1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng tác của hoàng thế sinh trong văn suôi yên bái đương đại

97 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 662,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nghiên cứu Văn Giá đã từng viết trong lời giới thiệu bộ ba tiểu thuyết Bụi hồ; Xứ mưa; Rừng thiêng như sau: “Các sáng tạo của nhà văn Hoàng Thế Sinh là một giọng điệu vạm vỡ góp ph

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ THU NGA

SÁNG TÁC CỦA HOÀNG THẾ SINH TRONG VĂN SUÔI YÊN BÁI

ĐƯƠNG ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất

kì một công trình nào khác

Thái nguyên, tháng 4 năm 2015

Trang 3

Với sự biết ơn chân thành, tôi bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Phạm Duy Nghĩa, thầy đã rất tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới nhà văn Hoàng Thế Sinh đã giúp đỡ tôi rất nhiều về mặt tư liệu

Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn sâu sắc nhất tới bạn bè, gia đình đã động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi hoàn thành tốt khóa học này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu Nga

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 7

Chương 1 VĂN XUÔI YÊN BÁI VÀ TÁC PHẨM CỦA HOÀNG THẾ SINH 1.1 Diện mạo văn xuôi Yên Bái 7

1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Hoàng Thế Sinh 21

1.2.1 Tiểu sử và con người 21

1.2.2 Tác phẩm và vị trí của Hoàng Thế Sinh trong văn xuôi Yên Bái 22

Chương 2 CON NGƯỜI VÀ HIỆN THỰC MIỀN NÚI TRONG VĂN XUÔI HOÀNG THẾ SINH 26

2.1 Một xã hội miền núi còn nhiều bất công, tiêu cực 26

2.2 Ý thức cá nhân và số phận con người 34

2.3 Mối quan hệ con người - tự nhiên 42

2.3.1 Một thế giới thiên nhiên phong phú, đa dạng 43

2.3.2 Tư tưởng sống hòa hợp với tự nhiên 45

2.3.3 Quy luật nhân quả 51

Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI HOÀNG THẾ SINH 56

3.1 Xây dựng nhân vật 56

3.1.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình 57

3.1.2 Sự phân tuyến nhân vật 60

3.2 Ngôn ngữ 63

Trang 6

3.2.1 Ngôn ngữ giàu chất thơ 64

3.2.2 Ngôn ngữ đậm chất kí 67

3.3 Yếu tố kì ảo 72

3.4 Giấc mơ 76

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

1.1 Trong sự phát triển chung của nền văn học nước nhà không thể không nói đến sự xuất hiện, vị trí cũng như những đóng góp to lớn của mảng văn học viết về dân tộc và miền núi Cùng chung mảng đề tài viết về dân tộc và miền núi, trong khi văn xuôi các dân tộc thiểu số đội ngũ sáng tác chỉ gồm các nhà văn xuất thân là người dân tộc thiểu số, thì trong văn xuôi viết về dân tộc và miền núi có sự hiện diện khá đông đủ bộ mặt văn học các dân tộc anh em Thành tựu của mảng đề tài này thể hiện ở chỗ chính các nhà văn đến từ đồng bằng lại gắn bó với miền núi như một phần máu thịt của mình Vì vậy nó đem đến cho văn xuôi miền núi sự phong phú, đa dạng về phong cách nghệ thuật, và như nhà nghiên cứu Phong Lê đã nói: “văn xuôi miền núi chiếm lĩnh được một vẻ đẹp riêng, không thay thế được, không ai bắt trước được”

Văn xuôi các dân tộc miền núi ra đời muộn hơn so với thơ ca Đầu thể kỉ

XX, thể loại này mới được biết đến Tuy nhiên, những tác phẩm đầu tiên ấy lại

là do những tác giả người Kinh viết, với một số tên tuổi đại thụ như: Thế Lữ, Lan Khai, Tchya, Nam Cao, Tô Hoài, sau này là Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Trung Trung Đỉnh Những cây bút người Kinh viết về đề tài dân tộc, miền núi trước Cách mạng và trong kháng chiến đã trở thành người thầy tinh thần, khơi nguồn cho của những tài năng văn học dân tộc thiểu số xuất hiện, phản ánh sâu rộng hiện thực miền núi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Ngày nay, văn xuôi các dân tộc thiểu số có một đội ngũ sáng tác đông đảo trải dài trên khắp các vùng miền cả nước Bên cạnh các nhà văn là người dân tộc thiểu số như Vi Hồng, Hoàng Hạc, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Vi Thị Kim Bình, Cao Duy Sơn, Hlinh Niê vẫn có những cây bút người Kinh đã và đang gắn bó với núi rừng Những con người dân tộc miền núi thật thà, giản dị, ân tình

và đôn hậu giữa núi rừng hùng vĩ đã gắn bó với họ như một phần máu thịt, một

Trang 9

phần hơi thở của cuộc sống Và chính họ đã ấp ủ những đứa con tinh thần gây được tiếng vang lớn trong đời sống văn học cả nước tiêu biểu như Hoàng Thế Sinh,Đoàn Hữu Nam, Vũ Xuân Tửu, Đỗ Bích Thúy, , Phạm Duy Nghĩa, Tống Ngọc Hân

1.2 Yên Bái là vùng đất có tiềm năng lớn về một nền văn hóa, văn học của các dân tộc thiểu số anh em Những truyện thơ Tày – Thái đậm ddaf bản sắc dân tộc, những khúc dân ca say đắm, những câu ca dao, tục ngữ mộc mạc mà sâu sắc là nguồn mạch vô tận cho sáng tạo văn chương thời hiện đại Và bản thân nền văn hóa, văn học dân gian đã khơi nguồn cảm hứng sáng tạo góp phần đnuôi dưỡng cho những nhà văn, những người nghệ sĩ đầy tài năng, cống hiến hết mình cho sự nghiệp văn học nghệ thuật của dân tộc

Các nhà văn viết về miền núi không ít, tuy nhiên những tác phẩm viết về vùng núi cao Yên Bái có thể nói là hiếm So với mặt bằng chung của nền văn chương các dân tộc vùng Tây Bắc thì văn học Yên Bái phát triển không mạnh, chỉ với một vài cây bút quen thuộc như: nhà thơ Ngọc Bái, nhà văn Hà Lâm Kỳ Hoàng Thế Sinh cũng là một cây bút hiếm hoi trong sự phát triển ấy Nhà

nghiên cứu Văn Giá đã từng viết trong lời giới thiệu bộ ba tiểu thuyết Bụi hồ;

Xứ mưa; Rừng thiêng như sau: “Các sáng tạo của nhà văn Hoàng Thế Sinh là

một giọng điệu vạm vỡ góp phần làm cho văn chương xứ sở Yên Bái có sức lan

xa, tỏa sức sống cùng với văn chương cả nước”; đồng thời khẳng định rằng:

“Cái thủy thổ văn chương Yên Bái danh giá hiện nay không chỉ có Hoàng Thế

Sinh Nhưng cứ thử vắng Hoàng Thế Sinh mà xem Nói thế, đã là văn nhân thì cũng chẳng lấy làm kiêu”

Hệ thống tác phẩm của Hoàng Thế Sinh khá phong phú về số lượng với các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí Ông đã giành được một số giải thưởng văn học ở trung ương và địa phương

1.3 Hoàng Thế Sinh là một trong số rất ít các nhà văn miền núi có tư tưởng

đề cao mối quan hệ hòa hợp con người – tự nhiên với tinh thần bảo vệ tự nhiên,

Trang 10

bảo vệ môi trường sinh thái Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái đang là vấn đề nóng bỏng mang tính toàn cầu Do đó, tác phẩm của Hoàng Thế Sinh và các cây bút thuộc khuynh hướng tư tưởng này mang ý nghĩa thời sự và nhân sinh sâu sắc

1.4 Hoàng Thế Sinh hiện là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Ông có nhiều đóng góp cho nền văn xuôi Yên Bái nói riêng và nền văn xuôi viết về miền núi nói chung Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về văn xuôi địa phương Yên Bái cũng như văn xuôi Hoàng Thế Sinh một cách toàn diện, hệ thống về cả phương diện nội dung và hình thức Hy vọng rằng kết quả của đề tài nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai yêu văn học miền núi trong nước nói chung, văn chương Yên Bái nói riêng

2 Lịch sử vấn đề

Hoàng Thế Sinh là tác giả trong nền văn học đương đại, sáng tác từ những năm 80 của thế kỉ XX và chủ yếu là viết về đề tài miền núi Tuy nhiên, cho đến nay các công trình nghiên cứu về Hoàng Thế Sinh và tác phẩm của nhà văn là rất ít Đó chỉ là một số bài viết nhỏ lẻ trên các báo, tạp chí trên cả hai phương diện nội dung và hình thức

Nhà phê bình Chu Văn Sơn trong bài viết Thế Sinh – Ngọn lửa xứ mưa đã

nhận xét: “Với Thế Sinh, cái câu văn là người thực cấm có sai Con người Sinh vừa thâm trầm vừa hoạt náo, vừa lãng tử vừa thực tế, vừa ngay ngắn vừa bông phèng Những đối cực ấy chung sống trong anh thường là khi hòa bình đôi khi

có chiến tranh Nhưng tất cả đã hòa vào nhau để làm nên một điệu sống Thế

Sinh Văn của anh là sự cất tiếng của con người ấy, từ điệu sống ấy”

Về mặt nội dung, “nếu ví nghiệp văn của Sinh gồm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết và ký như ngọn đèn chùm bốn ngọn, thì cả bốn ngọn đều thắp cùng một thứ lửa Và nếu mỗi ngọn lửa được nuôi dưỡng từ những nguồn năng lượng riêng thì ngọn lửa này bùng cháy lên bởi hai nguồn năng lượng chính: ấy là say

mê vẻ đẹp nồng nàn và căm ghét áp bức bất công Và hễ cứ đụng đến hai chuyện

Trang 11

đó là lửa trong ngòi bút Thế Sinh bùng lên, dù ở bất cứ thể loại nào Lửa ấy làm nên chất nồng nàn bạo liệt, chất gay gắt quyết liệt trong các trang viết của Sinh” (Chu Văn Sơn) Lửa ấy cũng làm nên cả một đặc điểm thú vị của các nhân vật trong các tác phẩm của Thế Sinh mà nhà phê bình Văn Giá đã gọi ra là: “cả lúc vui lẫn lúc buồn, khi khổ tận cùng lúc sướng tận độ, bao giờ họ cũng hú lên Tiếng hú làm động cả núi rừng, động cả xứ mưa Tiếng hú của tình yêu Tiếng

hú của phẫn nộ Tiếng hú của lửa Văn Thế Sinh chính là tiếng hú ấy Văn Thế Sinh chính là ngọn lửa bập bùng kiên nhẫn giữa xứ mưa”

Về mặt nghệ thuật, trong bài viết Nhân đọc truyện ngắn của Hoàng Thế Sinh, tác giả Văn Giá đã nhận xét: “Hoàng Thế Sinh có sở trường viết về những

con người nhỏ bé mà dũng khí ở đời”, tức là những người vô danh, quanh năm chân lấm tay bùn, thật thà, chân chất Nhưng “họ nhất định không chịu sống hèn, sống nhục Họ muốn khẳng định tư thế làm người” Cái chất quý giá nhất của Hoàng Thế Sinh là ở chỗ đó Chính vì thế mà các tác phẩm của ông đã đi vào lòng bạn đọc một cách sâu sắc

Hầu hết các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh là viết về vùng núi cao Yên Bái – nơi gắn bó với chặng đường công tác của tác giả Hay nói cách khác, Yên Bái

là quê hương thứ hai của ông Ông viết về nó với tất cả tình yêu, sự gắn bó và tất

cả vốn hiểu biết của mình về nơi này Theo như Vũ Khả trong bài viết Đọc tập truện ngắn Hoang thủy thì “điều làm cho độc giả nhớ nhung là mỗi truyện, mỗi

cuộc đời được nhà văn mô tả cũng đặc biệt khác người Không tham từ nhưng rất chắt lọc ”

Còn tác giả Văn Thà trong bài viết “Sao tổn khuống” một truyện ngắn hay của Hoàng Thế Sinh đã nhận xét: “câu chuyện đã được kể liền mạch, giàu kịch

tính và hấp dẫn Ngôn ngữ trở nên giản dị, như cách nghĩ và cách nói của người miền núi Màu sắc, âm thanh trong ngày lễ hội đã mang những vẻ đẹp lấp lánh,

tự nhiên như rừng, như suối”

Trang 12

Bên cạnh đó các tác giả cũng đề cập tới một số hạn chế trong các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh như “một số cốt truyện còn đơn giản, đôi chỗ từ ngữ chưa

thật chuẩn” Hoặc nhận xét về truyện ngắn Người nông dân nhỏ bé, tác giả Hà

Nguyên Huyến cho rằng “không thể nói đây là một truyện ngắn toàn bích bởi kết cấu đôi chỗ còn khiên cưỡng, chi tiết thừa làm cho nhân vật chưa sinh động, thiếu tính thuyết phục”

Đây là những bài viết về nhà văn Hoàng Thế Sinh được đăng tải trên báo chí Hầu hết đều là những cảm nghĩ của các nhà văn, nhà phê bình sau khi đọc các tác phẩm của ông hoặc là những lời tựa giới thiệu cho cuốn sách của nhà văn

Hy vọng với công trình Sáng tác của Hoàng Thế Sinh trong văn xuôi Yên Bái đương đại, chúng tôi sẽ tiếp nối ý tưởng của các nhà nghiên cứu đi trước để

khám phá, khảo sát và tìm hiểu những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn xuôi Hoàng Thế Sinh ở hai thể loại chính là truyện ngắn và tiểu thuyết một cách có hệ thống và toàn diện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn xuôi Yên Bái đương đại và các sáng tác của Hoàng Thế Sinh Về sáng tác văn xuôi của Hoàng Thế Sinh, luận văn tập trung vào các tác phẩm:

- Tiểu thuyết Bụi hồ - NXB Công an nhân dân, 1992

- Tiểu thuyết Xứ mưa – NXB Quân đội nhân dân, 2000

- Tiểu thuyết Rừng thiêng – NXB Quân đội nhân dân, 2007

- Tập truyện ngắn Sao tổn khuống – NXB Hội Nhà văn, 2009

- Tiểu thuyết Thuốc phiện và lửa – NXB Công an nhân dân, 2013

Về văn xuôi Yên Bái, luận văn tập trung khảo sát một số truyện ngắn và tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của các tác giả khác trong phạm vi văn xuôi Yên Bái, như Hoàng Hạc, Hà Lâm Kỳ, Nguyễn Hiền Lương

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp tiểu sử

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đi vào tìm hiểu, phân tích, hệ thống một số nét đặc trưng của văn xuôi Yên Bái đương đại trong dòng chảy của văn học dân tộc nói chung Đồng thời, trên cơ sở đó đi sâu vào tìm hiểu, phân tích những nét đặc sắc, tiêu biểu của văn xuôi Hoàng Thế Sinh trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật ở hai thể loại chính là truyện ngắn và tiểu thuyết, từ đó góp phần khẳng định vị trí cũng như những đóng góp của tác giả cho nền văn xuôi Yên Bái nói riêng và văn xuôi đương đại Việt Nam viết về dân tộc và miền núi nói chung

6 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn hoàn thành sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về tác phẩm của Hoàng Thế Sinh, góp phần khẳng định vị trí của nhà văn Hoàng Thế Sinh trong nền văn xuôi Yên Bái đương đại

- Qua việc tìm hiểu những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn xuôi Hoàng Thế Sinh, người đọc sẽ hiểu hơn và thêm yêu vùng đất “xứ mưa” – Yên Bái

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được triển khai trên 3 chương:

Chương 1: Văn xuôi Yên Bái và tác phẩm của Hoàng Thế Sinh

Chương 2: Con người và hiện thực miền núi trong văn xuôi Hoàng Thế Sinh

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật văn xuôi Hoàng Thế Sinh

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI YÊN BÁI VÀ TÁC PHẨM CỦA HOÀNG THẾ SINH

Văn xuôi là thể loại chủ lực của sáng tác văn học So với thơ, văn xuôi cho phép nhà văn tự do, linh hoạt, năng động hơn trong sáng tạo, thể hiện đời sống, con người Sự ra đời, trưởng thành, phát triển của văn xuôi cũng là một quá trình, phản ánh sự vận động, trưởng thành của văn học nói chung

Truyện ngắn, tiểu thuyết là những thể văn xuôi ghi được nhiều thành tựu Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn, tiểu thuyết xưa nay thu hút sự chú ý, say

mê của bao lớp bạn đọc Do phương thức phản ánh, tính nghệ thuật của những sáng tác ấy gắn với cá tính sáng tạo của nhà văn, làm cho tác phẩm trở nên phong phú, hấp dẫn hơn

Văn xuôi miền núi là những sáng tác văn xuôi nghệ thuật viết về đề tài dân

tộc và miền núi trong văn học Việt Nam Văn xuôi với khả năng khám phá, khắc họa mọi phương diện biểu hiện của cuộc sống, con người là thể loại có tính năng động, có sức hấp dẫn khi đi vào khám phá những phạm vi mới, những khu vực mới mà các thể loại khác khó có thể làm được Một trong những phạm vi mới, khu vực mới ấy chính là miền núi – nơi chứa đựng rất nhiều vẻ đẹp, nhiều khía cạnh khác của cuộc sống mà văn học nói chung và văn xuôi nói riêng có thể tiếp cận, khám phá

Có thể thấy rằng, từ khi xuất hiện những truyện đường rừng trong văn học

vào những năm 30 – 40 của thế kỉ XX đến nay, văn xuôi miền núi ngày càng phát triển và thực sự trở thành một bộ phận quan trọng trong văn học viết về miền núi , trong văn xuôi Việt Nam hiện đại

Trang 15

1.1 Diện mạo văn xuôi Yên Bái

Bước vào thời kì hiện đại, nền văn học mỗi quốc gia hay trong phạm vi một địa phương, nếu như thơ ca thường là bộ phận đi đầu thì văn xuôi lại là trụ cột, xương sống Từ khi hình thành đến nay, mặc dù còn những hạn chế, văn xuôi Yên Bái đã có những bước phát triển đáng ghi nhận

Để có được cái nhìn thấu đáo hơn về khu vực văn học này, cần tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật Yên Bái nói chung và văn xuôi Yên Bái nói riêng trong những điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể

Văn xuôi Yên Bái thời phong kiến, thời Pháp đô hộ hầu như chưa có gì ngoài văn học dân gian được lưu truyền trong dân chúng Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930) đến 1975, văn xuôi Yên Bái có bước phát triển mới trên con dường đi theo Cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Giai đoạn này chủ yếu là thơ văn cách mạng vận động quần chúng nhân dân chống giặc ngoại xâm,

đi theo phong trào cách mạng của tổ chức Thanh niên đoàn ở thị xã Yên Bái, văn học nghệ thuật chủ yếu là các hoạt động ca múa nhạc, kịch nói và xuất hiện một số tác giả văn xuôi của địa phương

Năm 1972, Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hoàng Liên Sơn hình thành (tiền

thân là Hội văn học nghệ thuật tỉnh Lào Cai) Nhờ việc in ấn, xuất bản các Bản tin văn nghệ Yên Bái, các tập sáng tác văn nghệ Hoàng Liên Sơn thì văn xuôi

Yên Bái mới có điều kiện công bố các tác phẩm một cách rộng rãi Những tác

phẩm đầu tiên được xuất bản như tập truyện ngắn Đi bên một vì sao, Dáng núi (Bùi Nguyên Khiết), Ké Nàm (Hoàng Hạc)

Ngày 12/6/1979, Thường vụ Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn ra quyết định thành lập Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hoàng Liên Sơn Đó là thời điểm tỉnh Hoàng Liên Sơn (Lào Cai – Yên Bái) vừa ra khỏi hai cuộc chiến tranh biên giới tháng 2/1979 Lúc này, nỗi đau, vết thương chiến tranh vẫn còn hằn sâu trong từng con người Kể từ thời điểm này văn xuôi Yên Bái mới được định hình rõ nét

Trang 16

Sau khi thành lập Hội văn học nghệ thuật vào những năm 80, 90 của thế kỉ trước, văn xuôi Yên Bái còn nhỏ lẻ Các cây bút trong những năm đầu chỉ là những người ít nhiều có năng khiếu, yêu văn chương, và khi đến với văn chương thì họ cũng đã ở vào độ tuổi “trạc ngoại tứ tuần” như Hoàng Hạc, Xuân Nguyên, Phạm Đức Hảo, Bùi Huy Mai, Hoàng Hữu Sang Một số khác trẻ hơn thì lại đang ở vào thời kì thử nghiệm, còn dè dặt nhưng tác phẩm của họ đã ít nhiều có dấu hiệu của tài năng như Hoàng Thế Sinh, Thái Sinh, Hà Lâm Kỳ, Trần Cao Đàm

Trong giai đoạn đầu, Hoàng Hạc là một cái tên tiêu biểu Ông là một trong những người đầu tiên tham gia Hội văn học nghệ thuật Yên Bái Và bằng chính tài năng, lòng đam mê, uy tín của mình Hoàng Hạc đã xây những viên gạch đầu tiên cho ngôi nhà văn nghệ Yên Bái Các tác phẩm đã được xuất bản của ông

gồm: Tập truyện vừa Ké Nàm (1964), tập truyện ngắn và bút ký Hạt giống mới (1983), tiểu thuyết Sông gọi (1986), Xứ lạ mường trên (1984), Tuyển tập văn xuôi Hoàng Hạc (1997)

Qua những tác phẩm của Hoàng Hạc, lần đầu tiên người đọc thấy được cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống con người các dân tộc miền núi vùng thượng nguồn sông Chảy đi vào văn học một cách đầy ấn tượng, riêng biệt, không thể lẫn vào đâu được Từ đó mà ta thấy được sự gắn bó máu thịt, tình yêu quê hương của tác giả Các tác phẩm của ông bình dị mà trữ tình, sâu lắng, hóm hỉnh

và hồn nhiên, chân chất tâm hồn người Tày Cái chất Tày ấy trong các tác phẩm được biểu hiện qua phong cách diễn đạt, qua sử dụng ngôn ngữ, trở thành nghệ

thuật, trở thành văn chương của chính Hoàng Hạc Ở Xứ lạ mường trên, chất

Tày thơ mộng, đậm đà đã tạo cho tác phẩm một dấu ấn sâu sắc, có thể nói là tác

phẩm ấn tượng nhất trong toàn bộ tác phẩm của ông Âm hưởng chủ đạo của Xứ

lạ mường trên là một không gian hoài niệm nhuốm đậm màu cổ tích, đó là

những đêm trăng trên sân sàn nứa nồng nàn hương rừng, tiếng suối chảy rì rầm cùng tiếng côn trùng, tiếng muông thú, tiếng kể chuyện cũng rì rầm tan nhập vào

Trang 17

thiên nhiên biến ảo Nhà văn không cố ý cường điệu một điều gì mà để cho thiên nhiên tự bộc lộ, thiên nhiên với con người hòa quyện Đằng sau mỗi câu văn đều

ẩn chứa một triết lý hiển nhiên, con người cũng là một thực thể tự nhiên không tách rời cây cỏ, đất đai Và Hoàng Hạc đã thành công khi khắc họa tính cách các nhân vật qua lời ăn tiếng nói, ông đã lựa chọn những chi tiết trong đời sống hàng ngày để làm cho những cái tưởng như bình thường thành nghệ thuật

Một mảng đề tài khác đem lại thành công cho Hoàng Hạc là viết về công cuộc hiện đại hóa đất nước Đó là vấn đề xoay quanh việc xây dựng nhà máy thủy điện Thác Bà, liên quan tới mồ mả tổ tiên, ruộng vườn, làng bản Tất cả là một cuộc hi sinh lớn với đầy trăn trở về cái được, cái mất của người dân trong việc phải rời quê hương ra đi xây dựng vùng đất mới, nhường đất lại cho việc xây dựng vùng hồ, tạo ra nguồn điện thắp sáng cho cả nước Ở đề tài này, Hoàng

Hạc đã có những truyện ngắn, tiểu thuyết được dư luận chú ý như Ké Nàm, Bài

ca Thác Bà, Sông gọi

Bút danh Xuân Nguyên cũng là một cái tên quen thuộc đối với người dân Yên Bái Ông là một trong số những hội viên đầu tiên tham gia sáng lập Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái

Cuộc đời Xuân Nguyên gắn bó với sự hình thành, phát triển của báo chí và văn nghệ Cách mạng ở tỉnh miền núi, biên giới Lao Cai qua hai chặng đường chống Pháp và chống Mỹ gian khổ, ác liệt, sau đó là tỉnh Hoàng Liên Sơn – Yên Bái Ông đã sớm có tác phẩm được đăng trên báo Văn nghệ - một tờ báo có uy tín lúc bấy giờ với hai truyện ngắn viết về đồng bào các dân tộc năm 1968 –

1969 là: Hai ông già chăn dê và Mùa hoa Đi-O-Khang

Hầu hết các tác phẩm của Xuân Nguyên đều viết về đồng bào các dân tộc ở

miền núi Lào Cai – Yên Bái như tập truyện ngắn Hoa đào tháng chín (1975), Người mẹ suối Lũng Pô (1980), Đêm mưa giông (1983), tiểu thuyết Cơn mưa giông (1995), Hạnh phúc chẳng ngọt ngào (2007)

Trang 18

Ông là người từng trải, giàu vốn sống, am hiểu phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, ông luôn có ý thức học hỏi ngôn ngữ các dân tộc, nhất là dân tộc Mông Vì vậy, văn phong của ông gần gũi, giản dị, có sự kết hợp hài hòa giữa lối nói của người Kinh và lời ăn tiếng nói của các dân tộc vùng cao

một cách nhuần nhuyễn Điều này thể hiện ở trong các truyện ngắn như Giàng Tủa, Chiếc vòng bạc

Nhiều truyện của Xuân Nguyên thường là sự đan cài giữa quá khứ và hiện tại làm nổi lên hình ảnh cuộc sống tối tăm, cơ cực của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới chế độ cũ, quá trình vùng lên chiến đấu của đồng bào dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh gian khổ không kém phần quyết liệt

để từ bỏ những hủ tục, tập quán lạc hậu do chế độ cũ để lại, trong các tác phẩm

Rừng ma, Hoa đào tháng chín

Đặc biệt, tiểu thuyết Cơn lốc núi đề cập đến nội dung tiễu phỉ, một vấn đề

nhạy cảm, hấp dẫn nhưng cũng không hề dễ viết

Tác phẩm của Xuân Nguyên còn phản ánh khá chân thật một mảng đề tài quan trọng nữa đó là sự đổi đời, vươn lên làm chủ cuộc sống, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên của đồng bào các dân tộc vùng cao Ta có thể thấy nội dung

này được thể hiện rất rõ trong truyện ngắn Mùa hoa phượng

Vì những cống hiến cho đất nước, cho sự nghiệp báo chí và văn học nghệ thuật, Xuân Nguyên đã vinh dự được trao tặng nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có Huy chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam

Tác giả Hoàng Hữu Sang đã có đóng góp tích cực cho nền văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn xuôi Yên Bái nói riêng với những tác phẩm viết về

vùng hồ Thác Bà Các tác phẩm của ông gồm: tập truyện ngắn Người đánh gấu trên núi suối Mây (1997), Truyện ngắn Truyện lạ ở bản Coóc (1999), Tay sét (1999), tiểu thuyết Cửa rừng (2000), Vực thuồng luồng (2006)

Truyện của Hoàng Hữu Sang đã tái hiện bức tranh đời sống các dân tộc ở vùng hồ Thác Bà, đó là cuộc sống trong những năm rục rịch chuyển động theo

Trang 19

cơ chế thị trường, trong công cuộc đổi mới đất nước (Người đánh gấu trên núi suối Mây, Chuyện lạ ở bản Coóc); là vấn đề giáo dục truyền thống, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, vấn đề văn hóa tâm linh (Gốc người)

Trong sáng tác của Hoàng Hữu Sang xuất hiện hình ảnh con người nhỏ bé không thoát khỏi số phận nghiệt ngã nhưng đã thức tỉnh để đi tìm tự do, hạnh

phúc dưới ánh sáng của Đảng, của cách mạng (Vực Thuồng Luồng)

Hà Trung Tuyến là tác giả tiêu biểu với những tác phẩm văn xuôi viết về biên giới và ngành kiểm lâm Hoàng Liên Sơn Truyện của ông xuất hiện ngay sau khi cuộc chiến chống quân xâm lược biên giới nước ta tháng 2/1979 Các tác phẩm hầu hết gắn với cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới, gắn với ngành lâm nghiệp Hoàng Liên Sơn và cuộc sống của cán bộ, đồng bào trên quê hương biển

hồ Thác Bà (Tiếng đàn, Khoảng trống giữa rừng, Hương hoa dẻ, Điểm tựa )

Bùi Huy Mai là tác giả có nhiều đóng góp cho văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái Ông được biết đến trước hết là một hội viên chuyên ngành âm nhạc, nhưng bên cạnh đó ông cũng xuất bản một số tác phẩm văn xuôi như tập truyện dân

gian vùng Văn Chấn – Mường Lò Cay húc Nậm Xia (1997), tập truyện ngắn Thào Sùng (2001)

Truyện của ông chủ yếu là truyện kể về phong tục tập quán để qua đó phản ánh mọi mặt đời sống của các dân tộc ở Mường Lò, đồng thời phê phán, đấu tranh với các hủ tục, đề cao các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giúp nhân dân vùng cao thoát nghèo, có cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc

(Chuyện của bác Dua Hà, Con bò vàng của Vàng Súa )

Từ sau những năm 90 của thế kỉ trước, có thể nói văn xuôi Yên Bái bước vào thời kì phát triển hơn Và bằng tác phẩm, các tác giả dần tự khẳng định vị trí của mình như Hoàng Thế Sinh, Quang Bách, Trần Cao Đàm, Nguyễn Hiền Lương, Hà Lâm Kỳ

Hà Lâm Kỳ là một cái tên nổi bật trong văn xuôi Yên Bái Ông từng là bộ đội chiến trường Tây Nguyên thời kì chống Mỹ, sau khi ra quân, ông trở về làm

Trang 20

giáo viên môn văn ở trường Cao đẳng sư phạm, làm cán bộ Đoàn phụ trách thiếu nhi, làm công tác quản lý và sáng tác văn học, viết báo, sưu tầm văn hóa dân gian Nhờ đó mà Hà Lâm Kỳ có điều kiện tích lũy, nhìn nhận sự việc, tổng hợp

và đánh giá sự việc Trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (1997), trong lời tự

bạch, Hà Lâm Kỳ có viết: “Tôi chắc sẽ suốt đời viết về đề tài miền núi và ước sao tất cả những gì trên đất miền núi kia sẽ trở thành những nhân vật thật sống

động, thật hồn nhiên trong mỗi tác phẩm của mình”

Nhắc đến Hà Lâm Kỳ, người ta thường nghĩ ngay tới một cái tên đầy thân

mật, trìu mến: nhà văn của thiếu nhi Trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại

(2007), Hà Lâm Kỳ có viết tự bạch:

“Sinh thời, nhà văn Nông Quốc Chấn dặn tôi:

“Mình là người miền núi, mình nên viết về miền núi, về dân tộc Viết được nhiều, được ít, đều quý, miễn sao những gì làm ra phải giúp ích cho đồng bào mình”

Nghe theo lời ông, tôi học đòi viết cho thiếu nhi, vẫn biết rằng chưa thành công, nhưng chắc chắn tôi sẽ không rời bút Hàng triệu trẻ em vùng cao, dân tộc, còn đó”

Ngay từ khi mới sáng tác, Hà Lâm Kỳ đã hướng ngòi bút của mình đến với thiếu nhi, và tác giả lý giải: “Con người ai cũng qua thời thơ ấu Lớn lên, dù làm

gì, ở đâu, ta cũng không bao giờ quên được những kỉ niệm đẹp ấy Và chính những kỉ niệm đẹp đó đã giúp cho con người ta lớn dậy, trưởng thành Sáng tác văn học cho thiếu nhi, tôi muốn đạt được phần nào mục đích ấy trong những trang viết của mình” [22, tr 550]

Đã vào tuổi ngũ tuần nhưng sức viết của ông vẫn bền bỉ Suốt mấy chục năm cầm bút, Hà Lâm Kỳ đã được ghi nhận qua rất nhiều giải thưởng lớn nhỏ:

Giải C (không có giải A) cho truyện dài Kỷ vật cuối cùng trong cuộc thi sáng tác

về đề tài thiếu nhi do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức năm 1991; Giải

Ba của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam với tác phẩm Mỗi nét hoa văn (năm

Trang 21

2005); Giải thưởng của UBND tỉnh Yên Bái cho các tác phẩm Chim ri núi và Gió Mù Căng Hà Lâm Kỳ đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam với tư

cách là một nhà văn viết cho thiếu nhi

Truyện của Hà Lâm Kỳ mang đậm chất dân gian Mỗi con người trong cuộc sống đời thường khi trở thành nhân vật trong truyện của ông ít nhiều đều

có dấu ấn riêng bởi cách nói, cách nghĩ của người dân tộc thiểu số Lòng sao, viết vậy, văn Hà Lâm Kỳ như ngọn núi mà ông đã leo, như dòng suối mà ông đã tắm, không cầu kỳ tô vẽ nhưng người đọc vẫn bị cuốn hút bởi tình cảm sâu nặng của người viết thể hiện qua từng nhân vật

Kỷ vật cuối cùng là truyện dài đầu tiên của Hà Lâm Kỳ viết cho thiếu nhi

Đó là câu chuyện lịch sử về Hoàng Văn Thọ - một thiếu niên dân tộc Tày của quê hương tác giả đã dũng cảm hi sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Cuốn sách đã đưa vào Tủ sách vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng, đồng thời đã được lựa chọn là một trong hai tác phẩm làm tài liệu ngưc văn địa phương giảng dạy cho học sinh cấp trung học cơ sở với mục đích giúp các em thiếu nhi Yên Bái hiểu thêm về lịch sử, cuộc sống, con người quê hương mình, hiểu thêm về khát vọng tham gia cách mạng, trực tiếp chiến đấu và lòng gan dạ, dũng cảm của Hoàng Văn Thọ - tấm gương sáng, niềm tự hào của tuổi trẻ Yên Bái

Sau thành công của Kỷ vật cuối cùng, Hà Lâm Kỳ cho ra mắt người đọc

nhiều tác phẩm khác như Cái chổi bông, Cánh cam kiêu sa, Đi tìm chú Cuội, Suối làng, A Ly không xuống chợ, Những đứa con lên núi, Chim ri núi, Gió Mù Căng Tuy chưa phải những tác phẩm được chú ý nhiều trong nền văn học

thiếu nhi Việt Nam, nhưng những tác phẩm này đã trở thành món ăn tinh thần

bổ ích cho thiếu nhi miền núi

Có thể nói, Hà Lâm Kỳ là người đã sống, gắn bó và có nhiều trải nghiệm với tuổi thơ vùng núi cao Tác giả hiểu sâu sắc về những con người được sinh ra

và lớn lên ở đây từ những câu chuyện cổ tích, thần thoại, từ dòng suối mát và từ

Trang 22

những gì thân thương nhất của núi rừng Vì thế mà trong quá trình sáng tác của mình, Hà Lâm Kỳ luôn cố gắng đi tìm chất dân gian để đưa vào tác phẩm, tạo nên sự gần gũi, dễ hiểu, hấp dẫn đối với thiếu nhi dân tộc thiểu số Bên cạnh những sáng tác viết cho thiếu nhi, Hà Lâm Kỳ còn có những tập sách kể chuyện hành quân hay viết về những kỉ niệm sâu sắc trong đời quân ngũ của ông Có thể thấy rằng, hầu hết các tác phẩm của Hà Lâm Kỳ đều có điểm chung là được bắt nguồn từ những kỉ niệm, dù rất nhỏ nhưng không thể quên trong cuộc đời nhà văn

Bên cạnh Hà Lâm Kỳ, Lê Năng cũng là tác giả có nhiều đóng góp cho mảng văn học thiếu nhi của tỉnh Yên Bái Trong các truyện của ông, thế giới

loài vật rất gần gũi với trẻ thơ (Chú gà cồ, Chim chào mào non ) Và thông qua

những nhân vật ấy, tác giả có ý thức giáo dục các em thiếu nhi về môi trường

sống, giúp các em hiểu ra cái hay cái dở trong cuộc sống (Ong và hoa, Ổ trứng gà )

Hoàng Tương Lai cũng là một tác giả tiêu biểu với mảng đề tài viết cho thiếu nhi trong văn xuôi Yên Bái Là con trai của nhà văn Hoàng Hạc, Hoàng Tương Lai đã thừa hưởng chất văn chương từ người cha cùng với vốn văn hóa dân tộc Tày luôn cháy trong ông Là một nghệ nhân lưu truyền văn hóa, văn

nghệ dân gian, Hoàng Tương Lai đã xuất bản một số truyện như Chõ xôi trưa ấy (200), Cây sẹt trổ hoa (2006), Quả lựu đạn cài hoa (2007), hoàn chỉnh Đường lên dâng lễ tổ của cố nhà văn Hoàng Hạc (2005)

Các tác phẩm của Hoàng Tương Lai có sự liên tưởng, tưởng tượng bay bổng, lối kể chuyện sinh động, giàu bản sắc văn hóa Tày, ngôn ngữ phù hợp với

lứa tuổi thiếu nhi (tập truyện Cõng bạn gọi mặt trời)

Nhà văn Địch Ngọc Lân cũng là một tác giả quen thuộc của văn xuôi Yên

Bái với hai tập tiểu thuyết gây được sự chú ý, đó là Ngôi đình bản Chang (1999)

và Hoa mí rừng (2001)

Trang 23

Qua các tác phẩm, nhà văn đã đề cập tới nhiều lĩnh vực đời sống xã hội của

đồng bào các dân tộc qua các thời kì cách mạng Tiểu thuyết Ngôi đình bản Chang với nội dung chính là cuộc vận động cách mạng của đồng bào các dân

tộc vùng thượng huyện Yên Bình nói chung và hoạt động của tổ chức Việt Minh nói riêng Bên cạnh nội dung chính trên, tiểu thuyết còn cho thấy những nét sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Yên Bình, Yên Bái Hoàng Việt Quân tuy là người Kinh, quê gốc ở Hà Nội nhưng các tác phẩm của ông lại gắn với khu vực miền núi Ông có một số lượng tác phẩm khá lớn,

đa phần là các sách nghiên cứu, sưu tầm về tên gọi địa danh ở tỉnh Yên Bái như

Kỷ niệm về một nỗi nhớ (1994), Người ở nguồn (1995), Âm vang gió ngàn (1995), Những ngôi sao mùa hạ (1996), Cây cột điện trong đêm (2002), Huyện trên núi (1996)

Trong số các tác phẩm của ông, tập truyện Người ở nguồn đã góp phần làm

phong phú thêm kho tàng tri thức về Bác Hồ kính yêu từ một góc nhìn mới lạ và một phong cách quen thuộc Đó là những mẩu chuyện về Bác của nhân dân Cao Bằng mang đậm tính dân gian rất mộc mạc, tự nhiên, đượm màu sắc huyền thoại Không gian, thời gian và không khí của chuyện vừa có màu sắc cổ tích vừa phù hợp với sự nghiêm mật của thời kì tiền khởi nghĩa

Nguyễn Hiền Lương cũng là một tác giả khá tiêu biểu của văn xuôi Yên Bái Trước đây ông đã từng tham gia bộ đội và sau đó làm giáo viên Có lẽ vì vậy mà tác phẩm của ông tập trung vào hai đề tài chính: bộ đội và nhà trường, hay nói đúng hơn là bộ đội trong mối liên hệ với nhà trường Trang văn của ông

cũng giống như cuộc sống đời thực với các tác phẩm như tập truyện Định canh định cư (1995), Trẻ em là hoa đất (1995), Miền rừng thuở ấy (2010), Người kéo

vó bè sông Chảy (2012) Trong chiến tranh, đã có lúc tử thần dòm sát vào tận

mặt, khi làm giáo viên cũng đầy vui buồn với cái nghề vất vả nhưng rất tình nghĩa nơi vùng núi cao này

Trang 24

Tác phẩm Người kéo vó bè Sông Chảy đã tô đậm một mẫu người lao động

nghèo khó nhưng hiếu thảo, giàu lòng thương người, không biết hận thù, sống chan hòa với mọi người Đồng thời cũng tái hiện khá chân thực, chính xác một mảng hiện thực cuộc sống vất vả, gian nan nhưng đầm ấm tình người của người dân Yên Bái Với lối kể chuyện tự nhiên, giản dị, vô tư nhưng tác phẩm cũng đã khiến người đọc phải suy nghĩ, liên hệ giữa tác phẩm với đời thực, giữa ngày ấy

và bây giờ

Nhà phê bình Văn Giá có viết về Nguyễn Hiền Lương: “trong văn mạch chung của văn chương khoảng từ đổi mới đên nay, có rất nhiều dòng Nhưng có một dòng chủ lưu làm nên sức mạnh, sức sống của văn chương hiện đại, đó là dòng văn tự phản tỉnh Nguyễn Hiền Lương thật tự nhiên đã hòa nhập vào dòng mạch này” [38, tr 5]

Đây là một nhận xét rất đúng với con người, văn chương của Nguyễn Hiền Lương Con người đi qua thời chiến, đi qua thời bao cấp, cái hay có nhiều nhưng cũng không phải là không có cái dở Cho nên, chúng ta phải đứng ở ngày hôm nay để nhìn lại và nhận ra cái nào hay, cái nào dở, cái nào vẫn còn tồn tại Và Nguyễn Hiền Lương đã không ngại ngần lật giở, phơi bày những sự thật ấy Nếu như nhà phê bình Văn Giá coi văn Nguyễn Hiền Lương như là một thứ

“trà hãm đặc” thì truyện của Quang Bách lại có sự tươi rói của đời sống Đọc truyện của ông ta như được xem những bức tranh màu nước với các mảng màu phong phú, hơi hỗn độn chen lẫn hồn nhiên Ông đã xuất bản hai tập truyện

ngắn là Người cha bất hạnh (1996), Từ bỏ lời nguồn (2006) và hai tập tiểu

thuyết Phía bên kia rừng cọ (1998), Sương thu (2007)

Các tác phẩm của Quang Bách được chia làm hai mảng: một mảng viết về

vùng cao Yên Bái – Lào Cai ( Từ bỏ lời nguyền, Xuống núi, Rừng chiều )

Trong mảng này ông đặc biệt chú ý đến việc miêu tả cuộc đấu tranh giữa cuộc

sống cũ và mới, giữa thế giới văn minh và dã man cổ xưa (Đứa cháu nội họ Giàng) Bên cạnh đó ông cũng đề cập tới vấn đề cuộc sống yên ổn của những

Trang 25

người dân tộc vùng cao đang dần bị xáo trộn, tấn công bởi sự phát triển của kinh

tế thị trường

Mảng đề tài thứ hai đó là viết về tình yêu, tình bạn Truyện ngắn Người xa

xứ viết về một cô gái bị người yêu ruồng bỏ khi cô mang thai đứa con sau này trở thành một nhà khoa học Còn truyện Cơn mưa là một câu chuyện ấm áp, đầy

nghĩa tình về cuộc sống của hai kẻ thất cơ lỡ vận

Trần Cao Đàm cũng là một nhà văn cần được nói tới trong giai đoạn này Sinh ra ở Nghĩa Lộ - Yên Bái, ông đã từng đi bộ đội và tham gia chiến đấu tại chiến trường Lào, sau đó ra quân và làm nghề báo Ông nguyên là Trưởng phòng Biên tập phát thanh, Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Yên Bái (đã nghỉ hưu) Với vốn sống phong phú, Trần Cao Đàm đã lần lượt hoàn thành và xuất

bản các tập tiểu thuyết: Bến Ngòi – NXB Quân đội nhân dân, 1999; Pa Thí mù sương – NXB Quân đội nhân dân, 2000; Âu Lâu bến lửa – NXB Quân đội nhân dân, 2006; Đất Mường thời dông lũ – NXB Công an nhân dân, 2014 và một tập truyện ngắn Lẽ đời (1996)

Các tác phẩm của Trần Cao Đàm hầu hết tập trung viết về chiến tranh và những người lính Với lợi thế làm báo, tiểu thuyết của Trần Cao Đàm rất phong phú về mặt tư liệu Bên cạnh đó, vốn hiểu biết về vùng đất Mường Lò cùng các phong tục của người dân địa phương ở quê hương đã đem lại cho các tác phẩm của Trần Cao Đàm một bề dày văn hóa, và sự thể hiện khá sâu sắc chất tốt đẹp của người cán bộ trong chiến tranh

Trần Cao Đàm là người trung thành với mảng đề tài cách mạng và kháng

chiến ở vùng quê Mường Lò Tiểu thuyết Đất Mường thời dông lũ viết về hiện

thực cuộc sống, chiến đấu vô cùng gian khổ nhưng rất dũng cảm, can trường của nhân dân Mường Lò chống thực dân Pháp và thổ phỉ Viết về Mường Lò, Trần Cao Đàm có nhiều lợi thế bởi đây là nơi tác giả sinh ra, lớn lên, gắn bó máu thịt,

và hơn hết đó là các nhân chứng lịch sử vẫn còn và đều thân thuộc với ông Vì vậy mà các nhân vật trong tác phẩm từ chiến sĩ cách mạng Bùi Hà, Trọng đến

Trang 26

thống lý Giàng A Giao, các trận đánh Kí Kháu Ly, đồn Nghĩa Lộ đều có giá trị

về mặt tư liệu lịch sử

Nếu như Trần Cao Đàm trung thành với mảng đề tài viết về chiến tranh, người lính thì với tác giả Nguyễn Thị Lũy lại ngược lại, tác phẩm của bà

thường đề cập tới cuộc sống hàng ngày mà qua đó mỗi người như nhìn thấy

mình cũng có một phần trong đó Bà đã xuất bản tập truyện ngắn Theo em về cõi vĩnh hằng (1995), Vầng trăng không còn khuyết (1998), tiểu thuyết Khoảng cách (1996), Trăng muộn (2003), Đất quê (2006)

Đọc tác phẩm của bà ta luôn cảm thấy một điều gì đó rất nhẹ nhàng, êm dịu Và dường như do ảnh hưởng từ nghề giáo viên mà những tình huống, mâu thuẫn có trong tác phẩm của bà luôn được xử lý rất đẹp, rất thuyết phục Đặc biệt hơn đó là, bà rất tâm huyết với hình tượng các nhân vật nữ Họ rất chăm chỉ, hết mực thương yêu chồng con, và đầy lòng vị tha như nhân vật Đông và mẹ

chồng của cô trong tiểu thuyết Đất quê, rất yêu và tin tưởng chồng, chăm sóc mẹ

chồng như mẹ đẻ, đời cô những tưởng cứ êm đềm như vậy trôi đi cho đến khi cô phát hiện chồng mình ngoại tình, đưa cả nhân tình về nhà để chung sống Nhưng rồi với lòng vị tha và tình yêu của mình Đông đã cảm hóa được chồng và chấp nhận tha thứ cho anh

Có thể nói, văn xuôi Yên Bái đã tái hiện được công cuộc xây dựng và bảo

vệ đất nước tại một vùng miền núi Tây Bắc Trong các tác phẩm ta thấy hiện lên một Yên Bái nói riêng và Tây Bắc nói chung anh hùng trong chống Mỹ, trong xây dựng nhà máy, xí nghiệp, xây dựng làng bản, quê hương Và trong những tác phẩm ấy ta bắt gặp những con người ở nhiều lứa tuổi hăng say trong học tập, chiến đấu, yêu đời và lạc quan tin tưởng vào tương lai Và trong thời đại đổi mới, cũng chính những con người ấy lại góp phần quan trọng trong xóa bỏ những tiêu cực, lạc hậu, xây dựng cuộc sống mới công bằng, tự do, hạnh phúc dưới ánh sáng của Đảng

Trang 27

Những năm gần đây, văn xuôi Yên Bái đã có sự khởi sắc Mặc dù chưa có những đỉnh cao thật sự nổi bật nhưng nhìn chung về mặt bằng chất lượng khá đồng đều Trong khi những cây bút chuyên nghiệp ngày càng xác định được vị trí của mình thì thế hệ những cây bút trẻ cũng trưởng thành để tiếp bước đàn anh, với những cái tên như Nguyễn Ngọc Yến, Kim Yến, Nông Quang Khiêm

Nguyễn Ngọc Yến viết truyện ngắn Ca nương (đăng trên Tạp chí Văn nghệ Yên Bái số 157) Chị biết khá kĩ về nghệ thuật hát ả đào và cả những biến dạng,

méo mó, lệch lạc trong việc lợi dụng nó ở thời nay Tác giả đã thể hiện được trong tác phẩm cái nghiệp chướng của nghề hát ả đào Một cô đào tài sắc như Sương sớm bị lợi dụng và rồi chính cô đã tự hủy hoại cuộc đời mình không

những thế còn làm tan vỡ bao cuộc đời người khác Ca nương là truyện ngắn

khá công phu, kết cấu chặt chẽ, chi tiết chọn lọc, ngôn ngữ trong sáng, mỗi nhân vật chỉ là một lát cắt nhưng ta có thể hình dung ra cả cuộc đời của họ

Cây bút trẻ Nông Quang Khiêm – cháu ngoại của Hoàng Hạc cũng được đánh giá cao Là một tác giả còn trẻ về tuổi nghề và cả tuổi đời nhưng bút lực khá vững vàng Anh đã có nhiều truyện ngắn trong đó có cả truyện ngắn dành cho thiếu nhi Văn Nông Quang Khiêm viết khá chuyên nghiệp và ngày càng thể hiện dấu ấn riêng

Bến đời là tác phẩm thành công bước đầu trên con đường văn chương của

Nông Quang Khiêm Bên cạnh đó có một số truyện thiếu nhi khá ấn tượng như

Con khỉ cụt tay (Văn nghệ Yên Bái số 159 năm 2014), Túp và Mốc (Văn nghệ Yên Bái số 161 năm 2014) Nông Quang Khiêm đã quan sát kĩ lưỡng từng động

tác, tư thế của các con vật, từ miêu tả bề ngoài mà làm hiện lên được tình cảm, tính cách của mỗi con vật đó Các nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi rất hồn nhiên, gần gũi với cuộc sống của đồng bào cũng như của các em nhỏ miền núi, qua đó tác giả đã lồng ghép những vấn đề của đời sống thực tại khiến chúng

ta phải suy nghĩ, như: “Chú Néc bất ngờ gặp được con khỉ cụt tay trong bếp nhà hàng mà trước đó chính chú đã cứu nó về rừng, lại nói như một triết gia: khỉ ôi,

Trang 28

mày thoát được tao nhưng mày không thoát được cạm bẫy của người đời” (Con khỉ cụt tay) Những truyện viết cho thiếu nhi của Nông Quang Khiêm mang tính

giáo dục cao Viết truyện cho thiếu nhi rất khó, nó cần sáng sủa, giản dị nhưng vẫn có chiều sâu, mà tác phẩm của Nông Quang Khiêm là một ví dụ

Văn Nông Quang Khiêm giản dị nhưng giàu chất trữ tình, mượt mà Chi tiết, hình ảnh mang đậm bản sắc văn hóa Tày Không gian trong tập truyện ngắn

Những ánh sao xanh vẫn là quê hương tác giả - một bản người Tày ở Thác Bà,

với các nhân vật chính chủ yếu ở độ tuổi thiếu nhi Tác phẩm kể về những sự việc, phong tục và con người gần gũi với tác giả bằng sự cảm nhận hồn nhiên, giản dị, trong trẻo, giàu cảm xúc đồng thời cũng gợi nhiều suy tư ở người đọc Một cây bút văn xuôi trẻ nữa đó là Dương Thị Thu Phương Các sáng tác của chị đa số là truyện ngắn và truyện ngắn mini nhưng có độ sâu về tư tưởng Các tác phẩm của chị chỉ xây dựng một tình huống qua đó tác giả bộc lộ mình, khi thì bằng tâm trạng, khi thì triết lý, khi chỉ là một hành động nhưng lại gợi

cho người đọc rất nhiều suy nghĩ, tiêu biểu như: truyện ngắn Yêu ta để yêu người, tập truyện ngắn mini Hai người đàn bà, Nhật kí tiền, Cha con

Bên cạnh những thành tựu, văn xuôi Yên Bái cũng tồn tại một số hạn chế

Đó là chất lượng các sáng tác nhìn chung chưa cao, việc đổi mới về nghệ thuật diễn ra chậm Nhiều tác phẩm, tác giả chỉ dừng lại ở các giải thưởng địa phương

mà chưa đạt được giải thưởng cao của các cuộc thi lớn ở tầm quốc gia

Tóm lại, văn xuôi Yên Bái ngày càng trưởng thành về đội ngũ tác giả, tác phẩm Cùng với các nhà văn lớp trước các thế hệ tiếp nối sau này sẽ góp phần làm cho văn học Yên Bái ngày càng vững bước hòa nhập với nền văn học đổi mới của nước nhà

1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Hoàng Thế Sinh

1.2.1 Tiểu sử và con người

Hoàng Thế Sinh có bút danh là Thế Sinh hay còn có bút danh khác là Hoàng Tử Sơn, sinh ngày 16/9/1952 Ông quê ở Ân Thi, Hưng Yên Là người

Trang 29

dân tộc Kinh, và hiện ông đang thường trú tại thành phố Yên Bái Ông được kết nạp là hội viên của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm

2003, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006

Năm 1971, ông tham gia bộ đội, là thương binh hạng 4/4 Sau khi ra quân ông tiếp tục đi học và tới năm 1977 thì tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học

Sư phạm Việt Bắc Trong khoảng thời gian từ khi ra trường đến năm 1990, ông dạy học ở Yên Bái Ông tốt nghiệp thạc sĩ văn học tai trường Đại học Sư phạm

Hà Nội vào năm 1998 Hoàng Thế Sinh chuyển sang làm nghề báo từ năm 1992,

ông nguyên là Phó Tổng biên tập báo Yên Bái, tỉnh Yên Bái

Hoàng Thế Sinh đã ấp ủ nghiệp văn từ khá sớm, ngay từ khi còn học ở trường sư phạm Việt Bắc đã có những bài thơ đầu tiên Nhưng những kí tự, những dấu ấn đầu tiên của cái tên Thế Sinh chỉ thật sự được ghi nhớ trong làng văn có lẽ là vào những năm 1986 – 1988

Khoảng thời gian đó đã có khá nhiều tên tuổi đã thành danh và cả những

tên tuổi cũng đang cố gắng để tự khẳng định mình Báo Văn Nghệ của Hội Nhà

văn lúc bấy giờ đang là một ngọn cờ vẫy gọi đối với tất cả các cây bút, có tác phẩm in trên báo Văn nghệ là cái đích mà người viết nào cũng muốn đạt được

Nhờ sự nhiệt thành với văn với đời mà Rét lộc đã ra đời và là tác phẩm đầu tiên của Hoàng Thế Sinh được in trên báo Văn nghệ - một tờ báo lớn của Hội

Nhà văn, nó như là một chứng chỉ cho đường văn của ông Từ đó Hoàng Thế Sinh ngày càng gắn bó với nghiệp văn chương hơn

Hoàng Thế Sinh suy nghĩ về nghề văn như sau: “Tôi cảm nhận, viết văn –

đó là một nghề “giời đày”, một nghề lao động sáng tạo khắc nghiệt và thật hạnh phúc Tác phẩm phải gắn với thân phận con người, gắn với vận mệnh đất nước,

nếu không, chẳng có nghĩa gì cả” Điều này chi phối tất cả các sáng tác của ông

thành một phong cách riêng

1.2.2 Tác phẩm và vị trí của Hoàng Thế Sinh trong văn xuôi Yên Bái

Trang 30

Hoàng Thế Sinh là cây bút đang sung sức Số lượng tác phẩm của ông khá

đồ sộ Có một điều thật đáng quý ở nhà văn đó là ông đặc biệt thủy chung gắn

bó với núi rừng Yên Bái, tuy không phải là quê gốc, nhưng ông đã ăn đời ở kiếp cùng xứ sở này Văn chương của ông đi vào đời sống tinh thần của người Yên Bái theo một cách thật tự nhiên và thú vị Không ít các danh xưng đã trở nên thân thuộc của núi rừng Yên Bái lại được đi ra từ các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh Ông là người đầu tiên gọi mảnh đất Yên Bái là “xứ mưa” Ông cũng là người đầu tiên đặt tên cho một cái động đá là động Thủy Tiên, gọi một hòn đảo trong lòng hồ Thác Bà là đảo Trinh Nam Cái danh xưng “bụi hồ” tuy không hẳn

do ông là người đầu tiên gọi, nhưng sau tiểu thuyết Bụi hồ, đặc biệt là khi tiểu

thuyết ấy được chuyển thể thành phim, người dân Yên Bái có cách nói cửa miệng “bụi hồ” Đó chính là sức sống của tác phẩm Hoàng Thế Sinh

Các tác phẩm chính viết về miền núi của Hoàng Thế Sinh: tiểu thuyết Bụi

hồ - NXB Công an nhân dân, 1992; Tiểu thuyết Xứ mưa – NXB Quân đội nhân

dân, 2000; tập truyện ngắn Luật của rừng – NXB Lao động, 2002; tập truyện

ngắn Hoang thủy – NXB Lao động, 2006; tiểu thuyết Rừng thiêng – NXB Quân đội nhân dân, 2007; Tập truyện ngắn Sao tổn khuống – NXB Hội Nhà văn, 2009; tập bút kí và ghi chép Lên Phan Si Păng – NXB Hội Nhà văn, 2008; tiểu thuyết Thuốc phiện và lửa – NXB Công an nhân dân, 2013

Với khối lượng tác phẩm như vậy, Hoàng Thế Sinh đã đạt được không ít các giải thưởng văn học lớn nhỏ khác nhau: Giải đặc biệt của Hội văn học nghệ

thuật Yên Bái năm 1993 dành cho tiểu thuyết Bụi hồ, tác phẩm này đã được Đài

truyền hình Hà Nội dựng thành phim truyện “Bụi hồ” 2 tập; giải đặc biệt của

Hội văn học nghệ thuật Yên Bái năm 2002 trao cho tiểu thuyết Xứ mưa; Giải nhất của Hội văn học nghệ thuật Yên Bái năm 2008 cho tập truyện ngắn Hoang thủy và tập bút kí và ghi chép Lên Phan Si Păng; Tiểu thuyết Rừng thiêng là tác

phẩm xuất sắc tham gia cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca về đề tài chiến tranh Cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân 2006- 2008, Tổng cục

Trang 31

Chính trị QĐND Việt Nam tặng ngày 7/1/2009; Tập truyện ngắn Sao tổn khuống đạt giải nhì Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam

2009; giải B (không có giải A) của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số

Việt Nam năm 2014 cho tiểu thuyết Thuốc phiện và lửa

Hoàng Thế Sinh là cây bút xuất hiện từ thời bao cấp, cái thời của những đói cùng khổ Nhưng cũng chính đói khổ và những hệ lụy của nó lại sinh ra những con người dũng khí Những con người này có một phẩm chất hàng đầu là biết bất bình trước cái hư đốn của đời sống, và ở mức cao hơn, biết chiến đấu để tẩy trừ chúng, mặc dù có khi đơn độc, thậm chí thất bại Lên tiếng chống cái hư đốn, cái ác độc của đời sống thế sự là cảm hứng lớn của nền văn học Việt Nam trong thời điểm giao thời, đổi mới Và văn Hoàng Thế Sinh từ khi xuất hiện đến nay vẫn bền bỉ nằm trong mạch cảm hứng nóng bỏng đó với hệ thống những nhân vật nhỏ bé, yếu thế nhưng đầy dũng khí

Trong tác phẩm, Hoàng Thế Sinh luôn để cho các nhân vật phẫn nộ trước bao nhiêu lừa lọc, tham nhũng, giả trá, phản bội, đểu cáng của chính con người Bất bình và dám đấu tranh cho sự bất bình chính là phẩm chất của những người có dũng khí Là cây bút trung thực và bản lĩnh, Hoàng Thế Sinh luôn tỏ ra yêu quý và tôn vinh những người có dũng khí Điều này được thể hiện trong

phần lớn các tác phẩm của ông, như tiểu thuyết Bụi hồ, Rừng thiêng, Thuốc phiện và lửa, các truyện ngắn như Người nông dân nhỏ bé, Đảo chanh đào, Chuyện ở Mường Văn, Hát về một bản tình ca, Chim gâu đôi

Có lẽ vì cái gốc là tôn vinh những con người có dũng khí mà nhân vật trong các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh luôn được xây dựng và ứng xử theo tinh thần triết lý dân gian “ác giả ác báo” Hay nói cách khác, nhân vật được ông phân chia thành hai tuyến tốt – xấu phân minh Bên cạnh đó, truyện của Hoàng Thế Sinh còn có những chi tiết độc đáo, sắc nét, ám ảnh, gợi lên nhiều lớp nghĩa Hoàng Thế Sinh là người miền xuôi, nhưng ông đã sống và gắn bó với mảnh đất vùng cao Yên Bái gần trọn một đời Chính vì thế mà nếp cảm, nếp

Trang 32

nghĩ, tư duy và ngôn ngữ của người miền núi như ăn sâu vào gốc rễ, ông am hiểu đời sống văn hóa, lao động và sinh hoạt của người miền núi, các chi tiết trong truyện cũng nhờ vậy mà được ông miêu tả hết sức chính xác

Hoàng Thế Sinh là tác giả trong nền văn học đương đại, là một tác giả hiện đang sung sức với các tác phẩm luôn thủy chung, gắn bó với núi rừng Yên Bái Mảnh đất văn chương Yên Bái đương đại đã có được những tên tuổi quen thuộc với bạn đọc và đang sung sức Và các sáng tác của Hoàng Thế Sinh là một giọng điệu vạm vỡ góp phần làm cho văn chương xứ sở này có sức lan xa, tỏa sức sống cùng với văn chương cả nước Và có thể nói, cứ nhắc đến văn xuôi Yên Bái hiện nay không phải chỉ có Hoàng Thế Sinh, nhưng cũng lại không thể thiếu được cái tên này

Trang 33

CHƯƠNG 2 CON NGƯỜI VÀ HIỆN THỰC MIỀN NÚI TRONG VĂN XUÔI

HOÀNG THẾ SINH 2.1 Một xã hội miền núi còn nhiều bất công, tiêu cực

Mỗi nhà văn thông qua thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm của mình đều muốn gửi gắm một quan niệm nghệ thuật nhất định về hiện thực đời sống Các nhà văn viết về dân tộc và miền núi qua tác phẩm gửi gắm những thông điệp về hiện thực sống động của miền núi Hoàng Thế Sinh cũng vậy

Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, đề tài sáng tác của các nhà văn đã mở rộng hơn Văn xuôi viết về đề tài dân tộc và miền núi từng bước bắt nhịp vào đời sống của đất nước, tập trung ca ngợi cái mới, cái tốt đẹp, cổ vũ, động viên cái mới Bên cạnh đó cũng có cả thái độ phê phán cái xấu, cái lạc hậu, cái ác

Giữa lúc trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật nổi lên nhiều vấn đề đáng quan tâm, trong hai ngày 11 và 12/11/2014, tại thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương đã tổ chức hội thảo “Vấn đề đạo đức xã hội trong văn học, nghệ thuật hiện nay” Hội thảo đi sâu tập trung vào vấn đề: Văn học nghệ thuật có cứu rỗi được sự xuống cấp của đạo đức xã hội hay ngay chính bản thân cái đẹp của văn học nghệ thuật cũng đang bị hủy hoại khủng khiếp, chức năng giải trí có thực sự đang lấn át các chức năng khác? Trong tham luận “Mấy ý kiến về văn học nghệ thuật với việc xây dựng con người”, GS Hoàng Chương cho rằng: “Các di sản văn hóa của cha ông không những vẫn rất thời sự mà còn có giá trị thiết thực trong việc cảnh báo cái xấu, đấu tranh chống sự suy thoái cũng như hướng con người vươn tới những chuẩn mực chân - thiện – mĩ” Còn với nhà văn Vũ Hạnh thì “đạo đức trong văn học là

Trang 34

một câu chuyện đã quá xưa cũ của thời phong kiến nhưng lại quá mới trong thời hiện tại” Nhà thơ Hồ Bá Thâm thì trăn trở: “Văn học không thể cập nhật theo kiểu thời sự, nhưng cũng không thể không lên tiếng kịp thời, góp phần đặc biệt vào lĩnh vực phê phán hành động xấu, ác bá, thấp hèn trong tình hình hiện nay

và nâng đỡ, vun trồng, cải thiện cái tốt, cái cao cả từ chiều sâu cảm xúc, có tác động mạnh mẽ đến trái tim, lương tâm đạo đức con người”

Văn học nghệ thuật luôn được kì vọng sẽ góp phần tác động để xã hội phát triển tốt đẹp hơn Tuy nhiên, thực tế đời sống văn học nghệ thuật những năm qua cho thấy những giá trị tốt đẹp, những mặt tích cực của xã hội rất ít được đề cập đến Trong khi đó lại có không ít những văn nghệ sĩ chưa thật sự dám dấn thân, đấu tranh thẳng thắn mà ngược lại có biểu hiện né tránh hoặc đề cập mờ nhạt, chưa phân tích rõ nguyên nhân cũng như giải pháp cho các vấn đề đạo đức

xã hội bức xúc trong đời sống

Đã có không ít các nhà văn đề cập đến những bất công, tiêu cực ở miền núi như Vi Hồng, Cao Duy Sơn, La Quán Miên Qua việc khảo sát các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh, có thể khẳng định ông là một trong số các nhà văn cũng viết về những bất công tiêu cực, về cái xấu cái ác của một bộ phận cán bộ lãnh đạo thoái hóa, biến chất

Để lý giải cho thực trạng đói nghèo của người dân vùng cao, Hoàng Thế Sinh đã công khai vạch trần những cái xấu, cái ác, những bất công, ngang trái bắt nguồn từ sự sa đọa cùng hành vi đen tối của một bộ phận cán bộ lãnh đạo trong thời kì bao cấp và tiền đổi mới Cùng với đó là những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường trên địa bàn miền núi

Trong sáng tác của Hoàng Thế Sinh, đó là những kẻ bất tài, thiếu nhân cách nhưng biết lợi dụng, luồn lách, giỏi nịnh bợ, lại có “ô dù to” để dựa dẫm nên

thăng tiến nhanh chóng Tam trong Xứ mưa điển hình cho loại người cơ hội này

Được thăng chức lên Phó hiệu trưởng vì hắn “có người nhà làm cán bộ có vai vế

ở Sở giáo dục, ở tổ chức chính quyền tỉnh và hắn cũng lắm mánh lới” [44, tr

Trang 35

274] Ngay sau khi được đề bạt, Tam lập tức đưa những người thân cận, anh em,

họ hàng vào giữ các vị trí chủ chốt trong trường một cách trắng trợn và liều lĩnh Lợi dụng ông quyền hiệu trưởng Tào nhu nhược và ham chức, Tam vừa nhử vừa dọa vừa lôi kéo ông ta tham dự vào những mưu mô của hắn Không những thế, Tam còn lợi dụng chức vụ của mình ép các giáo viên phải làm sai quy định như nâng điểm, sửa học bạ để chạy theo thành tích Hắn còn lợi dụng việc Nhà nước đầu tư cho xây dựng thư viện, trường lớp mới để đút túi cho riêng mình không ít lợi lộc Không chỉ dừng lại ở đó, Tam còn rất tinh vi, xảo quyệt khi bị Bảo Châu tố cáo lên cấp trên về những hành vi sai trái Một mặt hắn nịnh bợ cấp trên, nói mình bị vu oan, mặt khác hắn châm chọc, cạnh khoé, phê bình người đã

tố cáo hắn là muốn gây mất đoàn kết trong trường, thậm chí hắn còn ngang nhiên gạt tên Bảo Châu ra khỏi danh sách xét kết nạp Đảng vì mối tư thù này trong khi anh hoàn toàn xứng đáng

Một số cán bộ khác được tác giả miêu tả là những kẻ quan liêu, xa dân, chỉ đứng từ xa mà chỉ đạo, ngoài mặt thì là lo cho cuộc sống của nhân dân nhưng thực chất bên trong lại là hút máu tủy của dân

Ấy là những kế hoạch “cải tạo” rừng nguyên sinh, rừng già để trồng cây bồ

đề, cây keo, cây bạch đàn của ông Lương Chí Tích – Phó trưởng ty Lâm

nghiệp (Luật của rừng), và ông Vũ Như Vũ (Chuyện quanh núi Chúa) Những

lý lẽ mà các lãnh đạo đưa ra dường như rất khoa học, hợp lý, xuôi tai người dân:

“Cây bồ đề dùng để sản xuất giấy, vải nilon, làm cột chống lò, làm ván nhân tạo,

có giá trị cao lắm, cao hơn nhiều những thứ cây khác Mà cây bồ đề cứ dăm bảy năm lại khai thác, cho thu hoạch bán nhiều tiền, xong lại trồng mới, vẫn có rừng xanh tươi quanh năm Chứ những cánh rừng bây giờ cả trăm năm cũng chỉ để

um tùm, chẳng cho dân tiền, sao làm giàu được” [45,tr 421]

Các lãnh đạo nắm rất vững tâm lý của dân khiến cho người dân nghe xong

kế hoạch thì vui mừng và đặt nhiều hi vọng vào một sự đổi đời trong tương lai Nhưng dân đâu biết được rằng, phía sau cái vỏ ngoài tâm huyết ấy, các cán bộ

Trang 36

lãnh đạo huyện đã cấu kết với cán bộ xã khai thác gỗ quý hiếm để phục vụ lợi ích riêng và đem bán lấy tiền: “ hàng mấy chục khối gỗ pơmu, chò chỉ, sến, táu gọi là cung cấp cho các công trình xây dựng cơ bản quan trọng, nhưng số gỗ ấy hầu hết đều đem về nhà riêng các sếp để làm khung cửa, ốp trần, ốp tường, ốp cầu thang, đóng giường, đóng sập Gỗ còn được các sếp làm quà đem biếu tặng các sếp to ở Trung ương nữa” [45,tr 409] Và cứ thế, họ khai thác rừng một cách

có “khoa học”, cẩn trọng chứ không thể gọi là phá rừng được

Trong truyện ngắn Người nông dân nhỏ bé, cái xấu cái ác được thực hiện

một cách trắng trợn “Đã có nhiều tác giả viết về các vấn đề ở nông thôn gần đây, nhưng viết trực diện, viết như nói “bộp vào mặt” lớp cán bộ cơ sở tham nhũng thì dường như đây là truyện đầu tiên” [18] Người nông dân có cái tên Phùng Đinh Sắc do xông vào ủy ban xã chỉ mặt mấy ông lãnh đạo bảo họ là lũ sâu mọt, hại dân, hại nước đã để cho bọn người xấu phá rừng mà đã bị dân quân bắt giam, vu cho tội gây rối trật tự địa phương, xúc phạm và hành hung người thi hành công vụ Không những anh bị giam, không được cho ăn uống, họ còn đánh anh tới mức gãy xương sườn Sau vụ đó, anh viết đơn kiện lên huyện nhưng ngay hôm ấy anh bị hai ông công an huyện bắt vào buồng tạm giam thay nhau đấm đá anh đến gãy cả răng, vỡ đầu, gãy tay Họ dọa anh không được đi kiện nữa Không những thế, sau đó mấy ông ở xã còn đến tịch thu sổ đỏ giao đất giao rừng của nhà anh để trừng trị nếu anh còn tiếp tục đi kiện

Có thể nói, các cán bộ xã ở đây thật trắng trợn, coi thường kỉ cương pháp luật Bằng cách miêu tả trực diện, tác giả khiến cho người đọc cũng phải phẫn uất thay cho người nông dân kia Truyện ngắn như một tiếng kêu bênh vực người lương thiện và đòi hỏi sự công bằng

Đỉnh cao của sự bất công, tiêu cực trong các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh

có lẽ rõ nét nhất trong tiểu thuyết Bụi hồ Cũng là những con người nhỏ bé bị

cấp trên áp bức, không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần cũng bị tổn thương Bên cạnh đó ta còn thấy một thực trạng đáng buồn là những người thực thi pháp

Trang 37

luật, thực thi sự công bằng lại không thực hiện hết chức trách của mình khiến cho cuộc sống của nhiều người bị đảo lộn

Vân là một cô gái xinh đẹp nết na, được nhiều người quý mến, và đặc biệt

cô rất say mê nghiên cứu khoa học Nhưng cuộc đời và cả sự nghiệp của cô đã bị tên giám đốc Sắc gieo tai họa khiến cho cô đau đớn, chịu sự ám ảnh cả về thể xác lẫn tinh thần Không một ai lên tiếng bênh vực cô, họ khuyên cô nên an phận “đừng có chống mấy ông có chức có quyền rồi ra lại như tò vò mắc mạng nhện, gỡ chẳng ra được đâu” Cô đã phải một mình sống ở đảo hoang Mõm Sói mênh mông trời nước, cô đơn, tủi nhục Cho đến khi cô đã tìm được hạnh phúc cho mình thì một lần nữa tay giám đốc ấy lại xuất hiện, hắn định cướp không thành quả nghiên cứu, lai ghép giống chanh đào của cô Nhưng may mắn điều

đó đã không thực hiện được

Còn Hoàng, vốn là một anh bộ đội đặc công, vì có nhân cách và lòng tự trọng mà đã truy lùng Si Ngoác – kẻ đã hại chết vợ anh - mà đã mở đầu cho tấn

bi kịch cuộc đời Anh bị kết án với tội danh bức tử người khác, phải chịu bảy năm tù giam Sắp đến ngày được tự do, anh đã đánh tên quản ngục vì bị hắn xúc phạm, gọi anh là “đồ súc vật” Sau đó trốn tù, không ra đầu thú, anh lang thang, sống chui lủi, phiêu bạt khắp nơi Bị dồn vào chân tường, anh gia nhập vào thế giới “bụi hồ”, sống ngoài vòng pháp luật

Trong tiểu thuyết ta bắt gặp một chi tiết tuy nhỏ nhưng lại để lại ấn tượng

ám ảnh trong lòng người đọc Đó là một lần Hoàng về thăm mộ mẹ, đang ngồi trên canô thì có một đứa trẻ bị rơi xuống hồ Trên chuyến canô đó có cả Thành

“búa tạ”, kẻ đã truy đuổi anh mấy năm liền mà chưa bắt được Với phản xạ của người từng trải sông nước, Hoàng không nghĩ ngợi gì mà lập tức lao xuống hồ cứu được đứa bé Nhưng đó cũng chính là lúc Hoàng bị phát hiện và bị bắt giam Tại nhà giam, một cuộc đối thoại giữa Hoàng với tay công an tên Thành đã diễn

ra Thành tự hào về bản thân, rằng anh ta “là một con người với đúng nghĩa của

nó, con người chân chính, con người sống có lý tưởng cao đẹp, dám hy sinh đến

Trang 38

giọt máu cuối cùng cho nền an ninh đất nước” [44 ,tr 134] Tuy nhiên khi được hỏi, nếu trên chuyến canô đó không có Hoàng thì anh ta có dám nhảy xuống cứu đứa bé không, anh ta ỡm ờ nói rằng “Thì tao cứu đứa bé”, “mà cũng có thể không”, với lập luận rằng “Đứa bé rơi xuống hồ đâu phải là chuyện an ninh quốc gia Một nó chết chìm chẳng ảnh hưởng gì tới cả thế hệ của nó hết Người có lý tưởng là người biết hy sinh phần bé nhỏ, không quan trọng để lo đại sự” [44 ,tr 135]

Đối với một người công an nhiệm vụ của họ là bảo vệ sự bình yên của dân

mà lại có thể phát ngôn như Thành là không thể chấp nhận được Nói như anh ta thì anh ta có quyền đứng trên người khác, coi những người dân thường không ra

gì, thậm chí mạng sống của người dân cũng bị cho là “bé nhỏ”, là “không quan trọng”

Ngoài đời lắm bất công, công lý bị chà đạp Những tưởng nhà tù sẽ là nơi cuối cùng, khắc nghiệt nhất nhằm cưỡng chế kẻ tội lỗi thực hành công lý, nhưng không ngờ, chính nơi được gọi là cán cân pháp luật, thực thi công bằng lại chính

là nơi đẻ ra những thứ bất công khác và công lý lại tiếp tục bị chà đạp

Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, người dân đang sôi nổi đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước để xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn Một trong những vấn đề được nói đến nhiều nhất là nạn tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên, cùng sự độc đoán trong lãnh đạo dẫn đến mất dân chủ trong xã hội Điều thứ hai, đó là sự vô trách nhiệm, cẩu thả trong công việc dẫn đến việc xử lý, kết án oan sai gây ra sự bất bình trong dư luận Hoàng Thế Sinh ngay trong những trang viết của mình đã phơi bày mặt trái xã hội một cách trực diện như một hồi chuông cảnh báo đối với các cấp lãnh đạo theo cách riêng của nhà văn

Từ việc phơi bày thực trạng bất công, tiêu cực trong xã hội miền núi với tinh thần tố cáo, phê phán mạnh mẽ, sâu sắc, các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh dựng lên hình tượng những con người nhỏ bé, yếu thế bị chà đạp nhưng khí

Trang 39

phách, nghĩa hiệp, dũng cảm ra đi tìm công lý Ta thấy rằng, các nhân vật trong truyện của Hoàng Thế Sinh tuy là những người “thấp cổ bé họng” trong xã hội nhưng họ lại có một phẩm chất đặc biệt, đó là không chịu thỏa hiệp, lùi bước trước những cái xấu, cái ác, cái bất công, ngang trái ở đời, và chiến đấu đến cùng để chống lại chúng Phẩm chất này ít gặp hay có thể nói là không được thể hiện rõ nét trong văn xuôi viết về các vùng miền khác Có nét đặc biệt này có lẽ

là do điều kiện sống và hoàn cảnh lịch sử - xã hội ở miền núi Nơi đâu mà cuộc sống càng khắc nghiệt, dữ dội, càng cơ cực, càng bị các thế lực đen tối đè nén,

áp bức thì con người lại càng tôi luyện và bộc lộ mạnh mẽ sức sống của mình đúng với quy luật “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh” Chính vì vậy, mặc dù họ

cô đơn, yếu thế, thậm chí thất bại, nhưng chưa bao giờ họ nản chí, đầu hàng trước khó khăn Mà ngược lại, họ bất chấp tất cả để giành lấy hạnh phúc cho mình, giữ lấy phẩm giá của mình

Mặc dù bị cuộc đời vùi dập, nhưng những con người bé nhỏ trong tác phẩm của Hoàng Thế Sinh vẫn quyết tâm bám trụ vào mảnh đất đời người để sống Họ phải sống, hơn nữa họ tự nhủ phải sống cho đáng sống, sống tốt cho những người đã chà đạp, hãm hại họ thấy rằng tuy họ yếu thế nhưng nhất định sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước cái xấu, cái ác Đó là tư thế của những con người

như Bảo Châu (Xứ mưa), Đam (Rừng thiêng), người nông dân tên Sắc (Người nông dân nhỏ bé)…

Trong truyện Người nông dân nhỏ bé, anh nông dân bị đe doạ, đánh đập,

nhốt giam, bị tịch thu đất đai, gia sản, đời sống khánh kiệt, vợ con cũng phải chịu vạ khốn khổ khốn nạn theo, nhưng anh vẫn quyết tâm không chùn bước Hơn trăm lần đi kiện, càng bị đánh đập, đe doạ anh càng đi kiện, quyết tâm đòi được công lý mới thôi Hành động của anh khiến chúng ta khâm phục, nó không chỉ thể hiện nỗi bất bình lên đến tột cùng mà còn một ý nghĩa sâu xa hơn, anh đấu tranh với một tư thế làm người, một người ngay thẳng, không chịu khuất phục trước cường quyền

Trang 40

Bảo Châu (Xứ mưa) là một giáo viên dám đấu tranh một cách trực diện với

những thói xấu, bất công, tiêu cực trong nhà trường Đã nhiều lần anh được lãnh đạo trường gợi ý đến dạy thêm cho con của các vị lãnh đạo cấp trên nhưng anh đều từ chối Anh cống hiến cả đời mình cho xã hội nhưng lại không được ghi nhận, thậm chí anh còn bị loại ra khỏi danh sách xét kết nạp Đảng vì trước đó anh đã thẳng thắn tố cáo tên hiệu phó Tam bớt xén tiền xây trường, ăn bớt tiền dạy thêm của giáo viên Cũng đã có lúc anh cảm thấy ngột ngạt, cô đơn và muốn chạy trốn Nhưng cuối cùng anh nhận ra rằng hạnh phúc của cuộc sống này rất đơn giản là khi được nhìn những gương mặt thân quen, bạn bè, học trò chứ không phải là ở số mệnh, may rủi, thiên đường và địa ngục, những thứ không có thật Và anh tự hứa với chính mình rằng “Ta là con người và sống như một người lính dũng cảm, ta sẽ làm ra hạnh phúc”

Những con người ấy không bi quan, tiêu cực bởi tình yêu và gia đình luôn ở bên họ Và lúc này, họ đấu tranh không chỉ cho bản thân mà còn vì những người thân yêu bên cạnh, để thế hệ sau này không còn phải chịu bất công, cay đắng

như họ nữa Trong truyện ngắn Đảo chanh đào, bên cạnh một cô gái bị vùi dập,

oan ức, đành sống giữa nơi hoang đảo trong một vùng hồ mênh mông non nước, thì lại có một anh tội phạm (gây chết người không cố ý) trốn tù đem lòng yêu thương và muốn được che chở cho cô gái đó

Không chỉ riêng Hoàng Thế Sinh, một số ít các nhà văn khác khi viết về miền núi cũng phản ánh mặt trái của đời sống xã hội Trong tiểu thuyết của vi Hồng, tác giả cũng đã khắc họa, nhấn mạnh mảng hiện thực ở vùng khuất tối này Nhân vật Đương - hiệu trưởng của trường đại học Nông nghiệp Đông Bắc

(Gã ngược đời) Đương thiếu cả đức lẫn tài, giả nhân giả nghĩa, hống hách,

chuyên quyền, độc đóan Hắn là một loại cán bộ lãnh đạo bị tha hóa, biến chất, lợi dụng chức quyền đã làm tổn hại đến bao người khác, đến cả sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước Là một trí thức nhưng hắn không thích nghiên cứu khoa học, chi tiêu dè xẻn và tính tóan từng xu cho nghiên cứu khoa học nhưng

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w