Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ chú trọng và tập trung nghiên cứu định tố như một từ loại có ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu.. Đó là
Trang 1Pi
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Pii
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3Định tố động từ (ĐTĐT) là một thành phần phụ trong danh ngữ (DN), bổ nghĩa cho danh từ (DT) Tuy vậy, trong nhiều trường hợp nó lại là thành phần không thể thiếu được hoặc khó có thể thiếu được bởi thiếu nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cấu trúc, ý nghĩa, mục đích giao tiếp và giá trị thẩm mỹ của câu, của ngôn bản
Những vấn đề trên đặt người nghiên cứu trước một nhiệm vụ là phải lý giải, làm sáng tỏ đặc trưng về cấu trúc và xác định rõ những chức năng mà ĐTĐT có thể đảm đương trên các bình diện khác nhau
1.2 Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng - được viết trong thời gian nhà
văn công tác tại Sài Gòn - là một tùy bút dạt dào tình cảm nhớ thương hướng về
người vợ tấm mẳn tần tảo, dịu hiền và miền Bắc thương yêu bốn mùa của ngon,
cảnh đẹp, phong tục hay Tác phẩm là một tùy bút có sức hấp dẫn đặc biệt trong nền văn học Việt Nam đương đại không chỉ ở phương diện nội dung mà còn ở phương diện hình thức Một trong những cái tạo nên sức hấp dẫn đó chính là nghệ thuật sử dụng ngôn từ hết sức linh hoạt, sắc sảo và tinh tế Đặc biệt, như
nhà văn Vũ Ngọc Phan đã phát hiện Thương nhớ mười hai Vũ Bằng có lối tả
cảnh và nhân vật rất riêng, chú trọng vào hành vi Vậy nhưng, nghệ thuật ngôn
từ trong tác phẩm chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống Đó
là nguyên nhân để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu: Định tố động từ trong
Trang 42
“Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng Hi vọng công trình sẽ góp phần làm rõ hơn
giá trị của tác phẩm ở phương diện nghệ thuật cũng như tài năng của tác giả
1.3 Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy, nhưng lâu nay, ĐTĐT chưa được các nhà Việt ngữ học thực sự quan tâm Các nhà nghiên cứu như: Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Hồ Lê….đã ít nhiều quan tâm đến định tố Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ chú trọng và tập trung nghiên cứu định
tố như một từ loại có ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu Khi bàn về chức năng ngữ pháp của ĐT, các tác giả thường nói đến định tố như một vai trò ngữ pháp hoặc một trong những vai trò giữ pháp mà ĐT có thể đảm nhiệm
DN và thành phần định tố cũng đã được nghiên cứu trong những công trình ngữ pháp của các tác giả như: Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn Bên cạnh đó, hai tác giả Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha cũng đề cập đến việc phân loại định tố trong cấu trúc DN dựa vào chức năng Tuy nhiên, chưa xác định rõ nét các chức năng ở bình diện ngữ nghĩa hay ngữ dụng của định tố Gần
đây, công trình nghiên cứu Định tố tính từ trong tiếng Việt của TS Nguyễn Thị
Nhung cũng đã nói đến định tố, nhưng tác giả đi sâu nghiên cứu định tố là tính
từ chứ không chuyên sâu về ĐTĐT
Có thể nhận thấy rằng, về cơ bản, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống về ĐTĐT Chính vì thế, đây là
lý do để chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: Định tố động từ trong “Thương nhớ mười hai” của nhà văn Vũ Bằng
1.4 Nghiên cứu ĐTĐT ở các lĩnh vực trên, luận văn sẽ góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn sau:
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm hoàn thiện hơn hệ thống tri thức về các phương diện của ĐTĐT và việc sử dụng ĐTĐT trong tác phẩm văn chương
Trang 53
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được ứng dụng nâng cao hiệu quả tiếp nhận và sử dụng ĐTĐT trong tác phẩm văn chương nói riêng và trong giao tiếp nói chung
Có thể thấy, những vấn đề đặt ra ở trên đã khẳng định việc nghiên cứu
ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng là thật sự cần thiết
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, đã có những công trình nghiên cứu về
ĐT và phân loại ĐT trong tiếng Việt Đó là các công trình: Vị từ hành động và các tham tố của nó của Nguyễn Thị Quý; Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong; Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản; Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ của Vũ Thế Thạch; và gần đây nhất là Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc Các công trình này đã chỉ rõ ý nghĩa, khả năng
kết hợp, chức vụ ngữ pháp của từ loại ĐT và đề xuất các hướng phân loại từ loại này Nhưng các đặc trưng của ĐT khi nó đảm nhiệm một chức vụ ngữ pháp như chức vụ định tố thì chưa công trình nào quan tâm nghiên cứu
2.2 DN tiếng Việt và thành phần định tố của nó đã được đề cập ở nhiều
công trình nghiên cứu về ngữ pháp Đó là: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Tài Cẩn; Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản; Ngữ pháp tiếng Việt từ loại của Đinh Văn Đức; Cú pháp tiếng Việt của Hồ Lê; Về các thành tố phụ sau trung tâm trong DN tiếng Việt của Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha; Định ngữ là vị từ trong tiếng Việt (Luận văn ThS) của Đỗ Thị Ngọc Mai; Định tố tính từ trong tiếng Việt (Luận án TS) của Nguyễn Thị Nhung, Định tố danh từ trong tiếng Việt (Luận văn Th.S) của Nguyễn Thanh Nga
Những công trình trên đã nghiên cứu DN và thành phần định tố ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết, hệ thống về đặc điểm
cấu trúc và chức năng của thành phần định tố có bản chất từ loại là ĐT
1.3 Tác phẩm Thương nhớ mười hai của nhà văn Vũ Bằng là một tác
phẩm hay, có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc Vì thế, đã có một số đề tài,
Trang 64
tiểu luận viết về tác phẩm này như: Không gian hoài cổ trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng của Lê Thị Hải Vân; Nghệ thuật kết cấu Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng của Chế Diễm Trâm; Đặc trưng ngôn ngữ trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng của Hoàng Mai; Vẻ đẹp của ngôn từ trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng của Vũ Mai Phương;… Tuy nhiên, thành phần ĐTĐT trong
tác phẩm này chưa được quan tâm nghiên cứu cụ thể
Tóm lại, về cơ bản ĐTĐT chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, toàn
diện Do đó, việc tìm hiểu về ĐTĐT nói chung và ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai là một việc làm cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Qua việc làm rõ những đặc trưng về cấu trúc, chức năng của ĐTĐT
trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, có được những hiểu biết về tác dụng
cụ thể của ĐTĐT với một tác phẩm văn chương
- Đồng thời, cũng qua đó mà hiểu hơn về tài năng và phong cách văn chương của tác giả Vũ Bằng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra ba nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của định tố
- Phân tích, miêu tả đặc điểm cấu trúc của ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng
- Phân tích, miêu tả đặc điểm chức năng của ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng trên bình diện: ngữ nghĩa và ngữ dụng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là định tố có bản chất từ loại động từ
(ĐT, động ngữ) trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng (bản in của nhà xuất
bản Văn hóa – thông tin, Hà Nội, 2006, gồm 304 trang)
Trang 75
Những ĐTĐT đã khảo sát sẽ được nghiên cứu về mặt cấu trúc, mặt chức
năng (ngữ nghĩa, ngữ dụng) và tác dụng với việc thể hiện nội dung của Thương nhớ mười hai và phong cách văn chương Vũ Bằng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp:
- Phương pháp miêu tả: được sử dụng để phân tích đặc điểm mọi mặt của ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng các thủ pháp giải thích bên ngoài và các thủ pháp giải thích bên trong
+ Các thủ pháp giải thích bên ngoài:
Thủ pháp phân tích ngôn cảnh được sử dụng để nghiên cứu các tình
huống và các nhân tố văn hóa có ảnh hưởng đến việc sử dụng ĐTĐT của nhà văn Vũ Bằng trong tác phẩm của mình
Thủ pháp thay thế, tỉnh lược được sử dụng để hạn chế sự cảm tính chủ
quan khi miêu tả và giúp phân tích giá trị các ĐTĐT được Vũ Bằng sử dụng
+ Các thủ pháp giải thích bên trong như thống kê, phân loại, hệ thống hóa được sử dụng để xác định số lượng DN chứa ĐTĐT, số lượng các tiểu loại
ĐTĐT phân chia theo các tiêu chí khác nhau cũng như số lượng các thành tố
khác có trong DN chứa ĐTĐT ở Thương nhớ mười hai Thủ pháp phân tích nghĩa tố được sử dụng để chỉ ra ý nghĩa của các ĐTĐT trên bình diện ngữ nghĩa
và ngữ dụng
- Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng để phân biệt các nhóm ĐTĐT được
phân chia trên mỗi bình diện và phân biệt các nhóm ĐTĐT với cac nhóm định
tố có bản chất từ loại khác cũng trên từng bình diện
6 Đóng góp của luận văn
Với luận văn này, chúng tôi sẽ:
Trang 86
- Xác định vị trí, số lượng, cấu tạo, khả năng kết hợp của ĐTĐT trong
DN ở Thương nhớ mười hai
- Đưa ra khái niệm về các loại ĐTĐT phân theo chức năng trên bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng Làm rõ đặc điểm của mỗi loại ĐTĐT đó ở các mặt: vị trí,
số lượng ĐTĐT trong DN, cấu tạo, khả năng kết hợp và ngữ nghĩa, các tiêu chí
và kết quả chia tiểu loại ở mỗi loại ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
của chúng tôi gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương này trình bày những vấn đề lý luận cơ bản – những tri thức khái
quát về ĐT và ĐTĐT, các bình diện nghiên cứu ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
Chương 2: Định tố động từ trong “Thương nhớ mười hai” xét trên bình diện cấu trúc và bình diện ngữ nghĩa
Chương này tập trung làm sáng rõ vị trí, cấu tạo, khả năng kết hợp của ĐTĐT nói chung; xác định khái niệm ĐTĐT hạn định, ĐTĐT miêu tả (đây là hai loại ĐTĐT phân theo chức năng ngữ nghĩa), phân tích, miêu tả đặc điểm của hai loại ĐTĐT về vị trí, số lượng trong DN, cấu tạo, khả năng kết hợp, ngữ nghĩa và phân tiểu loại Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những đặc
điểm của ĐTĐT hạn định vì ĐTĐT miêu tả xuất hiện rất hạn chế trong Thương nhớ mười hai
Chương 3: Định tố động từ trong “Thương nhớ mười hai” xét trên bình diện ngữ dụng
Trong chương này, chúng tôi miêu tả bốn loại ĐTĐT phân theo chức năng ngữ dụng: ĐTĐT chiếu vật, ĐTĐT biểu đạt thông tin, ĐTĐT biểu thị hàm
ý và ĐTĐT trang trí Ở mỗi loại này, chúng tôi đều trình bày về khái niệm, điều
Trang 97 kiện sử dụng, phương tiện biểu đạt, cách sử dụng và khả năng thực hiện chức năng ngữ dụng cụ thể của nó
Trang 108
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm động từ tiếng Việt
Động từ – một từ loại đóng vai trò quan trọng trong tiếng Việt Đã có rất nhiều nhà Việt ngữ học nghiên cứu về từ loại này Theo Trần Trọng Kim :
“Động từ là tiếng biểu diễn cái dụng của chủ từ” (Dẫn theo Nguyễn Kim Thản,
[49,tr.230]) Theo Nguyễn Lân thì : “Động từ là thứ từ dùng để biểu diễn mộ t động tác , một trạng thái hoặc sự phát triển , sự biế n hóa của một trạng thái”
(Dẫn theo Nguyễn Kim Thản, [49,tr.230]) Nguyễn Kim Thản trong công trình Động từ trong tiếng Việt , tập 1, không chỉ đề cập đến đặc trưng ngữ nghĩa của
ĐT mà còn đề cập đến vai trò, điểm khác biệt giữa ĐT với danh từ: “Động từ là một từ loại đóng vai trò rất quan trọn g trong vị từ ” [51,tr.228]; là “từ loại biểu thị sự hoạt động (động tác, hành vi, biến hóa…) và trạng thái của vật chất, trước hết có những đặc trưng ngữ pháp trái ngược danh từ ” [51,tr.228] Nhóm tác
giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt còn quan tâm đến khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp
của động từ tiếng Việt: “Động từ là các hành động vật lý , tâm lý, sinh lý, có thể
đứng sau từ hãy và tham gia chức vụ vị ngữ trong câu” [16,tr.271]
Dựa vào ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cho rằng, có thể khẳng định đôi nét khái quát về động từ tiếng Việt trên các mặt : ý nghĩa, khả năng kết hợp, và vai trò ngữ pháp như sau:
- Về ý nghĩa của động từ tiếng Việt , tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn
“Ngữ pháp tiếng Việt từ loại” đã chỉ ra rằn g “Ý nghĩa của động từ trên bậc
khái quát nhất là ý nghĩa vận động - động từ chỉ các dạng vận động khác nhau của tất cả những gì nằm trong phạm trù thực thể ” [24,tr.127] Chúng tôi tán
Trang 119
thành với ý kiến này, có thể hi ểu, ý nghĩa vận động được cụ thể hoá bằng ý
nghĩa chỉ các hành động vật lý, tâm lý, sinh lý của sự vật
- Về khả năng kết hợp , do bản chất ngữ nghĩa và ngữ pháp , ĐT có khả năng kết hợp với các thành tố phụ rất đa dạng Khả năng kết hợp của ĐT được khái quát hóa trong cấu trúc của đoản ngữ ĐT (động ngữ)
ĐT tiếng Việt có khả năng kết hợp phổ biến về phía trước với các phó từ
biểu diễn sự tiếp diễn : vẫn, cứ, đều, cùng…; với các hư từ chỉ thời gian : đã, đang, sẽ, sắp,….Đặc biệt là ĐT có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ mệnh lệnh, sai khiến: hãy, đừng, chớ Cùng với đó, ĐT còn có thể kết hợp phía trước với các phó từ khẳng định: không, chẳng, chưa…
Khả năng kết hợp về phía sau của ĐT hết sức phong phú , thường là với
các thực từ và những hư từ chỉ sự kết thúc, hoàn thành: xong, rồi (học xong, học rồi…)
Ngoài ra, trong thực tế , chúng ta có thể thấy, ĐT tiếng Việt có khả năng
kết hợp với một số nhóm phụ từ chỉ mức độ: rất, hơi, lắm … ở cả phía trước và phía sau như: rất thích, hơi buồn, yếu lắm…
- Về vai trò ngữ pháp, ĐT tiếng Việt có thể làm vị ngữ đồng thời có thể làm yếu tố mở rộng của danh từ (DT) và yếu mở rộng của ĐT (bổ tố), trạng
ngữ Bên cạnh đó, ĐT cũng có vai trò làm chủ ngữ
Về chức năng làm vị ngữ của ĐT , tác giả Đinh Văn Đức ghi lại thống
kê của Nguyễn Việt Hưng (1970): 99% câu đơn tiếng việt có vị ngữ do ĐT và
TT đảm nhiệm Như vậy, làm vị ngữ là một vai trò rất quan trọng của ĐT Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận vai trò làm định tố của ĐT
Do đặc trưng ngữ nghĩa của mình mà ĐT hết sức hạn chế xuất hiện với vai trò chủ ngữ Khi xuất hiện với vai trò này, ĐT thường không còn giữ đầy đủ bản chất từ loại của nó nữa
Ví dụ: Thắc mắc này rất chính đáng
Trang 12ĐT còn có khả năng làm định tố (hay còn gọi là định ngữ) Ví dụ: tiếng
reo của gió; bệnh tương tư; cái thú ngâm thơ Bạch Tuyết mùa đông…
Khi nói về ĐT, chúng ta thường nói về một loại thực từ với chức năng chính làm vị ngữ Vậy vì sao ĐT còn có khả năng làm thành phần phụ ? Chúng tôi có thể giải thích như sau : ĐT có ý nghĩa khái quát chỉ trạng t hái, hoạt động của con người , sự vật; có khả năng giải thích nội dung, ý nghĩa của DT trước
nó Vì vậy, ĐT cũng có khả năng là thành tố phụ bổ sung ý nghĩa, chỉ trạng thái, hoạt động, chỉ ra những đặc trưng hạn định cho đối tượng nêu ở DT Như Đinh Văn Đức nói: “Bản chất của định ngữ là việc chỉ ra đặc trưng hạn định cho một khái niệm thực thể Những khái niệm khác nhau được người bản ngữ nhận thức như những đặc trưng , dù đó là một khái niệm về sự vật , về hành động , về tính chất, về quan hệ” [24,tr.125] Như vậy, làm định tố cũng là một chức vụ ngữ pháp phổ biến của ĐT Các tiểu loại ĐT khác nhau có khả năng làm định tố không giống nhau Và nhóm ĐT chỉ hoạt động, trạng thái cảm xúc là nhóm ĐT xuất hiện thường xuyên trong hoạt động giao tiếp nên nó có khả năng làm định
tố phổ biến hơn cả Còn ĐT chỉ tình thái và ĐT chỉ các trạng thái khác thì có khả năng làm định tố thấp hơn
Một vấn đề đáng quan tâm nữa đó là mặc dù ĐTĐT là một thành tố phụ trong câu nhưng có nhiều trường hợp thành tố này không thể vắng mặt , không thể lược bỏ Vì khi lược bỏ nó câu sẽ trống nghĩa và người đọc không thể xác định được nội dung
Trang 1311
Ví dụ: Lược bỏ những ĐTĐT: sống từ Hòa Bình đến Ngũ Châu , Lang Chính, vui, buồn, đấu vật, rụng… trong các ví dụ sau thì câu văn sẽ trở nên
trống nghĩa, vô nghĩa
- (Làm sao quên cho được ) những ngày sống tƣ̀ Hòa Bình đến Ngũ
Châu, Lang Chính…
- niềm vui; nỗi buồn; những cuộc đấu vật; những bông sao rụng; …
Những ĐTĐT không thể lược bỏ là ĐTĐT đứng sau các DT trống nghĩa
như: niềm, nỗi, sự, việc, cuộc, cái…hoặc sau những DT có thành phần phụ trước là: những, các, một…
1.1.2 Vấn đề ranh giới của động từ tiếng Việt
Có thể xác định ranh giới củ a ĐT với TT, DT - hai từ loại gần gũi với
nó trong hệ thống từ loại tiếng Việt như sau:
- Phân biệt ĐT với TT:
+ Về khả năng kết hợp, ĐT rất gần với TT bởi đều có khả năng kết hợp
với năm nhóm thành tố phụ trước (phó từ): nhóm phó từ chỉ thời thể (đã, sẽ, đang….), phó từ chỉ sự tiếp diễn tương tự (vẫn, còn, cũng….), phó từ phủ định (không, chẳng, chưa) Tuy nhiên, chính ở đây, cũng có sự phân biệt Đó là nhóm phó từ chỉ mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ….) kết hợp phổ biến với ĐT thì hạn chế kết hợp với TT; ngược lại, nhóm phó từ chỉ mức độ (rất, hơi, quá, lắm…)
lại là nhóm thành tố phụ tiêu biểu của tính từ TT
+ Về chức vụ ngữ pháp , ĐT và TT giống nhau ở điểm, cùng đảm nhận chức vụ vị ngữ Nhưng nếu như vị ngữ là chức vụ ngữ pháp chính của ĐT thì không ai khẳng định điều đó ở từ loại từ TT Mà chức vụ ngữ pháp chính của
TT là chức vụ định tố Kết luận này đã được TS Nguyễn Thị Nhung trong công trình
nghiên cứu Định tố tính từ trong tiếng Việt với nhiều cơ sở giàu sức thuyết phục
+ Trong sử dụng: Những từ láy tượng thanh như : xôn xao , róc rách , chập chờn , dập dờn… nếu kết hợp với các ĐT chỉ hoạt động của sự vật như:
(bay, chảy…) thì nó là những TT chỉ cách thức của hành động : bay dập dờn,
Trang 1412
chảy róc rách… Nhưng khi kết hợp trực tiếp với những hư từ chỉ thời gian (đã,
đang, sắp…), những hư từ chỉ sự tiếp diễn (vẫn, còn, cứ…) thì các từ này lại có
tư cách của từ loại ĐT
Ví dụ: - Suối vẫn róc rách
- Nó đã chập chờn rồi
- Đàn bướm đang dập dờn trên mặt ao
- Phân biệt ĐT với DT:
Có một số nhóm ĐT cần phân biệt với DT như sau:
+ Đầu tiên, phải kể đến nhóm các từ chỉ hiện tượng tự nhiên , thiên nhiên
như: mưa, nắng, sấm, chớp… Theo chúng tôi, nhóm từ này nên coi là DT khi
nó có thể kết hợp được với các từ chỉ đơn vị như : cơn mƣa, tia nắng, ánh
nắng…trong câu Những trường hợp còn lại, các từ trên là ĐT Ví dụ: nắng
(quá), mưa (rồi),…
+ Thứ hai, chúng tôi nói đến nhóm từ vốn là ĐT như: thắc mắc, suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu… Khi kết hợp với các DT trống nghĩa (sự, việc, cuộc…) thì
những từ ấy sẽ trở thành DT Ví dụ: sự thắc mắc, việc nghiên cƣ́u…
+ Thứ ba , nhóm từ : bó, buộc, bọc, bước, búi, cuốn, cuộn, châm, chống, dúm, gạch, gói, nắm… vốn là nhóm ĐT từ chỉ hoạt động của con người hay nói
chính xác hơn là hoạt động của các bộ phận trên cơ thể con người (tay, chân,…) Chúng trở thành DT chỉ đơn vị vật thể mà hoạt động ấy có thể đưa lại
khi kết thúc Vấn đề trên đã được Nguyễn Kim Thản trình bày trong cuốn Động từ trong tiếng Việt Những ĐT này trở thành DT khi kết hợp về phía sau từ chỉ số đếm: một, vài, mấy, … Ví dụ: một bó, hai cuộn, mấy gói, vài bọc…
+ Thứ tư , nhóm ĐT vốn chỉ hành động làm tổn hạ i đối tượng cũng
chuyển thành DT chỉ đơn vị: đá, đập, đạp, quật, tát, thụi… khi kết hợp về phía sau với DT chỉ đơn vị: cái, quả, phát, … Ví dụ: cái tát, quả đấm, phát tát…
Trang 1513
+ Thứ năm, một số DT như: cơm nước, anh em, bạn bè,… bị ĐT hóa khi
kết hợp về phía trước những phó từ khẳng định trong một vài trường hợp giao tiếp như:
* Chẳng cơm nước gì cả!
* Tôi không anh em, bạn bè gì với anh nữa
1.1.3 Phân loại động từ tiếng Việt
Có nhiều tiêu chí để phân loại ĐT tiếng Việt Tiêu chí được sử dụng để phân loại ĐT phổ biến nhất là dựa vào khả năng kết hợp với các p hó từ
chỉ mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ) của ĐT Về vấn đề này, tác giả Nguyễn Kim Thản trong Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt phân chia ĐT theo hai tiêu chí là
phân chia theo sự phân phối các hư từ hay bán hư từ p hục vụ ĐT ( phân loại có tính chất từ pháp) và tiêu chí dựa vào tính chát chi phối bổ ngữ của ĐT
Khác với cách phân chia ĐT của tác giả Nguyễn Kim Thản , tác giả Hồ
Lê trong cuốn “ Cú pháp tiếng Việt – quyển II – Cú pháp cơ sở” đã phân chia
ĐT thành 4 tiểu loại: ĐT tâm lý (động từ tình thái); ĐT cảm thụ; ĐT trực hành; Động từ hành đạt
Một số tác giả khác như Lê Đình Tư thì phân chia ĐT thành hai loại động từ độc lập và động từ không độc lập
Với những cách phân loại trên của các nhà ngôn ngữ học , chúng tôi tán thành việc phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa, coi việc phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa là cơ sở cho việc phân tiểu loại ĐTĐT trên bình diện ngữ nghĩa
Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà ngữ pháp học, chúng tôi xin đề nghị một cách phân loại ĐT tiếng Việt như sau:
Trước hết, ĐT tiếng Việt được chia làm hai nhóm lớn: Động từ độc lập
và động từ không độc lập
* Động từ không độc lập: được phân chia thành các nhóm nhỏ: Động từ tình thái và động từ quan hệ
Trang 1614
- Nhóm động từ tình thái: là những ĐT trống nghĩa, biểu thị tình thái vận
động, quá trình nhưng tự thân chưa mang nghĩa trọn vẹn
Dựa vào ý nghĩa, tác giả chia nhóm ĐT tình thái thành các tiểu loại sau:
+ ĐT chỉ sự cần thiết: cần, nên, cần phải, khỏi, khỏi phải…
+ ĐT chỉ khả năng: có thể, không thể, chưa thể
+ ĐT chỉ ý nguyện: toan, định, dám, chực, muốn, mong…
+ĐT chỉ sự thụ động: bị, được, phải…
- Nhóm động từ quan hệ: Là những ĐT biểu thị quan hệ giữa chủ thể với
nội dung nêu ở từ ngữ sau ĐT chỉ quan hệ
Nhóm ĐT quan hệ này bao gồm các tiểu loại:
+ Nhóm ĐT chỉ quan hệ đồng nhất (theo nghĩa rộng) như: là, làm
+ Nhóm ĐT quan hệ biến hóa: thành, hóa thành, biến thành, hóa ra, …
+ Nhóm ĐT quan hệ diễn biến trong không gian: gần, xa, ở, gần gụi…
* Động từ độc lập: gồm hai nhóm động từ nội động và động từ ngoại động
- Nhóm động từ nội động: là những ĐT chỉ trạng thái hay hoạt động
hướng tới, tác động tới một đối tượng nào đó ở bên ngoài chủ thể
Các nhóm ĐT nội động:
+ Nhóm ĐT chuyển động (chỉ sự vận động di chuyển) như: đi, chạy, bò, lăn, bơi, trườn, lên, xuống,…
+ Nhóm ĐT chỉ trạng thái như: vỡ nứt, ngủ, bối rối…
+ Nhóm ĐT tồn tại như: còn, có, nảy sinh, nở, mọc, lặn, nổi, sống, chết, tàn, tắt, tan, hết…
+ Nhóm ĐT tượng thanh có thể chuyển hóa thành động từ nội động: chí chóe, nheo nhéo, ùng ục…
- Nhóm động từ ngoại động: Là những ĐT chỉ các hoạt động hướng tới
hoặc tác động với đối tượng bên ngoài chủ thể Nhóm ĐT này đòi hỏi có BN bắt buộc
ĐT ngoại động gồm các tiểu nhóm sau:
Trang 1715
+ Nhóm ĐT tác động tích cực (kết quả của nó làm thay đổi về trạng thái, tính chất, vị trí của đối tượng) như: ăn, học, xây, lau, chặt, đào, trồng, may, cắt, giết, gánh…
+ Nhóm ĐT chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể (hoạt động mà chủ thể gây
ra và chuyển tới bộ phận cơ thể mình) như: chép, lim dim, nhắm, ngửa, nhăn, nháy, phùng, trợn, vẫy, vục, vươn…
+ Nhóm ĐT chỉ hoạt động cảm xúc (chi phối một bổ ngữ) như: yêu ghét, nhớ, thương, chán,…
+ Nhóm ĐT cảm nghĩ nói năng (chi phối một bổ ngữ) như: nghĩ, tin, thấy, bảo…
+ Nhóm ĐT trao nhận (chi phối hai bổ ngữ) như: cho, đưa, nhận, vay, mượn… + Nhóm ĐT gây khiến (chi phối hai bổ ngữ) như: bảo, khiến, yêu cầu, mời… + Nhóm ĐT chuyển dời đối tượng (chi phối hai bổ ngữ) như: du, đẩy, đặt, tra, xâu…
+ Nhóm ĐT đánh giá, nhận xét (chi phối hai bổ ngữ) như: coi, lấy, gọi, xác nhận…
Và trong quá trình nghiên cứu ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai, chúng
tôi sẽ phân loại các loại ĐTĐT dựa trên cách phân loại mà chúng tôi đề xuất trên đây
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CỤM TỪ , ĐOẢN NGƢ̃, DANH NGƢ̃, ĐỊNH TỐ, ĐỊNH TỐ ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
1.2.1 Cụm từ
Nói về cụm từ , Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt – tập 2 đã
định nghĩa như sau : “Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp “tự do” với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu”[7,tr.6]
Đơn vị này gồm cụm từ chính phụ ; cụm chủ vị và cụm đẳng lập Cụm chính phụ l à cụm từ mà các thành tố có quan hệ chính phụ với nhau Cụm từ
Trang 1816
chủ vị là cụm từ mà các thành tố có quan hệ chủ – vị với nhau Cụm từ đẳng lập
là cụm từ mà các thành tố có quan hệ bình đẳng với nhau
1.2.2 Đoản ngữ (ngữ, cụm chính phụ, từ tổ, nhóm từ)
Đoản ngữ là cụm từ chính phụ Là cụm từ “trong đó một từ giữ vai trò
thành tố chính về ngữ pháp , từ kia giữ vai trò phụ thuộc vào thành tố chính về mặt ngữ pháp”[7,tr.10]
Ví dụ các cụm từ sau: (1) Những học sinh viết bút xanh ấy (cụm DT)
- Danh ngữ là đoản ngữ có DT làm trung tâm
- Đã có nhiều tác giả quan tâm đến mặt cấu tạo của DN Hầu hết cho rằng, DN bao gồm: bộ phận trước trung tâm, trung tâm và bộ phận sau trung tâm Sau đây là những diễn giải của Nguyễn Tài Cẩn về những vấn đề nêu trên:
Phần đầu DN do các hư từ đảm nhiệm, có số lượng hạn chế , có sự phân bố vị trí rành mạch và thường gia thêm chi tiết phụ không có tác động đến ngoại diên của khái niệm biểu thị bằng DTTT
Phần đầu của DN có tối đa ba vị trí Ba vị trí này có thể đều được thể hiện bằng các thành tố trong cùng một lúc , mà cũng có thể chỉ một hay hai vị trí, hay không có vị trí nào được thể hiện ra Cả ba vị trí trong phần phụ trước
DN có trật tự ổn định, không thể chuyển đổi cho nhau
Bảng 1: Phần phụ trước trung tâm DN
Trang 1917
Chỉ tổng lượng Chỉ số lượng Chỉ xuất T1 T2
- Bộ phận trung tâm của DN:
+ Có thể là trung tâm đơn như tư tưởng trong cụm từ: Tất cả những tư tưởng ấy,…
+ Có thể là trung tâm ghép như con (T1) – gà (T2) trong ví dụ đã
nêu trên
- Bộ phận cu ối DN : theo các tác giả cùng quan điểm với Nguyễn Tài Cẩn, bộ phận cuối DN gồm hai bộ ph ận, thuộc vị trí 1 và vị trí 2 Vị trí 1 đứng gần trung tâm hơn , có ba thành tố phụ sau , chúng có quan hệ phụ t huộc vào thành tố chính – trung tâm DN Định tố ở vị trí 1 bổ sung ý nghĩa trực tiếp cho
DTTrT Định tố ở vị trí 2 là những đại từ thay thế: này, kia, nọ ấy…
Như vậy, theo cách phân loại của Nguyễn Tài Cẩn và một số tác giả thì chúng tôi có thể khát quát lại sơ đồ về cấu tạo DN như sau:
Bảng 2: Tổng hợp hoàn chỉnh cấu trúc DN
Ví dụ: Trong câu: Những quả na này chín hết rồi !
Trong hoàn cảnh cụ thể, ta có thể nói là:
Những quả này chín hết rồi!
Hoặc cách nói tỉnh lược khác mà người đọc vẫn hiểu được nội dung của
câu là: Na này chín hết rồi!
Trang 2018
Theo quan hệ ngữ pháp , các thành tố phụ trước có quan hệ trực tiế p với trung tâm hơn các các thành tố phụ sau DN Vì vậy, khi xét ĐTĐT trên bình diện ngữ nghĩa chúng tôi đặt ĐTĐT trong quan hệ với tổ hợp gồm DT và các thành tố ở phần đầu này
1.2.4 Định tố và định tố động tƣ̀
Những tác giả dùng tên gọi định tố là Nguyễn Tài Cẩn , Nguyễn Thiện
Giáp, Nguyễn Thị Nhung…Còn các tác giả : Đinh Văn Đức, Hoàng Dũng – Nguyễn Thị Ly Kha, Nguyễn Minh Thuyết , Nguyễn Văn Hiệp… dùng tên gọi
Theo TS.Nguyễn Thị Nhung , “Định tố là một thành phần phụ của cụm danh từ trong câu có chức năng bổ sung thêm cho thành phần chính bằng quan hệ phụ thuộc chỉ ra thuộc tính , tính chất của người , sự vật, hiện tượng do danh từ làm thành phần chính gọi tên” [44,tr.39]
Trang 2119
ĐT có hai vị trí : đứng trước và đứng sau trung tâm DN Những định tố
thuộc phần đầu DN gồm : định tố chỉ tổng lượng (tất cả ), số lượng (những, các ), chỉ xuất (cái) Những định tố thuộc phần sau DN gồm các thực từ : ĐT,
DT, TT Và trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về định tố
thuộc phần sau DN – ĐTĐT
Định tố động từ là định tố có bản chất từ loại ĐT, có cấu tạo là từ (ĐT)
hoặc ngữ tự do (động ngữ) Hay nói cách khác: định tố do ĐT cụm ĐT đảm nhiệm được gọi là Định tố động từ
Trong công trình này , ĐTĐT được đặt trong DN cả khi DN được xét như một đơn vị độc lập , tĩnh tại (tức là nghiên cứu ĐTĐT trên bình diện ngữ nghĩa) và khi DN được xét trong h oạt động giao tiếp (tức là nghiên cứu ĐTĐT
trên bình diện ngữ dụng) Và chúng tôi theo cách gọi là định tố của Nguyễn Tài Cẩn để phân biệt và tránh nhầm lẫn với cách gọi định ngữ của một số tác giả
1.2.4.2 Về chƣ́c năn g khái quát của định tố và sƣ̣ phân loại định tố theo chƣ́c năng
a) Về chức năng khái quát của định tố
Các công trình nghiên cứu chung về ngữ pháp tiếng Việt đều cho rằng các thành tố cuối của DN tiếng Việt có chức năng hạn định
Khi nói đến chức năng của định tố (định ngữ) với tư cách là một thành tố trong phần cuối DN, tác giả Đinh Văn Đức đã đánh giá “Các thành tố phụ đứng sau DT có chức năng hạn định và chỉ định cho DT mà thực chất là bao gồm cả cái ngoại diên của khái niệm đượ c biểu đạt bằng danh từ” [24,tr.89), và “Định ngữ là một phạm trù phức tạp Chức năng của nó là hạn định” [24,tr.91 Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi DTTrT là DT riêng, đã được xác định cụ thể thì định tố ở sau đó không đảm nhiệm chức năng hạn định nữa, nó đảm nhiệm chức năng khác mà các tác giả nói trên chưa đề cập đến Chẳng hạn
trong những chậu gốm Giang Tây đóng hộp này, đã được gửi đi hôm qua,
(đóng hộp không có chức năng hạn định)
Trang 2220
b) Vấn đề phân loại định tố theo tiêu chí chức năng
Các nhà Việt ngữ học quan tâm đến sự phân loại ĐT ở phần cuối DN có thể chia thành hai nhóm: nhóm nghiêng về sự phân loại theo cấu trúc và nhóm nghiêng về sự phân loại theo chức năng
Trước hết, là những quan điểm về sự phân loại theo cấu trúc
Đại diện của nhóm này là N V.Xtankêvich và Nguyễn Tài Cẩn Theo Nguyễn Tài Cẩn “Về mặt tổ chức, định tố đầu trong tuyệt đại số trường hợp đều xuất hiện dưới dạng của một từ , định tố cuối thường lại rất dễ kèm thêm thành tố phụ để phát triển thành một đoản ngữ n hỏ Trong tiếng Việt , khi định tố là một mệnh đề, thì bao giờ đó cũng là một định tố cuối” [12,tr.205]
Những định tố (định ngữ ) biểu thị bằng các từ loại khác nhau thì có ý nghĩa và đặ c điểm ngữ pháp khác nhau Điều này thể hi ện sự phong phú , đa dạng của định tố tiếng Việt
Nếu định tố là DT thì nó “nêu tên một sự vật làm đặc trư ng cho sự vật nêu ở trung tâm , hoặc nêu lên sự vật có quan hệ vớ i sự vật nêu ở trung tâm” [12,tr.238], còn nếu tính từ làm định tố thì bao giờ cũng dùng để nêu lên đặc điểm miêu tả, đặc điểm số lượng , tính chất của sự vật định tố do từ loại động từ đảm nhiệm nêu lên “hành động , trạng thái tâm tình của chủ thể ,…, nêu một hành động mà không phải do sự vật nêu ở trung tâm làm ra ,…, nêu một hành động giải thích thêm cái nội dung của điều nêu ở trung tâm” [12,tr.240]
Nhóm tác giả thứ hai mà đại diện là Nguyễn Kim Thản , Cao Xuân Hạo , Hoàng Dũng – Nguyễn Thị Ly Kha… đã đưa ra quan điểm về trung tâm DN không đồng nhất với quan điểm thứ nhất Các tác giả nhóm thứ hai này c ho rằng: trung tâm DN chỉ có một vị trí là vị trí đầu ngữ Tức là, trong khi các tác giả nhóm một cho rằng trung tâm DN gồm hai vị trí T 1 và T 2 thì các tác giả nhóm hai chỉ coi DN có một trung tâm là T 1 Tuy nhiên, nhóm tác giả này là nhóm đầu tiên phân loại định tố tiếng Việt theo chức năng một cách tương đối hệ thống
Trang 23do những đại từ : ấy, này, kia, … đảm nhiệm” [49,tr.130] Định ngữ ở vị trí +2
được biểu hiện qua 4 vị trí khác nhau với 4 chức năng khác nhau : vị trí 2a “có tác dụng phân biệt ch ủng loại DT được hạn định” ; vị trí 2b “chi tiết hóa đặc điểm của sự vật”; vị trí 2c “có tác dụng chủ yếu là miêu tả sự vật” ; vị trí 2d “có tác dụng miêu tả thêm sự vật”
Các tác giả còn lại đã phân ra được một số loại định tố có những điểm phân biệt rõ rệt về mặt chức năng , nhưng các tiêu chí phân loại, nhận diện chưa thật nhất quán, ranh giới giữa các loại định tố chưa rõ ràng Ví dụ, nhóm tác giả
cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [16,tr.145] xác định định ngữ chỉ loại dựa vào nghĩa của định tố trong DN độc lập , nhưng xác định định ngữ chỉ đặc trưng và định ngữ trang trí lại dựa vào việc xét DN trong quan hệ với ngữ cảnh,
mục đích sử dụng cụ thể
Tóm lại, sự phong phú về số lượng, đa dạng về kiểu cấu tạo và ngữ nghĩa của các thành tố phụ sau của DN tạo nên sự phức tạp và khó khăn trong quá trình phân loại chúng Các quan điểm phân loại ĐT của các tác giả là tài l iệu hữu ích cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này Nhưng cần phân loại ĐT trên các bình diện: cấu trúc và chức năng để có sự phân loại nhất quán Chúng tôi sẽ đi từ bình diện cấu trúc để từ đó tìm hiểu các chức năng tiềm tàng, các chức năng thực tế , lâm thời của ĐT Theo hướng phân loại này , đề tài của chúng tôi lấy định tố có bản chất từ loại ĐT để xem xét mặt cấu trúc và mặt chức năng
Trang 2422
b) Phân biệt định tố động từ với vị ngữ động từ
DN có ĐTĐT với cụm chủ vị có vị ngữ là ĐT không phải lúc nào cũng
dễ phân biệt Bởi giữa chúng có điểm giống nhau về số lượng , trật tự các từ và quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng Cụ thể là:
- Chúng đều có cấu tạo hai thành tố: DT và ĐT (cụm DT và cụm ĐT)
- Có trật tự từ như nhau: (DT – ĐT)
- Nghĩa biểu hiện giống nhau : DT biểu hiện một thực thể mà hoạt động , trạng thái của nó do ĐT đi sau biểu hiện
Vậy nguyên nhân của hiệ n tượng giống nhau này là gì? Tác giả Nguyễn
Văn Lộc đã giả thích rằng: đó là hiện tượng đồng hình trong tiếng Việt , và “bắt
nguồn từ đặc tính không biến hình của từ và từ đặc điểm về cách biểu hiện của
vị ngữ và định ngữ trong tiếng Việt” [44,tr.115]
Các tác giả Bùi Minh Toán , Nguyễn Văn Lộc và một số tác giả khác cũng đã đưa ra cách xác định , phân biệt DN có ĐTĐT với vị ngữ ĐT dựa vào 3
mặt: nội dung, hình thức, và văn cảnh
Sau đây chúng tôi trình bày n hững điểm khác nhau về mặt nội dung
và hình thức của DN có ĐTĐT với vị ngữ ĐT
Bảng 4: Đối chiếu ĐTĐT với vị ngƣ̃ động tƣ̀
Về nội
dung
- Cùng DTTT biểu thị một sự vật ,
một đối tượng
VD: Cậu bé đá bóng ở ngoài
sân là học sinh của tôi
- Có quan hệ phụ thuộc một chiều
với DT
- Cùng chủ ngữ biểu thị một sự kiện, phán đoán hay nhận định VD:
Cậu bé /đá bóng ở ngoài sân
C V còn chị của cậu thì nấu cơm trong bếp
- Có quan hệ hai chiều , qua lại với
Trang 2523 chủ ngữ
- DN chứa ĐTĐT có thể thay thế
bằng đại từ xưng gọi: nó, hắn, y
VD: Nó là học sinh của tôi (+)
- DTTT có khả năng bổ sung một
trong các đại từ để trỏ: này kia ,
nọ, ấy….vào cuối DN có ĐTĐT
VD:Cậu bé đá bóng ở ngoài
sân đó/ấy/kia đã mồ côi cả cha
lẫn mẹ (+)
- Không thể bổ sung từ thì giữa
DTTT với ĐTĐT
VD: Cậu bé thì đá bóng ở ngoài
sân đã mồ côi cả cha lẫn mẹ.(-)
không có nghĩa
- Được phát âm rõ ràng tách biệt với chủ ngữ
-Cụm chủ vị có vị ngữ là ĐT không
có khả năng thay thế này:
VD: Khi ta thay cụm từ trên bằng
từ: nó, hắn, y thì câu không còn ý
nghĩa
Nó còn chị của cậu thì nấu cơm trong bếp.(-)
- Không có khả năng bổ sung một
trong các đại từ để trỏ: này, kia,
nọ, ấy…vào cuối cụm C-V
VD: Cậu bé đá bóng ở ngoài sân đó/ây/kia còn chị của cậu thì
nghĩa (-)
- Có thể thêm từ thì vào giữa chủ
ngữ và vị ngữ động từ
VD: Cậu bé thì đá bóng ở ngoà i sân còn chị của cậu thì nấu cơm trong bếp.(+)
Trang 26Ở câu thứ hai , Cậu bé thì đá bóng ở ngoài sân còn chị của cậu thì nấu cơm trong bếp, sau cậu bé thì đá bóng ở ngoài sân là cấu trúc với tính chất chủ
vị rõ ràng tạo thành một vế câu được nối bằng quan hệ từ đẳng lập còn Vì chức năng của còn là nối kết các thành tố đồng loại (đều là cụm chủ vị ) nên có thể suy ra cấu trúc đứng trước còn (cậu bé đá bóng ở ngoài sân ) cũng là cụm
chủ vị
Bên cạnh đó, còn có thể dựa v ào các yếu tố khác cùng xuất hiện với DN
hoặc cụm chủ vị cần phân biệt Ví dụ: trước DTTrT có các từ như : những, cái, một thì ĐT đứng sau thường là định tố bổ sung ý nghĩa cho DTTrT chứ không phải là vị ngữ (những cậu bé đá bóng ngoài sân)
1.3 CÁC BÌNH DIỆN NGHIÊN CỨU ĐỊNH TỐ ĐỘNG TỪ
Để có thể có cái nhìn toàn diện về ĐTĐT, chúng tôi sẽ nghiên cứu đối tượng này trên hai bình diện: bình diện cấu trúc và bình diện chức năng
1.3.1 Bình diện cấu trúc của định tố động tƣ̀
Cấu trúc là một thuật ngữ để thể hiện hình thức tổ chức nhất định của các
yếu tố trong một hệ thống nhằm thực hiện các chức năng của các yếu tố đó Các yếu tố trong cấu trúc có mối quan hệ liên kết với nhau chặt chẽ
Bình diện cấu trúc của ĐTĐT bao gồm các yếu tố và quan hệ giữa các yếu tố tạo nên ĐTĐT Nhưng khi nghiên cứu về ĐTĐT thì chúng tôi không thể nghiên cứu một cách độc lập mà phải đặt nó trong mố i liên hệ với các yếu tố
Trang 2725
khác trong DN Tức là cần thấy được mối liên hệ giữa ĐTĐT với các thành tố trung tâm, các thành phần phụ trước và sau DN Những vấn đề này có liên quan đến việc nhận diện ĐTĐT và các tiểu loại ĐTĐT trong DN , liên quan đến các chức năng mà ĐTĐT có thể đảm đương
Khi nghiên cứu ĐTĐT, chúng tôi nghiên cứu qua các mặt: vị trí, số lượng, cấu tạo, các dạng biểu hiện của ĐTĐT trong cấu trúc DN có chứa ĐTĐT
1.3.2 Bình diện chƣ́c năng của định tố động tƣ̀
1.3.2.1 Khái niệm chức năng và các bình diện chức năng của định tố
a) Về khái niệm chức năng
- Theo Từ điển bách khoa quốc tế : Chức năng là “mối quan hệ giữa hình
thức ngôn ngữ và các thành phần khác trong câu hay các đơn vị l ớn hơn mà ở
đấy nó được sử dụng.” [Dẫn theo TS Nguyễn Thị Nhung, 44,tr.48]
Như vậy, chức năng của một đơn vị chỉ xuất hiện khi đơn vị đó ở trong câu hay trong các đơn vị lớn hơn, chức vụ ngữ pháp cũng là chức năng – chức năng ngữ pháp
- Theo Từ điển – bách khoa triết học : “Chức năng là một phương thức
hành vi vốn có của khách thể và đảm bảo sự tồn tại của khách thể đó hoặc sự
tồn tại của cái hệ thống mà nó tham gia vớ i tư cách là một yếu tố” [Dẫn theo
TS Nguyễn Thị Nhung, 44,tr.48]
Định nghĩa này đã khẳng định tầm quan trọng của chức năng với mỗi bản
thể sự vật: chức năng có liên quan tới sự tồn tại và phát triển của sự vật
- Nguyễn Tài Cẩn thì khẳng định , chức năng của một đơn vị được thể hiện qua vai trò của nó trong quan hệ với các đơn vị lớn hơn Chúng tôi tán thành quan điểm này và dựa vào đó để nghiên cứu ĐTĐT trong mối tương quan với các đơn vị trong hệ thống mà nó tham gia
- Ý kiến của một số tác giả như : Lê Xuân Thại , Nguyễn Lai cho rằng :
Chức năng được hiểu như là vai trò của một đơn vị nào đó trong sự hành chức
của nó
Trang 2826
Có thể thấy, các tác giả đều có một quan điểm chung cho rằng: chức năng
là điều kiện để ĐTĐT tồn tại Vì thế, nghiên cứu ĐTĐT không thể không quan tâm đến chức năng của nó
Như vậy, xét ĐTĐT trên bình diện cấu trúc , trước hết là xét vai trò , nhiệm vụ của ĐTĐT trong việc kiến tạo nên DN Khi DN tham gia vào câu và ngôn bản, góp phần thực hiện mục đích giao tiếp cụ thể của người nói , người viết Vậy, xét ĐTĐT trên bình diện chức năng còn là tìm hiểu vai trò , nhiệm vụ của nó trong các đơn vị giao tiếp, trong việc thực hiện giao tiếp
b) Các bình diện chức năng của định tố động từ
Theo Đỗ Hữu Châu , chức năng của ngôn ngữ c hia thành hai phạm trù
lớn: chức năng hướng ngoại và chức năng hướng nội
Theo tác giả , “Chức năng hướng ngoại là các chức năng theo đó ngôn
ngữ như hệ thống toàn vẹ n phục vụ cho các hệ thống, môi trường lớn hơn đã
sản sinh ra nó, tức là xã hội Chức năng hướng nội là chức năng của các cấp độ,
các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ phục vụ cho chính hệ thống ngôn ngữ , nhằm đảm bảo cho sự cân bằng , ổn định tương đối của ngôn ngữ, nhờ sự ổn định, cân bằng tương đối này mà ngôn ngữ mới có thể thực hiện được c ác chức năng hướng ngoại của mình” [44,tr.50]
Các tác giả ngôn ngữ học Mỹ và một số nhà ngôn ngữ học châu Âu theo thuyết ký hiệu học của Ch.w.Morris (1938) Họ cho rằng, ký hiệu học ngôn ngữ
gồm kết học, nghĩa học và dụng học
M.Haliday thì xác định mặt nghĩa gồm ba bình diện của mô hình tam
phân, đó là: siêu chức năng biểu ý , siêu chức năng liên phân và siêu chức năng ngôn bản
Các nhà ngôn ngữ học ngày nay, trong đó có Cao Xuân Hạo thì cho rằng, các yếu tố thuộc mỗi bình diện trong các tổ chức tam phân này đ ược xác định
thành ba bình diện sau : bình diện cú pháp (tiêu chuẩn hình thức thuần túy của
Trang 29Các chức năng cần xét của ĐTĐT là những chức năng hướng ngoại, hay
đó là chức năng xét trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng bởi bản thân ĐTĐT
là một đơn vị từ loại đang thực hiện chức năng cú pháp
Trong công trình này , chúng tôi nghiên cứu chức năng của ĐTĐT chính
là nghiên cứu nó trên bình diện ngữ nghĩa và bình diện ngữ dụng
1.3.2.2 Nội dung nghiên cƣ́u chƣ́c năng định tố động từ
a) Nghiên cứu định tố động từ trên bình diện ngữ nghĩa
Nghiên cứu ĐTĐT trên bình diện này là việc tìm hiểu ĐTĐT trong hoạt động hành chức ở DN Chức năng của ĐTĐT trên bình diện ngữ nghĩa là chức năng mang tính chấ t ổn định, luôn tiềm tàng ở ĐTĐT trong một số trường hợp sử dụng
Trong DN, có nhiều ĐTĐT có thể kết hợp với DTTrT để biểu thị một loại hay một sự vật trong chủng loại sự vật nêu ở DTTrT , tức là có vai trò thu hẹp ngoại diên của đối tượng nêu ở DTTrT nên nó có chức năng hạn định
Ví dụ: cá phơi khô, cá đóng hộp,… trong các mặt hàng về cá và thịt
hun khói, thịt băm… trong các mặt hàng về thịt
Dù các DN này được đặt trong hoàn cảnh sử dụn g nào thì các chức năng
vẫn được duy trì Như vậy, có thể thấy, chức năng của những ĐTĐT như : phơi (khô), hun (khói), băm…thu hẹp ngoại diên của sự vật, đối tượng nói tới (thịt,
cá )nên đó là chức năng hạn định
Trong quá trình khảo sát ngữ liệu ở Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng,
chúng tôi nhận thấy, ĐTĐT thực hiện chức năng miêu tả xuất hiện rất hạn chế Bởi, chức năng vốn có của ĐT là biểu thị hoạt động, trạng thái của sự vật nêu ở
Trang 3028
DT, còn miêu tả đặc điểm, tính chất của sự vật lại là chức năng của TT Vì vậy, chúng tôi chỉ trình bày khái quát một số đặc điểm của ĐTĐT có chức năng miêu tả và đi sâu phân tích vai trò của nó đối với việc thể hiện nội dung tác phẩm và phong cách tác giả Đó là một điểm khác biệt giữa ĐTĐT và ĐTTT
Như vậy, trên bình diện ngữ nghĩa, ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai có chức năng hạn định và chức năng miêu tả
b) Nghiên cứu định tố động từ trên bình diện ngữ dụng
Nghiên cứu ĐTĐT trên bình diện ngữ dụng là tìm hiểu chức năng của ĐTĐT trong các đơn vị giao tiếp, trong việc thực hiện nhiệm vụ giao tiếp Đó là việc đặt ĐTĐT trong quan hệ với câu , ngôn bản, thông qua một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
Nếu như chức năng của ĐTĐT trên bình diện ngữ nghĩa có tính c hất ổn định, thì chức năng của ĐTĐT trên bình diện ngữ dụng lại mang tính chất lâm thời, được thực hiện hóa trong từng trường hợp sử dụng cụ thể , phụ thuộc vào văn cảnh mà đối tượng xuất hiện
Cũng như ĐTTT, chúng tôi xét chức năng ngữ dụng của ĐTĐT trên các mặt: chức năng chiếu vật, chức năng biểu đạt thông tin, chức năng biểu thị hàm
ý và chức năng trang trí
Chiếu vật là thuật ngữ để chỉ phương tiện nhờ đó người nói phát ra một
biểu thức ngôn ngữ Theo Đỗ Hữu Châu “Miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung , nhờ các yếu tố phụ này mà tách được sự vật – nghĩa chiếu vật ra khỏi các sự vật khác cùng loại với chúng” [15,tr.67]
DN có ĐTĐT có thể là một phương thức thực hiện hành vi chiếu vật – giúp người nghe “cần biết những gì để câu nói này hay câ u nói kia không mơ hồ nữa” [44,tr.54] Và “Chiếu vật là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa ngữ cảnh với diễn ngôn” [15,tr.62]
Thứ hai, ĐTĐT có chức năng biểu đạt thông tin
Trang 3129
Thông tin ở đây là “ tiêu điểm thông báo ” Đó là “thông tin của câu mà
người nói giả định rằng mình và người nghe không cùng chia sẻ” Tiêu điểm nằm trong “cấu trúc thông bá o của câu , gồm tiêu điểm và “thông tin tiền giả đinh” hay tiền giả định dụng học” [44,tr.54]
Tác giả Nguyễn Hồng Cổn phân chia các loại tiêu điểm thành : tiêu điểm hỏi, tiêu điểm khẳng định, tiêu điểm tương phản Và tác giả Nguyễn Thị Nhung đã gọi các loại tiêu điểm trên là thông tin hỏi , thông tin khẳng định , thông tin tương phản Chúng tôi theo cách gọi của TS Nguyễn Thị Nhung để công trình
có sự nhất quán trong quá trình nghiên cứu
Trong công trình Định tố tính từ trong tiếng Việt , tác giả Nguyễn Thị
Nhung còn chỉ ra rằng “Với câu đơn thoại , thông tin của câu là phần “cái mới” với người nghe (đọc)” Và từ góc độ người nghe (đọc), có thể xác định thông tin hoàn toàn mới và thông tin không hoàn toàn mới
Từ góc độ người nói (viết) và góc độ ngữ pháp, có thể xác định thông tin chính và thông tin phụ của câu
Tiền giả định dụng học là “những nhân tố , quy tắc dụng học là m tiền đề
cho một phát ngôn cụ thể nào đó” [15,tr.398]
Thông báo là hoạt động truyền đạt thông tin
Theo các nhà ngôn ngữ học đi trước thì ĐTĐT tiếng Việt là một trong các thành tố c ó thể biểu đạt thông tin hay tiêu điểm thông báo khi câu ở trong một ngữ cảnh nhất định
Xét ví dụ sau:
Để trả lời câu hỏi sau: Mẹ tìm những con cá Mòi nào?
Có thể dùng câu có ĐTĐT đóng (hộp), phơi (khô)… như trong:
Trang 3230
Chức năng biểu đạt thông tin như phân tích trên chỉ bộc lộ khi ĐTĐT được xét trong quan hệ với ngữ cảnh và mục đích giao tiếp của người nói Vì
vậy, biểu đạt thông tin là một chức năng ngữ dụng của ĐTĐT
Ngoài hai chức năng trên, ĐTĐT còn đảm nhiệm một vài chức năng khác
như: chức năng biểu thị hàm ý, chức năng trang trí
Hàm ý là phần thông tin tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ
trong câu nhưng có thể suy ra t ừ những từ ngữ ấy, là phần nằm trong ý định truyền báo của người nói và người nghe c ó năng lực giải đoán được
[15,tr.75,91] Hàm ý bao gồm hàm ngôn và tiền giả định
Để làm rõ chức năng trang trí – chức năng “làm đẹp” cho câu thơ , câu văn của ĐTĐT , chúng tôi tìm hiểu giá trị tạo tính nghệ thuật, nhạc điệu , tạo hình của ĐTĐT
Tính nghệ thuật với nghĩa hẹp “là thuật ngữ được sử dụng nhằm phân biệt
với tính tư tưởng… , tính nghệ thuật thể hiện ở cấu tứ độc đáo , miêu tả sinh động, kết cấu tài tình , ngôn ngữ gợi cảm , gây ấn tượng đặc biệt tạo thành sức thuyết phục và lôi cuốn của tác phẩm” [44,tr.59]
Khả năng tạo tính nghệ thuật của ĐTĐT tập trung vào việc t hể hiện nhạc
điệu, hình ảnh trong câu thơ, câu văn để có thể góp phần tạo nên sự gợi cảm của
ngôn ngữ Nhạc điệu là cấu tạo ngữ âm của lời văn nghệ thuật hình thành bởi
vật liệu âm thanh của ngôn từ thể hiện đặc sắc củ a văn học như một n ghệ thuật
thời gian” [44,tr.59] Và cái làm nên bản chất của nhạc điệu là sự liên tưởng của tổ chức âm thanh với cảm giác âm nhạc Cùng với nhạc điệu là khuôn nhịp ,
nhịp thơ, sự hòa phối âm thanh trầm /bổng, nhanh/chậm, mạnh/yếu, dài/ngắn…
tạo nên “điệu” Ngoài ra, âm hưởng cũng là một yếu tố tạo nên nhạc tính cho
thơ, văn
Tạo hình nghệ thuật là “các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một
cách sáng tạo trong nhữ ng tác phẩm nghệ thuật… Nó làm cho người ta có thể ngắn nghĩa, thưởng ngoạn” [28,tr.99] Nghệ thuật biểu hiện trong thơ văn là “qua
Trang 3331
chất liệu của mình, nó biểu hiện những cảm nghĩ nhất định của con người, thể hiện cách nhận thức và đánh giá của con người đối diện với cuộc sống” [44,tr.60]
Có thể nói , ĐTĐT tiếng Việt có thể mang chức năng trang trí Vì vậy ,
chúng tôi sẽ nghiên cứu bình diện ngữ dụng của ĐTĐT ở các chức năng chiếu vật, biểu đạt thông tin về sự vật, biểu thị hàm ý và trang trí
1.4 ĐÔI NÉT VỀ VŨ BẰNG VÀ TÁC PHẨM THƯƠNG NHỚ
MƯỜI HAI
1.4.1 Tác giả Vũ Bằng
1.4.1.1 Tiểu sử Vũ Bằng
Nhà văn Vũ Bằng sinh ngày 3 tháng 6 năm 1913 tại Hà Nội và xuất thân trong một gia đình Nho Quê gốc của ông ở đất Ngọc Cục, huyện Lương Ngọc, nay là Bình Giang, tỉnh Hải Dương Ngay khi còn nhỏ, ông đã say mê viết văn, làm báo Năm 16 tuổi ông đã có truyện đăng báo, và liền sau đó ông lao vào nghề văn, nghề báo với tất cả niềm say mê Cha mẹ Vũ Bằng sinh sáu người con, ba trai ba gái Vũ Bằng được cưng chiều, không bị thiếu thốn, vì vậy việc ông lao vào nghề viết không phải vì mưu sinh Năm 1935, ông lập gia đình với
bà Nguyễn Thị Quỳ, người Thuận Thành, Bắc Ninh
Chính gia đình, quê hương đã trở thành nguồn nuôi dưỡng tâm hồn Vũ Bằng, giúp ông có được những tri thức về phong tục, tập quán, lối sống của người dân quê, của những con người trên đất ngàn năm văn vật Để sau đó, ông đưa những hình ảnh con người, cảnh vật của quê hương vào trong tác phẩm của mình như một sự khẳng định tình yêu nồng nàn với quê hương đất Việt, với gia đình, nhất là với người vợ thân yêu xưa Qua đó khẳng định tài năng nghệ sĩ của Vũ Bằng
Cuối năm 1946, Vũ Bằng cùng gia đình tản cư ra vùng kháng chiến Cuối năm 1948, trở về Hà Nội, ông bắt đầu tham gia hoạt động trong mạng lưới tình báo cách mạng Năm 1954, được sự phân công của tổ chức, ông vào Sài Gòn,
để lại vợ và con trai ở Hà Nội (năm 1967, bà Quỳ qua đời) và tiếp tục hoạt động
cho đến 30 tháng 4 năm 1975 Thời gian này, Vũ Bằng đã hoàn thành Thương
Trang 3432
nhớ mười hai trong niềm thường nỗi nhớ đến cồn cào và sự tiếc nuối, xót xa khi
không kịp về Hà Nội gặp vợ lần cuối Vì nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đứt đoạn đường dây liên lạc, mãi đến sau này, ông mới được công nhận là người hoạt động cách mạng và được truy tặng huân chương nhà nước Vì thế , Vũ Bằng đã viết nên nhiều tác phẩm thể hiện tình yêu quê hương , đất nước , yêu những món ăn cổ truyền , những món đặc sản củ a từng miền quê Không những vậy, ông còn là một con người am hiểu về các lễ nghi , các tập tục của dân tộc ,
am hiểu những vấn đề mang tính chất xã hội Quả thật, truyện của Vũ Bằng là những trải nghiệm, những tâm sự, những nỗi lòng của chính nhà văn trước hiện thực cuộc sống
1.4.1.2.Sƣ̣ nghiệp sáng tác văn học
Năm 17 tuổi (1931), Vũ Bằng xuất bản tác phẩm đầy tay Lọ Văn … Và
có thể nói trong lịch sử văn học từ những năm 30 cho đến năm 1954, Vũ Bằng
là một trong những người hoạt động sôi nổi nhất
Đến với văn chương , Vũ Bằng đã thực sự tìm thấy con người của chính mình Thế rồi khi in được vài truyện ngắn và tiểu thuyết, Vũ Bằng sa vào lĩnh vực ăn chơi vào loại khét tiếng Khoảng năm 1934 – 1935, Vũ Bằng nghiện á phiện rất nặng Nhờ người cô ruột và nhờ vợ là Nguyễn Thị Quỳ thường xuyên săn sóc, khuyên nhủ, cộng với sự quyết tâm của bản thân nên ông đã cai được Sau này ông viết thêm tự truyện có tên là Cai
Sau năm 1954, Vũ Bằng vào Sài Gòn tiếp tục viết văn, làm báo Tác giả làm việc tại Việt Tấn Xã và cộng tác với nhiều tờ báo Ông chuyên về dịch
thuật nhiều hơn sáng tác Đặc biệt với "cái ăn" ông viết rất tuyệt vời trong: Miếng ngon Hà Nội (bút ký, 1960), Miếng lạ miền Nam (bút ký, 1969)
và trong Thương Nhớ Mười Hai (hồi ký, 1972)…
Tác giả Vũ Ngọc Phan đã có những nhận xét thật sâu sắc về sáng tác văn
học của Vũ Bằng: “Tiểu thuyết của Vũ Bằng rất gần với tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan về lối tả cảnh và nhân vật, dù là họ ở vào cảnh nghèo khổ hay cảnh
Trang 3533
giàu sang, bao giờ Vũ Bằng cũng tả bằng ngọn bút dí dỏm, nhạo đời hơi đá hoạt
kê một chút Còn về cảnh, ông chỉ tả sơ sơ; ông chú trọng cả vào hành vi … và gây nên những cảnh riêng biệt cho nhân vật”
Không ít nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu văn học cho rằng ngay từ những năm ba mươi, Vũ Bằng là một trong những người có công lớn cách tân tiểu thuyết Việt Nam, hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam Một trong những cách tân ấy chính là sự vận dụng sáng tạo và hết sức tinh tế các định tố động từ
để làm nên giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm và một phong cách rất độc đáo của Vũ Bằng
Đó là chân dung Vũ Bằng với ngần ấy ước vọng ở mức tuổi gần 60 Và đó cũng chính là con người của nhà văn Vũ Bằng , con người ấy được chúng ta nhìn nhận, đánh giá qua biết bao trang viết thấm đượm tình cảm đối với quê
hương, với đất nước, với con người Việt Nam như tác giả Nguyễn Ánh Ngân kể trong Lời giới thiệu cuốn Tạp văn Vũ Bằng: “Trong kí ức của các nhà văn
đương thời, Vũ Bằng được nhắc đến với lòng trìu mến và ít nhiều tri ân Đó là một nhà văn mang nặng nỗi niềm xa quê đau đáu, về cuối đời ngậm ngùi an phận mà hồi tưởng quá khứ tung hoành”
Với sự nghiệp vă n học ấy, tác giả Vũ Bằng đã để lại một tiếng vang lớn , một dấu ấn không thể phai mờ trong trái tim những người yêu văn chương Việt Nam hiện đại Đó cũng chính là một lý do để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu tác phẩm của Vũ Bằng trong luận văn này
1.4.2 Tác phẩm Thương nhớ mười hai
1.4.2.1 Những nét đặc sắc trong nội dung tác phẩm
Trong số trước tác của Vũ Bằng, Thương Nhớ Mười Hai là tác phẩm tiêu
biểu cho tâm tư và phong cách viết của ông Ông khởi sự viết từ tháng giêng
1960, ròng rã mười một năm mới hoàn thành tác phẩm dày khoảng 250 trang
vào năm 1971 Thương nhớ mười hai ra đời khi Vũ Bằng lạc lõng ở Sài Gòn
bốn mùa nhớ thương Hà Nội Năm 1954, theo tiếng gọi của núi sông, Vũ Bằng
Trang 3634
xách va ly vào Nam dưới vỏ bọc một nhà văn di cư “nhân danh một người cầm bút tôi muốn biết đất nước trong cơn tao loạn này ra sao” Những tưởng sau hai năm đất nước hiệp thương thống nhất sẽ được trở về, nào ngờ Hà Nội mãi mãi là
cố hương, một Hà Nội cách chưa đầy hai giờ máy bay mà vời vợi nghìn trùng Như tác giả Hoàng Như Mai đã viết “Cuốn sách bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương bên kia giới tuyến”
Nỗi nhớ ấy được nhà văn cụ thể hóa bằng cách dựng lên những mảng màu văn hóa của Bắc Việt như một cơ hội được trở về, nhập hồn vào trời đất, cảnh vật, sản vật, con người mà tất thảy đều toát lên vẻ đẹp thanh lịch, tinh tế, quý phái
Những cảnh quan thiên nhiên trong Thương nhớ mười hai dù mùa nào, tháng nào cũng là những cảnh quan “mộc mạc” mà “thần tiên”
Đọc Thương nhớ mười hai chúng ta biết thêm về phong tục cũ, về ca dao,
về dân ca và có cơ hội nhờ đốt lò hương cũ mà cảm thông được với quá khứ vàng son của dân tộc Chính tấm lòng yêu quê hương đất nước , con người ấy , cùng với ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng đã làm nên giá trị văn chương của tác phẩm này Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng, từng trang
1.4.2.2 Nhƣ̃ng nét đặc sắc trong nghệ thuật tác phẩm
Dễ nhận thấy khi bước vào thế giới nghệ thuật Thương nhớ mười hai là
cách cảm thụ thiên nhiên kiểu Vũ Bằng Dù là thời khắc nào, từ bầu trời đến mặt đất, từ triền núi đến suối khe, từ gió mây đến cỏ cây hoa lá… tất thảy đều như ngà như ngọc, như lau như ly, tươi tắn sắc màu, ngan ngát hương thơm, sống động thanh âm, vừa thanh tân, trong trẻo vừa mộng mơ, tình tứ Rõ nhất là bầu trời
Nghệ thuật mà Vũ Bằng thể hiện trong tác phẩm của mình đó còn là việc
tác giả cảm thụ tinh tế không gian văn hóa Không gian văn hóa Thương nhớ mười hai còn rất nhiều lễ tết với những tập tục và món ăn riêng
Nghệ thuật đặc sắc trong Thương nhớ mười hai còn được thể hiện ở ngôn ngữ gợi cảm, giàu chất thơ không phải là nét riêng biệt của Thương nhớ mười
Trang 3735
hai mà là đặc điểm, yêu cầu chung của thể loại tùy bút Cái đặc sắc của Vũ
Bằng là ông đã tạo cho tác phẩm những câu văn, những hình ảnh mang vẻ đẹp
độc đáo, mới lạ Trong Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng sử dụng không ít những
so sánh thú vị Có những vật bình thường trong cuộc sống cũng đã được “thơ hoá” nhờ hình ảnh so sánh liên tưởng bất ngờ qua lối cảm nhận rất tình tứ, lãng mạn Nhiều món ăn dân dã được Vũ Bằng quan sát tỉ mỉ và ông so sánh việc hoà phối các gia vị trong món ăn thật độc đáo: món rươi mà thiếu vỏ quýt thì sẽ
non thiếu nước, trăng thiếu hoa, gái thiếu trai Bằng hình ảnh so sánh ấy, Vũ
Bằng vừa ngợi ca sự chế tác phối hợp tài tình các gia vị trong món ăn, vừa đem lại cho món ăn bình dị, dân giã ấy một vẻ đẹp hấp dẫn
Những so sánh của Vũ Bằng khiến người đọc có cảm nhận như đang lắng nghe từng hơi thở, từng nhịp tim của người con xa quê hương trong ngàn trùng
thương nhớ Trong thế giới nghệ thuật của Thương nhớ mười hai, quê hương
Bắc Việt được miêu tả bằng cảm hứng lãng mạn, bằng tình yêu và nỗi nhớ nên cảnh sắc thiên nhiên, con người nơi đây đều được mĩ lệ hoá Những so sánh đẹp với khả năng liên tưởng phóng túng tạo bất ngờ như thứ men làm say lòng độc giả, để rồi lúc chợt tỉnh họ thán phục rằng: khó có thể so sánh gợi cảm và hay hơn được nữa
Ở Thương nhớ mười hai, ta còn bắt gặp những hình ảnh ẩn dụ sâu sắc,
sinh động, đó cũng là một cách để biểu hiện cái nhìn của nhà văn với cuộc sống Ngay cả những hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm cũng trở nên đẹp và đáng yêu lạ thường
Không chỉ dùng những so sánh, ẩn dụ để định dạng, bình giá hình thức theo cảm thụ có tính chủ quan mà Vũ Bằng còn vận dụng linh hoạt Ngòi bút tinh tế, nhạy cảm của nhà văn khiến cho trăng trở thành một tình nhân đa cảm, quyến rũ lạ lùng
Thương nhớ mười hai còn làm say lòng người đọc bằng những ngôn từ
giản dị mà tràn đầy cảm xúc Thể hiện nỗi nhớ thương trào dâng, tác giả dùng
Trang 3836
từ ĐT nhớ gần gũi và quen thuộc Trong tác phẩm (không tính lời đề tặng) có tới 232 lần nhà văn dùng từ nhớ với nhiều dáng vẻ và sắc thái biểu cảm khác nhau Từ nhớ là một ĐT và cũng là một ĐTĐT – đối tượng mà chúng tôi sẽ
nghiên cứu trong tác phẩm này Với cách sử dụng từ ngữ ấy cho ta thấy được cảm xúc trào dâng và sự phong phú, tài hoa trong việc sử dụng ngôn từ Ngoài
ra ta còn bắt gặp nhiều câu có cách diễn đạt, cách dùng hình ảnh rất giống với
cách cấu tứ của ca dao: Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió, ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con, ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng Nhiều câu hô ứng, câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu đảo bộc lộ tình cảm, cảm xúc trực tiếp như: Đẹp quá đi, mùa xuân ơi, hay Giản dị thay cái đẹp của ngày xuân lúc đó! Tình cảm thương nhớ
về quê nhà xa cách ,về những người thân yêu của tác giả như đợt sóng mạnh mẽ trào dâng biến lời văn thành những câu hát ngân lên những giai điệu trìu mến thiết tha, để lại cảm xúc khó quên trong lòng người đọc
Kết cấu trong tác phẩm là kiểu kết cấu trùng điệp, kết cấu lặp cấu trúc Với kết cấu ấy, câu văn trở nên sinh động, ý nghĩa nội dung tư tưởng tác phẩm được nhấn mạnh hơn, rõ nét hơn Chúng ta dễ dàng nhận ra sự lặp lại những chi tiết miêu tả, tường thuật nhằm tạo ra sự đa diện nhưng nhất quán trong bản chất của đối tượng
Cứ thế, “mười hai tháng với mười hai cuộc thay đổi thời tiết, mười hai sự rung động, uyển chuyển của năm tháng” đã khơi gợi không biết bao nhiêu liên
hệ, từ thơ Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Nhạ, Nguyễn Bính… của ta đến thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Trương Kế… bên Tàu, cốt khắc cho sâu, tô cho đậm cái đẹp muôn màu muôn vẻ, đa diện đa âm của quê mình
Có thể nói , ngôn từ, kết cấu nghệ thuật trong Thương nhớ mười hai đa
dạng, phong phú, đặc biệt là sự kết hợp những ĐTĐT được lựa chọn theo hướng đơn giản, gần gũi nhưng hết sức tài tình tinh tế nhằm biểu đạt tình cảm chân thật nhưng không kém phần mãnh liệt của nhà văn – nhân vật trữ tình với
Trang 3937
đất nước, quê hương và hơn hết là đối với người vợ hiền của mình Thật hiếm
có tác phẩm nào đưa đến cho ta vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên vừa hết sức quyến rũ, vừa rất đỗi thân quen, có sức cuốn hút làm say đắm lòng người
như Thương nhớ mười hai Vẻ đẹp ấy được diễn tả qua ngòi bút tài hoa cả một
tâm hồn nhạy cảm trước thiên nhiên, cuộc sống
1.5 Tiểu kết
Như vậy, trong chương 1, chúng tôi tìm hiểu những kiến thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu ĐTĐT trên các bình diện cấu trúc và chức năng ở chương
2, chương 3 Có thể khẳng định, ĐT tiếng Việt có vai trò là nền tảng để nghiên
cứu đề tài: Định tố động từ trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng Chỉ có
nhận diện chính xác ĐT mới có cơ sở cho việc thu thập ngữ liệu và triển khai phân tích một số vấn đề trong đề tài
Trong chương này, chúng tôi đã làm rõ những đặc điểm của ĐT về khái niệm,
về quan hệ với TT, DT, hiện tượng chuyển loại để thấy được vị trí của ĐT trong
hệ thống từ loại tiếng Việt
Chúng tôi còn tìm hiểu khái niệm ĐTĐT và những đơn vị khái quát hơn bao hàm nó như cụm từ, đoản ngữ, DN, định tố để xác định rõ vị trí của ĐTĐT
trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng Đồng thời, khi phân biệt ĐTĐT với
vị ngữ ĐT, cấu trúc của DN, phân loại định tố theo chức năng chính là cơ sở cho việc nhận diện và định hướng nghiên cứu ĐTĐT trên các bình diện cấu trúc
và chức năng
Công trình đã nghiên cứu ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng
trên bình diện cấu trúc là xác định các kiểu cấu tạo của ĐTĐT, tìm hiểu vị trí, số lượng ĐTĐT trong DN cũng như khả năng kết hợp của nó với các định tố khác
Không chỉ vậy, chúng tôi còn nghiên cứu ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng trên bình diện chức năng là nghiên cứu chức năng ngữ nghĩa
và chức năng ngữ dụng Trên bình diện ngữ nghĩa, ĐTĐT có chức năng hạn
Trang 4038 định mà không có chức năng miêu tả Trên bình diện ngữ dụng, ĐTĐT có chức năng chiếu vật, biểu đạt thông tin, biểu thị hàm ý và trang trí