ hội, Pú mo đại diện dân bản làm lễ kết thúc lễ hội, các đôi trai gái hát hò, tạm biệt nhau và cùng hẹn ước nên duyên vợ chồng
Ngày nay công việc chuẩn bị lễ hội chỉ diễn ra trong một ngày nên khâu chuẩn bị cơ sở vật chất, đồ cúng tế được chuẩn bị từ hôm trước Tổ chức
tế lễ, hội vào đúng ngày hội chính mặc dù chỉ diễn ra trong một ngày nhưng tất cả những nghi lễ truyền thống vẫn đảm bảo, chỉ một số nghi lễ và trò chơi trước đây không còn được tổ chức ở một số thôn, bản như trò đánh yến, đánh đáo thay vào đó là những trò chơi văn hoá thể thao hiện đại như bóng đá, bóng chuyền Tuỳ theo từng địa phương mà hội Lồng Tồng được tổ chức vào một ngày nhất định, thường các bản ở gần nhau cùng liên kết lại để mở chung một hội nên quy mô của hội khá lớn, thu hút nhiều người tham gia Đối với bà con các dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc người ta sắp xếp ngày mở hội Lồng Tồng của các bản xen kẽ nhau để trong mùa chơi hội người ta có thể tham dự được nhiều hội ở nhiều nơi Dân bản quan niệm, đi dự được nhiều ngày hội Lồng Tồng ở nhiều nơi để hy vọng được Thần nông ở nhiều địa phương phù
hộ Ngày hội ở địa phương nào đều đã được định ước từ trước, cứ nhớ ngày, dân làng gần xa đến dự cùng với dân làng sở tại
Hội Lồng Tồng - đúng như tên gọi của nó là hội xuống đồng, là hội mở đầu vụ gieo cấy và được tổ chức vào dịp đầu Xuân Trong những ngày lễ hội không khí thôn bản trở nên tưng bừng, rộn rã, mỗi người được phân một nhiệm vụ để phục vụ cho lễ hội từ các cụ già đến trẻ nhỏ ai ai cũng mong chờ
lễ hội Lồng Tồng
Phần lễ là nội dung quan trọng nhất của lễ hội vì vậy địa điểm để tiến hành lễ cũng trở nên rất quan trọng Tín ngưỡng dân gian của người Tày - Nùng ở Cao Lộc cho rằng nơi thờ cúng phải là nơi thể hiện sự uy nghi, linh thiêng, con người đến những nơi này phải thể hiện sự thành tâm của mình đối với thần linh Nơi mở hội thường là gần đình, trên một thửa ruộng rộng, bằng phẳng gọi là "nà lồng tồng" (ruộng xuống đồng) Ví dụ: Ở thôn Bản Luận, xã
Trang 36Hoà Cư người dân thường tổ chức lễ hội Lồng Tồng ở trên cánh đồng Nà Đình
"Hội thường mở trên một cánh đồng gần đình thành hoàng Có nơi mở trên một cù lao giữa hồ như ở vùng Bắc Cạn trong khung cảnh nên thơ đặc biệt" [41; 19]
Đối với những nơi có đình thờ Thành hoàng thì lễ và hội diễn ra ở đó, đối với những nơi không có đình đồng bào phải làm nhà Thần nông ở đám ruộng to nhất trong bản để tổ chức lễ hội Lồng Tồng, khi lễ hội kết thúc họ sẽ
dỡ bỏ nhà Thần nông ''Thường thường người ta tập trung làm lễ ở một bãi rộng, hay ở một cánh đồng làng Nếu làng nào bấy lâu có đền thờ Thần nông,
có miếu thờ Thổ công thì họ làm lễ ở trước đền, trước miếu" [16; 190-191] Khi đề cập đến không gian tổ chức lễ hội Lồng Tồng ta phải nói đến tục thờ thần thánh của dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc Ở Việt Nam cư dân từ Bắc vào Nam đều có tục thờ thần thánh nhưng tục thờ ở mỗi nơi lại không giống nhau
và tên gọi thần thánh cũng khác nhau Dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc do địa bàn cư trú gần khu vực biên giới Trung Quốc nên quá trình sinh sống đã có sự giao lưu ảnh hưởng của một số phong tục tập quán Trung Quốc như tục thờ thần được mô phỏng và phù hợp với điều kiện bản địa để trở thành sắc thái riêng của đồng bào Mỗi xóm làng của đồng bào Tày, Nùng đều có các đình, miếu thờ thần “miếu là chỗ quỷ thần bằng y, đình là nơi thờ vọng và là nơi công sở để cho nhân dân hội họp" [46; 71] Dân tộc Tày, Nùng ở Cao Lộc thường thờ thổ thần (thổ công) nơi thờ được gọi là miếu (tiếng Tày, Nùng gọi
là thó) Thổ thần là vị thần đất bảo vệ và che chở cho cộng đồng làng bản Theo quan niệm dân gian, thổ thần là người có công lao xây dựng làng bản và giúp đỡ mọi người Vào dịp Tết Nguyên đán hay dịp làm lễ cầu mùa, các gia đình trong bản mang lễ vật, hương hoa tập trung ở miếu để cúng thổ thần Quy mô miếu thường là ngôi nhà nhỏ, kiến trúc sơ sài bên trong xây một bệ thờ có bát hương, miếu thường đặt ở vị trí đầu làng Bên cạnh thờ thổ thần
Trang 37đồng bào ở đây còn thờ Thành hoàng nơi thờ gọi là đình Các bản làng của đồng bào ở đây có chung ngôi đình để thờ thần Thành hoàng Thành hoàng là
vị thần có công mở làng, lập bản, cũng là vị thần trông coi mùa màng, gia súc
và trị an của bản làng
Điều đáng chú ý là kiến trúc của đình Hầu hết ở tất cả các bản của người Tày Cao Lộc đều có đình Đình bao giờ cũng được xây trên một khu đất cao có địa thế đẹp ở đầu bản, xung quanh có nhiều cây cổ thụ Ở Cao Lộc, đình của người Tày được sắp xếp theo tục "kết chạ" có quy định thứ tự giữa các làng
Đình ở đây thường có hai loại: loại thứ nhất thờ thần Núi, thần Sông và loại thứ hai là đình thờ Phật Bà Quan Âm Cả hai loại đình nói trên đều có kết cấu bốn mái Các đình thờ thần Núi, Sông thường với quy mô nhỏ, mái được lợp bằng tranh hoặc ngói âm dương, nguyên vật liệu xây dựng đình bằng gỗ Còn các đình thờ Phật có quy mô lớn hơn với nguyên vật liệu xây dựng bằng gạch cát, vữa Về cách cấu trúc, sắp xếp ban thờ của hai kiểu đình cũng khác nhau Nếu như ngôi đình thờ thần chỉ có một ban thờ được bài trí đơn giản thì đình thờ Phật có cách bài trí phong phú hơn Chính giữa đình
là cung đường lớn để làm lễ, điện thờ có đủ các ông: Ác, thiện sau cung đường là nơi thờ Phật với đầy đủ bệ và tượng thờ Ngoài ra cạnh cung đường còn có một gian để thờ các vị Thành hoàng Hầu hết các ngôi đình ở đây đều trang trí giống với đình của người Kinh, có câu đối, toà sen, phù điêu hình rồng chầu Như vậy trong kiến trúc của dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn xuất hiện sự đan xen giữa cái mới và cái cũ, có sự pha trộn trong tín ngưỡng Tuy vậy, nó không làm mất đi những đặc điểm riêng biệt của mình - những điểm đặc biệt đó được xuất phát từ nền văn hoá truyền thống của họ
Không gian tổ chức lễ hội Lồng Tồng của đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc Lạng Sơn rất phong phú Lễ hội không chỉ bó hẹp ở một không gian nhất định như ở đình mà nơi nào không có đình họ lại tổ chức ở thửa ruộng to nhất
Trang 38trong bản đây là ruộng cố định gọi là ruộng xuống đồng, đám ruộng này phải lớn, bằng phẳng không có nước Chung quanh ruộng phải có một không gian thoáng đãng, cao ráo để chứa được nhiều người và tổ chức được nhiều trò chơi
- Các bước tiến hành lễ:
+ Chuẩn bị cơ sở vật chất và văn hoá tinh thần, tín ngưỡng cho lễ hội
- Cơ sở vật chất: Chuẩn bị chung: Trước ngày tổ chức lễ hội 3, 4 ngày thì các trưởng bản, Thầy mo (Pú mo), các chức sắc trong xã thôn, những người có uy tín trong bản tiến hành phân công công việc tế lễ Tổ tế Thần nông được phân cho Pú mo dẫn đầu, Pú mo phụ trách việc tế Thần nông Chuẩn bị mâm lễ phân cho các chị em phụ nữ trong xã thôn và các gia đình tự chuẩn bị mâm lễ mang ra đình hoặc miếu cúng Các trò chơi trong lễ hội cũng được giao cho từng nhóm người phụ trách và người chơi như trò kéo co do thôn này chơi với thôn kia Những người được phân công công việc chuẩn bị cho lễ hội phải khéo léo và có nhiều kinh nghiệm Phụ nữ ngoài việc chuẩn bị mâm lễ còn khâu quả còn, làm yến Còn đàn ông thì chặt mai làm phỏng còn, chuẩn bị dây kéo co, làm nhà thần nông, chuẩn bị cà kheo, khăng, con sảng
- Sửa sang, dọn dẹp, tu bổ cho đình ( nơi thờ cúng chính ): Việc sửa sang, dọn dẹp, tu bổ cho đình là công việc quan trọng không phải ai cũng được phép làm, người đảm nhiệm việc này phải am hiểu công việc của lễ hội, quy tắc, lễ nghi của đình, phải có lòng thành kính đối với thần linh, thông thường là Pú mo đảm nhiệm công việc này bao gồm: Quét dọn, lau chùi bát hương thờ thần Thành hoàng, dán giấy đỏ xung quanh các cột đình, sửa chữa những phần hư hỏng của đình, công việc này được chuẩn bị sao cho đình luôn sạch sẽ, sắp đặt gọn gàng, tạo không khí trang nghiêm cho lễ hội
- Làm nhà Thần nông: Việc làm nhà Thần nông rất đơn giản vì nhà Thần nông thực tế chỉ làm tạm để phục vụ cho lễ hội khi kết thúc lễ hội sẽ được dỡ đi Việc làm nhà Thần nông được các thanh niên trong bản đảm
Trang 39nhiệm Họ phải vào rừng chặt cây, chọn những cây tre, cây mai đẹp, thẳng để dựng nhà Thần nông Xung quanh đình và nhà Thần nông, đồng bào dựng những cây nêu, bởi họ quan niệm cây nêu tượng trưng cho tình cảm giữa trời
và đất, là cầu nối giữa âm và dương
- Chuẩn bị các phương tiện cho các trò chơi trong lễ hội, tuy các phương tiện này không nằm trong phần nghi lễ nhưng nó góp phần làm cho các trò chơi trong lễ hội diễn ra thêm phần phong phú, hấp dẫn du khách đến xem hội
+ Cà kheo: Để làm cà kheo đồng bào lấy cây tre, vầu, cây cà kheo có giá để đặt chân và có cây đứng, giá để đặt chân có chiều rộng khoảng 10 - 12cm và dài chừng 30cm, giá được lắp vào cây gậy đứng Độ cao của cà kheo khoảng 2 - 3m
+ Khăng: Cây khăng gồm có hai đoạn cây một đoạn dài chừng 50 - 60cm, một đoạn dài 20cm, khăng được làm bằng gỗ đẽo nhỏ, bãi để chơi đánh khăng tương đối rộng
+ Con sảng: Được gọt đẽo bằng gỗ, có một đầu to và đầu nhỏ ở giữa có rãnh Khi chơi đồng bào Tày, Nùng dùng một đoạn dây dài, một đầu dây buộc vào ngón tay trỏ một đầu thì cuốn vào cổ sảng, khi giơ tay tung sảng quăng ra khỏi dây và sảng quay tít dưới mặt đất
- Trồng cây, tung còn:
+ Trồng cây còn: Cây còn được làm bằng cây mai cao 16 - 20m, đường kính 50cm, trên ngọn có vòng tròn đường kính khoảng 30 - 50cm, lấy giấy điều phong kín có điểm hồng tâm Cột được dựng theo hướng Đông Tây, một mặt của đường tròn quay hướng Đông dán giấy màu đỏ viết chữ "Nhật" tượng trưng cho mặt trời Phía Tây dán giấy màu xanh viết chữ "Nguyệt", tượng trưng cho mặt trăng, cho phụ nữ và bóng đêm Kết hợp "Nhật", "Nguyệt" là chữ "Minh" Các mặt Đông, Tây, Nhật, Nguyệt là biểu hiện của tâm thức âm dương hoà hợp Cây còn được dựng giữa cánh đồng nơi diễn ra lễ hội
Trang 40+ Làm quả còn: Được đồng bào làm bằng vải, là một miếng vải vuông gấp chéo, khâu 3 góc, trong đó có hạt thóc, hạt bông Đuôi còn là những dải dài có tua nhiều màu trông rất đẹp
+ Làm yến: Vật liệu để làm yến có nhiều loại chủ yếu đồng bào Tày, Nùng ở Cao Lộc dùng cây dứa dại là chính Yến gồm 3 bộ phận: Đế yến, thân yến và cánh yến Cây dứa dại được chẻ ra vót thành nan rộng 3cm, dài 50cm được đan chéo vào nhau thành tầng đế thứ nhất sau đó họ đan tiếp tầng đế thứ hai và ba, sau đó đồng bào chọn ống tre nhỏ có đường kính khoảng 3cm, dài 6cm đặt trên đế yến và được nối từ đế yến lên ống tre bằng một sợi lạt nhỏ, khi xong phần đế yến, thân yến đồng bào chọn lấy 6 chiếc lông gà dài khoảng 10cm cắm vào ống tre và lèn thật chặt như vậy các công đoạn làm yến đã hoàn tất
+ Lễ vật cúng tế:
Đây là phần chuẩn bị cầu kỳ nhất bởi những lễ vật này được chuẩn bị
là để ngày lễ hội dâng lên cúng các vị Thần linh để bày tỏ lòng biết ơn của đồng bào đối với các vị thần linh đã phù hộ cho họ có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc nên lễ vật phải được chuẩn bị rất chu đáo bao gồm các loại bánh như: Bánh khảo, bánh chưng, bánh khẩu sli, ngoài ra người dân còn chuẩn bị các loại bánh kẹo khác, xôi, thịt gà, thịt lợn, rượu Gạo nếp được dùng đồ xôi hoặc làm các món bánh trong các ngày lễ tết là các món người Tày - Nùng rất thích Trong đó các loại bánh được chuẩn bị sớm hơn
- Bánh khảo (sa khao) được làm từ bột nếp, đường phên, vừng, lạc Gạo nếp chọn loại thơm ngon, gạo được ngâm trong nước lã khoảng 3 tiếng sau đó vớt ra cho gạo ráo nước Rồi rang lên và giã nhỏ, ủ lấy hơi, trong quá trình ủ như vậy bột gạo được hấp khí tạo mùi thơm lâu, theo kinh nghiệm của đồng bào bột càng để lâu càng tốt nên họ ủ khoảng một tháng Đường phên (mật) giã nhỏ, trộn với bột rồi nén vào khuôn, khuôn bánh được làm bằng gỗ, được đặt trên bàn hoặc tấm gỗ đã đóng sẵn để làm nền Sau khi nén xong lần