1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hàm ý và phương thức biểu thị hàm ý trong tiếng việt

166 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Davis 2005 cũng khẳng định vai trò của việc nghiên cứu loại nghĩa hàm ẩn này trong ngôn ngữ học: “Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học.” Không ch

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGUYỄN THỊ TỐ NINH

HÀM Ý VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU THỊ HÀM Ý TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGUYỄN THỊ TỐ NINH

HÀM Ý VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU THỊ HÀM Ý TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả những vấn đề được trình bày và giải quyết; những kết luận trong luận án đều chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

NGUYỄN THỊ TỐ NINH

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

0.1 Lý do chọn đề tài 1

0.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

0.2.1 Về khái niệm hàm ý 2

0.2.2 Về phương thức biểu thị hàm ý 6

0.3 Tính thời sự của đề tài 7

0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7

0.5 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 8

0.6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8

0.6.1 Phương pháp nghiên cứu 8

0.6.2 Nguồn tư liệu 10

0.7 Bố cục đề tài 10

CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM XUẤT PHÁT 12

1.1 Phát ngôn 12

1.2 Cơ cấu nghĩa của phát ngôn 13

1.3 Nghĩa mệnh đề và nghĩa tình thái 15

1.3.1 Nghĩa mệnh đề 15

1.3.2 Nghĩa tình thái 17

1.4 Nghĩa chủ đề 18

1.5 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn 19

1.5.1 Nghĩa tường minh 19

1.5.2 Nghĩa hàm ẩn 20

1.6 Hàm ý 22

1.6.1 Thuật ngữ hàm ý 22

1.6.2 Quan niệm về hàm ý 24

1.6.3 Quan niệm về hàm ý trong luận án 29

1.7 Điều kiện sử dụng hàm ý trong giao tiếp 38

1.7.1 Hoàn cảnh giao tiếp 38

Trang 5

1.7.2 Nhân vật giao tiếp 41

Tiểu kết 44

CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI HÀM Ý 46

2.1 Vấn đề phân loại hàm ý trong các tài liệu ngữ dụng học 46

2.2 Các loại hàm ý được phân loại theo phương tiện biểu hiện 48

2.2.1 Hàm ý của từ 48

2.2.2 Hàm ý của toàn phát ngôn 62

2.3 Các loại hàm ý được phân loại theo số lượng hàm ý của phát ngôn (theo tầng nghĩa) 70

2.3.1 Hàm ý đơn 70

2.3.2 Hàm ý phức 73

2.4 Các loại hàm ý phân loại theo quan hệ với nghĩa tường minh 78

2.4.1 Hàm ý tăng tiến 78

2.4.2 Hàm ý trái ngược 80

2.5 Các loại hàm ý phân loại theo quan hệ với các nghĩa hàm ẩn khác 83

2.5.1 Hàm ý kiêm chức 83

2.5.2 Hàm ý không kiêm chức 85

2.6 Các loại hàm ý phân loại theo mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp 85

2.6.1 Hàm ý quy ước 85

2.6.2 Hàm ý hội thoại 90

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU THỊ HÀM Ý TRONG TIẾNG VIỆT 93

3.1 Khái niệm “phương thức biểu thị hàm ý” 93

3.2 Điểm lại danh sách các phương thức biểu thị hàm ý 96

3.2.1 Phương thức biểu thị hàm ý khái quát (generalized implication) 96

3.2.2 Phương thức biểu thị hàm ý hội thoại đặc thù (particular implicature) 99

Trang 6

3.2.3 Nhận xét chung 100

3.3 Thử đề xuất một danh sách các phương thức biểu thị hàm ý 107

3.3.1 Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc thù 108

3.3.2 Vi phạm phương châm hội thoại, quy tắc quan yếu 114

3.4 Về hiện tượng “lệch pha” trong giao tiếp 137

3.4.1 Dấu hiệu của sự “lệch pha” trong giao tiếp 138

3.4.2 Một số nguyên nhân 140

3.4.3 Giải pháp khắc phục 141

Tiểu kết 142

KẾT LUẬN 145

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do chọn đề tài

Khái niệm hàm ý cùng lý thuyết hàm ngôn hội thoại của H.P Grice

được đánh giá là một bước tiến quan trọng của ngôn ngữ học, mới ra đời cách đây non nửa thế kỷ Tuy nhiên, việc sử dụng hàm ý để chuyển tải những thông tin mà vì một số lý do nhất định, người ta không tiện hoặc không nên nói thẳng ra là một hiện tượng bình thường trong thực tế, hẳn đã

có ngay từ những cuộc giao tiếp đầu tiên trong xã hội văn minh Trong các công trình của mình, H.P Grice nhận xét: trong giao tiếp, nhiều khi chúng

ta “nói điều này nhưng thật ra muốn nói một điều khác” Đồng tình với ý kiến này, Hoàng Phê – người đầu tiên giới thiệu và vận dụng lý thuyết của H.P Grice vào nghiên cứu tiếng Việt, bổ sung: “Hằng ngày sử dụng ngôn ngữ, lắm khi chúng ta nói một điều này, nhưng lại muốn cho người nghe từ

đó hiểu ra một điều khác, hoặc hiểu thêm một điều khác nữa” [58, 93]

Thậm chí, ông cho rằng: “Khi một lời nói có hàm ngôn thì ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí, có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn là ý chính” [58, 93] W.A Davis (2005) cũng khẳng định vai trò của việc nghiên cứu loại nghĩa hàm ẩn này trong ngôn ngữ học:

“Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học.”

Không chỉ có tác dụng trong giao tiếp hằng ngày, hàm ý còn có giá trị

sử dụng rất lớn trong các hoạt động chính trị, ngoại giao và sáng tác văn học Bởi vậy, từ khi có những phát hiện của H.P Grice, đặc biệt là từ sau khi ông hoàn thiện và công bố chúng trong tập bài giảng ở Đại học Harvard

(1967), cuốn Logic và hội thoại (1975) và bài báo Ghi chú thêm về logic và

hội thoại (1978), giới nghiên cứu đã tập trung khai thác rất nhiều vấn đề

xung quanh khái niệm hàm ý, các loại hàm ý và phương thức biểu thị hàm

ý Tuy nhiên, vấn đề phân loại hàm ý chưa đạt được sự thống nhất cao giữa các nhà nghiên cứu, việc xem xét phương thức biểu thị hàm ý chủ yếu giới hạn ở việc sử dụng một số biểu thức ngôn ngữ (tạo hàm ý ngôn ngữ) và một số biện pháp vi phạm phương châm giao tiếp (tạo hàm ý hội thoại) Đặc biệt, việc nghiên cứu hàm ý trong sáng tác văn học chưa được đầu tư thỏa đáng nên kết quả chưa có chiều sâu Phần lớn các nhà văn, nhà nghiên

Trang 8

cứu, phê bình văn học mới dừng ở việc khai thác các chi tiết, hình tượng nghệ thuật từ kinh nghiệm cá nhân Ngược lại, phần lớn các nhà ngôn ngữ học tự bằng lòng giới hạn nghiên cứu của mình trong phạm vi ngôn ngữ học đơn thuần, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa những kiến giải của lý thuyết hàm ngôn hội thoại với lĩnh vực văn học

Tình hình trên đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn những vấn đề chưa có sự thống nhất cao, chưa có điều kiện đi sâu để góp phần phát triển nhận thức chung về hàm ý, phương thức biểu thị hàm ý và khả năng ứng dụng những kiến giải này vào thực tế Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi thực hiện đề tài

luận án Hàm ý và phương thúc biểu thị hàm ý trong tiếng Việt

0.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

0.2.1 Về khái niệm hàm ý

Khái niệm “hàm ngôn hội thoại” được Herbert Paul Grice “thai nghén” từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX rồi hoàn thiện trong phác thảo thuyết hàm ngôn mà ông đưa vào tập bài giảng William James khi đang giảng dạy tại Đại học Harvard năm 1967 Ngay từ đầu, các vấn đề về hàm ngôn trong tập bài giảng William James đã có ảnh hưởng rất lớn nhưng có

lẽ phải một thời gian, sau khi cuốn Logic và hội thoại (1975) và bài báo

Ghi chú thêm về logic và hội thoại (1978) ra đời thì thuyết hàm ngôn hội

thoại của Grice mới thực sự trở thành “một trong những chuyên luận kinh điển” của ngữ dụng học

Phần lớn công trình Logic và hội thoại của Grice tập trung vào việc

làm rõ sự khác biệt (về mặt trực giác) giữa “cái được diễn tả bằng lời” trong câu nói và “cái được gợi ý” (hoặc nói bóng gió) trong câu nói Để chỉ

“cái được gợi ý” này, Grice (1975; 1978) đã sử dụng các thuật ngữ mới là

“hàm ý” (implicate) và “hàm ngôn” (implicature); đồng thời, ông xem phần được mã hóa ngôn ngữ của phát ngôn là “cái được nói đến” Ông cho rằng, tổng số “cái được nói đến trong câu” và “cái được hàm ý” trong cùng một câu nói đó được gọi là “các ý nghĩa biểu hiện của một phát ngôn” [96] Phát hiện của Grice đã mở ra một trào lưu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ W.A Davis (2005) khẳng định: “Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học.”

Cho đến nay, có thể nói các công trình nghiên cứu ngữ dụng học đã đạt được quan niệm thống nhất về hàm ý như sau:

Trang 9

3

(1) Hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn (nghĩa hàm ngôn) không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng được suy ra từ nghĩa tường minh (nghĩa hiển ngôn) và hoàn cảnh giao tiếp

Quan niệm này không chỉ được thể hiện trong các tác phẩm của Grice

mà còn được thể hiện rõ trong những tài liệu vận dụng lý thuyết của ông như các công trình của O Ducrot (1972), G Yule (1997), Hoàng Phê (1989), Nguyễn Đức Dân (1996), Hồ Lê (1996), Cao Xuân Hạo (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đỗ Hữu Châu (2005),… Chẳng hạn, O Ducrot quan niệm: “Thực chất của hàm ngôn là nói mà coi như không nói, nghĩa là nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa

là vừa có hiệu lực nói năng vừa có sự vô can trong im lặng” (Dẫn theo [58;

98 – 100]); Hồ Lê (1996) viết: “Hàm ý là tất cả những ý nghĩa, tình thái hàm ẩn mà người phát ngôn ký thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài ý nghĩa hiển hiện của phát ngôn, trong đó có việc biểu thị những sở chỉ khác với những sở chỉ mà hiển nghĩa của phát ngôn biểu thị” [44; 335]; Nguyễn Thiện Giáp (2000) thì giải thích: “Hàm ý chính là những gì người nghe phải tự suy ra qua phát ngôn, để hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa của phát ngôn đó” [19; 136]

(2) Hàm ý là phần có giá trị thông tin thuộc nghĩa hàm ẩn, đối lập với tiền giả định (TGĐ) là phần không có giá trị thông tin

H.P.Grice (1975) phân biệt nghĩa hàm ẩn tự nhiên (natural meaning) với nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (non-natural meaning) O Ducrot thống nhất với quan niệm của Grice nhưng thể hiện sự phân biệt đó bằng các thuật ngữ “hàm ngôn” và “tiền giả định” (TGĐ) Ông coi TGĐ là một hình thức hàm ngôn quan trọng, là hàm ngôn nằm trực tiếp trong bản thân

“nghĩa từ ngữ” của lời (Dẫn theo [58; 98])

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đều có chung quan niệm: TGĐ là loại nghĩa hàm ẩn nhưng là nghĩa hàm ẩn không có giá trị thông báo [10]; [12]; [26]; [58] Theo các tác giả, sự đối lập giữa “cái đã biết” và “cái mới” theo phân đoạn thực tại câu sẽ cho phép vạch ra một sự đối lập khác, rộng hơn, trong cấu trúc ngữ nghĩa của lời; đó là sự đối lập giữa phần không có giá trị thông báo (gồm có TGĐ và cái đã biết trong hiển ngôn) và phần có giá trị thông báo (gồm cái mới trong hiển ngôn cùng với hàm ngôn) Vì vậy, nếu coi TGĐ là hàm ngôn (tức là phần có giá trị thông báo) sẽ “không

Trang 10

thể thấy được mối quan hệ có tính quy luật hết sức quan trọng giữa TGĐ, hiển ngôn và hàm ngôn, mối quan hệ chi phối nội dung của hàm ngôn” [58; 99]

Mặc dù đã đạt được sự thống nhất cơ bản như trên, giữa các nhà nghiên cứu vẫn còn những khác biệt tương đối lớn và có thể coi đây là những điểm chưa rõ trong lý thuyết hàm ngôn hội thoại, cần được tiếp tục nghiên cứu thêm

Sự khác nhau trước hết là cách dùng thuật ngữ Khi nghiên cứu thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice cũng như vận dụng nó vào việc tìm hiểu một vấn đề ngôn ngữ cụ thể, hầu hết các nhà nghiên cứu đều sử dụng thống nhất thuật ngữ “hàm ý” (implicate) với tư cách động từ và thuật ngữ “hàm ngôn” (implicature) với tư cách danh từ Có thể thấy rõ điều này qua một

số phân tích, nhận xét, đánh giá và kết quả nghiên cứu của các nhà ngữ dụng học như: Harnish (1976), Leech (1983), J Lyons(1995) W.A Davis (1998), (2005), Kent Bach (2005),… Chẳng hạn, trong một nghiên cứu về

hàm ngôn, Harnish (1976) cho rằng câu Bill và Tom di chuyển cái đàn

“hàm ý” (implicates) một cách chung chung rằng “Bill và Tom chuyển cái

đàn cùng với nhau” Tương tự, Leech (1983: 91) “lưu ý rằng John làm đứt

tay ai đó hàm ý “John không tự cắt vào tay mình” […] Nhưng một lời

khẳng định tương tự như John làm gãy tay thì không thể hàm ý sai (fails to

implicate) là “John không làm gãy tay mình” Ngược lại, nó hàm ý rằng

“John đã làm gãy tay mình” (Dẫn theo[96])

Ngoài các thuật ngữ trên, nhiều nhà nghiên cứu còn dùng động từ to

imply thay cho implicate (hàm ý) Chẳng hạn, Jenny Thomas (1995), đã

chứng minh phần nào “sự năng động” giữa hai động từ này: “Học thuyết của Grice được xây dựng nhằm giải thích quá trình mà bằng cách nào đó, người nghe đi từ lớp ý 1 đến lớp ý 2, từ điều được nói tới điều được hàm ý

(what is implied)” [144; 60]; hay: “Có hai điều mà chúng ta cần ghi nhớ

Thứ nhất là, người nói có thể hàm ý (imply) điều mà người ấy biết là không

đúng và người nghe có thể hiểu chính xác điều người nói hàm ý (what a

speaker has implied) mà không nhất thiết tin vào nó Thứ hai là, thuyết của Grice cố gắng lý giải quá trình người ta đi từ lớp ý được diễn đạt tới lớp ý được hàm ý (implied) Nhiều người hiểu lầm công trình của Grice do thực

tế là người ta cứ cho rằng ông đang lý giải cách thức hình thành suy luận,

Trang 11

5

hơn là việc hàm ngôn được tạo ra và hiểu như thế nào” [144; 61) Khi đặt vấn đề phân biệt các khái niệm “muốn nói”, “nói” và “hàm ý”, các tác giả Adrian Akmajian, Richard A Demers, Ann K Farmer và Robert M Harnish (1997) đã viết: “Như chúng ta đã thấy, người nói có thể muốn truyền đạt nhiều hơn cái mà họ nói Một loại giao tiếp đặc biệt và thú vị đã

được khảo sát bởi Grice dưới tên gọi hàm ngôn hội thoại (conversational

implicature), gọi như thế là do cái được ám chỉ (what is implied) hay như

Grice thích nói là được hàm ý (implicated)) đã được hàm ý nhờ vào sự việc

người nói và người nghe đang hợp tác đóng góp vào cuộc đàm thoại ” [93; 381)

Trong một số công trình, kể cả công trình của Grice (1975), “hàm ý” còn được dùng như một danh từ, với hai biến thể “implicating” và

“implication”, trong đó “implication” được sử dụng nhiều hơn cả

Ở Việt Nam, trong các công trình ngữ dụng học, có tình trạng cùng một hiện tượng được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau và ngược lại, cùng một thuật ngữ lại được hiểu theo những nội dung khác nhau, phản ảnh quan niệm rộng, hẹp khác nhau ở mỗi nhà nghiên cứu Chẳng hạn, thuật ngữ “hàm ý” được dịch và hiểu tương đương với thuật ngữ “hàm ngôn” trong ngôn ngữ học nước ngoài nhưng trong nghiên cứu, mỗi tác giả lại đặt cho loại nghĩa hàm ẩn này một tên gọi khác nhau như: “hàm ngôn”, “ẩn ý”,

“ngụ ý”, “dụng ý”, “hiểu ngầm”, “ám chỉ”,… Có thể thấy rõ điều này qua các công trình của các tác giả tiên phong trong lĩnh vực ngữ dụng học ở Việt Nam như Nguyễn Đức Dân (1987), Hoàng Phê (1989), Đỗ Hữu Châu (2003),…

Cùng với những khác biệt trong sử dụng thuật ngữ, các nhà nghiên cứu ngữ dụng học còn thể hiện quan niệm khác nhau về phạm vi của hàm

ý Phần đông các tác giả có xu hướng giới hạn hàm ý ở nghĩa miêu tả (nghĩa mệnh đề) [10]; [12]; [19]; [26]; [58], chỉ có một số ít tác giả cho rằng nghĩa tình thái cũng có thể là hàm ý ([31]; [44])

H.P.Grice và nhiều tác giả nước ngoài theo học thuyết của ông như Horn (1989), Levinson (1983; 1987b; 2000), George Yule (1997),… hay một số tác giả theo lý thuyết về tính quan yếu như D Sperber& D Wilson (1995), Carston (2002) và các nhà nghiên cứu ở Việt Nam như Hoàng Phê,

Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân,… đều thống nhất dựa vào mức độ phụ

Trang 12

thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp để phân biệt hai loại hàm ý là hàm ý quy ước

và hàm ý hội thoại Tuy nhiên, theo cách phân loại này, ranh giới giữa TGĐ, dẫn ý với hàm ý quy ước cũng vẫn còn là vấn đề gây tranh luận trong các thuyết giao tiếp Hậu Grice và Tân Grice [96]; [130]; [133],… Bên cạnh

đó, sự phân biệt hàm ý quy ước với hàm ý hội thoại tuy rất quan trọng nhưng vẫn chưa phản ánh được đầy đủ các khía cạnh rất phong phú của hiện tượng hàm ý trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con người Một

tác giả Việt Nam là Hồ Lê đã đề xuất phân loại hàm ý theo khu vực tình

thái mà người nói ký gửi vào phát ngôn [44; 139 – 143], nhưng theo chúng

tôi, ranh giới của các loại hàm ý trong cách phân loại này rất mờ nhạt, khiến người học khó nhận diện đối tượng

0.2.2 Về phương thức biểu thị hàm ý

Theo nhiều công trình nghiên cứu ngữ dụng học, hàm ý được biểu thị bằng hai phương thức sau:

a) Vi phạm quy tắc ngữ dụng hay quy tắc hội thoại

Hầu hết, các nhà nghiên cứu đều dựa vào các quy tắc ngữ dụng (quy tắc chiếu vật, chỉ xuất, quy tắc chi phối các hành vi ngôn ngữ…) và các quy tắc hội thoại – đặc biệt là nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) của H.P.Grice và lý thuyết quan yếu (relevance theory) của D Sperber và D Wilson – làm cơ sở để khái quát phương thức biểu thị hàm ý Các tác giả cho rằng: sự vi phạm các nguyên tắc giao tiếp của H.P Grice và lý thuyết quan yếu của D Sperber và D Wilson là một phương thức hữu hiệu nhất

để tạo hàm ý hội thoại Chẳng hạn, Đỗ Hữu Châu (2005) coi “hàm ý là các hành vi ngôn ngữ không được điều khiển đúng quy tắc giao tiếp”; Cao Xuân Hạo (1998) coi hàm ý là “sản phẩm” của “sự cố tình vi phạm các nguyên tắc hội thoại”

b) Sử dụng một số phương tiện từ ngữ và cấu trúc phát ngôn

Việc sử dụng một số phương tiện ngôn ngữ mang tính chất đặc thù (như: liên từ, phó từ chỉ thời, thể, các động từ tình thái, các cấu trúc phát ngôn đặc thù…) cũng được các tác giả coi là phương thức biểu thị hàm ý (hàm ý quy ước) Chẳng hạn, dùng liên từ “và” để nối hai sự tình (mệnh đề) trong phát ngôn sẽ mang lại cho phát ngôn hàm ý về quan hệ nhân - quả; dùng phó từ “đi” trong một số trường hợp sẽ biểu thị hàm ý: sự thay đổi trạng thái của sự vật nằm ngoài mong muốn của người nói [31; 267-272];

Trang 13

7

dùng một số động từ tình thái trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định

có thể tạo cho câu nói hàm ý “các hành động hay quá trình ấy có diễn ra thật” hay “hành động hay quá trình ấy không diễn ra” [26; 521 – 533] hay

“câu có chủ đề tương phản, nó có thể mang hàm ý phận cực đảo (reversed polarity implicature)” (thuật ngữ của Chungmin Lee)” [31; 201]

Hai phương thức biểu thị hàm ý nói trên được khẳng định trong hầu hết các công trình nghiên cứu về hàm ý Tuy vậy, các tác giả mới dừng ở sự trình bày khái quát với một số ví dụ đơn giản Chắc chắn là nhận thức này

sẽ phải được phát triển với những phân tích sâu hơn, cụ thể hơn

0.3 Tính thời sự của đề tài

Từ cuối thế kỷ XX, ngôn ngữ học đã chuyển hẳn sang nghiên cứu về hoạt động của các đơn vị ngôn ngữ trong giao tiếp mà một trong những trọng tâm là ngữ nghĩa ngữ dụng của các đơn vị này, vì nói như Whorf thì

“thực chất của ngôn ngữ học chính là tìm hiểu nghĩa”([Dẫn theo[58, 94]) Đến bây giờ, hầu như không có công trình nào về nghĩa chỉ giới hạn phạm

vi nghiên cứu ở hệ thống tĩnh về nghĩa của từ như trước mà không bàn về nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp, nghĩa của câu/phát ngôn và những vấn đề ngữ dụng học khác như diễn ngôn, hành vi ngôn ngữ, phương châm giao tiếp …

Nghiên cứu về hàm ý và các phương thức biểu thị hàm ý là đề tài nằm trong xu hướng trên Thực hiện đề tài này, người nghiên cứu có điều kiện tìm hiểu mối quan hệ giữa hàm ý với các khái niệm khác về nghĩa của câu/phát ngôn vốn được xác định trên những bình diện phân tích khác như nghĩa mệnh đề/nghĩa tình thái, chủ đề/thuật đề,… Điều này nói lên tính thời

sự của đề tài

0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.4.1 Về phương diện lý luận, đề tài là cơ hội để làm sáng tỏ thêm những đặc trưng cơ bản của hàm ý trên cả hai phương diện khái niệm và phương thức biểu thị; góp phần vào việc nghiên cứu quy tắc chung của giao tiếp – một trong những vấn đề mà ngữ dụng học đặc biệt quan tâm

0.4.2 Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng để bổ sung cho giáo trình ở bậc đại học, sách giáo khoa ở trường phổ thông, góp phần hướng dẫn người nói, người viết nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hằng ngày và giúp người đọc có

Trang 14

phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học một cách chắc chắn hơn, khoa học hơn Kết quả của đề tài cũng có thể là gợi ý cho công việc của những người sáng tác

0.5 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án này là hàm ý và phương thức biểu thị hàm ý trong tiếng Việt Phạm vi nghiên cứu là các hình thức diễn ngôn khác nhau, từ những cuộc thoại (đối thoại, đơn thoại) đến văn bản, bao gồm các văn bản báo chí và nghệ thuật Vì vậy, đơn vị mà chúng tôi dựa vào đó tìm hiểu đối tượng nghiên cứu không chỉ là đoạn thoại trực tiếp có chứa từ hoặc phát ngôn thuộc kiểu được xét – phát ngôn có hàm ý, mà còn là các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:

- Hệ thống hóa và phát triển các vấn đề lý luận hữu quan về phát ngôn,

cơ cấu nghĩa của phát ngôn, khái niệm hàm ý, ranh giới và mối quan hệ của hàm ý với các loại nghĩa khác của phát ngôn trong hoạt động giao tiếp trên

cơ sở tư liệu tiếng Việt và những kết quả nghiên cứu mới của giới nghiên cứu

- Phân loại hàm ý từ nhiều bình diện khác nhau

- Hệ thống hóa và bổ sung các phương thức tạo hàm ý trực tiếp, hàm ý gián tiếp trong tiếng Việt

0.6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.6.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng trong luận án này

Bàn về vai trò của ngữ cảnh trong việc tạo lập và tiếp nhận nghĩa của phát ngôn, M.A.K Halliday cho rằng: „„Sự lựa chọn hình thức ngôn ngữ bị chi phối bởi môi trường văn hóa […]; nghĩa của từ và nghĩa của câu bị quy định bởi ngôn cảnh.” (Dẫn theo [20, 45]) J.R Firth viết: „„Tất cả các lời nói đều bị hạn chế bởi phong tục xã hội, truyền thống văn hóa, giá trị đạo

Trang 15

9

đức‟‟ (Dẫn theo [20, 45]) Còn Hymes thì khẳng định: ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong việc „„giới hạn cách hiểu có thể có được‟‟ và „„hỗ trợ cho cách hiểu theo dự định‟‟ (Dẫn theo [23, 67])

Bởi vậy, trong luận án này, để xác định hàm ý mà người phát ngôn muốn gửi đến người nghe (người đọc), các phát ngôn đều được đặt trong ngữ cảnh mà nó xuất hiện Ví dụ, để hiểu người nói có hàm ý gì khi dẫn

câu thơ Trẻ em như búp trên cành, cần xem câu ấy xuất hiện trong hoàn

cảnh nào, với những từ ngữ kèm theo nó như thế nào So sánh:

(1) (Thấy bạn đang đánh con, A nói:)

- Này ông ơi, “trẻ em như búp trên cành” đấy!

(2) (Nghe B tâm sự về sự “đầu tư” cho con cái trong năm học mới:

Chẳng biết quan điểm của ông thế nào chứ với tôi, riêng việc đầu tư cho học hành của con cái là tôi không tiếc, A đáp:)

- Ừ, “trẻ em như búp trên cành” mà!

(3) (Nghe B kêu ca, phàn nàn về sự tốn kém tiền nong khi con bắt đầu vào năm học mới, A nói:)

- Trẻ em như búp trên cành đấy!

Ở (1), phát ngôn Trẻ em như búp trên cành có hàm ý nhắc nhở, phê bình

người bạn về cách giáo dục con cái; ở (2), phát ngôn này mang hàm ý đồng tình với quan điểm của B về việc đầu tư cho chuyện học hành của con cái; còn ở (3), phát ngôn của A lại là sự chia sẻ và động viên đối với B

Trong nhiều trường hợp, để hiểu đúng hàm ý của phát ngôn, ta không chỉ dựa vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc giao tiếp mà còn phải dựa vào một bối cảnh rộng lớn hơn Ví dụ, để hiểu hàm ý trong lời nhân vật Mai nói với

người yêu cô là Lộc ở trích đoạn dưới đây từ tiểu thuyết Nửa chừng xuân

của Khái Hưng, cần phải đặt phát ngôn của cô vào diễn biến câu chuyện giữa hai người và bối cảnh xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám

Âu Tây, Lộc hy vọng sẽ thuyết phục được mẹ mình Anh nhờ người đóng

Trang 16

giả vai bà Án để đến hỏi Mai làm vợ Một thời gian sau, kế hoạch của Lộc

bị Huy – em trai Mai – phát hiện Mai sống trong đau khổ, dằn vặt vì bị lừa dối Nhưng rồi tình cảm chân thành của Lộc dành cho cô, tình yêu và sự hàm ơn trong cô đã giúp cô có nghị lực để sống, để “trả ơn” Lộc Về phần Lộc, càng ngày anh càng ân hận, áy náy về việc làm của mình Một hôm, anh quyết định tổ chức đi chơi để nói hết sự thật với Mai Dường như đoán được ý định của Lộc và cũng muốn quên đi nỗi đau, Mai cố gắng cười thật nhiều và nói chuyện thật nhiều Nhưng rồi khi nghe câu nói của Lộc, nỗi đau vì bị xúc phạm ùa về khiến Mai không kìm nổi lòng mình Việc cô

chuyển cách xưng hô quen thuộc em - anh sang cậu trong hoàn cảnh này đã

tạo cho phát ngôn hàm ý xa cách và báo hiệu sự rạn nứt trong tình cảm của

hai người Bởi nghĩa gốc của đại từ nhân xưng cậu trong hoàn cảnh cụ thể

này (chỉ người con trai những gia đình tầng lớp trên với ý coi trọng) đã hàm

ý khoảng cách giữa Mai và Lộc bị kéo ra xa (trên cả trục quan hệ và trục vị thế) Có lẽ ý thức được điều này mà sau câu nói của Mai, vì là người có lỗi nên Lộc chỉ biết “ứa nước mắt không trả lời” còn Mai lại hối hận xin lỗi Lộc

vì đã “lỡ lời”

Trong quá trình phân tích ngữ cảnh, ở những chỗ thích hợp, chúng tôi sẽ

sử dụng phối hợp các phương pháp thống kê, phân loại, so sánh

0.6.2 Nguồn tư liệu

Do gặp khó khăn trong việc tìm tư liệu bằng biện pháp ghi âm, ghi hình nên ngoài một số tư liệu có được do quan sát thực tế trong giao tiếp hằng ngày, chúng tôi chủ yếu sử dụng những đoạn thoại mô phỏng đối thoại trực tiếp ngoài đời thực, một số chi tiết của tác phẩm báo chí, văn chương Tác phẩm văn chương được chọn là tác phẩm của một số tác giả tiêu biểu, tác phẩm được dạy trong nhà trường, tác phẩm được dư luận đánh giá là có văn phong diễn đạt mới lạ Trong một số trường hợp cần thiết (để so sánh, đối chiếu hoặc minh chứng cho quan điểm của tác giả), chúng tôi có mượn lại một số ví dụ đã dẫn trong các tài liệu nghiên cứu về ngữ dụng học trong, ngoài nước Tổng số 185/2.750 tư liệu được chọn để phân tích, miêu tả trong luận án được lấy từ những nguồn trên

0.7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:

Trang 17

11

Chương 1 hệ thống hóa và phát triển một số khái niệm xuất phát làm

cơ sở để triển khai đề tài

Chương 2 tập trung miêu tả các loại hàm ý, làm chỗ dựa để phân tích

phương pháp biểu thị hàm ý trong chương tiếp theo

Ở Chương 3, trên cơ sở điểm lại danh sách các phương thức biểu thị đã

được tổng kết trong các công trình ngữ dụng học, chúng tôi mạnh dạn đề

xuất và miêu tả một số phương thức biểu thị hàm ý thường dùng trong

tiếng Việt, gắn với văn hóa Việt

Trang 18

CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM XUẤT PHÁT

1.1 Phát ngôn

Theo John Lyons, thuật ngữ phát ngôn (tiếng Anh: utterance; tiếng Pháp: enonce) có thể biểu thị một quá trình hoặc thành phẩm, tức là được

dùng để chỉ hoạt động phát ra câu nói hoặc chính sản phẩm của hoạt động

ấy Nhưng trong trường hợp bình thường, có thể hiểu phát ngôn “là cái mà

một số nhà triết học ngôn ngữ gọi là thành phẩm (inscription), nghĩa là

chuỗi các ký hiệu được ghi lại trong một loại phương tiện vật chất nào đó

Ví dụ, một phát ngôn nói thường được ghi lại […] bằng phương tiện âm

thanh; một phát ngôn viết thì được ghi lại bởi một phương tiện thích hợp nào đó mà thị giác có thể xác định được […] Phát ngôn có thể được coi

như là tín hiệu (signals) được truyền từ người nói sang người nghe – hay

khái quát hơn, là từ người phát sang người nhận – theo một kênh thích hợp nào đó.” [40, 53]

Trong hệ thống của John Lyons, phát ngôn là một thành phẩm của hoạt động giao tiếp tương đương với câu nhưng ở bình diện lời nói Đây cũng là quan điểm gặp ở nhiều nhà nghiên cứu khác Chẳng hạn, các ý kiến của các tác giả I I Kovtunova: “Câu xét về mặt giao tiếp được gọi là phát ngôn” (Dẫn theo [5, 4 - 5]); Hoàng Trọng Phiến: “Câu là cái trừu tượng còn phát ngôn là cái cụ thể, câu là bất biến thể, phát ngôn là biến thể, các phát ngôn làm chức năng hiện thực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là

phương thức tồn tại của mô hình đó.” [60, 13]; Đỗ Hữu Châu: “Khái niệm

phát ngôn không phủ định khái niệm câu Nói chung, phát ngôn được xây dựng trên câu Không có câu thì không có phát ngôn Tuy nhiên, câu không

trùng với phát ngôn Một câu có thể ứng với một số phát ngôn” [8, 12];

Diệp Quang Ban: “Phát ngôn được hiểu là một hành động giao tiếp, một đơn vị thông báo mà người nghe có thể tiếp nhận được trong điều kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Câu là cái tương đối ổn định, nằm trong các phát ngôn cụ thể và chỉ được rút ra từ các phát ngôn cụ thể qua việc nghiên

cứu chúng Chính cái tính chất ổn định tương đối giúp ta giữ phát ngôn ở

thế đứng yên để mà nghiên cứu, để mà phân tích và phát hiện ra cái gọi là câu.” [2, 11 - 12]; Nguyễn Minh Thuyết: “Câu là đơn vị ngôn ngữ, tức là

Trang 19

theo [2, 14]) Đây cũng là quan điểm của tập thể tác giả cuốn Từ điển giải

thích thuật ngữ ngôn ngữ học Theo các tác giả này, phát ngôn là “đơn vị

thông báo có tính hoàn chỉnh về ý và có thể được người nghe tiếp nhận trong những điều kiện nhất định của giao tiếp ngôn ngữ Một phát ngôn là một ngữ đoạn, tương ứng với một xung động nào đấy Do đó, khối lượng của một phát ngôn có thể rất khác nhau Đôi khi phát ngôn chỉ gồm một từ nhưng nó cũng có thể là một cuốn tiểu thuyết, hay một luận cảo khoa học Tính trọn vẹn của phát ngôn đạt được không chỉ nhờ các ký hiệu ngôn ngữ mà còn nhờ

sự kết hợp các ký hiệu ngôn ngữ với những ký hiệu khác có tính phi ngôn ngữ” [92, 199]

Cuối cùng, có những nhà nghiên cứu quan niệm phát ngôn thuộc cấp độ ngôn ngữ, có kích thước lớn hơn câu Chẳng hạn, theo nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc I Danex, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm phát ngôn với các hành động lời nói cũng như với câu như là một cấu trúc cú pháp Phát ngôn và các sơ đồ của phát ngôn đều thuộc vào hình thức có tính hệ thống của ngôn ngữ Phát ngôn được xếp vào một cấp độ đặc biệt của hệ thống ngôn ngữ đứng trên cấp độ câu (Dẫn theo [5, 5])

Có thể nhận thấy khái niệm phát ngôn theo cách hiểu thứ 2 và thứ 3 đã được ngôn ngữ học ngày nay biểu thị bằng một thuật ngữ khác là diễn

ngôn Bởi vậy, trong công trình này, chúng tôi quan niệm phát ngôn là biến

thể của câu trong hoạt động giao tiếp, tức là một đơn vị thuộc cấp độ lời nói, có kích thước bằng câu

1.2 Cơ cấu nghĩa của phát ngôn

Theo Ch Bally, nghĩa phát ngôn gồm hai thành phần cơ bản: phần ngôn

liệu (dictum) và phần tình thái (modus) Ngôn liệu là thành phần biểu thị

nội dung sự tình ở dạng tiềm năng, còn tình thái là thành phần thể hiện

Trang 20

những nhân tố như ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra (xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại và hoàn cảnh giao tiếp) Tương tự, Fillmore quan niệm cơ cấu nghĩa của phát ngôn

bao gồm hai thành phần: “thành phần mệnh đề (được hiểu như tập hợp

những quan hệ có tính phi thời [tenseless] giữa các động từ và danh từ),

phân biệt với thành phần tình thái gồm các loại ý nghĩa có liên quan đến toàn bộ câu [the sentence-a-whole] như phủ định, thì, thức và thể.” (Dẫn

theo [31, 88])

Một số tác giả khác như F R Palmer dựa theo lý thuyết hành động lời nói (theory of speech acts) phân tích cơ cấu nghĩa của phát ngôn thành

hành động tại lời (illocutionary acts) và hành động tạo lời (locutionary

acts) Còn Hare quan niệm nghĩa của phát ngôn gồm 3 thành phần:

phrastic, tropic và neustic Tuy nhiên, như chính Palmer giải thích, sự đối

lập giữa hành động tại lời với hành động tạo lời rất gần gũi với đối lập giữa hai thành phần nội dung mệnh đề và tình thái của Ch Bally: “Trong hành động tại lời, chúng ta nói về một điều gì đó, còn trong hành động tạo lời, chúng ta làm một cái gì đó như trả lời câu hỏi, thông báo một phán quyết, khuyến cáo hoặc hứa hẹn.” (Dẫn theo [31, 88]) Về các thuật ngữ của Hare

thì phrastic tương đương với nội dung mệnh đề hay nội dung sự tình, ngôn liệu… theo cách gọi của tác giả khác; còn tropic “trong khá nhiều ngôn ngữ được ngữ pháp hóa (grammaticalization) ở cấp độ thức”, và neustic “thể

hiện sự cam kết, bảo đảm của người nói liên quan đến tính thực hữu, sự mong muốn,…của nội dung mệnh đề được truyền đạt”, đúng như nhận xét của J Lyons (Dẫn theo [31, 89])

Bên cạnh sự phân biệt nội dung mệnh đề (nghĩa mệnh đề) với tình thái (nghĩa tình thái) hay hành động tại lời với hành động tạo lời, phrastic với tropic và neustic, ngữ dụng học còn phát hiện nhiều cặp đối lập khác về nghĩa, như: đối lập giữa nghĩa chủ đề với nghĩa thuật đề, giữa nghĩa tường minh với nghĩa hàm ẩn Trong công trình này, chúng tôi sẽ sử dụng cả ba cặp đối lập với quan niệm đó là kết quả của những bình diện phân tích khác nhau đối với nghĩa của phát ngôn, cụ thể là:

- Phân biệt nghĩa mệnh đề với nghĩa tình thái là phân biệt trên cơ sở đối chiếu nội dung các bộ phận phát ngôn với hiện thực

Trang 21

15

- Phân biệt nghĩa chủ đề với nghĩa thuật đề là phân biệt trên cơ sở xem xét quan hệ giữa nội dung các bộ phận phát ngôn với giá trị thông báo của chúng

- Phân biệt nghĩa tường minh với nghĩa hàm ẩn là phân biệt trên cơ sở xem xét quan hệ giữa nội dung các bộ phận phát ngôn với cách thức biểu hiện chúng

1.3 Nghĩa mệnh đề và nghĩa tình thái

1.3.1 Nghĩa mệnh đề

Nghĩa mệnh đề (propositional meaning) là một thành tố của nghĩa phát

ngôn, biểu thị nội dung sự tình ở dạng tiềm năng Nó phản ánh sự tri nhận

và kinh nghiệm của con người về thế giới

Theo nghĩa hẹp, nghĩa mệnh đề “chính là cái nghĩa đen cơ sở của phát

ngôn do các từ riêng biệt và cấu trúc của phát ngôn tạo ra” [21, 269] Cách

hiểu này thể hiện rõ trong quan niệm về nghĩa mệnh đề của R A Jacobs và

M A K Halliday

R A Jacobs cho rằng mặc dù ngữ cảnh mà phát ngôn tồn tại có ảnh hưởng căn bản đến việc hiểu nghĩa của một câu (câu đơn – sentence) nhưng câu vẫn có nội dung mệnh đề độc lập với ngữ cảnh Ví dụ:

(5) Thoese plums look good! (Những trái mận này trông ngon quá!)

có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau mà (5) tồn tại Nó có thể được hiểu là “muốn ăn mận ngay” (nếu đó là câu nói của một đứa trẻ háu ăn) hoặc “sẽ dễ bán và bán được giá cao” (nếu

đó là lời của một người đi mua hoa quả về để bán),… Nhưng nghĩa mệnh

đề của (5) vẫn luôn là “những trái mận này trông có vẻ ngon” (Dẫn theo [77])

Về hình thức tồn tại (cách thức biểu đạt), Jacobs và Halliday đều cho rằng nghĩa mệnh đề được biểu đạt một cách rõ ràng, tường minh trên bề mặt câu chữ (từ và cấu trúc của phát ngôn) Jacobs coi “cái khái niệm mà động từ biểu đạt chính là trọng tâm của nghĩa mệnh đề của câu” và “mối liên hệ giữa ngữ trị của động từ và các ý nghĩa (sense) của động từ ấy là một quan hệ chặt chẽ” (Dẫn theo [77]) Còn Halliday gọi các đơn vị ngôn

ngữ làm nhiệm vụ chuyên chở thông tin là cú (clause), có kích thước tương

ứng với một câu đơn; nghĩa mệnh đề là đơn vị nghĩa cơ sở của một cú Như vậy, “đơn vị ngữ pháp tương đối trùng khớp nhất với nghĩa mệnh đề có lẽ

Trang 22

là câu đơn hoặc cú, với cấu trúc gồm một động từ, kết hợp với các danh ngữ bắt buộc và các danh ngữ tùy ý Nghĩa cốt lõi của cú xuất phát từ nội

dung nghĩa mệnh đề mà cú vị ấy diễn đạt.” (Dẫn theo [77])

Theo nghĩa rộng, các tác giả cuốn Từ điển Ngôn ngữ học ứng dụng

(Longman Dictionary of Applied Linguistics) coi “nghĩa mệnh đề là thuật ngữ chỉ toàn bộ nghĩa tường minh và ngầm ẩn của câu […] Một câu có thể

có một hoặc nhiều nghĩa mệnh đề.” (Dẫn theo [77]) Ví dụ:

(6) Cường, người yêu của Nhung, là một sinh viên khoa chế tạo máy

nhưng lại thích làm thơ

sẽ có ít nhất 4 nghĩa mệnh đề như sau:

- Nhung đã có người yêu

- Người yêu của Nhung tên là Cường

- Cường là sinh viên khoa chế tạo máy

- Cường thích làm thơ

Trong trường hợp trên, cả 4 nghĩa mệnh đề đều là nghĩa tường minh Bên cạnh đó có những trường hợp nghĩa mệnh đề là nghĩa hàm ẩn, chỉ bộc

lộ trong ngữ cảnh nhất định Ví dụ:

(7) Cô ấy đang đọc tài liệu

Trong ngữ cảnh trả lời câu hỏi Bác làm ơn cho cháu hỏi cô X có nhà

không ạ? Phát ngôn (7) có nghĩa mệnh đề là Cô X có ở nhà Trong ngữ

cảnh trả lời câu hỏi Học viên do thầy hướng dẫn đã viết xong luận án

chưa? sẽ có nghĩa mệnh đề là Cô ấy chưa viết luận án Còn trong ngữ cảnh

trả lời câu hỏi Cậu vào gọi X ra đây cho tớ gặp một chút được không? thì

sẽ có thể có các nghĩa mệnh đề: Tớ ngại lắm (nên tớ không vào gọi X đâu) /

Cậu không thể gặp X vào lúc này được đâu

Về hình thức biểu đạt, khác với Jacobs và Halliday, các nhà nghiên cứu theo cách hiểu rộng về nghĩa mệnh đề cho rằng cả câu đơn lẫn câu ghép đều là đơn vị chuyển tải thông tin nghĩa mệnh đề (Dẫn theo [77])

Trong công trình này, chúng tôi hiểu nghĩa mệnh đề là loại nghĩa biểu thị sự tình, do các từ riêng biệt và cấu trúc cú pháp tạo ra hoặc được suy ra

từ ngữ cảnh Trong trường hợp nghĩa mệnh đề do các từ riêng biệt và cấu trúc cú pháp tạo ra (nghĩa tường minh), nó là nghĩa của câu, nhưng vì câu

là bất biến thể của phát ngôn nên nghĩa nó cũng bao hàm trong nghĩa của phát ngôn Loại nghĩa mệnh đề đặc trưng của phát ngôn là nghĩa được xác

Trang 23

17

định bởi ngữ cảnh Điều này cũng phù hợp với nhận xét của J Lyons:

“Nghĩa của câu (ở một mức độ cao) mang tính độc lập với văn cảnh (context-independent), trong khi nghĩa của phát ngôn thì không như vậy, có nghĩa là nghĩa của phát ngôn (ở một mức độ cao hay thấp nào đó) được xác định bởi chính ngữ cảnh mà phát ngôn đó được nói ra.” [40, 55], mặc dù chúng tôi không gạt bỏ nghĩa của câu khỏi nghĩa của phát ngôn như quan

niệm của ông

1.3.2 Nghĩa tình thái

Trong ngôn ngữ học tồn tại nhiều cách định nghĩa khác nhau về nghĩa tình thái (tình thái, modal meaning) J Lyons và Palmer nhấn mạnh tính chất chủ quan của loại nghĩa này: “Tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả” (John Lyons); “Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu, thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với vấn đề được nói đến trong câu” (Palmer) Liapol tỏ ra cân bằng hơn trong việc xem xét tính chất chủ quan và tính chất khách quan khi định nghĩa: “Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông báo.” (Dẫn theo [31, 92])

Cũng từ quan điểm này mà nhiều nhà nghiên cứu phân biệt hai loại nghĩa tình thái: tình thái chủ quan và tình thái khách quan

Tình thái chủ quan bao gồm:

- Các trường hợp thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói với nội dung thông báo (về độ tin cậy, tính hợp pháp của hành động, tính tích cực hay tiêu cực; về khả năng, tính hiện thực của điều được thông báo…)

- Các trường hợp thể hiện mục đích phát ngôn của người nói (hay thể hiện kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện), thể hiện sự tác động qua lại giữa người nói và người đối thoại

Tình thái khách quan bao gồm:

- Các trường hợp khẳng định hoặc phủ định đối với sự tồn tại của sự tình

Trang 24

- Các trường hợp thể hiện diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung ngữ nghĩa - ngữ pháp của vị từ cũng như mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ

Tuy nhiên, có thể thấy rằng ngay cả trong trường hợp nghĩa tình thái thể hiện kết quả đối chiếu sự tình được nêu trong phát ngôn với thực tế thì đó cũng là một sự đối chiếu qua lăng kính chủ quan của người nói Chính vì vậy mà Gak đã bổ sung vào định nghĩa quen thuộc “Tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung của phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế.” một nhận xét tinh tế: “Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói.” (Dẫn theo [31, 85]) Tính chủ quan chính là điểm phân biệt tình thái ngôn ngữ với tình thái logic

Phần lớn nghĩa tình thái được mã hóa trong những hình thức ngôn ngữ nhất định, phần nào độc lập với hoàn cảnh sử dụng Bộ phận nghĩa tình thái này gọi là tình thái của lời, thuộc về nghĩa tường minh của phát ngôn Bộ phận còn lại (không được mã hóa bởi các phương tiện ngôn ngữ) chỉ bộc lộ đầy đủ khi xét đến tình huống sử dụng, gọi là tình thái của hành động phát ngôn (tình thái của mục đích phát ngôn), thuộc về nghĩa hàm ẩn của phát ngôn Ví dụ: (8) (Thấy con đi học về muộn, mẹ bảo:)

- Con xem hộ mẹ mấy giờ rồi!

Lời nói của mẹ trong hoàn cảnh này được hiểu là một lời trách móc

(Con đi học về muộn quá đấy!) với một thái độ không hài lòng Đó chính là

nghĩa tình thái hàm ẩn của phát ngôn Nghĩa này được hình thành từ tình huống giao tiếp chứ không phải từ các phương tiện chuyên dụng

Tuy nhiên, theo chúng tôi, ranh giới của hai loại nghĩa tình thái này không phải bao giờ cũng rõ ràng Bởi lẽ, thực tế giao tiếp cho thấy, trong nhiều trường hợp, dựa vào hoàn cảnh giao tiếp, người phát ngôn có thể tạo tính mơ hồ về tình thái để biểu thị hàm ý về tình thái

1.4 Nghĩa chủ đề

Khác với nghĩa mệnh đề và nghĩa tình thái về mặt bản chất và chức

năng, nghĩa chủ đề (thematic meaning) “được xem là loại nghĩa có liên

quan đến việc tổ chức thông điệp của câu nói, xét đến trình tự các thành tố

của thông điệp, tiêu điểm và nhấn mạnh” (G.Leech – Dẫn theo [31, 187])

Trang 25

19

J Lyons cho rằng: Trong thực tế, có những phát ngôn đồng nhất về nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái nhưng khác nhau về nghĩa chủ đề (tức là

xuất phát điểm để tổ chức câu nói) Chẳng hạn, so sánh: Cô ấy chưa bao

giờ đặt chân đến Sài Gòn / Sài Gòn, cô ấy chưa bao giờ đặt chân đến

Nghĩa chủ đề được xác định bởi cách mà người nói chọn để trình bày điều đang đề cập đến (tức cái chủ đề của phát ngôn) trong mối quan hệ với

những tiền giả định cụ thể, gắn với ngữ cảnh [40, 170 - 171]

Trong một công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Văn Hiệp (2008)

đã đặt nghĩa chủ đề trong toàn cảnh các loại nghĩa của câu nói (phát ngôn)

để xem xét và đã rút ra những kết luận đáng chú ý sau:

- Nghĩa chủ đề không thuộc phạm vi nghĩa miêu tả (nghĩa mệnh đề) và nghĩa tình thái

- Về bản chất, nghĩa chủ đề thuộc về nghĩa câu hay nghĩa của phát ngôn còn phụ thuộc vào khung lý thuyết về câu mà người nghiên cứu sử dụng Tuy nhiên, “có nhiều cơ sở chứng tỏ rằng bên cạnh phần nghĩa được coi là nghĩa câu (chủ yếu là phần nghĩa được xác định thông qua điều kiện chân trị của câu) thì nghĩa chủ đề chủ yếu là vấn đề của phát ngôn, tức là loại nghĩa

thuộc phạm vi dụng học; đó là tính xác định của chủ đề, sự đồng cảm của

người nói, hàm ý phân cực đảo và vai trò của người nói (bao gồm kiến thức của anh ta về thế giới) trong việc quy gán hình/nền cho các thành tố của sự tình.” [31, 195 - 196]

Đưa nghĩa chủ đề vào danh sách nghĩa trong cơ cấu nghĩa của phát ngôn, chúng tôi không có tham vọng bàn bạc sâu về nghĩa chủ đề – loại nghĩa “còn có rất nhiều khía cạnh” đến nay vẫn “chưa thực sự được làm rõ trong văn liệu tiếng Việt” [31, 187] mà trên cơ sở những đặc trưng của loại nghĩa này, chúng tôi có thể đặt vấn đề cho những nghiên cứu ở các chương sau, chẳng hạn như: Nghĩa chủ đề có mối quan hệ với hàm ý không? Việc xác lập nghĩa chủ đề có liên quan như thế nào đến việc biểu thị hàm ý trong tiếng Việt – ngôn ngữ được một số nhà nghiên cứu cho là loại ngôn ngữ thiên chủ đề (topic-prominent)?

1.5 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn

1.5.1 Nghĩa tường minh

Nghĩa tường minh (nghĩa câu chữ, nghĩa hiển hiện, hiển nghĩa, hiển ngôn, explicit meaning) được các nhà ngôn ngữ học giải thích là “ý nghĩa

Trang 26

trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại” [9, 359] , “nghĩa được nói rõ trong mỗi câu” [12, 191], “nghĩa có thể rút ra từ nghĩa nguyên văn (nghĩa đen và cả nghĩa bóng) của các từ ngữ có mặt trong câu và từ những mối quan hệ cú pháp giữa các từ ấy” [21, 115], “cái nghĩa biểu hiện rõ qua nguyên văn câu nói” [27, 112],…

Trong đề tài này, khái niệm nghĩa tường minh mà chúng tôi sử dụng tương ứng với các khái niệm nghĩa câu chữ, nghĩa hiển hiện, hiển ngôn,…

của hầu hết các tác giả khác Tuy nhiên, so với hệ thống quan niệm của tác

giả Cao Xuân Hạo thì nó tương ứng với hiển nghĩa, chứ không tương ứng với hiển ngôn, bởi vì chúng tôi không coi tiền giả định (điều kiện tiên quyết để câu nói có thể đúng hoặc sai) là một bộ phận của hiển ngôn như

quan niệm của tác giả (xem: [ 27, 112])

đã có nói, có nghĩa là vừa có được hiệu lực của nói năng, vừa có được sự

vô can của im lặng.” (Dẫn theo [58, 100]) Còn theo Hoàng Phê, “khi một

lời nói có hàm ngôn thì ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn là ý chính” [58, 93] Herbert Paul Grice – người đầu tiên nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn, cho

rằng nghĩa hàm ẩn gồm hai thành phần là nghĩa hàm ẩn tự nhiên và nghĩa

hàm ẩn không tự nhiên (Dẫn theo [9, 361]) Sau H.P Grice, O Ducrot

phân biệt hai loại hàm ẩn là tiền giả định (tiền đề, presupposition, viết tắt: TGĐ) và hàm ngôn Ông cũng phân biệt loại hàm ngôn là kết quả được rút

ra từ sự suy luận của người nghe dựa vào nội dung khách quan của lời (ví

dụ, nói Trời đẹp là để thông báo “muốn đi chơi”) với loại hàm ngôn là kết

quả suy luận của người nghe từ hành vi nói năng (ví dụ, đang tiếp khách

mà hỏi Mấy giờ rồi? là muốn đề nghị khách ra về) (Dẫn theo [58, 100])

Khác với O Ducrot, C.J Fillmore đồng nhất TGĐ với hàm ngôn Ông viết: “Trong ngữ nghĩa của câu, của lời nói có hai cấp bậc thông báo: cấp

Trang 27

21

bậc hàm ngôn hay là TGĐ và cấp bậc hiển ngôn.” (Dẫn theo [58, 98]) Tuy vậy, hầu hết các tài liệu nghiên cứu ngữ dụng sau này đều đề cập đến TGĐ

và hàm ngôn như là hai khái niệm riêng biệt

Givón quan niệm: “TGĐ là các giả định về những điều mà theo người nói thì người nghe có thể chấp nhận không tranh cãi.” (Dẫn theo [23, 54]) Còn Stalnaker cho rằng: “TGĐ là cái mà người nói xem là cơ sở chung của những người cùng tham gia hội thoại.” (Dẫn theo [23, 312]) Dưới góc độ logic - ngôn ngữ học, Nguyễn Đức Dân giải thích: “Câu A có TGĐ là B nếu giá trị đúng của B là điều kiện cần cho A có giá trị đúng hoặc sai” và

“A có một TGĐ ngữ dụng là B nếu: a) khi phát ngôn A thì người nói đã giả định rằng B và tin rằng người nghe cũng nghĩ là B; b) B đã được chấp nhận.” [12, 195 – 197] Ví dụ:

(9) Ngân chuẩn bị nghiệm thu đề tài cấp Bộ đấy

Phát ngôn này sẽ không được đánh giá là đúng hay sai nếu thiếu một trong các TGĐ sau:

- Có một người tên là Ngân

- Ngân là chủ nhiệm đề tài cấp Bộ

Hoàng Phê – người đầu tiên giới thiệu lý thuyết của Grice vào Việt Nam – cho rằng: “Nếu coi TGĐ là hàm ngôn thì sẽ không thấy được mối quan

hệ có tính quy luật hết sức quan trọng giữa TGĐ, hiển ngôn và hàm ngôn, mối quan hệ chi phối nội dung của hàm ngôn.” [58, 99] Theo ông, hàm ngôn có hai lớp nghĩa hàm ẩn khác nhau về mức độ phụ thuộc vào hoàn

cảnh và độ tin cậy của suy ý Đó là hàm ý và ngụ ý

Có quan điểm gần với Hoàng Phê, Cao Xuân Hạo (1999) coi TGĐ là một lớp nghĩa hiển ngôn; còn hàm ngôn, theo ông, bao gồm hàm nghĩa và

ẩn ý

Phần lớn các nhà Việt ngữ khác như Đỗ Hữu Châu (2003), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000) đều xếp TGĐ vào lớp nghĩa hàm ngôn và phân loại các nghĩa hàm ngôn khác theo dấu hiệu phụ thuộc/không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp

Riêng Hồ Lê (1996) thì phân biệt hai lớp nghĩa hàm ẩn là hàm nghĩa và

hàm ý dựa theo quan hệ về nội dung đối với hiển ngôn: hàm ý (bao gồm: ngụ

ý, ẩn ý, dụng ý) là ý nghĩa hàm ẩn có nội dung khác với hiển ngôn; còn hàm nghĩa là ý nghĩa hàm ẩn bổ sung một phương diện nào đó cho hiển ngôn

Trang 28

Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn đề cập đến thành phần thứ ba của nghĩa hàm ẩn là dẫn ý (entailment) Dẫn ý vốn là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực logic học, biểu thị mối quan hệ kéo theo giữa các mệnh đề (p và q chẳng hạn) nếu trị đúng của q tất yếu nảy sinh từ trị đúng của p và trị sai của q tất yếu nảy sinh từ trị sai của p (tức p kéo theo q).Ví dụ:

(10) - A nhận B vào làm việc tại Công ty X (p)

- B là nhân viên của Công ty X (q)

Ta nói: p q (p dẫn ý q) bởi nếu p (A nhận B vào làm việc tại Công ty X) đúng sự thật thì q (B là nhân viên của Công ty X) tất yếu đúng sự thật

Do “đặc tính kỹ thuật” của dẫn ý mà thuật ngữ này (entailment) được một

số tác giả dịch là “kéo theo” để biểu thị “những điều rút ra theo logic từ những cái được khẳng định trong phát ngôn” [21, 126]

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, trong công trình này, chúng tôi quan niệm nghĩa hàm ẩn là những thông tin không được thể hiện trong ý nghĩa nguyên văn của từ ngữ và các mối quan hệ cú pháp của câu nhưng có thể nhận biết nhờ suy ý từ hiển ngôn, hoàn cảnh phát ngôn và quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại,… Nghĩa hàm ẩn gồm dẫn ý, TGĐ và hàm ý

1.6 Hàm ý

1.6.1 Thuật ngữ hàm ý

Trong lý thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice (1975; 1978), thuật ngữ

implicate (hàm ý) là một động từ chỉ hành động biểu đạt ngầm một điều gì

đó khác với điều được nói ra bằng hiển ngôn trong một hoàn cảnh giao tiếp

nhất định (gọi là điều được hàm ý) Còn thuật ngữ implicature (hàm ngôn)

là một danh từ, biểu thị điều được hàm ý trong phát ngôn Hàm ngôn là

“kết quả”, là “sản phẩm” của hoạt động hàm ý

Về ý nghĩa của các thuật ngữ này, Kent Bach (2006) trong bài báo Mười

cách hiểu sai về hàm ngôn đã viết: “Dù sao, Grice đã rất thận trọng sử dụng

động từ to implicate (hàm ý) chứ không phải là imply (nói bóng gió) để chỉ điều mà người nói đã làm, và ông đã đặt ra thuật ngữ implicature (hàm

ngôn) để sử dụng thay cho việc ngụ ý cái mà người nói hàm ý Sự khác nhau ở đây mang tính chất cơ bản Nếu một câu đúng thì cái mà nó ngụ ý phải đúng, nhưng người nói có thể nói ra một câu đúng và hàm ý một cái gì

đó sai Chẳng hạn, bạn có thể nói rằng có một trạm xăng ở gần góc đường

Trang 29

23

và hàm ý sai là nó đang mở cửa và bán xăng (có thể nó đã đóng cửa vì ban đêm hoặc có thể hết xăng) Nếu có trạm xăng ở gần góc đường, điều đó không có nghĩa là trạm xăng đó đang mở cửa và có bán xăng Nhưng chắc chắn rằng trạm xăng đó không ở bên kia đường.”

Sự khác biệt giữa hai thuật ngữ implicate (hàm ý) và implicature (hàm ngôn) được Kent Bach thể hiện qua sự phân biệt giữa infer (suy ra) với

implicate (hàm ý) và giữa inference (suy luận) với implicature (hàm ngôn)

Theo ông, “người nghe có thể cho rằng người nói đang hàm ý điều gì đó trong khi thực ra anh ta không định thế […] Cũng rõ ràng như vậy, người nói có thể hàm ý điều gì đó ngay cả khi người nghe không có ý định suy luận Tất nhiên, đây không phải là trường hợp truyền đạt hàm ngôn thành công, nhưng điều đó không có nghĩa là người nói không hàm ý điều gì, chỉ là người nói có thể bóng gió điều gì đó mà người nghe không nhận biết được Cần chú ý, suy luận ở đây không phải là nói tới sự thật của hàm ngôn mà là nội dung của nó Vấn đề là nhận biết điều đang được hàm ý, chứ hoàn toàn không phải là chấp nhận nó.” [99]

Khi nghiên cứu về thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice cũng như vận dụng nó vào việc tìm hiểu một vấn đề ngôn ngữ cụ thể, hầu hết các nhà

nghiên cứu nước ngoài đều sử dụng thống nhất các thuật ngữ implicate (hàm ý) và implicature (hàm ngôn) như cách dùng của Grice Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cũng dùng động từ imply (nói bóng gió) để biểu thị hàm ý và danh từ implication (sự ngụ ý) để biểu thị sản phẩm của hàm ý

(tức hàm ngôn, cái được hàm ý) Chẳng hạn, ý kiến của Jenny Thomas (1995), nguyên văn tiếng Anh như sau: “I want to interpolate a discussion

of the diference between implicature and inference, implying and inferring [ ] People frequently say inferring when they really mean implying To

imply is to hint, suggest, or convey some meaning indirectly by mean of

language.” [144, 58] (Tôi muốn bổ sung một tranh luận về sự khác nhau

giữa hàm ngôn và suy luận, giữa hàm ý với suy ra [ ] Người ta thường nói

suy ra khi thực ra muốn nói tới hàm ý Hàm ý là nói bóng gió, gợi ý hoặc

truyền đạt ý một cách gián tiếp bằng phương tiện ngôn ngữ.” Hai động từ

cùng gốc imply và implicate còn được sử dụng rất linh hoạt trong công trình

nghiên cứu của nhóm tác giả Adrian Akmajian, Richard A Demers, Ann K Farmer và Robert M Harnish (1997)

Trang 30

Khác với nước ngoài, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ

hàm ý để chỉ cả implicate lẫn implicature Có thể thấy rõ điều này qua so

sánh ba câu trong cùng một công trình của Hoàng Phê (1989): “H.P.Grice

nêu khái niệm conversational implicature (tạm dịch là hàm ý hội thoại) để

chỉ các hiện tượng thường thấy sau đây trong sử dụng ngôn ngữ thường ngày

để giao tiếp: khi nói điều này, thật ra, chúng ta muốn nói điều khác.” [58,

100]; “Thường có hàm ý (implicature) khi người nói có ý thức và nhằm

một mục đích nhất định, không tuân theo đầy đủ các phương châm nói

trên…” [58, 101]; “[…] Khi đó, người nói P nhưng hàm ý (implicate) Q,

nếu Q là cần thiết để cho những phương châm bị vi phạm trở thành không còn bị vi phạm nữa.” [58, 102]

Mặt khác, thuật ngữ implicaturre (hàm ngôn) cũng được các tác giả

Việt Nam dịch theo rất nhiều cách khác nhau Ví dụ:

- Dịch là hàm ngôn (một loại nghĩa hàm ẩn trong đối lập với TGĐ) [9,

363]; [10, 669]

- Dịch là hàm nghĩa và ẩn ý [26, 470]; [27, 109]; [44, 335 - 341]

- Dịch là hàm ý với những cách hiểu khác nhau [12]; [26]; [44]; [58]

Để khỏi thay đổi một thuật ngữ đã quen dùng ở Việt Nam suốt hơn 20

năm nay, trong công trình này, chúng tôi tiếp tục sử dụng hàm ý với hai

nghĩa: a) để chỉ cái mà Grice gọi là implicature; và b) để chỉ hành động tạo

ra implicature, tương đương implicate trong tiếng Anh

1.6.2 Quan niệm về hàm ý

Từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, H.P Grice đã phát hiện ra một lớp nghĩa khác của phát ngôn ẩn bên dưới lớp nghĩa được diễn tả trực tiếp bằng từ ngữ và cấu trúc câu Đó là “cái mà một người nói hoặc người viết muốn diễn đạt bằng một dấu hiệu trong một trường hợp nhất định […] có thể xa rời với nghĩa gốc của dấu hiệu đó” [122, 381]

Tới cuốn Logic và hội thoại (1975), sự khác biệt giữa cái được diễn tả

bằng lời với cái được hàm ý trong phát ngôn ấy được Grice diễn giải rõ ràng hơn như sau: “Trong một số trường hợp, ý nghĩa quy ước của từ được sử dụng

sẽ quyết định cái được hàm ý, ngoài việc giúp xác định cái được diễn tả bằng lời Nếu tôi nói (một cách thiển cận), anh ta là người Anh, do đó, anh ta dũng cảm, là tôi đã tự trói buộc mình theo ý nghĩa của từ ngữ mà tôi dùng, cho rằng tính chất dũng cảm của anh ta là một kết quả tất yếu (xuất phát từ) của việc

Trang 31

25

anh ta là người Anh Nhưng trong khi tôi nói anh ta là người Anh và nói anh

ta dũng cảm, tôi không muốn nói rằng tôi đã nói (theo nghĩa thích hợp nhất) vì

anh ta là người Anh cho nên anh ta dũng cảm, mặc dù tôi đã ngụ ý chắc chắn

và hàm ý điều đó.” [Grice 1975: 44-45 Dẫn theo 95] Grice cho rằng tổng số cái được nói đến trong câu và cái được hàm ý trong cùng một câu nói đó tạo thành “các ý nghĩa biểu hiện của một phát ngôn” [Grice 1978:41 – Dẫn theo 96]

Lý thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice ngay từ đầu đã được chú ý và trở nên có ảnh hưởng sâu rộng từ sau khi ông đưa vào tập bài giảng ở Đại học Harvard (1967) Nhiều nhà nghiên cứu đã chia sẻ, áp dụng và phát triển quan điểm của ông

Trong một công trình nghiên cứu gần đây, W.A Davis (2005) đã xác định rất rõ ràng vị trí của hàm ngôn trong ngữ dụng học: “Hàm ngôn là điều được ám chỉ, ngụ ý hay gợi ý khác biệt với điều được nói Hàm ngôn

có thể là một phần nghĩa của câu hay phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp, và

có thể theo quy ước hay trái với quy ước Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học” Trong một công trình trước đó (1998: 2.1, 3.6), ông đã minh họa cho hiện tượng hàm ý trong hội

thoại bằng ví dụ này: “Giả sử có ai đó hỏi Người Etiopia có đạt được huy

chương vàng nào không?, câu trả lời Họ đạt một số huy chương bạc không

hàm ý Họ không đạt được tất cả các huy chương bạc nhưng lại hàm ý Họ

không đạt huy chương vàng nào cả” Thậm chí, để làm rõ đặc điểm và sự

khác nhau giữa hai thuật ngữ hàm ý, hàm ngôn của Grice, W.A Davis còn

diễn giải:

“Xét hội thoại:

Alan: Cậu có đi dự tiệc của Paul không?

Barb: Tôi phải đi làm

Barb không nói rằng cô ấy sẽ không đi mà chỉ ngụ ý điều đó Grice đã

đưa ra thuật ngữ chuyên môn hàm ý và hàm ngôn cho trường hợp trong đó

cái mà người nói ám chỉ, ngụ ý, hay gợi ý là khác biệt với điều được nói

Barb hàm ý rằng cô sẽ không đi; điều cô không đi là hàm ngôn của cô.”

[116]

Lý thuyết của Grice còn được một số nhà nghiên cứu tóm lược thành công thức logic Ví dụ, các tóm lược của Gergely Bottyán và Levinson:

Trang 32

“Khái niệm của Grice (1975 =1989a: 30-31) về hàm ngôn hội thoại có thể được phát biểu như trong (5)

(5) Một người tham gia P trong cuộc giao tiếp, bằng cách khẳng định theo nghĩa đen nội dung mệnh đề x, lại hàm ý mệnh đề y khi và chỉ khi:

a P được cho là vẫn tôn trọng phương châm

b Mệnh đề y phải xác nhận giả thiết (a)

c P nghĩ rằng đối tác của anh ta sẽ nhận ra (b)” [96]

Hay: “Nội dung của Grice (1975 =1989a: 30-31):

Nói p, nhưng người phát ngôn U lại hàm ý hội thoại q khi:

(i) U được giả định là đang tuân thủ các phương châm

(ii) Giả thiết q cần phải chứng minh giả thiết (i), và

(iii) U nghĩ rằng người tiếp nhận sẽ nhận ra (ii)” [138, 15]

Riêng về hàm ý, các công trình nghiên cứu đã đạt được một số quan niệm thống nhất như sau:

(1) Hàm ý là phần có giá trị thông tin thuộc nghĩa hàm ẩn, đối lập với TGĐ là phần không có giá trị thông tin

O Ducrot coi TGĐ là một hình thức hàm ngôn nằm trực tiếp trong bản thân “nghĩa từ ngữ” của lời (Dẫn theo [58]) Phần lớn các nhà nghiên cứu đều có chung quan niệm: TGĐ là loại nghĩa hàm ẩn nhưng là nghĩa hàm ẩn không có giá trị thông báo [xem: [10]; [26] ; [58] Đặc biệt, đáng chú ý là

ý kiến của Hoàng Phê: “TGĐ là những điều mà người nói coi như người đối thoại đã biết, không hàm chứa chức năng thông báo, không có giá trị thông báo […] Nếu ở đây có hai cấp độ thì đó là cấp độ của cái nói ra trực tiếp (hiển ngôn) và cái nói ra gián tiếp (hàm ngôn) Có thể nghĩ rằng nói ra gián tiếp thì cũng như là không nói ra, nhưng thật ra có một sự khác nhau rất cơ bản Chính cái không nói ra vì cho là bất tất phải nói (TGĐ) cùng với cái nói ra trực tiếp (hiển ngôn) là cơ sở cho cái nói ra gián tiếp (hàm ngôn), người nghe hiểu được hàm ngôn là nhờ dựa vào TGĐ và hiển ngôn […] Nếu coi TGĐ là hàm ngôn thì sẽ không thấy được mối quan hệ có tính quy luật hết sức quan trọng giữa TGĐ, hiển ngôn và hàm ngôn, mối quan hệ chi phối nội dung của hàm ngôn […] Trong hiển ngôn lại có sự đối lập giữa cái đã biết và cái mới theo phân đoạn thực tại câu Sự đối lập này cho phép vạch ra trong cấu trúc ngữ nghĩa của lời một sự đối lập khác rộng hơn giữa phần không có giá trị thông báo gồm TGĐ và cái đã biết trong hiển ngôn

Trang 33

(2) Hàm ý là phần thuộc nghĩa hàm ẩn, tuy không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng được suy ra từ hiển ngôn (nghĩa tường minh) và hoàn cảnh giao tiếp

J Lyons viết: “Một mệnh đề p được cho là hàm ý (chứ không phải là kéo theo) một mệnh đề q nếu chân trị của q có thể được suy đoán một cách

có lý do từ p trong ngữ cảnh mà p được xác nhận hoặc được biết theo một cách nào đó, hoặc được giả định là đúng” [40, 185] Ông giải thích khái

niệm hàm ý bằng một ví dụ cụ thể: “Có một nghĩa thường ngày của từ hàm

ý, theo đó, qua phát ngôn của mình, ta có thể và thường như vậy, ngầm nói

một điều gì đó khác với điều ta nói trên thực tế Ví dụ, khi được hỏi về tư

cách của A, ta có thể nói: Anh ấy chia sẻ lát bánh mỳ cuối cùng với bạn

Trên thực tế, ta không nói về người đó rằng anh ta vừa tốt bụng vừa hào

hiệp Song có thể có cơ sở để cho rằng ta hàm ý điều này.” [40, 282]

Sự thống nhất tương đối cao trong quan niệm về hàm ý giữa các nhà nghiên cứu là một thực tế nhưng sự khác biệt giữa các tác giả trong quan niệm về các loại hàm ý và phạm vi tồn tại của hàm ý cũng là một sự thật không thể phủ nhận

H.P.Grice (1975) phân biệt ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên (natural meaning) với ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (non-natural meaning) Theo ông, ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên là “ý nghĩa được suy ra một cách ngẫu nhiên”, còn ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên là “ý nghĩa được truyền đạt một cách có ý định” (Dẫn theo [10, 665])

Ở Việt Nam, Hoàng Phê (1989) dựa vào mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh và độ tin cậy của sự suy ý để phân loại hàm ý Ông sử dụng thuật ngữ hàm ý để chỉ phần nội dung được suy ý trực tiếp, ít phụ thuộc vào ngữ cảnh

và có độ tin cậy của sự suy ý tương đối cao Hàm ý được ông phân biệt với ngụ ý – phần nội dung hàm ngôn phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh, người

Trang 34

nghe phải suy ý gián tiếp từ hoàn cảnh, từ khả năng nhận thức, khả năng vận dụng kinh nghiệm sống,… nên độ tin cậy thường không cao [58, 39] Dựa vào mức độ quan hệ về nội dung đối với hiển ngôn, Hồ Lê (1996) đối lập hàm ý với hàm nghĩa Theo ông, hàm ý là ý nghĩa hàm ngôn có nội dung khác với hiển ngôn, bao gồm: ngụ ý, ẩn ý và dụng ý; còn hàm nghĩa

là ý nghĩa hàm ngôn bổ sung một phương diện nào đó cho hiển ngôn Cao Xuân Hạo coi hàm ý là điều mà người nghe rút ra từ phát ngôn như một hệ quả tất nhiên, gồm hàm nghĩa và ẩn ý Tác giả viết: “Ngoài hiển ngôn (với TGĐ và hiển nghĩa) trong câu còn có hàm ngôn là những ý nghĩa không được biểu đạt trực tiếp qua nguyên văn mà phải suy ra từ quan hệ giữa các nghĩa trong cấu trúc và từ ngôn cảnh nguyên văn Nếu ý suy ra vẫn còn diễn đạt được bằng ít nhiều chữ nghĩa trong nguyên văn thì đó là hàm nghĩa Nếu ý suy ra chỉ có thể thấy trong ngôn cảnh, thì người nghe rất

có thể không nhận ra, nhưng nếu nhận ra mà phản ứng chống lại thì người nói hoàn toàn có thể chối rằng mình không hề nói như thế Cái ý ẩn kín

đằng sau nguyên văn, không hề được diễn ra bằng lời ấy gọi là ẩn ý” [26,

109 - 110]

Nguyễn Đức Dân (1998a; 1998b) và Đỗ Hữu Châu (2005) gọi hàm ý là hàm ngôn Theo các tác giả, hàm ngôn có thể được xác định từ hai con đường khác nhau: từ sự quy ước của ngôn ngữ và từ mối quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp, nghĩa tường minh và TGĐ Loại hàm ngôn được suy ý từ ngôn ngữ (đặc biệt là từ sự quy ước của cơ chế ngôn ngữ), không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp là hàm ngôn ngôn ngữ; loại hàm ngôn được suy ý

từ hiển ngôn, TGĐ và hoàn cảnh tồn tại của phát ngôn, phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp là hàm ngôn dụng học

Một điểm khác nhau nữa trong quan niệm về hàm ý giữa các tác giả là phạm vi tồn tại của hàm ý

Phần lớn các nhà Việt ngữ học đều coi hàm ý là thông tin mà người nghe (người thụ ngôn) suy ý được từ phát ngôn và hoàn cảnh giao tiếp (xem: [21]; [26]; [27]; [44]; [58]) Như vậy, hàm ý theo quan niệm này là

“cái của anh”, được phân biệt với TGĐ là “cái của chúng ta” [12, 17] Khác với các tác giả trên, Đỗ Hữu Châu [10]; Nguyễn Đức Dân [12, 216 – 219]

và Nguyễn Văn Hiệp [31, 257 - 267] cho rằng hàm ý thuộc về người nói,

Trang 35

1.6.3 Quan niệm về hàm ý trong luận án

1.6.3.1 Phân biệt hàm ý với các loại nghĩa hàm ẩn khác

Mặc dù còn có những điểm khác biệt nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau là nghĩa hàm ẩn gồm có 3 loại: dẫn ý (entailment), TGĐ (presupposition) và hàm ý – bao gồm hàm ý quy ước (conventional implicature) và hàm ý hội thoại (conversational implicature) Một số tác giả cũng đã nêu ra những tiêu chí phân biệt hàm ý với các loại nghĩa hàm ẩn khác Đáng chú ý là 3 tiêu chí mà Nguyễn Văn Hiệp (2008) nêu ra trong một công trình nghiên cứu của mình trên cơ sở tham khảo, có điều chỉnh kết quả nghiên cứu của các tác giả Frawley (1992) và J.Lyons (1995) Ba tiêu chí đó là:

- Tiêu chí về tính hàm chân trị (truth - conditional), tức phụ thuộc vào chân trị của những gì được nói ra hiển ngôn Tiêu chí này giúp phân biệt dẫn ý với tiền giả định và hàm ý

- Tiêu chí về tính có thể khử bỏ (cancellability) Tiêu chí này giúp phân biệt một bên là TGĐ và dẫn ý, một bên là hàm ý (gồm hàm ngôn quy ước

và hàm ngôn hội thoại)

- Tiêu chí về sự phụ thuộc vào ngữ cảnh (context-dependent) Tiêu chí này giúp phân biệt hàm ý hội thoại với các ý nghĩa hàm ẩn còn lại (TGĐ, dẫn ý và hàm ý quy ước), đặc biệt là phân biệt hàm ý hội thoại với hàm ý quy ước [31, 262 – 267]

Những tiêu chí mà chúng tôi nêu ra dưới đây là sự kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu nói trên

1.6.3.1.1 Phân biệt hàm ý với tiền giả định

Trước hết, có thể thấy hàm ý và TGĐ đều là nghĩa hàm ẩn của phát ngôn bởi chúng đều không được nói ra một cách tường minh và đều không phụ thuộc vào chân trị của phát ngôn chứa nó (không mang tính hàm chân trị) Điểm giống nhau này đã được Nguyễn Văn Hiệp (2008) chứng minh

Trang 36

qua phân tích một số ví dụ Chẳng hạn, phát ngôn Con anh Nam học giỏi

nhất lớp có các TGĐ: có một người tên là Nam; anh Nam có con; con anh

Nam là học sinh… Các TGĐ này được giữ nguyên, bất chấp tính đúng hay

sai của phát ngôn (không phụ thuộc vào việc Con anh Nam học giỏi nhất

lớp là đúng hay sai) Hàm ý cũng vậy Dù mệnh đề trong mỗi vế câu ghép

Nó không chuẩn bị bài kỹ và bị điểm kém đúng hay sai thì quan hệ từ và có

tác dụng nối kết hai mệnh đề cũng mang hàm ý quy ước là quan hệ nhân

quả Tương tự như vậy, hàm ý Đề nghị mở cửa hay Đề nghị đi chơi đều không phụ thuộc vào chân trị của phát ngôn Ở đây ngột ngạt quá! Dù thực

tế là Ở đây không hề ngột ngạt, phát ngôn trên vẫn có thể có những hàm ý hội thoại này [31, 262]

Tuy nhiên, giữa hàm ý với TGĐ có những điểm khác nhau rõ ràng: a) TGĐ là một trong những cơ sở để tạo nên ý nghĩa tường minh, còn hàm ý là điều được suy ra từ nghĩa tường minh và TGĐ của nghĩa tường minh Ví dụ:

(11) A: - Uống thuốc X, tôi đã khỏi hẳn bệnh đau đầu

Phát ngôn (11) có ít nhất 2 TGĐ sau:

TGĐ 1: Tôi đã từng bị bệnh đau đầu

TGĐ 2: Tôi đã uống thuốc X

Các TGĐ này được xem là cơ sở để người nói có thể nói Uống thuốc X,

tôi đã khỏi hẳn bệnh đau đầu

Nếu phát ngôn trên tồn tại trong hoàn cảnh người nghe (giả sử là B) cũng mắc bệnh đau đầu giống như A thì căn cứ vào TGĐ, vào nghĩa tường minh và hoàn cảnh tồn tại của phát ngôn, B có thể suy ý để hiểu rằng đằng

sau lời thông báo của A về tình hình sức khỏe là lời khuyên Cậu thử uống

thuốc X xem sao

b) TGĐ được xem là bất tất phải bàn cãi bởi nó có tính bất biến, còn hàm ý thì không mang đặc điểm này

Tính bất biến của TGĐ thể hiện ở khả năng không thay đổi khi hành vi ngôn ngữ thay đổi từ khẳng định sang phủ định, hỏi, cầu khiến,… Ví dụ:

(12) A: - Anh ta đã cai thuốc lá

A1: - Anh ta không cai được thuốc lá

A2: - Anh ta đã cai thuốc lá rồi à?

A3: - Hãy cai thuốc lá đi!

Trang 37

31

TGĐ Trước đây anh ta nghiện thuốc lá không thay đổi khi hành vi ngôn

ngữ tạo ra nó (hành vi khẳng định ở phát ngôn A) thay đổi Ngược lại, các

hàm ý Anh ta có nghị lực, Anh ta khỏe ra hay Anh ta không gặp khó khăn

về tiền nong sẽ bị triệt tiêu khi hành vi khẳng định ở phát ngôn A thay đổi

thành hành vi phủ định ở phát ngôn A1 hoặc thành hành vi hỏi ở phát ngôn A2 và tồn tại trong hoàn cảnh:

A2: - (Lâu nay cậu gặp C không?) Anh ta cai thuốc lá rồi à?

Các hàm ý trên cũng không bao giờ tồn tại trong phát ngôn Hãy cai

thuốc lá đi! khi phát ngôn này tồn tại trong bất cứ hoàn cảnh nào

Tính bất biến của TGĐ là cơ sở để một số tác giả cho rằng TGĐ luôn luôn đúng [10]; [21] Tuy nhiên, trong giao tiếp thông thường, không ít trường hợp người nói tạo ra một phát ngôn mà ý nghĩa tường minh dựa trên TGĐ sai, bịa đặt Đây là một chiến lược hội thoại, chiến lược gài bẫy TGĐ nhằm khai thác thông tin ở phía người đối thoại (xem: [17])

c) TGĐ không thể khử bỏ, trong khi hàm ý có thể dễ dàng bị khử bỏ trong một số điều kiện, hoàn cảnh nhất định

Theo Nguyễn Văn Hiệp (2008), “thông tin hàm ẩn mang tính có thể khử

bỏ là loại thông tin mà người nói/người viết có thể khử bỏ, tức là khiến nó

bị vô hiệu bằng cách nói hoặc viết thêm một hoặc vài điều gì đấy” [31, 262]

Dựa trên cơ sở này để thực nghiệm, chúng tôi thấy, TGĐ là loại thông

tin không thể khử bỏ bởi cách nói dựa trên các kết tử đối nghịch (nhưng,

tuy… nhưng…, mặc dù… nhưng…) Ví dụ, không thể khử bỏ TGĐ Trước đây anh ta nghiện thuốc lá bằng cách nói: Anh ta đã cai thuốc lá nhưng anh ta chưa hề nghiện thuốc lá

Trong khi đó, hàm ý lại có thể dễ dàng bị khử Chẳng hạn, Nguyễn Văn

Hiệp (2008) cho rằng, hàm ý Vì Nam đến muộn nên nhỡ tàu của phát ngôn

Nam đến muộn và nhỡ tàu đã bị khử bằng cách nói: Nam đến muộn và nhỡ tàu Nhưng nó nhỡ tàu không phải là vì do nó đến muộn Tàu còn đến muộn hơn cả nó Nó nhỡ tàu là vì nó mải nói chuyện với một cô gái rất xinh mà

nó gặp ở sân ga [31, 263]

Tương tự, ta cũng có thể khử bỏ hàm ý Đừng xa lánh tôi (Đừng bỏ rơi

tôi) của phát ngôn Lúc này, một lời an ủi rất quan trọng đối với tôi bằng

cách nói: Lúc này, một lời an ủi rất quan trọng đối với tôi Nhưng tôi nói

Trang 38

vậy không phải là để van xin anh đừng bỏ rơi tôi trong lúc này Tôi nghĩ, ai cũng có lòng tự trọng và có lẽ đó là điều quan trọng hơn cả Tôi thà chịu

cô đơn còn hơn van xin để rồi đánh mất lòng tự trọng

d) TGĐ có ảnh hưởng đến giá trị xác tín, còn hàm ý không có ảnh hưởng này Các mệnh đề của phát ngôn sẽ không có giá trị xác tín khi TGĐ sai; mệnh đề sẽ có giá trị xác tín (tức được đánh giá là đúng) khi và chỉ khi TGĐ của nó đúng Trong khi đó, “nếu cái mà người nói nói ra là đúng và cái mà anh ta hàm ý là sai thì chúng ta vẫn có xu hướng đánh giá phát ngôn của anh ta là đúng.” [99]

Trở lại với ví dụ (12), chúng ta có thể thấy mệnh đề của phát ngôn Anh

ta đã cai thuốc lá chỉ đúng khi TGĐ Anh ta đã từng nghiện thuốc lá là

đúng (có thật) Nếu TGĐ này không đúng thì phát ngôn trên sẽ không thể tồn tại Tuy nhiên, với hàm ý thì tình hình có khác Hàm ý của một phát

ngôn có thể đúng hoặc có thể sai Vì vậy, nếu các hàm ý Anh ta khỏe ra hoặc Anh ta không còn gặp khó khăn về tiền nong hoặc Anh ta có nghị

lực,… là sai sự thật thì nghĩa mệnh đề của phát ngôn vẫn không thay đổi

giá trị xác tín

e) Nhiều (chứ không phải tất cả) TGĐ được đánh dấu bởi các đơn vị từ vựng hoặc cấu trúc ngữ pháp cụ thể, còn hàm ý, trái lại, không nhất thiết phải được đánh dấu bởi các dấu hiệu ngôn ngữ

Ví dụ, phát ngôn Anh ta đã cai thuốc lá rồi có TGĐ Trước đây anh ta

nghiện thuốc lá TGĐ này được đánh dấu bằng từ cai nhưng hàm ý Anh ta khỏe ra hoặc Hiện nay anh ta không gặp khó khăn về tiền nong nữa lại

không được thông báo bằng một dấu hiệu ngôn ngữ nào trong phát ngôn f) TGĐ nói chung ít lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, còn hàm ý lệ thuộc sâu sắc vào hoàn cảnh giao tiếp

Dù tồn tại trong hoàn cảnh nào, phát ngôn Uống thuốc X, tôi đã khỏi

hẳn bệnh đau đầu ở ví dụ (11) vẫn có các TGĐ như đã phân tích Nội dung

các TGĐ này không thay đổi theo hoàn cảnh tồn tại của phát ngôn Ngược lại, nếu phát ngôn đó tồn tại trong hoàn cảnh người nghe (B) chính là người

cho A (người nói) thuốc X thì phát ngôn của A (Uống thuốc X, tôi đã khỏi

hẳn bệnh đau đầu) không còn hàm ý khuyên B uống thuốc X mà là lời

khen thuốc X hoặc là lời cảm ơn B

Trang 39

33

g) TGĐ không có giá trị thông tin đặc biệt, không phải là cơ sở để phát triển cuộc thoại (nếu tiếp tục cuộc thoại dựa vào TGĐ thì cuộc thoại sẽ giật lùi, luẩn quẩn); còn hàm ý, do nằm trong ý định truyền báo của người phát ngôn nên mang giá trị thông tin và tính năng động hội thoại cao, là cơ sở để phát triển cuộc thoại

Trở lại ví dụ (12): A: - Anh ta đã cai thuốc lá TGĐ Trước đây anh ta

nghiện thuốc lá là điều mà cả A (người nói) và B (người nghe) đều biết nên

nó không phải là cái mới, cái cần bàn bạc, trao đổi, thảo luận trong những phát ngôn tiếp theo của cuộc thoại Nhưng hàm ý của phát ngôn trên lại có thể là chủ đề tiếp theo của cuộc thoại Vì thế, cuộc thoại có thể diễn biến tiếp tục như sau:

B: - Thế à? Bây giờ anh ta có khỏe hơn chút nào không?

A: - Mới cai thuốc được một tháng mà anh ta tăng tới 3kg

Ở đây, cần có sự phân biệt giữa hai khái niệm giá trị thông tin và lượng tin TGĐ được xác định thông qua từ ngữ được dùng (các từ, các kết cấu) như là nội dung hàm ẩn làm điều kiện cần cho phát ngôn để phát ngôn có thể được đánh giá đúng/sai hay được coi là bình thường Vì vậy, TGĐ có thể có lượng tin rất nhiều nhưng lại có vẻ như không có giá trị thông tin đặc biệt Lượng tin trong TGĐ mặc dù không quan yếu nhưng lại rất cần thiết

để lý giải giá trị thông tin của phát ngôn

Một điểm quan trọng từng được các nhà nghiên cứu lưu ý và cũng không phải là ngoại lệ trong thực tế giao tiếp, đó là trường hợp người nói dùng TGĐ như một chiến lược giao tiếp đặc biệt, đặt trọng tâm vào thông tin TGĐ Trong trường hợp này, TGĐ chính là loại thông tin có giá trị cao hơn cả (xem: [10]; [12]; [17]; [31])

Như vậy, “không có giá trị thông tin đặc biệt” và “không phải là cơ sở

để phát triển cuộc thoại” không phải là thuộc tính cố hữu, bất biến của TGĐ Trong nhiều trường hợp, TGĐ có thể được dùng như một hàm ý, khi

đó, TGĐ có giá trị thông tin rất cao và chắc chắn cuộc thoại sẽ được phát triển trên cơ sở của TGĐ Thực tế này là một trong những chỗ đan xen giữa TGĐ và hàm ý

1.6.3.1.2 Phân biệt hàm ý với dẫn ý

Theo Nguyễn Văn Hiệp (2008), những điểm khác nhau cơ bản giữa hàm

ý và dẫn ý là:

Trang 40

a) Hàm ý không mang tính hàm chân trị còn dẫn ý, ngược lại, mang tính hàm chân trị Điều đó có nghĩa là dẫn ý phụ thuộc vào chân trị của phát

ngôn trước nó Theo đó, dẫn ý Tổng thống chết sẽ có trị đúng khi phát ngôn

Bill giết tổng thống có giá trị đúng và dẫn ý này sẽ có trị sai khi phát ngôn

có trị sai [31, 262]

b) Hàm ý có thể dễ dàng bị khử bỏ trong những điều kiện, hoàn cảnh thích hợp còn dẫn ý, giống như TGĐ, lại là loại thông tin không thể khử bỏ

Chẳng hạn phát ngôn A nhận B vào làm việc tại công ty X có dẫn ý: B là

thành viên của công ty X Dẫn ý này không thể khử bỏ bằng cách nói: A nhận B vào làm việc tại công ty X nhưng B không phải là thành viên của công ty X

c) Nhiều (chứ không phải tất cả) hàm ý phụ thuộc vào ngữ cảnh, còn

dẫn ý không phụ thuộc vào ngữ cảnh Dù các phát ngôn Bill giết tổng thống hay A nhận B vào làm việc tại công ty X tồn tại trong hoàn cảnh nào thì nó vẫn có dẫn ý Tổng thống chết hoặc B là thành viên của công ty X

Theo chúng tôi, mặc dù có những điểm khác biệt trên nhưng trong thực

tế giao tiếp, nhiều trường hợp, ranh giới giữa hai loại nghĩa hàm ẩn này cũng rất mập mờ Điều đó được thể hiện rất rõ khi người tham gia giao tiếp dùng dẫn ý như một hàm ý trong chiến lược giao tiếp của mình Chẳng hạn, xét cuộc hội thoại (13):

A1: - Lâu nay cậu gặp vợ chồng Thái – Kim không?

B1: - Vừa gặp tháng trước Mà Thái bỏ thói nát rượu rồi đấy

A2: - Ừ, anh ta không còn nghiện rượu nữa thì cái Kim cũng đỡ khổ B2: - Thái bỏ thói nát rượu Tớ thông báo cho cậu tin này không phải để cậu biết là bây giờ Thái không nghiện rượu nữa Bỏ rượu là một việc rất khó – đặc biệt với người nghiện rượu lâu năm như Thái Vậy mà cậu ấy vẫn làm được Quả là nghị lực phi thường!

Như vậy, dẫn ý của phát ngôn Thái bỏ thói nát rượu đã được người

nghe (A) cho rằng đó là hàm ý mà B muốn mình hiểu nên người nghe (A)

đã chủ động phát triển cuộc thoại theo hướng này (hướng của hàm ý) Người nói (B) có thể “khử” hàm ý bằng cách nói thêm như ở (B2) nếu không muốn phát triển cuộc thoại theo “chủ hướng” của A (trong A2)

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w