1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách quản lý ruộng đất của triều lê sơ 1428 1527

112 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 857,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu chính sách quản lý ruộng đất của nhà nước phong kiến Việt Nam dưới một triều đại lịch sử nhất định sẽ giúp chúng ta có cái nhìn và sự hiểu biết khá căn bản

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

 -

Nguyễn Thị Thương Huyền

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RUỘNG ĐẤT

CỦA TRIỀU LÊ SƠ (1428-1527)

LUẬN VĂN THẠC SĨ: CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM

Thái Nguyên - Năm 2011

Trang 2

Nguyễn Thị Thương Huyền

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RUỘNG ĐẤT

CỦA TRIỀU LÊ SƠ (1428-1527)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 6022.54

LUẬN VĂN THẠC SĨ: CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM

PGS TS Nguyễn Thị Phương Chi

Thái Nguyên - Năm 2011

Trang 3

Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn là hoàn toàn đúng sự thật, là kết quả của sự tìm tòi, tổng hợp, khái quát trên cơ sở nhiều nguồn tài liệu khác nhau Từ đó rút ra những chính sách quản lý ruộng đất của triều Lê sơ trong khoảng thời gian từ 1428 – 1527

Luận văn được thực hiện trong 8 tháng, từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 8 năm 2011

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới người hướng dẫn khoa học là PGS TS Nguyễn Thị Phương Chi - Phó tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Lịch

sử - Viện sử học, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Viện sử học, Phòng Tư liệu Khoa Lịch Sử - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, Thư viện trường Đại học

sư phạm Thái Nguyên, Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên, …đã tạo điều kiện cung cấp thông tin giúp tôi có cơ sở khai thác, tổng hợp những kiến thức có liên quan để hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể gia đình, người thân đã quan tâm, động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về mặt thời gian trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Thị Thương Huyền

Trang 5

Trang Phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài 1-2 2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2-5 3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài 5

4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của đề ài 6

6 Kết cấu của đề tài 6

NỘI DUNG Chương 1: Khái quát tình hình Đại Việt thời Lê Sơ (1428- 1527) 1.1 Tình hình chính trị 7-15 1.2 Tình hình kinh tế 15-20 1.3 Tình hình văn hóa -xã hội 21-23 Tiểu kết 23

Chương 2: Chính sách quản lý ruộng đất công

2.1 Chính sách quản lý ruộng công làng xã 24 -36

2.2 Chính sách quản lý ruộng đồn điền 36-38

2.3 Chính sách quản lý ruộng khẩn hoang 38-44

Tiểu kết 44-45

Chương 3: Chính sách quản lý ruộng đất tư

Trang 6

3.3 Chính sách quản lý ruộng tư của nông dân 67-74

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề ruộng đất từ trước đến nay luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều công trình khoa học lớn nhỏ khác nhau- nhất là vấn đề ruộng đất thời trung đại Tìm hiểu về vấn đề ruộng đất cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu cơ sở văn minh dân tộc trong lịch sử, bởi lẽ nền kinh tế nước ta cơ bản là sản xuất nông nghiệp

Trong bức tranh chung toàn cảnh ruộng đất, cái chi phối nhất, chi phối chủ yếu đến tình trạng ruộng đất phải kể đến các chính sách về ruộng đất mà nhà nước quân chủ ban hành Các chính sách, biện pháp ruộng đất được nhà nước ban hành có ảnh hưởng lớn đến bức tranh ruộng đất nói chung

Quản lý ruộng đất là một nội dung trọng tâm của quản lý nhà nước thời quân chủ Bởi lẽ có nắm được ruộng đất, nhà nước mới có cơ sở để thu tô thuế,

mà tô thuế là nguồn thu nhập tài chính chủ yếu của nhà nước Hơn thế nữa, từ chỗ quản lý chặt chẽ và có hiệu quả ruộng đất, nhà nước mới có thể chi phối được mọi mặt đời sống xã hội Ngoài ra, chính sách quản lý ruộng đất còn thể hiện quyền sở hữu tối cao của nhà nước đối với ruộng đất Chính trên cơ sở chủ đạo của chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất, nhà nước trung ương đã ban hành những chính sách, biện pháp cần thiết có lợi cho sản xuất nông nghiệp

Dưới chế độ quân chủ, ruộng đất cùng các vấn đề khác như thủy lợi, tập quán sản xuất được coi là những yếu tố cơ bản nhất quyết định đối với sản xuất nông nghiệp Mặt khác, vấn đề ruộng đất dưới mỗi triều đại, bên cạnh những nét chung còn chứa đựng những nét đặc thù mà chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, đặc biệt là chính sách quản lý ruộng đất dưới mỗi triều đại cũng có đặc trưng riêng

Trang 8

Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu chính sách quản lý ruộng đất của nhà nước phong kiến Việt Nam dưới một triều đại lịch sử nhất định sẽ giúp chúng ta có cái nhìn và sự hiểu biết khá căn bản và toàn diện về tình hình kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân cũng như lý giải được nhiều vấn đề liên quan như tập quán sản xuất, tập quán sinh hoạt, các mối quan hệ xã hội cũng như sự phân hóa giai cấp trong xã hội, thịnh suy của triều đại phong kiến… để từ đó có phương hướng đúng xử lý vấn đề tạo sự phát triển cho sản xuất

Ngày nay trên bước đường xây dựng phát triển nhà nước XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề ruộng đất được đặt ra trên bình diện khác, đó là vai trò chủ động của con người Nhưng những bài học lịch sử, trong đó có vấn đề ruộng đất cùng chính sách quản lý nhà nước, ngày nay vẫn còn có ý nghĩa

Việc nghiên cứu chính sách quản lý ruộng đất nhà nước phong kiến có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tìm hiểu các vấn đề chính trị, kinh tế, quân sự, văn

hóa và xã hội Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Chính sách quản lý ruộng đất của triều Lê sơ (1428-1527)” làm đề tài luận văn cao học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề ruộng đất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của giới sử học Cho đến nay có nhiều công trình khoa học được công bố:

Vào cuối thập kỉ 50 và 60, đã có một số chuyên khảo về đề tài trên mà tiêu

biểu là cuốn“Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ” của tác giả

Phan Huy Lê Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày những nét lớn về chính sách ruộng đất của nhà nước Lê sơ thế kỷ XV Nguồn tư liệu chủ yếu của tác phẩm là các bộ sử cũ của các sử gia phong kiến Đây là cuốn sách đầu tiên

Trang 9

chuyên về đề tài này của giới sử học nước nhà kể từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945

Từ cuối thập kỉ 70, 80 của thế kỷ trước đến nay đã có một số chuyên khảo khá quy mô, đánh dấu một bước tiến mới trong việc nghiên cứu vấn đề ruộng đất

Trong chuyên khảo “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”, dựa trên những bộ chính sử của triều Nguyễn, tác giả Vũ Huy Phúc đã hệ

thống hóa những chính sách lớn về ruộng đất của nhà Nguyễn, thiết chế và kết cấu ruộng đất hình thành từ chính sách đó, cũng như tác động và ảnh hưởng của

nó đối với yêu cầu của lịch sử

Trong chuyên khảo công phu và quy mô “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam ( từ thế kỷ XI-XVIII)” (2 tập) của tác giả Trương Hữu Quýnh đã phác họa ra những

nét chính về sự tiến triển của chế độ ruộng đất ở nước ta từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII, qua đó bước đầu vạch ra xu thế phát triển chủ yếu cũng như tính chất kinh tế, xã hội của nó Bên cạnh việc sử dụng các bộ chính sử, tác giả còn huy động một nguồn tư liệu địa phương khá phong phú (bao gồm văn bia, gia phả…) Vì vậy, chuyên khảo này còn cung cấp những tư liệu tham khảo có giá

trị về vấn đề sở hữu ruộng đất dưới thời phong kiến

Ngoài ra còn có thể kể tới một số công trình như:“Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”- Luận án PTS sử học của tác giả Vũ Văn Quân, “Tình hình ruộng đất kinh tế nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn” của các tác giả Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang, Vũ Văn

Quân

Bên cạnh các cuốn sách và luận án nói trên còn nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này được đăng tải trên các Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu kinh

Trang 10

tế, Dân tộc học có thể kể đến: Nguyễn Khắc Đạm “Vấn đề ruộng đất trong lịch

sử Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 65 (1965); Minh Tranh“Vài nét vấn đề ruộng đất trong lịch sử Việt Nam”, tạp chí văn sử địa số 2; Phan Huy Lê

“Chế độ ban cấp ruộng đất thời Lê sơ và tính chất sở hữu của các loại ruộng đất thế nghiệp”, tạp chí NCLS số 199 (1981)

Các tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đức Nghinh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, Đào Tố Uyên, Nguyễn Cảnh Minh…cũng đã có những bài viết liên quan đến vấn đề ruộng đất

Các bài viết trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của chế độ sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIX

Trong nghiên cứu tình hình ruộng đất, nguồn tư liệu địa bạ được các nhà nghiên cứu đặc biệt coi trọng Giáo sư sử học Nguyễn Đức Nghinh đã giành nhiều thời gian nghiên cứu và cho đến nay đã có hàng chục công trình được công

bố qua việc khai thác nguồn tư liệu này Đặc biệt mấy năm gần đây, tại trung tâm lưu trữ quốc gia I, 10.044 tập địa bạ đã bước đầu được thống kê, khảo sát

Trong Luận án “Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn”(1829),

tác giả Đào Tố Uyên đã chỉ ra những điểm cơ bản và diễn biến của chế độ ruộng đất ở huyện Kim Sơn nửa đầu thế kỷ XIX Tác giả Bùi Quý Lộ trong luận án

“Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Tiền Hải” cũng đã phân tích kĩ chế độ

ruộng đất ở Tiền Hải Những công trình nêu trên tuy không trực tiếp liên quan đến đề tài luận văn nhưng nội dung các công trình đó giúp cho tác giả luận văn

có thêm nhận thức trong quá trình thực hiện đề tài

Như vậy, vấn đề ruộng đất ở nước ta thời phong kiến đã có một quá trình lịch sử nghiên cứu Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà địa phương học đã góp

Trang 11

phần mình vào việc dựng lên bức tranh về chế độ ruộng đất ở các thế kỷ, làm cơ

sở cho việc trình bày một cách đầy đủ các mặt hoạt động của nhân dân ta đương thời

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về “Chính sách quản lý ruộng đất của triều Lê sơ (1428-1527)” Những thành quả của các nhà

nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi mở quý báu giúp chúng tôi hoàn thành

đề tài này

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Chính sách quản lý ruộng đất triều Lê sơ

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Trong phạm vi của đề tài: Chính sách quan lý ruộng đất triều

Lê Sơ, luận văn giới hạn ở việc tìm hiểu chính sách quản lý của nhà nước Lê Sơ đối với ruộng công và ruộng tư

Về thời gian: Từ khi triều Lê sơ xác lập – 1428 đến khi kết thúc -1527

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

Luận văn tìm hiểu về chính sách quản lý của nhà nước Lê Sơ đối với các loại hình ruộng đất: ruộng công, ruộng tư;

Đồng thời luận văn còn nêu lên tác động của chính sách đó tới lợi ích của nhà nước phong kiến, đời sống của các bộ phận trong xã hội, từ đó thấy được tác dụng và hạn chế của chính sách ruộng đất triều Lê sơ đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt

4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

4 1 Nguồn tư liệu:

Trang 12

- Nguồn tư liệu trong chính sử: Một số sử sách và địa chí cổ: Đại Việt sử

ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Phủ biên tạp lục

- Các sách, tạp chí xuất bản liên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu Ngoài ra có sử dụng phương pháp phân tích,

tổng hợp, so sánh, để làm rõ vấn đề nghiên cứu

5 Đóng góp đề tài

Luận văn làm rõ chính sách quản lý ruộng đất của triều Lê Sơ trong lịch sử dân tộc Đồng thời còn cho thấy tác dụng của chính sách quản lý ruộng đất triều

Lê sơ đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt

Luận văn sẽ góp phần cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử

Chương 3: Chính sách quản lý ruộng đất tư

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NƯỚC ĐẠI VIỆT

THỜI LÊ SƠ (1428-1527)

Trang 13

1.1 Tình hình chính trị

Về xây dựng và củng cố chính quyền

Xã hội Đại Việt cuối thế kỉ XIV lâm vào tình trạng chính trị khủng hoảng sâu sắc, kinh tế nông nghiệp sa sút nghiêm trọng, xã hội bất ổn định Bên cạnh

đó, Đại Việt lại đứng trước nguy cơ ngoại xâm ngày càng đến gần

Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh của nhà Hồ bị thất bại, đât nước Đại Việt rơi vào ách đô hộ của nhà Minh trong hai mươi năm (1407-1427) Khởi nghĩa Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã cùng với nhân dân

cả nước đánh bại quân Minh xâm lược Đất nước thanh bình, vương triều nhà Lê (Lê sơ) được thiết lập Nhà Lê sơ thực hiện các chính sách nhằm khôi phục, ổn định và phát triển đất nước

Thời Lê sơ được tính từ khi Lê Lợi lên ngôi (1428) đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1527), gồm 11 đời vua, trong đó Lê Thái Tổ là người sáng lập, Lê Thánh Tông là người đưa vương triều Lê sơ đến giai đoạn thịnh đạt nhất

Một công việc thiết yếu mà các vua thời Lê sơ đều quan tâm và cố gắng thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, mang tính quan liêu chuyên chế Đến thời Lê Thánh Tông (1460-1497) đạt tới đỉnh cao, trở thành nhà

nước toàn trị, cực quyền Đây là một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình từ nền quân chủ quý tộc thời Lý -Trần mang đậm tính Phật giáo sang nền quân chủ quan liêu nho giáo

Về hành chính, năm 1428, Lê Thái Tổ chia đất nước thành 5 đạo: Đông đạo, Tây đạo, Nam đạo, Bắc đạo, Hải tây Đứng đầu mỗi đạo có chức hành khiển và tổng quản Hành khiển coi việc dân chính và tư pháp Tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo

Trang 14

Dưới đạo có các đơn vị nhỏ như trấn, lộ rồi đến phủ, huyện, châu, xã Tất cả

hệ thống chính quyền ấy đều tập trung quyền hành vào tay triều đình trung ương

Ở triều đình, đứng đầu là vua rồi đến các chức tả Tướng quốc và hữu Tướng quốc Tiếp theo là các chức Tam Tư, Tam Thiếu, Tam Thái giành riêng cho tôn thất và công thần Dưới là hai ngạch ban văn và ban võ Sau Đại Hành khiển là Thượng thư đứng đầu Bộ (có hai Bộ là Bộ Lại và Bộ Lễ) Bên cạnh đó có một số

cơ quan chuyên trách như Khu Mật viện, Hàn Lâm viện, Ngũ Hình viện, Ngự Sử đài, Quốc Tử Giám, Quốc Sử viện, Nội thị sảnh, các quán, cục, ty

Ở địa phương, đứng đầu các đạo là các chức Hành khiển phụ trách mọi việc quân dân Sau đó là các chức An phủ sứ, Tri phủ, Tuyên phủ sứ, Chuyển vận sử đứng đầu các trấn, lộ, huyện Xã có xã quan

Nhìn chung, bộ máy Nhà nước thời Lê Lợi chủ yếu dựa vào quy chế tổ chức của các triều đại Lý, Trần Tuy nhiên nó đã là một bước tiến bộ về mức độ tập trung chính quyền Trải qua các đời Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, bộ máy nhà nước càng được củng cố hơn, theo hướng tập quyền, nhằm mục đích tập trung quyền hành vào tay nhà vua, nâng cao hơn nữa tính chuyên chế

Từ 1466-1471, Lê Thánh Tông đã tiến hành một cuộc cải cách hành chính lớn Đất nước được chia thành 13 đạo thừa tuyên với các cơ quan hành chính thống nhất

Hệ thống hành chính thời Lê Thánh Tông được tổ chức chặt chẽ, thống nhất

từ trung ương đến địa phương Chủ trương của Lê Thánh Tông là đảm bảo sự thống nhất trong chính quyền từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương,

"các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng giữ gìn nhau, lẽ phải của nước không bị chuyện riêng, việc lớn của nước không đến lung lay, khiến có thói tốt làm hợp đạo đúng phép, không có lầm lỗi làm trái nghĩa phạm hình, để

Trang 15

theo trọn các chí của thánh tổ thần tông ta, mà giữ được trị an lâu dài" [12, tr 482]

Các chức tể tướng, bộc xạ, tư đồ đều bị bãi bỏ Vua trực tiếp điều khiển 6 bộ: bộ binh, hình, lễ, lại, công, hộ Đứng đầu là thượng thư, giúp việc có 2 thị lang Đây là cơ quan chính phụ trách mọi công tác của triều đình Giúp việc cho các bộ còn có 6 tự Để giám sát hoạt động của quan lại nói chung có ngự sử đài

và 6 khoa tương ứng với 6 bộ Hàn lâm viện và Quốc tử giám được giữ nguyên như các triều đại trước Quá trình tuyển chọn quan lại qua nhiều đường khác nhau: tập ấm, tuyển cử , chủ yếu là khoa cử

Dưới thời vua Lê Thánh Tông đã tuyển chọn đội ngũ quan lại có năng lực làm việc trong bộ máy nhà nước Để tạo điều kiện cho quan lại trung thành với nhà vua, Lê Thánh Tông đặt quy chế lương bổng, ruộng lộc, phẩm tước rõ ràng thống nhất

Nếu so sánh với những triều vua thời Lý- Trần, hệ thống hành chính quốc gia thời Lê sơ, đặc biệt ở thời Lê Thánh Tông đã thể hiện một bước tiến cơ bản

Có thể nói nó đã đạt đến đỉnh cao của mô hình Nhà nước quân chủ chuyên chế, quan liêu Vua tuy vẫn giữ những chức năng cơ bản của thời trước nhưng với quyền lực tập trung hơn, quyết đoán hơn Trong thiết chế quân chủ tuyệt đối thời

Lê sơ, vai trò của nhà vua được đẩy lên rất cao với chủ nghĩa "tôn quyền" Theo

đó, nhà vua là "con trời", người giữ mệnh trời, thay trời cai trị dân Vua là người đứng đầu cả nước, đồng thời cũng là người được ban hành mọi chính sách, luật

lệ của đất nước Hệ thống các cơ quan hành chính được xếp đặt rõ ràng, có phân công, phân nhiệm cụ thể Hệ thống hành chính thời Lê Thánh Tông thể hiện được tính tập trung từ dưới lên trên, từ địa phương đến trung ương, đề cao quyền hành toàn diện của người đứng đầu Nhà nước

Trang 16

[14, tr 45, 453]

Trải qua các đời vua Thái Tông, Nhân Tông, đặc biệt dưới đời vua Lê Thánh Tông, vào năm 1483, vua sai các triều thần sưu tập các điều luật, pháp lệnh đã ban bố trong các triều vua thời Lê sơ xây dựng thành bộ luật hoàn chỉnh

vì theo quan niệm của Thánh Tông "Pháp luật là phép công của nhà nước, vua cùng quan đều phải theo"

Năm 1483, Lê Thánh Tông cho ban hành bộ luật thành văn hoàn chỉnh gồm

722 điều chia thành 16 chương gọi là "Quốc triều hình luật" hay "Luật Hồng

Đức" Về hình thức, đó là bộ luật hình sự với khung hình "suy, trượng, đồ, lưu, tử".Thực chất, đây là bộ luật tổng hợp và có các điều khoản về điền sản, dân sự,

hôn nhân

Nội dung chủ yếu của Bộ luật là nhằm bảo vệ quyền thống trị của nhà nước trung ương tập quyền (những hành động chống đối triều đình, chống đối lễ giáo phong kiến bị ghép vào "thập ác'')

Đặc biệt là nhiều điều luật trong "Điền sản" nhằm bảo vệ tô thuế của nhà nước, nghiêm cấm và trừng phạt những hành vi xâm lấn, chiếm đoạt ruộng đất

công Luật Hồng Đức giành nhiều điều quy định chi tiết về việc sở hữu ruộng

Trang 17

đất, nguyên tắc mua bán, cầm cố ruộng đất nhằm bảo vệ quyền tư hữu tài sản; trước hết quyền tư hữu ruộng đất và bóc lột địa tô của giai cấp địa chủ:

Điều 341

Bán ruộng đất quan thụ và ruộng đất khẩu phân bị phạt 60 trượng, biếm 2

tư, người viết thay hoặc chứng kiến (tội cũng như thế) giảm một bậc; truy nguyên tiền và ruộng đất nộp cho nhà nước Bán đợ thì phạt 60 trượng, cho chuộc lại

Điều 342

Chiếm ruộng đất công quá hạn (bị phạt như sau: 1 mẫu bị 80 trượng, 10 mẫu bị biếm 10 tư, tội chỉ đến biếm 3 tư; truy tiền hoa lợi ruộng đất nộp cho nahf nước Nếu khẩn đất hoang thì không bị tội

Điều 343

Nhận càn ruộng đất (bị phạt như sau), 1 mẫu trở xuống bị biếm 1 tư, 5 mẫu trở xuống bị biếm 2 tư, 10 mẫu trở xuống bị biếm 3 tư, tội chỉ đến đồ khao đinh Lấn giới hạn (ruộng đất) bị biếm 1 tư và bồi thường tiền hoa lợi tăng thêm 1/10 Nếu là ruộng đất công (tội) gia thêm 1 bậc, bồi thường tiền hoa lợi tăng thêm 2/10 Người giám đương không biết cáo giác bị biếm 1 tư, mất quyền giám đương [27, tr 191-192]

Bộ luật cũng bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến, đặc quyền của tầng lớp quý tộc; đồng thời củng cố trật tự xã hội phong kiến, bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyền và các nguyên tắc về đạo đức phong kiến Những tội "ác nghịch","bất hiếu","bất mục" đều bị ghép vào tội thập ác

Trong Quốc triều hình luật có những điều luật nhằm bài trừ nạn tham

nhũng, hối lộ, lãng phí của công, ức hiếp dân lành và chú trọng phần nào đến việc bảo vệ lợi ích của dân

Trang 18

Là sản phẩm của nhà nước phong kiến, ra đời sau cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Bộ luật Hồng Đức rất chú ý đến quốc gia Đại Việt thống nhất bao gồm nhiều thành phần các dân tộc khác nhau Riêng đối với người phụ nữ, luật Hồng Đức cũng có những điều bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ Về kinh tế, con gái được hưởng quyền chia gia tài bình đẳng như con trai (điều 387) Gia đình không có con trai, con gái trưởng được quyền thừa kế hương hỏa (điều 309)

Về mặt hôn nhân, người con gái đã đính hôn nhưng chưa làm lễ thành hôn

mà người con trai bỗng mắc ác tật hoặc phạm tội phá tài sản thì người con gái được quyền từ hôn và trả của Những quy định nói trên đối với phụ nữ có tính chất tiến bộ, lần đầu tiên được đặt ra trong pháp luật thành văn ở nước ta

Luật Hồng Đức đã phản ánh phong phú nhiều mặt đời sống, tập quán của nhân dân ta ở thế kỉ XV Bộ luật Hồng Đức biểu hiện rõ tính chất giai cấp và quyền lực của nhà nước quân chủ đối với nhân dân nhưng đó cũng là bộ luật tiến

bộ nhất trong lịch sử trung đại Việt Nam Bộ luật đã thể hiện tính sáng tạo và tinh thần thực tiễn của nhà nước quân chủ độc lập trong giai đoạn đi lên Ý thức bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, đó là mặt tiến bộ của Bộ luật mà sau này vẫn được ca ngợi Chính sách quản lý ruộng đất của nhà Lê sơ đã được thực hiện quy củ, chặt chẽ, hiệu quả thông qua các điều luật trong "Điền sản chương", góp phần bảo vệ lợi ích nhà nước phong kiến, đặc biệt là quyền sở hữu tối cao về ruộng đất

Về quân đội và quốc phòng

Thời Lê sơ, cùng với quá trình xây dựng bộ máy chính quyền trung ương tập quyền, tổ chức quân đội cũng được xây dựng có quy củ Sau khi đã hoàn

Trang 19

thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, đầu năm 1429, Lê Lợi cho 25 vạn quân trở

về làm ruộng, giữ lại 10 vạn quân thường trực Số quân còn lại này chia làm 6 quân ngự tiền đóng ở kinh thành, có nhiệm vụ bảo vệ kinh đô và cung điện nhà vua, và quân 5 đạo đóng giữ ở các địa phương Trong số 10 vạn quân, Lê Lợi chia làm 5 phiên, cứ lần lượt thay nhau, có 4 phiên về làm ruộng và một phiên ở lại thường trực Mỗi khi có việc dụng binh, Nhà nước mới điều động toàn bộ quân đội và có khi bắt lính bổ sung thêm

Năm 1466, Lê Thánh Tông cải tổ lại hệ thống tổ chức quân đội Quân đội toàn quốc chia làm hai loại thân binh hay cấm binh bảo vệ kinh thành và ngoại binh trấn giữ các sứ

Quân đội ở các đơn vị cũng được quy định thống nhất, mỗi ti gồm 100 người, mỗi sở gồm 400 người, chia làm 20 đội, mỗi đội 30 người

Cũng như thời Lí- Trần, nhà Lê sơ sử dụng chính sách " ngụ binh ư nông" cho quân lính thay phiên nhau về nhà làm ruộng Dưới thời Thánh Tông, chế độ tập luyện của quân đội được quy định chặt chẽ Tất cả các hạng quân đội đều được theo bậc cấp ruộng đất công xã ở xã thôn từ 8,5 đến 4 phần Các võ quan được cấp lộc điền bổng lộc như các tầng lớp quan lại khác

Trên cơ sở một đội quân mạnh, nhà Lê tiến hành chính sách biên giới rất cương quyết Các nước láng giềng nhỏ bé ở phía Tây và Nam như Ai Lao, Chân Lạp mỗi lần xâm lấn bờ cõi đều lập tức bị đánh tan

Để nắm chắc và khống chế các tù trưởng thiểu số, triều đình nhà Lê đã áp dụng những biện pháp như trấn áp và phủ dụ Triều đình đã cử phần tử trung kiên nhất lên miền núi chiêu dân lập ấp đời đời cai trị địa phương Họ biến thành dòng họ "phiên thần" Chính sách này đã có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ

Trang 20

biên cương tổ quốc, tạo ra sự giao thoa văn hóa giữa miền xuôi và miền ngược, quá trình tộc người thông qua quan hệ hôn nhân có sự giao thoa

Nhà vua cũng cho điều tra và lập sổ hộ khẩu, khảo sát địa hình, lập bản đồ hành chính quốc gia, đề cao tôn vinh truyền thống dân tộc và các danh nhân văn hóa Nhờ có lực lượng quân đội hùng mạnh và chính sách ngoại giao cương quyết, thời Lê sơ cương giới lãnh thổ Tổ quốc được gìn giữ, bảo vệ Đại Việt trở thành một quốc gia có uy thế trong khu vực Đông Nam Á

Về chính sách đối nội và đối ngoại

Trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV, nhân dân các dân tộc thiểu số đã kề vai sát cánh với người Kinh chiến đấu chống kẻ thù chung

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, chính sách của nhà Lê cũng như các triều đại phong kiến trước đây có hai mặt Một mặt mua chuộc, nắm lấy các tù trưởng- tầng lớp thống trị của dân tộc thiểu số để bắt họ nộp cống phú, mặt khác dùng vũ lực trấn áp những hành động phản kháng, những cuộc nổi dậy chống đối triều đình

Trong quan hệ đối với các nước láng giềng, trước hết đối với nhà Minh, nhà

Lê vẫn giữ quan hệ hòa hiếu Sau ngày độc lập, Lê Thái Tổ cử sứ bộ sang nhà Minh cầu phong, giữ đúng lễ triều cống của một nước phiên thần, nhưng vẫn luôn giữ vững chủ quyền độc lập và lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc Trong lời dụ

của Lê Thánh Tông năm 1471 đã nêu rõ: "Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện vứt bỏ được Phải kiên quyết tranh luận, không để họ lấn dần , nếu

kẻ nào dám đem một tấc đất của vua Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc thì người

đó sẽ bị trừng trị nặng"

Đối với nước Champa ở phía Nam và Ai Lao, Bồn Man ở phía Tây Nam, quan hệ bang giao với Đại Việt từ sau kháng chiến chống Minh được nối lại Ai

Trang 21

Lao cũng như Bồn Man và Champa nhiều lần sai sứ sang triều cống đều được nhà Lê tiếp đãi ân cần Các nước này đều xin thần phục nhà Lê

Tuy nhiên, từ đời vua Nhân Tông trở đi, quan hệ có phần căng thẳng, việc tranh chấp các vùng biên giới diễn ra, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã biến thành những cuộc xâm lấn đất đai Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đích thân mang quân đánh Champa và Bồn Man, sáp nhập một phần vào lãnh thổ Đại Việt

chính sách ruộng đất, nông nghiệp Thời Lê Sơ, ruộng đất của nhà nước vẫn chiếm một địa vị rất quan trọng với diện tích rộng lớn

Có thể nói, sau khi thiết lập vương triều, triều đình Lê Sơ đã liên tục ban hành chính sách quốc hữu hóa, nhà nước quản lý tất cả thổ sản, trong đó có ruộng đất của một số đối tượng như của các thế gia triều trước, của các quan lại

cũ, của nhân dân tuyệt tự, của ngụy quan, lính trốn đều phải kê khai dâng nộp cho nhà nước Chỉ trong vòng 3 tháng, từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1428, nhà nước đã hai lần ra lệnh kiểm kê tài sản để sung công Sử chép, ngày 10 tháng 8

năm 1428: “Chỉ huy rằng các thứ đồng, sắt, dâu, gai, tơ, lụa, keo, sơn, nhựa trám, sáp ong, dầu, diêm tiêu, mây, phàm là thổ sản nước ta sản xuất, ruộng đất

Trang 22

của quan ty ngạch cũ, của các thế gia triều trước, của nhân dân tuyệt tự, cùng là ruộng đất của nguỵ quan, của lính trốn, các hạng vật theo mùa đều phải kê rõ đủ

số, hạn đến tháng 4 sang năm dâng nộp Nếu ai ẩn lậu hoặc là lấy của công làm của tư, thay đổi không làm có, có làm không, thì xử tội đồ lưu biếm bãi”

[14, tr 64]

Ba tháng sau, vào tháng 11, ngày 25, triều đình lại ra lệnh kiểm kê tất cả

các loại ruộng đất trong nước, cùng các loại khoáng sản khác, “ngày 25 (tháng 11-1428) làm sổ điền sổ hộ Chỉ huy cho các phủ huyện trấn lộ đến nơi khám xét các chằm, bãi, ruộng, đất và các mỏ vàng bạc, cùng sản vật rừng núi trong bản hạt và thuế ngạch cũ, cũng là các hạng ruộng đất của thế gia và nhân dân tuyệt

tự, của binh trốn đều sung làm của công, hạn đến năm Kỷ Dậu trung tuần tháng

2 trình lên Hộ tịch năm Mậu Thân và điền bạ năm Kỷ Dậu, đến tháng 4 năm Quý Sửu sẽ làm Nguỵ quan thì theo từng hạng một mà khai ra” [ 11, tr.31]

Trải qua các triều vua, nhà Lê nắm trong tay một khối lượng ruộng đất lớn cũng như trực tiếp quản lý toàn bộ diện tích ruộng đất còn lại Đương thời, ruộng đất được chia làm hai bộ phận chính:

Thứ nhất, ruộng đất công gồm hai loại: thuộc sở hữu nhà nước và thuộc sở hữu làng xã

Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: tất cả những ruộng đất tịch thu được của chính quyền đô hộ và bọn ngụy quan, ruộng đất không chủ đều thuộc sở hữu nhà nước Với số lượng rất lớn, nhà nước sử dụng nó dưới các hình thức sau:

+ Loại do nhà nước trực tiếp quản lí và thu tô thuế: gồm ruộng quốc khố thường phát canh cho nông dân hoặc giao cho những người bị tội đồ cày cấy + Loại cấp cấp cho các công thần khai quốc và phần làm ruộng lộc cho quan lại (chế độ lộc điền)

Trang 23

+ Ruộng đất đồn điền của nhà nước phong kiến thời Lê sơ chiếm một diện tích qaun trọng Số đồn điền này một phần bao gồm một số ruộng đất công sẵn

có của nhà nước, nhưng chủ yếu là những người bị tù tội, nông dân lưu tán nghèo đói được mộ

Ruộng làng xã: Đây là bộ phận quan trọng nhất của nhà nước với tư cách là nguồn tô thuế, sưu dịch, binh lính Từ thời Lê Thái Tổ, nhà nước đã đặt quy chế phân chia ruộng đất công của các làng nhưng mãi đến thời Lê Thánh Tông, một chính sách "quân điền" thống nhất cho cả nước mới được ban hành và thực hiện Thứ hai, ruộng đất tư: Bộ phận ruộng đất này đã có một quá trình phát triển lâu dài Đến đầu thế kỷ XV, bộ phận ruộng đất tư hữu này đã trở thành một bộ phận ruộng đất quan trọng và giai cấp địa chủ có ruộng đất tư hữu đã trở thành một lực lượng xã hội mạnh mẽ

Ruộng đất tư hữu thời Lê sơ gồm ba loại: Ruộng tư của quan lại cao cấp, ruộng tư của địa chủ, ruộng của nông dân tư hữu Sự gia tăng của hàng ngũ quan lại cao cấp góp phần làm cho bộ phận ruộng đất tư hữu của địa chủ ngày càng phát triển, trong lúc đó các điền trang ngày càng thu hẹp lại Những chính sách của nhà nước chứng tỏ bước phát triển và củng cố chế độ tư hữu ruộng đất của thời Lê sơ

Bằng sự nỗ lực của nhân dân, nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi Nhà nước ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phục hóa, khai hoang, mở rộng diện tích canh tác Lập đồn điền là một chính sách khẩn hoang tương đối quy mô của Nhà nước phong kiến Lê Thánh Tông đã từng ban dụ cho các quan

phủ, huyện: "Về các việc dân sự tầm thường như là đại hạn mà không đảo, nước lụt mà không khơi, việc lợi không làm, việc hại không trừ, có tai dị mà không cầu đảo thì phải xử tội lưu"

Trang 24

Nhà nước thời Lê sơ cũng chăm lo đến việc bảo vệ đê điều và các công trình thủy lợi Nhiều công trình thủy nông khác như đào mương, khơi kênh cũng được tiến hành Năm 1437, Thái Tông sai khơi lại các kênh và năm 1438, sai đào các kênh ở Trường An, Thanh Hóa, Nghệ An Năm 1467, nhà nước cho khai kênh ở Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa

Để tạo điều kiện cho nhân dân tập trung sức sản xuất nông nghiệp, nhà nước

quy định: "Hễ công việc gì có hại cho nghề nông thì không được kinh động sức dân" Hàng năm vào mùa xuân, nhà vua thân ra cày mấy đường gọi là cày tịch

điền để mở đầu mùa cày cấy cho nhân dân Pháp luật thời Lê sơ cũng trừng phạt nặng đối với tội trộm cắp và giết trâu bò

Chính sách "trọng nông" là chính sách truyền thống của các vương triều

phong kiến Việt Nam Chính sách đó có tác dụng quan trọng tới việc phục hồi phát triển kinh tế, thúc đẩy sức sản xuất xã hội, kích thích sự phát triển công thương nghiệp, đời sống nhân dân được cải thiện Nhân dân đời sau nhớ lại cuộc sống thời này đã ca ngợi:

Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng muốn ăn

Về thủ công nghiệp và thương nghiệp

Kinh tế nông nghiệp phát triển, đời sống nhân dân ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thủ công nghiệp Các ngành thủ công truyền thống như kéo tơ, dệt vải, lụa, làm đồ gốm, đúc đồng, rèn sắt, làm giấy, đan lát nhanh chóng hồi phục và phát triển Một số làng thủ công ra đời và hoạt động sôi nổi: Bát Tràng, Thổ Hà, Hương Canh, Nghĩa Đô, Huê Cầu, Mao Điền Nhiều câu

ca dao đã nói lên những nghề thủ công truyền thống và lâu đời:

" Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu,

Trang 25

Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm"

Thủ công nghiệp dân gian đã đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế thủ công nghiệp Sản phẩm thủ công nhằm giải quyết nhu cầu thiết yếu của người nông dân Ở các thị trấn, những thợ thủ công đã tổ chức lại thành những phường chuyên môn Thành Thăng Long thời Lê sơ có 36 phường, mỗi phường làm một nghề nhất định: Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải, Phường

Hà Tân nung vôi

Ngoài các nghề thủ công của nhân dân, Nhà nước phong kiến còn có những

tổ chức sản xuất thủ công riêng gọi là các cục bách tác, cục bách công chuyên việc đúc tiền, rèn đúc vũ khí, đóng thuyền chiến, may mũ áo cho vua quan, làm

đồ trang sức

Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, việc lưu thông buôn bán cũng hồi phục và ngày càng mở rộng Ngay từ đời Lê Thái Tổ, nhà nước đã quan tâm đến sự phát triển của giao lưu hàng hóa Tháng 7 năm

1429, vua xuống chiếu: " Tiền là mạch máu của sinh dân Nước ta vốn có mỏ đồng, nhưng tiền đồng cũ đã bị nhà Hồ hủy bỏ, trăm phần chỉ còn được một Đến nay, việc quân, việc nước thường hay bị thiếu Muốn cho tiền được lưu thông sử dụng, để thuận lòng dân, há chẳng khó sao? Mới rồi có người dâng thư trình bày, xin lấy tiền giấy thay cho tiền thực Trẫm sớm khuya nghĩ ngợi Truyền cho các đại thần trăm quan và những người hiểu về việc đời ở trong, ở ngoài đều nghị bàn quy chế đồng tiền cho thuận lòng dân, để không vì

ưa thích riêng của một người mà bắt ép muôn nghìn người không muốn phải theo, để làm phép hay của một đời Nên bàn định sớm rồi tâu lên, trẫm sẽ tự chọn lấy mà cho thi hành" [ 14, tr 468, 483]

Trang 26

Các vua thời Lê còn ra lệnh cấm đổi tiền xấu, hễ tiền còn lỗ có thể xâu lạt

được đều phải lưu thông

Sự quan tâm đặc biệt của nhà nước phong kiến chứng tỏ sự lưu thông tiền tệ

đã trở thành một yêu cầu cấp thiết của xã hội Theo Lê Lợi "Tiền là huyết mạch của dân không thể không có" Nhà nước quy định: 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền

bằng 60 đồng Các đơn vị đo lường cũng được thống nhất

Những trung tâm buôn bán, ngoài một số thị trấn lớn, sầm uất như Thăng Long đã tập trung dân nhiều nơi về làm ăn buôn bán, còn hầu hết là các chợ địa phương, chợ làng, chợ liên làng, chợ huyện hoặc vài xã lân cận có một chợ chung, họp hàng ngày hoặc một số ngày nhất định

Về ngoại thương: Nhà Lê thi hành chính sách " bế quan tỏa cảng" Việc buôn bán với nước ngoài, nhà nước kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu như Vân Đồn, Vạn Ninh, Càn Hải, Hội Thống, một số điểm ở Lạng Sơn, Tuyên Quang Chính quyền cấm dân chúng tự tiện trao đổi buôn bán hàng hóa với các tàu ngoại quốc

Nhìn chung, nền kinh tế hàng hóa thời Lê sơ tuy có phần bị hạn chế nhưng vẫn phát triển một bước so với trước Quan hệ hàng hóa - tiền tệ cũng như vai trò đồng tiền đã tác động quan trọng trong hàng ngũ quan lại cũng như nhân dân Như vậy, với những lợi thế vượt trội của mình, nền kinh tế nông nghiệp, gắn liền là vấn đề ruộng đất vẫn giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong sự phát triển của đất nước

1.3 Tình hình văn hóa - xã hội

Về văn hóa

Trang 27

Đây là thời kì diễn ra phân dòng văn hóa: Dòng văn hóa dân gian làng xã không được khuyến khích đã tách khỏi dòng văn hóa cung đình Tuy nhiên trên thực tế, những yếu tố văn hóa khác biệt nhau vẫn cùng tồn tại chung sống hòa bình như giữa Nho giáo, phật giáo, đạo giáo, giữa văn hóa chính thống và văn hóa dân gian Sự phân dòng này phản ánh sự phân tầng đẳng cấp xã hội Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Đông Á nhưng trên thực tế xã hội Đại Việt thời

Lê sơ "chưa bao giờ hoàn toàn là một xã hội phong kiến Đông Á Nho giáo thuần nhất Nó là sự hỗn dung, lai ghép mang tính đối trọng giữa một mô hình ngoại nhập và mô hình thực thể bản địa"

Các vua thời Lê Sơ từ bỏ chính sách khoan dung tam giáo đồng nguyên của

thời Lí- Trần sang chính sách độc tôn nho giáo "Sùng nho trọng đạo" là việc

hàng đầu Nền giáo dục Nho học được kiện toàn Lê Thánh Tông còn cho ban bố trong nhân dân 24 điều giáo huấn để củng cố những nguyên tắc cơ bản về đạo

đức và lễ giáo nho gia Chính Lê Thánh Tông đã nói: "Tất cả đều do cái mũ của nhà nho mà ra" Ý thức Nho giáo ấy được thể hiện trong chủ trương, chính sách

của nhà nước và có ảnh hưởng sâu sắc trong mọi lĩnh vực văn hóa đương thời Nhà Lê cấm quan lại, quý tộc xây dựng chùa mới, tự tiện đúc chuông, tô tượng và hạn chế việc đi lại của sư tăng, đạo sĩ Đồng thời cấm quan lại không được kết giao với sư tăng, đạo sĩ Mặc dù vậy, Phật giáo được duy trì, được mọi giới thừa nhận, nhất là quần chúng nhân dân

Trong khi tiếp nhận đạo Nho, nhân dân ta vẫn duy trì truyền thống tốt đẹp như việc thờ cúng tổ tiên, tôn thờ những người có công với nước như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo Chính sách độc tôn Nho học nhà Lê sơ trên thực tế đã không được thi hành một cách có hiệu quả

Về xã hội

Trang 28

Dưới thời Lê sơ, xã hội chia thành 2 giai cấp: Địa chủ và nông dân Ngoài

ra còn có tầng lớp thợ thủ công, thương nhân, nô tì

Xã hội thời Lê sơ phân chia thành 2 đẳng cấp: Đẳng cấp quan liêu và đẳng cấp thứ dân (sĩ, nông, công, thương)

Do sự phát triển của kinh tế hàng hóa tiền tệ đã tác động vào xã hội, từng bước gây nên sự thay đổi trong chế độ chính trị và sự ổn định của đất nước Xã hội Đại Việt thời Lê sơ là một xã hội tương đối ổn định và phát triển, đồng thời

sự phân chia xã hội ngày càng rõ nét

Giai cấp địa chủ là giai cấp thống trị, giai cấp nắm quyền Hầu hết tầng lớp quan liêu trong bộ máy phong kiến đều xuất thân từ tầng lớp này Giai cấp địa chủ nắm trong tay nhiều ruộng đất, lấy ruộng đất tư làm cơ sở để bóc lột địa tô đối với nông dân

Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số dân cư, sống chủ yếu ở các làng xã, bao gồm nông dân tư hữu, tá điền Họ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội Phần lớn họ được chia ruộng đất công cày cấy, sinh sống, làm nghĩa vụ binh dịch, lao dịch đóng thuế cho nhà nước Nhà nước cho phép nhân dân nghèo không có ruộng đất có thể tập hợp nhau lại đi khai hoang, xây dựng làng xóm Tầng lớp thợ thủ công và thương nhân ngày càng đông đảo trong xã hội nhưng tầng lớp này chưa phải là lực lượng lớn mạnh trong xã hội

Tầng lớp nô tì là tầng lớp thấp kém Họ không được hưởng quyền lợi của một người dân mặc dù số lớn nô tì đã được giải phóng qua chính sách hạn nô của

Hồ Quý Ly (1401) Phần lớn nô tì dùng vào việc phục dịch trong nhà, trong dinh thự, cung điện, ít dùng trong sản xuất Nhà nước Lê sơ cũng hạn chế việc nuôi

nô tì, mua bán nô tì nên đã giảm nhiều số lượng nô tì Đầu thế kỉ XV, chế độ nô

tì mới được xóa bỏ

Trang 29

Nhìn chung, đời sống nhân dân tuy còn gặp những khó khăn nhất định như thiên tai, mất mùa, đói kém là những tai họa tự nhiên không thể tránh khỏi nhưng cuộc sống của người nông dân tương đối ổn định

Tiểu kết:

Trải qua các triều đại Đinh-Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ, Lê sơ, chế độ quân chủ chuyên chế từng bước được hoàn thiện cùng với các thiết chế chính trị, kinh tế- tài chính Đến thời Lê Thánh Tông (1460-1497), với cuộc cải cách hành chính lớn, nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền phong kiến đạt trình

độ tiên tiến đồng thời cũng khẳng định vai trò thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến một cách đầy đủ

Với những nét cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội của nhà nước Đại Việt thời Lê sơ đã phản ánh, thời Lê sơ mô hình thiết chế, hệ tư tưởng cũng như về mặt thực thể kinh tế- xã hội, những yếu tố kinh tế chiếm ưu thế Với sự tồn tại của mô hình nhà nước và những thiết chế cơ bản đó của nhà nước Lê sơ

đã không chỉ có tác động mạnh mà còn giữ vai trò chi phối trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp, cụ thể là những chính sách ruộng đất Chế độ

sở hữu nhà nước về ruộng đất giữ địa vị thống trị Nó là cơ sở kinh tế chủ yếu của nhà nước trung ương

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RUỘNG ĐẤT CÔNG

2.1 Chính sách quản lý ruộng công làng xã

Trang 30

Ruộng đất công làng xã hay "xã dân công điền" là một bộ phận quan trọng

của ruộng đất quốc hữu Bộ phận ruộng đất công này có một lịch sử lâu dài, trước thời Lê sơ nó đã tồn tại và sau thời Lê sơ nó vẫn tồn tại Ruộng đất công làng xã thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước

Loại ruộng đất công này về sở hữu là của nhà nước nhưng trên thực tế nhà nước giao cho xã thôn quản lý Làng xã chia cho dân trong xã cày cấy nộp tô

Chính vì vậy, nó còn có tên là "xã dân công điền"

Thực hiện chính sách quốc hữu hóa ruộng đất, việc quản lý ruộng đất công thời Lê Thái Tổ, trước hết là việc quản lý số ruộng, đo đạc ruộng đất Nếu như dưới thời Trần, trong khoảng 175 năm tồn tại nhà Trần chỉ đo đạc ruộng đất một lần vào cuối thế kỷ XIV thì thời Lê Sơ, ngay sau khi thiết lập vương triều, nhà

nước đã tiến hành kiểm kê số ruộng vào năm 1429 Phan Huy Chú chép: "Lê Thái Tổ đã định xong thiên hạ quyết định thi hành việc quân điền1, ra chiếu cho các phủ, huyện khám đạc ruộng đất công, tư, đầm bãi làm thành sổ sách Lại sắc cho đại thần bàn định số ruộng cấp cho quan, quân, dân, tứ đại thần trở xuống đến già, yếu, cô, quả, nam phụ theo thứ bậc Năm đầu (1428) khi mới lên ngôi vua, tháng 8 Lê Lợi sai các quan thống kê ruộng đất công tư, ruộng đất mới tịch thu và các thứ thổ sản để trình lên, rồi đến tháng 12 sai các quan phủ, huyện địa phương khám xét lại và sang năm thứ hai (1429) mới định phép quân điền" [27,

tr 30]

Theo Phan Huy Chú, có 24 điều luật về ruộng đất được sửa định ở đời

Thuận Thiên” (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, Hà Nội,

1

Khái niệm: Chế độ quân điền (hay Phép quân điền) là chế độ phân cấp ruộng đất công của xã thôn cho

quan lại và nhân dân trong xã làm ruộng khẩu phần theo định kỳ

Trang 31

1961, tr.127) Qua những điều luật này ta có thể hình dung được việc quản lý ruộng công thời Lê Sơ rất chặt chẽ Theo đó, những người bị giáng chức, người chết không có con nối dõi thì phải lấy lại ruộng Số ruộng đó có thể phân cho quan lại mới thăng chức hoặc cho dân định đến tuổi đóng thuế Điều 6, chương

Điền sản trong Quốc triều hình luật (Bộ Luật Hồng Đức) ghi: “Các quan lộ,

huyện, xã, sau khi quân điền xong, nếu có người phạm tội bị giáng truất, có người chết tuyệt tự phải lấy lại ruộng cùng là quan tư thăng trật hay là dân đinh đến tuổi đóng thuế phải cấp ruộng, thì cho phép các quan ấy được ước lượng định đoạt mà quân phân Ruộng có thừa thì theo phép công điền, nếu thiếu thì lấy ruộng công bản xã hay ở xã khác cận tiện để chia cấp để làm sổ tâu lên Cứ 4 năm một lần làm lại sổ Nếu đo đạc, chia cấp không kịp thời vụ (nghĩa là ruộng mùa thu thì mùa xuân đo, mùa thu chia, ruọng chiêm thì mùa thu đo, mùa xuân chia) hay không đúng điền chế thì các quan lộ, huyện, xã đều bị xử phạt, biếm tùy trường hợp nặng nhẹ” [4; 75]

Nếu đã cấp ruộng công mà đến kỳ không nộp thuế thì bị phạt 80 trượng và truy thu gấp đôi số thóc “Cày ruộng công mà quá kỳ không nộp thóc, thì bị phạt

80 trượng, bồi thường lúa gấp đôi số thóc nộp kho Quá nửa thì lấy lại ruộng (ruộng công cấp cho thì lấy lại cả, ruộng khẩu phần thì lấy bớt một phần”

(Điều 5 - Quốc triều hình luật) [4; 75]

Ruộng công đã chia làm ruộng khẩu phần, nhân dân được phép cày cấy và

có nghĩa vụ nộp tô nhưng không được bán Nếu bán thì bị xử tội: “Bán ruộng đất của công cấp hay ruộng đất khẩu phần thì xử 60 trượng, biếm 2 tư Người viết văn tự thay và người làm chứng đều xử tội nhẹ hơn một bậc; truy thu số tiền bán

và ruộng đất sung làm của công Đem cầm thì xử phạt 60 trượng và bắt chuộc”

(Điều 1, Chương Điền sản, Quốc triều hình luật) [4; 75].

Trang 32

Nếu cày cấy ruộng công mà trốn thuế thì cũng bị nhà nước xử phạt nặng

“Giấu số ruộng đất đầm ao của công (không nộp thuế), từ một mẫu trở lên thì xử tội biếm, từ 10 mẫu trở lên thì xử tội đồ, từ 50 mẫu trở lên thì xử tội lưu, tội chỉ đến lưu đi châu xa là cùng và phải bồi thường gấp ba tiền thuế nộp vào kho Thưởng cho người tố cáo” [4; 75]

Nếu ruộng công không đưa vào sử dụng thì cũng bị phạt: “Những ruộng công có chỗ bỏ hoang mà quan trông coi không tâu lên để xin cho người cày ruộng khai khẩn thì xử tội biếm hay phạt (nơi nào dân ít, ruộng nhiều thì không luận tội) Sau ba năm khai khẩn thành thục rồi, mà không nộp một nửa hoa lợi vào của công thì xử biếm ba tư Bắt kẻ cấy ruộng phải bồi thường tiền giá ruộng”

(Điều 9, Chương Điền sản, Quốc triều hình luật) [4; 76]

Điều đặc biệt là, ở thời Lê sơ việc quản lý ruộng công gắn liền với việc đảm bảo quyền lợi, đời sống mọi tầng lớp nhân dân Từ quân đại thần, quân lính, người có công đến đàn bà góa, trẻ mồ côi đều được chia ruộng tùy theo mức độ

Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Ngày 22 tháng giêng năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên thứ hai (1429) sai các văn vũ đại thần bàn việc quốc gia đại sự, nói rằng: chiến sĩ thì nghèo, du sĩ thì giàu, người chiến sĩ phải chiến đấu thì không

có tấc đất để ở, kẻ du thủ du thực vô ích cho nước lại có ruộng đất quá nhiều

Do đó không có người tận tâm với nước mà chỉ lo việc phú quý Nay sắc cho các đại thần bàn định số ruộng cấp cho quan, quân, dân., trong từ đại thần trở xuống, cho đến các người già yếu, bồ côi, hóa chồng, đàn ông, đàn bà trở lên,

loại nào được cấp bao nhiều thì tâu lên" [8; 68].

Chế độ phân chia ruộng đất cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội thời Lê

sơ còn được gọi là chế độ quân điền hay phép quân điền

Trang 33

Chế độ quân điền đã có tác dụng tích cực làm cho nhân dân tích cực sản xuất để khôi phục kinh tế sau 20 năm đất nước bị chiến tranh tàn phá, thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam ở thế kỷ này phát triển

Đến thời Lê Thánh Tông, năm 1477, cùng với chế độ lộc điền, nhà vua đã ban bố chế độ quân điền một cách hoàn chỉnh trong phạm vi cả nước Quy chế quân điền thời Hồng Đức được xem là mẫu mực cho cách thức quân điền trong thời nhà Lê

Năm 1481, Lê Thánh Tông lại lệnh cho các quan địa phương phải áp dụng đúng chế độ quân điền

Về thể lệ quân điền năm Hồng Đức thứ 12 (1481) như sau:

"Lệ quân cấp ruộng đất công:

Phàm các xã công điền cứ 6 năm một kỳ, quan phủ, huyện, châu phải thân hành kiểm xét lại việc đo đạc, tùy theo ruộng nhiều, ít, xấu tốt, chia làm các hạng: nhất, nhị, tam; rồi tính chung các hạng quan viên- kể cả người có tang, dưỡng bệnh, ở nhàn-cho đến vợ con người bị đồ, lưu trong xã là bao nhiêu người, tính

ra các hạng người mỗi hạng được bao nhiêu mẫu- ruộng nhiều thì chia theo mẫu, ruộng ít thì chia theo sào, thước, tấc- theo hạng quân cấp, trưng tô như lệ Nếu quan viên đã được cấp ruộng ở nơi khác đủ phần rồi và ruộng bản xã cấp

đã đủ thì đình cấp Quan tứ phẩm trở lên được ban ruộng không phải trưng tô, còn ngoài ra đều trưng tô như lệ Nếu có các hạng thăng, sung, giáng, bãi thì kịp thời lấy lại hay cấp thêm, không câu nệ thời hạn- người chết thì chờ hết tang"[27, tr.33]

" Các xã tư điền nếu có các hạng ruộng công cũng cứ 6 năm một lần lượng cấp cho người không có ruộng và người ít ruộng trong xã, theo lệ trưng tô Người đã có ruộng phần của vợ, của mình đủ phần rồi thì không cấp "

Trang 34

[27, tr.33]

" Nếu như đến kỳ hạn mà không cấp và đảo điên không theo phép thì quan ở đấy bị trị tội theo luật" [27, tr.33]

Khi nói đến bổng lộc quan lại thời Lê, Lê Quý Đôn viết:

"Lại định thể lệ, ruộng công cứ 6 năm khám đạc một lần Các viên quan từ

tứ phẩm trở lên, người nào đã được cấp ruộng ở xứ khác rồi thì không cấp cho ruộng khẩu phần ở bản xã nữa, người nào chưa được cấp thì lấy ruộng khẩu phần ở bản xã, chiếu theo thể lệ cấp cho" [ 20, tr.75]

Ngoài ra thể lệ cũng quy định: Quan lại từ nhị phẩm trở lên nếu cấp tứ chưa

đủ, cũng được cấp 11 phần ruộng quan

Về nguyên tắc phép quân điền thời Lê sơ quy định như sau::

Thứ nhất, người được chia ruộng đất: các quan chức cấp thấp (từ ngũ phẩm

trở xuống), chức dịch của làng, quân lính, dân binh, vợ các quan, cô nhi, quả phụ

Thứ hai, mức độ phân cấp: tùy theo tước phẩm và thứ bậc trong xã hội Mỗi

hạng có phần bằng nhau nhưng giữa các hạng có sự chênh lệch như: quan tam, tứ phẩm nếu chưa được hoặc được ít lộc điền thì được chia từ 11-10 phần; ngũ phẩm được 9,5 phần; lục phẩm 9 phần; thất phẩm 8,5 phần; bát phẩm 8 phần; cửu phẩm 7,5 phần; lính các địa phương được 6,5 phần; vợ cả, vợ lẽ của quan viên được 5 phần; vợ cả, vợ lẽ của lính được 4 phần; con trai từ 17 tuổi trở xuống đến người già 60 tuổi trở lên được 3,5 phần; cô nhi, quả phụ được 3 phần Những quan viên được ít lộc điền thì được cấp thêm quân điền không phải nộp tô cho nhà nước

Xét về đối tượng quân cấp thì rộng rãi, nhưng mức độ quân cấp rất chênh

lệch Một ông quan tam phẩm, ngoài lộc điền 85 mẫu, đất vườn do nhà nước cấp

Trang 35

và ruộng đất tư vốn có, còn được cấp thêm 11 phần ruộng đất công ở xã, trong lúc một người nông dân cùng khổ nhất chỉ được cấp 3 phần Đó là nội dung thực của chế độ quân cấp (cấp đều nhau) nhằm quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội

Thứ ba, ruộng đất để chia: là ruộng đất của xã Nguyên tắc chung là ruộng

đất công của xã nào chia cho dân xã ấy cày cấy, nộp tô thuế cho nhà nước Có hai loại xã: xã công điền và xã tư điền có công điền Xã công điền là những xã trong đó tất cả ruộng đất hầu như là của công và nhân dân sinh sống nhờ ruộng khẩu phân ấy Đối xới loại xã này phải tính số ruộng đất công phân cấp cho mọi hạng người trong xã cày cấy Còn xã tư điền có công điền thì một bộ phận dân làng đã có ruộng đất tư, nên chỉ phân cấp ruộng đất công cho những người không

có ruộng hay ít ruộng đất trong xã Trường hợp những xã ruộng nhiều, người ít, sau khi phân cấp cho người trong xã rồi mà còn thừa ruộng đất, thì quan địa

phương lấy số ruộng thừa ấy cấp cho người thiếu ruộng của xã bên cạnh ''Hễ xã nào nhiều ruộng đất, ít cư dân mà phải bỏ hoang thì cho phép quan địa phương cho người không có ruộng ở xã khác đến cày cấy, điền chủ xã ấy không được chấp chiếm bỏ hoang Ai trái lệnh bị xử vào tội cưỡng chiếm" [27, tr 37]

Nguyên tắc này còn được qui định thành pháp luật trong thời Thuận- thiên,

điều 349: "Ruộng đất công để hoang vu mà quan giám đương không tâu lên xin cho dân cày cấy khai khẩn thì bị tội biếm, phạt" [ 16, tr 37- 38]

Thứ tư, thời hạn phân cấp: 6 năm một lần Mỗi lần đến kì hạn, quan phủ, huyện phải "thân hành" xuống kiểm xét lại việc đo đạc và phân cấp Điều 346

qui định rõ thời hạn đo đạc và phân cấp thế nào để không làm trở ngại đến việc

cày cấy "Thu điền thì đo vào mùa xuân, chia vào mùa thu, hạ điền thì đo vào mùa thu, chia vào mùa xuân" Ruộng đất công làng xã được chia lại vào lúc

Trang 36

không bận việc cày cấy Nếu phân chia chậm trễ để cho dân không kịp cày cấy, ruộng đất phải bỏ hoang, quan phủ, huyện, xã phải bồi thường tiền hoa lợi ruộng đất ấy Quỹ đất theo đơn vị làng xã có thể điều chỉnh chút ít giữa các xã lân cận Như vậy, 6 năm là chu kỳ chia lại toàn bộ ruộng đất trong xã Đến kỳ hạn, mọi người phải trả lại ruộng đất được chia trong kỳ trước để chia lại Người nào chiếm ruộng quá hạn bị phạt: 1 mẫu bị 80 trượng, 10 mẫu bị biếm 1 tư và bồi thường tiền hoa lợi cho nhà nước

"Ẩn lậu ruộng đất ao, đầm công [bị phạt như sau:], 1 mẫu trở lên bị biếm, 5 mẫu trở lên bị đồ, 50 mẫu trở lên bị lưu, tội chỉ đến lưu viễn châu; truy lại ruộng đất ẩn lậu, theo lệ thuế bồi thường tăng thêm 2/10 nộp nhà nước Người cáo giác

được thưởng như luật " [27, tr.192]

Nhưng trong thời hạn 6 năm cũng có nhiều trường hợp cần tạm thời lấy lại hay chia thêm Những quan viên được thăng, sung, những dân đinh đến tuổi được cấp thì phải tạm cấp thêm Trái lại, những quan viên bị giáng, bãi, những dân đinh chết hết tang thì lấy lại ruộng đất Trong những trường hợp ấy, tuy chưa đến kỳ hạn 6 năm, quan phủ, huyện, xã có quyền lấy lại và tạm cấp thêm, đến kỳ quân cấp sẽ chỉnh lý lại

Thứ năm, quyền hạn và nghĩa vụ của người được chia ruộng đất:

Người cày ruộng đất công phải nộp tô thuế cho nhà nước Đối với bộ phận ruộng đất quốc hữu này, tô và thuế hợp nhất lại làm một, nông dân cày cấy ruộng

đất công phải nộp cả tô và thuế Riêng đối với quan viên "quan tứ phẩm trở lên được ban ruộng không phải trưng tô" [27, tr.40]

Đối với nhân dân, chỉ những xã đất bãi không có ruộng lúa mới được miễn

trưng tô một số ruộng nhất định, "nơi bãi dâu không có ruộng lúa thì cho quân 5 sào đất bãi, dân 4 sào, làm thường nghiệp, được miễn trưng [tô]" [27, tr.40]

Trang 37

Đất làm vườn thì được trừ, quan viên 80 thước, quân dân 50 thước, người tàn tật cô quả 25 thước, còn ngoài ra đều phải trưng tô Đó là đất công khai phá

lập làm vườn, còn ruộng công nói chung không được lập làm vườn ao " Nếu có người lấy ruộng công làm nhà ở, vườn ao trồng cây thì quan huyện phải khám nghiệm, đo đạc trưng tô như lệ Nếu đất hẹp, người trong làng không có đất ở

mà trong xã có ruộng công cao ráo, cằn cỗi thì cho trình với quan huyện khám thực, lượng cấp 1,2 sào làm vườn ở, đều trưng tô như lệ" [27 , tr.42]

Việc miễn tô đất vườn ở đây cũng chỉ giới hạn trong trường hợp đất công

cộng khai phá lập vườn, còn ruộng công thành thục dẫu lập vườn cũng bị trưng

Việc quản lý chặt chẽ các loại ruộng đất dưới thời Lê sơ, không chỉ nằm mục đích tập trung ruộng đất vào tay nhà nước, thể hiện vai trò của nhà nước đối với tài sản quốc gia mà còn nhằm thu thuế, tăng cường tích lũy cho quốc khố

Chính sách thuế được quy định như sau:

Loại 1: 65 thăng thóc 6 tiền/ mẫu

Loại 2: 40 thăng thóc 4 tiền/ mẫu

Loại 3: 20 thăng thóc 2 tiền/ mẫu

"Ruộng đất công có nhiều loại khác nhau và tô thuế mỗi loại một khác, thường thường thì tô thuế ruộng khẩu phân nhẹ hơn các loại ruộng đồn điền,

Trang 38

Năm 1471, định thuế bãi dâu chia làm 3 hạng: Nhất, nhị, tam nộp tiền Thuế bãi dâu lúc bấy giờ nộp tiền nhưng sau này sửa đổi lại có thể một phần nộp bằng hiện vật (tơ sống)

Năm 1498 thì thuế bãi dâu chia làm 2 hạng:

"- Nửa trồng dâu, nửa trồng hoa mầu thì nộp mỗi mẫu 1 quan 2 tiền

- Xã nào trồng dâu cho nộp một nửa bằng tơ sống, mỗi mẫu một cân 8 lạng, mỗi cân tính ra là 8 tiền, xã nào không trồng dâu được nộp thay bằng tiền"

[27, tr.139]

Theo chính sách tô thuế thì phần thu thóc là chính Người nông dân ngoài phần địa tô nộp bằng thóc và tiền, còn phải đi phu phen, lực dịch cho nhà nước Chính sách của Nhà nước trong quan lý ruộng đất công thời Lê sơ so với các triều đại trước đó chặt chẽ và cụ thể hơn rất nhiều Ruộng đất được quy định trong luật pháp của Nhà nước –Bộ Luật Hồng Đức trong một chương với khá nhiều điều luật

Những hành động nộp tô không đúng kỳ hạn, nộp thiếu, nộp quá chậm đều

bị pháp luật nghiêm trị, bắt bồi thường tô gấp đôi và có thể thu hồi ruộng đất

"Cày ruộng công mà đến kỳ hạn không nộp lúa [tô] bị phạt 80 trượng, bồi thường lúa gấp đôi [số tô đã qui định] nộp kho Nếu quá kì hạn thì bị lấy lại

ruộng, ruộng quan thụ thì lấy lại tất cả, ruộng khẩu phần thì lấy bớt một phần"

[4; 75]

Trường hợp người cày ruộng công mà khai gian là cày ruộng của người khác để trốn thì cũng bị xử phạt Điều 32 của Bộ Luật Hồng Đức quy định rõ điều đó, “Những người cày ruộng đất công mà khai dối là cày cấy cho quan ti, để mong tránh đóng thuế, thì xử tội theo luật chiếm ruộng đất công Quan ti dung túng thì cũng đồng tội, không biết thì không xử tội Xã quan biết mà không tố

Trang 39

giác, thì xử tội giấu giếm; không biết thì được giảm hai bậc; quan lộ huyện vô tình không biết thì xử tội biếm[4; 79]

Việc thu tô thuế đầy đủ cũng là một nhiệm vụ quan trọng của quan lại các cấp và nhà nước coi đấy như một trong những tiêu chuẩn chính để cân nhắc, thăng thưởng các quan lại Năm 1468, Thánh Tông quy định những quan lại ở

nơi biên cảnh, lam chướng biết "phủ dụ" nhân dân và nộp thuế khóa đầy đủ thì

sau 6 năm được chuyển về nơi đất tốt, nhưng nếu nộp thuế khóa thiếu thốn thì phải ở thêm 6 năm nữa Năm 1485, Thánh Tông lại ra lệnh cho quan thu thuế nếu để thiếu thốn, dây dưa, chậm trễ thì cứ truy ở người thiếu thuế 7 phần và

trưởng quan thu thuế 3 phần " Tất nhiên điều lệnh ấy không phải bắt quan chịu thuế thay dân mà trái lại nhằm thúc đẩy các quan phải thẳng tay thu tô thuế cho

kỳ đủ, thẳng tay trấn áp nhân dân thiếu thuế Với những điều lệnh ấy thì mỗi dịp thu tô thuế hẳn đã trở nên những ngày khủng khiếp của nhân dân, trong đó bọn cường hào sách nhiễu, hống hách và dân nghèo tan hoang, phá sản" [27, tr

140 -141]

Tuy bị ràng buộc chặt chẽ như vậy, nhưng cày ruộng khẩu phân đối với người nông dân vẫn là một quyền lợi Pháp luật cũng bảo đảm cho người nông dân được quyền nhận cày ruộng khẩu phân như đã nêu trong một số điều luật nêu trên

Chính sách quản lý ruộng công làng xã của nhà nước Lê sơ được biểu hiện cụ thể qua việc nhà nước ban hành và áp dụng chính sách quân điền Với thể lệ và nguyên tắc rõ ràng về thành phần được cấp ruộng đất, mức độ phân cấp, thời hạn phân cấp, ruộng đất để chia, quyền hạn và nghĩa vụ của người được chia ruộng đất; nhà nước đã nắm được làng xã và dân chúng, tăng nguồn thu nhập Mặt khác, quản lý ruộng đất gắn liền với mục đích phát triển sản xuất và ổn định

Trang 40

đời sống nhân dân Thực chất và xuất phát điểm của chế độ chế độ, chính sách quản lý ruộng đất thời Lê sơ là xác nhận lại quyền sở hữu của nhà nước đối với ruộng đất công làng xã và trên cơ sở đó, nhà nước một mặt thể hiện vai trò của nhà nước đối với các tầng lớp nhân dân, đồng thời còn nhằm phát triển kinh tế nhà nước

Với chính sách này, nhà nước bãi bỏ chia công điền theo luật, lệ làng xã,

mặc dù nhà nước vẫn công nhận và duy trì nguyên tắc "ruộng công làng nào chia cho dân làng ấy cày cấy" Làng xã mất quyền sở hữu ruộng đất, trở thành

một đơn vị kinh tế lệ thuộc vào nhà nước, thực hiện chia ruộng theo mệnh lệnh

và chính sách chung của cả nước Không có sự kiện nào cho thấy, nhà nước nhân nhượng bất cứ một tục lệ nào của làng xã, kể cả việc ưu đãi người già cũng không có ngoại lệ

Theo những quy định này, các quan lại, chức sắc, binh sĩ của nhà nước được xếp lên trên và được ưu đãi rõ rệt, thể hiện qua việc họ được ban cấp ruộng lộc, nếu không được cấp đủ số ruộng này họ được cấp thêm ruộng khẩu phần (từ 7,5 đến 11 phần) Các quan lại từ tứ phẩm trở lên được miễn nộp thuế, nghĩa là ruộng công khẩu phần đối với họ thực chất là một loại ruộng ân tứ định kỳ Vợ

cả, vợ lẽ của họ còn được chia thêm 5 phần ruộng công nữa, trong khi đó, phụ nữ

là đối tượng không được xếp vào hạng được chia ruộng công

Ruộng công làng xã không được đem ra bán hay chuyển nhượng Mọi hành động vi phạm nguyên tắc trên đều bị truy tố trước pháp luật Nhà nước trung ương- đại diện là vua đã vươn lên thành người chủ trực tiếp của toàn bộ ruộng công làng xã Trái lại, làng xã bị rơi xuống địa vị người quản lý ruộng đất cho nhà vua Quân điền thực tế là nhà nước phát canh thu tô Về ý nghĩa ấy, nhà nước là một đại địa chủ thu tô và nông dân cày ruộng khẩu phân là những tá điền

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w