1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở việt nam

227 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngày nay, quy mô sinh viên tăng quá nhanh trong khi sự đáp ứng nguồn lực của các nhà nước thì hạn chế , cùng với sự quan tâm đối với vấn đề phát triển ng

Trang 1

VÀ ĐÀO TẠO QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

-

Phan Huy Hùng

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG ĐẢM BẢO

SỰ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

Hà Nội - 2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH

VÀ ĐÀO TẠO QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

-

Phan Huy Hùng

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG ĐẢM BẢO

SỰ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý hành chính công

Mã số : 62 34 82 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

2 TS Phạm Quang Huy

Hà Nội - 2009

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận án “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bày trong luận án là trung thực

và chưa từng được công bố

Hà Nội, ngày … tháng … năm ……

Tác giả luận án

Phan Huy Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

6 Kết cấu của luận án

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu trong nước

2 Nghiên cứu ngoài nước

TỰ CHỦ ĐẠI HỌC

1.1 Tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học

1.1.1 Quan niệm trường đại học và sự phân cấp về thẩm quyền

1.1.2 Tự chủ của trường đại học

1.1.3 Tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm xã hội của trường đại học

1.1.4 Điều kiện và sự cân bằng tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học

1.2.1 Khái niệm và bản chất quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học

1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về giáo dục đại học theo hướng đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học

1.2.3 Nội dung và phương thức quản lý nhà nước về giáo dục đại học theo hướng đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học

Trang 5

1.2.4 Các mô hình quản lý nhà nước về giáo dục đại học

1.3 Kinh nghiệm một số nước trong quản lý nhà nước về giáo dục đại học

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học bảo đảm

tự chủ, trách nhiệm xã hội của trường đại học một số nước

1.3.2 Bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước tăng cườn g tự chủ và

trách nhiệm xã hội của trường đại học

2.1 Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học ở Việt Nam

2.1.1 Quyền tự chủ của trường đại học

2.1.2 Tự chịu trách nhiệm của trường đại học

2.1.3 Địa vị pháp lý của các trường đại học công lập

2.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Tình hình quản lý phát triển giáo dục đại học

2.2.2 Nội dung, cơ cấu tổ chức và thẩm quyền quản lý nhà nước về giáo dục đại học

2.3 Thực trạng bảo đảm của nhà nước đối với giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

2.3.1 Bảo đảm của Nhà nước về tự chủ nhà trường

2.3.2 Bảo đảm của Nhà nước đối với tự chịu trách nhiệm

2.3.3 Nguyên nhân và hệ quả của những tồn tại trong quản lý nhà nước đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học

3.1 Đổi mới nhận thức về vai trò của Nhà nước, vai trò và địa vị pháp

lý của trường đại học, vai trò của thị trường định hướng XHCN

3.1.1 Đổi mới nhận thức về vai trò của Nhà nước

3.1.2 Đổi mới nhận thức về vai trò và địa vị pháp lý của trường đại học công

3.1.3 Đổi mới nhận thức về vai trò của thị trường định hướng

Trang 6

3.2.3 Phân định chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ giáo dục đại học

3.3 Hoàn thiện thể chế và chính sách bảo đảm tự chủ , tự chịu trách

nhiệm của trường đại học

3.3.1 Xác lập tầm nhìn và chiến lượ c; quy định việc phối hợp và phân cấp quản lý, cung cấp dịch vụ, chuyển đổi sở hữu và tham gia giám sát và đánh giá trong giáo dục đại học

3.3.2 Xây dựng và ban hành luật giáo dục đại học, luật giảng viên

và các chính sách bảo đảm sự công bằng, hiệu quả và chất lượng

3.3.3 Xây dựng thể chế và chính sách đảm bảo sự can thiệp phù hợp, hạn chế trao quyền mang tính đặc quyền, tự chủ về học thuật, tài trợ công tích cực, thành lập trường đạt yêu cầu chất lượng, và trách nhiệm lãnh đạo

3.4 Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học đối với chương trình, tuyển sinh, văn bằng và giảng viên

3.4.1 Đổi mới quản lý nhà nước về chương trình, tuyển sinh và văn bằng

3.4.2 Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học đối với giảng viên

3.5 Đổi mới quản lý nhà nước về tài chính giáo dục đại học

3.5.1 Đổi mới chính sách tài chính giáo dục đại học

3.5.2 Đổi mới phương thức quản lý tài chính, tách bạch giữa quản

lý nhà nước và quản lý của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu

3.6 Tăng cường chức năng kiểm soát nhà nước nhằm bảo đảm trách nhiệm xã hội của trường đại học được thực hiện

3.6.1 Đổi mới nhận thức và hoàn thiện thể chế, chính sách bảo đảm trách nhiệm xã hội của trường đại học

3.6.2 Xây dựng khung bảo đảm trách nhiệm xã hội

Trang 7

3.6.3 Đổi mới hoạt động kiểm soát và giám sát nhà nước về tài chính

Kết luận Chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá

GATS General Agreement on Trade in Services

(Hiệp định chung về thương mại trong dịch vụ) GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

GDĐH Giáo dục đại học

(Giáo dục đại học) KTTT Kinh tế thị trường

KT-XH Kinh tế-Xã hội

OECD Organization for Economic Cooperation and Development

(Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) QLNN Quản lý nhà nước

TĐH Trường đại học

UNESCO United Nation Education Science Culture Organization

(Tổ chức văn hoá-khoa học-giáo dục Liên hợp quốc) XHCN Xã hội chủ nghĩa

(Ngân hàng Thế giới) WTO World Trade Organization

(Tổ chức thương mại thế giới)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Cách thức phân cấp thẩm quyền ở các quốc gia 25

Bảng 1.3: Bốn mô hình từ kiểm soát đến tự chủ 28 Bảng 1.4: Bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm 36 Bảng 1.5: Đặc điểm quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự

Bảng 1.6: Vị trí có thể có của các chức năng quản lý chủ yếu 53 Bảng 1.7: Bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính 57 Bảng 1.8: Các công cụ của trách nhiệm xã hội 59 Bảng 2.1: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và quản lý nhà nước về GDĐH 87 Bảng 2.2: Quy mô trường đại học, sinh viên và giảng viên từ năm học 2004-

Bảng 2.3: So sánh đặc điểm quản lý nhà nước về giáo dục đại học trước và từ

sau Đổi mới

Bảng 3.1: Một số chỉ số phát triển GDĐH Việt Nam đến năm 2020 135 Bảng 3.2: Tầm nhìn về quản lý giáo dục đại học (a) 137 Bảng 3.3: Quan niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học bảo đảm tự chủ,

tự chịu trách nhiệm của trường đại học công

141

Bảng 3.4: Tầm nhìn về quản lý giáo dục đại học (b) 148

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Chu trình tài trợ cho các trường đại học 46 Hình 2.1: Quyền tự chủ của các loại hình trường đại học 80 Hình 2.2: Trường đại học thành lập mới giai đoạn 2003-2007 118 Hình 2.3: Quản lý chất lượng giáo dục đại học và định hướng cải thiện 120 Hình 3.1: Mô hình bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm 143

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngày nay, quy mô sinh viên tăng quá nhanh trong khi sự đáp ứng nguồn lực của các nhà nước thì hạn chế , cùng với sự quan tâm đối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực trình độ cao nhiều hơn đã tạo sức ép lên các chính phủ về hai vấn đề: một là sử dụng hiệu quả nguồn lực và hai là chất lượng của các sản phẩm giáo dục đại học (GDĐH) mà trường đại học cung cấp mà thực chất là yêu cầu bảo đảm trách nhiệm xã hội của trường đại học Sự quan tâm đến hiệu quả sử dụng nguồn lực đã dẫn đến sự can thiệp mạnh hơn của nhà nước vào trường đại học từ những năm 70 và 80 Yêu cầu về chất lượng thì làm dịch chuyển trọng tâm chú ý từ hoạt động cấp vĩ mô sang cấp trường Thay vì can thiệp trực tiếp, một số nhà nước chuyển sang tập trung xây dựng các mục tiêu và chính sách cho GDĐH Sự thay đổi chính sách chỉ đạo cho thấy hai mặt của một vấn đề: một mặt, quản lý nhà nước (QLNN) theo kiểu tập trung đang hướng đến hình thức phi tập trung; còn một mặt, là khuynh hướng tự chủ (Sanyal, 2003) [86] Tự chủ đại học trở thành xu hướng quốc tế và được xem như chìa khoá thành công cho

sự cải cách GDĐH của các quốc gia Bài học kinh nghiệm được Ngân hàng Thế giới đút kết năm 1994 cũng chỉ ra rằng tự chủ đại học và việc định lại vai trò phù hợp hơn của nhà nước sẽ thúc đẩy cải thiện chất lượng và hiệu quả GDĐH [111]

Cơ cấu thẩm quyền và cách thức nhà nước điều khiển hệ thống đại học phản rõ nét mối quan hệ giữa nhà nước và trường đại học , đặt cơ sở cho khả năng, mức độ tự chủ hay môi trường hành động chủ động của trường đại học Tự chủ không chỉ hàm ý quyền quyết định của một trường đối với chương trình đào tạo và mục tiêu của mình mà còn phải bao hàm cả quyền quyết định về cách thức

để thực hiện mục tiêu và chương trình [73]

Nhà nước hầu như là tác nhân chính tạo môi trường và động lực phát triển cho các tổ chức đại học nhưng cách thức tác động thì rất khác nhau Nó cũng là

Trang 12

nhân tố đặc biệt quan trọng bảo đảm phát huy mặt tích cực bên cạnh hạn chế khuyết tật của thị trường; giúp cân bằng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học Nghiên cứu nội dung, phương thức QLNN về GDĐH không chỉ

để tìm ra cách thức quản lý của nhà nước sao cho hiệu quả hơn mà còn giúp cho chính nhà nước và nhà trường chủ động hơn cho bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt Trong bối cảnh mới, nhà nước giữ vai trò là chủ thể quản lý toàn diện hệ thống đại học , tạo ra sự thuận tiện , dễ dàng để các trường cũng như các thành phần có liên quan có thể phối hợp để đưa ra các chính sách và chiến lược phát triển phù hợp Đây chính là “chìa khoá” giúp giải quyết những khó khăn và vượt qua thách thức trong công cuộc cải cách GDĐH

Mục tiêu chiến lược đã được đặt ra như một dấu mốc lịch sử, đến năm

2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp và từng bước phát triển kinh tế tri thức Trong đó, GDĐH được xác định là lĩnh vực then chốt cần đột phá Tầm nhìn GDĐH Việt Nam đã trù tính quy mô toàn hệ thống sẽ tăng gấp 3-4 lần so với hiện tại, sự quản lý và hội nhập quốc tế phải tốt hơn , dịch vụ đào tạo và nghiên cứu phải mở cửa rộng hơn theo các cam kết quốc tế và đặc biệt là sự thương mại hoá cũng được tính đến Tất cả vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của dịch vụ GDĐH và liên quan chặt chẽ đến yêu cầu đổi mới cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước về GDĐH Nhà nước trong vai trò định hướng giám sát thay cho sự kiểm soát tập trung chi tiết , đảm trách việc hướng dẫn, thúc đẩy và bảo vệ lợi ích công của GDĐH Muốn vậy, toàn hệ thống phải đổi mới tư duy và cơ chế quản lý GDĐH, kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ QLNN và việc bảo đảm quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở GDĐH theo nghị sự của Chính phủ (Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005)

Vấn đề tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học Việt Nam mặc dù đã được đề cập chính thức trong Nghị quyết TW 4 (khoá VII) từ năm

1993 và được pháp lý hoá lần đầu trong Luật Giáo dục 1998 nhưng trên thực tế

Trang 13

thì “cơ chế quản lý các trường đại học có tính tập trung và xơ cứng” , theo nhận định của Vallely (2005) [68]; “bộ chủ quản trở thành cơ quan trung gian, trường chịu sự chỉ đạo của nhiều cơ quan quản lý nên mất tính chủ động, sức ép tăng lên, hiệu quả giảm đi ”, theo một nhận xét khác được đăng tải trên VietNamNet ngày 26/12/2005 Thực tế này làm trường đại học chưa thực hiện được vai trò xã hội to lớn vốn có của nó , chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội (KT-XH), thiếu năng lực cạnh tran h, nhất là không có đủ nguồn lực để phát triển Việc hoàn thiện một số vấn đề lý luận , làm rõ bản chất và đánh giá đúng thực trạng và sự bảo đảm tự chủ , tự chịu trách nhiệm, cũng như đưa ra giải pháp QLNN phù hợp góp phần tháo gỡ những bất cập và tiếp cận các cơ hội

Hơn nữa, trong hơn hai thập niên đổi mới GDĐH, mặc dù những đảm bảo

tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã từng bước được thực hiện nhưng nó vẫn chưa theo kịp cơ chế quản lý kinh tế, chưa tạo được động lực để phát triển toàn hệ thống đại học trong bối cảnh mới Báo Nhân dân số ra ngày 17/12/2004 từng cảnh báo:

“Nếu các trường đại học không thật sự được trao quyền độc lập và đảm bảo sự tự chủ thì không thể nào đủ năng động để đáp ứng nhu cầu thay đổi của xã hội và tiến bộ.”

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo

sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” là một yêu

cầu vừa mang tính cấp thiết, vừa có ý nghĩa lâu dài

2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của luận án là làm rõ một số vấn đề lý luận , thực trạng và giải pháp QLNN về GDĐH theo hướng đảm bảo tự chủ , tự chịu trách nhiệm của trường đại học công Để đạt mục tiêu, luận án tập trung thực hiện những nhiệm

Trang 14

GDĐH của nhà nước ; mô hình và kinh nghiệm quốc tế QLNN về GDĐH Hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về tăng cường quyền tự chủ và nâng cao trách nhiệm của trường đại học

- Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về GDĐH bảo đảm tự chủ của nhà trường về học thuật, tổ chức bộ máy học thuật và tài chính; trách nhiệm xã hội của trường đại học Đồng thời, xác định nguyên nhân và hệ quả của những thành tựu và tồn tại

- Đưa ra một số giải pháp QLNN bảo đảm được sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học, thiết lập môi trường cung cấp dịch vụ GDĐH thuận tiện, chủ động và bình đẳng, giới thiệu vai trò thích hợp của Nhà nước cũng như thể chế, chính sách điều hành GDĐH tích cực

- Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo và gợi mở hướng nghiên cứu mới

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là QLNN về GDĐH , bao gồm thể chế , cơ cấu và

quá trình mà trong đó các nhân tố của hệ thống GDĐH (nhà nước , trường đại học, các thực thể xã hội khác ) tương tác lẫn nhau và với thị trường định hướng XHCN Sự điều khiển, cách thức phối hợp thẩm quyền và mức độ can thiệp hợp

lý của Nhà nước bảo đảm tự chủ và trách nhiệm xã hội Khái niệm đảm bảo được hiểu như phương thức QLNN mà theo đó nhà nước định hướng, chỉ dẫn, khuyến khích, bảo vệ và làm cho sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm được thực hiện

Phạm vi nghiên cứu về không gian là những vấn đề lý luận , thực tiễn và giải pháp về thể chế, chính sách, tài trợ công, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành và giám sát trong QLNN về GDĐH bảo đảm tự chủ và trách nhiệm xã hộ i Một số nội dung tham khảo mang tính đối chiếu cũng được nghiên cứu để xem xét tác động của tự chủ tới quản lý GDĐH và ngược lại Nó cũng bao gồm các chủ thể QLNN và quản lý chủ quản (chủ yếu là các Bộ , ngành trung ương ); các khách thể quản lý là cơ sở GDĐH, chủ yếu là các trường công lập (không bao gồm các trường thuộc lực lượng vũ trang và chính trị ) nhưng trong một số trường hợp thì

Trang 15

trường ngoài công lập cũng được đề cập để tăng tính giải thích Trường đại học được tiếp cận như một tổ chức hay thể chế mà trong đó con người hoạt động trong cơ cấu tổ chức quyền năng ràng buộc về lợi ích, có cùng tầm nhìn, mục tiêu, sứ mạng và giá trị; có mối quan hệ mang tính hệ thống với các tổ chức khác trong hệ thống như là nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội

Về thời gian , nghiên cứu tập trung vào thời kỳ đổi mới GDĐH từ năm

1986 đến nay , nhất là từ khi Luật Giáo dục 1998 được ban hành Tuy nhiên , trong quá trình nghiên cứu , để làm rõ hơn tính lịch sử của vấn đề , các dữ liệu trước đó cũng được sử dụng Mốc đề xuất giải pháp là từ nay đến năm 2020

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sinh sử dụng phép biện chứng duy vật với quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể; cơ sở lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học Mác- Lê-nin; và quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới GDĐH, tăng

cường quyền tự chủ , tự chịu trách nhiệm của trường đại học Đồng thời, vận

dụng và kết hợp hợp lý các phương pháp: so sánh để tìm ra xu hướng chung và mối quan hệ nhân quả; suy luận lo-gíc, lập luận đưa ra nhận xét và kết luận từ

các sự kiện được nghiên cứu, phân tích và tổng hợp để làm rõ các khía cạnh

QLNN về GDĐH; thống kê miêu tả nhằm cung cấp số liệu phản ảnh nội dung và vấn đề nghiên cứu; tra cứu tài liệu để nắm và bổ sung về phương pháp nghiên cứu, hướng đi, kiến thức và luận cứ; mô hình hóa nhằm tăng tính trực quan và

giúp nhận thức nội dung khái quát Ngoài ra, để tăng tính khách quan , khoa học

và thuyết phục trong các vấn đề về lý luận, đánh giá thực trạng và lựa chọn giải

pháp, nghiên cứu sinh cũng tiếp cận khám phá (trên cơ sở tham khảo phương

pháp khảo sát của Meek và Goedegebuure (1998) về tái cấu trúc và định hướng tương lai của GDĐH Úc [97]), thực hiện khảo sát ý kiến đối với 176 nhà quản lý GDĐH Việt Nam của 106 tổ chức quản lý GDĐH Trong số các nhà quản lý, số người của các cơ sở GDĐH (cả công và tư) là 147, chiếm tỷ lệ 83,5%; số người của các cơ quan QLNN và chủ quản là 29, chiếm tỷ lệ 16,5% Trong số các tổ

Trang 16

chức quản lý, số trường đại học là 78, chiếm tỷ lệ 73,6%; đại học là 5, chiếm tỷ

lệ 4,7%; các vụ của các bộ và tương đương là 11, chiếm tỷ lệ 10,4%; UBND cấp tỉnh là 8, chiếm tỷ lệ 7,5%; đoàn thể TW, ủy ban của Quốc hội là 4, chiếm tỷ lệ 3,8% Trong tổng số 134 bảng câu hỏi khảo sát được phản hồi , chiếm tỷ lệ 76,13%, có 132 bảng câu hỏi được cho ý kiến đủ điều kiện được tiến hành xử lý

và phân tích thông qua công cụ hỗ trợ là phần mềm xử lý thống kê (SPSS) Khác biệt ý kiến có ý nghĩa thống kê (0,05) giữa các nhà quản lý của trường đại học và bên ngoài trường đại học cũng được xem xét Các kết quả nghiên cứu có giá trị

và phù hợp cũng được kế thừa, bổ sung và phát triển trong quá trình nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tuỳ từng phần, chương, các phương pháp sẽ được sử dụng

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

- Luận án được mong đợi góp phần làm phong phú lý luận QLNN về GDĐH theo hướng giám sát, đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học công, về phương diện phân cấp , trao quyền và cơ cấu thẩm quyền ; về phương thức và phạm vi tác động hiệu quả của nhà nước tới hoạt động cung cấp dịch vụ GDĐH ; về bản chất , tính thực tế và điều kiện của tự chủ , tự chịu trách nhiệm; về sự phối hợp với thị trường định hướng XHCN

- Bổ sung luận cứ khoa học hành chính về sự điều chỉnh của nhà nước trong quản lý GDĐH, sự tách bạch giữa ban hành và thực thi chính sách , xác lập mối quan hệ phù hợp giữa nhà nước trong vai trò giám sát và trường đại học công trong vai trò cung cấp dịch vụ GDĐH một cách chủ động, xây dựng cơ chế đệm phù hợp

- Đóng góp vào phương pháp nghiên cứu giải pháp QLNN về GDĐH, thiết lập môi trường thuận tiện, bình đẳng, khuyến khích sự sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ về các mặt tự chủ của trường đại học trong điều kiện nền KTTT có sự QLNN thống nhất và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng

Trang 17

- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính toàn diện có thể vận dụng vào thực tiễn, làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này về quản lý GDĐH Góp phần vào đổi mới cơ cấu , quá trình và phương thức quản lý của nhà nước ; xác định lại vai trò, chức năng của các cơ quan có thẩm quyền quản lý GDĐH trong bối cảnh mới

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

và Kết luận , luận án có 3 chương: Chương 1 Những vấn đề lý luận của QLNN

về GDĐH và tự chủ đại học ; Chương 2 Quyền tự chủ , tự chịu trách nhiệm của trường đại học và QLNN về GDĐH ở Việt Nam hiện nay; Chương 3 Những giải pháp đổi mới QLNN bảo đảm sự tự chủ , tự chịu trách nhiệm của trường đại học Luận án cũng có trình bày Danh mục công trình của tác giả , Tài liệu tham khảo

và Phụ lục

Trang 18

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Các nghiên cứu liên quan tới QLNN về GDĐH Việt Nam theo hướng bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học xuất hiện nhiều từ khi Nhà nước chủ trương đổi mới GDĐH Lâm Quang Thiệp (2000), trong “Quyền tự chủ -trách nhiệm xã hội và hệ t hống đảm bảo chất lượng cho GDĐH Việt Nam” , đã giới thiệu một số quan niệm về quyền này , cho rằng tăng quyền tự chủ là yêu cầu khách quan nhưng không tách rời việc nâng cao trách nhiệm xã hội bằng cách duy trì tốt kiểm toán và hệ thống đảm bả o chất lượng, và là nội dung cơ bản của phương thức quản

lý GDĐH trong nền KTTT [29, tr.48-58], nhưng chưa đi sâu vào nội hàm quyền tự chủ cũng như những khía cạnh pháp lý đảm bảo khác Còn trong “GDĐH Việt Nam

và tham khảo kinh nghiệm của G DĐH Hoa Kỳ” năm 2006, ông đã giới thiệu mô hình GDĐH mà trong đó vai trò của nhà nước bị hạn chế trong khi của thị trường được đề cao, khác hẳn sự điều hành GDĐH ở Việt Nam thường là áp đặt trực tiếp; lập luận rằng GDDH Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của GDĐH Hoa Kỳ từ lâu, qua nhiều con đường và hiện nay có thể áp dụng kinh nghiệm của Hoa Kỳ trực tiếp và

tự nguyện [61, tr.13-33] Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề về quan điểm quản lý hệ thống và cách vận dụng chưa được đề cập

Nguyễn Văn Đạo (1999), trong “Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học -“khoán 10” trong GDĐH ở nước ta hiện nay” , đã đề nghị thực hiện chính sách khoán để phát huy khả năng tự chủ và tự chịu trách nhiệm [32] Đề xuất này dù cho thấy yêu cầu cấp thiết về tự chủ nhà trường nhưng có tính ứng phó hơn

là biện pháp lâu dài, đảm bảo sự chủ động một cách thật chất Lê Văn Giạng (2001), trong “Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục” , đã khái quát hai nguyên tắc: tự trị và phân cấp trong quản lý hệ thống đ ại học và khuyến cáo về cân đối giữa tính hệ thống và tính đa dạng , mềm dẻo trong quá trình đổi mới GDĐH ở nước ta [35] Tuy nhiên, nội dung còn sơ lược, chưa quan tâm đến vai trò của thị trường, chưa đưa ra chiến lược điều khiển nhà nước cụ thể nào

Trang 19

Phạm Phụ (2005, 2006, 2007), trong “Về khuôn mặt mới của GDĐH Việt Nam” qua các bài viết: “Quyền tự chủ đại học và trách nhiệm xã hội” và “GDĐH và

cơ chế thị trường”, đã thảo luận một số vấn đề lý luận Trước hết, đó là xu thế tự quản và chịu trách nhiệm xã hội, quản lý theo cơ chế chịu trách nhiệm gắn với việc xác lập trách nhiệm của tất cả các bên liên quan chứ không chỉ là của nhà nước hay người dạy, dựa vào chỉ số thực hiện để kiểm soát, đánh giá và minh bạch hóa; chất lượng nền GDĐH như là hiệu quả và “năng suất” của cả nền GDĐH; cơ chế hội đồng trường thì cần thiết để tách bạch quyền sử dụng và quyền sở hữu; đề xuất nghiên cứu chính sách tài chính tích cực cho GDĐH [52] Thứ hai, đó là tự chủ đại học hàm ý mối quan hệ giữa Chính phủ và đại học, thẩm quyền can thiệp và nên can thiệp đến mức độ nào vào các vấn đề của trường đại học, trách nhiệm của trường đại học là đảm bảo chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực, điều kiện bảo đảm thực hiện trách nhiệm này [53] Thứ ba, đó là “thị trường GDĐH”, dịch vụ giáo dục vẫn được gọi là hàng hoá và cần thị trường hoá GDĐH để làm cho các trường được

tổ chức và vận hành hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu KT-XH [54] Tuy nhiên, các vấn đề được nêu còn riêng lẽ, mang tính gợi ý, chưa đi sâu phân tích một cách hệ thống từ gốc độ QLNN

Ngo Doan Dai (2004), trong “Vấn đề quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường đại học trong đổi mới GDĐH Việt Nam” , đã làm rõ phần nào trách nhiệm phải giải thích, phải chịu trách nhiệm của trường đại học [6, tr.16-24] Tuy nhiên, chưa đưa ra hình thức cũng như công cụ của trách nhiệm giải trình Trong “Viet Nam”, tác giả Doan Dai (2006), đã khái quát thực trạng cải cách GDĐH Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, cho thấy sự xác lập địa vị pháp lý đặc biệt của các đại học quốc gia, sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà cung cấp GDĐH ngoài công lập, nhất là sự thay đổi trong quản lý và quản trị đại học theo hướng mở rộng phân cấp cả chiều dọc lẫn chiều ngang [100] Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nhà nước và trường đại học công cũng như biện pháp QLNN bảo đảm sự tự chủ và trách nhiệm được thực thi chưa được làm rõ

Trang 20

Trong “Đổi mới GDĐH Việt Nam” , Trần Quốc Toản (2005) đã phác thảo mục tiêu và nội dung khá toàn diện trong thập kỷ tới, đặt ra yêu cầu: đổi mới tư duy quản lý , thực hiện ba chức năng và năm nhiệm vụ chính trong cơ chế thị trường định hướng XHCN, tạo động lực bằng cách phân cấp quản lý phù hợp, xác định cơ

sở GDĐH là tâm điểm đổi mới (cơ chế tự chủ là điểm quy tụ cụ thể lợi ích của các bên liên quan), thực hiện phương thức quản lý vĩ mô phù hợp, huy động sự tham gia của cộng đồng, kiểm tra và điều chỉnh chính sách phù hợp [43, tr.14-30] Tuy nhiên, tác giả còn chưa xem xét sự tương tác của các yếu tố mang tính động lực và biện pháp kỹ thuật hỗ trợ thực hiện cần thiết

Đào Trọng Thi và Ngô Doãn Đãi (2005), trong “Các trường đại học công lập Việt Nam trước những đòi hỏi ngày càng tăng của sự phát triển KT -XH: Thời cơ và thách thức”, đã chỉ ra vai trò quan trọng cũng như thách thức mà trường công phải đối mặt, khả năng vận dụng kinh nghiệm quốc tế để tạo điều kiện cho các trường phát triển, tăng cường đầu tư và đổi mới cơ chế quản lý [43, tr.43-53] Song, chưa tiếp cận trường công từ gốc độ địa vị pháp lý độc lập Giải pháp phát huy vai trò của các trường công tập trung vào quản lý bên trong và phương diện học thuật hơn là sự đảm bảo mang tính vĩ mô định hướng cơ cấu ra quyết định mang tính chủ động

Vũ Ngọc Hải (2007), trong “Về quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội của các trường đại học nước ta” , cho rằng có sự lúng túng về vấn đề quản lý tập trung

và phân cấp, nhấn mạnh tự chủ và trách nhiệm xã hội là động lực chủ yếu và là đòn bẩy để ph át triển nhanh GDĐH ; chỉ ra giải pháp cơ bản xóa bỏ cơ chế “xin -cho” [39] Tuy nhiên, bài viết chưa đi sâu phân định giữa sự quản lý của Nhà nước đảm bảo tự chủ từ gốc độ quản lý vĩ mô và từ gốc độ quản lý chủ sở hữu nhà nước

Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính bao quát về “phân cấp QLNN” trong tác phẩm cùng tên của Võ Kim Sơn (2004a) đã cung cấp nội dung phong phú về các hình thức và đẩy mạnh phân cấp trong hoạt động QLHCNN có liên quan trực tiếp đến vấn đề QLNN về GDĐH the o hướng đảm bảo tự chủ , tự chịu trách nhiệm, nhất

là ở phương diện xã hội hóa và phân định rõ hoạt động QLNN về giáo dục và quản

Trang 21

lý các cơ sở giáo dục [57] Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập cụ thể mức độ xã hội hóa

và sự phân cấp phù hợp trong quản lý GDĐH

Một số tác giả khác cũng có đưa ra những ý tưởng và nội dung hữu ích liên quan đến đề tài này Nguyễn Danh Nguyên (2009), trong “Thực thi cơ chế “tự chủ” cho các trường đại học công lập: Cơ sở để phát triển bền vững thời kỳ hội nhập” chỉ

ra rằng sự thay đổi môi trường đã làm thay đổi mối quan hệ của trường đại học, tạo

ra sức ép đối với các trường và tự chủ đại học là giải pháp khắc phục những tồn tại giúp các trường công lập phát triển bền vững [51] Tuy nhiên, tác giả chỉ mới gợi ý cho lộ trình thực hiện tự chủ Lê Ngọc Đức (2009), trong “Bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH”, đã chỉ ra rằng nền KTTT có định hướng XHCN đòi hỏi mọi tổ chức và quản lý GDĐH phải sản xuất ra nguồn nhân lực chất lượng cao, GDĐH phải thể hiện trách nhiệm xã hội qua việc đảm bảo thoả mãn tiêu chí hiệu quả cao với nội hàm: chất lượng cao, hiệu suất cao, phù hợp và công bằng

xã hội; cũng đã nêu một số điều kiện và giải pháp từ gốc độ quản lý vĩ mô thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội [34] Tuy nhiên, nội hàm yêu cầu QLNN thông qua các văn bản dưới luật có tính khung và mở chỉ đề cập một cách khái quát

2 NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

Các nghiên cứu ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài thì còn ít do GDĐH nước ta chỉ mới mở rộng cửa với thế giới những năm gần đây Trước hết,

WB (1994), trong “HE : The lessons of experience” , đã đút kết kinh nghiệm qua nghiên cứu GDĐH ở các nước đang phát triển mà trong đó có Việt Nam về quản trị đại học ở cả cấp hệ t hống và cấp trường ; chỉ ra chìa khóa thành công cho các chương trình cải cách GDĐH là xác định lại vai trò của Chính phủ và tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường đại học công [111] Nhưng đồng thời, cũng khuyến khích quá trình tư nhân hóa, sự mở cửa thị trường GDĐH và các cách tiếp cận quản lý ít có sự chi phối của nhà nước

Institute of International education Vietnam (2004) đã đưa ra bức tranh chung của hệ thống GDĐH Việt Nam với vai trò nổi trội của Bộ GD &ĐT trong

“HE in Vietnam”, chỉ ra dấu hiệu phi tập trung và khuyến cáo việc tăng cường đảm

Trang 22

chất lượng [90] Tuy nhiên, không đưa ra giải pháp QLNN nào đảm bảo quyền tự chủ cấp trường

Hayden và Thiep (2006, 2007), trong “A 2020 vision for Vietnam” và

“Institutional autonomy for HE in Vietnam” , cho rằng nghị sự đổi mới GDĐH Việt Nam gắn với đổi mới quản lý và đảm bảo tự chủ cho trường đại học công ; tự chủ đại học chịu những thách thức và căng thẳng không chỉ do sự miễn cưỡng đối với việc từ bỏ sự kiểm soát trực tiếp của một bộ phận quản lý GDĐH mà còn do sự

nhận thức chưa đầy đủ hàm ý thực sự của tự chủ , cả những đòi hỏi liên quan đến trách nhiệm xã hội cũng như cách thức quản lý hiệu quả trong hoàn cảnh mà nguồn vật lực và nhân lực tương xứng cho quản lý tự quản hạn chế [86], [87] Mặc dù chỉ

ra được khiếm khuyết trong quản lý của Nhà nước dẫn tới sự thiếu tự chủ thực chất nhưng chưa đưa ra cách bù đắp sự khiếm khuyết, cách tháo gỡ cơ chế bộ chủ quản

Vallely (2005, 2008), trong “Đề cương thảo luận: Xây dựng trường đại học hàng đầu tại Việt Nam”, “Giáo dục bậc đại học Việt Nam: Khủng hoảng và Phản ứng”, đã chỉ ra một số vấn đề về thực trạng GDĐH và khuyến cáo hình thành một

cơ chế quản lý mới mà trong đó quyền tự chủ nhà trường và tự do học thuật được đề cao [68] Tuy nhiên, nội dung được nêu ra chỉ là ý tưởng nhằm gợi mở thảo luận, còn luận điểm, so với quan điểm phát triển GDĐH của nước ta, thì có nhiều khác biệt

Trong “US Institutions find fertile ground in Vietnam’s expanding HE

market”, Ashwill (2006) khẳng định thị trường GDĐH Việt Nam là một “mảnh đất màu mở” và cảnh báo sự xuất hiện các trường đại học không được kiểm định của

Mỹ vào Việt Nam cũng như khuyến cáo Nhà nước cần quản lý chương trình để đảm bảo lợi ích cho người học [74] Nhưng không thảo luận biện pháp giúp trách nhiệm

xã hội của các nhà cung cấp GDĐH ngoại nhập được thực thi McCornac (2007), trong “Corruption in Vietnamese HE” , cảnh báo về hiện trạng tham nhũng trong

GDĐH và khuyến cáo thực hiện cải cách trong quản lý hệ thống GDĐH [96] Tuy nhiên, các số liệu được đưa ra chưa mang tính chính thức

Trang 23

Cao Huy Thuần (2008), trong “Trách nhiệm xã hội của đại học”, đã bàn về hai quan điểm : “đại học hàng hóa” và “chủ trương sống chung với khuynh hướng của thời đại” qua lý giải các vấn đề : đại học là hàng hóa hay công ích , nhiệm vụ đào tạo nhân lực mong đợi và lợi ích công của trường đại học [67] Nhưng cần phải được thảo luận trong khung cảnh chính trị và kinh tế cụ thể

Hauptman (2008), trong “Tài chính cho GDĐH xu hướng và vấn đề”, đã cung cấp bức tranh chung về chính sách tài chính GDĐH, phản ảnh những quan điểm đang thay đổi trên thế giới và sự tác động sâu sắc đến phương hướng phát triển của quốc gia [85] Mặc dù tác giả có đề cập đến trường hợp của Việt Nam nhưng cũng chỉ gợi mở một số vấn đề then chốt cần giải quyết nhằm trả lời câu hỏi:

“nên chăng Việt Nam đang cần một cuộc tái thiết tận gốc rễ hệ thống GDĐH”, như cách đặt vấn đề

Ngoài ra , có một số nghiên cứu tuy không liên quan trực tiếp đến đề tài nhưng có giá trị trong nghiên cứu quản lý GDĐH và tự chủ đại học Clark (1983), trong “Quyền hành” , đã khái quát cơ cấu thẩm quyền trong hệ thống GDĐH và cho thấy xu hướng tập trung thẩm quyền ra quyết định quản lý cấp trường hay cho giới học thuật [19] Nhưng chưa làm rõ thẩm quyền quản lý bên trong và bên ngoài trường đại học, chưa đề cập đến thẩm quyền của các tổ chức trung gian tham gia quản lý GDĐH và sự phân cấp quản lý Mặc dù đây không phải là nghiên cứu riêng về Việt Nam , quyền lực được tiếp cận ở gốc độ phân lập mà không thống nhất , nhưng là cơ sở lý luận có ý nghĩa khi xem xét quyền tự chủ của trường đại học trong bối cảnh nước ta

Vught (1993), trong “Patterns of governnance in HE : Concepts & Trends”, Neave & Vught (1994), trong “Government and HE across three continents : The winds of change”, đã đút kết hai mô hình điều khiển hệ thố ng đại học của nhà nước

mang tính bao quát là kiểm soát và giám sát; nhấn mạnh sự hội tụ và ưu thế của

phương thức giám sát , nguyên lý tự quản và quản trị tốt [110], [99] Tuy nhiên, chưa nói đến quản lý GDĐH trong nền KTTT có định hướng Scott (1995), được Wongsamarn (2003) trích dẫn trong “The relationship between the state & the

Trang 24

autonomous university in HE administration” , đã cho thấy mức độ tự chủ đại học , xác định và thảo luận năm mô hình của mối quan hệ trường đại học và nhà nướ c: như là tổ chức nhà nước , được trao quyền và đảm bảo pháp lý , không quan hệ gần gũi, trong thị trường nội bộ và tư thục [113]

Gornitzka & Maassen (2000), trong “Hybrid steering approaches with respect to European HE”, đã phản ảnh vai trò nhà nước và những tác nhân xã hội có liên quan qua bốn mô hình điều khiển nhà nước : Nhà nước toàn trị , Hợp nhất đa nguyên, Mô hình nhà trường và Siêu thị nhà nước chi phối tự chủ của trường đại học [83] Sanyal (2003), trong “Quản lý trường đại học trong GDĐH” , đã cung cấp bức tranh chung về quản lý các trường đại học trong bốn hệ thống : Tự chủ và tính chịu trách nhiệm, Quá độ sang tự chủ, Tự chủ gặp khó khăn, Kế hoạch và kiểm soát tập trung [56] Tuy nhiên, các nội dung được đề cập chỉ tập trung so sánh cách thức điều khiển có tính khái quát của nhà nước và giải quyết vấn đề quản lý bên trong của trường đại học

Gần đây, Fielden (2008), trong “Global trends in university governance” , đã

hệ thống và khái quát xu hướng toàn cầu trong quản trị đại học về thể chế hóa địa vị pháp lý các trường đại học công như thực thể độc lập tự chủ , giảm bớt sự kiểm soát nhà nước , trao quyền tự chủ tài chính cho các trường , tăng cường các biện pháp đảm bảo trách nhiệm xã hội , tăng cường quản lý cấp trường thông qua xây dựng hội đồng trường v v…[81] Tuy nhiên, một số quan niệm và cách tiếp cận quản trị còn chưa phù hợp với bối cảnh của Việt Nam

Salmi (2009), trong “The growing accountability agenda in tertiary education: Progress or mixed blessing?”, đã phân tích trách nhiệm xã hội của trường đại học trước yêu cầu cạnh tranh của các bên liên quan và cách thức bảo đảm trách nhiệm này, đồng thời khuyến cáo khả năng trách nhiệm xã hội có thể trở thành gánh nặng cho các trường [104] Tuy nhiên, chưa đưa ra một phương thức QLNN đủ rõ ràng nào nhằm đảm bảo trách nhiệm xã hội được thực thi

Nhìn chung, nghiên cứu trong nước rất hữu ích trong việc định hướng, cung cấp nội dung và phương thức QLNN nhằm tăng quyền tự chủ và nâng cao trách

Trang 25

nhiệm xã hội của trường đại học Tuy nhiên, còn sơ lược, mang tính gợi mở hay đặt vấn đề mà chưa làm rõ đảm bảo pháp lý về tự chủ và trách nhiệm, cơ cấu tổ chức và thẩm quyền QLNN phù hợp, QLNN và quản lý cơ sở GDĐH hay chính sách tài chính tích cực; chưa thấy nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề QLNN bảo đảm tự chủ ,

tự chịu trách nhiệm một cách tổng thể , đó là tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho mọi loại hình trường chủ động cung cấp dịch vụ GDĐH có trách nhiệm Các nghiên cứu ngoài nước cung cấp được một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm có giá trị về quản lý vĩ mô , cách thức điều khiển trường đại học theo hướng đề cao tính tự quản và trách nhiệm xã hội Tuy nhiên, có khía cạnh không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và quan điểm trong nước Những công trình này cũng là tài liệu tham khảo được tác giả khai thác và sử dụng trong quá trình viết luận án

Trang 26

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC

1.1 Tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học

1.1.1 Quan niệm trường đại học và sự phân phối thẩm quyền

Trường đại học là một trong số ít tổ chức khá ổn định còn tồn tại cùng tổ

chức nhà nước từ thời Trung cổ Dưới sự dẫn dắt của nhà nước, thị trường hay phối

hợp cả hai, nó thực hiện chức năng công cộng, cung cấp sản phẩm, dịch vụ đào tạo

và nghiên cứu, với mục đích cơ bản là sáng tạo, phổ biến kiến thức và trao các học

vị trong nhiều lĩnh vực Trường đại học nói ở đây hàm ý các cơ sở đào tạo đại học

nói chung, có thể là một đại học, trường đại học hay học viện

Các trường đại học cùng hai nhóm nhân tố khác là: i) các tổ chức trực tiếp có

liên quan đến việc tài trợ, quản lý hay hoạt động các trường, ví dụ như các cơ quan

nhà nước; ii) các quy định chính thức và không chính thức, cùng sự tương tác giữa

các nhân tố, tạo thành hệ thống GDĐH Trong hệ thống này các cơ quan QLNN là

thực thể vừa tác động vừa chịu sự tác động của các thực thể khác, thay mặt lợi ích

chung của xã hội tạo môi trường thúc đẩy trường đại học tối đa hoá khả năng của

nó Các trường thường do nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập Quan niệm

về lợi ích công thường buộc các trường công lập, so với trường tư, phải gánh vác

nhiệm vụ và chịu sự kiểm soát nhiều hơn, phải ổn định hơn trước biến động thị

trường trong khi tự chủ thì bị hạn chế hơn Các trường công lập có địa vị pháp lý

đặc biệt trong mối quan hệ với nhà nước, phải chịu sự giám sát và đánh giá hoạt

động của nhà nước, không thể hưởng sự tự chủ không giới hạn, phải chú trọng đến

việc cân bằng lợi ích của nhà nước và người dân hơn là vì lợi nhuận

Trường đại học, trực tiếp hay gián tiếp, mang lại lợi ích công về nhiều mặt

Nó góp phần cải thiện đời sống người dân và làm giàu xã hội , làm tăng năng suất

lao động và tăng trưởng kinh tế dài hạn Nó đào tạo nhân lực bậc cao then chốt cho

cả khu vực công và tư bên cạnh việc sản sinh tri thức mới nhờ các hoạt động nghiên

Trang 27

cứu, chuyển giao và phổ biến kiến thức Nó cũng cung cấp không gian cho sự thảo luận mở và tự do của các ý tưởng và giá trị, giúp định hình quốc gia và mở ra các diễn đàn thảo luận xã hội đa chiều, theo WB (1994) và The task force on HE and society (2000) [111, tr 37, 38], [108, tr 1,2] Ngoài ra, Fiske (1996) còn xem nó là phương tiện nâng cao ảnh hưởng chính trị, thực hiện các chương trình và mục tiêu quyền lực [82, tr v]

Vai trò to lớn của trường đại học đòi hỏi nó phải được quản lý, đầu tư, phát triển toàn diện ở cấp độ quốc gia và thậm chí là quốc tế , trên cơ sở GDĐH được xem là một dịch vụ công theo khuyến nghị của UNESCO (1998) [29, tr.168] Nhận thức đầy đủ vai trò và vị trí của trường đại học giúp nhà nước và cộng đồng lựa chọn và xây dựng chiến lược quản lý vĩ mô phù hợp

Nói chung, trường đại học mang lại lợi ích công và góp phần quan trọng vào

sự phát triển quốc gia Nhà nước có trách nhiệm tạo môi trường đảm bảo phát huy tốt nhất vai trò của trường đại học

Khả năng hành động chủ động hay sáng kiến của một trường phụ thuộc vào: i) sự phân phối thẩm quyền ra quyết định và ii) cơ cấu ra quyết định trong hệ thống GDĐH

Trước hết, về sự phân phối thẩm quyền Clark (1983) đã chia ra 6 cấp thẩm

quyền ra quyết định trong hệ thống GDĐH, từ đơn vị cơ sở nhỏ nhất là bộ môn; đến cấp khoa, trường trực thuộc; cấp trường đại học; cấp hành chính học thuật đa trường (ví dụ như trường đại học liên bang); cấp tỉnh, bang hay vùng; và cấp chính phủ [19, tr.57] Cách phân phối này không là sự phân cấp quản lý hay sự phân định giữa quyền quản lý vĩ mô và quyền quản lý sở hữu chủ hay chủ quản mà là sự phản ảnh thẩm quyền ra quyết định được trao ở từng cấp tham gia quản lý GDĐH Tùy từng

hệ thống quản lý, người ta đưa ra khuôn khổ và các thủ tục để đảm bảo sự đan xen thẩm quyền nhằm đạt được các thoả thuận về ưu tiên, về phân chia trách nhiệm các cấp, theo Groof, Neave, Svec (1998) [84, tr 10]

Thực tế, nếu xét thẩm quyền ở ba cấp độ là Bộ máy hành chính chính phủ,

Bộ máy hành chính/Hội đồng quản trị của trường đại học và Bộ môn/ Khoa có thể

Trang 28

cho thấy một số cách phân phối thẩm quyền có tính bao quát là: i) kiểu châu Âu lục địa, thẩm quyền chủ yếu được giao cho Khoa/Bộ môn, kế đến là Bộ máy hành chính của chính phủ, và một ít cho quản lý trường đại học; ii) kiểu vương quốc Anh,

thẩm quyền chủ yếu giao cho Khoa/Bộ môn, sau đó đến cấp trường đại học, và rất ít

cho Chính phủ; iii) kiểu Hoa Kỳ, với thẩm quyền chủ yếu được giao cho Hội đồng

Quản trị và Bộ máy hành chính cấp trường, kế đến là Khoa/Bộ môn, và gần như rất

ít cho cấp chính phủ; iv) kiểu kết hợp, trường hợp cụ thể là Nhật Bản, thẩm quyền

có thể được phân giao cho bất kỳ cấp nào, tuỳ theo loại hình và đặc điểm văn hoá từng trường đại học Bảng 1.1 cho thấy cách phân phối thẩm quyền ở hầu hết các hệ thống GDĐH không dành cho cấp chính phủ thẩm quyền ra quyết định nhiều nhất , chỉ ở mức (2), (3) Thẩm quyền nhiều nhất , mức (1), hầu như thuộc về cấp khoa/ bộ

môn hay cấp trường Ngoài ra, ở một số nước XHCN trước đây và ở một số nước Bắc Âu, thẩm quyền ra quyết định chủ yếu tập trung vào chính quyền trung ương,

các trường hầu như không có quyền quyết định đáng kể

Bảng 1.1: Cách thức phân phối thẩm quyền ở các quốc gia

Cấp thẩm quyền

Cách phân phối thẩm quyền

Châu Âu lục địa (Pháp, Ý,

Bỉ, Áo, )

Các nước XHCN trước đây (Liên Xô, Đông Âu cũ)

Trang 29

lý trường đại học Ví dụ như khi nhu cầu đào tạo tăng mà nguồn đầu tư công giảm thì nó thường dẫn đến sự phi tập trung trong quản lý GDĐH

Từ gốc độ cơ cấu ra quyết định trong hệ thống GDĐH, Vught (1993) khái quát hai kiểu cơ cấu: i) “từ dưới-lên” và ii) “từ trên-xuống” [110, tr.20] Với kiểu cơ cấu đầu, chính sách nhà nước thường theo sau các quá trình thay đổi do cấp trường

chủ động Các trường có quyền tự chủ cao còn cơ chế kiểm soát thì thường dựa vào

thị trường cạnh tranh hơn là thẩm quyền pháp lý của nhà nước Với kiểu cơ cấu thứ hai, nhà trường chỉ đơn thuần thực hiện các sáng kiến chính sách của nhà nước Tuy

nhiên, vai trò tuyệt đối của nhà nước thì cũng khó thực hiện trên thực tế bởi vì nhà nước cũng là một thành phần của hệ thống GDĐH Các chính sách của nhà nước cũng chịu sự chi phối nhất định bởi các quy tắc, giá trị và lợi ích của những thành phần khác trong hệ thống

1.1.2 Tự chủ của trường đại học

Khái niệm tự chủ (autonomy) đã có từ thời Aristotle (384-322 trước công

nguyên) với nhận thức trường đại học sẽ phát triển tốt hơn nếu các nhà học thuật có

được tự chủ đầy đủ Hiểu đơn giản thì tự chủ hàm ý khả năng hành động của một cá nhân (như sinh viên, giảng viên và học giả) hay tổ chức (như trường đại học ) mà

không phải xin phê chuẩn hay bị kiểm soát từ bên ngoài

Đối với một cá nhân , tự chủ hàm ý quyền tự do học thuật Đó là quyền tự

quyết định đối với việc xuất bản và phát ngôn , thiết kế và chuyển giao các chương trình giảng dạy theo yêu cầu xã hội và thị trường, và đề tài nghiên cứu Hiểu rộng hơn, thì quyền tự do học thuật bao hàm cả hai phương diện: trách nhiệm xã hội và quyền con người

Đối với một tổ chức , tự chủ hàm ý quyền của nhà trường được tự điều hành công việc của mình Nó được xem như điều kiện tiên quyết để một trường đại học thực hiện chức năng xã hội của mình Groof, Neave, Svec (1998) cho rằng tự chủ tổ

chức là điều kiện cho phép một trường đại học tự quản mà không có sự can thiệp từ bên ngoài [84, tr.76] Tuy nhiên, trên thực tế thì tự chủ có tính “điều kiện” bởi vì việc thực hiện nhiệm vụ của một trường được xác định phạm vi và phụ thuộc các

Trang 30

tiêu chuẩn chi phí, đầu ra hay phương thức đánh giá thành tích đã được định trước Theo Phạm Phụ (2006) thì tự chủ đại học phản ánh mối quan hệ giữa trường đại học

và chính phủ, mức độ can thiệp của chính phủ vào những vấn đề khác nhau của trường đại học [53] Quan niệm tự chủ nhấn mạnh khả năng, tính pháp lý, tính trách nhiệm và hướng tới sự hài hoà mục tiêu phát triển mà không phải chờ “xin ý kiến” được sự đồng ý và rất đồng ý của hơn 77% ý kiến (M=3,02, S.D.=0,8) qua kết quả khảo sát các nhà quản lý GDĐH Việt Nam ở Bảng 1.2, Mục 1 Chỉ có 4% ý kiến là muốn duy trì việc “xin phép”

Bảng 1.2: Tự chủ và tự chịu trách nhiệm

Mục khảo sát

Kiểu trả lời

Trung bình (M)

Độ lệch chuẩn (S.D.)

Tần suất trả lời (F) (%)

4 3 2 1

1 Tự chủ là khả năng chủ động thực hiện

công việc mang tính pháp lý của một TĐH

theo cách có trách nhiệm mà không phải

xin phép

2 Tự chịu trách nhiệm là sự ràng buộc đối

với TĐH về báo cáo và giải trình định kỳ

kết quả thực hiện mục tiêu với các bên liên

quan

3 Cơ chế tự chịu trách nhiệm song hành

với quyền tự chủ cần được đảm bảo bằng

Ghi chú: Kết quả khảo sát 132 nhà quản lý GDĐH Việt Nam; Kiểu trả lời, Đ: Đồng ý;

Tần suất trả lời (F), 4: Tích cực nhất, 1: Không tích cực

Tự chủ nhà trường được phân biệt giữ hai dạng thức: i) tự chủ thực chất

(substantive autonomy), quyền của trường đại học trong loại hình tổ chức của mình

để quyết định các chương trình và các mục tiêu của nó (cái học thuật); và ii) tự chủ thủ tục (procedural autonomy), quyền của trường đại học trong loại hình tổ chức

của mình để quyết định cách thức theo đuổi các mục tiêu và chương trình (cách học thuật) (Altbach, Berdahl, Gumport, 2005) [73, tr.5,6] Sự tự chủ thực chất và tự chủ thủ tục tạo thuận lợi cho sự tự do học thuật của trường đại học

Cách thức quản lý hay chiến lược điều khiển của nhà nước về GDĐH, kiểm soát quá trình hay kiểm soát sản phẩm, ảnh hưởng tới sự tự chủ (thực chất và thủ

Trang 31

tục) của trường đại học (Neave và Vught, 1994) [99, tr.7, 8] Khi nhà nước tăng cường kiểm soát kết quả hay sản phẩm của một trường, tức đầu ra được tiêu chuẩn hoá, thì tự chủ thủ tục có khuynh hướng tăng Còn khi nhà nước quyết định phạm vi rộng các tiêu chuẩn kết quả thì sự tự chủ thủ tục nhiều hơn trong khi sự tự chủ thực chất bị giới hạn hơn

Mức độ tự chủ của một trường đại học công tùy thuộc vào địa vị pháp lý mà

nó được xác lập Fielden (2008) chỉ ra một phổ các vị trí sắp xếp theo thứ tự từ sự

kiểm soát chặt chẽ các trường của nhà nước cho đến sự tự chủ và độc lập đầy đủ mà các trường có được, đưa ra 4 mô hình có tính đại diện từ kiểm soát đến tự chủ (xem Bảng 1.3) Đồng thời, cũng nhấn mạnh rằng bên trong mô hình kiểm soát nhà nước vẫn có một số sự tự chủ vì một Bộ ở trung ương không thể nào kiểm soát được mọi thứ, còn bên trong mô hình độc lập thì Bộ Giáo dục vẫn được quyền chịu trách nhiệm pháp lý về nhiều mặt [81, tr.9]

Bảng 1.3: Bốn mô hình từ kiểm soát đến tự chủ

Cơ quan do luật định, tập đoàn từ thiện hay phi lợi nhuận không có sự tham gia và kiểm soát của nhà nước được kết nối với các chiến lược quốc gia và chỉ có liên quan tới tài trợ công

Úc, Anh

Trang 32

với việc tuyển dụng nhân viên, và trong việc quyết định điều kiện làm việc; iv)

tuyển sinh: có quyền tự quyết định việc tuyển sinh viên; v) chương trình: có quyền

tự quyết định việc thiết kế và đưa vào sử dụng chương trình đào tạo; và vi) Đánh giá: có quyền tự quyết định việc thiết lập các tiêu chuẩn và định ra các phương pháp

đánh giá.[113]

Tuyên bố của Hiệp hội Đại học Châu Âu (2007) chỉ ra bốn nguyên lý tự chủ đại học Đó là, i) tự chủ học thuật: quyết định về cấp bằng, chương trình đào tạo và

các phương giảng dạy; quyết định về lĩnh vực, phạm vi, mục đích, và phương pháp

nghiên cứu; ii) tự chủ tài chính: tìm kiếm và phân bổ tài trợ, quyết định về học phí, tích lũy thêm; iii) tự chủ tổ chức: thiết lập cơ cấu tổ chức và quy chế, ký hợp đồng, quyết định ra quyết định các đơn vị chức và các cá nhân iv) tự chủ nhân viên: trách

nhiệm tuyển dụng, trả lương và thăng tiến Ngoài ra còn đặt ra yêu cầu chung là nguyên lý tự chủ phải cung cấp các sứ mạng tổ chức đa dạng.[79] Điều này cho thấy quyền tự chủ gắn với trọng trách xã hội, cho thấy mục tiêu xã hội của trường đại học rõ hơn

Thách thức của tự chủ đại học là: i) nhận thức, ii) tính tương đối và iii) rào

cản chính trị Trước tiên, sự nhận thức chưa đúng mức về tự chủ, xem nó là một

điều kiện tuyệt đối, làm cho nó có thể được đề cao hay bị e ngại quá mức

Tính tương đối và thay đổi của tự chủ là thách thức thứ hai Mỗi trường đại

học à thực thể pháp lý phải tuân thủ quy định pháp luật trong khi các quy định này

có thể được thay đổi Khả năng tự quyết định của một trường chịu tác động bởi các yếu tố như chính trị hay sự thay đổi khi vận hành hệ thống Tự chủ là điều kiện để các trường đạt mục tiêu trong khi bản thân mục tiêu của một trường lại có thể thay đổi

Sau hết là các vấn đề mang tính chính trị Việc trao quyền tự chủ có thể gặp

các rào cản chính trị, do có sự chia rẽ mục tiêu GDĐH xuất phát từ lợi ích chính trị hay vì sự tự vệ quốc gia, do có sự lo ngại khả năng sử dụng quyền tự chủ của trường đại học nên không thúc đẩy quá trình trao quyền hay do lo ngại việc trao quyền tự chủ sẽ bị coi là cách thoái thác trách nhiệm

Trang 33

Nói chung, tự chủ là khả năng hành động chủ động mang tính pháp lý về các mặt học thuật, tài chính, tổ chức và nhân viên của tổ chức trường đại học, là điều kiện cần để giúp các trường thực hiện tốt sứ mạng của mình, có tính tương đối và chịu ảnh hưởng bởi chiến lược điều khiển hệ thống GDĐH của nhà nước

1.1.3 Tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm xã hội của trường đại học

Vai trò to lớn của trường đại học buộc nó gánh vác trách nhiệm Trong quản

lý công, khái niệm trách nhiệm hàm ý trách nhiệm giải trình, tính chịu trách nhiệm

hay sự phù hợp giữa quyền và trách nhiệm và được dùng thay thế nhau Khái niệm

tự chịu trách nhiệm được hiểu theo cách tự mình (một trường đại học tự chủ) phải

chịu trách với những điều mình làm thì chưa bao quát được trách nhiệm cần có của một trường đại học Trách nhiệm cần có phải bao gồm cả trách nhiệm bị động và chủ động, trách nhiệm pháp lý và đạo đức, trách nhiệm với nhiều bên liên quan mà nhà nước là một trong số đó, đối với sự cung cấp dịch vụ GDĐH Do đó, trách

nhiệm đầy đủ hơn của trường đại học cần được bao quát như là trách nhiệm xã hội,

trách nhiệm giải thích hay giải trình (accountability) cho các nhóm lợi ích có liên quan (stakeholders) Theo Ngô Doãn Đãi (2004), tuyệt nhiên, đây không phải là “tự làm tự chịu” [6, tr.21, 22]

Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ báo cáo mang tính đạo đức và quản lý về những hoạt động và kết quả thu được, giải thích kết quả thực hiện, và thừa nhận trách nhiệm đối với cả những kết quả không mong đợi của trường đại học cho các

bên liên quan The Task Force on HE & Society (2000) cũng cho rằng đó là sự ràng

buộc về việc giải thích định kỳ kết quả đạt được của nhà trường một cách minh bạch, kể cả những thành công lẫn thất bại [108, tr.61]

Trách nhiệm giải trình là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt đối với một tổ chức đại học tự chủ Khi nói tới trách nhiệm giải trình thì có hai vấn đề đặt ra Đó là

i) trách nhiệm với ai và ii) trách nhiệm về nội dung gì Trước hết, một trường đại học liên quan trực tiếp hay gián tiếp với nhiều bên: xã hội nói chung, các thành viên đại diện trong hội đồng trường; Chính phủ, chính quyền các cấp , đại diện cho lợi ích toàn xã hội , cấp kinh phí cho trường ; những khách hàng, các nhà sử dụng lao

Trang 34

động, sinh viên và gia đình, những người muốn có kiến thức, kỹ năng làm việc tốt

và bằng cấp; cựu sinh viên, những nhà ũng hộ quan trọng của trường; giảng viên:

nhân tố quan trọng; và kiến thức, kỹ năng và thái độ của ngành học Đây là những đối tượng mà các nhà quản lý ở trường đại học phải giải trình Mức độ giải trình không mang tính khuôn mẫu nhưng cần lưu ý là sự đòi hỏi quá mức (không hợp lý)

sẽ hạn chế sự tự chủ, trở thành “gánh nặng” và có nguy cơ làm các trường xa rời trách nhiệm xã hội của mình nhiều hơn

Kế đến, trách nhiệm xã hội thể hiện ít nhất qua một số nội dung dưới đây:

- Sự công bằng trong tiếp cận GDĐH,

- Chất lượng đào tạo và nghiên cứu,

- Sự tương xứng giữa trình độ đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động,

- Sự đóng góp cho phát triển kinh tế cũng như phổ biến các giá trị,

- Sự sử dụng hiệu quả nguồn lực công và

- Sự ổn định (khả năng tài chính để duy trì tiêu chuẩn cao), theo Salmi 2009 [103, tr.6]

Chức năng công cộng và khả năng mang lại lợi ích công to lớn buộc trường đại học phải chịu trách nhiệm xã hội và trách nhiệm này phải bảo đảm được thực thi Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc đưa trách nhiệm xã hội vào cuộc sống thông qua các công cụ thích hợp Kết quả khảo sát các nhà quản lý GDĐH Việt Nam qua Bảng 1.2, Mục 2, cho thấy quan niệm về tự chịu trách nhiệm gắn với yêu cầu giải trình kết quả hoạt động của một trường được sự đồng thuận rất cao với 94% ý kiến (M=3,27; S.D.=0,58)

Nói chung, tự chịu trách nhiệm hay trách nhiệm xã hội của trường đại học cần được hiểu là trách nhiệm báo cáo hay giải thích kết quả hoạt động một cách ngay thẳng và trung thực cho các bên liên quan trong việc cung cấp dịch vụ GDĐH

và sử dụng nguồn lực

1.1.4 Điều kiện và sự cân bằng tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm của một trường đại học đòi hỏi tối thiểu ba điều kiện: i) môi trường định hướng tự chủ ; ii) sự cân bằng giữa quyền tự chủ và

Trang 35

trách nhiệm xã hội; và iii) năng lực tự chủ và tự chịu trách nhiệm của một trường Mỗi điều kiện có thể ảnh hưởng một cách độc lập hoặc trong sự kết hợp với điều

kiện khác Trước hết, môi trường định hướng tự chủ được xem là điều kiện bao quát

nhất, đảm bảo quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội đi vào cuộc sống Nó bao gồm

môi trường chính trị, pháp lý và cạnh tranh Môi trường chính trị và pháp lý là hệ

thống quan điểm, chính sách và pháp luật tạo ra được sự thuận tiện cho sự hoạt động chủ động và có trách nhiệm của trường đại học Nó chính là cam kết chính trị đảm bảo sự phi tập trung một cách thích hợp, sự nhất quán trong chính sách tăng quyền tự chủ, và nhất là khuôn khổ pháp luật đảm bảo địa vị pháp lý độc lập của

trường đại học Môi trường cạnh tranh với các yếu tố, quy luật thị trường hay cơ

chế quản lý phù hợp, thúc ép việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ GDĐH tốt hơn cũng là điều kiện đảm bảo sự chủ động và trách nhiệm xã hội mang ý nghĩa thực tế hơn Nguyên tắc cạnh tranh buộc các trường phải chủ động về mọi mặt trong đào tạo và nghiên cứu, phải thể hiện sự sử dụng hiệu quả nguồn lực và bám sát được nhu cầu xã hội

Thứ hai, điều kiện về sự cân bằng giữa quyền tự chủ và trách nh iệm xã hội

không chỉ cho thấy sự song hành của hai mặt này, như “hai bánh của một cổ xe”,

mà còn đòi hỏi sự tương hợp giữa chúng Sự tương hợp thể hiện ở nguyên tắc quyền

tự chủ càng cao thì trách nhiệm xã hội phải càng lớn và được bảo đảm bằng các hình thức cụ thể, nhất là các hình thức mang tính pháp lý Kết quả khảo sát các nhà quản lý GDĐH Việt Nam qua Bảng 1.2, Mục 3, cho thấy sự nhất trí cao với hơn 97% ý kiến (M=3,41; S.D.=0,55) cho rằng cần có ràng buộc pháp lý đối với trách nhiệm xã hội Sự cân bằng được nhận thức như là “sự tác hợp” hơn là “sự đánh đổi” như thường thấy Các tác giả Học viện Hành chính Quốc gia (2004) đã lưu ý rằng quyền hạn giúp phát huy trách nhiệm trong khi sự không có trách nhiệm sẽ dẫn đến lạm quyền [42, tr.105, 106] Nhà nước giữ vai trò quan trọng đối với việc “cân bằng” tốt nhất , chứ không tuyệt đối , nhu cầu tự chủ và yêu cầu về trách nhiệm xã hội Điều này có nghĩa là trường đại học được “nới rộng” không gian tự chủ nhưng đồng thời phải chịu sự giám sát nhà nước phức tạp hơn Để làm được điều này, nhà

Trang 36

nước phải xác định rõ yêu cầu đối với các trường Trên cơ sở đó, thiết kế các yêu cầu trách nhiệm phù hợp, đưa ra khuôn khổ trách nhiệm toàn diện để làm rõ cách thức các trường đại học đóng góp vào hàng hóa công cộng và tại sao nó xứng đáng được hưởng sự tự chủ (Downey, 2008) [77]

Thứ ba, điều kiện về năng lực tự chủ và tự chịu trách nhiệm liên quan đến

yếu tố bên trong và là khả năng tự quyết định và chịu trách nhiệm của một trường Khả năng tự quyết định đòi hỏi các quyết định được đưa ra là tối ưu , bao quát được lợi ích của các bên liên quan Đồng thời, trong môi trường cạnh tranh nó cũng đòi hỏi các quyết định được đưa ra phải linh hoạt và kịp thời Nếu một trường không có khả năng dự báo , quyết đoán h ay kỹ năng ra quyết định nhanh thì khó lòng tự chủ được

Việc xác định khả năng tự chủ của một trường là yêu cầu quan trọng vì nó là

cơ sở để xem xét trao quyền tự chủ Một trường thiếu năng lực tự chủ mà được trao quyền tự chủ thì nó chẳng những không tự quyết định được mà còn tự đe doạ trách nhiệm xã hội của mình Vấn đề mấu chốt là xây dựng tiêu chí và phương thức để đánh giá khả năng tự chủ Nó có thể là khuôn khổ tiêu chí và phương thức độc lập hay đan xen hoặc kết hợp với các hệ thống khác như kiểm định chất lượng, kiểm toán, chỉ số cạnh tranh v.v

Thiết chế tổ chức hội đồng trường được xem như một đảm bảo cho sự quản

lý tự quản của một trường Nói cách khác, hội đồng trường là điều kiện cần có để một trường thực hiện quyền tự chủ và cân bằng trách nhiệm xã hội một cách khách quan Hội đồng trường với các đại diện “chủ sở hữu cộng đồng” sẽ quản trị và giải trình việc đạt được các mục tiêu và hạn chế nguy cơ bóp méo sự lựa chọn đối với tổ chức có “giá trị KT-XH” cao như trường đại học (Phạm Phụ, 2004) [52, tr.105] Các thành viên từ bên ngoài tham gia hội đồng trường giúp trường hiểu được các nhóm lợi ích nhiều hơn và thể hiện trách nhiệm tốt hơn Các quyết định quan trọng

có nhiều chủ thể tham gia ít nhiều cũng sẽ tốt hơn Mặc dù hội đồng trường là tổ chức quản trị nhà trường nhưng trách nhiệm của nó lại hướng rộng ra bên ngoài nhà trường, điều ít khi được nhận thức đầy đủ

Trang 37

Nói chung, tự chủ, tự chịu trách nhiệm có tính thực tế và tính điều kiện

1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học

1.2.1 Khái niệm và bản chất quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học

Về tổng thể, quản lý nhà nước là sự điều chỉnh (regulation) bằng quyền lực nhà nước thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phương thức và mức độ khác nhau nhằm định hướng và phát triển KT-XH mà trong đó có GDĐH, duy trì trật tự và kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu của người dân và nhà nước

Quản lý của nhà nước về GDĐH là việc nhà nước sử dụng quyền lực công

để điều khiển (steering) hoạt động GDĐH theo mục tiêu của mình Lê Văn Giạng (2001) xem đó là việc quyết định các chủ trương quản lý; tổ chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ và chủ trương quản lý; lựa chọn, sắp xếp cán bộ và bộ máy; giáo dục, bồi dưỡng và ra chính sách khích lệ cán bộ ; kiểm tra và đánh giá kết quả việc quản

lý [35, tr.324] Còn Trần Kiểm (2006) thì cho rằng đó là những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng

và hiệu quả mục tiêu phát triển GDĐH [46, tr.36]

Dưới gốc độ quản trị, QLNN gần với khái niệm quản trị bên ngoài công (public external governance), đó là cơ cấu và quá trình mà theo đó các hệ thống và trường đại học quản lý các hoạt động thường xuyên cũng như ra các chính sách dài hạn của mình, các chính phủ và chính quyền địa phương tham gia quản lý GDĐH Theo Kaplin and Lee (2007), đó là quá trình ra quyết định và quá trình thực hiện hay không thực hiện các quyết định [95, tr.18, 21] Hình thức quản trị GDĐH cấp

độ quốc gia thì rất đa dạng Trong khi đó, dưới gốc độ điều chỉnh thì QLNN là sự ảnh hưởng với mức độ khác nhau, từ can thiệp cho đến tạo thuận tiện đối với hoạt động GDĐH, theo Neave và Vught (1994) [99]

Quản lý nhà nước về GDĐH được cấu thành từ ba yếu tố: i) chủ thể quản lý,

là các cơ quan có thẩm quyền, chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước nhưng có sự thay đổi gần đây theo hướng chính quyền trung ương tăng cường uỷ thác chức năng

quản lý cho các cấp và tổ chức khác; ii) khách thể quản lý, là hệ thống GDĐH và

Trang 38

hoạt động; và iii) mục tiêu, là việc đảm bảo trật tự trong mọi hoạt động GDĐH

nhằm đào tạo nhân lực bậc cao cho xã hội

Quản lý nhà nước về GDĐH phản ánh tình hình xã hội, bản chất hệ thống chính trị, sự quản trị quốc gia, mối quan hệ giữa nhà nước và nhà trường và cách

thức điều khiển GDĐH; có một số tính chất và đặc điểm chủ yếu dưới đây

- Tính lệ thuộc vào chính trị: QLNN là để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, tuân thủ các chủ trương và chính sách GDĐH của cơ quan hay tổ chức chính trị

- Tính thường xuyên: Hoạt động QLNN được duy trì đều đặn, liên tục để bảo

vệ, giúp đỡ, cung cấp và quy định GDĐH

- Tính quyền lực nhà nước: Hoạt động QLNN thể hiện tính quyền lực

- Tính xã hội: Một mặt, QLNN luôn tôn trọng yếu tố xã hội và mở rộng dân chủ; còn một mặt, GDĐH phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với các quá trình KT-XH GDĐH là sự nghiệp của nhà nước và xã hội, quá trình triển khai QLNN về GDĐH có sự kết hợp giữa nhà nước và xã hội

- Tính pháp lý: QLNN phải tuân thủ quy định pháp luật và đảm bảo tôn trọng pháp luật

- Tính chuyên môn nghiệp vụ: QLNN đảm bảo chuẩn mực kiến thức và kỹ năng, đội ngũ học thuật phải đáp ứng yêu cầu về ngạch, bậc và chức danh

- Tính hiệu lực và hiệu quả: Quyết định QLNN đòi hỏi phải có tác dụng và kết quả thực thi phải được đánh giá từ nhiều gốc độ như kinh tế, xã hội Chất lượng, hiệu quả và trật tự kỷ cương là thước đo trình độ, năng lực, uy tín của tổ chức quản lý GDĐH

- Chịu sự tác động của cơ chế thị trường và xu thế GDĐH thế giới: QLNN phải cân nhắc tín hiệu từ thị trường và cũng không thể đứng ngoài sự chuyển biến của GDĐH toàn cầu

Các công cụ chính sách điều khiển hệ thống GDĐH thường được sử dụng là

tài trợ, quy định, lập kế hoạch và đánh giá (VLk, Westerheijden & Wender, 2008)

[109, tr.9]

Trang 39

Nói chung, QLNN về GDĐH là tác động (can thiệp hoặc không can thiệp) mang tính pháp lý của các chủ thể QLNN có thẩm quyền đến hoạt động GDĐH và các yếu tố động lực (cơ sở GDĐH, tổ chức trung gian, khách hàng của cơ sở GDĐH: sinh viên, người sử dụng lao động v.v ) và hoạt động GDĐH thông qua hệ thống cơ chế, chính sách và chiến lược phù hợp với quy luật khách quan, khung cảnh quốc gia và quốc tế; nhằm phát huy cao nhất vai trò của cơ sở GDĐH, thực hiện mục tiêu phát triển hiệu quả, đảm bảo sự phù hợp và công bằng trong GDĐH

Từ gốc độ khác, sự điều khiển bằng quyền lực công của nhà nước có thể thực hiện theo cách khuyến khích hay hạn chế sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm của

trường đại học, tức là nhà nước cũng có thể tác động nhằm bảo vệ, thúc đẩy và đưa

sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học đi vào cuộc sống Nói cách

khác, đó là QLNN về GDĐH đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học Theo đó, nhà nước thống nhất quản lý hệ thống GDĐH và đảm bảo sự phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế để hướng mọi sự “chú ý” vào mục tiêu chung, hạn chế sự phân tán nguồn lực và tạo sự hài hoà và tính hệ thống trong quản lý vĩ mô Kết quả khảo sát ý kiến các nhà quản lý GDĐH qua Bảng 1.4, Mục 1, thể hiện sự đồng tình cao về đảm bảo sự thống nhất quản lý với hơn 94% ý kiến (M=3.45; S.D.=0,61) Đồng thời, ở Mục 2, có hơn 94% ý kiến (M=3,36; S.D.=0,61) đồng ý với cách đặt vấn đề là nhà nước có thể quản lý bằng cách giám sát, không nhất thiết phải bằng cách kiểm soát chi tiết

Bảng 1.4: Bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Mục khảo sát Kiểu trả

lời

Trung bình (M)

Độ lệch chuẩn (S.D.)

Tần suất trả lời (F) (%)

4 3 2 1

1 Quản lý của nhà nước đảm bảo sự thống

2 Quản lý của nhà nước dựa trên quy định

3 Nhà nước có thể ảnh hưởng tới trường

đại học thông qua pháp luật, chính sách, kế

hoạch và giám sát

Trang 40

4 Tăng cường cạnh tranh góp phần nâng

Ghi chú: Kết quả khảo sát 132 nhà quản lý GDĐH Việt Nam; Kiểu trả lời, Đ: Đồng ý;

Tần suất trả lời, 4: Tích cực nhất, 1: Không tích cực nhất

Bản chất của đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm là nhà nước hướng tới việc tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng để từng trường tự quyết định tương lai, tự lựa chọn ưu tiên phát triển và chịu trách nhiệm đối với phần công việc của mình mà không bị “cản trở”, ít nhất là từ nhà nước, nhà kinh doanh, hay tôn giáo Điều này

đặt ra một số yêu cầu sau đây Thứ nhất, một số thẩm quyền quản lý không thuộc chức năng quản lý vĩ mô sẽ dần được chuyển giao Thứ hai, xác định và thể chế hoá vai trò, chức năng các cấp quản lý Thứ ba, thực hiện tốt công tác giám sát Thứ tư,

mở rộng dân chủ ở cấp trường “Thực hiện mạnh mẽ phân cấp quản lý giáo dục; phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục nhất là các trường đại học,…”, theo kết luận của Hội nghị TW 6 (khoá IX)

Trường đại học công được xác lập địa vị pháp lý tự chủ đầy đủ, được trao quyền để hành động nhằm phát huy tốt nhất vai trò xã hội và khả năng tự điều chỉnh Nhà nước cũng tôn trọng và bảo vệ quyền tự chủ học thuật của cá nhân học thuật Xác lập trách nhiệm pháp lý về báo cáo, giải trình… với ít nhất là bốn nhóm đối tượng: i) nhà nước, ii) các nhà sử dụng lao động, iii) người học và iv) về chính ngành nghề đào tạo Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) chỉ rõ: “… phát huy quyền chủ động và trách nhiệm của địa phương và nhà trường” Điều này không nhằm tạo ra

sự khác biệt, đặc quyền hay tập trung (hoặc tạo đối trọng) quyền lực vào một cấp (hoặc giữa các cấp) nào đó mà là tạo ra cơ hội và tăng cường sự tham gia ở cấp trường

Kết quả khảo sát các nhà quản lý GDĐH với 93% ý kiến đồng tình qua Bảng 1.4, Mục 3, cho thấy có nhận thức chung là nhà nước có thể tác động tới các trường đại học thông qua pháp luật, chính sách, kế hoạch và giám sát việc thực thi trách nhiệm xã hội

Quản lý nhà nước đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên cơ sở phối hợp với thị trường có định hướng có nghĩa là tín hiệu thị trường được quan tâm Thị

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:47

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w