1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố hạ long tỉnh quảng ninh 2001 2013

110 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư góp phần đẩy mạnh việc phối hợp giữa chức năng quản lí của Nhà nước với vai trò làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN MINH

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN i http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, chưa được công bố

Người thực hiện

Phạm Thị Kiều Giang

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ii http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tác giả Luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Xuân Minh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong Khoa Lịch Sử Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã chỉ bảo tận tình, động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này

Trong thời gian thực hiện Luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh, Thành ủy, UBND thành phố Hạ Long, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hạ Long, cùng các phòng, ban, đoàn thể trong thành phố Hạ Long đã cung cấp tư liệu để tác giả hoàn thành Luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá, góp ý quý báu của Hội đồng Khoa học đánh giá Luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015

Tác giả

Phạm Thị Kiều Giang

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iii http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 8

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của Luận văn 9

6 Bố cục của Luận văn 9

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẠ LONG 10

1.1 Địa giới hành chính thành phố Hạ Long qua các thời kì 10

1.2 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 11

1.2.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 11

1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên 13

1.3 Tình hình kinh tế, xã hội 16

1.3.1 Tình hình kinh tế 16

1.3.2 Tình hình xã hội 21

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH (2001 - 2013) 27

2.1 Chủ trương của Trung ương về việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư 27

2.1.1 Khái niệm văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư 27

2.1.2 Chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư 30

2.1.3 Nội dung cơ bản của công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư 35

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.2 Sự vận dụng của địa phương và quá trình thực hiện công cuộc vận

động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long 38

2.2.1 Sự vận dụng của địa phương 38

2.2.2 Quá trình thực hiện công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long 39

Tiểu kết chương 2 51

Chương 3 ĐÁNH GIÁ CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH (2001 - 2013) 52

3.1 Kết quả 52

3.1.1 Tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp, chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được đẩy mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh 52

3.1.2 Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng lành mạnh, phong phú; bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ, phát huy 55

3.1.3 Sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh và thu nhiều kết quả 61

3.1.4 Môi trường cảnh quan từng bước được xây dựng sạch đẹp 65

3.1.5 Dân chủ được phát huy; ý thức chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân được nâng cao; cơ sở chính trị được xây dựng vững mạnh 67

3.1.6 Truyền thống Tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong cộng đồng và đạo lí Uống nước nhớ nguồn được khơi dậy và phát huy 70

3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 73

3.2.1 Hạn chế 73

3.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 75

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN v http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở

khu dân cư thành phố Hạ Long 76

3.3.1 Đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về xây dựng đời sống văn hoá 77

3.3.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lí Nhà nước trong công tác xây dựng đời sống văn hoá 77

3.3.3 Tăng cường sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể 78

3.3.4 Bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá 79

3.3.5 Đẩy mạnh công tác xã hội hoá các hoạt động văn hoá - thông tin 79

3.3.6 Tổ chức tốt các hoạt động nghệ thuật quần chúng 80

3.3.7 Đào tạo đội ngũ cán bộ văn hoá ở cơ sở 81

Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN v http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2013, 2013 - 2014) 62 Bảng 3.6 Số liệu các vụ tai nạn giao thông trên địa bàn Thành phố 69

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ tăng dân số thành phố Hạ Long 65 Biểu đồ 3.2 Số vụ án được thụ lí trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2012 74

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, mục tiêu phát triển

kinh tế Văn hóa phát triển tương xứng là cơ sở cho phát triển kinh tế một cách

toàn diện Văn hóa và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ đa chiều Văn hóa với chức năng xây dựng con người, bồi dưỡng nguồn nhân lực về trí tuệ và tâm hồn, năng lực, sự thành thạo, tài năng, đạo đức, nhân cách, lối sống của cá nhân

và cộng đồng Do đó, văn hóa là động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội Văn

hóa góp phần giữ ổn định xã hội trong giai đoạn phát triển bền vững hiện nay

Điều quan trọng nhất khi nói văn hóa là nền tảng tinh thần bởi văn hóa

có chức năng định hình các giá trị, chuẩn mực trong đời sống xã hội, chi phối các hành vi của mỗi người và toàn xã hội Với tính lịch sử, các giá trị, chuẩn mực đó được truyền bá, lưu giữ, chắt lọc và phát triển trong tiến trình lịch sử của dân tộc, trở thành hệ thống các giá trị đặc trưng cho một dân tộc, bao gồm chính trị, đạo đức, luật pháp, khoa học, văn học, nghệ thuật, các thể chế, thiết chế văn hóa, tập quán, lối sống, tạo nên cái cốt, cái hồn, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc

Quan điểm của Đảng trong thời kì đổi mới đất nước là phải xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Xây dựng nền văn hóa dân tộc trong thời kì mới là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với chức năng phối hợp hành động của các

tổ chức thành viên và phối hợp với các cơ quan Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân, trong Hội nghị lần thứ hai Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam khóa IV đã quyết định mở Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây

dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, ban hành Thông tư số 04-TT/MTTW ngày

3/5/1995 để hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sau 4 năm thực hiện, tháng 1/1999, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Thông tư số 01-TT/MTTW hướng

dẫn tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng Cuộc vận động Toàn dân đoàn

kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, bổ sung và cụ thể hóa những nội

dung, yêu cầu mới vào Cuộc vận động Cuộc vận động cụ thể hóa 6 nội dung toàn diện để hướng dẫn khu dân cư thực hiện Sau khi có Nghị quyết Trung

ương 5 khóa VIII Về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc

dân tộc, trên địa bàn khu dân cư có nhiều cuộc vận động với những tên gọi

khác nhau Để thống nhất trong tổ chức thực hiện, ngày 12/6/2001, Chính phủ

và Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam thống nhất Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở

khu dân cư với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa thành

tên gọi mới là Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư do Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì, nối tiếp Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết

xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư trước đây

Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư góp phần đẩy mạnh việc phối hợp giữa chức năng quản lí của Nhà nước với vai trò làm chủ

của nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc

phòng từ khu dân cư, xây dựng cơ sở vững mạnh về mọi mặt làm nền tảng vững chắc cho công cuộc đổi mới đất nước Cuộc vận động phát huy ý chí tự lực, tự cường, khơi dậy mọi tiềm năng và sức mạnh của mỗi người, một gia đình, một tập thể và của cả cộng đồng tạo thành sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Động lực của Cuộc vận động là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở lấy lợi ích chung của cộng đồng dân cư làm điểm tương đồng, lấy sự tiến bộ và quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống ở khu dân cư làm mục đích, chìa khóa để giải quyết một vấn đề dân sinh, dân chủ, dân trí ở khu dân cư là đoàn kết

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Với những ý nghĩa quan trọng đó, ngay khi mới triển khai, cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng, tham gia hiệu quả của mọi tầng lớp nhân dân

trong xã hội theo đúng phương châm Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra

Tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh, nhận thức sâu sắc các nội dung

của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, đến năm 2001 là cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa

ở khu dân cư, được sự chỉ đạo của UB MTTQ tỉnh Quảng Ninh, UB MTTQ

thành phố Hạ Long đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện cuộc vận động trên toàn tỉnh Qua cuộc vận động, nhiều chương trình kinh

tế - xã hội của tỉnh có liên quan trực tiếp đến đời sống của các tầng lớp nhân dân được hướng dẫn và triển khai đến cơ sở, khu dân cư và lồng ghép vào các nội dung của cuộc vận động làm tăng tính thiết thực, góp phần tập hợp, đoàn kết nhân dân, phát huy tinh thần tự quản của nhân dân như lời Bác Hồ đã dạy:

“Lấy sức dân để xây dựng cuộc sống cho dân”

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, cuộc vận động vẫn còn một số hạn chế: công tác chỉ đạo thực hiện ở một số nơi còn hạn chế, nhận thức về cuộc vận động trong 1 bộ phận dân cư còn chưa sâu sắc… làm ảnh hưởng chung đến kết quả cuộc vận động của Thành phố

Nghiên cứu cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư là một việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có giá trị thực tiễn đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Đồng thời, với tư cách là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường phổ thông, tôi nhận thức được rằng, việc tìm hiểu công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư ở Thành phố sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy

về văn hóa địa phương

Xuất phát từ nhận thức trên, tôi quyết định chọn vấn đề Công cuộc vận

động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh (2001 - 2013) làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nhân văn

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

văn hóa được xác định Đề cương văn hóa Việt Nam của Đảng được khởi thảo

cuối năm 1943 là một luồng gió mới thổi vào xã hội Việt Nam nói chung và

nền văn hóa Việt Nam nói riêng Đề cương đã trình bày những nội hàm chủ yếu

của văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật (khoa học) nghệ thuật (văn học, nghệ thuật) Đề cương xác định văn hóa là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hóa) mà ở đó, người Cộng sản phải hoạt động, phải lãnh đạo cách mạng chính trị và cách mạng văn hóa Đề cương đã nêu bật những quan điểm

tư tưởng chỉ đạo cách mạng văn hóa ở Việt Nam, đó là phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội; Đề cương cũng làm rõ mục tiêu trước mắt của cuộc vận động văn hóa ở Việt Nam là xây dựng nền văn hóa mới tuy chưa phải là văn hóa xã hội chủ nghĩa Đề cương đã xác định nền văn hóa dân chủ mới của Việt Nam phải được xây dựng theo ba tính chất cơ bản: Dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa

Năm 1945, ngay sau khi giành được độc lập dân tộc, bên cạnh những nhiệm vụ xây dựng kinh tế, xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền cách mạng đã rất quan tâm đến vấn đề xây dựng đời sống văn hóa mới Ủy ban Vận động đời sống mới Trung ương được thành lập năm 1946 Sau đó một năm,

ngày 20/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới Tác phẩm

này được Ủy ban Vận động đời sống mới Trung ương cho xuất bản, coi đây là tài liệu tuyên truyền học tập của các cấp chỉ đạo và của toàn dân Khái niệm

Đời sống mới được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả “đạo đức mới, lối sống

mới và nếp sống mới” Ba nội dung ấy, có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu Đạo đức gắn liền với lối sống và nếp sống Chính

vì vậy, việc xây dựng đạo đức mới phải được tiến hành đồng thời với việc xây

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

dựng lối sống mới và nếp sống mới Có dựa trên cái nền đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống mới, nếp sống mới lành mạnh, vui tươi, hướng con người tới tầm cao của văn hóa, của một đất nước độc lập và xã hội chủ nghĩa

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, từ ngày 16 đến ngày 20/7/1948,

Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập, thông qua bản báo cáo Chủ

nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh trình bày

Bản báo cáo nêu rõ lập trường văn hóa Mácxít, tính chất và nhiệm vụ văn hóa dân tộc dân chủ; phê phán những khuynh hướng và quan điểm văn hóa thực dân, phong kiến, tư sản; xác định thái độ đúng đắn của những người làm công tác văn hóa kháng chiến Mọi hoạt động văn hóa trong kháng chiến đều hướng theo

phương châm “văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa”

Trong những năm gần đây, vấn đề xây dựng đời sống văn hóa đã được các học giả trong và ngơài nước quan tâm Năm 2001, Trung tâm Khoa hoc Xã hội và Nhân văn cùng Đại học Quốc gia Hà Nội công bố một số bản báo cáo

khoa học tại Hội thảo Quốc tế lớn với chủ đề: Việt Nam trong thế kỉ XX được tổ

chức tại thủ đô Hà Nội (19 - 21/9/2000) Đáng chú ý là các báo cáo sau đây:

- Văn hóa và phát triển: Khuôn khổ UNESCO với bối cảnh những

thành tựu của Việt Nam trong quá khứ và tiềm năng tương lai của Rosamria

Durand - Đại diện UNESCO tại Việt Nam Trong báo cáo, tác giả trình bày

rõ 3 vấn đề: 1- Khuôn khổ của UNESCO đối với Văn hóa và Phát triển; 2- Những thành tựu của Việt Nam trong quá khứ ở lĩnh vực này; 3- Tiềm năng

to lớn của Việt Nam trong tương lai

- Củng cố các nền văn hóa truyền thống của Việt Nam trong bối cảnh

toàn cầu hóa của TS Frank Proschan, Trường Đại học Indiana, Hoa Kì Tác

giả đề cập nhiều vấn đề về văn hóa; trong đó nhấn mạnh vấn đề văn hóa truyền thống của Việt Nam chuẩn bị như thế nào để đối mặt với những biến đổi văn

hóa đang diễn ra với tốc độ chóng mặt "Trong bối cảnh này, rất cần xác định

xem các cơ quan văn hóa của Việt Nam đang được áp dụng có đủ để đối mặt

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

với những thách thức mới của xu hướng toàn cầu hóa đang tăng lên hay không " [dẫn theo 58, tr 271], để "đóng góp vào mục tiêu chung là xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [dẫn theo 58, tr 272]

- Văn hóa truyền thống và hiện đại hóa xã hội ở Việt Nam trong thế kỉ

XX của TSKH Lương Việt Hải, Viện Triết học Tác giả khẳng định: "Các giá trị của truyền thống văn hóa là yếu tố cấu thành quan trọng của động lực hiện đại hóa xã hội ở Việt Nam trong thế kỉ vừa qua cũng như trong những thập kỉ tới của thế kỉ XXI" [dẫn theo 59, tr 304]

- Tác động của giao lưu văn hóa đối với sự phát triển của con người Việt

Nam trong thế kỉ XX của PGS.TS Đỗ Long, Viện Tâm lí học Trong báo cáo

này, tác giả trình bày các vấn đề: Giao lưu và sự phát triển của con người; Giao lưu văn hóa và sự chuyển biến từ con người nông dân đến con người chiến sĩ; Con người Việt Nam bước vào thế kỉ XXI trong bối cảnh giao lưu văn hóa và phát triển thông tin Tác giả phân tích sâu sắc tính cách con người Việt Nam nói chung, nông dân Việt Nam nói riêng; sự chuyển biến trong đời sống văn

hóa từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 Tác giả nêu rõ: "Phong trào xây dựng

Đời sống mới đề ra nhiệm vụ trước hết là cải tạo đời sống văn hóa cũ, khẳng định đời sống văn hóa mới trong các tầng lớp quần chúng nhân dân, chống hủ tục, xây mĩ tục, chống mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè, xây nếp sống vệ sinh, văn minh, khoa học, chống hành vi xâm phạm, bạo lực đối với con người, trước hết là đối với phụ nữ, xây quan hệ ứng xử tốt đẹp giữa người với người từ trong gia đình, làng xã, phố phường đến toàn xã hội" [dẫn theo 59, tr 421], v.v

Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Có thể nói, vấn đề vẫn còn như “một mảnh đất trống” chưa được tìm hiểu, nghiên cứu sâu Qua quá trình khảo cứu tài liệu để thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy vấn đề mới chỉ được đề cập thông qua hệ thống báo cáo của các cấp ủy, của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố và các ban, ngành liên quan

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu cũng được đề cập trong một số bài viết in trên Báo Quảng Ninh:

- Bài viết “Chung sức bảo vệ môi trường” của tác giả Cầm Khuê; “Bảo

vệ môi trường ở Hạ Long” của tác giả Thu Nguyệt; “Cho một Quảng Ninh xanh

- sạch - đẹp”; “Hướng tới thành phố môi trường bền vững” của tác giả Nguyễn

Quý Các bài viết này đều đề cập đến một trong 5 nội dung của công cuộc vận động là xây dựng cảnh quan môi trường sạch đẹp

- Xây dựng nhà văn hóa khu dân cư ở thành phố Hạ Long - chặng đường

gian nan của tác giả Ngọc Mai Tác giả đã đề cập đến những khó khăn và biện

pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình xây dựng nhà văn hóa tại các khu dân

cư, phục vụ các hoạt động sinh hoạt cộng đồng của nhân dân

- Phục dựng và phát huy giá trị các lễ hội truyền thống của tác giả Bích

Thảo Tác giả đã đề cập đến việc phục dựng các Lễ hội truyền thống của thành phố Hạ Long như: Lễ hội Đức ông Trần Quốc Nghiễn, Lễ hội chùa Lôi Âm Đây cũng là một trong những nội dung của công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư của Thành phố

- Chuyện ở phường Văn hóa Hùng Thắng của tác giả Phan Hằng: Bài viết đã

đề cập đến quá trình xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư ở Hùng Thắng, đề cập đến sự thay đổi đáng ngạc nhiên phường Hùng Thắng Hùng Thắng từ một phường nhỏ, còn nhiều khó khăn, đến năm 2011 đã trở thành một trong hai phường dẫn đầu của thành phố Hạ Long, được công nhận danh hiệu phường văn hóa

Các bài viết trên đã ít nhiều đề cập đến công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ

đề cập đến một khía cạnh của vấn đề Luận văn nghiên cứu hoặc một phạm vi hẹp trong không gian nghiên cứu của Luận văn

Mặc dù chưa có nhiều, nhưng những công trình, tài liệu được công

bố là nguồn tư liệu quý giúp tôi phương hướng tiếp tục đi sâu nghiên cứu

để hoàn thành đề tài Luận văn Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn

hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh (2001-2013)

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2001 đến năm 2013

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Thành phố Hạ Long, thuộc tỉnh Quảng Ninh, gồm 20

phường, với 169 khu dân cư

- Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2013 Tuy nhiên, để làm rõ yêu

cầu của đề tài, Luận văn đề cập đến tình hình kinh tế, xã hội của Thành phố trong những năm trước đó

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

- Khái quát về địa giới hành chính, điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội của thành phố Hạ Long

- Làm rõ quá trình triển khai cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long

- Đánh giá những kết quả và hạn chế của công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư ở thành phố Hạ Long

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:

- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện cuộc vận động của Chính phủ, UB Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các bộ, ban, ngành Trung ương

- Các văn bản chỉ đạo, văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện cuộc vận động của Tỉnh ủy, UB MTTQ tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hạ Long

- Các báo cáo thường niên, báo cáo theo từng giai đoạn cuộc vận động của UB Mặt trận Tổ quốc thành phố Hạ Long

- Các công trình khoa học, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí có liên quan đến đề tài

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu Bằng phương pháp lịch sử, dựa trên các nguồn tư liệu có chọn lọc, chúng tôi trình bày có hệ thống quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long Trên cơ sở phân tích các sự kiện, hiện tượng lịch sử, chúng tôi rút ra những nhận xét, đánh giá thành tựu và hạn chế của cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê… để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điền dã, phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng lịch sử để làm phong phú thêm nội dung đề tài

5 Đóng góp của Luận văn

- Đây là công trình đầu tiên trình bày một cách có hệ thống, toàn diện về công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

- Luận văn đánh giá những thành công và hạn chế trong quá trình thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư ở thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh; phân tích nguyên nhân của những hạn chế; trên cơ sở

đó đề xuất một số giải pháp giúp địa phương nghiên cứu mở rộng nâng cao chất lượng cuộc vận động trong thời kì mới

- Dùng làm tài liệu giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Hạ Long

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung

Luận văn được cấu trúc thành ba chương:

Chương 1: Khái quát về thành phố Hạ Long

Chương 2: Quá trình thực hiện công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh (2001 - 2013)

Chương 3: Đánh giá công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh (2001 - 2013)

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẠ LONG

1.1 Địa giới hành chính thành phố Hạ Long qua các thời kì

Thành phố Hạ Long là một trong những khu vực được hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam Vùng đất trung tâm của Thành phố ngày nay xưa kia chỉ là một làng chài ven biển, với các hòn đảo nhỏ có những bụi gai đan xen (nên có tên là Hòn Gai), sau hình thành xã

Đến đầu thời Nguyễn, nơi này được đổi tên thành xã Mẫu Lệ Về sau hình thành nên các xã Hà Lầm, Lũ Phong Vùng Bãi Cháy xưa kia gọi là Vạ Cháy, ven bờ biển và các bến bãi có nhiều nơi neo đậu của các thuyền bè và xóm chài sinh sống

Sau ngày thực dân Pháp chiếm đóng và mở mỏ khai thác than, phố Hòn Gai được hình thành, do một quan bang người Việt cai quản nhưng tất cả quyền lực đều nằm trong tay một Đại úy người Pháp Về sau, người Pháp còn chia phố Hòn Gai thành nhiều bang nhỏ như: Hà Tu, Hà Lầm, Bãi Cháy

Ngày 19/7/1946, Khu đặc biệt Hòn Gai được thành lập gồm: Châu Cẩm Phả và các thị xã (Cẩm Phả Bến, Cẩm Phả Mỏ, Hà Tu, Hòn Gai, Bãi Cháy) do Ủy ban Hành chính Bắc Bộ kiểm soát Như vậy, thị xã Hòn Gai thuộc Khu đặc biệt Hòn Gai

Tháng 3/1947, Trung ương Đảng quyết định hợp nhất Khu đặc biệt Hòn Gai với Quảng Yên thành liên tỉnh Quảng Hồng Sau đó, năm 1948 tách Khu

đặc biệt Hòn Gai khỏi địa giới tỉnh Quảng Hồng gọi là Khu đặc biệt Hồng Gai

Ngày 19/7/1949, Khu đặc biệt Hồng Gai thành một đơn vị hành chính trực thuộc Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu I Cùng năm này, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu 1 ấn định địa giới Khu đặc biệt Hồng Gai gồm có: 3 thị xã (Hồng Gai, Cẩm Phả Mỏ, Cẩm Phả Bến), 4 phố (Bãi Cháy, Hà

Tu, Hà Lầm, Mông Dương) và 1 huyện Cẩm Phả

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ngày 2/7/1964, các xóm Cái Râm, Cái Lân, Đồng Mang, khu vực Xí nghiệp gạch ngói Giếng Đáy thuộc xã Việt Hưng và xã Tuần Châu (huyện Hoành Bồ) được sáp nhập vào thị xã Hồng Gai Sau đó, đến năm 1966, xã Tân Hải (huyện Hoành Bồ) cũng được sáp nhập vào thị xã Hồng Gai

Ngày 10/9/1981, địa giới hành chính thị xã Hồng Gai được phân định lại, gồm 16 phường: Bạch Đằng, Hạ Long (năm 1996 đổi tên thành phường Hồng Gai), Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Hà Phong, Hà Tu, Hà Trung, Hà Lầm, Hà Khánh, Hồng Hà, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh, Giếng Đáy, Hà Khẩu, Bãi Cháy và 3 xã: Thành Công, Hùng Thắng và Tuần Châu

Ngày 27/12/1993, theo Nghị định số 102/CP của Chính phủ, thành phố

Hạ Long được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Hồng Gai Ngày 16/8/2001, theo Nghị định số 51/2001/ND-CP của Chính phủ, 2 xã Việt Hưng và Đại Yên của huyện Hoành Bồ được sáp nhập vào thành phố Hạ Long

Ngày 26/9/2003, thành phố Hạ Long được công nhận là đô thị loại II, khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của thành phố trong tiến trình xây dựng và phát triển

Như vậy, tính đến thời điểm năm 2013, thành phố Hạ Long có 20 phường: Bạch Đằng, Hồng Gai, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Hà Trung, Hà Khánh, Hà Lầm,

Hà Phong, Hà Tu, Đại Yên, Việt Hưng, Bãi Cháy, Hồng Hà, Cao Xanh, Giếng Đáy, Hà Khẩu, Hồng Hải, Tuần Châu, Hùng Thắng và Cao Thắng

1.2 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.2.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Thành phố Hạ Long là thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh có tọa độ từ 20040’ đến 21002’ vĩ Bắc và từ 106055’ đến 107013’ kinh Đông Thành phố ở vị trí trung tâm của tỉnh, phía bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía tây giáp thị xã Yên Hưng, phía đông giáp thành phố Cẩm Phả, phía nam là bờ vịnh Hạ Long Thành phố Hạ Long có diện tích hơn 650km2 (trong đó diện tích đất tự nhiên là 271,95km2), dân số khoảng 230.000 người

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thành phố Hạ Long trải dài và chia thành hai khu vực: phía Đông và phía Tây được ngăn cách bởi eo biển Cửa Lục Nối hai bờ Cửa Lục là cây cầu Bãi Cháy - một trong năm cây cầu dây văng một mặt phẳng có khấu độ lớn nhất trên thế giới Khu vực phía Đông Thành phố là trung tâm chính trị, hành chính, thương mại và trung tâm công nghiệp khai thác than Khu vực phía Tây

là trung tâm du lịch, dịch vụ Bãi Cháy, có khu công nghiệp đóng tàu, cảng biển với công suất lớn, hiện đại tầm cỡ thế giới

Thành phố có địa hình đa dạng và phức tạp gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng đồi núi bao bọc phía Bắc và Đông Bắc chiếm 70% diện tích đất của Thành phố, có độ cao trung bình

từ 150m đến 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnh cao nhất có độ cao 504m Vùng ven biển ở phía nam Quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0,5m đến 5m Vùng hải đảo là toàn bộ vùng vịnh với hàng nghìn quần đảo lớn, nhỏ

Thành phố Hạ Long có khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.832mm, phân bố khồng đều giữa mùa hè và mùa đông Độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 84% Từ tháng 3 đến tháng 8 chịu ảnh hưởng của gió mùa đông nam Từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng gió mùa đông bắc nhưng liền kề biển nên nền nhiệt không quá thấp Do nằm trong vùng biển có hàng nghìn đảo đá bao bọc nên thành phố Hạ Long ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn

Thành phố Hạ Long là đầu mối giao thông của tỉnh Quảng Ninh và vùng Đông Bắc Tổ quốc Nơi đây có hệ thống giao thông đường bộ đạt chất lượng kĩ thuật tương đối đồng bộ và khá hoàn chỉnh: Quốc lộ 18A đi Cẩm Phả, các huyện miền Đông và một phía đi Hải Dương, Bắc Ninh; Quốc lộ 10

đi Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định; Quốc lộ 279 từ Bắc Giang qua Hoành

Bồ đến Hạ Long Thành phố còn có tiềm năng lớn phát triển giao thông thuỷ Cảng Cái Lân có khả năng tiếp nhận 1 triệu tấn hàng hoá mỗi năm Cảng xăng dầu B12 cảng chuyên dùng (xăng, dầu) công suất khoảng 1 triệu

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tấn/năm, độ sâu bến 7-9 m cho tàu 1 vạn tấn Hệ thống đường ống dẫn dầu đi

từ cảng B12 là hệ thống giao thông đường ống lớn nhất và duy nhất ở nước ta Cảng Hòn Gai có thể đón tàu 1 vạn tấn vào sát bờ, các tàu lớn hơn có thể chuyển tải từ vùng cảng nổi trong vịnh Việc cải tạo cảng Hòn Gai thành cảng hành khách và dịch vụ tổng hợp đã thực hiện xong, độ sâu bến 7-9m, có khả năng phục vụ các tàu du lịch loại lớn của quốc tế, đang được quy hoạch trở thành cảng khách quốc tế trong khu vực

Cảng tàu du lịch Bãi Cháy được mở rộng, quy hoạch một số bến đỗ tàu

du lịch, tàu cao tốc tại khu vực Băi Cháy, Hùng Thắng, Tuần Châu, như bến thuyền của công viên Hoàng Gia đã có 1 bến của Sài Gòn Tour, Bến Cái Dăm

đã được cải tạo Ông Đào Hồng Tuyển đã xây dựng xong bến du thuyền đầu tiên ở Việt Nam trên đảo Tuần Châu cùng với bến phà nối Tuần Châu - Cát Bà Hiện tại, Tuần Châu đang xây dựng cảng tàu, bến du thuyền thứ 2 lớn nhất châu Á, gấp 10 lần bến hiện có Thành phố còn có bến tàu khách thuỷ đi nhiều nơi trong tỉnh và về thành phố Hải Phòng

1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên

Hạ Long nổi tiếng với nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú cho phép Thành phố xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế đa dạng

* Tài nguyên khoáng sản: Chủ yếu là than đá và vật liệu xây dựng Than

đá ở Hạ Long có trữ lượng khá lớn Năm 2010, tổng trữ lượng than đá thăm dò gần 600 triệu tấn, chủ yếu phân bố trên địa bàn các phường Hà Tu, Hà Phong,

Hà Khánh, Hà Trung, Hà Lầm, chủ yếu là than Antraxit và bán Antraxit có chất lượng tốt nổi tiếng thế giới Ngoài than đá, vật liệu xây dựng cũng là nguồn tài nguyên quan trọng của Thành phố Nguồn đất sét để làm vật liệu xây dựng ở Giếng Đáy có trữ lượng khoảng 39 vạn tấn Nguồn đá vôi phục vụ làm nguyên liệu xi măng và vật liệu xây dựng tập trung tại phường Hà Phong và khu vực Đại Yên, với trữ lượng còn khoảng trên 15 triệu tấn có thể khai thác được Các khu vực ven biển phường Hà Phong, Hà Khánh, khu vực sông Trới tiếp giáp

Hà Khẩu, Việt Hưng… có thể khai thác cát xây dựng tuy trữ lượng không lớn

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 14 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

* Tài nguyên nước: Sông, suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu

lượng nước không nhiều Tài nguyên nước tập trung tại các khu vực hồ Yên Lập (tổng dung tích khoảng 107.200.000 m3 (thời điểm đo trong tháng 8/2010)), hồ Khe Cá tại phường Hà Tu… là nguồn cung cấp nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Các hồ Yết Kiêu, Ao Cá - Kênh Đồng … vừa là nguồn cung cấp nước, vừa có tác dụng điều hòa, tạo cảnh quan cho Thành phố

* Tài nguyên du lịch:

Thành phố Hạ Long có bờ vịnh tuyệt mĩ, gồm 1.969 hòn đảo lớn, nhỏ;

có chỗ quần tụ lại, xúm xít nhìn xa như chồng chất lên nhau, có chỗ đảo đứng dọc ngang tạo nên tuyến chạy dài như bức trường thành, có chỗ lại đứng tách ra gãy khúc nhấp nhô Vẻ đẹp, giá trị cảnh quan của vịnh Hạ Long không chỉ phô bày ở dáng núi, sắc trời mà còn ẩn giấu trong các hang động

Hạ Long có hàng chục hang động mở trong lòng núi đá, phân bố nhiều nơi trên mặt vịnh Các hang động có quy mô, kiểu dáng, màu sắc đa dạng, phong phú: Hang Bồ Nâu, hang Trinh Nữ, hang Đầu Gỗ, hang Sửng Sốt, động Thiên Cung Những hang động trên các độ cao khác nhau của vịnh Hạ Long không chỉ là những lâu đài của tạo hóa, mà còn là những bằng chứng cho sự xâm thực của nước biển ở các thời kì khác nhau

Với các giá trị về cảnh quan và địa chất, địa mạo, vịnh Hạ Long đã được

tổ chức UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới (17/12/1994) và tiếp tục được công nhận là di sản thế giới về giá trị địa chất, địa mạo (29/11/2000) Ngày 12/11/2011, vịnh Hạ Long được tổ chức New7Wonders công nhận là một trong bảy kì quan thiên nhiên thế giới mới

Vịnh Hạ Long hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng Đến vịnh Hạ Long, du khách có thể tham gia các hoạt động tham quan ngắm cảnh, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 15 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

* Tài nguyên rừng: Hạ Long có nguồn tài nguyên rừng rất phong phú, đa

dạng, gồm hàng nghìn ha rừng đặc dụng trên đất liền và rừng trên các đảo, núi

đá với khoảng trên 1.000 loài thực vật Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được, đó

là: Thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím (Chirieta halongensis), cọ Hạ Long (Livisona

halongensis) khổ cử đại nhung (Chirieta hiepii), móng tai Hạ Long, ngũ gia bì

Hạ Long, Hài Vệ nữ hoa vàng Danh sách những loài thực vật đặc hữu của vịnh

Hạ Long có thể nhiều hơn do chưa có công trình nghiên cứu nào thực sự đầy

đủ, toàn diện về thực vật trên tất cả các đảo tại khu vực vịnh và vùng lân cận Ngoài ra, qua các tài liệu khác, danh sách thực vật của vịnh Hạ Long có 347 loài, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ: trên 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn Trong số các loại trên, có 16 loài đang nằm trong danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp Trong các loài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau

* Hệ sinh thái biển và ven bờ: Hệ sinh thái biển và ven bờ của Vịnh Hạ

Long bao gồm trong đó “hệ sinh thái đất ướt” và “hệ sinh thái biển” với nhiều loài động thực vật đa dạng: bao gồm 20 loài thực vật ngập nước mặn, là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ, 91 loài rong biển, 200 loài chim, 10 loài bò sát và 6 loài khác Tại đây cũng có 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam Ngoài ra, Hạ Long còn có rất nhiều các loại động, thực vật phù du, các loài động vật thân mềm đa dạng, đặc biệt là các loại cư trú trong hốc đá và có tới 60 loài động vật đặc hữu Hải sản Hạ Long được khai thác và nuôi trồng có nhiều loại giá trị kinh tế cao như: Bào ngư, hải sâm, sá sùng,

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 16 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tôm, mực, bạch tuộc, sò huyết, trai nuôi lấy ngọc Theo tài liệu của Phân viện Hải Dương học Hải Phòng thì Hạ Long có 1151 loài động vật, trong đó

có gần 500 loài cá, 57 loài cua Đây là nguồn tài nguyên quan trọng trong việc phát triển kinh tế biển ở Hạ Long

Với vị trí địa lí thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, hệ thống giao thông thuận lợi, người dân cần cù, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, Hạ Long có điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển nền kinh tế đa dạng nhiều ngành nghề Đây chính là một nhân tố quan trọng góp phần xây dựng thành công đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn thành phố Hạ Long

1.3 Tình hình kinh tế, xã hội

1.3.1 Tình hình kinh tế

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), VII (1991), VIII (1996), nền kinh tế thành phố Hạ Long có nhiều chuyển biến cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu ngành nghề

Trong lĩnh vực công nghiệp, mặc dù còn gặp khó khăn do thiết bị lạc hậu, thiếu vốn đầu tư để đổi mới công nghệ , nhưng các đơn vị sản xuất, kinh doanh cũng từng bước phát triển và đạt được nhiều thành tựu Năm 1994, tổng giá trị sản lượng công nghiệp và tiểu công nghiệp của Thành phố mới đạt 11 tỉ đồng thì đến năm 2000, doanh thu từ sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã đạt 81,2 tỉ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 16%

Hoạt động kinh doanh du lịch Hạ Long cũng có bước phát triển khá nhanh Việc đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống cơ sở hạ tầng, nhà nghỉ, khách sạn, tôn tạo các hang động đã tạo điều kiện cho kinh tế du lịch, dịch vụ cả khu vực Nhà nước và tư nhân tăng trưởng nhanh Đến năm 2000, đã có gần 1 triệu khách du lịch đến Hạ Long (đạt trên 300% so với năm 1996) Các đơn vị kinh doanh du lịch, dịch vụ đạt mức doanh thu trên 235 tỉ đồng vào năm 2000 (gấp 3,6 lần so với năm 1996) Tuy vậy, do cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, các loại hình dịch vụ - du lịch còn thiếu, giản đơn, nên chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của du khách và chưa giữ được khách lưu trú dài ngày Công tác quản lí, phục vụ còn nhiều bất cập

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 17 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trong lĩnh vực nông nghiệp: Thành phố đã mạnh dạn đưa ra kế hoạch thay đổi cơ cấu cây trồng: Vùng Hà Phong, Khe Cá đưa cây mía thay cây rau; vùng Hà Khẩu, Bãi Cháy, Tuần Châu đưa cây Vải thiều về trồng ở rừng Thành phố khảo nghiệm việc nuôi giống bò sữa, tôm sú, tôm he ; đồng thời đẩy mạnh việc xác lập vai trò tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của các hộ gia đình, khuyến khích kinh tế trang trại phát triển Nhờ có những biện pháp thiết thực, diện tích gieo trồng được

mở rộng, từ 927 ha (năm 1996), tăng lên 1.042 ha (năm 2000)

Giá trị sản xuất lâm - ngư nghiệp của Thành phố cũng tăng nhanh đáng

kể, đạt 62,136 tỉ đồng (2000), tăng 24,8% so với năm 1996

Đặc biệt, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài có nhiều bước khởi sắc Trước năm 1995, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực sản xuất còn hạn chế Nguyên nhân là do cơ sở hạ tầng thấp kém, không thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp; công tác chỉ đạo hoạt động kinh tế đối ngoại chưa tập trung, không có biện pháp cụ thể Nhằm khắc phục tình trạng trên, Đảng bộ Thành phố đã đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại Nhờ đó, trong 5 năm (1996 - 2000), Thành phố có 19 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn 297 triệu USD Nhiều dự án hoạt động có hiệu quả và tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước hàng trăm tỉ đồng, tạo việc làm cho trên 3.000 lao động

Có thể nói, đến năm 2000, kinh tế thành phố Hạ Long đã có nhiều thành tựu đáng kể Giá trị các ngành công nghiệp, du lịch - dịch vụ, nông - lâm - ngư nghiệp đều có bước tăng trưởng đáng kể Thành phố từng bước khẳng định được niềm tin trong nhân dân, khẳng định được vai trò, vị trí quan trọng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng, trong khu vực tam giác tăng trưởng kinh tế

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh trong tương lai nói chung Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, nền kinh tế Thành phố vẫn còn những hạn chế: Một số mô hình phát triển kinh tế chưa phù hợp; dịch vụ du lịch còn giản đơn, chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách; chưa hình thành những làng nghề, sản phẩm truyền thống

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 18 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bước sang thế kỉ XXI, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến đổi sâu sắc Thành phố Hạ Long, sau 15 năm đổi mới và phát triển, đã đạt được nhiều thành tựu lớn và có ý nghĩa quan trọng Kinh tế Thành phố liên tục tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 20%/năm, công nghiệp tăng trưởng bình quân 10%/năm Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được quan tâm, cơ cấu cây trồng vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực Cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư nên diện mạo Thành phố đã thay đổi nhanh chóng theo hướng khang trang hiện đại

Bên cạnh đó, thành phố Hạ Long vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Đó là vấn đề giải quyết việc làm, quản lí đô thị, môi tường, tai nạn, tệ nạn xã hội Tuy vậy, thuận lợi vẫn là cơ bản, tạo tiền đề và niềm tin để Thành phố thực hiện những chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kì mới

Với những chủ trương, biện pháp phù hợp, những bước đi đúng, kinh tế Thành phố trong 10 năm đầu thế kỉ XXI đã có nhiều thành tựu đáng kể Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh, năng lực sản xuất của từng ngành được nâng cao Nhiều doanh nghiệp đã chủ động phát huy nội lực, sắp xếp lại tổ chức và lao động, đổi mới và hiện đại hóa công nghệ, từng bước thích ứng với

cơ chế thị trường Nhờ đó, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, giá trị sản xuất công nghiệp tăng nhanh, từ 95,8 tỉ đồng năm 2001, lên 13.450 tỉ đồng năm 2012

Lĩnh vực khai thác, chế biến và xuất khẩu than của thành phố Hạ Long tiếp tục phát triển Sản lượng than khai thác năm 2010 đạt 14,2 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân là 15% Ngành Công nghiệp đóng tàu cũng có bước phát triển nhanh, đóng và hạ thủy nhiều tàu lớn trọng tải 5,3 vạn tấn, tàu contairner đáp ứng yêu cầu vận tải biển, mở ra triển vọng của ngành đóng tàu hiện đại Các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng khai thác hiệu quả lợi thế của nguồn nguyên liệu, đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại và đổi mới phương thức quản lí Nhờ đó, chất lượng sản phẩm được nâng cao, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt từ 10% đến 15%/năm

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 19 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sự hoạt động năng động của các ngành kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã thúc đẩy nền kinh tế thành phố Hạ Long có bước tăng trưởng cao, mở rộng về quy mô, nâng cao trình độ, đa dạng về chủng loại và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Đến năm 2012, ngành Công nghiệp và Xây dựng chiếm khoảng 55% tỉ trọng nền kinh tế của Thành phố

Dịch vụ và du lịch được xác định là ngành kinh tế trọng yếu của Thành phố Hạ Long có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, đặc biệt là khai thác

và phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái gắn liền với Di sản Thiên nhiên

thế giới Vịnh Hạ Long Đặc biệt, năm 2000, Vịnh Hạ Long được Hội đồng Di

sản thế giới công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ hai về giá trị địa

chất và địa mạo đã khẳng định những tiềm năng, lợi thế quan trọng của địa

danh này Việc khai thác tiềm năng, giá trị của Vịnh Hạ Long phải gắn liền với việc bảo tồn, tôn tạo, tôn vinh những giá trị đặc biệt của nó; vừa bảo tồn, vừa khai thác để phát huy hết giá trị của Di sản Bảo tồn để khai thác, phát huy tốt giá trị, đồng thời khai thác và phát huy tốt sẽ tạo điều kiện để bảo tồn, quản lí tốt hơn Thành phố đã hoàn thành việc lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, xây dựng đề án chỉnh trang đô thị, quy chế quản lí các khu du lịch Thành phố huy động được nhiều nguồn lực từ các thành phần kinh tế khai thác đầu tư phát triển du lịch Hạ Long Bình quân mỗi năm thu hút khoảng 700 tỉ đồng vốn đầu tư cho lĩnh vực này Các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch phát triển đa dạng: Tắm biển, ngắm cảnh, nghỉ đêm trên Vịnh, câu cá, du lịch sinh thái, leo núi, tổ chức tiệc rượu Các hoạt động tuyên truyền, quảng bá cho hình ảnh của Vịnh Hạ Long được chú trọng Ủy ban Nhân dân Thành phố cũng tăng cường công tác quản lí môi trường kinh doanh du lịch, kiểm tra niêm yết giá, hàng giả, hàng kém chất lượng, ăn xin, chèo kéo khách du lịch Nhờ đó, Vịnh Hạ Long ngày càng thu hút được nhiều lượt du khách trong nước và quốc tế Năm 2013,

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 20 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

du khách đến với Hạ Long khoảng 4.768.098 lượt, trong đó có 2.465.500 lượt khách quốc tế (năm 2001 có khoảng 2,1 triệu lượt khách), doanh thu đạt 2.425

tỉ đồng (năm 2001 là 670 tỉ đồng) Sự phát triển của du lịch Hạ Long trong những năm gần đây đã cho thấy chủ trương chuyển nền kinh tế từ “nâu” sang

“xanh” của Thành phố là đúng đắn

Hoạt động thương mại có bước phát triển cả về quy mô và loại hình Mạng lướí chợ được đầu tư và quy hoạch: Chợ Hạ Long I, chợ Hạ Long II, chợ Hồng Hà, Trung tâm Thương mại Quảng Ninh, Vườn Đào góp phần đưa Hạ Long trở thành Trung tâm Thương mại lớn nhất Quảng Ninh Công tác quản lí thị trường, kiểm tra đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại được chú trọng Công tác xúc tiến thương mại, hỗ trợ các doanh nghiệp quảng

bá thương hiệu, chất lượng sản phẩm được đẩy mạnh

Nhiều công trình giao thông được xây dựng, điển hình là cây cầu Bãi Cháy - khánh thành ngày 2/12/2008 nối hai đầu Thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông vận tải nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội của Hạ Long nói chung Thành phố đầu tư xây dựng và nâng cấp nhiều cảng biến: Cảng Cái Lân, cảng tầu Du lịch Bãi Cháy, cảng xăng dầu B12, cảng Nam Cầu Trắng , đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách và các dịch vụ khác

Trong lĩnh vực nông nghiệp: Mặc dù theo phương hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế mới, đất nông nghiệp bị thu hẹp do phát triển đô thị, nhưng nhờ có những biện pháp tích cực, chủ động đầu tư công tác thủy lợi, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kĩ thuật, nên các vùng trồng rau an toàn vẫn tiếp tục phát triển, giải quyết việc làm, ổn định đời sống của người dân

Sản xuất ngư nghiệp phát triển đúng định hướng, kết hợp khai thác với nuôi trồng, chế biến với bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái Vịnh

Hạ Long Tính đến năm 2010, Thành phố có 1.147 tàu đánh cá (tăng 55.8% so với năm 2005), 1.550 lồng bè nuôi thủy sản (tăng 150 lồng so với năm 2005)

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 21 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Với sự nỗ lực của các cấp, ngành, của nhân dân, nền kinh tế của thành phố

Hạ Long giai đoạn 2001 - 2013 có nhiều chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định; các ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ du lịch đều

có bước tăng trưởng khá cao qua các năm Sự phát triển kinh tế taj điều kiện nâng cao đời sống và chất lượng nguồn dân cư Đồng thời, kin tế phát triển tạo điều kiện xây dựng các cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hóa tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn thành phố Hạ Long

1.3.2 Tình hình xã hội

Tính đến ngày 1/4/2009, dân số thành phố Hạ Long là 215.795 người, thuộc 12 thành phần dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn 20 xã, phường: Dân tộc Kinh chiếm 99,1%; các dân tộc ít người gồm 348 hộ với 1.850 nhân khẩu, chiếm 0,9% dân số Thành phố

Tụ cư trên địa bàn thành phố Hạ Long gồm nhiều tầng lớp xã hội luôn phát huy vai trò tích cực trong mọi hoạt động Đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức, lao động Thành phố chiếm tỉ lệ 9,06% dân số, vững vàng về chính trị, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Đội ngũ trí thức không ngừng phát triển, nhanh chóng tiếp thu khoa học kĩ thuật đưa vào phục vụ sản xuất và đời sống Trí thức là bộ phận đóng góp tích cực trí tuệ, tài năng phục vụ cho sự phát triển chung của Thành phố

Nông dân chiếm 0,25% dân số Thành phố, luôn nêu cao truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo trong lao động, đoàn kết hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất Các hộ nông dân khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, khoa học, kĩ thuật, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tích cực phát triển kinh tế gia đình, kinh tế trang trại, v.v

Đoàn viên, thanh niên chiếm trên 11% dân số Thành phố, luôn thể hiện vai trò xung kích, hăng hái tiếp cận những tri thức tiên tiến của thế giới, từng bước làm chủ công nghệ hiện đại, phấn đấu rèn đức, luyện tài, học tập, lao động sáng tạo phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân vùng mỏ; có khát vọng vươn lên lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng; ngày càng xuất hiện nhiều những tài năng trẻ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 22 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Phụ nữ Thành phố chiếm trên 51% dân số, trong mọi hoàn cảnh luôn giữ vững truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, trung hậu, đảm đang; tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc; đẩy mạnh các phong trào thi đua, phát triển kinh tế đóng góp quan trọng vào việc nâng cao đời sống dân sinh, bình đẳng giới và tiến bộ xã hội

Cựu chiến binh Thành phố chiếm tỉ lệ 0,5% dân số, luôn giữ vững bản

chất Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã

hội chủ nghĩa; quan tâm đến việc tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ, góp phần giữ vững ổn định chính trị, nhất là ở cơ sở

Với khoảng 1.000 doanh nghiệp, doanh nhân có mặt hầu hết ở các thành phần kinh tế, có bước phát triển nhanh, bền vững về cơ cấu, số lượng, lĩnh vực

Họ là lực lượng luôn dám nghĩ, dám làm, chủ động đầu tư quy mô sản xuất, kinh doanh, mở rộng dịch vụ, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố

Người cao tuổi trong Thành phố chiếm tỉ lệ 10% dân số Với phương châm

Sống vui, sống khỏe, sống có ích cho gia đình và cho xã hội, Hội Người cao tuổi

Thành phố luôn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, phát huy tài năng trí tuệ, phẩm chất, kinh nghiệm, vốn sống, làm nòng cốt trong các cuộc vận động ở khu dân

cư, làm trụ cột tinh thần trong gia đình, dòng họ, chung tay cùng cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân triển khai các nhiệm vụ từ cơ sở, tạo đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân

Các tín đồ tôn giáo chiếm 10,41% dân số, là lực lượng luôn gắn bó đồng hành với sự phát triển đi lên của Thành phố, thường xuyên nêu cao truyền thống đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất Là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân, các tín đồ tôn giáo luôn tin tưởng vào chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phát động, tích cực tham gia công tác từ thiện nhân đạo, phòng chống tệ nạn xã hội

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 23 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tất cả những lực lượng xã hội trên đây đều đóng vai trò tích cực giúp cho công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Hạ Long thu được nhiều kết quả Tuy nhiên, thành phố Hạ Long cũng là nơi tập trung nhiều thành phần dân tộc, đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo; tập trung nhiều đầu mối quan hệ về kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh Thực

tế đó đòi hỏi Ban Chỉ đạo công cuộc xây dựng đời sống văn hóa các cấp, từ Thành phố đến cơ sở phải luôn chủ động, sáng tạo trong phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện theo hướng phát huy mặt tốt, tập quán tốt của từng cộng đồng, dung hòa những biểu hiện khác nhau của người dân ở các khu dân cư

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương, sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe của nhân dân trên địa bàn có nhiều tiến bộ Mạng lưới y tế từ cơ sở đến thành phố được đầu tư về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Bãi Cháy, Trung tâm Y tế Thành phố được đầu tư xây mới và mua sắm trang thiết bị hiện đại Đội ngũ cán bộ y

tế ngày càng được tăng cường về số lượng, nâng cao về chất lượng, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân Từ năm 2005, tất cả các trạm y tế phường, xã trên địa bàn Thành phố đều có bác sĩ Các chương trình y tế quốc gia, phòng chống dịch bệnh được thực hiện có hiệu quả, không để xảy ra các dịch bệnh lớn Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ, chăm sóc trẻ em được quan tâm chỉ đạo và thực hiện tốt 100% trẻ em dưới 12 tháng tuổi được tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm; trẻ em dưới 6 tuổi thường xuyên được theo dõi việc khám, chữa bệnh; chương trình phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ

em dưới 5 tuổi được duy trì có nền nếp Tỉ suất sinh bình quân hằng năm trong thời gian 2001 - 2013 giảm 0,015%, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm 10%

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh Hệ thống truyền hình, truyền thanh được củng cố, đáp ứng nhu cẩu đời sống tinh thần hoạt ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân Phong trào thể dục thể thao ở các cấp, các ngành và trong nhân dân ngày càng phát triển đi vào chiều sâu Nhiều công trình văn hóa, di tích lịch sử, như Cung Văn hóa

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 24 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thiếu nhi, Đền thờ Đức ông Trần Quốc Nghiễn, chùa Long Tiên, quần thể di tích lịch sử núi Bài Thơ, tượng đài đồng chí Vũ Văn Hiếu , được xây dựng, tôn tạo và nâng cấp Công tác quản lí nhà nước về văn hóa, ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại, chống các hủ tục mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh gắn với xây dựng khu phố văn hóa được tăng cường một bước Nhiều sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao quan trọng đã được tổ chức trên địa bàn Thành phố với sự phối hợp của các ban ngành Trung ương và Tỉnh như: Năm du lịch Hạ Long 2003, Kỉ niệm 40 năm thành lập tỉnh Quảng Ninh, 10 năm thành lập thành phố Hạ Long, Hội nghị APPF-13, liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 24 Các hoạt động này đã góp phần quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế của Thành phố

Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện được đẩy mạnh, phát huy

truyền thống Uống nước nhớ nguồn của dân tộc Các cấp chính quyền và nhân dân

thực hiện tốt các chính sách xã hội cho thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với nước, những hộ thuộc diện nghèo Thành phố đã trợ cấp thường xuyên cho 3.519 đối tượng người có công với cách mạng bằng nguồn ngân sách trị giá gần 46

tỉ đồng/năm (2013) Hằng năm, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài Thành phố tích cực đóng góp vào các nguồn quỹ khác nhau nhằm kịp thời hỗ trợ các gia đình thuộc diện chính sách vượt qua khó khăn trong cuộc sống

Chương trình xóa đói giảm nghèo được chỉ đạo và thực hiện có kết quả bước đầu Số hộ nghèo trên toàn Thành phố năm 2000 còn 3%, số hộ đói còn 0,35%, riêng diện chính sách không còn hộ đói Ngoài ra, các ban, ngành, đoàn thể đã thực hiện chính sách đối với người có công, tổ chức thăm hỏi, tặng quà, sửa chữa nhà cửa được tiến hành tiến hành thường xuyên, đúng đối tượng Từ năm 2004, với việc thực hiện chương trình hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo, 100% số nhà dột nát trên địa bàn Thành phố đã được nâng cấp Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng lên Nhiều chương trình thiết thực giúp các hộ nghèo thoát nghèo đã thu được kết quả Năm 2012, Thành phố đã giảm được 178 hộ nghèo (đạt 132% kế hoạch), đưa số hộ nghèo trên địa bàn

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 25 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xuống còn 359 hộ, cận nghèo là 328 hộ (so với năm 2000 là 1.114 hộ) Hằng năm, Thành phố giải quyết việc làm cho từ 300 đến 3.500 lao động; riêng năm

2012 giải quyết được việc làm cho 5.600 lao động [66, tr 7]

Công tác an ninh - quốc phòng luôn được quan tâm chỉ đạo tập trung, thường xuyên phát huy được sức mạnh của các cấp, các ngành trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự chung của Thành phố, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Các cấp ủy đảng, chính quyền đã luôn coi trọng công tác xây dựng lực lượng thường xuyên, tại chỗ, giải quyết kịp thời mọi tình huống phức tạp, không để phát sinh “điểm nóng” Công tác bảo vệ an ninh Quốc gia, đấu tranh chống tội phạm, chống ma túy và các tiêu cực xã hội khác được coi trọng Nhằm duy trì ổn định an ninh trật tự xã hội, lực lượng Công an Thành phố tập trung trấn áp tội phạm, tăng cường công tác quản lí hành chính về trật tự xã hội; triển khai có hiệu quả các giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông Lực lượng

an ninh cơ sở, các mô hình tổ dân phố, khu phố tự quản về an ninh trật tự được củng cố và duy trì Công tác quốc phòng không ngừng được tăng cường Việc giáo dục tuyên truyền quốc phòng toàn dân được đẩy mạnh nhằm nâng cao kiến

thức cho cán bộ, nhân dân về nhiệm vụ quốc phòng, nhận rõ âm mưu “diễn biến

hòa bình” của các thế lực thù địch Chế độ thường trực sẵn sàng chiến đấu

thường xuyên được duy trì, Cùng với việc xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ vững chắc, hằng năm, Thành phố đều hoàn thành 100% chỉ tiêu động viên tuyển quân Với những biện pháp tích cực đó, Hạ Long được đánh giá là địa bàn không có các tụ điểm phức tạp và tội phạm nguy hiểm có tổ chức Tình hình an ninh - quốc phòng của Thành phố luôn được giữ vững

Bên cạnh những thành tích đạt được, tình hình xã hội của thành phố Hạ Long vẫn còn nhiều hạn chế Tệ nạn xã hội, đặc biệt là buôn bán, nghiện hút ma túy, mại dâm vẫn còn diễn biến phức tạp Hiện tượng “cò mồi” ép khách ở các khu du lịch vẫn chưa được ngăn chặn Đời sống của người dân ở vùng sâu, vùng

xa còn nhiều khó khăn, khoảng cách về mức sống với khu trung tâm ngày càng

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 26 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lớn Công tác chỉ đạo chống các tệ nạn xã hội, như tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại chưa đạt hiệu quả cao Một số vụ việc xử lí chưa kịp thời, còn

có sai sót, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận; cá biệt có nơi nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng, gây tác động xấu đến công tác tư tưởng, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội

Những hạn chế, thách thức trên từng bước được tháo gỡ, giải quyết trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2013, đặc biệt việc thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư ở giai đoạn sau đã góp phần không nhỏ đến việc giải quyết những bất cập trong các vấn đề xã hội trên

Tiểu kết chương 1

Hạ Long là một thành phố trực thuộc, là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Ninh Trải qua nhiều lần tách, nhập với tên gọi khác nhau, đến năm 1993, thành phố Hạ Long được thành lập trên cơ sở diện tích và dân

số của thị xã Hồng Gai

Thành phố Hạ Long được thiên nhiên ưu đãi ban tặng nhiều lợi thế: Có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là tài nguyên biển và than đá

Hạ Long còn có Vịnh Hạ Long xinh đẹp, được công nhận là Di sản thiên nhiên

thế giới và là 1 trong 7 kì quan thế giới mới Đây chính là những ưu thế giúp

cho Hạ Long có điều kiện phát triển nền kinh tế khá đa dạng

Những thành tựu về kinh tế, xã hội trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1993) đã tạo tiền đề cho thành phố Hạ Long tiếp tục phát triển mạnh mẽ Dù còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, nhưng những thành tựu kinh tế, xã hội trong thời kì từ nửa sau thập kỉ 80 trở đi, nhất là từ khi bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là những điều kiện quan trọng giúp cho công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố

Hạ Long đạt được kết quả

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 27 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ THÀNH PHỐ

HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH (2001 - 2013)

2.1 Chủ trương của Trung ương về việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

2.1.1 Khái niệm văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Văn hóa là một phạm trù xã hội rộng lớn, gắn liền với đời sống con người, do con người tạo ra và phục vụ cuộc sống của con người

Theo nghĩa rộng, “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất

và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của

mình” [53, tr 10] Văn hóa mang tính chân, thiện, mĩ, phục vụ cho sự sinh

tồn và phát triển của con người và xã hội loài người

Văn hoá đóng vai trò cốt lõi trong giáo dục con người và hoàn thiện xã hội Nhờ có văn hoá, con người có thể được truyền đạt những tri thức và kinh nghiệm sống, những chuẩn mực giá trị của nhân loại cho cá nhân và cộng đồng Trải qua quá trình lịch sử, những tri thức, những kinh nghiệm được đúc kết thành những chuẩn mực, giá trị như đạo đức, pháp luật…, một phần được hun đúc thành phong tục, tập quán, lễ nghi và được chuyển tải trong ngôn ngữ thẩm thấu vào đời sống xã hội

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước

ta rất quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước được khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), quan điểm của Đảng ta vừa có sự kế thừa, vừa có những nhận thức mới, quan điểm mới về văn hoá Kế thừa truyền thống văn hoá của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của thời đại, dựa trên định hướng phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đổi mới tư duy về văn hoá, tiến đến

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 28 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhận thức mới, sâu sắc, toàn diện về văn hoá và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Trong thời kì đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của văn hoá hàm chứa nội dung lí luận thực tiễn sâu sắc, vừa bổ sung, phát triển lí luận văn hoá Mácxít, vừa tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của thời đại, đồng thời phù hợp với tình hình thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước ta trong thời kì đổi mới

Đời sống văn hoá là sự hiện diện, tồn tại và phát triển của đời sống tinh

thần trong toàn bộ hoạt động thực tiễn xã hội Đó là một bộ phận của đời sống

xã hội, gắn với những giá trị chân - thiện - mĩ, gắn với mọi sản phẩm vật chất

và tinh thần, với mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực xã hội

Đời sống văn hoá bao gồm một tổng thể những hoạt động văn hoá, những tác động qua lại trong đời sống cá nhân với cộng đồng, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và thúc đẩy sự phát triển của xã hội Có thể hiểu đời sống văn hoá như môi trường văn hoá, là cầu nối giữa văn hoá xã hội và văn hoá cá nhân Đó là một tổng thể những yếu tố văn hoá vật thể, phi vật thể và nhân cách văn hoá, cảnh quan văn hoá bao quanh con người, gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian, thời gian nào đó, trực tiếp hình thành nên lối sống và nếp sống của con người Đời sống văn hoá bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội và các yếu tố

cơ bản tạo nên văn hoá

Khu dân cư: Từ trước đến nay, khu dân cư chưa được Nhà nước và các ngành

chức năng nghiên cứu để có quy chuẩn Khái niệm khu dân cư chưa được thấy định

nghĩa trong các từ điển tiếng việt cũng như trong các văn bản của Nhà nước

Tuy nhiên, xét về phương diện tổ chức, khu dân cư không phải là một

cấp hành chính, nhưng dù tồn tại dưới hình thức, tên gọi nào, quy mô địa giới

hành chính đến đâu, thì khu dân cư vẫn có 3 đặc trưng chủ yếu sau:

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 29 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1- Khu dân cư là một cấu trúc cộng đồng bao gồm một số hộ gia đình tụ

cư, sống đan xen trong một khu vực địa lí nhất định (thôn, xóm, bản, khu phố )

Có khu dân cư tồn tại từ lâu đời, có khu dân cư mới đang trong quá trình hình thành, biến đổi tùy theo yêu cầu, cách sắp xếp, bố trí của mỗi địa phương

2- Các hộ dân sinh sống ở khu dân cư không phụ thuộc theo huyết thống,

có quan hệ gắn bó với nhau trong lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tinh thần, trong giao tiếp xã hội, tâm lí tư tưởng và ứng xử cộng đồng

3- Các hộ dân sinh sống ở khu dân cư ngoài chịu sự tác động, chi phối

của chủ trương, chính sách, pháp luật chung của Đảng, Nhà nước, còn chịu sự tác động chi phối của bộ máy chính quyền địa phương, của hệ thống chính trị khu dân cư cùng các phong tục, tập quán nơi bản thân mình cư trú, sinh sống

Theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đại hội lần thứ VI Mặt

trận Tổ Quốc Việt Nam thông qua tháng 9/2004, tại Điều 27, chương IV có ghi: Ban công tác Mặt trận được thành lập ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc,

khu phố (gọi chung là khu dân cư) Như vậy, có thể hiểu khu dân cư là nơi tập

trung sinh sống của nhiều hộ dân sinh sống, có quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống, là đơn vị hành chính nhỏ hơn phường, xã

Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư chính là bước đi, là cách thức

để xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Xây dựng đời sống văn hoá

ở khu dân cư là khơi dậy, lôi cuốn, bồi dưỡng, kích thích và huy động tối đa sức mạnh tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân vào hoạt động sáng tạo văn hoá nghệ thuật, tạo nên những sản phẩm văn hoá của chính cộng đồng ngay tại từng cụm dân cư, làng xóm, cơ quan, đơn vị, trường học…

Xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư là hướng vào mục tiêu phát triển toàn diện, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của đời sống con người, đóng góp vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, xây dựng cơ sở hạ tầng, cảnh quan, môi trường sống của cộng đồng; nâng cao học vấn, kiến thức và kĩ năng sống, văn hoá ứng xử trong cộng đồng, phát triển các hình thức sinh hoạt văn

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 30 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hoá, văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí, bài trừ mọi hoạt động văn hoá phản tiến bộ; thực hành nếp sống công dân, tôn trọng pháp luật, chấp hành chính sách xã hội Xây dựng lối sống dân chủ, tự quản trên cơ sở quy ước đồng thuận của cộng

đồng, xây dựng lối sống tình nghĩa, Uống nước nhớ nguồn, Đền ơn đáp nghĩa,

xoá đói giảm nghèo, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong cuộc sống…

2.1.2 Chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Ngay sau khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỉ nguyên độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội

Vừa mới ra đời, Nhà nước cách mạng rất chú trọng tới công tác vận động nhân dân xây dựng đời sống mới, từng bước xóa bỏ những tàn dư lạc hậu; đồng thời giáo dục nhân dân tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính Ngày 3/4/1946, Ủy ban Vận động đời sống mới Trung ương được thành lập để chỉ đạo cuộc vận động

Một năm sau, ngày 20/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống

mới Tác phẩm này được Ủy ban Vận động đời sống mới Trung ương cho xuất

bản, coi đây là tài liệu tuyên truyền học tập của các cấp chỉ đạo và của toàn dân

Trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược, cùng với đấu tranh quân sự, ngoại giao, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc Vừa kháng chiến, dân tộc ta vừa xây dựng một nền văn hóa mới có tính chất hợp với tinh thần dân tộc độc lập, hợp với khoa học, tiến bộ, hợp với tình hình và trình độ của đông đảo quần chúng nhân dân Từ ngày 16 đến ngày 20/7/1948, Hội nghị

văn hóa toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập, thông qua bản báo cáo Chủ nghĩa

Mác và văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh trình bày Bản

báo cáo nêu rõ lập trường văn hóa Mácxít, tính chất và nhiệm vụ văn hóa dân tộc dân chủ; phê phán những khuynh hướng và quan điểm văn hóa thực dân, phong kiến, tư sản; xác định thái độ đúng đắn của những người làm công tác

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 31 http://www.lrc-tnu.edu.vn/

văn hóa kháng chiến Mọi hoạt động văn hóa trong kháng chiên đều hướng theo

phương châm “văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa” Mặt trận

văn hóa đã góp phần không nhỏ tạo nên thắng lợi cho hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ

Trong công cuộc đổi mới của đất nước, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân

tộc Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã

hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6/1991) đã xác định nền văn hóa

tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong 6 đặc trưng cơ bản của chế độ

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kì mới, Hội nghị lần thứ 2 (1995) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

(khóa IV) đã quyết định mở cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc

sống mới ở khu dân cư, đồng thời ban hành Thông tư số 04-TT/MTTW ngày

3/5/1995 để hướng dẫn thực hiện cuộc vận động

Ngày 16/7/1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ban hành

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết ra đời nhanh chóng được các cấp ủy

đảng, chính quyền trong cả nước triển khai, nhân dân đồng tình hưởng ứng Nhiều

nhà nghiên cứu văn hóa đã đánh giá: Sau Đề cương văn hóa của Đảng năm 1943,

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa là văn kiện chuyên đề văn hóa đầu tiên của Đảng “trúng ý Đảng, hợp lòng dân”, đặt ra chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa nước ta trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w